Cùng với sự vươn mình đổi mới của đất nước, chủ trương xoá bỏ sự bao cấp, từng bước phân quyền và trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp có thu theo các nghị định số 10/2002/NĐ-CP ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
==========
BÙI THẾ HÙNG
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở TRUNG TÂM KỸ THUẬT TRUYỀN DẪN PHÁT SÓNG
ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐÀM VĂN HUỆ
Hà Nội - Năm 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Đổi mới quản lý tài chính ở Trung tâm
kỹ thuật truyền dẫn phát sóng - Đài Truyền hình Việt Nam” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chân thành cảm ơn các thày cô giáo trong trường Đại học Kinh tế- Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền thụ cho tôi kiến thực trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đàm Văn Huệ đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2010
Tác giả luận văn
Bùi Thế Hùng
Trang 3MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIỆT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU Ở VIỆT NAM 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam 5
1.1.1 Hoạt động sự nghiệp 5
1.1.2 Đơn vị sự nghiệp 10
1.2 Cơ sở pháp lý của đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam 15
1.2.1 Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu 15
1.2.2 Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập 18
1.2.3 Nội dung quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam 19
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu 23
1.3.1 Chế độ quản lý tài chính công 23
1.3.2 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp 26
1.3.3 Năng lực quản lý nội tại của đơn vị sự nghiệp 27
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TRUYỀN DẪN PHÁT SÓNG - ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM 30
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng - Đài Truyền hình Việt Nam 30
2.1.1 Sự ra đời của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng 30
Trang 42.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng 31
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng 33
2.1.4 Chức năng, nhiệm vụ của phòng Kế hoạch-Tài vụ thuộc Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng 37
2.2 Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng 38
2.2.1 Thực trạng quản lý tài chính của Đài Truyền hình Việt Nam 38
2.2.2 Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng.40 2.3 Đánh giá về quản lý tài chính của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng 60
2.3.1 Kết quả đạt được 60
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 61
Chương 3 GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TRUYỀN DẪN PHÁT SÓNG 65
3.1 Định hướng phát triển của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng và quan điểm đổi mới quản lý tài chính 65
3.1.1 Định hướng công nghệ và các mục tiêu phát triển đến năm 2015 65
3.1.2 Các mục tiêu cụ thể 66
3.1.3 Lộ trình đổi mới công nghệ kỹ thuật 69
3.1.4 Định hướng mô hình hoạt động và cơ chế quản lý tài chính 70
3.2 Đổi mới quản lý tài chính của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng 76
3.2.1 Chủ động khai thác các nguồn thu để phục vụ chi thường xuyên tại Trung tâm 76
3.2.2 Đổi mới quy chế chi tiêu nội bộ của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng 80
3.2.3 Tích cực tuyên truyền và nâng cao trình độ về tự chủ tài chính cho cán bộ Trung tâm 85
3.3 Một số kiến nghị 86
3.3.1 Kiến nghị đối với Đài Truyền hình Việt Nam 86
3.3.2 Kiến nghị đối với Nhà nước 87
KẾT LUẬN 88
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Nguồn kinh phí đƣợc cấp trong 3 năm 2007-2009 41
2 Bảng 2.2 Nguồn thu từ các hợp đồng với bên ngoài trong 3
4 Bảng 2.3 Diễn biến chi tiêu trong 3 năm 2007-2009 60
3 Bảng 3.1 Các dự án, công trình trọng điểm giai đoạn
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 2.1 Mô hình tổ chức hoạt động của Trung tâm
2 Hình 2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy tài chính kế toán
3 Hình 3.1 Mô hình tổ chức hoạt động của Trung tâm
kỹ thuật truyền dẫn phát sóng trong điều kiện tự chủ
71
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là một đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Chính phủ, Đài THVN thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cung ứng các dịch vụ công; góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân bằng các chương trình truyền hình
Cùng với sự vươn mình đổi mới của đất nước, chủ trương xoá bỏ sự bao cấp, từng bước phân quyền và trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp
có thu theo các nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ
về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu, nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, những năm vừa qua, Đài THVN đã không ngừng đổi mới, phát triển, là một trong những đơn vị sự nghiệp đi đầu thực hiện thí điểm tự chủ tài chính của Việt Nam Để vận hành bộ máy quản lý theo cơ chế mở, Đài THVN đã lần lượt ban hành cơ chế quản lý tài chính, trong đó đã mạnh dạn phân cấp một số lĩnh vực quản lý thu, chi cho các đơn
vị dự toán cấp II trực thuộc, cho đến nay bước đầu phát huy tinh chủ động sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao của các đơn vị dự toán cấp II
Khuyến khích thực hiện đổi mới, phát triển theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đảm bảo nhiệm vụ chính trị được giao, ngày 04/2/2008 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Nghị định số 18/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Đài THVN trong đó có nêu rõ: “…Đài THVN thực hiện cơ chế tài chính, lao động, tiền lương như doanh nghiệp nhà nước Hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm
vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo quy định của pháp luật…” và được thể hiện rõ hơn ở thông tư 09/2009/TT-BTC về việc hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đối với Đài THVN
Trang 10Để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao, ngày càng đổi mới, phát triển, vận dụng khéo léo và triệt để những chủ trương chính sách của đảng, nhà nước và chính phủ về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm thì việc phân cấp quản lý tài chính rộng hơn, sâu hơn và đặc biệt là trao quyền tự chủ cho các đơn vị cấp II của Đài THVN chính là một trong những bước đi đúng đắn và hiệu quả nhất
Việc nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng - đơn vị dự toán cấp II của Đài THVN trong điều kiện tự chủ tài chính là bước đột biến, hết sức quan trọng và cấp bách, mang tính khách quan, nhằm tạo ra hành lang pháp lý về kinh tế, tài chính cho Trung tâm thực hiện quản lý thu, chi một cách hiệu quả, linh hoạt và đúng quy định của pháp luật, góp phần làm tiền đề cho việc thực hiện chuyển sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp ở Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng- Đài THVN
Xuất phát từ những lý do nêu trên, “Đổi mới quản lý tài chính ở Trung tâm
kỹ thuật truyền dẫn phát sóng- Đài THVN” được chọn làm đề tài của Luận
