Với vai trò là NHTW, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN THỊ NGỌC TÚ
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.TRỊNH THỊ HOA MAI
Hà Nội – 2008
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
VÀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
5
1.1 Những vấn đề cơ bản về Kiểm toán 5
1.2 Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương 16
1.3 Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương một số nước và kinh
nghiệm cho Việt Nam
28
CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA
38
2.1 Tổng quan về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 38
2.2 Thực trạng hoạt động kiểm toán nội bộ NHNN Việt Nam 42
2.2.1 Quá trình phát triển hoạt động Kiểm toán nội bộ NHNN Việt
Trang 32.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 71
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT
ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỚI
79
3.1 Định hướng hoàn thiện hoạt động kiểm toán nội bộ của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam
79
3.1.1 Nâng cao nhận thức về kiểm toán nội bộ NHTW 79
3.1.2 Xây dựng môi trường kiểm soát lành mạnh, bộ máy kiểm toán
nội bộ có hiệu quả
80
3.1.3 Kiểm toán của NHTW phải toàn diện và có trọng điểm 80
3.1.4 Nghiên cứu và vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm kiểm toán nội
bộ của NHTW các nước
81
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm toán nội bộ Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam
81
3.2.1 Hoàn thiện cơ chế kiểm soát, kiểm toán nội bộ NHNN Việt Nam 81
3.2.2 Đổi mới phương pháp lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán 84
3.2.3 Hoàn thiện nội dung và phương pháp kiểm toán tuân thủ, kiểm
toán hoạt động
86
3.2.4 Nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất nghề nghiệp của
đội ngũ kiểm toán viên
88
3.2.5 Tiếp tục hoàn thiện Quy chế kiểm soát viên 90
3.2.6 Mở rộng quan hệ hợp tác trong lĩnh vực kiểm toán nội bộ 93
3.3 Một số kiến nghị 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
KTNN Kiểm toán Nhà nước
KTNB Kiểm toán nội bộ
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng Trung ương
TCTD Tổ chức tín dụng
XDCB Xây dựng cơ bản
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam
45
Sơ đồ 2.2 Quy trình kiểm toán nội bộ NHNN VN 52
Sơ đồ 3.1 Mô hình đánh giá rủi ro do Vụ Kiểm toán nội bộ sử
Biểu 2.1 Kết quả thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính từ năm
Biểu 2.2 Số lượng các đơn vị áp dụng sai tỷ lệ trích khấu hao từ
Biều 2.3 Số lượng các đơn vị mua sắm tài sản sai quy trình từ
Biểu 2.4 Kết quả thực hiện kiểm toán xây dựng cơ bản từ năm
Biểu 2.5 Kết quả thực hiện kiểm toán tuân thủ và hoạt động từ
Biểu 2.6 Kết quả thực hiện kiểm toán tin học từ năm 2003 đến
Biểu 2.7 Kết quả thực hiện kiểm toán kho quỹ từ năm 2003 đến
Biểu 2.8 Số lượng các đơn vị chưa thực hiện nghiêm túc các quy
định an toàn kho quỹ từ năm 2003 đến quý II/2008 67 Biểu 2.9 Số lượng các đơn vị có hệ thống thiết bị kho tiền chưa
đảm bảo quy định từ năm 2003 đến quý II/2008 67
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong gần 20 năm đổi mới, từ khi chuyển đổi cơ chế hoạt động từ 1 cấp sang 2 cấp, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh
mẽ góp phần đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đưa kinh tế Việt Nam phát triển, hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới
Với vai trò là NHTW, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền
tệ cho Chính phủ; hoạch định các cơ chế chính sách quản lý kinh tế vĩ mô trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; tổ chức thực hiện và thực thi chính sách tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền trong nước, kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong từng thời kỳ Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mang tính đặc thù, vừa thực hiện chức năng quản lý của Bộ chuyên ngành vừa thực hiện các hoạt động có tính chất kinh doanh được sử dụng như là phương tiện nâng cao hiệu lực quản lý
Để đảm bảo cho hoạt động của NHNN đúng định hướng, an toàn và hiệu quả, phát huy mạnh mẽ vai trò quản lý Nhà nước và hiệu quả công tác quản trị điều hành, một trong những điều kiện quan trọng là tổ chức tốt hoạt động kiểm soát và kiểm toán nội bộ đối với toàn hệ thống từ Trung ương đến các chi nhánh và đơn vị trực thuộc Qua hơn 17 năm hoạt động, công tác kiểm soát, kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đóng góp tích cực vào việc đảm bảo an toàn tài sản của Nhà nước, đảm bảo hoạt động của NHNN Việt Nam đúng quy định pháp luật Bên cạnh những mặt tích cực còn một số tồn tại về nội dung, phương pháp kiểm toán nội bộ; về xây dựng các
Trang 7cơ chế, chế độ nghiệp vụ làm cho hoạt động kiểm toán nội bộ của NHNN Việt Nam chưa phát huy được hết chức năng và vai trò của mình
Với mong muốn góp phần tìm ra các giải pháp để tiếp tục hoàn thiện, đổi mới hoạt động Kiểm toán nội bộ của NHNN Việt Nam nhằm đáp ứng yêu
cầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt động Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” cho Luận văn
thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về kiểm toán, kiểm soát nội bộ Ngân hàng Trung ương là một vấn đề có ý nghĩa thiết thực đối với các cán bộ làm công tác kiểm toán nội bộ cũng như cho hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vì vậy đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề này như:
“Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”, luận văn thạc sỹ - Đào Quốc Tính, Học viện Ngân hàng, năm 2004;
“Giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát nội bộ trong các nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”, luận văn thạc sỹ - Vũ Anh Tuấn, Học viện Ngân hàng, năm 2006
Các đề tài này đã phản ánh được một phần thực trạng của hoạt động kiểm toán, kiểm soát nội bộ NHTW và đưa ra được một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho hoạt động kiểm toán nội bộ NHNN Việt Nam trong những năm qua
Tuy nhiên, những thay đổi trong môi trường quản lý do tác động của
hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra những yêu cầu mới cho công tác quản trị điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nói chung và hoạt động kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nói riêng Vì thế, hoạt động kiểm
Trang 8toán nội bộ NHNN cần phải được tiếp tục nghiên cứu nhằm đề ra những giải pháp phù hợp, nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN trong giai đoạn tới
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là phân tích thực trạng của hoạt động kiểm toán nội bộ NHNN Việt Nam trong những năm qua, nhìn nhận những điểm mạnh, những tồn tại hạn chế để qua đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm toán nội bộ NHNN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Để thực hiện mục tiêu trên, tác giả luận văn đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về kiểm toán, kiểm toán nội bộ
NHTW và yêu cầu tất yếu của hoạt động kiểm toán nội bộ NHTW Nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động KTNB của NHTW các nước
- Phân tích đánh giá hoạt động kiểm toán nội bộ của Vụ Tổng kiểm soát NHNN Việt Nam trong thời qua Đặc biệt chú trọng phân tích những tồn tại trong hoạt động để tìm ra những giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm toán nội
bộ của hệ thống NHNNVN, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu hội nhập trong giai đoạn mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kiểm toán nội bộ của NHTW
- Phạm vi:
+ Không gian: Hoạt động KTNB Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Thực tiễn hoạt động KTNB ở NHTW một số nước + Thời gian: từ năm 2003 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tư duy biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử;
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và đánh giá;
