Phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khá
Trang 1§¹i häc Quèc gia Hµ Néi Tr-êng §¹i häc Kinh TÕ
-
NguyÔn V¡N D¦
HOµN THIÖN Ph©n tÝch TµI CHÝNH
T¹I C¤NG TY Cæ PHÇN S¶N XUÊT Vµ TH¦¥NG M¹I
THIÕT BÞ VIÔN TH¤NG TIN HäC
luËn v¨n th¹c sü qu¶n trÞ kinh doanh
Hµ Néi - 2010
Trang 2Đại học Quốc gia Hà Nội
Tr-ờng Đại học Kinh Tế
-
Nguyễn VĂN DƯ
HOàN THIệN Phân tích TàI CHíNH TạI CÔNG TY Cổ PHầN SảN XUấT Và THƯƠNG MạI
THIếT Bị VIễN THÔNG TIN HọC
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
Mã số: 60 34 05
luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học Pgs.Ts đàM VĂN HUệ
Hà Nội - 2010
Trang 3MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC HÌNH iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 3
1.1.TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 3
1.1.1.Tài chính doanh nghiệp 3
1.1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp 4
1.1.3 Mục tiêu và tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp 5 1.2 HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 9 1.2.1 Tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp 9
1.2.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp 10
1.2.2.1 Lập kế hoạch phân tích 10
1.2.2.2 Thu thập thông tin và xử lý thông tin 11
1.2.2.3 Lựa chọn phương pháp phân tích 12
1.2.2.4 Đánh giá và kết luận 16
1.2.2.5 Lập báo cáo phân tích tài chính 17
1.2.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 18
1.2.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp 18
1.2.3.2 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh 20
1.2.3.3 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính đặc trưng 21
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 29
1.3.1 Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp 29
1.3.1.1 Nhận thức của ban lãnh đạo doanh nghiệp về phân tích tài chính 30
1.3.1.2 Trình độ cán bộ phân tích 30
Trang 41.3.1.3 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính 34
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 32
1.3.2.1 Chế độ kế toán 32
1.3.2.2 Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành 32
1.3.2.3 Tác động của các công cụ hỗ trợ phân tích Error! Bookmark not defined 1.3.2.4 Chế độ chính sách của nhà nước 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI THIẾT BI ̣ VIỄN THÔNG TIN HỌC 34
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI THIẾT BỊ VIỄN THÔNG TIN HỌC 34 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của Công ty 35
2.1.3 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty 39
2.2 THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI THIẾT BỊ VIỄN THÔNG TIN HỌC 41
2.2.1 Tổ chức phân tích tài chính tại Công ty 41
2.2.2 Nguồn thông tin phục vụ công tác phân tích tài chính tại Công ty 42 2.2.3 Phương pháp phân tích tài chính tại Công ty 43
2.2.4 Nội dung phân tích tài chính tại Công ty 43
2.2.4.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính tại Công ty 43
2.2.4.2 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính đặc trưng 56
2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI THIẾT BI ̣ VIỄN THÔNG TIN HỌC 61
2.3.1 Những kết quả đạt được 62
2.3.2.1 Hạn chế 63
2.3.2.2 Nguyên nhân 64
CHƯƠNG 3:GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI THIẾT BỊ VIỄN THÔNG TIN HỌC 66
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI THIẾT BI ̣ VIỄN THÔNG TIN HỌC 66
Trang 53.1.1 Định hướng phát triển chung 66
3.1.2 Định hướng hoàn thiện phân tích tài chính 67
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CỔ PHẦN SẨN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI THIẾT BI ̣ VIỄN THÔNG TIN HỌC 68
3.2.1 Tuyển chọn một đội ngũ cán bộ phân tích tài chính chuyên nghiệp 68 3.2.2 Thiết lập quy chế riêng cho công tác phân tích tài chính tại Công ty 69 3.2.3 Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính 69
3.2.3.1 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh 69
3.2.3.2 Bổ sung một số chỉ tiêu trong phân tích các nhóm hệ số tài chính đặc trưng 72
3.2.3.3.Thực hiện các dự báo tài chính (lên kế hoạch tài chính) 73
3.2.3.4 Phân tích và tính giá trị doanh nghiệp 74
3.2.4 Hoàn thiện về phương pháp phân tích tài chính 77
3.2.4.1 Áp dụng phương pháp Dupont trong phân tích 78
3.2.4.2 Sử dụng đồ thị trong phân tích 80
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Phụ lục
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Công ty CP Sản xuất và Thương mại Thiết bị Viễn thông Tin học
Informatics Telecommunication Equipment Trading and Production Joint Stock Company
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
6 Bảng số 2.6 Tình hình tăng giảm các chỉ tiêu trong BCKQ
7 Bảng số 2.7 Tình hình tăng giảm các chỉ tiêu trong BCKQ
10 Bảng số 2.10 Vòng quay hàng tồn kho và hiệu suất sử dụng
tài sản
58
12 Bảng số 3.1 Phân tính nhu cầu vốn lưu động thường xuyên 69
14 Bảng số 3.3 Phân tích khả năng thanh toán tức thời 71
15 Bảng số 3.4 Phân tích chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân 72
16 Bảng số 3.5 Bảng tính dòng tiền tự do và NPT của doanh
Trang 880
Lợi nhuận sau thuế của Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Thiết bị Viễn thông Tin học năm 2007- 2009
81
Trang 9Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan bản luận văn “Hoàn thiện Phân tích Tài chính tại công
ty cổn phần sản xuất và thương mại thiết bị viễn thông tin học ” tôi đã thực hiện độc lập d-ới sự h-ớng dẫn trực tiếp của PGS,TS Đàm Văn Huệ Luận văn không hề sao chép các công trình nghiên cứu hay đề tài khoa học đã đ-ợc công bố Tr-ờng hợp có sử dụng t- liệu trích dẫn đều có giải thích về nguồn trích dẫn và tác giả
Tôi xin đ-ợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS,TS Đàm Văn Huệ, ng-ời đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp h-ớng dẫn trong suốt quá trình thực hiện luận văn Xin đ-ợc gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thày cô giáo, cơ quan, bạn bè, gia đình đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành bản luận văn này
Do thời gian, trình độ nghiên cứu và kinh nghiệm còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận đ-ợc ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, thầy cô giáo và độc giả quan tâm đến lĩnh vực này để nội dung nghiên cứu đ-ợc hoàn thiện tốt hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
Nguyễn Văn D-
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, cạnh tranh đã trở thành xu thế tất yếu, không phân biệt các thành phần kinh tế, ngành nghề kinh doanh Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đều phải quan tâm đến hiệu quả tài chính của quá trình sản xuất kinh doanh
Phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động tài chính của doanh nghiệp, xác định các điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp, cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc ra quyết định tài chính của lãnh đạo công ty, của cán bộ công nhân viên, nhà đầu tư và một số chủ thể khác