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Những vấn đề lý luận về thực tiễn về cơ chế quản lý, thu, chi tài chính, nền tảng pháp lý, các cơ chế, chính sách, các quy định của Nhà nước về quản
lý tài chính của các ĐVSN có thu, nghiên cứu cơ chế tài chính của Trung tâm
kỹ thuật truyền dẫn phát sóng trong điều kiện tự chủ tài chính
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý tài chính giai đoạn 2007-2009 và cơ chế quản lý tài chính của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng trong điều kiện
tự chủ tài chính giai đoạn 2011-2015
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
- Các phương pháp: Thống kê, sử dụng phương pháp so sánh, tổng hợp, phân tích, dự báo
5 Đóng góp mới của Luận văn
Từ một đơn vị sự nghiệp dự toán cấp II chuyên chi trực thuộc Đài THVN, Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng đã biểu lộ tiềm lực nội tại và nhiều tiềm năng phát triển nguồn thu; ngoài việc thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị do Đài THVN giao còn có khả năng tự duy trì và phát triển chuyên môn cũng như cơ sở vật chất và bộ máy của Trung tâm
Với tư cách là công trình nghiên cứu chính thức, đầu tiên, tác giả muốn thông qua luận văn này mạnh dạn đề xuất trao quyền tự chủ tài chính và tự chịu trách nhiệm cho Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng đồng thời nghiên cứu giải pháp đổi mới quản lý tài chính và quy chế quản lý tài chính phù hợp nhất trong điều kiện tự chủ tài chính ở Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng
Trang 126 Tình hình nghiên cứu
Chủ trương thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp có thu được chính thức ban hành từ năm 2002 theo nghị định 10/2002/NĐ-CP,… Tuy nhiên việc nghiên cứu cơ chế tài chính của đơn
vị cấp II trong điều kiện phân phân cấp tài chính tiến tới tự chủ tài chính cho đơn vị cấp II thì còn hạn chế
Đối với Đài THVN nói chung và Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng nói riêng thì đây là đề tài nghiên cứu chính thức đầu tiên nhưng có tính cấp thiết và hết sức quan trọng, làm cơ sở cho việc trình Tổng giám đốc Đài THVN xem xét và chính thức đưa vào áp dụng trong những năm tới
7 Bố cục của Luận Văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu thành các phần như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý đối với quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam
Chương 2 Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng- Đài Truyền hình Việt Nam
Chương 3 Giải pháp đổi mới quản lý tài chính tại Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng- Đài Truyền hình Việt Nam
Trang 131.1.1.1 Khái niệm hoạt động sự nghiệp
Khi xây dựng mô hình xã hội chủ nghĩa hiện thực, các lý luận gia của các nước xã hội chủ nghĩa đã coi các hoạt động sản xuất là hoạt động kinh tế, các hoạt động của bộ máy nhà nước là hành chính và các hoạt động giáo dục, nghiên cứu, y tế, văn hóa, nghệ thuật là hoạt động sự nghiệp Hơn nữa, trong
mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa thời bao cấp, ngoài các cơ sở sản xuất và thương mại quốc doanh bao trùm quá trình tái sản xuất xã hội, Nhà nước còn thành lập các cơ sở cung cấp dịch vụ giáo dục, văn hóa, y tế, nghiên cứu…Để phân biệt chức năng và cơ chế hoạt động của các loại hình đơn vị cơ sở như thế, Nhà nước gọi các hoạt động sản xuất và thương mại là hoạt động kinh tế, các hoạt động nghiên cứu, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, nghệ thuật… là các hoạt động sự nghiệp Từ đó cho đến nay thuật ngữ hoạt động sự nghiệp được
sử dụng thường xuyên trong các văn bản pháp lý về quản lý của Nhà nước Tuy nhiên, về mặt lý luận, chưa có công trình nào đưa ra định nghĩa về hoạt động sự nghiệp
Theo chúng tôi, hoạt động sự nghiệp là những hoạt động do Nhà nước thực hiện nhằm cung cấp những dịch vụ có lợi ích chung và lâu dài cho cộng đồng xã hội Hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tham gia vào quá trình tái sản xuất ra của cải vật chất, nhưng nó tác động đến lực lượng sản xuất và xã hội thông qua việc nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng lao động cho nhân
Trang 14dân, cải thiện chất lượng sống của con người, duy trì, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tinh thần của dân tộc, phát triển khoa học… Kết quả hoạt động sự nghiệp ảnh hưởng đến không chỉ phát triển kinh tế mà còn đến sự phát triển xã hội và đất nước
1.1.1.2 Đặc điểm hoạt động sự nghiệp
Thứ nhất, hoạt động sự nghiệp có xu hướng cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ có tính chất của hàng hóa công cộng hoặc hàng hóa khuyến dụng:
Kết quả của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là học vấn, kỹ năng lao động của nhân dân, các giá trị văn hóa, khoa học, nghệ thuật khó đánh giá được giá trị kinh tế bằng tiền, nhưng có ý nghĩa tăng hiệu quả kinh tế xã hội chung, tăng năng lực sản xuất của quốc gia, tăng chất lượng sống của nhân dân, tăng phúc lợi xã hội, tạo hiệu ứng tích cực cho các lĩnh vực khác, lợi ích đem lại không chỉ cho người hưởng thụ trực tiếp mà còn cho những người khác … Nhiều sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp có giá trị sử dụng tăng thêm khi tăng người sử dụng mà không tăng chi phí như phát thanh, truyền hình…
Nhờ sử dụng những hàng hóa công cộng do hoạt động sự nghiệp tạo ra
mà quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Hoạt động sự nghiệp giáo dục, văn hóa, đào tạo, y tế, thể dục thể thao đem đến tri thức và bảo đảm sức khỏe cho lực lượng lao động, tạo điều kiện cho lao động có chất lượng ngày càng tốt hơn; hoạt động sự nghiệp khoa học, văn hóa thông tin mang lại những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội, tạo ra những công nghệ mới phục vụ sản xuất và đời sống
Thứ hai, hoạt động sự nghiệp không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp:
Trong nền kinh tế thị trường, một số sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra có thể trở thành hàng hóa đem lại thu nhập cho đơn vị cung cấp Song do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như nếu trao đổi theo nguyên tắc thị trường thì nhiều người không có khả năng tiêu dùng hoặc không khuyến
Trang 15khích tiêu dùng đủ mức…, trong khi đó mở rộng tối đa sự tiêu dùng các loại hàng hóa đó có ý nghĩa vừa làm tăng năng lực sản xuất của đất nước, vừa có giá trị tiến bộ và công bằng Chính vì thế, Nhà nước cần tổ chức cung ứng hoặc duy trì các tài trợ để các hoạt động sự nghiệp cung cấp những sản phẩm, dịch vụ không thu tiền hoặc thu tiền chỉ để hoàn một phần chi phí, không nhằm thu lợi nhuận Ngoài ra, khi cung cấp các dịch vụ sự nghiệp không theo nguyên tắc thương mại bình thường, Nhà nước hướng đến mục tiêu phân phối lại thu nhập và tăng phúc lợi công cộng
Tuy nhiên, xét về mặt quản lý vi mô, Nhà nước mong muốn các đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ sự nghiệp phải hoạt động có hiệu quả, có nghĩa là hoạt động với chi phí tối thiểu Do đó, các biện pháp khoán kinh phí hay buộc các đơn vị sự nghiệp phải hạch toán thu chi không phải là giải pháp tăng thu lợi nhuận như các biện pháp quản lý doanh nghiệp, mà đơn thuần chỉ là giải pháp quản lý khuyến khích đơn vị sự nghiệp chủ động phát huy hết mọi năng lực của mình để tiết kiệm chi phí
