Trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, những thuận lợi về mở rộng các mối quan hệ bạn hàng, đối tác đi cùng với những khó khăn, đầy biến động, thay đổi về
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
quốc tế trọng điểm Hoa Kỳ
Chuyên ngành : Kinh doanh và quản lý
LUẬN VĂN THẠC SĨ KIN DOANH VÀ QUẢN LÝ
Người hướng dẫn: TS Hoàng Văn Hải
HÀ NỘI - 2008
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa 11
Lời cam đoan 111
Mục lục IV Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vn Danh mục các hình vẽ, biểu đồ, sơ đồ vin Mở đầu 1
Chương 1 cơ SỞ LÝ LUẬN VẾ QUẢNG BÁ DU LỊCH ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG DU LỊCH QUỐC TẾ TRỌNG ĐIỂM 5 LI TỔNG QUAN VẾ QUẢNG BÁ DU LỊCH 5 1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa, vai trò của quảng bá du lịch 5
LU Nguyên tác quảng bá du lịch li 1.1.3 Các chủ thê, đỏi tượng quảng bá du lịch 13
HA Các phương tiện sử dụng truyền tải thông tin trong quảng bá du lịch 14 1.2 THỊ TRƯỜNG DU LỊCH QUỐC TÊ TRỌNG ĐIỂM 16
1.2.1.Khái niệm thị trường du lịch 16
1.2.2.Xác định các thị trường trọng điểm 21
1.2.3.Phàn đoạn thị trường du lịch quốc tế trọng điếm 25
1.2.4.Xác định các thị trường du Lịch quốc tế trọng điểm của Việt Nam 25 1.3 NỘI DUNG CỦA QUẢNG BÁ DU LỊCH Đối VỚI THỊ TRƯỜNG DU LỊCH QUỐC TẾ TRỌNG ĐIỂM 29
1.3.1 Xác định thị trường trọng điểm và đối tượng quảng bá du lịch 29
1.3.2 Xây dựng và lựa chọn phương án khả thi 31
1.3.3 Lập kè hoạch quảng bá du lịch 32
1.3.4 Triển khai và đánh giá hoạt động quảng bá du lịch 42
Tóm tắt chương1 43
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢNG BÁ DU LỊCH CỦA CÔNG TY CỔ PHẨN DU LỊCH VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG DU LỊCH QUỐC TÊ TRỌNG ĐIỂM HOA KỲ 44 2.1 SƠ LƯỢC VẾ CÔNG TY cổ PHẦN DU LỊCH VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI 44 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 44
2.1.2 Điều kiện kinh doanh 50
2.1.3 Kết quả kinh doanh của Công ty thời gian qua ^
2.2 ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ HOA KỲ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI 54
2.2.1 Xác lập phân đoạn thị trường du lịch quốc tế trọng điểm của Công ty 54
điểm của thị trường khách quốc tế trọng điếm Hoa Kỳ của Công ty 60 2.3 CÔNG TÁC QUẢNG BÁ DU LỊCH CỦA CÔNG TY ĐỎI VỚI THỊ
2.3.1 Hoạt động cung cấp thông tin du lịch trong quảng bá điểm
Trang 3đến du lịch của Công ty
2.3.2 Hoạt động quảng cáo du lịch của Công ty
kít 2.3.3 Quan hệ công chúng
2.3.4 Hoạt động bán hàng cá nhân 83 2.3.5 Nỗ lực xúc tiến bán để quảng bá du lịch
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VÊ HOẠT ĐỘNG QUẢNG BÁ DU LỊCH TẠI THỊ
ĐIỂM HOA KỲ ĐẾN NĂM 2010 93
3.1 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH HOA
KỲ VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUÀNG BÁ DU LỊCH VIỆT NAM ĐẾN NẰM 2010 93 3.1.1 Xu thế phát triển thị trường gửi khách du lịch quốc tế Hoa Kỳ 93 3.1.2 Định hướng chung của Ngành du lịch cho công tác quảng bá
du lịch Việt Nam đen năm 2010 ĩ 96 3.2 MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẨN DƯ LỊCH VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2010
99
3.2.1 Mục tiêu tổng quát : 99 3.2.2 Phương hướng hoạt động kinh doanh giai đoạn 2008-2010 99 3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHAM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢNG BÁ DƯ LỊCH CỦA CÔNG TY cổ PHẨN DƯ LỊCH VN TẠI HN Đối VỚI THỊ TRƯỜNG DU LỊCH Quốc TÊ TRỌNG ĐIỂM HOA KỲ ĐẾN NĂM 2010 100 3.3.1 Nhóm giải pháp chung về quảng bá du lịch của Công ty 100 3.3.2 Nhóm giải pháp cụ thế đỏi với thị trường du lịch Hoa KỲ 107 3.4.MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 1 13 3.4.1 Với Chính phủ: 115 3.4.2 Với Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch 116 3.4.3 Với Tồng cục Du lịch 118 Tóm tắt chương 3 IỊ ọ Kết luận 120 Tài liệu tham kháo 122 Phu lúc 125
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài :
Với mức độ tăng trưởng cao, đóng góp tỉ trọng ngày càng lớn vào tổng sản phẩm thu nhập quốc dân, ngành du lịch Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển và cũng không ít thách thức để duy trì, phát triển bền vững du lịch Trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, những thuận lợi về mở rộng các mối quan hệ bạn hàng, đối tác đi cùng với những khó khăn, đầy biến động, thay đổi về môi trường bên ngoài, các doanh nghiệp du lịch Việt Nam nỗ lực lớn xây dựng và hoàn thiện công cụ xúc tiến hỗn hợp sản phẩm du lịch ra nước ngoài, giúp bạn bè trên Thế giới biết đến Việt Nam nhiều hơn, mong muốn đi du lịch Việt Nam Dựa trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch sẵn có của Việt Nam, đặc biệt, chú trọng vào các đối tượng là khách du lịch đến từ các nước trên thế giới bao gồm cả ở trong và ngoài khu vực, công tác quảng bá du lịch của doanh nghiệp du lịch có ý nghĩa quan trọng, nâng cao nhận thức của khách du lịch về tính đặc thù của ngành
du lịch Việt Nam và sản phẩm du lịch mang tính hữu hình và đa phần mang tính vô hình, thể hiện qua hoạt động cung cấp các thông tin, ấn phẩm quảng bá, tạo dựng hình ảnh sản phẩm của doanh nghiệp nhằm kéo du khách đến với tuyến, điểm du lịch trong chương trình du lịch
Thực tiễn hoạt động của Ngành cũng như của các doanh nghiệp du lịch những năm qua chỉ ra rằng, quảng bá du lịch Việt Nam ở nước ngoài mặc dù đã có những chuyến biến hết sức cơ bản như hỗ trợ mạnh mẽ về chủ trương và tài chính của Nhà nước, Ngành cho các chương trình quảng bá du lịch Việt Nam trên kênh truyền hình CNN (Hoa Kỳ) trị giá trên 4tỉ đồng và các chương trình xúc tiến quảng bá du lịch ở các quốc gia khác trên Thế giới, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thông tin du lịch của các thị trường gửi khách đến Việt Nam, đặc biệt thị trường khách du lịch là Hoa
Kỳ Do vậy, ngoài việc củng cố thuyết phục khách hàng từ các thị trường trên, vấn
đề đặt ra là đổi mới tư duy trong chính sách quảng bá du lịch của các doanh nghiệp nhằm chủ động thu hút nguồn khách như thị trường Hoa Kỳ, thiết thực góp phần mở rộng thị trường khách quốc tế trong bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ
Với 15 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực lữ hành quốc tế, Công ty là một số ít các Công ty lữ hành hàng đầu tại Việt Nam đã liên tục đạt được danh hiệu Topten lữ hành từ năm 1996-2006 do Tổng cục Du lịch và Hiệp hội Du lịch Việt
Trang 5Nam trao tặng, ngoài ra nhiều giải thưởng khác do người tiêu dùng và báo chí bình chọn như giải ’Dịch vụ lữ hành được ưu chuộng’ năm 2003, giải Thương hiệu Mạnh năm 2004 và giải Quả cầu Vàng, Top Trade Services năm 2005; tuy nhiên, việc triển khai quảng bá du lịch của Công ty vẫn chưa đảm bảo tính liên tục, thường xuyên để phát huy kích cầu, giúp tách khỏi sự phụ thuộc vào gửi khách của đối tác
Do đó yêu cầu cấp thiết đặt ra là nghiên cứu cụ thể cho lĩnh vực quảng bá du lịch và
đề ra chương trình hành động cụ thể nhằm thực hiện theo các mục tiêu phát triển thị trường du lịch quốc tế Hoa Kỳ trong thời gian tới
Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài Hoàn thiện công tác quảng bá du
lịch của Công ty Cổ phần Du lịch Việt Nam tại Hà Nội đối với thị trường du lịch quốc tế trọng điểm Hoa Kỳ làm đề tài Luận văn Thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu :
+ Tình hình nghiên cứu trong nước: đây là đề tài mới về công tác quảng bá du lịch đối với thị trường du lịch quốc tế trọng điểm Hoa Kỳ của Công ty Cổ phần Du lịch Việt Nam tại Hà Nội tại thời điểm hiện nay
+ Tình hình nghiên cứu ngoài nước: Chưa có thông tin về việc nghiên cứu vấn đề này đối với Công ty do nước ngoài công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
- Hoàn thiện công tác quảng bá du lịch của Công ty Cổ phần Du lịch Việt Nam tại Hà Nội đối với thị trường du lịch quốc tế trọng điểm Hoa Kỳ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ của đề tài được đặt ra như sau:
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về quảng bá du lịch tại thị trường
du lịch quốc tế trọng điểm
- Phân tích thực trạng tình hình triển khai các hoạt động quảng bá du lịch vào thị trường du lịch quốc tế trọng điểm Hoa Kỳ của Công ty Cổ phẩn Du lịch Việt Nam tại Hà Nội thời gian qua
- Đề xuất những giải pháp cụ thể và đồng bộ, kế hoạch hành động nhằm góp phần hoàn thiện công tác quảng bá du lịch của Công ty vào thị trường du lịch quốc tế trọng điểm Hoa Kỳ đến năm 2010
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Trang 6- Đối tượng nghiên cứu: Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách của vấn đề được đưa ra, luận văn tập trung vào nghiên cứu những vấn đề lý luận về quảng bá du lịch đối với thị trường khách du lịch quốc tế trọng điểm Hoa Kỳ, thực trạng hoạt động quảng bá du lịch của Công ty Cổ phẩn Du lịch Việt Nam tại Hà Nội vào thị trường khách du lịch quốc tế Hoa Kỳ đến Việt Nam
- Phạm vi, giới hạn nghiên cứu: Hoạt động quảng bá du lịch đối với thị trường
du lịch quốc tế trọng điểm Hoa Kỳ của Công ty Cổ phẩn Du lịch Việt Nam tại Hà Nội Số liệu phân tích thực trạng tập trung thời gian 2000-2007; giải pháp hoàn thiện công tác quảng bá hướng đến năm 2010
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện với cơ sở phương pháp luận là duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Để giải quyết các yêu cầu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp như:
- Phương pháp thống kê, phân tích số liệu, so sánh và đánh giá bằng các hình thức bảng, biểu, đồ thị và tư duy logic Đây là phương pháp truyền thống trong nghiên cứu khoa học trên cơ sở kề thừa các lý luận, các kết quả nghiên cứu có trước Trong đề tài, phương pháp này được sử dụng trên cơ sở thu thập số liệu, tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như: Tổng cục Du lịch, Tổ chức Du lịch Thế giới, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, báo chí, sách nghiên cứu và các tài liệu khác có liên quan đã được xử lý, phân tích hệ thống và tổng hợp và tổng hợp các thông tin để rút ra những nhận định, đánh giá thực trạng và xu hướng các thị trường khách du lịch quốc tế trọng điểm Hoa Kỳ đến Việt Nam
- Phương pháp điều tra xã hội học: để tìm hiểu với thị trường khách Hoa Kỳ,
phát ra và thu về 108 phiếu điều tra đã có trả lời gồm: 91 phiếu của khách du lịch
Hoa Kỳ đến du lịch Việt Nam lấy trực tiếp sau khi đã đi du lịch Việt Nam từ các
tháng 4 tháng 8/2008 và 17 phiếu điều tra từ các nhân viên thị trường của đối tác của
Công ty tại tại Hoa Kỳ (qua email) nhằm đánh giá thực trạng công tác quảng bá du lịch của Công ty Cổ phần DL VN tại HN làm cơ sở thực tế, kết hợp với những thông tin số liệu khác thu thập để nhận định về thực trạng và giải pháp quảng bá du lịch
cho phù hợp (Mẫu phiếu điều tra được đưa kèm trong phần Phụ lục)
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Đây là một trong những phương pháp được
đề tài vận dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong các nhiệm vụ nghiên cứu Các ý kiến được tổng hợp từ lãnh đao Phòng Thị trường 2, nghiên cứu về khách Mỹ
Trang 7và Lãnh đạo bộ phận Xúc tiến Du lịch của Công ty, các chuyên gia của Cục Xúc tiến
Du lịch- Tổng cục Du lịch
6 Những đóng góp mới của luận văn:
- Luận văn vận dụng lý thuyết marketing vào lĩnh vực du lịch Dựa trên quan điểm và triết lý của Marketing, luận văn hệ thống hóa lý luận cơ bản về quảng bá du lịch, về nghiên cứu thị trường du lịch quốc tế trọng điểm; nhằm phát huy được vai trò hiệu quả của các công cụ quảng bá trong du lịch, góp phần làm rõ các vấn đề nghiên cứu
- Luận văn tiến hành phân tích thực trạng hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam vào thị trường du lịch quốc tế trọng điểm Hoa Kỳ của Công ty Cổ phẩn Du lịch Việt Nam tại Hà Nội theo quan điểm của Marketing, gắn chặt giữa lý thuyết và thực tế,
có tính ứng dụng Qua đó, làm rõ những kết quả đã đạt được, tồn tại và chỉ ra những nguyên nhân, bài học đối với hoạt động quảng bá du lịch của Công ty
- Luận văn đề xuất một số giải pháp cụ thể và đồng bộ, lộ trình thực hiện nhằm góp phần hoàn thiện công tác quảng bá du lịch của Công ty vào thị trường du lịch quốc tế trọng điểm Hoa Kỳ đến năm 2010 Là cơ sở khoa học cho các kế hoạch xúc tiến du lịch, tuyên truyền quảng bá du lịch của Công ty Cổ phần Du lịch VN- HN và các kế hoạch nghiên cứu thị trường định kỳ của Công ty
- Do vậy, đóng góp của luận văn tập trung về ý nghĩa khoa học và thực tiễn
7 Bố cục của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quảng bá du lịch đối với thị trường du lịch quốc tế
trọng điểm
Chương 2: Thực trạng công tác quảng bá du lịch tại Công ty Cổ phần Du lịch
Việt Nam tại Hà Nội đối với thị trường du lịch quốc tế trọng điểm Hoa
Kỳ
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quảng bá du lịch
tại Công ty Cổ phần Du lịch Việt Nam tại Hà Nội đối với thị trường du lịch quốc tế trọng điểm Hoa Kỳ đến năm 2010
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢNG BÁ DU LỊCH ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG DU LỊCH QUỐC TẾ TRỌNG ĐIỂM
1.1 TỔNG QUAN VỀ QUẢNG BÁ DU LỊCH
1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa, vai trò của quảng bá du lịch
1.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản :
a Du lịch:
Theo Luật Du lịch Việt Nam quy định: “Du lịch là hoạt động của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [8, tr.2]
Thông thường hoạt động du lịch được biểu hiện thông qua những chuyến đi từ nơi này đến nơi khác ngoài nơi cư trú cố định trong những khoảng thời gian nhất định nhằm giải quyết những nhu cầu thay đổi trạng thái từ làm việc căng thẳng sang nghỉ ngơi thư giãn, cũng như thoả mãn tính hiếu kỳ dưới những hình thức khác nhau như: tham quan , tìm hiểu , khám phá và các hình thức vui chơi giải trí khác…
Du lịch là thước đo mức sống một bộ phận dân cư (những cá nhân, một tổ chức, một vùng hay một quốc gia) thông qua việc đáp ứng nhu cầu du lịch bằng khả năng thanh toán của họ Những bộ phận còn lại thường ít có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm du lịch, chủ yếu do điều kiện sống và thu nhập của họ ở mức thấp, phần lớn được sử dụng cho các nhu cầu cơ bản như ăn ở, đi lại… Do vậy, du lịch luôn được coi là một khái niệm có nhiều cách mô tả, song hiểu một cách khái quát nhất, du lịch
là một trong những nhu cầu thiết yếu là tiêu chuẩn của đời sống xã hội hiện đại
b Khách du lịch
Trong Luật Du lịch quy định: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi
du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến [8, tr.17]
Trang 9Như vậy theo nghĩa rộng, khách du lịch có thể là một tổ chức, một nhóm người,
một cá nhân tham gia các hoạt động du lịch với mục đích thoả mãn các nhu cầu vui chơi, tham quan, khám phá và giải trí… của mình Khách du lịch thường xem xét
phân loại thành hai đối tượng là:
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch [8, tr.18]
Thứ nhất, khách quyết định mua sản phẩm trước khi nhìn thấy nó Thường
thường, các nhu cầu đi du lịch của du khách phát sinh do tò mò, muốn được khám phá, do có nhu cầu thực sự muốn nghỉ ngơi, hoặc do một trào lưu Thông qua các các hình thức truyền tin khác nhau, người ta chỉ có thể biết được điểm đến, các chặng dừng chân và phương tiện đi lại…, và quyết định “mua hàng”, còn chất lượng
phục vụ và mức độ đáp ứng các đòi hỏi khác thì họ không thấy trước được Thứ hai,
sản phẩm du lịch thường là một kinh nghiệm nên dễ bắt chước Các doanh nghiệp du lịch thường học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau (bí mật hoặc công khai), những bí quyết
về kinh doanh du lịch rất khó được giữ kín, và do vậy, các đối thủ cạnh tranh không
mấy khó khăn “học lỏm” được những bí quyết này Thứ ba, khoảng thời gian mua kéo dài, qúa trình “mua” sản phẩm cũng chính là quá trình “tiêu thụ” sản phẩm du
lịch, người mua không thể mua sản phẩm du lịch về nhà dùng, mà chỉ được tiêu dùng tại chỗ cho đến hết hành trình và về người không Sản phẩm du lịch thường ở
xa khách hàng, hơn nữa, một sản phẩm du lịch xác định không thể dịch chuyển từ
nơi này đến nơi khác Thứ tư, sản phẩm du lịch có thể là sự tổng hợp của nhiều
ngành kinh doanh khác nhau Thông thường, nhiều nhà cung ứng các dịch vụ khác
Trang 10nhau tạo ra một sản phẩm chung, do vậy, sản phẩm du lịch có thể là trọn gói hay
từng dịch vụ riêng rẽ Thứ năm, hầu hết các sản phẩm du lịch không thể tồn kho
Là những sản phẩm dịch vụ du lịch, các sản phẩm là các món ăn, đồ uống chế biến sẵn…, những sản phẩm này phải được đem tiêu dùng ngay, ngoài ra chúng sẽ không
còn giá trị sử dụng cho những ngày tiếp theo Thứ sáu, trong thời gian ngắn, lượng cung về du lịch thường cố định, trong khi cầu du lịch có thể thay đổi Với các
chương trình đã được sắp xếp trước, nên những sự biến động lớn thường ngoài khả năng đáp ứng của các doanh nghiệp, trong khi nhu cầu của khách du lịch lại thường
bị lệ thuộc và các yếu tố ngoại cảnh như: sự biến động của thị trường tài chính, tiền
tệ, các yếu tố về chính trị, an ninh,…[10, tr 27]
Trong thực tế kinh doanh du lịch, người ta rất khó tìm được sự trung thành của khách hàng
Ngoài ra, sản phẩm du lịch những đặc tính sau đây: Một là, chứa đựng tính
mạo hiểm cao - đặc tính riêng có của sản phẩm du lịch - yếu tố kích thích trí tò mò,
muốn khám phá thiên nhiên và thể hiện lòng dũng cảm của con người Hai là, khả năng huỷ bỏ chuyến đi, tức là sản phẩm bị trả lại do du khách gặp phải một trong
những yếu tố như: sự thay đổi đột ngột về thời tiết, những biến cố về an ninh, chính
trị hoặc những vấn đề về tài chính…Ba là, khách du lịch thường chuẩn bị cho
chuyến đi của họ rất kỹ lưỡng, đôi khi hàng năm, nhất là cho những chuyến đi xa, rất ít khi họ thay đổi đối tượng tiêu dùng bằng đối tượng khác cùng loại, chẳng hạn,
sẽ rất hiếm khi họ lại quyết định lên rừng để khám phá cỏ cây, hoa lá thay vì trước
đó họ đã sắp xếp đi biển để hưởng thụ không khí mát lành và thú vị của sóng nước,
trừ những trường hợp đặc biệt…Bốn là, sản phẩm du lịch là loại sản phẩm dễ hỏng,
nó mang đầy đủ các đặc tính của một dịch vụ, và do vậy, chỉ một sơ suất nhỏ trong
quá trình trao đổi và sử dụng, cũng làm cho sản phẩm bị “biến dạng”, thậm chí trở thành “phế phẩm”
d Marketing du lịch:
Có rất nhiều quan điểm khác nhau trong việc mô tả khái niệm Marketing du lịch Để đánh giá và nghiên cứu bản chất của Marketing du lịch, người ta thường thông qua các quan điểm của các tổ chức uy tín và nhà nghiên cứu lâu năm như sau:
Trang 11Theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWorld Tourism Organization – UNWTO), thì “Marketing du lịch là một triết lý quản trị mà nhờ nghiên cứu, dự đoán, tuyển
chọn dựa trên nhu cầu của du khách nó cụ thể đem sản phẩm du lịch ra thị trường sao cho phù hợp mục đích thu nhiều lợi nhuận cho tổ chức du lịch đó”
Theo Robert Lanquar và Robert Hollier, thì Marketing du lịch là một loạt
phương pháp và kỹ thuật được hỗ trợ bằng một tinh thần đặc biệt và có phương pháp nhằm thoả mãn các nhu cầu không noí ra hoặc nói ra của khách hàng cụ thể
là mục đích tiêu khiển hoặc những mục đích khác bao gồm công vệc gia đình, công tác và họp hành”
Qua những quan điểm nói trên, Marketing du lịch được định nghĩa như sau:
“Marketing du lịch là tiến trình nghiên cứu, phân tích những nhu cầu của khách hàng, những sản phẩm, dịch vụ du lịch và những phương thức cung ứng, hỗ trợ để đưa khách hàng đến với sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của họ, đồng thời đạt được những mục tiêu của tổ chức”