Nhận thức được tầm quan trọng của phân tích tài chính, Công ty CP Sản xuất và Thương mại Thiết bị Viễn Thông Tin học cũng đã tiến hành phân tích tài chính Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, phân tích tài chính tại Công
ty vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung để ngày càng phát huy hiệu quả và trở thành công cụ quản lý hữu hiệu cho ban Giám đốc Nhằm đánh giá chính xác hơn tình hình tài chính của Công ty để từ đó ra quyết định đúng đắn trong chiến lược phát triển Công
ty, hoàn thiện phân tích tài chính đang là một đòi hỏi cấp bách Từ thực tiễn
đó, trên cơ sở lý thuyết và tìm hiểu thực tế, Đề tài: “ Hoàn thiện phân tích
tài chính tại Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Thiết bị Viễn thông Tin học ” được chọn làm đề tài nghiên cứu
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu phân tích tài chính doanh nghiệp
Trang 11- Phạm vi nghiên cứu: phân tích tài chính tại Công ty CP Sản xuất và Thương mại Thiết bị Viễn Thông Tin học thời gian từ năm 2007 đến năm 2009
- Vấn đề được nghiên cứu trên góc độ Công ty
4 Tình hình nghiên cứu
Đề tài hoàn thiện phân tích tài chính tại các công ty khác thì cũng có một
số học viên cao học của các trường khác nghiên cứu Nhưng đối với Công
ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Thiết bị Viễn thông tin học tính đến nay thì chưa có ai nghiên cứu về vấn đề này
5.Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp
6.Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng phân tích tài chính tại Công ty CP Sản xuất và Thương mại Thiết bị Viễn Thông Tin học
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện phân tích tài chính tại Công ty CP Sản xuất và Thương mại Thiết bị Viễn Thông Tin học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ
THƯƠNG MẠI THIẾT BỊ VIỄN THÔNG TIN HỌC
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN
XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI THIẾT BỊ VIỄN THÔNG TIN HỌC
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1.1.Tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn tiền tệ tối thiểu nhất định Quá trình hoạt động kinh doanh từ góc độ tài chính cũng chính là quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của hoạt động kinh doanh Trong quá trình đó luôn diễn ra sự vận động và chuyển hóa liên tục của các nguồn tài chính (các quỹ tiền tệ), tạo ra các luồng chuyển dịch giá trị mà biểu hiện của nó là các luồng tiền tệ đi vào hoặc đi ra khỏi chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Gắn liền với quá trình phân phối dưới hình thức giá trị để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các mối quan hệ tài chính phản ánh bản chất của tài chính doanh nghiệp Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm: quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước; Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính; Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác; Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp…
Các quan hệ tài chính doanh nghiệp này được thể hiện trong cả quá trình sản xuất kinh doanh cuả doanh nghiệp Để tiến hành sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần xử lý các quan hệ tài chính thông qua việc giải quyết các vấn đề được coi là rất quan trọng sau:
- Nguồn vốn đầu tư mà doanh nghiệp có thể khai thác là những nguồn nào?
Trang 13- Với nguồn vốn đó doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu và tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau là bao nhiêu cho phù hợp ngành nghề sản xuất kinh doanh của mình để mang lại lợi nhuận tối đa Đó chính là cơ sở để dự toán vốn đầu tư và là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp sẽ quản lý tài sản ngắn hạn như thế nào, điều này liên quan tới quản lý hoạt động tài chính hằng ngày như: việc thu tiền từ khách hàng và trả tiền cho nhà cung cấp Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn
có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy: Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp phản ánh sự vận động và chuyển hóa của các nguồn lực tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp
1.1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp
và các công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
đó Quy trình thực hiện phân tích tài chính ngày càng được áp dụng rộng rãi trong mọi đơn vị kinh tế được tự chủ nhất định về tài chính như các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức, được áp dụng trong các tổ chức xã hội, tập thể và các cơ quan quản lý, tổ chức công cộng Đặc biệt, sự phát triển của các doanh nghiệp, của các ngân hàng và của thị trường vốn đã tạo nhiều cơ hội để phân tích tài chính chứng tỏ thực sự là có ích và vô cùng cần thiết
Phân tích tài chính là có vai trò cực kỳ quan trọng, là cơ sở để dự đoán tài chính ra các quyết định quản lý trong tương lai cũng như kế hoạch huy động và đầu tư vốn, cung ứng và thanh toán, kế hoạch sản xuất và tiêu thụ, kế hoạch tài chính, lợi nhuận, rủi ro với chủ thể và khách thể
Trang 14Phân tích tài chính làm nổi bật các dự đoán tài chính, làm nền tảng cho hoạt động quản lý, làm sáng tỏ những chính sách đối với doanh nghiệp, là công cụ hữu hiệu dùng để xác định giá trị kinh tế, đồng thời đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp Trên cơ sở đó phát hiện ra nguyên nhân khách quan, chủ quan cho từng đối tượng lựa chọn và ra quyết định phù hợp với mục tiêu họ quan tâm
Ngoài ra, phân tích tài chính còn là cơ sở để kiểm tra, kiểm soát các hoạt động quản lý trong doanh nghiệp, của công ty mẹ với công ty con, của các cơ quan quản lý Nhà nước với doanh nghiệp
1.1.3 Mục tiêu và tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp
Thông tin về tình hình tài chính rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp và những đối tượng bên ngoài doanh nghiệp Phân tích tài chính không những cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo mà còn cho thấy những kết quả hoạt động mà doanh nghiệp đạt được đạt được trong hoàn cảnh đó Mục đích của phân tích tài chính là giúp người sử dụng thông tin đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai Mặc dù có nhiều đối tượng quan tâm đến kết quả phân tích tài chính nhưng mỗi đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin từ việc phân tích tài chính theo các mục tiêu khác nhau:
Phân tích tài chính đối với nhà quản trị doanh nghiệp
Nhà quản trị phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp Đó là cơ
sở để định hướng các quyết định của Ban Giám đốc, Giám đốc tài chính, dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát các hoạt động quản lý
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, nhà quản lý doanh nghiệp phải xử lý các quan hệ tài chính thông qua phương thức giải quyết các vấn đề quan trọng sau: + Thứ nhất: Doanh nghiệp nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với loại hình sản xuất, kinh doanh lựa chọn Đây chính là chiến lược
Trang 15đầu tư dài hạn của doanh nghiệp và là cơ sở để dự toán vốn đầu tư
+ Thứ hai: nguồn vốn đầu tư mà doanh nghiệp có thể khai thác là nguồn nào?