Thứ ba, hoạt động sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội và ngân sách của Nhà nước:
Trong kinh tế thị trường, các hoạt động sự nghiệp cũng là công cụ để Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, nhất là các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình, chương trình phát triển giáo dục, chương trình phát triển văn hóa Những chương trình mục tiêu quốc gia chi phối hoạt động sự nghiệp nằm trong tổng thể chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung
Hơn nữa, nhu cầu về các sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp của xã hội thì nhiều vô hạn, trong khi đó nguồn tài chính của Nhà nước giành cho các hoạt động này lại bị hạn chế bởi ngân sách nhà nước cũng như mối quan hệ với các nhu cầu chi tiêu khác của Nhà nước Chính vì thế, cung sản phẩm, dịch vụ sự
Trang 16nghiệp luôn thấp hơn nhu cầu và việc xác định phải cung cấp các loại sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp với quy mô bao nhiêu luôn là vấn đề hóc búa của các Nhà nước
Thứ tư, sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp có tính ích lợi chung và lâu dài:
Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội Đây là những sản phẩm thường mang lại lợi ích cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng Nhiều sản phẩm sự nghiệp có tác dụng lâu dài như các phát minh khoa học, các giá trị văn hóa, trình độ học vấn, kỹ năng lao động…
Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm do hoạt động sự nghiệp tạo ra là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định, những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan toả
và được sử dụng đi, sử dụng lại nhiều lần
1.1.1.3 Phân loại hoạt động sự nghiệp
Hoạt động sự nghiệp trong xã hội rất đa dạng, phong phú và có thể phân loại chúng theo nhiều tiêu thức khác nhau
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các hoạt động sự nghiệp được chia thành: + Sự nghiệp kinh tế: Là hoạt động sự nghiệp nhằm phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho các ngành kinh
tế hoạt động bình thường, thuận lợi
+ Sự nghiệp văn hóa xã hội (gọi tắt là sự nghiệp văn xã): Là các hoạt động phục vụ cho các yêu cầu phát triển của xã hội về văn hóa, sức khỏe và các nhu cầu về đời sống tinh thần của nhân dân
- Căn cứ vào đặc điểm nguồn tài chính đảm bảo cho hoạt động sự nghiệp, hoạt động sự nghiệp được chia thành:
+ Hoạt động sự nghiệp không có thu: Là hoạt động do Nhà nước đảm
Trang 17bảo hoàn toàn nhu cầu tài chính Những hoạt động này thường là những hoạt động cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xã hội, phạm vi tiêu dùng rộng rãi và chỉ có Nhà nước mới có thể thực hiện một cách hiệu quả nhất Thuộc về những hoạt động này gồm có các hoạt động về văn hóa tuyên truyền, giáo dục tiểu học, đào tạo, khoa học, y tế cho người nghèo, đảm bảo xã hội,
+ Hoạt động sự nghiệp có thu: Là những hoạt động mà nguồn tài chính đảm bảo vừa do Nhà nước cung cấp, vừa do người tiêu dùng đóng góp một phần dưới dạng phí, lệ phí Những hoạt động này thường là những hoạt động cung cấp các dịch vụ có tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất và đời sống
mà người tiêu dùng có thể trả tiền do họ thấy ngay hiệu quả sử dụng dịch vụ, hoặc là họ muốn nhận được những dịch vụ có phí phân biệt theo chất lượng
- Căn cứ vào tính chất hoạt động của chúng, hoạt động sự nghiệp được chia thành:
+ Hoạt động sự nghiệp thường xuyên: Là những hoạt động được tổ chức và duy trì hoạt động liên tục và xã hội luôn luôn có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm dịch vụ của nó, bất luận điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn như thế nào Thuộc về hoạt động sự nghiệp thường xuyên là các hoạt động về giáo dục tiểu học, đào tạo, khoa học, y tế, văn hóa …
+ Hoạt động sự nghiệp không thường xuyên: Là những hoạt động sự nghiệp để thực hiện các chương trình cụ thể của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định
1.1.1.4 Vai trò của hoạt động sự nghiệp trong nền kinh tế thị trường Trong thời đại ngày nay, một nước giầu hay nghèo, lạc hậu hay phát triển không phải chỉ phụ thuộc vào khối lượng hàng hóa tư nhân mà người dân có được do trao đổi trên thị trường, mà còn phụ thuộc vào khối lượng phúc lợi xã hội mà họ được hưởng, trong đó có các sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp cung cấp Hơn nữa, tiềm năng phát triển nhanh hay chậm
Trang 18trong tương lai của một nước không những do số lượng lao động, tài nguyên thiên nhiên và vốn đã tích lũy được quyết định, mà chủ yếu là do khả năng phát huy tiềm năng sáng tạo của con người chi phối Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành con người về trình độ văn hóa, tri thức khoa học, thể lực, tâm hồn, đạo đức lối sống, thị hiếu, thẩm mỹ, giao tiếp của mỗi
cá nhân và của cả cộng đồng… Đa phần yếu tố cấu thành tiềm năng sáng tạo của con người do hoạt động sự nghiệp cung cấp trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Hoạt động sự nghiệp là động lực to lớn giúp dân tộc bảo tồn và phát triển văn hóa, truyền thống, các giá trị đạo đức
Hoạt động sự nghiệp đóng vai trò động lực cải cách, đổi mới, phát triển giáo dục - đào tạo Đảng ta đã khẳng định quan điểm khoa học công nghệ cùng với giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu trong phát triển đất nước
Thể dục - thể thao là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển khoa học xã hội của Đảng và Nhà nước ta nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang Đảng ta đã khẳng định “Sức khỏe là vốn quý của mỗi con người và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc” Hoạt động sự nghiệp có vai trò quan trọng trong lĩnh vực này
1.1.2 Đơn vị sự nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế-xã hội, để thực hiện các hoạt động sự nghiệp cần có các tổ chức tiến hành các hoạt động đó, các tổ chức này được gọi là đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) Tuy nhiên, theo ngôn ngữ quen dùng ở Việt Nam, ĐVSN thường phải là các cơ quan của Nhà nước
Trang 19“Chương trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công giai đoạn 2004-2005”, ban hành theo Quyết định số 08/2004/QĐ-TTg ngày 15/01/2004 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định: ĐVSN là một loại hình đơn vị được Nhà nước ra quyết định thành lập, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao trên lĩnh vực quản lý, thực hiện các hoạt động sự nghiệp Đó là đơn vị thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, thông tin, nghiên cứu khoa học, y tế, không theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh [24]
ĐVSN thuộc khu vực phi lợi nhuận, sự chi tiêu của các đơn vị này, theo con mắt của các nhà quản lý tài chính nhà nước, mất đi, không thu hồi lại được vốn gốc, mặc dù các đơn vị này vẫn tính khấu hao tài sản cố định Trong quá trình hoạt động, các ĐVSN được Nhà nước trang trải kinh phí đáp ứng nhu cầu chi tiêu từ ngân sách nhà nước hoặc được bổ sung từ các nguồn khác