Trang 9- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tạp chí và báo cáo khoa học trong ngành, tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ…
- Phương pháp xử lý thông tin: bảng số liệu, đồ thị…
6 Dự kiến những đóng góp của luận văn
- Làm rõ vai trò kiểm toán nội bộ - một công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản trị điều hành hoạt động của NHNN Việt Nam - bảo đảm cho mọi chủ trương chính sách, chế độ của Nhà nước và của Ngành được triển khai thực hiện đầy đủ, an toàn và hiệu quả trong điều kiện hội nhập kinh tế nói chung,
hội nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng
- Đề xuất các giải pháp đổi mới và tăng cường hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ của NHNN Việt Nam trong điều kiện hiện nay
7 Bố cục của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung cơ bản của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động kiểm toán và kiểm
toán nội bộ Ngân hàng Trung ương
Chương 2: Hoạt động Kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam trong những năm qua
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp hoàn thiện hoạt động
Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn tới
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN VÀ
KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.1 Những vấn đề cơ bản về kiểm toán
1.1.1 Khái niệm về kiểm toán
Kiểm toán có gốc từ Latinh “Audit”, nguyên bản Auditing gắn liền với nền văn minh Ai Cập và La Mã cổ đại Từ “Audit” có nguồn gốc từ động từ Latinh “Audire” nghĩa là “nghe” Hình ảnh ban đầu của kiểm toán cổ điển là việc kiểm tra được thực hiện bằng cách người soạn thảo báo cáo đọc to lên cho một bên độc lập nghe rồi chấp nhận Kiểm toán dần hình thành và gắn liền với quá trình phát triển của kế toán
Ở nước ta, thuật ngữ kiểm toán thực sự mới xuất hiện và được sử dụng
từ hơn chục năm cuối thế kỷ XX Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kiểm toán
Theo quan điểm thứ nhất, kiểm toán được hiểu theo đúng thời cuộc của
nó, phát sinh cùng với cơ chế thị trường Theo quan niệm này thì Kiểm toán
là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một công ty do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan
Kiểm toán cũng có thể được hiểu là một quá trình mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về thông tin có thể lượng hóa có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hóa với những tiêu chuẩn đã được thiết lập
Ngoài ra, Kiểm toán còn được xem là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là
Trang 11kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che dấu sự gian lận và được trình bày theo mẫu chính thức của luật định
Các khái niệm nêu trên tuy có khác nhau về từ ngữ, song đều bao hàm
5 yếu tố cơ bản, đó là: Chức năng của kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến; Đối tượng trực tiếp của kiểm toán là các báo cáo tài chính; Khách thể kiểm toán được xác định là thực thể kinh tế hay một tổ chức; Chủ thể (người thực hiện) kiểm toán là những kiểm toán viên độc lập có nghiệp vụ và Cơ sở thực hiện kiểm toán là những luật định, tiêu chuẩn hay chuẩn mực chung
Theo quan điểm thứ hai, kiểm toán lại được đồng nhất với khái niệm
kiểm soát Theo quan điểm này, kiểm soát được thực hiện đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp, còn kiểm toán được thực hiện với các đơn vị sản xuất kinh doanh Nhưng phạm vi kiểm toán ở đây đã được mở rộng hơn, nó liên quan đến cả lĩnh vực tài chính và lĩnh vực phi tài chính Chủ thể thực hiện kiểm toán có thể là kiểm toán viên độc lập và cũng có thể là những cán bộ thuộc chính đơn vị được kiểm toán
Theo xu hướng phát triển, quan điểm hiện đại về kiểm toán cho rằng
kiểm toán không chỉ giới hạn ở kiểm toán báo cáo tài chính hay tài liệu kế toán mà còn thâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác nhau như hiệu quả của hoạt động kinh tế, hiệu năng của quản lý xã hội, hiệu lực của hệ thống pháp lý trong từng hoạt động,…
Qua các quan điểm khác nhau về kiểm toán, ta có thể thấy quan điểm
đúng nhất về kiểm toán qua khái niệm sau: "Kiểm toán là một chức năng của quản lý, là một quá trình các kiểm toán viên có thẩm quyền, những người
được đào tạo để có trình độ thích hợp tiến hành một cách độc lập việc thu
thập, xác minh, đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng liên quan
đến các hoạt động kinh tế - tài chính của một đơn vị và tổ chức kinh tế nhằm
Trang 12xác định và báo cáo mức độ phù hợp của các thông tin số lượng đó với các chuẩn mực về kinh tế, về tài chính và kế toán đã được thiết lập và được pháp luật thừa nhận Qua đó, kiểm toán còn đánh giá tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính cũng như hiệu năng quản lý của cá nhân, tổ chức." [5,tr 24]
Theo khái niệm này thì kiểm toán được áp dụng đối với cả các đơn vị sản xuất kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp Phạm vi của kiểm toán cũng rất rộng, bao trùm cả lĩnh vực tài chính và phi tài chính vì nó đánh giá tính kinh tế và tính hiệu quả hoạt động của một tổ chức hay một đơn vị Chủ thể thực hiện kiểm toán có thể là cả Kiểm toán viên độc lập và có thể cả Kiểm toán viên nội bộ
Trên cơ sở đồng tình với quan điểm trên về khái niệm kiểm toán và bản thân khái niệm đó cũng rất phù hợp với thực tế của Việt Nam nên trong phạm
vi luận văn này, tác giả đề cập những vấn đề về kiểm toán theo khái niệm đó
1.1.2 Chức năng của kiểm toán
Từ khái niệm của kiểm toán có thể thấy kiểm toán có chức năng cơ bản
là xác minh và bày tỏ ý kiến
Chức năng xác minh: nhằm khẳng định mức độ trung thực của số liệu,
tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các Báo cáo tài chính
Xác minh là chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán Bản thân chức năng này không ngừng phát triển và được thể hiện khác nhau tùy đối tượng cụ thể của kiểm toán là báo cáo tài chính hay nghiệp vụ kinh tế cụ thể hoặc toàn bộ tài liệu kế toán Đối với các báo cáo tài chính, việc thực hiện chức năng xác minh này trước hết được thực hiện ở sự xác nhận của người kiểm toán độc lập ở bên ngoài Đối với các thông tin đã được lượng hóa, việc xác minh được thực hiện trước
Trang 13hết thông qua hệ thống kiểm soát nội bộ Kết quả cuối cùng khi đã xác minh được điều chỉnh trực tiếp để có hệ thống thông tin tin cậy và lập các báo cáo tài chính Đối với kiểm toán các nghiệp vụ, cũng qua lịch sử phát triển lâu dài, lúc đầu kiểm toán các nghiệp vụ giới hạn trong hoạt động tài chính dần được
mở rộng sang các lĩnh vực hiệu năng và hiệu quả hoạt động
Chức năng bày tỏ ý kiến: có thể hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về
chất lượng thông tin và cả pháp lý, tư vấn xác minh Nếu kết luận về chất lượng thông tin có quá trình phát triển lâu dài từ chỗ chỉ có từ “xác nhận” đến hình thành báo cáo kiểm toán theo chuẩn mực chung thì kết luận về pháp lý hoặc tư vấn cũng có quá trình phát triển lâu dài Trong quá trình đó, sản phẩm
cụ thể của bày tỏ ý kiến thấy rõ nhất là ở cuối thế kỷ XX Tuy nhiên, cách thức thực hiện chức năng bày tỏ ý kiến về trách nhiệm và tư vấn cũng rất khác biệt giữa các khách thể kiểm toán và giữa các nước có cơ sở kinh tế và pháp
lý khác nhau
Ở khu vực các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp hay các cơ quan hưởng lương từ ngân sách đều đặt dưới sự kiểm soát của Kiểm toán Nhà nước Trong quan hệ này, chức năng xác minh và kết luận về chất lượng thông tin của kiểm toán được thực hiện tương tự nhau Tuy nhiên, chức năng
“bày tỏ ý kiến” về pháp lý và tư vấn kiểm toán lại rất khác nhau Ở mức độ cao của chức năng này là sự phán quyết như các quan tòa, ta có thể thấy thể hiện rõ nhất ở các nước Tây Âu Đối với nhiều nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, chức năng “bày tỏ ý kiến” lại được thực hiện bằng phương thức tư vấn Chức năng tư vấn còn bao trùm cả việc phác thảo và xem xét những dự kiến về luật trước khi đưa ra Quốc hội
Ở khu vực kinh doanh, chức năng bày tỏ ý kiến cũng được thực hiện qua phương thức tư vấn Tuy nhiên, do khách thể chủ yếu là các doanh nghiệp nên chức năng tư vấn chủ yếu được biểu hiện dưới hình thức các lời khuyên