Để đầu tư vào các tài sản, doanh nghiệp phải có các nguồn tài trợ, tức là phải có tiền để đầu tư Vấn đề đặt ra ở đây là doanh nghiệp sẽ huy động nguồn tài trợ với cơ cấu như thế nào cho phù hợp và mang lại lợi nhuận cao nhất? Liệu doanh nghiệp có nên sử dụng toàn bộ vốn chủ sở hữu để đầu tư cho tài sản đó hay đi vay, đi thuê, tận dụng các khoản phải trả? Điều này liên quan đến vấn đề cơ cấu vốn và chi phí vốn của doanh nghiệp
+ Thứ ba: Nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế nào? Chẳng hạn, việc thu tiền từ khách hàng và trả tiền cho nhà cung cấp? Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽ tới quản
lý tài sản lưu động của doanh nghiệp
Nghiên cứu tài chính doanh nghiệp thực chất là nghiên cứu cách thức giải quyết ba vấn đề đó Ngoài ra hà quản lý tài chính phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài chính và dựa trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày để đưa ra các quyết định vì lợi ích của doanh nghiệp và đều nhằm vào các mục tiêu tài chính: đó là sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tránh được sự căng thẳng về tài chính và phá sản, có khả năng cạnh tranh và chiếm được thị phần tối ưu trên thị trường, tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận
và không ngừng mở rộng quy mô doanh lợi một cách vững chắc Doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động tốt và mang lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi các quyết định của nhà quản lý tài chính đưa ra là đúng đắn Muốn vậy, họ phải thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp Công việc này được gọi là phân tích tài chính nội bộ Do có đầy đủ các thông tin và hiểu rõ về doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp là những người có lợi thế để phân tích tài chính một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác và khách quan
Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi, nhà quản lý tài chính có thể dự đoán được kết quả hoạt động nói
Trang 16chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Từ đó họ
có thể tham mưu cho Giám đốc, Giám đốc tài chính cũng như Hội đồng quản trị (tùy từng loại hình doanh nghiệp) trong các quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự báo tài chính Cuối cùng phân tích tài chính còn là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý
Phân tích tài chính đối với người cho vay
Người cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của khách hàng Để quyết định cho vay, một trong những vấn đề mà người cho vay cần xem xét là doanh nghiệp thực sự có nhu cầu vay hay không? Khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào? Đồng thời phân tích tài chính cũng giúp người cho vay phân tích được rủi ro trong cho vay từ đó xác định tỷ
lệ cho vay và cách cho vay tương ứng
Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp thực hiện nhằm đánh giá khả năng sinh lời và tăng trưởng của doanh nghiệp thì phân tích tài chính lại được các chủ nợ của doanh nghiệp như ngân hàng
và các nhà cung cấp tín dụng thương mại …sử dụng nhằm đảm bảo về khả năng trả nợ của doanh nghiệp Họ đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp nếu những khoản cho vay là ngắn hạn, nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các món nợ ngắn hạn khi đến hạn trả Nếu là những khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc về khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn vốn và trả lãi sẽ phụ thuộc vào khả năng sinh lời này
Phân tích tài chính đối với nhà đầu tư
Nhà đầu tư (cổ phiếu) cần biết tình hình thu nhập của chủ sở hữu - lợi tức
cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư Họ quan tâm tới phân tích tài chính
để nhận biết khả năng về thực trạng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lãi, khả năng trả nợ, nhu cầu về vốn, triển vọng và sự phát triển của doanh nghiệp Đó là một trong những căn cứ giúp họ ra quyết định có nên bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không, có nên mua hoặc bán doanh nghiệp hay không
Trang 17thông việc xác định giá tri doanh nghiệp?
Các cổ đông là những người đã bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp và họ có thể phải gánh chịu rủi ro Những rủi ro này liên quan đến việc giảm giá cổ phiếu trên thị trường, đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Chính vì vậy, quyết định của họ đưa ra luôn có sự cân nhắc giữa mức độ rủi ro và doanh lợi đạt được Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lời
và triển vọng phát triển của doanh nghiệp, từ đó có quyết định phù hợp
Các nhà đầu tư chỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu giá trị hiện tại ròng (NPV) của nó dương Khi đó, lượng tiền mà dự án mang lại lớn hơn lượng tiền ban đầu cần thiết bỏ vào dự án và đáp ứng được mức lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư Số tiền vượt quá đó mang lại sự giàu có cho những người
sở hữu doanh nghiệp
Chính sách phân phối cổ tức và cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là một vấn đề được các nhà đầu tư hết sức coi trọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ Ta biết rằng thu nhập của các cổ đông bao gồm phần cổ tức được chia hàng năm và phần tăng giá trị của cổ phiếu trên thị trường Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ và vốn chủ sở hữu hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanh nghiệp tăng vốn đầu tư vừa làm tăng giá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu Hơn nữa, các cổ đông chỉ chấp nhận đầu tư, mở rộng quy mô doanh nghiệp khi quyền lợi của họ ít nhất không bị ảnh hưởng Bởi vậy, các yếu tố như tổng lợi nhuận ròng trong kì có thể dùng để trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như hiệu quả của việc tái đầu tư luôn được nhà đầu tư xem xét trước tiên khi thực hiện phân tích tài chính
Đối với người hưởng lương trong doanh nghiệp
Khoản tiền lương nhận được từ doanh nghiệp luôn là nguồn thu nhập duy nhất của người hưởng lương Mặt khác kết quả hoạt động của doanh nghiệp có
Trang 18ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động Ngoài ra, trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn mua một số cổ phần nhất định Như vậy, họ vừa là người lao động vừa là người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp Do
đó, họ cũng rất quan tâm đến phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp mình đang công tác
Đối với cơ quan quản lý cấp trên
Thông qua phân tích tài chính cơ quan quản lý cấp trên có thể đưa ra quyết định điều hành đối với các đơn vị mình quản lý một cách hợp lý như sáp nhập, chia tách, chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp
Đối với các cơ quan quản lý của Nhà nước