Đặc điểm hoạt động của các ĐVSN là rất đa dạng, bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Mục đích hoạt động của các ĐVSN là phục vụ lợi ích cộng đồng, xã hội, đất nước Trong quá trình cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cho xã hội, các ĐVSN được phép tạo lập nguồn thu nhập nhất định thông qua các khoản thu phí và các khoản thu từ cung ứng dịch vụ do Nhà nước quy định để trang trải các khoản chi tiêu Quản lý tài chính ĐVSN phải tuân thủ theo những quy định pháp lý của Nhà nước Tùy theo đặc điểm tạo lập nguồn thu của các ĐVSN, Nhà nước áp dụng cơ chế tài chính thích hợp để các ĐVSN thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Phù hợp với xu hướng cải cách khu vực công trong bối cảnh hội nhập, Nhà nước thực hiện chính sách đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các ĐVSN theo hướng nâng cao quyền tự chủ tài chính nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công phục vụ xã hội
Trang 20ĐVSN có những đặc điểm khác với cơ quan hành chính Cơ quan hành chính là những tổ chức cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho người dân khi thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của mình Các dịch vụ hành chính công được cung cấp theo luật định, với chất lượng đồng nhất cho mọi người tiêu dùng và được chi trả trực tiếp bằng ngân sách nhà nước Dịch
vụ hành chính công là chức năng của cơ quan hành chính Nhà nước, là trách nhiệm và nghĩa vụ của bộ máy Nhà nước với nhân dân và chỉ có Nhà nước (chứ không có một tổ chức tư nhân nào khác) có đủ thẩm quyền thực hiện chức năng đó Nhà nước với tư cách là một tổ chức công quyền phải có nghĩa
vụ cung cấp các dịch vụ này cho nhân dân, còn người dân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước dưới hình thức thuế Như vậy, quan hệ trao đổi các dịch vụ hành chính công không phản ánh quan hệ thị trường, mà phản ánh quan hệ nghĩa vụ của Nhà nước và phương tiện thực hiện nghĩa vụ do xã hội công dân cung cấp Người sử dụng dịch vụ có thể trả một phần hoặc không phải trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ đó, nhưng phải đóng thuế để chi trả cho chúng Chính vì vậy cơ quan hành chính chỉ được tự chủ tài chính trong phần kinh phí ngân sách nhà nước cấp (cơ chế khoán chi), không được tự do mở rộng dịch vụ và nguồn thu Dịch vụ và nguồn thu là cố định theo luật.Trong khi đó, dịch vụ của ĐVSN cung ứng có thể cạnh tranh với khu vực tư nhân và cung ứng theo nhu cầu nên các đơn vị này được phép khai thác và mở rộng nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của mình Đặc điểm khác biệt này cho phép ĐVSN có thể hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính
ĐVSN có những điểm khác với loại hình doanh nghiệp Trong kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tuân thủ nguyên tắc hạch toán kinh doanh, hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bằng cách tự bù đắp đủ chi phí và có lãi Doanh nghiệp phải hoạt động theo quy luật thị trường ĐVSN không hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường và không coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mình
Trang 21Lĩnh vực sự nghiệp tạo ra những sản phẩm đặc biệt vừa mang tính phục
vụ chính trị-xã hội, vừa mang tính hàng hóa đòi hỏi phải bù đắp chi phí Với chức năng phục vụ xã hội, sản phẩm của hoạt động sự nghiệp không thể đo bằng giá trị tiền tệ hữu hình Những đơn vị tạo ra sản phẩm đó không thể và càng không hạch toán được lỗ lãi đơn thuần bởi sản phẩm của nó thuộc chức năng phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội Mặt khác, mỗi sản phẩm này đều mang trong nó giá trị đã hao phí để tạo ra nó Để tái sản xuất giản đơn, các ĐVSN phải thu lại từ ngân sách nhà nước và từ chi trả của người hưởng thụ
Hiệu quả hoạt động của ĐVSN không đơn thuần đo đếm bằng tiền, mà thường được tính bằng các giá trị phi tiền tệ Chính vì thế, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ĐVSN thường khó khăn
1.1.2.2 Các loại hình đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam
* Căn cứ vào vị trí
- ĐVSN ở Trung ương là những ĐVSN trực thuộc Chính phủ như TTXVN, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các bệnh viện, trường học, các nhà xuất bản quốc gia…
- ĐVSN ở địa phương như đài phát thanh truyền hình ở địa phương, các bệnh viện, trường học, do địa phương quản lý,
* Căn cứ vào từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể
- ĐVSN giáo dục, đào tạo
- ĐVSN y tế (Bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân)
- ĐVSN văn hóa, thông tin
- ĐVSN phát thanh, truyền hình
- ĐVSN dân số-trẻ em, kế hoạch hóa gia đình
- ĐVSN thể dục, thể thao
- ĐVSN khoa học công nghệ, môi trường
- ĐVSN kinh tế (Duy tu, sửa chữa đê điều, trạm trại, )
- Đơn vị sự nghiệp khác
Trang 22* Căn cứ vào nguồn thu
- Đơn vị sự nghiệp không có thu: Là đơn vị được Nhà nước cấp toàn bộ kinh phí để đảm bảo hoạt động của đơn vị và kinh phí được cấp theo nguyên tắc không hoàn lại trực tiếp
- ĐVSN có thu gồm hai loại:
+ ĐVSN có thu tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên:
Là đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp ổn định, bảo đảm được toàn
bộ chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước không phải cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên cho đơn vị
+ ĐVSN có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên:
Là đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp nhưng chưa tự trang trải toàn
bộ chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước phải cấp một phần chi phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị
1.1.2.3 Quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Quản lý là yêu cầu tất yếu để đảm bảo sự hoạt động bình thường của mọi quá trình và hệ thống kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị có sự tham gia tự giác của nhiều người Thực chất của quản lý là thiết lập và thực hiện hệ thốngcác phương pháp và biện pháp khác nhau của chủ thể quản lý để tác động một cách có ý thức tới đối tượng quản lý nhằm đạt tới kết quả nhất định
Quản lý bao gồm nhiều phương diện như quản lý công nghệ, quản lý thương mại, quản lý nhân sự, quản lý tài chính…Quản lý tài chính là hoạt động của chủ thể quản lý trong lĩnh vực tài chính nhằm sử dụng nguồn tài sản dưới hình thái tiền, giấy tờ có giá của một đơn vị, tổ chức vừa đảm bảo cho đơn vị, tổ chức hoạt động bình thường, vừa đảm bảo cho nguồn tài chính sử dụng tiết kiệm và sinh lợi nhiều nhất
Chủ thể quản lý tài chính ĐVSN gồm cơ quan nhà nước chuyên trách,
bộ phận quản lý tài chính trong ĐVSN
Trang 23* Quản lý tài chính ĐVSN từ phía Nhà nước
Tùy theo tổ chức bộ máy nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể,
có các cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý tài chính ĐVSN khác nhau Hiện nay, cơ quan chuyên trách quản lý tài chính các ĐVSN ở trung ương là Bộ Tài Chính, Bộ chủ quản, ở địa phương là Sở Tài chính và Sở chủ quản
Mục tiêu của Nhà nước trong quản lý tài chính các ĐVSN là đề ra chính sách, chế độ, quy chế hoạt động tài chính phù hợp với luật pháp và chức năng, nhiệm vụ của ĐVSN
1.2 Cơ sở pháp lý của đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam
1.2.1 Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu
Cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu ra đời trong quá trình thực hiện tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng điều hành các đơn
vị sự nghiệp dịch vụ công để hoạt động theo các cơ chế riêng, phù hợp, có hiệu quả; xóa bỏ cơ chế cấp phát tài chính theo kiểu “xin-cho”, ban hành các
cơ chế, chính sách thực hiện chế độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp
có điều kiện như trường đại học, bệnh viện, viên nghiên cứu v.v Ngày 16/01/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP về cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu đã được hướng dẫn tại thông tư 05/TT-BTC ngày 21/3/2002 với một số nội dung chính như sau:
Trang 24Thứ nhất: Đơn vị sự nghiệp có thu tự chủ tài chính, chủ động bố trí
kinh phí để thực hiện nhiệm vụ, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên theo định kỳ 3 năm và hàng năm được tăng thêm theo tỷ lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định
Thứ hai: Đơn vị sự nghiệp có thu được vay tín dụng để mở rộng và
nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo qui định của pháp luật
Thứ ba: Đơn vị sự nghiệp có thu được giữ lại khấu hao cơ bản và tiền
thu thanh lý tài sản để tăng cường cơ sở vật chất cho đơn vị
Thứ tư: Đơn vị sự nghiệp có thu được chủ động sử dụng số biên chế
được cấp có thẩm quyền giao, thực hiện chế độ hợp đồng lao động theo qui định của Bộ Luật lao động
Thứ năm: Thủ trưởng đơn vị được quyết định mức chi quản lý, chi
nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do Nhà nước qui định
Thứ sáu: Đơn vị sự nghiệp có thu được tính quĩ tiền lương để trả cho
người lao động trên cơ sở tiền lương tối thiểu tăng không quá 2,5 lần (đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động) và không quá 2 lần (đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí) tiền lương tối thiểu chung do Nhà nước qui định
Thứ bảy: Kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động thường
xuyên và các khoản thu sự nghiệp, cuối năm chưa chi hết đơn vị được chuyển sang năm sau để tiếp tục chi
Thứ tám: Hàng năm, căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính, đơn vị
được trích lập 4 quĩ: Quĩ dự phòng ổn định thu nhập, Quĩ khen thưởng, Quĩ phúc lợi, Quĩ phát triển hoạt động sự nghiệp
Thứ chín: Khi Nhà nước điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu hoặc thay
đổi định mức chi, chế độ, tiêu chuẩn chi ngân sách nhà nước, đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm trang trải các khoản chi tăng thêm, từ các nguồn:
Trang 25Thu sự nghiệp, các khoản tiết kiệm chi, các quỹ của đơn vị và kinh phí ngân sách nhà nước cấp tăng thêm hàng năm (đối với các đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí)
Nhìn chung, sau khi chuyển sang thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ, quan hệ giữa đơn vị sự nghiệp
và các cơ quan quản lý nhà nước đã có sự thay đổi cơ bản, đơn vị sự nghiệp
đã chủ động sắp xếp tổ chức, bộ máy, lao động theo yêu cầu công việc, chủ động xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, chủ động phân bổ nguồn tài chính của đơn vị theo nhu cầu chi tiêu của từng lĩnh vực trên tinh thần tiết kiệm, thiết thực hiệu quả, giảm sự can thiệp trực tiếp của cơ quan chủ quản, cơ quan tài chính Một số đơn vị đã thực hiện vay tín dụng để đầu tư mở rộng hoạt động Yêu cầu về công khai, minh bạch trong tổ chức sắp xếp công việc, nhân sự và chi tiêu tài chính đã được thực hiện, tạo không khí đoàn kết, phấn khởi, tin tưởng trong nội bộ đơn vị Qua thời gian thực hiện, đã đạt được một số kết quả như sau:
- Việc giao quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp có thu là bước quan trọng nhằm phân biệt rõ chức năng nhiệm vụ của cơ quan hành chính và đơn
vị sự nghiệp;
- Thay đổi phương thức quản lý theo hướng trao quyền tự chủ về quản lý biên chế, lao động, hoạt động chuyên môn, quản lý tài chính cho đơn vị sự nghiệp
- Các đơn vị sự nghiệp đã chủ động linh hoạt tổ chức hoạt động dịch vụ
để thu hút được nhiều người tham gia hưởng thụ các dịch vụ công cộng với chất lượng cao và chi phí hợp lý
- Sắp xếp tổ chức bộ máy, biên chế và thực hiện hợp đồng lao động theo hướng tinh gọn, hiệu quả; giảm dần áp lực về biên chế, tháo gỡ khó khăn cho đơn vị do có nhu cầu lao động lớn, nhưng được giao biên chế thấp
Trang 26- Đa dạng hoá các loại hình hoạt động sự nghiệp
- Thực hiện tự chủ về tài chính: Khoán phần kinh phí ngân sách cấp, đồng thời tích cực khai thác các nguồn thu sự nghiệp từ hoạt động cung ứng dịch vụ và được chủ động sử dụng các nguồn kinh phí tuỳ theo yêu cầu hoạt động của đơn vị, đảm bảo chi tiêu hiệu quả, tiết kiệm trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ do đơn vị tự xây dựng
Tuy nhiên, trong thời gian thực hiện, chúng ta đã gặp phải không ít những khó khăn, tồn tại:
- Về nhận thức: Chưa có sự nhận thức thống nhất, đầy đủ về mục đích,
ý nghĩa, nội dung của Nghị định
- Một số cấp uỷ Đảng, thủ trưởng các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương chưa tập trung chỉ đạo trực tiếp thực hiện cơ chế mới này nên kết quả còn hạn chế
- Một số văn bản hướng dẫn còn ban hành chậm, nên các đơn vị còn lúng túng trong quá trình triển khai
- Bộ máy tổ chức quản lý tài chính và trình độ đội ngũ cán bộ tài chính
kế toán của một số đơn vị sự nghiệp có thu còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu sau khi chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính
1.2.2 Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Nhằm tiếp tục thực hiện đổi mới cơ chế quản lý ngày một hoàn thiện, khắc phục những vướng mắc, tồn tại trong quá trình thực hiện nghị định 10/2002/NĐ-CP, ngày 25/4/2006 Chính phủ đã ban hành nghị định 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Mục tiêu thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm là:
Trang 27- Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị
để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động
- Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động
sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước
- Khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang hoạt động theo loại hình doanh nghiệp, loại hình ngoài công lập nhằm phát huy mọi khả năng của đơn vị trong việc thực hiện các hoạt động của đơn vị theo quy định của pháp luật
- Các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp, loại hình ngoài công lập được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tài sản nhà nước đã đầu tư theo quy định của pháp luật
1.2.3 Nội dung quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam
1.2.3.1 Quy trình quản lý tài chính của các đơn vị hành chính sự nghiệp
- Lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước trong phạm vi được cấp có thẩm quyền giao hàng năm
- Tổ chức chấp hành dự toán thu, chi tài chính hàng năm theo chế độ chính sách của Nhà nước; chủ trì hoặc phối hợp với các ngành hữu quan xây dựng các chế độ chi tiêu đặc thù của ngành, lĩnh vực, địa phương theo sự ủy quyền của cơ quan có thẩm quyền;
- Thực hiện quản lý sử dụng tài sản Nhà nước giao cho cơ quan, đơn vị
- Chấp hành chế độ kế toán thống kê theo pháp luật;