Trang 14hoặc các đề án Do đó, trong trường hợp này, nếu sản phẩm của bày tỏ ý kiến kết quả xác minh về độ tin cậy của thông tin là “Báo cáo kiểm toán” thì sản phẩm của bày tỏ ý kiến dạng tư vấn là “Thư quản lý”
Trong kiểm toán nội bộ, trước những năm 1960, phạm vi kiểm toán còn giới hạn chủ yếu trong lĩnh vực kế toán – tài vụ Khoảng 3 thập niên gần đây, kiểm toán nội bộ đi sâu vào các lĩnh vực hiệu năng và hiệu quả của hoạt động
Từ đó chức năng tư vấn cho quản lý của kiểm toán có điều kiện phát huy đầy
đủ tác dụng trong thực tiễn
1.1.3 Phân loại kiểm toán
Tùy theo các tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân ra nhiều loại kiểm toán khác nhau:
1.1.3.1 Theo chủ thể thực hiện kiểm toán
a Kiểm toán Nhà nước
Kiểm toán Nhà nước là hệ thống bộ máy chuyên môn của nhà nước thực hiện các chức năng kiểm toán tài sản công Ở thời kỳ trung đại, kiểm toán nhà nước đã xuất hiện để đối soát tài sản của vua chúa Qua quá trình phát triển cho đến nay kiểm toán nhà nước ở các nước phát triển đều thực hiện chức năng kiểm toán các đơn vị ở khu vực công cộng Kiểm toán Nhà nước thường tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ, xem xét việc chấp hành các chính sách, luật lệ và chế độ của Nhà nước tại các đơn vị có sử dụng vốn là kinh phí của Nhà nước và kiểm toán hoạt động các đơn vị nói trên
Ở Việt Nam, kiểm toán Nhà nước được thành lập theo Nghị định 70/CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ để giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế Nhà nước và đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội
sử dụng kinh phí do Ngân sách Nhà nước cấp Kiểm toán Nhà nước thực hiện
Trang 15kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách của các Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trước khi trình Hội đồng nhân dân và tổng quyết toán ngân sách Nhà nước của Chính phủ trước khi trình lên Quốc hội Kiểm toán nhà nước cũng thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán của các Bộ, các cơ quan thuộc Quốc hội, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, các đơn vị sự nghiệp công, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí Nhà nước; Báo cáo quyết toán của các chương trình, các dự án, các công trình đầu
tư của nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước
Theo Luật Kiểm toán Nhà nước có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006, Kiểm toán Nhà nước chính thức là một cơ quan của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Với tư cách là cơ quan kiểm tra tài chính công tối cao, KTNN thực hiện 4 nhiệm vụ quan trọng:
Một là, KTNN phải báo cáo và tư vấn cho Quốc hội về những vấn đề có
liên quan trong quá trình ra các quyết định của Quốc hội, không những ở chừng mực Quốc hội là cơ quan giám sát cơ quan hành pháp mà cả trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình với tư cách là cơ quan ban hành Luật Ngân sách nhà nước và các đạo luật chuyên môn có hiệu lực tài chính
Hai là, KTNN phải báo cáo, tư vấn và giải toả trách nhiệm cho Chính
phủ, cụ thể là cho các cấp quản lý hành chính Nhà nước, các Bộ, Ban, Ngành trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, cũng như về tác động tài chính của những biện pháp đề ra
Ba là, KTNN thực hiện chức năng phòng ngừa và răn đe những biểu hiện
tham nhũng, lãng phí và những hành vi lạm dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước
Bốn là, KTNN cần thông báo công khai trước công luận về việc sử dụng
các nguồn lực tài chính của Nhà nước
Trang 16Qua hơn 10 năm hoạt động, Kiểm toán Nhà nước đã bước đầu ổn định
về tổ chức và cơ chế hoạt động Kiểm toán Nhà nước đã trở thành một công
cụ quan trọng nhằm tăng cường chức năng kiểm tra giám sát việc chi tiêu, sử dụng tài nguyên, công sản quốc gia Hoạt động của KTNN đã góp phần tiết kiệm và tăng thu cho ngân sánh Nhà nước hàng ngàn tỷ đồng, góp phần thiết lập trật tự và kỷ cương quản lý nền kinh tế tài chính, hướng tới mục tiêu hiệu quả
b Kiểm toán độc lập
Kiểm toán độc lập là hoạt động đặc trưng của nền kinh tế thị trường
Đây là các tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theo yêu cầu của khách hàng Ở các nước sớm phát triển theo cơ chế thị trường, kiểm toán độc lập đã hành nghề trước khi có những chuẩn mực chung (về kiểm toán viên) và chuẩn mực chuyên ngành (về công tác kiểm toán) Cho đến nay, trên thế giới
đã có hàng trăm ngàn tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn tài chính Kinh nghiệm ở các nước có lịch sử phát triển kiểm toán lâu dài cho thấy trong những năm phát triển, việc hành nghề riêng biệt của từng kiểm toán viên hoặc của một nhóm nhân viên trong lĩnh vực kiểm toán, tư vấn tài chính khá phổ biến
Đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc
tế, Kiểm toán độc lập ở nước ta đã hình thành và phát triển nhanh chóng Ngày 29/11/1994, Chính phủ đã ban hành Quy chế kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân (kèm theo Nghị định số 07/CP), cơ sở pháp lý đầu tiên cho hoạt động Kiểm toán độc lập ở Việt Nam
Trong quy chế này, Kiểm toán độc lập được định nghĩa “Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của các Kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức Kiểm toán độc lập về tính đúng đắn, hợp lý của các tài liệu, số liệu và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức đoàn
Trang 17thể, tổ chức xã hội (gọi tắt là các đơn vị kế toán) khi có yêu cầu của các đơn
vị này”
Hoạt động kiểm toán độc lập giúp các cơ quan chức năng và những người sử dụng thông tin tài chính của các đơn vị được kiểm toán có những căn cứ chắc chắn để khẳng định những thông tin mà họ đang sử dụng là trung thực, khách quan và hợp pháp Từ đó họ có thể đưa ra những quyết định quản
lý, kinh doanh phù hợp
Hoạt động kiểm toán độc lập còn giúp các đơn vị được kiểm toán phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai sót do vô tình hay cố ý, kiểm soát các rủi
ro trong kinh doanh
Hoạt động Kiểm toán độc lập do các Kiểm toán viên chuyên nghiệp thực hiện, tuân theo các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán, kiểm toán nhất định
do các cơ quan có thẩm quyền quy định Các kiểm toán viên độc lập là đội ngũ hành nghề chuyên nghiệp, có đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, phải trải qua các kỳ thi quốc gia và đạt được các tiêu chuần nhất định về bằng cấp và kinh nghiệm
Kiểm toán độc lập chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính Ngoài ra còn tuỳ thuộc yêu cầu của khách hàng, kiểm toán viên độc lập còn có thể thực hiện kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ hoặc tiến hành các dịch vụ tư vấn tài chính kế toán khác
c Kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là loại kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ của đơn
vị tiến hành Phạm vi của kiểm toán nội bộ rất biến động và tùy thuộc vào quy
mô, cơ cấu của doanh nghiệp cũng như yêu cầu của các nhà quản lý đơn vị Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ:
Trang 18- Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan, giám sát sự hoạt động của các hệ thống này cũng như tham gia hoàn thiện chúng
- Kiểm tra lại các thông tin tác nghiệp và thông tin tài chính bao gồm việc soát xét lại các phương tiện đã sử dụng để xác định để tính toán, phân loại và báo cáo những thông tin này, thẩm định cụ thể các khoản mục cá biệt
- Kiểm tra tính hiệu lực, tính kinh tế và hiệu quả các hoạt động trong đơn vị
Lĩnh vực chủ yếu của kiểm toán nội bộ là kiểm toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị Bên cạnh đó, các kiểm toán viên nội bộ cũng tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ để xem xét việc chấp hành các quy chế, chính sách trong nội bộ đơn vị
Báo cáo kiểm toán nội bộ được Thủ trưởng đơn vị tin tưởng nhưng chỉ