- Đặc trưng của Marketing du lịch: Do là một ngành kinh doanh dịch vụ, nên
ngoài những tính chất của Marketing nói chung, Marketing du lịch còn mang một số
đặc điểm riêng có, chủ yếu là ở các thành phần của Marketing hỗn hợp (Marketing –
Mix) Nếu như trong Marketing – Mix các sản phẩm của các ngành sản xuất thông
thường có mô hình phổ biến với nội dung là 4P, thì mô hình này trong du lịch có thêm 4P nữa (People - Con người; Packaging services - Dịch vụ trọn gói; Partnership relations - Quan hệ đối tác và Programming - Lập trình du lịch [10, tr
23 - 25]
Một trong những nội dung quan trọng của marketing hỗn hợp (Marketing - Mix) nói chung và trong du lịch nói riêng, gọi là quảng bá (Promotion) các sản phẩm của ngành Du lịch, mà công cụ chính của nó là: quảng cáo; khuyến mãi; quan
hệ công chúng; bán hàng cá nhân và marketing trực tiếp [29, tr 751]
1.1.1.2 Quảng bá du lịch
Quảng bá trong một doanh nghiệp còn được hiểu là những nỗ lực của một doanh nghiệp, một địa phương, một vùng, một miền hay ngành kinh tế một quốc gia nhằm tạo ra và duy trì một hình ảnh sản phẩm của một ngành có lợi cho việc kinh doanh trước công chúng ở thị trường mục tiêu
Trang 12Quảng bá sản phẩm, dịch vụ là một trong những nội dung cơ bản của Marketing hỗn hợp (Marketing - Mix) (Philip Kotler)
Hiện nay, khi nền kinh tế thị trường vận hành tạo ra những yêu cầu thích nghi cho các doanh nghiệp hơn vào trong khẳng định và phát triển trong nền kinh tế,
sự cạnh tranh trở thành phổ biến và sâu rộng ở mọi lĩnh vực và mọi thành phần kinh
tế Việc thực hiện chính sách Marketing, trong đó có chính sách về quảng bá trong sản xuất và kinh doanh các sản phẩm của các doanh nghiệp là hoạt động cần thiết, quan trọng
Hoạt đông quảng bá không dừng lại trong giới hạn các doanh nghiệp sản xuất vật chất mà nó được mọi ngành, mọi tổ chức trong nền kinh tế áp dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động của mình Nó đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, đặc biệt kinh doanh du lịch
Ở cấp độ của doanh nghiệp du lịch, hoạt động quảng bá tập trung vào các nội dung quảng cáo; khuyến mãi; quan hệ công chúng; bán hàng cá nhân và marketing trực tiếp Được gọi tên dưới hình thức khác là quảng bá du lịch
- Khái niệm và bản chất của quảng bá du lịch
Quảng bá du lịch là những nỗ lực của một doanh nghiệp, một địa phương, một vùng một miền hay ngành du lịch một quốc gia nhằm tạo ra và duy trì một hình ảnh sản phẩm du lịch có lợi cho việc kinh doanh của mình trước công chúng ở thị trường mục tiêu ” [9, tr.20]
Nói cách khác, quảng bá du lịch là hoạt động có ý thức của con người trong lĩnh vực kinh doanh hoặc hỗ trợ kinh doanh du lịch nhằm thu hút du khách tiêu dùng dịch vụ của một doanh nghiệp, một địa phương, một miền hay ngành Du lịch của một nước
- Bản chất của quảng bá du lịch
Quảng bá du lịch thực chất là những hoạt động có tính chất tuyên truyền, khuyếch trương một cách trực tiếp và gián tiếp các ưu thế vốn có và sẽ có để khai thác tối đa tiềm năng của ngành Du lịch, doanh nghiệp du lịch nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất theo mục tiêu chiến lược đã đề ra bằng các biện pháp và
Trang 13các công cụ được lựa chọn cụ thể, mà công cụ chính của nó là: quảng cáo; xúc tiến bán; quan hệ công chúng; bán hàng cá nhân và marketing trực tiếp
Chức năng và nhiệm vụ của quảng bá du lịch: Xây dựng và duy trì mối quan hệ giữa ngành Du lịch, doanh nghiệp du lịch và khách du lịch là chức năng và nhiệm vụ chính của quảng bá du lịch Mối quan hệ này được xây dựng trên cơ sở những thông tin mà khách hàng có được nhờ các công cụ và phương tiện truyền thông của quảng bá Các hoạt động quảng bá cũng cần phải thực hiện trên cơ sở một kế hoạch tổng thể và hoàn chỉnh, được xây dựng dựa vào các con số thống kê những kỳ hoạt động trước kia, có tham khảo kinh nghiệm của các ngành kinh tế khác trong nước và của ngành du lịch các nước khác
Để hiểu rõ hơn về quảng bá có thể thông qua phân biệt quảng bá và quảng cáo
du lịch Cũng như trong mọi lĩnh vực kinh doanh khác, quảng cáo du lịch được hiểu
là bất kỳ những hình thức giới thiệu gián tiếp và khuếch trương các ý tưởng, hàng hoá hoặc dịch vụ du lịch do người bảo trợ thực hiện mà phải trả tiền [29, tr 750] Còn quảng bá thì bao gồm tất cả những hình thức giới thiệu trực tiếp và gián tiếp các sản phẩm du lịch bằng các công cụ khác nhau, theo đó, quảng cáo chỉ là một trong những công cụ quan trọng của quảng bá
1.1.1.3 Ý nghĩa, vai trò của quảng bá du lịch
a Vai trò của quảng bá du lịch: Quảng bá là cầu nối giữa các doanh nghiệp
du lịch và khách du lịch thông qua các hoạt động nghiệp vụ đặc trưng, nó có tác dụng thu hút sự chú ý của khách du lịch tới hoạt động của Ngành Do sản phẩm du lịch rất khó hoặc không thể đem ra trưng bày như những hàng hoá thông thường, do phần lớn các sản phẩm du lịch là vô hình, mặt khác, sự cảm nhận sản phẩm này còn rất khác nhau ở mỗi người, nên chỉ có sau khi tiêu dùng sản phẩm và qua những nhận xét của khách hàng, người ta mới có thể đánh giá được chất lượng của sản phẩm du lịch, trong khi đó, các sản phẩm hữu hình thì lại được khách hàng nhận thức được một cách trực tiếp bằng các giác quan Nói như vậy không có nghĩa là du khách hoàn toàn thụ động trước những lời “mời chào” của các nhà kinh doanh du lịch, ngược lại, họ còn rất xét nét và biết nhận định “mặt hàng” của Ngành thông qua những cơ sở có tính thuyết phục như: trình độ nghiệp vụ của những Nhà kinh doanh
du lịch, mà trước tiên là của những người làm công tác tuyên truyền – quảng cáo,
Trang 14tiếp đó là của đội ngũ các cán bộ, công nhân viên chức trong ngành; quy mô và tầm
cỡ của những doanh nghiệp này thông qua những luồng thông tin khác nhau Như vậy, xem ra quảng bá trong du lịch có tầm quan trọng hơn và khó khăn hơn nhiều so với việc làm này trong các ngành sản xuất kinh doanh khác Chính vì những lý do nêu trên, một khi các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch muốn thành công, đòi hỏi công tác quảng bá phải được đặt lên hàng đầu trong hàng loạt những chỉ tiêu cụ thể của chiến lược kinh doanh nói chung
b Ý nghĩa của quảng bá du lịch:
- Nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm du lịch
- Mang lại hiệu quả kinh tế cho các cơ sở kinh doanh du lịch và nước làm du lịch
- Đẩy mạnh tính văn hoá, đẩy mạnh giao lưu giữa các nền văn hoá giữa các quốc gia trên thế giới
- Tham gia vào thực hiện các hoạt động mở rộng, tăng cường quan hệ ngoại giao giữa các nước trên thế giới;
- Áp dụng các phương pháp khác nhau để giới thiệu sản phẩm, do đó tăng các giá trị của sản phẩm du lịch đối với các đối tượng khách du lịch.[5, tr.13]
1.1.2 Nguyên tắc quảng bá du lịch
Trong các hoạt động quảng bá đều có chung một yêu cầu lấy nhu cầu của khách hàng làm mục tiêu kích thích, qua việc sử dụng các phương tiện, hình thức khác nhau kích thích tiêu dùng bằng việc truyền tải một lượng thông tin xác thức đến mọi người để kích thích nhu cầu của khách hàng Do đó, thông thường để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động thông tin trong quảng bá du lịch thì nội dung của quảng bá phải tuân thủ một số nguyên tắc dưới đây:
- Một là, thông tin đảm bảo tính chân thực
Yêu cầu đầu tiên đối với quảng bá du lịch là tính chân thực thông tin Một thông tin để quảng bá nếu sai sự thật có thể lừa gạt khách du lịch một lần nhưng không thể tồn tại lâu dài, và kết quả cuối cùng là thất bại Trong doanh nghiệp du lịch, hầu như nhà kinh doanh nào cũng có chút khoa trương về sản phẩm dịch vụ du lịch của công ty của mình nhưng họ vẫn duy trì tính trung thực của nội dung thông tin tuyên truyền quảng bá Tính trung thực trong kinh doanh quả thực là rất quan
Trang 15trọng vì nền tảng của sự thành công trong kinh doanh chính là độ tin cậy đối với sản phẩm, dịch vụ đó
- Hai là, quảng bá phải mang tính nghệ thuật
Kết cấu và câu từ của nội dung thông tin quảng bá cũng phải được thực hiện dựa trên mức độ tác động về mặt thẩm mỹ đối với khách Khi xây dựng các loại hình thức, phương tiện quảng bá cần đảm bảo không chỉ nghệ thuật trong giao tiếp, hình ảnh, từ ngắn, câu ngắn, đọc được, nghe được Đồng thời, đảm bảo khéo léo truyền tải về nội dung thông tin quảng bá cốt lõi xuất phát từ nhu cầu của khách, quảng bá
du lịch nhằm đưa ra những thông tin về hàng hóa, dịch vụ du lịch của nhà cung cấp nhưng ấn tượng và cảm xúc mạnh mẽ, không thể thiếu của lợi thế của sản phẩm, lợi thế cạnh tranh Hiểu biết sâu sắc về đối tượng tiềm năng và từ các chi tiết của đời sống thực tế, chính là lợi thế để quảng bá có tính định hướng và mang mầu sắc và hình ảnh nghệ thuật cao Tuy nhiên, phải kết hợp hiệu quả tuyên truyền, hiệu quả kinh tế và hiệu quả nghệ thuật chính là yêu cầu quan trọng không thể không đặt ra
- Ba là, quảng bá nhưng luôn có tính sáng tạo
Kết cấu và câu tứ của một nội dung quảng bá bắt buộc phải có tính sáng tạo
để có thể tạo ra sự khác biệt so với những thông tin quảng bá và quảng cáo khác của các đối thủ cạnh tranh Những thông tin quảng bá du lịch nếu giống nhau, ngôn từ thì na ná sẽ tạo cho người xem cảm giác nhàm chán và không muốn xem nữa, và việc quảng bá đó làm ra chẳng mang lại lợi ích gì Do vậy, người làm nội dung quảng bá nhất thiết phải chú ý khai thác tìm tòi ý tưởng và những cách làm mới mẻ
để thông tin có thể phát huy tối đa hiệu quả Điều này bắt nguồn từ nhu cầu của khách du lịch luôn thay đổi, thị trường du lịch ngày càng cạnh tranh quyết liệt đòi hỏi quảng bá du lịch không ngừng đổi mới, cải thiện nội dung và hình thức quảng bá sao nâng cao năng lực cạnh tranh Việc sáng tạo trong quảng bá luôn mang dấu ấn của sự nghiên cứu công phu về hình thức biểu cảm, xu hướng mới về nhu cầu thị trường du lịch trong và ngoài nước trên cơ sở phân tích, tổng hợp các thông tin lĩnh vực liên quan đến du lịch