- Lập báo cáo quyết toán thu chi tài chính quý và năm về tình hình sử dụng các nguồn tài chính của cơ quan, đơn vị theo Ngân sách Nhà nước
Trang 281.2.3.2 Nguyên tắc quản lý tài chính
- Phải đảm bảo kinh phí thường xuyên theo chế độ, định mức, tiêu chuẩn của Nhà nước để các đơn vị hoạt động liên tục đồng thời phải triệt để tiết kiệm chi
- Quản lý kinh phí thuộc cơ quan, đơn vị nào là trách nhiệm của đơn vị
mà trước hết là trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị
- Tôn trọng dự toán năm được duyệt Trong quá trình chấp hành dự toán các đơn vị phải tuân thủ dự toán năm đã được phê duyệt dự toán thông báo cho mục đích nào phải thực hiện cho mục đích đó trong trường hợp có biến động khách quan làm thay đổi dự toán sẽ được Ngân sách nhà nước cấp
bổ sung theo thủ tục quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, để đảm bảo cho các đơn vị hành chính sự nghiệp hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
1.2.3.3 Phương pháp quản lý tài chính
Tồn tại 4 phương pháp quản lý tài chính của các đơn vị hành chính sự nghiệp có nhận kinh phí từ Ngân sách nhà nước, nhưng trong giai đoạn hiện nay các phương pháp giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị đang được sử dụng rộng rãi
* Phương pháp thu đủ, chi đủ
- Phương pháp này áp dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp có nguồn thu không lớn, theo đó mọi nhu cầu chi tiêu của đơn vị được ngân sách nhà nước cấp phát theo dự toấn đã được duyệt Đồng thời mọi khoản thu phát sinh trong quá trình hoạt động, đơn vị phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định
- Phương pháp này hiện nay không phù hợp với cơ chế quản lý tài chính mới, hạn chế quyền tự chủ, sáng tạo của đơn vị và tạo tâm lý ỷ lại trông chờ vào Ngân sách Nhà nước
* Phương pháp thu chi chênh lệch
- Phương pháp này áp dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp có nguồn thu, chi khá lớn phát sinh thường xuyên và ổn định, theo đó các đơn vị
Trang 29được quyền giữ lại các khoản thu của mình để chi tiêu theo dự toán và chế độ quản lý tài chính của Nhà nước, ngân sách nhà nước chỉ đảm bảo phần chênh lệch thiếu, các đơn vị phải làm nghĩa vụ đối với Ngân sách nhà nước (nếu có)
- Phương pháp này phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ chế tài chính của nước ta hiện nay, phát huy được tính tích cực, chủ động của các đơn vị trong quá trình khai thác nguồn thu, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của đơn vị
* Phương pháp quản lý theo định mức
- Để tăng cường quản lý chi tiêu ngân sách có hiệu quả, cần thiết phải quản lý định mức cho từng nhóm chi, mục tiêu chi hoặc cho một đối tượng cụ thể, theo đó có các định mức tổng hợp và định mức chi tiết cho từng lĩnh vực chi tiêu hành chính sự nghiệp
* Phương pháp giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính
- Theo nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ như
đã giới thiệu ở phần trên, đây là các cơ chế mới về quản lý biên chế, tài chính của các đơn vị hành chính sự nghiệp trong giai đoạn nước ta thực hiện công cuộc cải cách hành chính
1.2.3.4 Nội dung quản lý tài chính
* Quản lý thu
- Thu từ ngân sách nhà nước: Nguồn bảo đảm chi hành chính sự nghiệp bao gồm: thu từ Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân theo quy định của Luật Tổ chức hội đồng nhân dân
- Nguồn thu sự nghiệp của đơn vị: Thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước (phần được để lại cho đơn vị theo quy định) mức thu phí, lệ phí, tỷ lệ nguồn thu được để lại cơ quan, đơn vị sử dụng và nội dung chi thực hiện theo qui định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với từng loại phí và lệ phí
- Thu từ hoạt động sản xuất, cung cấp dịch vụ (chủ yếu đối với đơn vị
sự nghiệp có thu) chế độ thu từ các hoạt động này áp dụng theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ về quy định quyền
Trang 30tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
- Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật: Viện trợ, vay (kể cả ODA), kinh phí ủng hộ của các cá nhân và tổ chức theo quy định của pháp luật
* Quản lý chi
- Chi hoạt động thường xuyên của đơn vị bao gồm: Chi cho con người; Chi quản lý hành chính; Chi hoạt động nghiệp vụ (còn gọi là chi đặc thù của từng đơn vị); Chi mua sắm tài sản, sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng thường xuyên
cơ sở vật chất, nhà cửa, máy móc thiết bị, ; Chi thường xuyên khác, Các khoản chi thường xuyên của các đơn vị sự nghiệp có thu, ngoài các khoản trên đây còn thêm hai khoản sau: Chi tổ chức thu phí và lệ phí và chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ (kể cả khi nộp thuế (kể cả khi nộp thuế, trích khấu hao tài sản cố định nếu có)
- Chi hoạt động không thường xuyên của đơn vị gồm: Chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, Ngành; Chi chương trình, mục tiêu quốc gia, chi dự án do cấp có thẩm quyền giao; Chi thực hiện tinh giảm biên chế theo chủ trương do Nhà nước quy định; Chi đầu tư phát triển gồm: chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định theo dự án được giao; Các khoản chi không thường xuyên khác như: Chi vốn đối ứng dự án từ Ngân sách nhà nước,
* Quyết toán thu, chi tài chính
- Quyết toán là quá trình nhằm kiểm tra, rà soát, chỉnh lý các số liệu đã được phản ánh sau một kỳ chấp hành dự toán; qua đó phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán nhằm rút ra những kinh nghiệm và bài học cần thiết cho kỳ chấp hành dự toán tiếp theo sau
- Trong quá trình báo cáo, đơn vị phải lập đầy đủ các báo cáo tài chính theo quy định Báo cáo quyết toán của đơn vị không được để xẩy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn dự toán được giao
Trang 31Trình tự lập báo cáo quyết toán, duyệt và thông báo quyết toán, thẩm định quyết toán đơn vị hành chính sự nghiệp được Bộ Tài chính quy định
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu
1.3.1 Chế độ quản lý tài chính công
1.3.1.1 Luật Ngân sách nhà nước
Từ khi có Luật Ngân sách nhà nước mọi khoản chi ngân sách nhà nước, trong đó có chi cho ĐVSN, đều phải tuân theo Luật Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm
Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước
Theo Luật Ngân sách nhà nước, các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước phải lập, chấp hành, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, quyết toán ngân sách nhà nước theo các quy định thống nhất trong cả nước Ngoài ra, việc sử dụng ngân sách nhà nước phải đúng mục đích và theo mục lục mà Luật đã quy định
Nhờ có Luật Ngân sách nhà nước, quản lý tài chính trong các ĐVSN trở nên minh bạch hơn, ổn định trong thời gian đủ dài để các đơn vị thụ hưởng ngân sách có điều kiện tìm phương án sử dụng ngân sách hiệu quả, kích thích tính tự chủ của ĐVSN nhiều hơn trước trong tìm kiếm lợi ích từ tiết kiệm chi ngân sách nhà nước, tạo cơ chế kiểm tra, giám sát của Nhà nước và
cơ quan ngôn luận đối với việc sử dụng ngân sách nhà nước Tuy nhiên, do luật Ngân sách nhà nước của ta còn chưa thực sự hoàn thiện, nhiều quy định còn cứng nhắc, ví dụ như quy định phải sử dụng ngân sách theo mục lục ngân sách, quy định ngân sách cấp dưới thuộc ngân sách cấp trên,… đã hạn chế quyền tự chủ của đơn vị cơ sở trong sử dụng ngân sách hiệu quả Ngoài ra, muốn cải tiến quản lý tài chính ở các ĐVSN phải chờ sự thay đổi của Luật