Phân tích tài chính cung cấp thông tin cần thiết cho việc thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế, giúp cho công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát tình hình tuân thủ các chính sách, các chế độ của nhà nước, từ đó họ có những hướng dẫn, tư vấn, biện pháp điều chỉnh phù hợp đối với doanh nghiệp
1.2 HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.2.1 Tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp
Tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp là việc thiết lập trình tự các bước công việc cần tiến hành trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp Về cơ bản, việc tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp được tiến hành theo các giai đoạn sau:
- Giai đoạn chuẩn bị: bao gồm việc xác định mục tiêu, xây dựng chương trình phân tích Kế hoạch phân tích phải xác định rõ phòng ban thực hiện phân tích, nội dung phân tích, phạm vi phân tích, thời gian tiến hành phân tích, những thông tin cần thu thập tìm hiểu và phải trả lời các câu hỏi liên quan đến : ngành hoạt động, mức tăng trưởng, khả năng sinh lời, rủi ro…
- Giai đoạn thứ 2: là giai đoạn xem xét các báo cáo tài chính để làm rõ
Trang 19biến động của lợi nhuận sau thuế, biến động của kết quả ròng, số dư quản lý,
cơ cấu chi phí của doanh nghiệp Tiếp đó lập lại các báo cáo tài chính và nghiên cứu cân bằng tài chính và bảng tài trợ
- Giai đoạn thứ 3: là giai đoạn hình thành các câu hỏi chính xác về nhu cầu tính dụng ngắn hạn: khả năng sinh lời ngắn hạn, khả năng thanh khoản và nhu cầu vay dài hạn: khả năng sinh lời dài hạn và tăng trưởng mong đợi, rủi
ro kinh doanh, rủi ro tài chính, rủi ro tín dụng, lợi nhuận / cổ phiếu
- Giai đoạn thứ 4: là giai đoạn đặt giả thiết, việc đặt giả thiết phải dựa vào nhiều thông tin về kinh tế cũng như về tài chính, tiền tệ, công nghệ…các
dự đoán biến động của một số đại lượng được thực hiện để trả lời các câu hỏi
đã đặt ra
- Giai đoạn thứ 5: chẩn đoán, soạn thảo kết luận là giai đoạn cuối cùng của hoạt động phân tích tài chính, từ các giai đoạn phân tích tài chính trên giúp ta tập hợp các yếu tố cần thiết cho chẩn đoán tài chính
1.2.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1 Lập kế hoạch phân tích
Đây là giai đoạn đầu tiên có ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng, thời gian và nội dung phân tích tài chính Nếu giai đoạn này càng được chuẩn bị tốt bao nhiêu thì giai đoạn sau càng dễ dàng và hiệu quả bấy nhiêu
Kế hoạch phân tích phải được xác định cả về nội dung, phạm vi, thời gian và cách thức tổ chức phân tích
- Về nội dung phân tích: xác định xem cần phân tích những vấn đề, nội dung gì
- Về phạm vi phân tích: định hướng xem cần phân tích toàn diện hay từng phần, từng bộ phận để xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích phù hợp
- Về thời gian: lựa chọn thời điểm phân tích nào để có thể mang lại thông tin phân tích có độ tin cậy cao nhất
Trang 20-Về cách thức tổ chức phân tích: để đảm bảo thông tin phân tích tài chính
có độ tin cậy cao cần phải xây dựng đội ngũ cán phân tích chuyên nghiệp, độc lập tương đối với bộ phận kế toán, có sự giám sát chặt chẽ từ khâu thu thập, xử
lý thông tin kế toán và cuối cùng là phân tích thông tin kế toán
1.2.2.2 Thu thập thông tin và xử lý thông tin
Để công tác phân tích tài chính đạt hiệu quả cao nhằm đánh giá đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin từ những thông tin bên trong đến thông tin bên ngoài doanh nghiệp: từ những thông tin số lượng đến thông tin giá trị, từ thông tin
kế toán đến thông tin quản lý khác…Các nguồn thông tin này phải có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp Những thông tin này đều có thể giúp cho nhà phân tích đưa ra được những nhận xét, kết luận chính xác và hiệu quả
Thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp: chủ yếu là thông tin về trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, chính sách tài chính tiền tệ, chính sách kinh tế của ngành, chính sách lãi suất…), thông tin về ngành kinh doanh (thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần…) và các thông tin về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp (các thông tin mà doanh nghiệp phải báo cáo cho các cơ quan quản lý như tình hình quản lý, kiểm toán
sử dụng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp)
Thông tin từ bên trong doanh nghiệp: chủ yếu là các thông tin trên báo cáo tài chính (bao gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính) Đây là nguồn thông tin quan trọng quyết định đến chất lượng phân tích tài chính Bởi thông tin kế toán được tổng hợp khá đầy đủ trong hệ thống báo cáo tài chính, phản ánh khái quát tình hình tài chính cuả doanh nghiệp Các báo cáo tài chính có mối quan hệ hữu cơ với nhau đưa lại cho người đọc một bức tranh toàn cảnh về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Trang 21Sau khi thu thập thông tin bao gồm thông tin từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, doanh nghiệp phải xử lý các thông tin đó Xử lý thông tin là quá trình chọn lọc, kiểm tra, loại bỏ những thông tin sai, sắp xếp các thông tin
đã được lựa chọn để phục vụ cho các bước tiếp theo
Đối với các thông tin bên ngoài, do nguồn cung cấp thông tin phong phú, đa dạng và phức tạp, nhà phân tích cần phải đặc biệt lưu ý trong việc chọn lọc các thông tin liên quan có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ thông tin chung, thông tin ngành đến thông tin pháp lý…nhằm tránh trường hợp nhiều thông tin khi có quá nhiều thông tin không chính thống
Đối với các thông tin bên trong doanh nghiệp mà nguồn thông tin quan trọng nhất là thông tin kế toán Tuy nhiên, các thông tin kế toán này lại phụ thuộc vào phương thức kế toán bao gồm việc lựa chọn, áp dụng các hình thức
kế toán và thực hiện đúng những nguyên tắc, cơ sở, quy ước, quy tắc và các thông lệ cụ thể tại doanh nghiệp theo chuẩn mực Việt Nam và Quốc tế Do vậy, trước khi sử dụng các thông tin này, nhà phân tích cần điều chỉnh dữ liệu nhằm đảm bảo tính nhất quán thông tin và loại trừ các nhân tố ảnh hưởng trọng yếu làm sai lệch thông tin của báo cáo tài chính
Tuy nhiên, mỗi đối tượng sử dụng thông tin có mục đích riêng của mình nên trong xử lý thông tin cũng có những cách xử lý khác nhau nhằm tạo điều kiện có được những thông tin mà mình mong muốn
1.2.2.3 Lựa chọn phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích là cách thức tiếp cận đối tượng phân tích để tìm
ra mối quan hệ bản chất của các hiện tượng phân tích Để đạt được các mục tiêu đề ra các nhà phân tích phải lựa chọn cho mình các phương pháp phân tích khoa học, phù hợp với nội dung phân tích, với lĩnh vực ngành nghề kinh doanh cũng như môi trường hoạt động của doanh nghiệp Các phương pháp phân tích thường được sử dụng trong phân tích tài chính bao gồm: phương pháp tỷ số, phương pháp so sánh, phương pháp Dupont