- Bốn là, quảng bá làm nổi bật bản sắc văn hoá dân tộc
Mỗi một dân tộc đều có những bản sắc văn hoá cũng như thói quen truyền thống riêng biệt về con người về văn hóa, do vậy cùng một loại sản phẩm du lịch khi quảng bá của các nước hoặc những khu vực khác nhau thì cũng không thể hoàn toàn
Trang 16giống nhau, và nội dung thông tin tuyên truyền quảng bá và quảng cáo cũng không thể giữ nguyên khuôn mẫu đó
- Năm là, quảng bá du lịch đảm bảo tính chọn lọc
Nguyên tắc này đòi hỏi khi tiến hành quảng bá du lịch, cần phải lựa chọn và phân tích các loại hình và phương thức quảng bá và tác dụng của mỗi loại nhằm phù hợp với đặc điểm và thói quen tiêu dùng về sản phẩm và dịch vụ du lịch của khách Trong đó, các hình thức nào sẽ đưa đến sự hấp dẫn và sự quan tâm chú ý của khách Thực chất nguyên tắc này sẽ đảm bảo cách tiếp nhận thông tin quảng bá một cách hiệu quả nhất
- Sáu là, quảng bá du lịch đòi hỏi có ngân sách
Đây là nguyên tắc hết sức quan trọng chi phối và qui định về mức độ, qui mô
và hiệu quả của quảng bá du lịch Việc chi phí quảng bá du lịch ở nước ngoài chiếm một phần chi phí hết sức lớn đặc biệt về hoạt động tuyên truyền, quảng cáo cho một điểm đến du lịch đối với đối tượng khách du lịch quốc tế Có thể nói, việc quảng bá
du lịch là hình thức đầu tư ứng trước cho hoạt động kinh doanh để sau đó thu về lợi ích không chỉ về kinh tế mà còn về xã hội và các mục tiêu phát triển khác
Có thể khẳng định do du lịch là một hoạt động kinh tế tổng hợp, muốn đạt hiệu quả cao thì cũng giống như các ngành kinh tế khác, hoạt động quảng bá du lịch không thể không thực hiện những nguyên tắc cơ bản trên Đồng thời, quảng bá du lịch cần phải đảm bảo những nguyên tắc: có kế hoạch xây dựng ấn phẩm, tài liệu tuyên truyền quảng bá theo kế hoạch thị trường trọng điểm, thị trường mục tiêu và thị trường tiềm năng; các ấn phẩm, tài liệu tuyên truyền quảng bá được xây dựng, sản xuất và thiết kế phải phù hợp với từng đối tượng và thị trường; tập trung vào một đầu mối hoặc có quy định chi tiết, cụ thể giao cho các đơn vị thiết kế xây dựng ấn phẩm, tài liệu tuyên truyền quảng bá [17, tr.16]
Trang 17truyền ở cấp này là cung cấp các thông tin du lịch mang tính tổng hợp, liên quan đến quốc gia và nâng cao hình ảnh của quốc gia đối với khách du lịch tại một thị trường tiềm năng đã được xác định trước
Chủ thể cấp địa phương bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương bao gồm các Sở quản lý du lịch tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Các chủ thể này thực hiện các hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch trên cơ sở cung cấp sơ lược các thông tin chung về tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật phục
vụ du lịch của quốc gia, đặc biệt là đặc điểm về sức hấp dẫn du lịch của địa phương mình
Hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch còn được chủ thể thứ 3 là các doanh nghiệp du lịch tham gia tổ chức thực hiện Mục tiêu của hoạt động tuyên truyền quảng bá của các chủ thể này có nhiều đặc điểm khác biệt Điểm khác biệt chủ yếu
là những chủ thể này thực hiện hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch nhằm mục đích cung cấp thông tin liên quan đến khả nănng của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp và sản phẩm du lịch của các chính doanh nghiệp và thu hút khách mua sản phẩm do doanh nghiệp sáng tạo ra
Hoạt động của cả 3 chủ thể nêu trên đã tạo ra một hoạt động tuyên truyền quảng bá tổng thể mang lại hiệu quả tổng hợp Hoạt động tổng thể này sẽ giải quyết việc cung cấp thông tin một cách toàn diện đầy đủ, đảm bảo thoả mãn được nhu cầu của khách về thông tin du lịch trước và trong khi đến du lịch ở một điểm du lịch nào đó
Hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch này có 3 đối tượng chủ yếu là khách
du lịch tiềm năng, các doanh nghiệp du lịch – lữ hành, các phương tiện thông tin đại chúng Mỗi đối tượng của hoạt động tuyên truyền quảng bá sẽ có nhu cầu khác nhau
về thể loại, nội dung thông tin, lượng thông tin, tính chất của thông tin mà các chủ thể của hoạt động này cung cấp.[17, tr.27]
1.1.3.2 Các đối tượng quảng bá du lịch:
Đối tượng quảng bá của du lịch là những tập khách hàng (tập con), mà các doanh nghiệp trong ngành Du lịch nhắm vào trong chiến lược kinh doanh dài hạn hoặc ngắn hạn của mình [5, tr.13]
Những tập con này là những khách hàng chủ yếu và tiềm năng mà doanh
nghiệp du lịch nhắm vào Không có một ngành, một doanh nghiệp nào có thể đáp ứng nhu cầu cho tất cả các khách hàng của mình, ở ngành du lịch cũng vậy, với mục tiêu nhắm tới là một số thị trường thuộc Bắc Mỹ như Hoa Kỳ, Canada có tiềm năng
Trang 18du khách lớn, nhưng lại ở khá xa, ngành Du lịch nước ta lại chưa đủ sức cuốn hút được đông đảo các khách hàng này, do vậy, buộc chúng ta trước hết phải lựa chọn
đối tượng phục vụ là một hoặc một số tập con sao cho khai thác tối đa năng lực của
Ngành
1.1.4 Các phương tiện sử dụng truyền tải thông tin trong quảng bá du lịch
Phương tiện sử dụng truyền tải quảng bá du lịch là tất cả những gì có thể mang thông điệp tuyên truyền, quảng bá về du lịch đối với khách du lịch và công chúng Trong đó các thông tin được truyền tải bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau qua lời nói, trả lời điện thoại … hay bằng tài liệu, thậm chí các phương tiện bằng Mạng điện tử nhằm đáp ứng nhu cầu truyền tải thông tin đến đối tượng khách và theo đúng thói quen cách thức tiêu dùng của khách Đối với hoạt động quảng bá du lịch, thường sử dụng hai phương tiện cơ bản để truyền tải thông tin gồm :
1.1.4.1 Sử dụng tổng hợp phương tiện thông tin du lịch
Các trung tâm du lịch giữ vai trò tổ chức cung cấp tổng hợp các thông tin và chỉ dẫn điểm đến Một số doanh nghiệp du lịch với khả năng và qui mô thị trường lớn cũng tiến hành thiết lập các trung tâm thông tin du lịch tại điểm đến hoặc có sự kết hợp trên cơ sở hướng dẫn của các cơ quan du lịch quốc gia Có hai loại trung tâm thông tin du lịch: thường xuyên hoặc tạm thời như các văn phòng, các điểm cung cấp thông tin du lịch và các điểm hoặc các quầy thông tin ở hội chợ, các triển lãm du lịch
+ Trung tâm thông tin thường xuyên
Là các văn phòng thông tin du lịch tại chỗ tại điểm đến du lịch Thường được đặt tại các sân bay, nhà ga chính hoặc ở trung tâm thành phố Các văn phòng đại diện tại nước ngoài cũng cung cấp tất cả các chỉ dẫn, thông tin, cũng như phục vụ việc tổ chức toàn bộ các hoạt động xúc tiến quảng bá của nước mình tại nước ngoài hoặc vùng phụ trách với toàn bộ định hướng chiến lược quảng bá điểm đến
+ Các điểm thông tin tạm thời
Đây là các quầy trong hội chợ Các điểm này là một dạng văn phòng di động, tạm thời với quy mô thu nhỏ nhưng cũng giới thiệu các thông tin về điểm đến như tại văn phòng du lịch thường xuyên
1.1.4.2 Các phương tiện trực tiếp truyền tải về quảng bá du lịch
+ Tờ rơi, tờ gấp
Trang 19Đa dạng phù hợp với mục tiêu của xúc tiến, quảng bá Các tiêu chí về màu sắc, trọng lượng, hình thức phải được cân nhắc phù hợp với yêu cầu của từng hoạt động xúc tiến, chiến dịch quảng bá cụ thể Đây là các loại ấn phẩm đầu tiên mà hầu hết các chiến dịch xúc tiến đều sử dụng Các ấn phẩm này có đặc điểm là cung cấp khá đầy đủ thông tin cơ bản về điểm đến và có hình dạng dễ cất, dễ mang theo và sử dụng Các ấn phẩm được đánh giá giữ một vị trí quan trọng trong xúc tiến quảng bá
du lịch
+ Sách mỏng về du lịch (brochure)
Đây là loại sách mỏng khá đắt tiền nhưng được các hãng lữ hành sử dụng rất nhiều do khả năng cung cấp thông tin chi tiết lớn và lưu hành khá lâu Đối với các công ty lữ hành thì loại ấn phẩm này được chuyển thành catalogue
+ Sách giới thiệu, hướng dẫn du lịch
Đây là loại ấn phẩm được dùng nhiều bởi tính thực dụng của nó đối với khách
du lịch Sách cung cấp các thông tin bổ ích, tương đối đầy đủ và thuận tiện trong việc sử dụng
+ Áp phích cỡ lớn
Đây là hình thức xúc tiến quảng bá du lịch sớm nhất và loại hình có chất lượng mỹ thuật nhất trong các ấn phẩm in Hiện nay, các tờ áp phích được dùng nhiều trong các văn phòng du lịch, trong các phông treo quầy ở các hội chợ Vai trò của áp phích là thu hút sự quan tâm và trang trí nhiều hơn là thông tin
+ Băng casset
Là loại vật phẩm đặc biệt, với giá phải chăng và có ưu điểm là có thể lưu giữ
sử dụng nhiều lần Băng casset được sử dụng nhiều nhất trong thời gian chờ đợi, trong phòng chờ, trong chuyến du lịch, trên ô tô, trên tàu hỏa hoặc trên thuyền du lịch Nó có thể thông báo các thông tin ngắn gọn trước và trong chương trình thăm quan
+ Băng video casset và đĩa CD Rom
Là loại sản phẩm có quy mô hơn, vừa có thông tin vừa có hình ảnh minh họa, giới thiệu Nó mang lại hiệu quả lớn về âm thanh, hình ảnh động, ba chiều và các thông tin rất đầy đủ chi tiết, cụ thể chính xác cho người sử dụng Băng video hoặc đĩa
CD có thể chiếu trong các hội chợ cho nhóm người tham quan, hoặc gián tiếp qua các phương tiện thứ ba như là truyền hình và như vậy có thể tiếp cận được nhiều khách hàng hơn Ngoài ra băng video hoặc đĩa còn được sử dụng tại gia đình riêng
Trang 20+ Internet
Là kênh cung cấp nhiều thông tin cho các nhóm du khách ngày càng chiếm được cảm tình đông đảo Các trang thông tin trên internet nhằm cung cấp thông tin đáp ứng nhiều yêu cầu khách du lịch Xây dựng được một trang thông tin với tất cả thông tin cần thiết sẽ rẻ hơn rất nhiều so với thiết lập hệ thống văn phòng du lịch ở nước ngoài song cần chú ý đến các thông điệp và nội dung khi giới thiệu trên toàn cầu