có giá trị nội bộ, giá trị pháp lý không cao Báo cáo KTNB cũng là tài liệu tham khảo cho Kiểm toán Nhà nước hoặc Kiểm toán độc lập trước khi tiến hành kiểm toán tại đơn vị đó Chất lượng báo cáo kiểm toán nội bộ tốt sẽ giảm khả năng kiểm toán bên ngoài, tiết kiệm chi phí cho kiểm toán
Kiểm toán nội bộ do các Kiểm toán viên nội bộ thực hiện, tuân theo các nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán do Ban lãnh đạo quy định Đồng thời những nguyên tắc, chuẩn mực đó phải phù hợp với thông lệ quốc tế về nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán
Sự khác biệt cơ bản giữa Kiểm toán nội bộ với Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán độc lập là: KTNB có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát tính hiệu lực và tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ KTNB thường liên quan đến các hệ thống trong một đơn vị (ví dụ: hệ thống tiền mặt, hệ thống kế toán, hệ thống tin học )
Trang 19Trên thế giới, Kiểm toán nội bộ đã trở thành một nghề có tính chuyên nghiệp Hiệp hội các Viện Kiểm toán viên nội bộ đã được thành lập năm
1941 Hiện nay Hiệp hội đã có hơn 100 tổ chức quốc gia tham dự với số thành viên khoảng 50.000 Kiểm toán viên nội bộ
1.1.3.2 Theo nội dung kiểm toán
Tuỳ theo mục đích của người sử dụng thông tin, một cuộc kiểm toán có thể tiến hành đồng thời hoặc một trong ba loại kiểm toán sau:
a Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán hoạt động là quá trình kiểm toán nhằm đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của việc sử dụng các nguồn lực trong hoạt động của đơn
vị Đồng thời Kiểm toán hoạt động cũng đánh giá hiệu quả hoạt động của các
bộ phận chức năng trong việc thực các mục tiêu kinh doanh của đơn vị
Kiểm toán hoạt động quan tâm đến những hoạt động quản lý và kinh doanh đang tiếp diễn để lượng đoán một kết quả trong tương lai Nó liên quan đến toàn bộ cơ cấu tổ chức của một đơn vị, bao gồm rất nhiều các lĩnh vực, các yếu tố (bao gồm cả những lĩnh vực phi tài chính)
Báo cáo kiểm toán hoạt động chủ yếu đánh giá tiềm năng nên không mang tính công khai Vì vậy các tổ chức Kiểm toán độc lập thường không thực hiện loại kiểm toán này Nhưng kiểm toán hoạt động thường lại là những nội dung không thể thiếu được trong kế hoạch kiểm toán nội bộ
Kiểm toán hoạt động là loại kiểm toán khó lượng hoá Chúng ta có thể lượng hoá được các tiêu thức về tính hiệu lực và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực Nhưng đối với mối quan hệ giữa các chức năng và hiệu quả hoạt động của từng chức năng thì lại rất trừu tượng, khó lượng hoá Vì vậy, hiện nay các cuộc kiểm toán hoạt động chưa được thực hiện thường xuyên
Trang 20b Kiểm toán tuân thủ
Kiểm toán tuân thủ là quá trình kiểm toán nhằm xác định xem đơn vị được kiểm toán trong quá trình hoạt động có tuân theo các nguyên tắc, quy định của cấp trên và các chế định pháp luật của Nhà nước hay không Đồng thời kiểm toán tuân thủ cũng xem xét xem các quy trình hoạt động có được xác lập và thực hiện không
c Kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán báo cáo tài chính là quá trình các Kiểm toán viên có thẩm quyền thực hiện kiểm tra một cách độc lập các thông tin liên quan đến báo cáo tài chính của một đơn vị, tổ chức để xác nhận tính trung thực, hợp pháp
và phù hợp với các nguyên tắc quản lý tài chính và hạch toán kế toán của các thông tin đó
Kiểm toán báo cáo tài chính là khái niệm kiểm toán gần nghĩa nhất với khái niệm kiểm toán cổ điển Thông thường nói đến kiểm toán là người ta nghĩ ngay đến kế toán, hạch toán và chỉ những gì liên quan đến kế toán Do vậy, ở nước ta Kiểm toán độc lập là tổ chức kiểm toán đầu tiên được thành lập
và chỉ thực hiện nhiệm vụ Kiểm toán báo cáo tài chính Sau này, khi khái niệm về kiểm toán đã đi dần vào thực tiễn thì mới có những văn bản pháp quy quy định chức năng, nhiệm vụ cụ thể của Kiểm toán Nhà nước và KTNB Các
tổ chức kiểm toán này thực hiện cả kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động
Trong điều kiện hiện nay khi các đơn vị chưa hoạt động theo nề nếp, chưa tuân theo những nguyên tắc quản lý tài chính và hạch toán kế toán thì kiểm toán báo cáo tài chính là rất cần thiết
Kiểm toán báo cáo tài chính không chỉ xác nhận tính trung thực của các thông tin trên báo cáo tài chính mà còn xác nhận cả tính hợp pháp và phù hợp
Trang 21của các loại thông tin Do vậy, khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính là chúng ta đã thực hiện cả kiểm toán tuân thủ dưới một góc độ nhất định
1.2 Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương
1.2.1 Khái niệm Kiểm toán nội bộ NHTW
Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương là loại hình kiểm toán nội bộ,
ra đời từ sự đòi hỏi khách quan trong hoạt động của Ngân hàng Trung ương
Thuật ngữ “nội bộ” là để nói rõ đó là công việc kiểm toán do một tổ chức và nhân viên của tổ chức đó tiến hành Như vậy, công việc kiểm toán nội bộ NHTW khác với công việc kiểm toán của các tổ chức và nhân viên bên ngoài NHTW tiến hành như Kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập
Tính độc lập của kiểm toán nội bộ NHTW được xác định bởi các công việc của kiểm toán viên không bị những ràng buộc có thể hạn chế đáng kể phạm vi và hiệu quả của việc thẩm tra hoặc làm chậm trễ việc báo cáo những phát hiện và kết luận Kiểm toán nội bộ NHTW có vai trò xem xét, đánh giá
và xác nhận, phát hiện sự việc Phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ NHTW là tất cả các hoạt động nghiệp vụ của NHTW, đồng thời giúp đỡ và hỗ trợ cho hoạt động của NHTW và các thành viên của NHTW
Kiểm toán nội bộ NHTW là quá trình các Kiểm toán viên nội bộ có thẩm quyền kiểm tra, đánh giá một cách độc lập về tính đúng đắn, trung thực, hợp pháp của các thông tin trên báo cáo tài chính hoặc đánh giá tính tuân thủ, tính kinh tế và tính hiệu quả hoạt động của một NHTW
Nhiệm vụ mà Kiểm toán nội bộ NHTW phải tiến hành:
- Đánh giá độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ
- Kiểm tra hệ thống kế toán (mà dựa vào đó người ta lập các báo cáo kế toán) để đánh giá tính đúng đắn, trung thực, hợp pháp của các thông tin trên báo cáo tài chính
Trang 22- Kiểm tra việc tuân thủ luật pháp, tuân thủ các chính sách thủ tục của ban lãnh đạo cũng như của các đơn vị, bộ phận của Ngân hàng
- Đánh giá độc lập về tính kinh tế, hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực cũng như bảo vệ nguồn lực
Để thực hiện tốt những nhiệm vụ trên, phạm vi hoạt động của KTNB Ngân hàng Trung ương rất rộng, không chỉ liên quan đến lĩnh vực tài chính
mà còn liên quan đến cả lĩnh vực phi tài chính, đến các chức năng và mối liên
hệ qua lại giữa các chức năng đó
1.2.2 Vai trò của kiểm toán nội bộ NHTW
Mỗi tổ chức khác nhau có những rủi ro khác nhau nhưng hầu hết họ quan tâm đến những rủi ro về tiền bạc và rủi ro về uy tín
Với Ngân hàng Trung ương thì rủi ro về tiền xét cho cùng lại dẫn đến những rủi ro về uy tín bởi chức năng ổn định tiền tệ là chức năng quan trọng của Ngân hàng Trung ương Những thiệt hại về tiền của Ngân hàng Trung ương thường là tiền của Nhà nước hoặc là tiền của Nhà nước sử dụng để bồi thường cho những thiệt hại đã xảy ra Những điều đó liên quan rất nhiều đến công chúng và nó sẽ làm giảm uy tín của Ngân hàng Trung ương Uy tín của NHTW có thể bị đe doạ trong mọi trường hợp
NHTW trong quá trình hoạt động gặp rất nhiều rủi ro, có những rủi ro bên ngoài nhưng cũng có những rủi ro ngay trong nội bộ Ngân hàng, có những rủi ro định lượng và cả những rủi ro định tính Những rủi ro chủ yếu của Ngân hàng Trung ương bao gồm: sai lầm, gian lận, rủi ro danh tiếng, những ý kiến tham mưu kém chất lượng dẫn đến quyết định quản lý sai; những kế hoạch kém chất lượng; sự hỗ trợ cho hệ thống máy tính kém hiệu quả; vi phạm luật; mất dữ liệu, mất mát tài sản, lộ thông tin quản lý
Kiểm toán nội bộ NHTW được sinh ra từ yêu cầu của quản lý ngân hàng và phục vụ cho hoạt động quản lý ngân hàng của các nhà lãnh đạo ngân