Trang 22Phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính là phương pháp tỷ số Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác Đây là phương pháp có tình hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện Để đánh giá tình trạng tài chính của một doanh nghiệp cần so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu Là phương pháp được thiết lập bởi quan hệ giữa chỉ tiêu này với chỉ tiêu khác và ngày càng trở nên phổ biến và thiết thực hơn Bởi lẽ thứ nhất là hệ thống báo cáo tài chính ngày càng được hoàn thiện và chuẩn hoá Đó là cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ lệ của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp; thứ hai, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
Về mặt nguyên tắc, với phương pháp tỷ số, cần xác định được các ngưỡng, các định mức để phán xét tình trạng tài chính của một doanh nghiệp trên cơ sở so sánh giá trị các tỷ số của doanh nghiệp với giá trị các
tỷ số tham chiếu
Phương pháp này giúp cho các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng khá phổ biến trong phân tích tài chính, được dùng để đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích Khi tiến hành so sánh các nhà phân tích tài chính cần lưu ý các vấn đề sau:
- Trong quá trình so sánh cần đảm bảo:
+ Các chỉ tiêu được sử dụng để so sánh phải cùng phản ánh một nội dung kinh tế
+ Các chỉ tiêu phải được tính theo cùng một đơn vị đo thống nhất
+ Các chỉ tiêu được tính theo cùng một phương pháp tính toán
+ Các chỉ tiêu phải được thu thập trong cùng một phạm vi thời gian và
Trang 23không gian nhất định
- Phải chọn được tiêu chuẩn so sánh: tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn làm căn cứ để so sánh, gọi là gốc so sánh Gốc so sánh thường được xác định theo không gian và thời gian, tuỳ vào mỗi mục đích phân tích khác nhau mà các nhà phân tích lựa chọn gốc so sánh phù hợp
- Để đánh giá kết quả đạt được của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác gốc so sánh được lựa chọn là số liệu trung bình ngành hay số liệu của doanh nghiệp có điều kiện tương đương
- Để đánh giá tình hình thực hiện so sánh với kế hoạch, dự toán, định mức đặt ra của doanh nghiệp, gốc so sánh được chọn là số liệu kế hoạch, dự toán, định mức
- Để đánh giá xu hướng phát triển của các chỉ tiêu: gốc so sánh được lựa chọn là số liệu kỳ trước hoặc cùng kỳ năm trước
Như vậy, phương pháp so sánh luôn được sử dụng kết hợp với các phương pháp phân tích khác Khi phân tích, nhà phân tích thường so sánh theo thời gian (so sánh kỳ này với kỳ trước) đê nhận biết xu hướng thay đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp, theo không gian (so sánh mức trung bình ngành) để đánh giá vị thế của doanh nghiệp trong ngành
Bên cạnh đó, các nhà phân tích còn sử dụng phương pháp phân tích tài chính Dupont Với phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức sinh lời của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan
hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số
đó đối với tỷ số tổng hợp Phương pháp này hiện nay đã được sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển Theo phương pháp Dupont khả năng sinh lợi của vốn đầu tư biểu hiện bằng tỷ suất doanh lợi trên vốn được xác định như sau:
Trang 24Trước tiên, chúng ta xem xét mối quan hệ tương tác giữa hệ số doanh lợi doanh thu với hệ số doanh lợi tổng tài sản được ký hiệu là Ra và được xác định như sau:
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần
Doanh thu thuần Tổng tài sản
Biểu thức trên cho thấy tỷ suất sinh lợi của tài sản phụ thuộc vào hai yếu tố:
+ Thu nhập ròng của doanh nghiệp trên một đồng doanh thu
+ Một đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
Phân tích Ra cho phép xác định và đánh giá chính xác nguồn gốc làm thay đổi lợi nhuận của doanh nghiệp Trên cơ sở đó mà nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các giải pháp nhằm tăng tiêu thụ và tiết kiệm chi phí
Tiếp theo, xem xét tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu, ký hiệu là Re, ta có:
Trang 251
=
Nợ phải trả
1 - Tổng Tài sản
Tỷ số (Nợ phải trả / Tổng tài sản) được ký hiệu là Rd, khi đó:
=
Công thức này cho thấy khi hệ số nợ Rd tăng lên thì (1-Rd) giảm dẫn đến
Re tăng Do vậy, khi tỷ lệ nợ cao sẽ khuyếch trương một hệ quả về lợi nhuận là: nếu doanh nghiệp có lợi nhuận trong kỳ thì lợi nhuận sẽ càng cao và ngược lại, nếu doanh nghiệp thua lỗ thì thua lỗ sẽ càng lớn
Thông qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn theo phương pháp Dupont, các nhà phân tích có thể so sánh hiệu quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau hoặc giữa các bộ phận trong cùng doanh nghiệp
Để kết quả phân tích mang lại hiệu quả cao các nhà phân tích nên sử dụng kết hợp các phương pháp trên một cách nhuần nhuyễn, thuần thục
1.2.2.4 Đánh giá và kết luận
Từ những kết quả thu được ở các bước trên, nhà phân tích tiến hành đánh giá và kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp theo mục tiêu phân tích của mình Đánh giá và kết luận phải rõ ràng, cụ thể để từ đó có thể đưa ra giải pháp, kiến nghị về những vấn đề đã phân tích cùng những điều kiện để thực thi các giải pháp đó Những đánh giá và kết luận này là cơ sở để ban lãnh đạo đưa ra các quyết định tài chính phù hợp Các quyết định tài chính cơ bản bao gồm:
Quyết định tài trợ: là quyết định liên quan tới việc lựa chọn nguồn vốn
Trang 26cung cấp cho việc mua sắm tài sản, nên sử dụng vốn chủ sở hữu hay vốn vay Nếu sử dụng nguồn vốn vay thì đó là nguồn vốn vay ngắn hạn hay nguồn vốn vay dài hạn với tỷ lệ là bao nhiêu ? còn nếu sử dụng vốn sử dụng vốn chủ sở hữu thì nên chọn giữa lợi nhuận để lại hay phát hành cổ phiếu mới để huy động thêm vốn ? Điều quan trọng là lựa chọn được một cơ cấu nợ và vốn chủ
sở hữu như thế nào là tối ưu nhất tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp với loại hình, quy mô, lĩnh vực hoạt động khác nhau
Quyết định đầu tư: Ngược lại với quyết định tài trợ là quyết định đầu
tư, là quyết định chi tiền ra để mua sắm hoặc đầu tư một loại tài sản nào đó,
nó liên quan đến tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản như tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn và mối quan hệ giữa bộ phận tài sản trong doanh nghiệp Về cơ bản quyết định đầu tư bao gồm các quyết định sau:
- Doanh nghiệp nên đầu tư vào tài sản ngắn hạn bao nhiêu, tài sản dài hạn bao nhiêu cho phù hợp với lĩnh vực kinh doanh của mình
- Doanh nghiệp cần những loại tài sản nào phục vụ cho sản xuất kinh doanh ?