Với ấn phẩm quốc gia do cơ quan du lịch quốc gia phát hành, ngoài các phần minh họa phù hợp và các mô tả vắn tắt thì nhất thiết phải có các thông tin chi tiết cụ thể, ít nhất là các cơ sở lưu trú Song song đi kèm phải có bản đồ để có thể định vị vị trí của các điểm du lịch, các điểm thăm quan chính Các phương tiện chuyên chở và
vị trí địa lý so sánh với các điểm được đánh dấu Các văn phòng du lịch, các điểm thăm quan đều phải ghi rõ giờ đóng mở cửa Tên của điểm đến được viết ở khổ lớn trong cả hai mặt và được đi kèm với mã vùng của điểm đến, tên nước, tên vùng [5, tr.13-15]
1.2 THỊ TRƯỜNG DU LỊCH QUỐC TẾ TRỌNG ĐIỂM
1.2.1 Khái niệm thị trường du lịch
1.2.1.1 Khái niệm thị trường du lịch
Thị trường du lịch là một bộ phận của thị trường chung phản ánh toàn bộ mối quan hệ trao đổi hàng hoá và dịch vụ du lịch giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu, và toàn bộ các mối quan hệ thông tin kinh tế – kỹ thuật gắn các mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch [9, Tr 23]
Bản chất của thị trường du lịch, theo quan điểm của Philip Kotler, bao gồm tất
cả các khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và
có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu hay mong muốn đó [29, tr 12]
Cũng như các thị trường hàng hoá thông thường, thị trường du lịch là nơi diễn
ra các hoạt động mua bán, trao đổi sản phẩm du lịch giữa các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và du khách Hay nói cách khác, thị trường du lịch là nơi thực hiện giá
trị của sản phẩm du lịch, thể hiện qua sơ đồ sau đây:
Trang 21Thông tin
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa ngành du lịch và thị trường
1.2.1.2 Chức năng của thị trường du lịch
Là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi các sản phẩm du lịch giữa người mua và người bán, thị trường du lịch có chức năng tập hợp, chắp nối các mối quan hệ giao lưu giữa các doanh nghiệp kinh doanh du lịch với du khách nhằm thực
hiện giá trị của sản phẩm du lịch Cụ thể, thị trường Du lịch có ba chức năng: chức
năng thừa nhận; chức năng thực hiện; chức năng thông tin
- Chức năng thừa nhận của thị trường du lịch là ở chỗ tất cả các sản phẩm du
lịch được mang ra mua bán, trao đổi trên thị trường đều được xã hội công nhận những đặc tính về giá trị sử dụng và giá trị của những sản phẩm này
- Chức năng thực hiện giá trị của sản phẩm du lịch trên thị trường qua các hành
vi mua bán, trao đổi những sản phẩm đó
- Chức năng chuyển tải những thông tin về sản phẩm du lịch, về kinh doanh du
lịch và những vấn đề thuộc về cơ chế, chính sách của Nhà nước về hoạt động của ngành Du lịch tới du khách và những đối tượng liên quan [9, Tr 28]
1.2.1.3 Đặc điểm của thị trường du lịch
Giống như thị trường các loại hàng hoá thông thường, việc xác định chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp du lịch chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó, các yếu tố thuộc mức sống, tập quán, thị hiếu của du khách, khí hậu cũng như vị trí địa lý nơi du khách sinh sống (thường mang tính khu vực) có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quyết định “tiêu dùng” sản phẩm du lịch Bên cạnh những tính chất của thị trường thông thường, thị trường du lịch còn mang những đặc thù sau:
Thứ nhất, trong thị trường du lịch, đối tượng mua bán rất đa dạng, ngoài
hàng hoá và dịch vụ, đối tượng mua bán còn bao gồm những giá trị tiềm ẩn trong sản phẩm du lịch như những giá trị nhân văn, giá trị của tài nguyên du lịch , đây cũng là đặc tính riêng có của thị trường du lịch
Trang 22Thứ hai, do hầu hết các sản phẩm du lịch là vô hình, nên việc mua, bán trên
thị trường về cơ bản không có dạng hiện hữu của sản phẩm, người mua không nhìn
thấy được sản phẩm nên khó đánh giá thực chất giá trị của nó Các khâu định giá,
lựa chọn, cân nhắc, trả giá và quyết định mua, bán… chủ yếu thông qua những thông tin như các ấn phẩm quảng cáo, kinh nghiệm trong quá khứ và những thông tin truyền miệng
Thứ ba, xuất phát từ việc nhận biết và tiêu dùng sản phẩm rất lâu, quan hệ
giữa người mua và người bán trên thị trường du lịch là một khoảng thời gian khá dài
từ khi người mua quyết định mua đến khi khách thực hiện xong chuyến đi và trở về
nơi ở của họ Đặc điểm này khác biệt so với các thị trường
Thứ tư, một đặc điểm rất quan trong khác của thị trường du lịch là mang tính mùa vụ rất rõ nét, điều này thể hiện rõ ở cả cung và cầu một sản phẩm du lịch nào đó
chỉ xuất hiện trong những thời kỳ nhất định xét dưới góc độ một không gian và thời
gian nào đó Thông thường, dân xứ lạnh có hai kỳ nghỉ chính là nghỉ hè và nghỉ
đông, chẳng hạn, người dân ở các nước Bắc Âu thường đi nghỉ đông tại các nước vùng Xích đạo có khí hậu ấm áp, còn mùa hè thì họ tìm đến những miền duyên hải trong hoặc ngoài nước để được hưởng không khí mát lành của biển cả Trong khi đó,
cư dân các nước vùng nhiệt đới thường chỉ có kỳ nghỉ hè là rõ nét nhất Còn dân vùng ôn đới thì sự phân biệt mùa vụ du lịch không rõ rệt lắm Họ có thể đi du lịch
quanh năm tới mọi vùng khí hậu trên thế giới Thứ năm, do sản phẩm du lịch thường được cố định ở một không gian nào đó, cho nên trong thị trường du lịch, người ta không thể chuyển dịch sản phẩm du lịch cụ thể từ nơi này đến nơi khác, từ nơi sản
xuất đến nơi tiêu thụ, do vậy, khách hàng phải đến tận nơi sản xuất để mua bán và tiêu dùng sản phẩm
Thứ sáu, trong thị trường du lịch, một sản phẩm du lịch thường được cung
cấp bởi nhiều nhà sản xuất khác nhau
Từ những đặc điểm cơ bản trên, khi nghiên cứu thị trường du lịch cần nghiên cứu cả trên phương diện cung và cầu trong du lịch [9-tr43]
1.2.14 Phân loại thị trường du lịch
Người ta có rất nhiều cách phân loại thị trường du lịch khác nhau, tuỳ theo tiêu
thức đánh giá, như: Phân loại theo phạm vi lãnh thổ (phân loại theo vị trí địa lý);
Trang 23phân loại theo đối tượng phục vụ; phân loại theo mục đích của du khách; phân loại theo đặc điểm tiêu dùng các dịch vụ du lịch và phân loại theo chiến lược phân đoạn
thị trường …Tuỳ theo yêu cầu và tình hình cụ thể của chiến lược hoạt động chung
trong doanh nghiệp và của Ngành, người ta lựa chọn tiêu thức phân loại cho phù hợp
a) Phân loại theo phạm vi lãnh thổ, bao gồm thị trường trong nước (thị trường
nội địa) và thị trường ngoài nước (thị trường quốc tế):
- Thị trường nội địa:
Khách du lịch là người dân trong nước Đặc điểm của thị trường này mang đậm tính chất mùa vụ, tập trung vào những kỳ nghỉ, đặc biệt là nghỉ hè Địa điểm du lịch thường là những khu nghỉ mát, những nơi danh lam thắng cảnh Du lịch mạo hiểm thường ít được ưa chuộng đối với du khách nội địa Trước kia, người ta thường
tự tổ chức những “tour” du lịch nhỏ, có tính chất gia đình; ngày nay, các hình thức
đi du lịch theo những đoàn lớn đã được sử dụng nhiều hơn và phạm vi cũng không còn khép kín trong gia đình nữa, mà đã mang tính cộng đồng cao hơn
- Thị trường quốc tế gồm thị trường nhận khách và thị trường gửi khách: Thị trường nhận khách là thị trường có điểm du lịch ở ngoài nước, là nơi mà
khách du lịch là người nước ngoài ở Việt Nam hoặc người Việt Nam muốn đi du
lịch tại các nước khác Thị trường gửi khách là thị trường mà điểm du lịch là ở trong
nước, còn du khách là người nước ngoài hoặc người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài đến du lịch tại Việt Nam
Bên cạnh đó, cũng có thể phân loại thị trường theo các chỉ tiêu như: phân loại theo đối tượng phục vụ; phân loại theo mục đích của khách du lịch; phân loại theo chiến lược phân đoạn thị trường; phân loại theo đặc điểm tiêu dùng …
b) Phân loại theo đối tượng phục vụ, bao gồm: thị trường cho khách du lịch là những người làm công vụ, kinh doanh; thị trường cho những người đi thăm người
thân, bạn bè; và thị trường cho khách du lịch thuần tuý Cụ thể như sau:
- Thị trường cho du khách làm công vụ, những nhà kinh doanh: Các đối
tượng thuộc thị trường này gồm các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ tại Việt Nam ta như: nhân viên các cơ quan đại diện, ngoại giao, các tổ chức kinh tế, xã hội, học tập,
Trang 24nghiên cứu hoặc các công vệc có liên quan, những nhà đầu tư và làm ăn buôn bán tại
Việt Nam…, họ thường tranh thủ kết hợp giữa công vệc và tự tổ chức chuyến du
lịch cho bản thân hoặc gia đình và người thân Chiếm tỷ trọng không cao trong tổng
số du khách, song họ cũng có vai trò nhất định trong việc tuyên truyền, quảng bá
một cách tự nguyện cho ngành du lịch nơi họ công tác
- Thị trường cho du khách là những người đi thăm thân, thăm bạn bè Hiện
tại, thị trường này chiếm tỷ lệ chưa cao, song về lâu dài, đây cũng là đối tượng cần
quan tâm do họ có những ràng buộc, chẳng hạn do công vệc và gia đình, bắt buộc họ
phải thường xuyên qua lại Việt Nam, và như vậy, ít nhiều họ cũng trở thành khách
hàng của ngành Du lịch
- Thị trường cho khách du lịch thuần tuý Đây là đối tượng quảng bá chủ yếu
của du lịch Khi có kế hoạch cụ thể cho một chuyến du hành, thường họ đã tính toán
đến từng yếu tố như: chi phí cho chuyến đi, hướng đi, thời gian và địa điểm cụ thể
Nắm bắt được nhu cầu này sẽ đảm bảo được những thành công ban đầu cho các
bước tiếp theo nhằm thuyết phục du khách tiêu thụ sản phẩm của mình c) Phân loại theo mục đích của khách du lịch, bao gồm các mục đích khác
nhau như: du lịch để khám phá và tận hưởng cảm giác mạnh; du lịch để nghỉ ngơi,
giải trí, và du lịch vì các mục đích khác
- Du lịch nhằm khám phá và tận hưởng cảm giác mạnh Các đối tượng thuộc
nhóm này thường có tính hiếu động cao, họ thuộc các tầng lớp có thu nhập ổn định ở
mức cao, chấp nhận mọi tốn kém, bù lại, họ cũng đòi hỏi rất khắt khe về chất lượng
phục vụ
- Du lịch để nghỉ ngơi, giải trí Đây là loại hình du lịch phổ biến và điển hình