Trang 32Ngân sách nhà nước nên thường chậm chạp
1.3.1.2 Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước
Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước là toàn bộ các chính sách, chế
độ chi tài chính thống nhất trong các cơ quan nhà nước mà các ĐVSN phải tuân thủ Trong cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước, các công cụ về định mức chi tiêu, danh mục được phép chi tiêu, quy trình xét duyệt và cấp ngân sách, phân cấp quản lý chi tài chính công có vai trò quan trọng Thông qua
cơ chế quản lý tài chính, Nhà nước kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng các nguồn lực tài chính công trong các ĐVSN Chính vì thế, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước là cơ sở, nền tảng của quản lý tài chính trong các ĐVSN Tính chất tiến bộ hay lạc hậu của cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý tài chính trong các ĐVSN
Một mặt, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước tạo ra môi trường pháp
lý cho việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động của đơn vị Nó được xây dựng dựa trên quan điểm định hướng về chính sách quản lý ĐVSN trong từng giai đoạn cụ thể của Nhà nước nhằm cụ thể hóa các chính sách đó Cơ chế này sẽ vạch ra các khung pháp lý về mô hình quản lý tài chính của ĐVSN, từ việc xây dựng các tiêu chuẩn, định mức, các quy định về lập dự toán, điều chỉnh dự toán, cấp phát kinh phí, kiểm tra, kiểm soát,.đến quyết toán kinh phí, nhằm phát huy tối đa hiệu quả quản lý vĩ
mô của Nhà nước có tính đến quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị
Do đó, nếu cơ chế tài chính phù hợp sẽ tạo điều kiện tăng cường và tập trung nguồn lực tài chính, đảm bảo sự linh hoạt, năng động và hữu hiệu của các nguồn lực tài chính, giúp cho ĐVSN thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn được giao Ngược lại, nếu các định mức quá lạc hậu, quy trình cấp phát và kiểm tra quá rắc rối, phức tạp thì không chỉ chi phí quản lý tài chính tăng, mà còn gây tình trạng che dấu, biến báo các khoản chi cho hợp lệ, hoặc quản lý
Trang 33Cơ chế tài chính nếu được thiết lập phù hợp, hiệu quả sẽ đảm bảo cung ứng đủ nguồn kinh phí cho hoạt động chuyên môn, tránh được thất thoát, lãng phí các nguồn lực tài chính, đảm bảo phát huy tối đa hiệu quả, tạo tiền đề vật chất cho việc thực hiện tốt các chương trình quốc gia về hoạt động sự nghiệp Ngược lại, nếu cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước không phù hợp sẽ làm cho các chương trình được thực hiện không như mong muốn, thậm chí làm cho chương trình phá sản
Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đóng vai trò như một cán cân công lý, đảm bảo sự công bằng, hợp lý trong việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính giữa các lĩnh vực hoạt động sự nghiệp khác nhau, cũng như giữa các ĐVSN trong cùng một lĩnh vực Nhờ đó, các ĐVSN dù hoạt động ở đâu, lĩnh vực nào cũng được quan tâm, tạo điều kiện phát triển tương xứng với yêu cầu của xã hội đối với lĩnh vực đó và tiềm lực kinh tế của quốc gia đó
Mặt khác, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước vạch ra hành lang pháp lý cho ĐVSN nhưng nếu các cơ chế này không phù hợp sẽ trở thành hàng rào trói buộc, cản trở đến quá trình tạo lập và sử dụng nguồn lực tài chính của ĐVSN, ảnh hưởng xấu đến kết quả hoạt động chuyên môn của đơn
vị Nếu cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước sơ hở, lỏng lẻo có thể làm hao tổn ngân sách nhà nước, thất thoát, lãng phí các nguồn lực tài chính khác mà không đạt được mục tiêu chính trị, xã hội đã định
Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước được thực hiện thông qua các văn bản pháp lý, các nghị định, thông tư, quyết định của Chính phủ, các bộ, ngành,
1.3.2 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp
1.3.2.1 Đặc điểm của ngành
Đặc điểm hoạt động của ngành là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý tài chính của ĐVSN Do đặc điểm hoạt động của các
Trang 34đơn vị khác nhau dẫn đến mô hình quản lý tài chính của các đơn vị cũng sẽ khác nhau Các ĐVSN nằm trong từng ngành sẽ được đơn vị chủ quản thiết lập cho những cơ chế quản lý tài chính nội bộ, nhất là hệ thống định mức chi tiêu, áp dụng riêng trong ngành Cơ chế quản lý này vừa phải cụ thể hóa các văn bản pháp quy của Nhà nước, vừa đáp ứng được những yêu cầu riêng của ngành, phù hợp với những yêu cầu quản lý cụ thể, đặc thù mà Nhà nước chưa quy định, sao cho công tác quản lý tài chính thích hợp và chặt chẽ hơn
Nhìn chung, do chịu tác động của những cơ quan quản lý ngành, nên cơ chế quản lý theo ngành các ĐVSN thường chặt chẽ hơn quy định chung của Nhà nước Một số ngành có những chính sách quản lý tập trung, hạn chế phân cấp quản lý cho các đơn vị thành viên làm ảnh hưởng đến tính tự chủ về tài chính của ĐVSN trong ngành đó Một số ngành lại mở rộng cho đơn vị trực thuộc dẫn đến sự không công bằng giữa các ĐVSN thuộc các ngành khác nhau
Ngoài ra, do tính chất hoạt động, do tầm quan trọng của các ngành khác nhau mà sự ưu tiên cấp phát ngân sách và phân cấp quyền tự chủ tài chính của Nhà nước cũng khác nhau
1.3.2.2 Quy mô, tầm quan trọng của đơn vị sự nghiệp
Quy mô, tính phức tạp và tầm quan trọng của từng ĐVSN cũng ảnh hưởng đến quản lý tài chính nội bộ đơn vị Nếu ĐVSN có quy mô lớn, các bộ phận phụ thuộc hoạt động phân tán thì chế độ quản lý tài chính nội bộ thiên
về phân cấp rộng cho đơn vị cơ sở, cơ quan quản lý cao nhất của ĐVSN chỉ tập trung đảm nhiệm những khâu quản lý trọng yếu, cần thống nhất trong đơn
vị hoặc các khâu mà cấp cao đảm nhiệm hiệu quả hơn ở các ĐVSN có quy
mô nhỏ, kết cấu đơn giản thì bộ máy quản lý tài chính gọn nhẹ, thường chỉ bao gồm cán bộ phòng tài chính kế toán, phòng này trực tiếp quản lý tài chính
ở các bộ phận của đơn vị
Thường các ĐVSN có tầm quan trọng thì Nhà nước sẽ ưu tiên hơn
Trang 35trong cấp phát vốn đầu tư và cấp kinh phí thường xuyên, ngay cả trong các thời kỳ khó khăn Các ĐVSN kém quan trọng hơn đôi khi phải thu hẹp quy
mô hoạt động hoặc giảm bớt đầu mối khi tài chính nhà nước gặp khó khăn Hơn nữa, trong chế độ quản lý tài chính công thống nhất, các ĐVSN quan trọng đôi khi được cho phép có những khoản chi ngoại lệ phục vụ các nhiệm
vụ đặc biệt Những yếu tố này cũng ảnh hưởng nhất định đến quản lý tài chính ở ĐVSN
1.3.3 Năng lực quản lý tài chính nội tại của đơn vị sự nghiệp
1.3.3.1 Trình độ cán bộ quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp
Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý, là khâu trọng yếu trong việc xử lý các thông tin để đề ra các quyết định quản lý Trình độ cán bộ quản lý là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời chính xác của các quyết định quản lý, do đó nó có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý, quyết định sự thành bại của công tác quản lý nói chung cũng như công tác quản lý tài chính nói riêng