- Quyết định quản lý tài chính ngắn hạn: Hoạt động tài chính ngắn hạn
gắn liền với các hoạt động tài chính hàng ngày như dòng tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất quỹ Điều đó không thể tách rời với việc quản lý vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Một số vấn đề về quản lý tài chính ngắn hạn trong một doanh nghiệp được thể hiện qua việc cơ cấu giữa lượng tiền mặt, dự trữ, các khoản phải thu, giữa các khoản nợ ngắn hạn
1.2.2.5 Lập báo cáo phân tích tài chính
Lập báo cáo phân tích tài chính là công việc cuối cùng của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp, báo cáo phân tích tài chính phải thể hiện đầy đủ nội dung của công tác phân tích tài chính, bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Tên báo cáo
Trang 27- Thời gian của báo cáo
- Họ tên và chức vụ của cán bộ phân tích
- Thông tin sử dụng trong phân tích
- Phương pháp sử dụng trong phân tích
- Nội dung phân tích
- Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
- Đưa ra các quyết định tài chính
- Địa điểm, ngày, tháng, năm, chữ ký của người lập báo cáo phân tích
Tuỳ thuộc vào thực tế công tác phân tích tài chính của từng doanh nghiệp
mà xây dựng mẫu báo cáo phân tích tài chính phù hợp
1.2.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Trên cơ sở kế hoạch, tài liệu và phương pháp phân tích đã được lựa chọn các nhà phân tích xây dựng nhóm các chỉ tiêu phản ánh khái quát tình hình tài chính, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, khả năng hoạt động của doanh nghiệp…Mỗi nhóm chỉ tiêu sẽ giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin có những nhận định riêng về tình hình tài chính doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định kịp thời, chính xác những vấn đề liên quan đến doanh nghiệp phù hợp
với từng đối tượng sử dụng thông tin phân tích tài chính
1.2.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ cung cấp một cách tổng quát nhất tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh là khả quan hay không khả quan Kết quả phân tích này sẽ cho phép các nhà quản lý, chủ doanh nghiệp thấy rõ thực chất của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
và dự đoán được khả năng phát triển hay có chiều hướng suy thoái của doanh nghiệp Trên cơ sở đó để có những biện pháp hữu hiệu tăng cường quản lý doanh nghiệp Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua phân tích Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo
Trang 28lưu chuyển tiền tệ được tiến hành như sau:
- So sánh số liệu cuối kỳ với đầu năm của các khoản, các mục ở phần tài sản và nguồn vốn, so sánh số tổng cộng giữa số cuối kỳ với đầu năm trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Số tổng cộng trên bảng cân đối kế toán phản ánh quy mô tài sản mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ, phản ánh khả năng huy động vốn từ các nguồn khác nhau của doanh nghiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh Nhìn vào kết quả phân tích bảng cân đối kế toán có thể đánh giá doanh nghiệp đang trên đà phát triển hay chuẩn bị phá sản
- Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh cho biết những thông tin tổng hợp về phương thức kinh doanh, về việc sử dụng các tiềm năng vốn, lao động,
kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của doanh nghiệp, và chỉ ra rằng các hoạt động kinh doanh đó đem lại lợi nhuận hay gây ra tình trạng lỗ vốn, dự báo hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai thông qua các chỉ tiêu rất có ý nghĩa sau:
Lãi gộp = Doanh thu – Giá vốn hàng bán
Thu nhập trước khấu hao và lãi = Lãi gộp – Chi phí bán hàng, quản lý Thu nhập trước thuế và lãi = Thu nhập trước khấu hao và lãi - Khấu hao Thu nhập trước thuế = Thu nhập trước thuế và lãi – Lãi vay
Thu nhập sau thuế = Thu nhập trước thuế - Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ cung cấp cho người sử dụng biết nguồn tiền của doanh nghiệp sinh ra từ đâu và sử dụng vào những mục đích gì, từ đó dự đoán được lượng tiền trong tương lai của doanh nghiệp, biết được lượng tiền thanh toán hiện tại cũng như như sự biến động của từng chỉ tiêu, từng khoản mục trên báo cáo ngân quỹ
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng cho thấy quan hệ giữa lãi (lỗ) ròng với luồng tiền tệ cũng như các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư
và hoạt động tài chính ảnh hưởng tới tiền tệ như thế nào, lượng tiền được tạo
ra chủ yếu từ hoạt động nào kể trên
Trang 29Bằng cách tiến hành so sánh về số tuyệt đối và tương đối giữa kỳ phân tích với kỳ gốc trên các chỉ tiêu “ lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh “ và “ lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư”, “ lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính” sẽ cho biết mức độ ảnh hưởng của lượng tiền lưu chuyển thuần trong từng hoạt động đến chỉ tiêu “ lưu chuyển tiền thuần trong kỳ” Từ các kết quả phân tích này các nhà phân tích có thể đưa ra các kiến nghị, đề xuất thích hợp nhằm thúc đẩy lượng tiền lưu chuyển trong từng hoạt động
1.2.3.2 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh
Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn Để phân tích, đánh giá tình hình đảm bảo nguồn vốn của doanh nghiệp cần phải xem xét chỉ tiêu vốn lưu động thường xuyên Vốn lưu động thường xuyên là chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn với tài sản dài hạn hay giữa tài sản lưu động với nguồn vốn ngắn hạn Chỉ tiêu này cũng là một yếu
tố quan trọng và cần thiết cho việc đánh giá điều kiện cân bằng tài chính của một doanh nghiệp
VLĐ thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn – Tài sản dài hạn
= TSLĐ - Nguồn vốn ngắn hạn
VLĐ thường xuyên < 0 tức là nguồn vốn dài hạn không đủ đầu tư cho tài sản dài hạn, doanh nghiệp phải đầu tư vào tài sản dài hạn một phần bằng nguồn vốn ngắn hạn Hay tài sản lưu động không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, doanh nghiệp phải dùng một phần tài sản dài hạn để thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn trả Trong trường hợp này, giải pháp của doanh nghiệp là giảm quy mô đầu tư dài hạn hoặc tăng cường huy động vốn dài hạn hợp pháp hoặc đồng thời thực hiện hai giải pháp đó
VLĐ thường xuyên = 0 có nghĩa là nguồn vốn dài hạn tài trợ đủ cho tài sản dài hạn và tài sản lưu động đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn
Trang 30hạn Tình hình tài chính của doanh nghiệp trong trường hợp này là rất cân đối
VLĐ thường xuyên > 0 tức là nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu
tư vào tài sản dài hạn, phần thừa đó doanh nghiệp đầu tư vào tài sản lưu động, đồng thời khả năng thanh toán của doanh nghiệp là rất tốt
Trong nghiên cứu tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, người ta còn sử dụng chỉ tiêu nhu cầu VLĐ thường xuyên:
Nhu cầu VLĐ thường xuyên = Tồn kho và các khoản phải thu - Nợ ngắn hạn
Nhu cầu VLĐ thường xuyên > 0 tương đương với Tồn kho và các khoản phải thu > Nợ ngắn hạn tức là các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có được từ bên ngoài, doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ phần chênh lệch Giải pháp đặt ra là doanh nghiệp phải nhanh chóng giải phóng hàng tồn kho và giảm các khoản phải thu của khách hàng