nhất Quá trình thực hiện chuyến đi thường được định trước khá lâu Sự thay đổi
hướng đi hoặc mục đích du lịch thường rất ít xảy ra (ngoại trừ một số ít các trường
hợp đặc biệt như các biến động lớn về an ninh, chính trị, thời tiết…)
- Du lịch vì các mục đích khác Thuộc vào các khách du lịch này là các nhà
nghiên cứu về tự nhiên, lịch sử, xã hội học…; ngoài ra, còn vì mục đích thăm thân,
giao lưu, tìm kiếm cơ hội làm ăn…
Trang 25d) Phân loại theo đặc điểm tiêu dùng các dịch vụ du lịch Theo cách phân loại này, thị trường du lịch bao gồm: thị trường lưu trú, vận chuyển khách du lịch; thị trường vui chơi, giải trí; thị trường hội nghị, hội thảo; thị trường kinh doanh kết hợp với du lịch
- Thị trường vận chuyển và lưu trú: bao gồm hệ thống các nhà khách, nhà
nghỉ, khách sạn, và các cơ sở lưu trú tạm thời dành riêng cho khách du lịch trong
suốt hành trình của tour du lịch, các phương tiện vận chuyển khách du lịch từ nơi
này đến nơi khác trong và ngoài nước, trong đó việc vận chuyển khách du lịch quốc
tế chủ yếu bằng đường hàng không, còn các phương tiện khác chủ yếu phục vụ khách du lịch nội địa
- Thị trường vui chơi giải trí bao gồm hệ thống các khu vui chơi giải trí mà
khách du lịch có thể đến để vui chơi, giảm các căng thẳng cho họ
- Thị trường hội nghị, hội thảo liên quan đến các hội nhị, hội thảo Còn thị trường kinh doanh kết hợp với du lịch là dấu hiệu của phương thức đa dạng hoá hoạt
động du lịch bằng cách kết hợp nhiều mảng khác nhau nhằm khai thác tối đa những
cơ hội phát triển đồng bộ các yếu tố khác nhau của nền kinh tế.[6tr.14-16]
1.2.2 Xác định các thị trường trọng điểm
Thị trường trọng điểm của điểm đến là những thị trường mục tiêu quan
trọng nhất đối với sự phát triển du lịch của điểm đến trong giai đoạn cụ thể Nó được xác định dựa trên tầm quan trọng của các thị trường mục tiêu và dựa vào nhiều tiêu chí định tính và định lượng khác nhau để đánh giá như: qui mô của thị trường, khả năng cạnh tranh của điểm đến ở thị trường, khả năng phục vụ, đáp ứng nhu cầu thị trường [5, tr.6]
Thị trường mục tiêu của điểm đến là đoạn thị trường gồm tập hợp các
khách du lịch mà các tổ chức du lịch lựa chọn và có khả năng đáp ứng các nhu cầu
về tham quan, nghỉ ngơi, giải trí.[5, tr.6]
Thị trường mục tiêu được xác định thông qua:
Một là, chia toàn bộ thị trường tổng thể thành những đoạn thị trường trên cơ
sở áp dụng một hay nhiều tiêu thức phân đoạn nhất định
Trang 26Hai là, lựa chọn các đoạn thị trường mục tiêu mà điểm đến có khả năng khai thác phục vụ hiệu quả nhất
Tiêu chuẩn lựa chọn thị trường mục tiêu: Có thể xây dựng các tiêu chuẩn lựa
chọn thị trường mục tiêu như sau:
- Đoạn thị trường phải có nhu cầu về sản phẩm du lịch thường xuyên và khả năng thanh toán so với các thị trường khác ở mức cao, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội
có liên quan như tổng thu nhập, tổng cầu và tỷ lệ chi tiêu cá nhân… phải lượng hoá được
- Doanh nghiệp phải có những lợi thế so sánh nhất định trong cạnh tranh với
các đối thủ khác trên đoạn thị trường xác định là thị trường mục tiêu của điểm đến hay doanh nghiệp
Trên cơ sở xác định chính xác các thị trường mục tiêu, sắp xếp chúng theo thứ tự quan trọng, điểm đến có thể chỉ những thị trường trọng điểm- những thị trường mục tiêu quan trọng nhất đối với sự phát triển du lịch của điểm đến, các doanh nghiệp du lịch, khách sạn…
Thị trường trọng điểm được sự chú ý đặc biệt của các các nhà kinh doanh
du lịch Thị trường này tiêu thụ đa số sản phẩm của Ngành Các nước phát triển là những thị trường trọng điểm
1.2.2.1.Lợi thế của xác định thị trường trọng điểm:
- Giúp các điểm đến và doanh nghiệp du lịch, khách sạn sử dụng hiệu quả ngân quĩ Marketing trong điều kiện nguồn lực trong doanh nghiệp hạn chế Quy
mô và tốc độ tăng trưởng về những yếu tố cơ bản của đoạn thị trường này như: mức thu nhập, trình độ dân trí, mật độ dân số , yếu tố này thể hiện tiềm năng của thị trường trong tương lai xa có đảm bảo đủ điều kiện cho doanh nghiệp du lịch đầu tư dài hạn cho đoạn thị trường này hay không
- Hiểu biết thấu đáo hơn những nhu cầu và mong muốn của những nhóm khách hàng được lựa chọn Qua đó tạo dựng sức hấp dẫn thể hiện ở khả năng thanh toán và sức mua, thị hiếu và những tập tục của dân cư ở đoạn thị trường mà doanh nghiệp
du lịch chú trọng
- Xác định vị thế hiệu quả hơn do phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch và áp dụng các biện pháp marketing để chiếm lĩnh vị trí cụ thể trong tâm trí khách hàng
Trang 27của đoạn thị trường trọng điểm Xác định lợi thế so sánh của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh nhằm khai thác tối đa lợi thế của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu rủi ro cho hoạt động chung của bản thân doanh nghiệp
- Nâng cao độ chính xác trong việc lựa chọn các công cụ quảng bá du lịch cho phù hợp với đặc điểm của đoạn thị trường trọng điểm
1.2.2.2 Qui trình xác định thị trường trọng điểm:
Bước 1: Xác định phương pháp và cơ sở phân đoạn thị trường (Preparation)
Đối với mối điểm đến du lịch, có thể lựa chọn một số phương pháp phân đoạn thị trường như sử dụng một tiêu thức để phân đoạn hay kết hợp hai hay nhiều tiêu thức để phân đoạn thị trường Việc lựa chọn phương pháp và tiêu thức phân đoạn thị trường phụ thuộc vào hoàn cảnh và mục tiêu phát triển của điểm đến du lịch cũng như các doanh nghiệp du lịch khách sạn
Do thị trường trọng điểm có sự thay đổi theo thời gian, mỗi giai đoạn cụ thể, tuỳ thuộc vào thực tế phát triển, các tiêu chí đánh giá, qua đó điểm đến xác định các thị trường mục tiêu với các mức độ ưu tiên khác nhau
Bước 2: Tiến hành phân đoạn thị trường (Segmentation)
Trên cơ sở phân đoạn, toàn bộ thị trường được chia nhỏ thành những nhóm khách với những đặc trưng khác nhau cùng một nhóm, trong đó các cá nhân khách
có những đặc điểm tương đồng mà sản phẩm du lịch của điểm đến có thể hấp dẫn
họ Trên cơ sở đó, cho biết ra quyết định hướng tới các đoạn thị trường cụ thể Tuy nhiên, để có kết quả chính xác, cần có những phân tích, so sánh đánh giá các đoạn thị trường
Bước 3: Đánh giá các phân đoạn thị trường (Diagnosis)
Thông thường, sử dụng phương pháp thống kế – xác suất để tính trọng số và cho điểm xếp hạng tương ứng với các tiêu chí định lượng và đính tính
Một số tiêu chí định lượng và định tính để làm rõ phân đoạn thị trường của thị trường du lịch quốc tế trọng điểm của một quốc gia hay địa phương:
- Các tiêu chí định lượng:
+ Tiêu chí phát triển kinh tế – xã hội, GDP;
+ Khả năng chi trả và cơ cấu chi tiêu;
Trang 28+ Số lượng khách vào hàng năm của thị trường;
+ Thu nhập từ thị trường mang lại;
+ Thị phần tương đối so sánh với các nước cạnh tranh;
+ Tần suất của khách du lịch quay trở lại điểm đến
- Các tiêu chí định tính:
+ Sự ổn định về chính trị xã hội
+ Cơ cấu và đặc điểm dân tộc học
+ Tác động kinh tế – xã hội của thị trường;
+ Đặc điểm phân bố thời gian rỗi của khách;
+ Hiểu biết của thị trường về điểm du lịch;
+ Khả năng sản phẩm – dịch vụ đáp ứng nhu cầu du lịch của thị trường; + Khả năng phục vụ phù hợp với mùa du lịch của khách;
+ Nhu cầu du lịch của thị trường phù hợp với định hướng phát triển loại hình
Bước 4: Xác định các thị trường trọng điểm (Targeting)
Sau khi đã xác định được tổng điểm số của mỗi một phân đoạn thị trường bằng cách lấy trọng số với mức điểm xếp hạng của từng tiêu chí (áp dụng cho cả các tiêu chí định tính và định lượng) và tính tổng điểm của tất cả các tiêu chí của từng thị trường Tờt cả các đoạn thị trường được lựa chọn sẽ trở thành thị trường mục tiêu và dựa trên tổng điểm số của mỗi một phân đoạn thị trường và xếp theo thứ tự
từ cao xuống thấp, điểm đến hoàn toàn xác định được các thị trường trọng điểm của
nó Theo cách đánh giá này, các thị trường trọng điểm đảm bảo có mức điẻm số cao nhất đối với các tiêu chí định tính và định lượng
1.2.3 Phân đoạn thị trường du lịch quốc tế trọng điểm
Trong quá trình xác định thị trường du lịch quốc tế trọng điểm, việc phân đoạn thị trường du lịch quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng Với lý do một điểm đến nói chung và các doanh nghiệp du lịch, lữ hành nói riêng để không thể cùng lúc thu hút
Trang 29với tất cả các đối tượng khách du lịch quốc tế trong khi nguồn lực hạn chế về công sức, thời gian, tài chính, nhân lực Nên việc phân đoạn thị trường du lịch quốc tế thành những đoạn thị trường khác nhau có nhu cầu, nhận thức về sản phẩm, mức độ tiêu thụ, giúp đưa ra các tiêu chí lựa chọn các đoạn thị trường phù hợp và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh du lịch
Khi tiến hành phân đoạn thị trường du lịch quốc tế, người ta chia thành các đoạn thị trường nhỏ với các đặc điểm cơ bản nhất của mỗi đoạn thị trường cũng như các thông tin liên quan đến đối tượng cấu thành nên mỗi đoạn thị trường dựa trên các tiêu thức khác nhau để làm rõ đặc tính của thị trường nói chung và đoạn thị trường nói riêng Những tiêu thức cơ bản giúp phân đoạn thị trường du lịch quốc tế như sau:
- Phân đoạn thị trường du lịch quốc tế theo quốc tịch:
- Phân đoạn thị trường du lịch quốc tế theo khu vực:
- Phân đoạn thị trường du lịch quốc tế theo mục đích chuyến đi:
- Phân đoạn thị trường du lịch quốc tế theo thời gian lưu trú và chi tiêu du khách:
- Phân đoạn thị trường du lịch quốc tế theo phương tiện đi du lịch:
Yêu cầu phân đoạn thị trường du lịch quốc tế phải đạt được như sau:
- Tính đo lường: Nhằm đánh giá qui mô và hiệu quả của đoạn thị trường ;
- Tính tiếp cận: Giúp các cơ sở kinh doanh phải nhận biết và đáp ứng được đoạn thị trường đã phân chia theo tiêu thức nhất định
- Tính quan trọng: Xác định đoạn thị trường gồm các khách hàng có nhu cầu đồng nhất với qui mô đủ lớn để mang đến khả năng sinh lời khi khai thác và thu hút mua các sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp
- Tính khả thi: Nhằm đảm bảo việc phân bổ nguồn lực để hình thành và triển khai các chương trình marketing phân biệt cho từng đoạn thị trường [3, tr.54-55]
1.2.4 Xác định các thị trường du lịch quốc tế trọng điểm của Việt Nam
1.2.4.1 Thị trường du lịch quốc tế đến Việt Nam thời gian qua
Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hoá, mở rộng tăng cường quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã và đang tận dụng những điều kiện thuận lợi du lịch bẳng việc thu hút mạnh mẽ khách du lịch quốc tế đến thăm quan du
Trang 30lịch, đóng góp tích cực vào tăng trưởng và phát triển GDP của Việt nam Ngành Du lịch ngày càng khẳng định vai trò của ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân
Trong giai đoạn 2001-2007, lượng khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đã tăng đáng kể gần 2 lần từ 2,33 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2000 lên đến con
số 4,1 triệu lượt khách vào năm 2007 Trong đó, duy trì nhịp độ tăng trưởng đều về
số lượng khách và doanh thu từ du lịch Số lượng khách được mô tả bằng bảng dưới đây:
Bảng 1.1 Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam từ năm 2001 - 2007
xử lý kịp thời và sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành ngăn chặn lây lan của dịch
cúm gia cầm và tích cực của hoạt động quảng bá du lịch của Việt Nam - Điểm đến
của thiên niên kỷ mới, sự đánh giá tích cực của phương tiện đại chúng của nước
ngoài về Việt Nam - điểm đến an toàn, thân thiện nên lượng khách đã tăng trở lại
trong năm 2004 và tiếp tục đà tăng vào các năm sau đó Những dấu mốc quan trọng: tháng 11/2004 đón du khách quốc tế thứ 3 triệu sớm hơn dự kiến khẳng định sự hấp dẫn và tốc độ tăng trưởng lượng khách quốc tế Và năm 2007, Việt Nam đã đón vị khách thứ 4 triệu tiếp tục mang đến kết quả khả quan về khai thác khách du lịch
Trang 31quốc tế Các thị trường nguồn khách quốc tế của Việt Nam từng bước tăng cường và gia tăng các quảng bá du lịch và gửi số lượng khách tăng đều hàng năm Ngoài ra, theo sự công bố của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC) về kết quả điều tra khách du lịch quốc tế đánh giá Việt Nam xếp hạng 6/10 nước phát triển du lịch
và lữ hành tốt nhất thế giới [5, tr 40]
a) Phân đoạn thị trường khách du lịch quốc tế theo quốc tịch:
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam rất đa dạng và đến từ nhiều nguồn khách khác nhau không chỉ từ Châu Á mà còn nhiều đến từ nguồn khách châu Âu, châu Mỹ, Châu Úc, Các thị trường dẫn đầu về lượng khách đến Việt Nam trong thời gian qua gồm: Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Pháp, Úc, Anh, Đức Năm 2007, xếp hạng 10 hàng đầu gửi khách du lịch quốc tế phân chia theo quốc tịch đến Việt Nam như sau:
Bảng 1.2 Top 10 thị trường nguồn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm 2007
Stt Thị trường nguồn Số lượng khách
(lượt khách)
Năm 2007 so với năm 2006 (%)
(Nguồn: Tổng cục Thông kê)
b) Phân đoạn thị trường khách du lịch quốc tế theo mục đích chuyến đi:
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tham gia nhiều loại hình du lịch khác nhau như nghỉ dưỡng, tắm biển, tham quan di tích văn hoá, lịch sử cách mạng, danh lam thắng cảnh thiên nhiên, du lịch mua sắm, du lịch hội nghị, hội thảo, thăm thân… Như bảng 1.1., khách đi du lịch thuần tuý, nghỉ dưỡng chiếm đa phần (xấp xỉ 60%), khách du lịch đi mục đích công vụ và khách du lịch thăm thân có tỉ trọng tương
Trang 32đương khoảng 14%, phần còn lại khoảng 12% dành cho khách du lịch đi vào các mục đích khác
c) Phân đoạn thị trường khách du lịch quốc tế theo thời gian lưu trú và cơ cấu chi tiêu:
Theo kết quả nghiên cứu điều tra khách du lịch quốc tế do Tổng cục Du lịch thực hiện năm 2004, thời gian lưu trú trung bình của lượt khách du lịch quốc tế đến
Việt Nam đi theo tour (chương trình du lịch) là 7,7 ngày và tự sắp xếp chuyến đi của khách
là 18,2 ngày
Giữa các thị trường gửi khách du lịch quốc tế đến Việt Nam có sự chênh lệch nhất định Du khách đến từ các thị trường xa điểm đến Việt Nam như Châu Mỹ và Châu Âu, có thời gian lưu trú dài ngày hơn các khách du lịch đến từ thị trường Châu
Á Trong đó, thời gian lưu trú dài nhất là của khách du lịch Canada bình quân 35 ngày/lượt khách, một số thị trường khách có thời gian trung bình trên 20 ngày như Hoa Kỳ (27,9 ngày/lượt), Đức (20,4 ngày), Thuỵ điển (27,6 ngày)
Ngoài ra, chỉ tiêu quan trọng cần nghiên cứu đó là khả năng chi tiêu của thị trường khách du lịch quốc tế Với sự đa dạng về nguồn khách dẫn đến khả năng chi trả cũng khác nhau, cuộc nghiên cứu chỉ ra khả năng chi trả phụ thuộc tập quán tiêu dùng của khách du lịch và độ dài của chuyến đi Các thị trường có mức bình quân chi tiêu một lượt khách cao là thị trường Hoa Kỳ, Canada, Đức, Anh, Nhật Bản Mức chi tiêu bình quân theo lượt khách có sự khác biệt nhất định giữa đi theo tour và tự tổ chức sắp xếp chuyến đi Khách đi theo tour có mức chi tiêu bình quân
là 672,7 USD/lượt khách và mức chi tiêu bình quân ngày là 87,4 USD trong khi các con số này đối với khách tự sắp xếp chuyến đi là 1.341USD/lượt khách và chi tiêu ngày
là 73,8 USD/ngày
Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đi theo tour hay tự sắp xếp chuyến đi cũng khác nhau nhất định Khách tự sắp xếp chuyến đi chi trả cho thuê buồng khách sạn, ăn uống, giải trí cao hơn nhiều so với khách đi theo tour Song nếu so sánh trong khu vực thì tỷ trọng chi tiêu mua sắm, giải trí, đi lại chưa đáng kẻ, đây là vấn đề cần quan tâm để du lịch Việt Nam cần tập trung vào khả năng tối đa hoá nguồn thu từ các thị trường gửi khách
1.2.4.2 Thị trường du lịch quốc tế trọng điểm của Việt Nam
Trang 33Dựa trên vấn đề cơ bản nghiên cứu về thị trường trọng điểm, phân đoạn thị trường du lịch quốc tế trọng điểm, đặc biệt dựa vào hiện trạng thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, việc xác định thị trường du lịch quốc tế trọng điểm của Việt Nam được tiến hành đánh giá và xếp loại tính điểm từ cao xuống thấp theo các tiêu chí đã nêu ra trong qui trình xác định thị trường trọng điểm như sau:
Bảng 1.3 Xếp hạng đánh giá thị trường du lịch quốc tế trọng điểm của Việt Nam
Stt Thị trường DL QT trọng điểm ĐiÓm tæng kÕt Ghi chó
1.3.1 Xác định thị trường trọng điểm và đối tượng quảng bá du lịch
Về cơ bản, việc xác định thị trường trọng điểm đã được nêu rõ trong mục 1 2.2
ở trên, trong đó cần nhấn mạnh qui trình xác định thị trường trọng điểm gồm 4 bước được phản ánh qua sơ đồ sau:
Trang 34(Nguồn [5, tr.9]
Sơ đồ 1.2 Qui trình xác định thị trường trọng điểm
Dựa trên bản chất và ưu nhược điểm của từng tiêu thức khi được sử dụng, khả năng kết hợp các tiêu thức với nhau, lúc này điểm đến đã có thể ra quyết định về việc lựa chọn phương pháp và tiêu thức phân đoạn thị trường, từ đó xác định xem thị trường được chia nhỏ đến mức nào để mang lại hiệu quả
Trong quá trình xác định thị trường trọng điểm, cũng đồng nghĩa với việc đang thực hiện từng bước xác định đối tượng quảng bá du lịch một cách kỹ lưỡng nhằm
đảm bảo lựa chọn đúng những tập khách hàng (tập con) mà các doanh nghiệp du
lịch nhắm mục tiêu khai thác và thu hút sử dụng các sản phẩm dịch vụ trong chiến lược kinh doanh dài hạn hoặc ngắn hạn
Đặt ra đối tượng quảng bá du lịch nhằm nghiên cứu về các đặc điểm cơ bản về đối tượng và qua đó lựa chọn các công cụ quảng bá du lịch sao cho tác động hiệu quả nhất đến đối tượng Chỉ có thể tạo ra những sự đồng cảm và kích thích khách hàng khi hiểu được chính xác họ cần cái gì và theo thói quen như thế nào? Công việc này giúp ích cho hoạt động marketing của doanh nghiệp du lịch mà đảm bảo sự tác động có chủ đích và định hướng và tránh những hoạt động quảng bá du lịch
ĐÁNH GIÁ CÁC PHÂN ĐOẠN THỊ TRƯỜNG
Xác định các tiêu Xác định trọng số & Xác định tổng điểm
Trang 35không hiệu quả và tốn kém chi phí lớn, đặc biệt có ý nghĩa với các nước đang phát triển có điều kiện hạn chế về ngân sách tài chính cho quảng bá
Như đã nói, đối tượng quảng bá du lịch là những khách du lịch trung thành và tiềm năng nằm trong thị trường du lịch trọng điểm Nếu xác định thị trường du lịch trọng điểm là cách các điểm đến, các doanh nghiệp du lịch lựa chọn cho mình những đối tượng khách du lịch để phục vụ thì xác định đối tượng quảng bá du lịch là thực thi bước tiếp theo nhằm thu hút và khích thích của nhóm khách hàng trong thị trường du lịch trọng điểm đó khi thực hiện các hoạt động mua và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ du lịch tại các điểm du lịch do các doanh nghiệp du lịch cung cấp Cũng lưu ý, trong đối tượng quảng bá du lịch cũng không thể không đề cập đến vai trò quan trọng cũng những đối tác nước ngoài và các nhà cung cấp là bạn hàng của các doanh nghiệp cũng như sự liên kết các điểm đến để cùng tập trung nỗ lực khai thác và thu hút đối tượng quảng bá du lịch mà các bên nhằm đến
1.3.2 Xây dựng và lựa chọn phương án khả thi
Trên cơ sở đã lựa chọn được thị trường trọng điểm, tiếp theo tiến hành xây dựng, thiết kế phương án quảng bá du lịch cho thị trường du lịch trọng điểm cần đảm bảo các nội dung chính (bằng 5Ms) như sau:
- Mục tiêu quảng bá du lịch (Mission):
- Ngân sách quảng bá du lịch (Money):
- Thiết kế thông điệp quảng bá (Message):
- Lựa chọn phương tiện quảng bá (Mean):
- Kiểm soát và đánh giá hoạt động quảng bá du lịch (Measurement):
Để việc lập và chọn phương án có tính khả thi, cần lưu ý những điểm sau đây:
- Có cơ sở thực tế: Một phương án phải được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu và
phân tích thị trường trọng điểm, đánh giá cơ hội, thách thức Từ đó, lập kế hoạch, lộ trình triển khai, lựa chọn công cụ quảng bá du lịch và hình thành các hoạt động cụ thể theo