Đối với các cơ quan quản lý cấp trên, nếu cán bộ quản lý tài chính có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sẽ đưa ra được những biện pháp quản lý phù hợp, xử lý thông tin quản lý kịp thời, chính xác làm cho hoạt động quản lý ngày càng đạt hiệu quả cao Ngược lại, nếu cán bộ cấp trên yếu kém, không dám chịu trách nhiệm thì cơ chế quản lý tài chính sẽ trì trệ, lạc hậu, kém hiệu quả
Đối với đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tài chính kế toán, nếu có năng lực, trình độ chuyên môn tốt, có kinh nghiệm công tác sẽ đưa công tác quản lý tài chính kế toán đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ quy định về tài chính kế toán của Nhà nước, góp phần vào hiệu quả của công tác quản lý tài chính ĐVSN nếu không có cán bộ quản lý tài chính chuyên nghiệp và thành thạo thì nguy cơ thất thoát, sai chế độ chính sách và chậm trễ là rất lớn
Trang 361.3.3.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị sự nghiệp
Hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót, nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị Hệ thống kiểm soát nội bộ là chìa khóa để quản lý tài chính ở ĐVSN thực hiện hiệu quả, đúng chế độ, chính sách của Nhà nước
Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị bao gồm môi trường kiểm soát,
hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát
Môi trường kiểm soát là những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và hoạt động lãnh đạo đơn vị đối với hệ thống kiểm soát nội bộ và vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị Môi trường kiểm soát được đề cao sẽ giúp ĐVSN giảm thiểu nguy cơ sai lầm
Hệ thống kế toán là các quy định về kế toán và các thủ tục kế toán mà đơn vị áp dụng để thực hiện ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính Hệ thống kế toán là công nghệ mà quản lý tài chính ĐVSN phải tuân thủ Công nghệ này có tính pháp lý quốc gia
Thủ tục kiểm soát là các quy chế và thủ tục do Ban lãnh đạo đơn vị thiết lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể Thủ tục kiểm soát được tuân thủ sẽ giúp cán bộ quản lý tài chính phát hiện kịp thời sai lầm để sửa chữa
Nếu ĐVSN có hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ, hữu hiệu, thì công tác quản lý tài chính sẽ được tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều Hệ thống kiểm soát nội bộ bảo đảm cho công tác tài chính được đặt đúng vị trí, được quan tâm đúng mức; hệ thống kế toán được vận hành có hiệu quả, đúng chế độ quy định; các thủ tục kiểm tra, kiểm soát được thiết lập đầy đủ, đồng bộ, chặt chẽ; giúp đơn vị phát hiện kịp thời mọi sai sót; ngăn chặn hữu hiệu các hành vi
Trang 37gian lận trong công tác tài chính
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM
KỸ THUẬT TRUYỀN DẪN PHÁT SÓNG ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng - Đài Truyền hình Việt Nam
2.1.1 Sự ra đời của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng
Ngày 7/9/1970 chương trình Vô tuyến truyền hình đầu tiên của THVN được phát sóng thử nghiệm thành công, trở thành "Ngày Truyền thống của Đài THVN"
Ngày 1/1/1991 chính thức chuyển sang hệ Truyền hình màu PAL/D/K Tháng 2/1991 chính thức truyền chương trình Truyền hình quốc gia cho các Đài địa phương thông qua hệ thống vệ tinh
Trung tâm Kỹ thuật truyền dẫn phát sóng được thành lập ngày 23/3/1994 theo quyết định số 74/QĐ-THVN của Tổng giám đốc Đài THVN
Ngày 31/3/1996 phát sóng chương trình đầu tiên của kênh VTV3
Ngày 1/1/1998 kênh VTV4 chính thức phát sóng chương trình đầu tiên Ngày 31/3/1998, tách kênh VTV3 Đài THVN phát sóng 45h/ngày trên
4 kênh VTV1, VTV2, VTV3, VTV4
Ngày 10/1/2002, Đài THVN chính thức phát các kênh độc lập VTV1,VTV2,VTV3,VTV4 nâng tổng thời lượng từ 40,5h lên 60,5h/ngày
Từ năm 1994 đến 2000 VTV1 phát sóng tương tự qua vệ tinh
Từ năm 1998 đến 2002 VTV3 phát sóng kỹ thuật số đơn chương trình trên vệ tinh Ku
Ngày 10/2/2002 chương trình Truyền hình tiếng dân tộc (VTV5) của Đài THVN phát sóng thử nghiệm qua vệ tinh band Ku
Trang 39Năm 2002 phát sóng đa chương trình VTV1,2,3,4 trên vệ tinh băng C Trạm phát lên vệ tinh Vĩnh Yên phát sóng đa chương trình 13 kênh (gồm VTV1,2,3,4,5 & DTH) trên vệ tinh băng Ku từ 29/5/2002 Đến thời điểm trạm Vĩnh Yên chuyển sang truyền hình cáp ngày 20/10/2009 trạm Vĩnh Yên đang phát 21 trương trình Và từ cuối năm 2009 đến nay trạm hiện phát
72 chương trình và sẽ tăng thành 100 kênh vào cuối năm 2010
Ngày 1/1/2004 kênh VTV2 tăng thời lượng phát sóng từ 14giờ lên 18giờ/ngày Kênh VTV5 tăng thời lượng từ 4-8giờ/ngày
Ngày 29/4/2007 phát sóng thử nghiệm VTV6 03h/ngày từ 19h (22h trên truyền hình cáp và DTH, phát lại quay vòng 24/24 giờ/ngày
Đến nay thời lượng VTV1, VTV2 là 19 giờ/ngày VTV3: 24/24; VTV4: 12h/ngày quay vòng; VTV6: 12h/ngày (từ 12h ( 24h)
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng- Đài Truyền hình Việt Nam
Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Đài THVN có chức năng quản lý, khai thác hệ thống kỹ thuật truyền dẫn phát sóng của Đài THVN Khi mới thành lập, Trung tâm Kỹ thuật truyền dẫn phát sóng chỉ quản lý một vài máy phát sóng truyền hình, do đó diện phủ sóng còn hạn chế Đến nay số lượng máy phát sóng truyền hình chương trình truyền hình quốc gia trên toàn mạng là 120 máy với 52 địa điểm phát sóng, do đó sóng THVN đã đến được hầu khắp các tỉnh thành trên toàn quốc
Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng có nhiệm vụ quản lý, khai thác 2 mảng công việc chính là TRUYỀN DẪN & PHÁT SÓNG:
- Công tác Truyền dẫn bao gồm: Truyền dẫn qua vệ tinh tín hiệu nguồn các chương trình VTV cho các trạm phát sóng mặt đất tại các Đài địa phương; Truyền dẫn vi ba, cáp quang; Truyền dẫn phục vụ công tác sản xuất, trao đổi chương trình giữa các Trung tâm THVN, giữa các đầu cầu trong và ngoài nước khi thực hiện các sự kiện quan trọng
Trang 40- Công tác Phát sóng bao gồm: Phát sóng truyền hình mặt đất tương tự
và phát sóng vệ tinh kỹ thuật số:
+ Trung tâm Kỹ thuật truyền dẫn phát sóng trực tiếp quản lý 04 đài phát sóng truyền hình mặt đất với 9 máy phát sóng (ở Hà Nội, Tam Đảo, Thủ Dầu Một, Bà Rịa); 02 trạm phát lên vệ tinh ở (Hà Nội băng tần C và Vĩnh Yên băng tần Ku)
+ Để các chương trình của THVN đến được với bạn xem truyền hình trên cả nước, Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng đã thực hiện các hợp đồng tiếp phát sóng với các Đài PTTH Địa phương như sau:
VTV1: 41 máy phát, VTV2: 29 máy phát, VTV3: 41 máy phát, VTV6: 09 máy phát
+ Các Trung tâm của THVN tại khu vực (Huế, Đà Nẵng, Phú Yên, Tp
Hồ Chí Minh, Cần Thơ) cũng trực tiếp khai thác quản lý 18 máy trong đó:
VTV1: 5 máy phát, VTV2: 1 máy phát, VTV3: 5 máy phát,
và các máy phát chương trình VTV khu vực: CVTV1, CVTV2, HVTV, VTV6, VTV9, DVTV, PVTV
+ Độ phủ sóng mặt đất chương trình VTV1 là: 90%; VTV2: 60%; VTV3: 80%; Đài THVN đang thiết lập và mở rộng mạng phát sóng chương trình VTV6 Để diện phủ sóng mặt đất ngày càng rộng, Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng đang nỗ lực triển khai các dự án phát triển mạng phát sóng quốc gia các chương trình VTV1, VTV2, VTV3, VTV6, theo đó thay thế các máy phát cũ công suất thấp và trang bị các máy mới công suất lớn hơn
+ Diện phủ sóng vệ tinh các chương trình VTV1, 2, 3, 4, 5, 6 là 100%