Trang 23hàng NHTW Kiểm toán nội bộ do một bộ phận của NHTW thực hiện Bộ phận này độc lập với các hoạt động quản lý và điều hành của NHTW và tuân theo những nguyên tắc, chuẩn mực mà NHTW quy định phù hợp với thông lệ quốc tế và có vai trò đặc biệt quan trọng:
- Kiểm toán nội bộ NHTW giúp ngăn ngừa thiếu sót trong hệ thống xử
lý nghiệp vụ: các thủ tục kiểm soát phải được thiết kế sao cho có thể hướng các nghiệp vụ kinh tế được thực hiện đúng nguyên tắc quy định nhằm ngăn chặn kịp thời các sai sót, nhầm lẫn vô tình hay có thể cố ý gây thất thoát tiền bạc hoặc tài sản của ngân hàng Ví dụ: để ngăn chặn thất thoát tiền bạc, ngân hàng quy định mọi khoản thu chi trước khi thủ quỹ thực hiện đều phải qua xét duyệt của kế toán, kiểm soát viên, kế toán trưởng…
- Kiểm toán nội bộ NHTW giúp bảo vệ ngân hàng trước những thất thoát tài sản có thể tránh NHTW phải giữ gìn một lượng tiền mặt lớn đủ loại, bao gồm tiền mặt, các phương tiện chuyển nhượng và chứng từ, đòi hỏi phải được bảo quản trong khâu lưu trữ cũng như khi chuyển tiền Vì lý do này, NHTW cần thiết phải lập các quy trình hoạt động, xác định rõ giới hạn cho cá nhân và lập ra một hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ
- Kiểm toán nội bộ cung cấp cho nhà quản lý NHTW thông tin trung thực thông qua báo cáo kiểm toán các đơn vị trong hệ thống từ đó góp phần trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật hay chính sách kinh tế nói chung Kiểm toán nội bộ có vai trò là thông qua kiểm toán để cải tiến và hoàn thiện hoạt động ở các đơn vị, góp phần nâng cao hiệu quả cuối cùng, khắc phục những khâu yếu, giúp thủ trưởng đơn vị phát hiện, ngăn chặn
và xử lý các gian lận, sai sót trong hoạt động của đơn vị Kiểm toán nội bộ giúp NHTW đảm bảo việc chấp hành chính sách chế độ của pháp luật
Tính toàn diện trong kiểm toán nội bộ đã khẳng định được vai trò độc lập và không thể thiếu trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước
Trang 241.2.3 Nguyên tắc hoạt động
1.2.3.1 Nguyên tắc độc lập
Hoạt động kiểm toán bị chi phối bởi nguyên tắc độc lập Không có tính độc lập thì những báo cáo của kiểm toán không có giá trị trong xã hội Tính độc lập của kiểm toán có nghĩa là không một tổ chức, cá nhân nào có quyền can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kiểm toán Kiểm toán có quyền sử dụng các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để hoàn thành kiểm toán, tạo lập bằng chứng và đưa ra những nhận xét độc lập, khách quan của mình Điều
đó thể hiện ở chỗ các kiểm toán viên và đoàn kiểm toán phải có quan điểm vô
tư khi thực hiện kiểm toán, đánh giá kết quả và công bố kết quả kiểm toán Tính độc lập cần thiết từ phía cơ quan lập pháp, hành pháp và cả từ phía đối tượng kiểm toán Tính độc lập được thể hiện ở cả cơ quan kiểm toán và các kiểm toán viên Tính độc lập phải được xem là một trong những phẩm chất chủ yếu của kiểm toán viên
1.2.3.2 Nguyên tắc trung thực và khách quan
Tính trung thực và khách quan nêu rõ: kiểm toán không được chủ tâm phản ánh sai sự thật (tính trung thực), kiểm toán viên không được để sự phán xét của mình bị hạn chế, lệ thuộc vào người khác
Nguyên tắc này xuất phát từ chính bản chất và chức năng của kiểm toán Kiểm toán ra đời là do yêu cầu khách quan kiểm soát trở lại các hoạt động kinh tế được ghi nhận, phản ánh khách quan công tác kế toán đã bao hàm hai chức năng phản ánh và giám đốc, kiểm tra Sự tách ra, thậm chí tách theo một
hệ thống tổ chức được pháp luật định chế của chức năng giám đốc kiểm tra để tình hình công tác kiểm toán mang tính độc lập là một yêu cầu của quản lý kinh tế song còn mang bản chất kinh tế và tính lịch sử của nó Nguyên tắc trung thực quy định khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên được đề nghị các
cơ quan thẩm quyền giám định về mặt chuyên môn hoặc tư vấn khi cần thiết
Trang 25Kiểm toán viên có quyền được đề nghị các cơ quan thẩm quyền giám định về mặt chuyên môn hoặc làm tư vấn khi cần thiết Nguyên tắc này chỉ ra kiểm toán viên và các cơ quan kiểm toán phải có trình độ và khả năng đáp ứng yêu cầu để đảm bảo thực hiện một cách khách quan, công bằng, có hiệu quả các trách nhiệm đối với các báo cáo kiểm toán
1.2.3.3 Nguyên tắc chỉ tuân theo pháp luật
Để đảm bảo tính độc lập, trung thực và khách quan của kiểm toán, vấn
đề quan trọng và cần thiết là dù đặt ở đâu cũng phải đảm bảo nguyên tắc chỉ tuân theo pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán Bản thân ngành kiểm toán cũng là một khách thể tồn tại trong xã hội, là kết quả của một quá trình phát triển của loài người trước hết là lịch sử của hoàn thiện quá trình quản lý Kiểm toán được pháp luật thừa nhận và bảo hộ nên việc tuân theo quy luật, luật pháp là điều tất yếu Bất kỳ một Công ty kiểm toán nào có sự vi phạm pháp luật cũng sẽ bị xét xử theo đúng quy định của pháp luật Mọi tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những đánh giá nhận xét của mình
Chính hoạt động kiểm toán có bản chất và chức năng là kiểm tra nên mọi hoạt động của kiểm toán đều xuất phát từ nguyên tắc chỉ tuân theo pháp luật Nguyên tắc tuân thủ pháp luật quy định rằng, mọi chủ thể, khách thể đều tham gia vào các hoạt động kiểm toán đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật Đó là thẩm quyền, là chức năng, là nhiệm vụ, là trách nhiệm của cả
tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên và những đối tượng kiểm toán
1.2.4 Quy trình kiểm toán nội bộ NHTW
Dù có nhiều loại hình KTNB khác nhau trong hoạt động của NHTW, nhưng quy trình thực hiện KTNB của NHTW đều bao gồm 4 bước cơ bản sau:
1.2.4.1 Chuẩn bị kiểm toán
Trang 26Chuẩn bị kiểm toán là bước công việc đầu tiên của việc tổ chức kiểm toán nhằm tạo ra tất cả các tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi thực hiện kiểm toán Đây là công việc có ý nghĩa quyết định chất lượng các cuộc kiểm toán Các tiền đề và điều kiện cụ thể cần tạo ra trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán có rất nhiều đặc biệt trong những loại hình kiểm toán cụ thể, song có thể tóm tắt về một số công việc chủ yếu sau:
- Xác định mục tiêu, phạm vi kiểm toán cụ thể cho mỗi cuộc kiểm toán Mục tiêu kiểm toán là đích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả kiểm toán cho mỗi cuộc kiểm toán cụ thể Mục tiêu chung của kiểm toán phải gắn chặt với mục tiêu, yêu cầu của quản lý
- Phạm vi kiểm toán: là sự giới hạn về không gian và thời gian của đối tượng kiểm toán Phạm vi kiểm toán thường được xác định đồng thời với mục tiêu kiểm toán và là một hướng cụ thể hóa mục tiêu này
- Chuẩn bị nhân sự và các điều kiện vật chất cơ bản: tùy mục tiêu và phạm vi kiểm toán, cần chỉ định Trưởng đoàn thực hiện cuộc kiểm toán này Yêu cầu chung của việc chỉ định Trưởng đoàn là phải chọn Trưởng đoàn có trình độ tương xứng với mục tiêu và phạm vi kiểm toán và tương xứng với vị trí, yêu cầu, nội dung và tinh thần của cuộc kiểm toán Việc bố trí Kiểm toán viên phù hợp với trình độ, năng lực, đảm bảo nguyên tắc độc lập khách quan Cùng với việc chỉ định con người cần chuẩn bị các thiết bị, điều kiện vật chất khác đi kèm như: phương tiện tính toán, kiểm tra, máy tính, văn phòng phẩm,…
- Thu thập thông tin: Ở bước chuẩn bị này, thu thập thông tin chỉ hướng tới việc đưa ra các bước quyết định về kiểm toán mà chưa đặt ra mục đích thu thập bằng chứng kiểm toán cho kết luận kiểm toán Việc thu thập thông tin có thể từ việc thu thập các văn bản pháp quy, văn bản hướng dẫn liên quan đến
Trang 27đối tượng kiểm toán, các báo cáo của đối tượng kiểm toán, báo cáo kiểm toán lần trước và các nguồn tài liệu khác
- Lập kế hoạch kiểm toán chung: cũng như các kế hoạch khác, kế hoạch kiểm toán là quá trình cân đối tích cực giữa nhu cầu và nguồn lực đã có Căn
cứ trên mục tiêu, phạm vi kiểm toán cân đối với các thông tin thu thập để lượng hóa khối lượng công việc sẽ thực hiện Trên cơ sở đó sẽ xác định số người tham gia đoàn kiểm toán, thời gian tiến hành hay phương tiện hỗ trợ cụ thể