Nhu cầu VLĐ thường xuyên < 0 tương đương với Tồn kho và các khoản phải thu < Nợ ngắn hạn, có nghĩa là các nguồn vốn ngắn hạn từ bên ngoài đã dư thừa để tài trợ các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp Doanh nghiệp không cần nhận vốn ngắn hạn để tài trợ cho chu kỳ kinh doanh
1.2.3.3 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính đặc trưng
Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn phát sinh việc thu chi, thanh toán Do vậy,tình hình tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến khả năng thanh toán Phân tích khả năng thanh toán giúp cho chủ nợ giảm được rủi ro trong quan hệ tín dụng đồng thời đánh giá sự biến động của khoản phải thu, phải trả, tìm ra những nguyên nhân dẫn đến sự mất khả năng thanh toán nhằm giúp doanh nghiệp làm chủ tình hình tài chính, đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và phát triển
Trang 31Để thấy rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp hiện tại và trong tương lai chúng ta cần đi sâu phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán của doanh nghiệp:
Chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành
thanh toán hiện hành = =
Nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong thời gian tương ứng với thời hạn của các khoản nợ đó.Vì vậy, để đảm bảo khả năng thanh toán ngắn hạn, hệ số khả năng thanh toán hiện hành phải lớn hơn 1
Chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh
Tài sản lưu động - Dự trữ
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Hệ số này phản ánh khả năng công ty có thể thanh toán ngay cho các khoản
nợ ngắn hạn ở mức độ nào căn cứ vào những TSLĐ có khả năng chuyển đổi thành tiền nhanh nhất như: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu Để đảm bảo khả năng thanh toán nhanh thì hệ số này phải lớn hơn 1
Chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời
Trang 32chứng khoán ngắn hạn của mình Đối với các doanh nghiệp công tác quản lý
dự trữ, tiêu thụ và các khoản phải thu chưa tốt dẫn tới khan hiếm tiền mặt vì tốc độ quay vòng vốn thấp nên thường có hệ số thấp Tuy nhiên, nếu hệ số trên quá cao tức lượng tiền dự trữ quá nhiều sẽ không sinh lợi nhuận thì cũng không tốt Do vậy, tuỳ vào điều kiện kinh doanh mà doanh nghiệp duy trì cho mình một tỷ lệ dự trữ tiền mặt sao cho phù hợp
Chỉ tiêu khả năng thanh toán lãi vay hay số lần có thể trả lãi
Lãi vay là một khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận gộp sau khi đã trừ đi chi phí quản lý kinh doanh và chi phí bán hàng So sánh giữa nguồn để trả lãi với lãi vay phải trả sẽ cho chúng ta biết doanh nghiệp đã sẵn sàng trả tiền đi vay tới mức độ nào
Lợi nhuận trước thuế và lãi
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =
Lãi vay
Hệ số này phản ánh mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi hàng năm như thế nào Nói cách khác, số vốn mà doanh nghiệp đi vay được sử dụng tốt tới mức độ nào và đem lại lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp tiền vay hay không Việc không trả được các khoản nợ này có thể làm cho doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản
Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ về tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp
Trang 33ƣa thích hệ số nợ cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp Song nếu hệ số nợ quá cao, doanh nghiệp rất
dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
Hệ số vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này còn đƣợc gọi là hệ số tự tài trợ, phản ánh khả năng tự chủ
về mặt tài chính, từ đó cho thấy khả năng chủ động của doanh nghiệp trong những hoạt động của mình
Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Hệ số càng cao thể hiện khả năng độc lập về mặt tài chính, hay mức độ
tự tài trợ của doanh nghiệp càng cao Nguồn vốn chủ sở hữu tăng thể hiện tình
Trang 34hình tài chính của doanh nghiệp biến động theo xu hướng tốt, biểu hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng, tích lũy từ nội bộ tăng thông qua việc bổ sung vốn từ lợi nhuận sau thuế và quỹ phát triển kinh doanh, hoặc doanh nghiệp có
kế hoạch đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, liên doanh liên kết với các đơn
vị khác nhằm nâng cao vị thế và sức mạnh trên thị trường
TSCĐ hoặc TSLĐ
Tỷ số cơ cấu tài sản =
Tổng tài sản Chỉ tiêu cơ cấu tài sản phản ánh trong tổng số vốn mà doanh nghiệp đang sử dụng có bao nhiêu phần trăm được đầu tư vào tài sản lưu động, bao nhiêu phần trăm được đầu tư vào tài sản cố định Cơ cấu tài sản càng hợp lý thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao Tùy theo từng loại hình sản xuất kinh doanh để đánh giá mức độ hợp lý của cơ cấu tài sản
Tỷ suất đầu tư vào tài sản cố định càng lớn càng thể hiện mức độ quan trọng của tài sản cố định trong tổng tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng vào kinh doanh, phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Thông thường các doanh nghiệp mong muốn có một cơ cấu tài sản tối ưu, phản ánh cứ một đồng đầu tư vào tài sản cố định thì dành ra bao nhiêu để đầu tư vào tài sản ngắn hạn.Tuy nhiên để kết luận tỷ suất này là tốt hay xấu còn tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp trong từng thời gian cụ thể
Các chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Các chỉ tiêu về khả năng hoạt động được dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp Vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư vào các loại tài sản khác nhau như tài sản cố định, tài sản lưu động
Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm tới việc đo lường hiệu quả sử dụng tổng tài sản mà còn chú trọng đến hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu doanh thu thuần được sử
Trang 35dụng chủ yếu trong tính toán các chỉ tiêu này để xem xét khả năng hoạt động của doanh nghiệp
Vòng quay tiền
Doanh thu thuần Vòng quay tiền =
Tiền và chứng khoán ngắn hạn bình quân
Tỷ số này cho biết số vòng quay của tiền trong năm
Vòng quay các khoản phải thu
Tiền hàng khách hàng mua chịu
Thời gian bán chịu cho = 360 x
Khách hàng Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này thể hiện khoảng thời gian trung bình (ngày) của giao dịch bán chịu mà doanh nghiệp đã chấp thuận bán chịu cho khách hàng
Kỳ thu tiền bình quân
Số dư bình quân các khoản phải thu x 360
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này đo lường khả năng thu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân 1 ngày Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp và các khoản trả trước
Vòng quay hàng tồn kho
Giá vốn hàng bán Vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
Trang 36Đây là chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sở dĩ như vậy là vì dự trữ và tồn kho thường chiếm
tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động của doanh nghiệp, do vậy doanh nghiệp cần giới hạn mức dự trữ này ở mức độ tối ưu và tăng vòng quay của chúng Vòng quay hàng tồn kho được đo bằng tỷ số giữa giá vốn hàng bán trong năm
và giá trị hàng tồn kho bình quân Chỉ tiêu này thể hiện số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ Đứng trên giác độ luân chuyển vốn,
hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá là tốt vì doanh nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư cho hàng tồn kho thấp hơn so với các doanh nghiệp khác có cùng mức doanh thu Nhưng nếu mức tồn kho quá thấp sẽ không đủ cho nhu cầu sản xuất và hợp đồng tiêu thụ của doanh nghiệp trong kỳ sau