- Xây dựng chương trình kiểm toán cụ thể: trên cơ sở kế hoạch tổng quát, cần xây dựng chương trình cụ thể cho từng phần kiểm toán Xây dựng chương trình kiểm toán cụ thể, xác định số lượng và thứ tự các bước kể từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc công việc
1.2.4.2 Thực hiện kiểm toán
Thực hiện kiểm toán là quá trình thực hiện đồng bộ các công việc đã ấn định trong kế hoạch, chương trình kiểm toán Khi thực hiện kiểm toán phải tôn trọng những nguyên tắc cơ bản:
- Kiểm toán phải tuyệt đối tuân thủ chương trình kiểm toán đã được xây dựng Kiểm toán viên không được tự ý thay đổi chương trình, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc có phát sinh công việc mới trong quá trình triển khai kiểm toán và đều phải được Trưởng đoàn kiểm toán xem xét, có ý kiến
- Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thường xuyên ghi chép những phát hiện, những nhận định về các nghiệp vụ, các con số, các sự kiện… nhằm tích lũy bằng chứng, nhận định cho những kết luận kiểm toán
- Định kỳ tổng hợp kết quả kiểm toán để theo dõi tiến độ thực hiện công việc so với khối lượng công việc chung
- Mọi điều chỉnh về nội dung, phạm vi, trình tự kiểm toán đều phải có ý kiến của Lãnh đạo của Đoàn kiểm toán
Trang 28Trong bước này, các kiểm toán viên sẽ sử dụng các phương pháp kiểm toán để thực hiện kiểm toán theo kế hoạch, chương trình đã xây dựng Trong quá trình kiểm toán, các kiểm toán viên sẽ trao đổi với đơn vị để làm rõ hơn vấn đề thắc mắc và từ đó đưa ra nhận xét
1.2.4.3 Kết thúc kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán
Sau khi kết thúc kiểm toán, Đoàn kiểm toán sẽ đưa ra kết luận kiểm toán và lập báo cáo hoặc biên bản kiểm toán Nội dung và hình thức cụ thể của kết luận hay báo cáo kiểm toán rất đa dạng tùy theo mục tiêu, phạm vi, nội dung, loại hình kiểm toán
Về nội dung, kết luận hay báo cáo kiểm toán phải phù hợp giữa kết luận nêu ra với mục tiêu kiểm toán và đầy đủ toàn bộ yêu cầu, phạm vi kiểm toán Khi kết luận yêu cầu phải chuẩn xác trong từ ngữ, văn phạm và có đầy
đủ bằng chứng kiểm toán đi kèm
Báo cáo kiểm toán là sự thể hiện những kết quả mà Đoàn kiểm toán đã thực hiện và kết luận của Đoàn qua quá trình thực hiện kiểm toán, thường bao gồm yếu tố cơ bản như:
- Khái quát mục đích, yêu cầu, nội dung, phạm vi và phương pháp kiểm toán
- Họ tên, chức vụ của những người tham gia Đoàn kiểm toán và những người chịu trách nhiệm chính của đơn vị
- Khái quát quá trình kiểm toán, đặc biệt là những diễn biến không bình thường
- Tổng hợp kết quả kiểm toán
- Các kết luận kiểm toán (kèm theo các bằng chứng kiểm toán)
- Nêu kiến nghị và thời hạn thực hiện kiến nghị
- Tên và chữ ký của Trưởng đoàn (hoặc có thể cả tên và chữ ký của người đại diện đơn vị được kiểm toán)
Trang 29Việc lập báo cáo kiểm toán với những nội dung chi tiết đối với mỗi NHTW có sự khác nhau, tùy theo yêu cầu quản lý của cơ quan cấp trên phụ trách Đoàn kiểm toán và đối tượng nhận báo cáo cũng có thể khác nhau
1.2.4.4 Theo dõi việc thực hiện chỉnh sửa kiến nghị sau kiểm toán
Khác với loại hình Kiểm toán độc lập hay Kiểm toán Nhà nước, chủ yếu gồm 3 bước trên, Kiểm toán nội bộ NHTW các nước thực hiện thêm bước thứ 4 đó là theo dõi việc thực hiện kiến nghị sau kiểm toán Bởi Kiểm toán nội bộ xác định rủi ro mà các tổ chức của Ngân hàng Trung ương đang gặp phải và đảm bảo rằng rủi ro này được kiểm soát đầy đủ Kiểm toán nội bộ không phải là yếu tố bổ sung, cũng không phải là yếu tố thay thế cho công tác kiểm soát của người quản lý các hoạt động của Ngân hàng Trung ương Trách nhiệm đảm bảo cho các hoạt động của Ngân hàng Trung ương hoạt động an toàn, hiệu quả, tránh những rủi ro thất thoát là trách nhiệm của người quản lý các cấp, trách nhiệm của nhân viên liên quan đến các hoạt động nghiệp vụ Kiểm toán nội bộ có tính tư vấn, trợ giúp cho các nhà quản lý nhằm đánh giá
hệ thống kiểm soát, chỉ ra những điểm hạn chế trong hệ thống kiểm soát, chỉ
ra những rủi ro có thể xảy ra trong các hoạt động nghiệp vụ cho các nhà quản
lý, các nhân viên nghiệp vụ để có những giải pháp tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ để hạn chế rủi ro thấp nhất Kiểm toán nội bộ thông qua hoạt động của mình có những đề xuất, kiến nghị với các cấp quản lý, các nhân viên về cải tiến bộ máy, cải tiến chính sách, các quy trình nghiệp vụ nhằm nâng cao tính hiệu quả, tính an toàn cho các hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng Trung ương Chính vì vậy theo dõi chỉnh sửa kiến nghị là một bước không thể thiếu của hoạt động kiểm toán nội bộ Việc theo dõi thực hiện kiến nghị sau kiểm toán thường được thực hiện sát sao và đôn đốc thường xuyên Ngay trong báo cáo kiểm toán đã yêu cầu các đơn vị phải nhanh chóng thực hiện chấn chỉnh, khắc phục tồn tại theo kiến nghị và có báo cáo gửi lại Ban lãnh đạo NHTW,
Trang 30Thống đốc (qua Vụ Kiểm toán nội bộ) Trường hợp đơn vị chậm trễ thì Vụ KTNB thường xuyên đôn đốc và theo dõi tình hình thực hiện Không những thế, Đoàn kiểm toán lần sau hoặc có thể thành lập 01 Đoàn kiểm toán thực hiện phúc tra việc thực hiện kiến nghị sau kiểm toán của Đoàn kiểm toán trước
1.2.5 Nội dung kiểm toán nội bộ NHTW
1.2.5.1 Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán hoạt động NHTW là loại kiểm toán xem xét, đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả của một đơn vị trực thuộc NHTW hay toàn bộ hệ thống NHTW
Tính hiệu lực được hiểu là quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mục tiêu hoạt động được quy định trong các quy định của Nhà nước, trong các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc NHTW
Tính hiệu quả được hiểu là quá trình thực hiện của một đơn vị thuộc hệ thống NHTW hay toàn bộ hệ thống NHTW đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất
Kiểm toán hoạt động NHTW có phạm vi rất rộng, liên quan đến mọi chức năng, hệ thống các đơn vị và các bộ phận trong NHTW đều cần thiết lập những quy trình hoạt động hiệu quả phù hợp với các chính sách, thủ tục
Giám sát, kiểm tra việc thực hiện đúng những quy trình đó để hạn chế rủi ro chính là nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nội bộ Kiểm toán hoạt động NHTW chủ yếu đánh giá hiệu quả hoạt động hệ thống kiểm soát nội bộ
1.2.5.2 Kiểm toán tuân thủ
Kiểm toán tuân thủ là kiểm tra việc tuân thủ luật pháp, chế độ chính sách, quy định của Ngành và các quyết định quản lý của Ban lãnh đạo NHTW Để đảm bảo NHTW hoạt động an toàn và hiệu quả thì điều cơ bản là phải đảm bảo mọi hoạt động đều tuân thủ luật pháp, chế độ, chính sách và
Trang 31đảm bảo kiểm soát được rủi ro Tính tuân thủ phải được quán triệt trong mọi hoạt động nghiệp vụ, trong cả quản lý và điều hành Tuy nhiên, người ta không thực hiện độc lập một cuộc kiểm toán tuân thủ mà kết hợp với kiểm toán báo cáo tài chính, hay kiểm toán hoạt động vì cho rằng không cần thiết
và không kinh tế
1.2.5.3 Kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán báo cáo tài chính là quá trình xem xét, đánh giá và xác nhận tính hợp pháp và trung thực của các Báo cáo tài chính của các đơn vị thuộc NHTW hay toàn bộ NHTW
Đối tượng của kiểm toán tài chính là hệ thống kế toán Khi kiểm toán báo cáo tài chính, ranh giới giữa kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán tuân thủ trong lĩnh vực kế toán – tài chính không còn rõ ràng nữa Hệ thống
kế toán là các thủ tục được dùng để thu thập, xử lý và tổng hợp số liệu tài chính tại đơn vị Nó thể hiện quá trình tuân thủ luật pháp, chính sách hạch toán kế toán, chính sách tài chính và các cơ chế, thủ tục của Ngành Để đảm bảo số liệu chính xác và hợp pháp, hệ thống kể toán phải tuân thủ mọi nguyên tắc, chế độ quy định
Báo cáo tài chính của NHTW bao gồm: Bảng cân đối tài khoản kế toán, bảng cân đối kế toán (cho biết tài sản có, tài sản nợ, vốn và thu nhập của ngân hàng); Báo cáo thực hiện thu nhập – chi phí năm (cho biết kết quả hoạt động kinh doanh trong năm, kể cả lãi và lỗ); Báo cáo tình hình biến động quỹ ngoại hối, quỹ thực hiện chính sách tiền tệ và khoản dự phòng; Báo cáo về các chính sách kế toán quan trọng được đơn vị sử dụng để xác định giá trị tài sản
có và thu nhập; Thuyết minh báo cáo tài chính; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ…
Cơ sở để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính của NHTW là các chính sách
và tiêu chuẩn kế toán
Trang 32Các chính sách chủ yếu thường được NHTW các nước quy định là: cơ sở
kế toán – các tài khoản được lập trên cơ sở giá trị thực; các nguyên lý của việc tổng hợp; chính sách về đánh giá lại chứng khoán và hạch toán chênh lệch giá chứng khoán; chính sách về giao dịch, hạch toán ngoại tệ, đánh giá lại ngoại tệ; chính sách về hạch toán vàng, đánh giá lại vàng; chính sách về hạch toán mua sắm, khấu hao, thanh lý và đánh giá lại tài sản cố định
Chính sách kế toán phải được quán triệt thực hiện đối với mọi tài khoản và từng sự thay đổi nhỏ của những chính sách này cũng phải được thông báo để xác định rõ cách hạch toán
Tiêu chuẩn kế toán thường được quy định:
+ Báo cáo thu nghiệp vụ: phải có kế hoạch thu nghiệp vụ và báo cáo từng nguồn thu cụ thể để đánh giá hiệu quả hoạt động Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chú trọng đến tiêu chuẩn này, vì vậy hàng năm kế hoạch thu nghiệp vụ không được kiểm tra thực hiện
+ Báo cáo tài chính theo khu vực: nhằm cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính có được những thông tin cần thiết để hiểu được những rủi ro và các điều kiện tác động đến các đơn vị hạch toán (Ví dụ: những báo cáo về tình hình kinh tế địa phương ảnh hưởng đến bội thu, bội chi tiền mặt của Chi nhánh; những yếu tố làm cho thu phí dịch vụ của Chi nhánh giảm thấp so với cùng kỳ…)
+ Tiêu chuẩn về xác nhận của của bên liên quan: phải là các chứng từ gốc như hợp đồng, biên bản, các chứng từ có liên quan khác để đối chiếu số liệu với sổ sách kế toán xem việc hạch toán, theo dõi có đầy đủ đúng tính chất không
Khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính phải kiểm tra, đánh giá công tác kiểm soát kế toán, một khâu quan trọng của quá trình kiểm soát nội bộ
Như vậy, hoạt động kiểm toán nội bộ NHTW rất đa dạng, khác với Kiểm toán nhà nước và kiểm toán độc lập ở chức năng đánh giá độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ Vì vậy, khi tiến hành một cuộc kiểm toán, KTNB NHTW có thể
Trang 33đề cập một trong ba loại hoặc cả ba loại kiểm toán: kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động
1.3 Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam
1.3.1 Kiểm toán nội bộ NHTW một số nước
1.3.1.1 Vị trí của hoạt động Kiểm toán nội bộ NHTW
- Ngân hàng Trung ương Đức (Deutsche Bundesbank) hoạt động theo Luật Ngân hàng Cũng như các Ngân hàng Trung ương khác mục tiêu của Bundesbank
là bảo vệ tính thống nhất, ổn định của đồng tiền bằng cách bình ổn giá cả Đồng thời với vai trò là Ngân hàng của các ngân hàng, Bundesbank là cơ quan duy nhất phát hành tiền, giữ và quản lý dự trữ chính thức của quốc gia, bao gồm cả vàng Khác với Việt Nam, Ngân hàng Trung ương Đức độc lập với Chính phủ trong việc quy định lượng tiền trong lưu thông, tính toán và cân đối cấp tín dụng cho nền kinh tế, sử dụng các quyền lực tiền tệ của mình để bảo vệ đồng tiền Tuy nhiên, Bundesbank cũng hỗ trợ nhiều chính sách kinh tế của Chính phủ, thiết lập
và duy trì hệ thống thanh toán an toàn, hiệu quả Ngân hàng Trung ương Đức trực thuộc Quốc hội, vì thế cũng có những hạn chế trong việc điều hành và xử lý công việc hàng ngày vì Quốc hội là cơ quan lập pháp nhưng không phải là cơ quan hành pháp
Vụ KTNB độc lập với Ban điều hành, chịu trách nhiệm trực tiếp lên Chủ
tịch Bundesbank Tổng số cán bộ KTNB là 147 người, bao gồm cả cán bộ KTNB của 9 chi nhánh khu vực Các bộ phận KTNB của chi nhánh độc lập với Vụ KTNB ở Trung ương Do vậy, Vụ KTNB ở Trung ương có trách nhiệm phối hợp các hoạt động kiểm toán trong toàn Bundesbank
- Ngân hàng Trung ương Singapore (Monetary Authority of Singapore)
là một cơ quan của Chính phủ Theo đạo luật NHTW Singapore, Ban điều hành NHTW Singapore được chỉ định bởi Tổng thống Chủ tịch Ban điều
Trang 34hành được chỉ định bởi Tổng thống theo đề nghị của Chính phủ, Thống đốc là một thành viên của Ban điều hành Ban điều hành có trách nhiệm điều hành các chính sách và quản trị chung đối với các hoạt động đối nội và đối ngoại của NHTW Singapore Ban điều hành có trách nhiệm đến cùng đối với Quốc hội Singapore qua vai trò của Bộ trưởng phụ trách NHTW Singapore
Tại NHTW Singapore có Ủy ban kiểm toán trực thuộc Ban điều hành, độc lập với Thống đốc trong hoạt động tác nghiệp Ủy ban kiểm toán đề ra các quy định hướng dẫn công tác kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của các đơn vị trong NHTW Singapore Ủy ban kiểm toán thường xuyên xem xét,
sử dụng các kết quả kiểm toán của kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập để báo cáo Ban điều hành trong việc chỉ đạo hoạt động của NHTW Singapore
Vụ KTNB trực thuộc Ủy ban kiểm toán, có vị trí độc lập với các Vụ, Cục khác tại NHTW Singapore trong quá trình thực hiện nghiệp vụ Vụ KTNB thực hiện báo cáo kết quả hoạt động kiểm toán cho Ủy ban kiểm toán
và đồng gửi 01 bản cho Thống đốc để phối hợp
Về tổ chức, hiện nay, cán bộ của Vụ gồm 16 người, chia ra làm 4 nhóm kiểm toán chính (Nhóm kiểm toán chính sách tiền và đầu tư; Nhóm kiểm toán điều hành thị trường tiền tệ và thanh tra, giám sát; Nhóm kiểm toán hoạt động quản trị và tiền tệ và Nhóm kiểm toán công nghệ thông tin) Điều hành hoạt động của Vụ là Vụ trưởng, không có Vụ phó, Vụ trưởng điều hành trực tiếp công việc đến các Trưởng nhóm và đồng thời Vụ trưởng cũng phụ trách một nhóm
Về cán bộ, các kiểm toán viên của Vụ đều là những chuyên gia trong các lĩnh vực được kiểm toán Nhiều kiểm toán viên được tuyển dụng từ các công ty kiểm toán độc lập Hàng năm, các kiểm toán viên đều được bố trí một khoảng thời gian và kinh phí dành cho việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình
độ nghiệp vụ Sau khi tham dự các khóa đào tạo, bồi dưỡng, các cán bộ tham
Trang 35dự có trách nhiệm phải phổ biến những nội dung đã thu được cho tất cả các kiểm toán viên khác để cùng tham khảo và trao đổi, nghiên cứu
- Ngân hàng trung ương Hàn Quốc (Bank of Korea) là cơ quan trực
thuộc Chính phủ
Kiểm toán nội bộ NHTW Hàn Quốc được thực hiện bởi 3 đơn vị: Tổng kiểm toán, Ủy ban kiểm toán tối cao và Vụ kiểm toán Ủy ban Kiểm toán tối cao và thanh tra Hàn Quốc chịu trách nhiệm kiểm toán và xác nhận các tài khoản và các báo cáo tài chính hàng năm của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc Để thực hiện được chức năng kiểm toán này Ủy ban dựa rất nhiều vào các kết quả kiểm toán trong năm của kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương
Tổng kiểm toán
Tổng kiểm toán do Tổng thống bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Tài chính cho một nhiệm kỳ 03 năm và có thể được bổ nhiệm lại trong nhiệm kỳ tiếp theo
Theo Luật Ngân hàng Hàn Quốc, Tổng kiểm toán thực hiện kiểm toán định kỳ và báo cáo kết quả kiểm toán lên Hội đồng chính sách tiền tệ ngay khi kết thúc mỗi cuộc kiểm toán Tổng kiểm toán cũng phải đệ trình một bản báo cáo kiểm toán tổng hợp hàng năm lên Chính phủ và Hội đồng chính sách tiền
Trang 36Vụ kiểm toán có nhiệm vụ: xác nhận việc quản lý tài sản và đồ vật có giá trị của NHTW được thực hiện đầy đủ, không hao hụt, mất mát; đảm bảo tính chính xác của các báo cáo tài chính; đảm bảo hoạt động của NHTW phù hợp với pháp luật, quy định và các chỉ thị, hướng dẫn; chuẩn bị cho việc cải tiến các thao tác nghiệp vụ nếu cần thiết; khuyến khích việc nhìn nhận tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ
Ủy ban kiểm toán
Ủy ban kiểm toán bao gồm Vụ trưởng, những kiểm toán viên cấp cao
và một số kiểm toán viên khác Ủy ban có chức năng tham mưu cho Tổng kiểm toán trong việc đưa ra những quyết định liên quan đến những vấn đề quan trọng của kiểm toán cũng như điều hành công việc của Vụ kiểm toán
Ủy ban kiểm toán có thể họp bất kỳ lúc nào khi Tổng kiểm toán hoặc