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Tổng tài sản trung bình năm Chỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay toàn bộ tài sản và cho biết một đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong một năm Hệ số này làm rõ khả năng tận dụng vốn triệt để vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc tăng vòng quay vốn kinh doanh là yếu tố quan trọng làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp đồng thời làm tăng khả năng cạnh tranh uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Tài sản cố định trung bình năm
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp Tức là một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
Trang 37thuần trong một năm
Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý của doanh nghiệp Khả năng sinh lời của doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu sau đây:
Chỉ tiêu doanh lợi tiêu thụ sản phẩm
Lợi nhuận sau thuế Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm =
Doanh thu thuần
Hệ số này cho biết trong một đồng doanh thu thuần mà doanh nghiệp tạo
ra sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này có thể tăng giảm giữa các kỳ tuỳ theo sự thay đổi của doanh thu thuần và chi phí, do đó doanh nghiệp cần xác định rõ nguyên nhân của sự tăng giảm đó để có biện pháp khắc phục kịp thời
Chỉ tiêu doanh lợi tổng tài sản
Lợi nhuận sau thuế Doanh lợi tài sản (ROA) =
Tổng tài sản trung bình năm
Lợi nhuận trước thuế và lãi
Tổng tài sản trung bình năm
Đây là một chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được phân tích và mục đích phân tích mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi hoặc thu nhập sau thuế để so sánh với tổng tài sản Chỉ tiêu này rất quan trọng, nó cho thấy hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng vốn sản xuất
Trang 38kinh doanh của doanh nghiệp và mức thực lãi do một đồng vốn mang lại
Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận sau thuế Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) =
Vốn chủ sở hữu trung bình năm
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần Tổng tài sản
ROE = x x
Doanh thu thuần Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
Doanh lợi vốn chủ sở hữu chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố: doanh lợi tiêu thụ sản phẩm, hiệu suất sử dụng tổng tài sản và tỷ trọng tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu, nó thể hiện một đồng lợi nhuận sau thuế được hình thành từ bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu Hơn thế nữa chỉ tiêu này được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một công tác có ý nghĩa đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của doanh nghiệp nói riêng Tuy nhiên công tác này cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
1.3.1 Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp
Nhân tố thuộc về doanh nghiệp là những nhân tố nội tại của bản thân doanh nghiệp, bao gồm:
Trang 391.3.1.1 Nhận thức của ban lãnh đạo doanh nghiệp về phân tích tài chính
Ban lãnh đạo doanh nghiệp là người đề ra các quy chế, chủ trương, chính sách đối với công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Nếu họ nhận thức không đúng và coi nhẹ công tác phân tích tài chính thì công tác phân tích tài chính ở doanh nghiệp đó không thể đạt hiệu quả cao Hơn nữa, cũng chính ban lãnh đạo doanh nghiệp là người sử dụng các kết quả của công tác phân tích tài chính Do đó, nếu có một chủ trương hợp lý, một chính sách phù hợp
và sự nhận thức được tầm quan trọng của phân tích tài chính thì phân tích tài chính mới thực sự đạt được các mục tiêu đề ra
1.3.1.2 Trình độ cán bộ phân tích
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác của cán bộ thực hiện phân tích tài chính quyết định đến phương pháp và nội dung phân tích tài chính của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến các kết luận qua việc phân tích
và chính điều này ảnh hưởng đến quyết định của các nhà quản lý Nếu họ được đào tạo đầy đủ về chuyên môn, thường xuyên tham dự các lớp bồi dưỡng về kế toán, phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh và phân tích tài chính để cập nhật kiến thức thì việc phân tích tài chính sẽ được thực hiện một cách khoa học, đầy đủ và sát thực hơn Do vậy, đội ngũ cán bộ có ảnh hưởng rất lớn tới công tác phân tích tài chính, một đội ngũ có trình độ chuyên môn vững, năng động, sáng tạo và có đạo đức nghề nghiệp, có thể phản ánh chính xác, kịp thời tình hình tài chính của doanh nghiệp mình sẽ giúp ban lãnh đạo
có quyết định đúng đắn kịp thời trong quá trình điều hành doanh nghiệp Vì vậy các doanh nghiệp nên chú trọng những vấn đề như: chọn lọc những nhân viên cho bộ phận tài chính phải có trình độ cơ bản về tài chính và có kinh nghiệm, thâm niên trong công tác tài chính của công ty; không ngừng đào tạo các cán bộ chuyên trách thông qua các khoá tập huấn của Bộ tài chính, trung tâm giáo dục của các trường đại học chuyên ngành; kịp thời tiếp cận những thay đổi những chính sách kế toán và những chuẩn mực kế toán mới; bổ sung những kiến thức về pháp luật và các chính sách tài chính thông qua các thông
Trang 40tin trên các báo; trang web liên quan; khuyến khích tìm hiểu thông tin kinh tế trong và ngoài nước từ mọi nguồn khác nhau; cử hoặc tạo điều kiện cho nhân viên tham gia các khoá học ngắn hạn, dài hạn tại các nước trên thế giới về kiến thức quản lý tài chính doanh nghiệp hiện đại; tin học hoá đội ngũ nhân viên tài chính; thường xuyên cử họ đi dự các hội thảo chuyên ngành
Ngoài việc nâng cao về chất lượng cho đội ngũ cán bộ thì việc tổ chức đội ngũ cán bộ phân tích như số lượng bao nhiêu, trách nhiệm và phạm vi công việc như thế nào cho phù hợp với nhu cầu, quy mô của công ty cũng vô cùng quan trọng Bên cạnh đó, chính sách lương thưởng nhằm khuyến khích tinh thần lao động, óc sáng tạo và gắn bó của cán bộ phân tích cũng cần được quan tâm một cách thích đáng
1.3.1.3 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính
Thông tin bao gồm thông tin nội bộ bên trong doanh nghiệp và thông tin bên ngoài doanh nghiệp cũng là một nhân tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả phân tích tài chính Để quá trình phân tích đạt hiệu quả cao thì thông tin phải đầy đủ, chính xác, kịp thời và phù hợp với yêu cầu nghiên cứu
Thông tin phải đầy đủ vì phân tích tài chính rất phức tạp, nhà phân tích không chỉ sử dụng một loại thông tin nào mà phải nắm được tất cả các thông tin nội bộ như thông tin kế toán, thông tin về nguồn nhân lực, về chương trình nghiên cứu phát triển, chương trình marketing, chính sách tín dụng thương mại…và thông tin bên ngoài như: tình hình chung của nền kinh tế, các yếu tố của ngành kinh doanh, các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp…
Thông tin phải chính xác là yêu cầu tất yếu của mọi nghiên cứu Độ chính xác của thông tin quyết định độ tin cậy của kết quả phân tích tài chính
Tính kịp thời và phù hợp của thông tin cũng có ý nghĩa to lớn tới hiệu quả phân tích tài chính Phân tích tài chính phải phản ánh kịp thời tình hình của doanh nghiệp để từ đó có hướng điều chỉnh trong tương lai