Vụ trưởng thấy cần thiết Là một bộ phận tham mưu, các thành viên thảo luận các vấn đề một cách tự do trong cuộc họp mà không cần biểu quyết Tổng kiểm toán hoặc Vụ trưởng là người đưa ra quyết định cuối cùng
1.3.1.2 Phạm vi hoạt động và phương pháp kiểm toán
Vụ KTNB của NHTW các nước có nhiệm vụ kiểm toán toàn diện đối với hoạt động NHTW Các lĩnh vực được chú trọng là những lĩnh vực có rủi
ro cao, kể cả về tiền bạc và uy tín Uy tín của NHTW có thể bị đe doạ trong mọi trường hợp rủi ro Vì vậy, phạm vi KTNB không chỉ hạn chế ở lĩnh vực tài chính mà còn cả ở các lĩnh vực phi tài chính như quản lý, nhân sự
Phương pháp kiểm toán nội bộ mà các nước nghiên cứu sử dụng phổ biến là phương pháp kiểm toán trên cơ sở phân tích, đánh giá rủi ro Phương pháp này được sử dụng từ khâu lập kế hoạch kiểm toán cho đến các khâu thực hiện kiểm toán Việc phân tích, đánh giá các rủi ro trong các hoạt động nghiệp
vụ của NHTW từ đó tập trung vào kiểm toán, phát hiện, ngăn chặn rủi ro xảy
Trang 37ra vừa nâng cao được hiệu quả hoạt động của Kiểm toán nội bộ, vừa phù hợp
với các tiêu chuẩn kiểm toán nội bộ và thông lệ quốc tế
- Ngân hàng Trung ương Đức thực hiện kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi
ro, dựa trên các bảng biểu, câu hỏi kiểm soát nội bộ và các phần mềm kiểm toán tại chỗ Phần mềm kiểm toán giúp phân tích, đánh giá rủi ro, tổng hợp kết quả kiểm toán và giúp lãnh đạo thường xuyên nắm bắt được tình hình, kết quả công việc của các kiểm toán viên trong quá trình thực hiện kiểm toán
- Phương pháp kiểm toán được Vụ KTNB Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc sử dụng trong hoạt động kiểm toán nội bộ là phương pháp kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro theo tiêu chuẩn của Học viện kiểm toán viên nội bộ
- IIA (Institute of Internal Auditor) Theo phương pháp này, việc đánh giá rủi
ro đối với mỗi nghiệp vụ dựa trên 2 tiêu chí là khả năng xảy ra rủi ro và mức
độ ảnh hưởng đến hệ thống nếu rủi ro xảy ra Sau khi đánh giá rủi ro theo 2 tiêu chí trên, người ta lập bảng phân tích rủi ro để xem xét rủi ro ở mức độ nào: L - Là rủi ro ở mức độ thấp (Low); M - Là rủi ro ở mức độ trung bình (Moderate); H - Là rủi ro ở mức độ cao (High) và E - Là rủi ro ở mức độ rất cao (Extreme) Rủi ro ở mức độ M trở xuống là rủi ro có thể chấp nhận được, rủi ro ở mức độ E là rủi ro không thể chấp nhận được
- Tại NHTW Singapore, KTNB sử dụng phương pháp kiểm toán trên cở
sở phân tích, đánh giá rủi ro Căn cứ trên kết quả phân tích và đánh giá rủi ro,
Vụ KTNB lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện kiểm toán đối với các hoạt động nghiệp vụ của NHTW Singapore Hàng năm, Vụ sẽ cập nhật, tập hợp tất
cả các hoạt động nghiệp vụ có thể tiến hành kiểm toán được và tiến hành phân tích, đánh giá rủi ro đối với từng hoạt động nghiệp vụ để xác định tần suất kiểm toán Từ đó Vụ KTNB sẽ lập kế hoạch kiểm toán hàng năm, 3 năm, 5 năm
Trang 38Việc xếp hạng rủi ro đối với các hoạt động theo 3 nhân tố ảnh hưởng Việc đánh giá các tác động và cho điểm các nhân tố sẽ do một Hội đồng thuộc
Ban lãnh đạo của Vụ KTNB họp và quyết định Ba nhân tố là: Sự tác động,
ảnh hưởng, chiếm 50% (tác động, ảnh hưởng về tài chính; về danh tiếng, chức
vụ, quyền lợi khác); Rủi ro nội tại, chiếm 30% (rủi ro phát sinh từ bản thân hoạt động nghiệp vụ đó); và Môi trường kiểm soát, chiếm 20% (kiểm soát nội
bộ tại đơn vị thực hiện nghiệp vụ) Mỗi nhân tố rủi ro được thiết kế cho điểm theo thang điểm từ 1 – 5 Với mức độ rủi ro tác động lớn nhất cho điểm 1 còn tác động ít nhất cho điểm 5 Tổng số điểm được tính theo trọng số và điểm của từng nhân tố Tổng số điểm thu được theo đánh giá rủi ro đối với từng hoạt động sẽ quyết định chu kỳ (tần suất) kiểm toán đối với các hoạt động nghiệp vụ hay hệ thống đó
Trong quá trình kiểm toán, hầu hết công việc kiểm toán đều được thực hiện trên máy tính Hiện tại, Vụ KTNB sử dụng một số phần mềm hỗ trợ kiểm toán như: AUDIT TRAX, TEAMMATE, TIME TRAX…
Hàng năm, Vụ KTNB cũng thực hiện tự đánh giá chất lượng hoạt động Việc đánh giá nhằm kiểm tra mức độ tuân thủ trong hoạt động của Vụ đối với các tiêu chuẩn kiểm toán nội bộ quốc tế (IIAs), hệ thống chuẩn mực đạo đức, Hiến chương kiểm toán nội bộ từ đó xác định những khu vực, lĩnh vực cần chỉnh sửa, hoàn thiện Đồng thời việc đánh giá này định kỳ khoảng 3-5 năm
sẽ được Kiểm toán độc lập thực hiện
1.3.1.3 Nội dung kiểm toán
- Nội dung kiểm toán của NHTW Đức: Trọng tâm kiểm toán chủ yếu là những lĩnh vực có rủi ro tài chính cao, bao gồm cả việc đánh giá tài chính, sai phạm hoặc thất thoát tiền bạc, rủi ro uy tín của Ngân hàng Ngân hàng cũng thực hiện kiểm toán đối với các hệ thống xử lý dữ liệu điện tử (EDF) hiện có Đặc biệt,
Trang 39đối với các dự án, Ngân hàng thực hiện kiểm toán trước (kể cả giai đoạn lập kế hoạch) nhằm hạn chế những khoản chi lớn sai mục đích
KTNB Ngân hàng Trung ương Đức thực hiện toàn diện việc quản lý và
kiểm soát rủi ro cơ bản của Ngân hàng, nhiệm vụ của KTNB Ngân hàng Trung ương Đức gồm:
+ Kiểm tra việc tuân thủ quy định chung và nội bộ
+ Kiểm toán các tài khoản năm, xác nhận độ tin cậy và chính xác của các báo cáo tài chính
+ Kiểm toán các công trình xây dựng cơ bản và các dự án đầu tư vốn (từ giai đoạn lập kế hoạch đến khi hoàn thành)
+ Kiểm toán việc lập kế hoạch, xây dựng và thực hiện các dự án về vi tính hoá
+ Kiểm toán hoạt động cho vay của Ngân hàng
- Nội dung kiểm toán tại NHTW Hàn Quốc:
Theo Quy chế về nhiệm vụ của Tổng kiểm toán Ngân hàng Hàn Quốc,
có 03 nội dung kiểm toán chủ yếu được Hội đồng chính sách tiền tệ phê chuẩn gồm:
+ Kiểm toán thông thường: kiểm toán toàn bộ hoạt động điều hành và tính chính xác của việc quản lý những tài sản có giá trị (tiền mặt, vàng, chứng khoán…) Đối với loại kiểm toán này phải thực hiện ở tất cả các Vụ, Cục và Chi nhánh ít nhất mỗi năm một lần
+ Kiểm toán đặc biệt: kiểm toán được thực hiện khi Tổng kiểm toán cho là cần thiết hoặc theo yêu cầu của Thống đốc
+ Kiểm toán thường ngày: được chia thành 04 loại gồm (1) Kiểm toán trước các chứng từ liên quan đến kế toán và các hoạt động quan trọng khác, xem xét lại chúng trước khi chuyển đến người có thẩm quyền xét duyệt, phê chuẩn và xem xét lại các báo cáo tài chính trước khi công bố rộng rãi; (2)
Trang 40Tham gia như một người chứng kiến đối với việc tiêu hủy giấy bạc, tiền xu và các chứng khoán; (3) Chú ý tới hoạt động kinh doanh đặc biệt; (4) Kiểm toán điện tử đối với một số hoạt động kinh doanh như nghiệp vụ thanh toán và kiểm tra những người không có nhiệm vụ truy cập vào hệ thống xử lý dữ liệu điện tử
- Vụ Kiểm toán nội bộ NHTW Singapore thực hiện kiểm toán tất cả các hoạt động nghiệp vụ tại NHTW Singapore Hàng năm, căn cứ tình hình mới,
Vụ KTNB cập nhật các hoạt động nghiệp vụ mới của NHTW Singapore để phân tích, đánh giá rủi ro và quyết định tần suất kiểm toán đối với nghiệp vụ
đó Hiện nay, Vụ KTNB không thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính của NHTW Singapore mà chỉ kiểm toán những lĩnh vực liên quan đến tài chính Báo cáo tài chính hàng năm của NHTW Singapore do Kiểm toán độc lập thực hiện
1.3.2 Một số kinh nghiệm đối với Việt Nam
Qua nghiên cứu về kiểm toán NHTW một số nước trên thế giới, ta có thể tiếp thu, vận dụng một số kinh nghiệm cho NHNN Việt Nam trong quá trình phát triển và hoàn thiện hoạt động kiểm toán nội bộ NHNN Việt Nam là:
Một là, coi trọng vai trò của KTNB NHTW
Kiểm toán nội bộ là một hoạt động quan trọng, không thể thiếu của NHTW các nước Ban Lãnh đạo NHTW các nước được nghiên cứu đều rất chú trọng đến công tác KTNB Dù mô hình tổ chức khác nhau, có NHTW trực thuộc Chính phủ, có NHTW trực thuộc Quốc hội nhưng tất cả các NHTW đều rất chú trọng công tác kiểm toán nội bộ ngân hàng Bộ phận KTNB của NHTW các nước đều được tổ chức theo cơ cấu một Vụ độc lập, chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp lên Thống đốc hoặc Hội đồng Quản trị Vì vậy, tính độc lập trong hoạt động kiểm toán của các Vụ Kiểm toán nội bộ rất cao Người đứng đầu cơ quan kiểm toán nội bộ NHTW thường do cấp cao