các công việc…
- Có định hướng rõ ràng: Xây dựng phương án phải dựa vào mục tiêu, tầm
nhìn chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đã hoạch định Tuyệt đối tránh tư tưởng chỉ tính mối lợi trước mắt, mà quên đi lợi ích lâu dài Điều quan trọng gặt
Trang 36hái được các kết quả nhất định để đảm bảo đi theo đúng định hướng, lộ trình đã vạch
ra
- Có chương trình: Phương án phải thể hiện được trật tự các hoạt động ăn
khớp với nhau Việc hoạch định thời gian là công việc quan trọng trong công tác quảng bá Do đó, phương án cũng đề xuất về thời gian biểu cho từng giai đoạn
- Có tính thống nhất và hỗ trợ cao: Hầu hết các phương án đều có các nội
dung liên quan đến nhau do đó cần đảm bảo tính nhất quán trong huy động và sử dụng các nguồn lực nhằm tăng hiệu ứng các công cụ hỗ trợ quảng bá du lịch Do vậy, việc nắm bắt và vận dụng các công cụ quảng bá trong từng giai đoạn và từng mục tiêu luôn mang đến những sự thành công hay ẩn chứa những rủi ro trong kế hoạch thực hiện
- Được dự toán về doanh thu: Xây dựng phương án quảng bá du lịch phải
căn cứ vào nguồn du khách của thị trường trọng điểm, nói cách khác, doanh thu từ thị trường này làm sao phải chiếm tỷ trọng lớn, đảm bảo các chỉ tiêu cơ bản về mục tiêu doanh thu đề ra
- Được đánh giá về hiệu quả kinh tế: Tính kinh tế thể hiện ở hiệu quả đồng vốn bỏ ra trong kinh doanh Yêu cầu này thường gắn liền với mục tiêu lợi nhhuận và
tỷ suất lợi nhuận (hoặc lợi nhuận tính trên một đồng doanh thu) của từng doanh
nghiệp hay của toàn bộ điểm đến Đây là một yêu cầu không dễ dàng khi việc thực hiện hoạt động quảng bá du lịch có ảnh hưởng và tác động trong một thời gian tương đối dài Nếu chỉ sử dụng chi tiêu này đánh giá về hiệu quả trong thời gian trước mắt
có thể sẽ không phản ảnh được tác động lan toả và hiệu ứng của quảng bá từ đối tượng này sang đối tượng khác có liên quan
1.3.3 Lập kế hoạch quảng bá du lịch
1.3.3.1 Xây dựng quy trình quảng bá du lịch
Để tiện cho việc sắp xếp quy trình quảng bá du lịch, người ta cần phải xác định trình tự tiến hành theo một mô hình chuẩn Mô hình này được xây dựng theo tuần tự
từ khâu chuẩn bị thông tin, tiến hành mã hoá, dùng các thông điệp, truyền thông để
chuyển tải thông tin, giải mã những thông tin này tới đối tượng thu nhận thông tin,
tức là du khách tại thị trường mục tiêu Tiếp theo là việc đáp ứng các yêu cầu của
Trang 37khách hàng, đặc biệt sau khi họ đã tiêu dùng sản phẩm của các doanh nghiệp này và
phản hồi lại các doanh nghiệp du lịch những ý kiến của mình Dựa theo quan điểm
Marketing của Philip Kotler [29] ta có thể mô tả khái quát mô hình quảng bá du lịch
ở Sơ đồ 1.3 dưới đây:
Sơ đồ 1.3 Mô hình quảng bá du lịch
Trong đó:
Người gửi tin hay Chủ thể của những thông tin quảng bá (Sender) gồm 3 cấp
độ: Quốc gia, cấp địa phương và cấp Doanh nghiệp như phân tích mục 1.1.3.1
Mã hoá (Encoding) là quá trình trong đó, các thông tin được thể hiện bằng một
hình thức có tính biểu tượng như một ngôn ngữ truyền thông nào đó
Thông điệp (Messages) chứa đựng những nội dung tin của mục tiêu quảng bá,
nó phải đủ sức gây ấn tượng và dễ đi sâu vào lòng người Nó còn quan tâm đến lợi ích người mua như giá cả và các lợi ích khác
Các kênh truyền thông (Media Channels) là các kênh, qua đó, thông điệp được
truyền tải tới người nhận
NGƯỜI GỬI TIN
MÃ HOÁ THÔNG TIN QUẢNG BÁ DU LỊCH
TRUYỀN
THÔNG
THÔNG ĐIỆP QUẢNG BÁ DU LỊCH
NGƯỜI NHẬN
PHẢN HỒI
PHẢN ỨNG ĐÁP LẠI
Trang 38Giải mã (Decoding) là tiến trình mà người nhận xử lý thông điệp, thông tin để
nhận tin và tìm hiểu ý tưởng của chủ thể hay người gửi
Người nhận (Receivers) là đối tượng nhận thông tin trong trường hợp này là
các du khách nơi thị trường trọng điểm
Phản ứng đáp lại (Response) là tập hợp những phản ứng mà người nhận có
được sau khi tiếp nhận và xử lý thông điệp
Phản hồi (Feedback) là sự truyền tải các phản ứng của khách hàng trở lại chủ
thể (người nhận) của những thông tin được phát ra
Sự nhiễu (Chaos): Tình trạng biến lệch người dự kiến do môi trường trong quá
trình truyền thông làm thông tin đến người nhận không trung thực với thông điệp
gửi đi Trong quảng bá du lịch luôn luôn có hiện tượng “nhiễu thông tin” tác động
vào hầu hết các khâu trong quá trình tác nghiệp khiến cho việc phân tích, đánh giá chất lượng và hiệu quả của công tác quảng bá gặp nhiều khó khăn Để tránh những
ảnh hưởng này, cần phải dùng nhiều biện pháp “lọc nhiễu” khác nhau
1.3.3.2 Xác định công cụ phục vụ cho công tác quảng bá du lịch
Trong công cụ sử dụng cho quảng bá du lịch, người ta thường đề cập đến các
công cụ sau: đó là Tuyên truyền - Quảng cáo; Khuyến mãi, Marketing trực tiếp,
Quan hệ công chúng và Bán hàng cá nhân Ta lần lượt xem xét nội dung của những
công cụ này Trong các công cụ đó có nhiều hình thức khác nhau để thực hiện (Bảng 1.1)
a) Tuyên truyền - quảng cáo (Communication - Advertising) là bất kỳ những
hình thức giới thiệu gián tiếp và khuếch trương các ý tưởng, hàng hoá hoặc dịch vụ
do người bảo trợ thực hiện mà phải trả tiền [29]
Tuyên truyền - quảng cáo có tác dụng mở rộng vùng ảnh hưởng của của điểm đến hay các doanh nghiệp du lịch bằng cách gián tiếp truyền tải các thông tin tới khách hàng mới, đồng thời “nhắc nhở” các khách hàng truyền thống về những lợi
ích họ sẽ được hưởng (có thể còn hơn cả những lần tiêu dùng trước đây)
Hoạt động tuyên truyền - quảng cáo trong phạm vi của điểm đến chính là bước đầu trong việc xây dựng hình ảnh sản phẩm của điểm đến và doanh nghiệp du lịch,
từ đó xây dựng thương hiệu dưới nhiều hình thức khác nhau Những nỗ lực này giúp
ta gây ảnh hưởng tốt tới khách hàng ở những khía cạnh sau đây: Duy trì và tái tạo lại
Trang 39những ấn tượng tốt đẹp trong khách hàng truyền thống về sản phẩm, dịch vụ từ trước; Xây dựng nên hình tượng về một sản phẩm hoàn hảo của các doanh nghiệp
du lịch nhằm kích thích trí tò mò, từ đó tạo sức hút khách hàng mới tiêu dùng những sản phẩm này và duy trì thiện cảm của họ sau mỗi chu kỳ tiêu thụ sản phẩm; Tạo ra được lợi thế cạnh tranh cho điểm đến, doanh nghiệp du lịch trước các đối thủ khác,
đặc biệt là các đối thủ ngay trong khu vực
b) Khuyến mãi (Sales Promotion) là nhóm công cụ quảng bá sử dụng hỗn hợp
công cụ cổ động và kích thích khách hàng nhằm tăng nhu cầu về sản phẩm dịch vụ
của điểm đến hay các doanh nghiệp du lịch Khuyến mãi là những hình thức kích
thức việc mua sắm hay dùng thử của khách hàng bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích tăng thêm so với trường hợp khách hàng không tham gia chương trình
du lịch, mua sắm các sản phẩm du lịch của doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp du lịch thường xuyên sử dụng nhằm tác động mạnh
để khách du lịch tiềm năng sử dụng thông qua việc bỏ qua sử dụng của các đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên cũng lưu ý rằng chương trình khuyến mãi trong du lịch cũng không thể kéo quá dài, doanh thu thời kỳ này sẽ giảm tương đối phụ thuộc vào quãng thời gian áp dụng chương trình khuyến mãi Hơn nữa, hình ảnh của doanh nghiệp du lịch và qua đó điểm đến sẽ ảnh hưởng đối với việc đoạn thị trường cao cấp khi có sự tham gia đông đảo của nhiều đối tượng khách bởi sự giảm giá dịch vụ
c) Quan hệ công chúng (Public Relations): bằng việc sử dụng các chương trình
khác nhau như hội thảo, các buổi diễn thuyết công khai, các diễn đàn… tổ chức trong nước và quốc tế nhằm đề cao và bảo vệ hình ảnh của các doanh nghiệp du lịch hoặc cho một sản phẩm cụ thể nào đó nhằm thu hút đông đảo mọi tầng lớp xã hội tham gia, từ đó nhờ kết hợp với các hình thức khác xây dựng nên hình ảnh của du
lịch và sản phẩm du lịch trong công chúng
Quan hệ công chúng tạo ra được sự gần gũi hơn giữa các doanh nghiệp du lịch với khách hàng Hơn nữa, các thông tin cần thiết được truyền tải nhanh chóng và đảm bảo độ chính xác cao
d) Marketing trực tiếp (Direct Marketing)
Cũng như trong các lĩnh vực kinh doanh thông thường Marketing trực tiếp được sử dụng trong ngành Du lịch mang lại hiệu quả rất cao Nó có ba đặc tính cơ
Trang 40bản, đó là: tính bí mật; tính hướng khách hàng và tính thời sự Theo quan điểm của Philip Kotler thì Marketing trực tiếp là việc sử dụng thư từ, điện thoai và các công
cụ liên lạc gián tiếp khác để thông tin cho khách hàng hiện có và triển vọng hoặc yêu cầu họ có ý kiến phản hồi cũng chính là Marketing trực tiếp ứng dụng trong du lịch
e) Bán hàng cá nhân (Personal Sellings) là những hoạt động giới thiệu và bán
sản phẩm, dịch vụ du lịch tại điểm đến hay tại các doanh nghiệp du lịch, khách sạn thông qua mối quan hệ trực tiếp giữa người bán và các khách hàng hiện tại và tiềm năng Việc bán hàng cá nhân chịu chi phối của yếu tố cá thể và sự khéo léo và
chuyên môn, nghiệp vụ trong giao tiếp phức tạp kéo dài về không gian và thời gian giữa người bán và khách hàng
Tham gia vào hoạt động bán hàng cá nhân trong du lịch gồm rất nhiều người trong doanh nghiệp và ngoài doanh nghiệp du lịch từ: nhân viên bán, đối tác nước ngoài, người điều hành chương trình du lịch, đặc biệt là hướng dẫn viên du lịch
…trong suốt quá trình mua và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ du lịch tại điểm đến
và doanh nghiệp du lịch Lực lượng bán hàng cá nhân của nhiều doanh nghiệp lữ hành, du lịch rất đông Do vậy, cần phải được tổ chức và quảng lý một cách khoa học Khi đó, mang lại nhiều ích lợi cho doanh nghiệp về thông tin chính xác giữa hai phía, tính thuyết phục cao đối với các đối tượng khách du lịch, khả năng xây dựng hình ảnh tốt về sản phẩm, dịch vụ du lịch và uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp Qua đó, tạo dựng và duy trì mối quan hệ bền chặt giữa khách du lịch và doanh nghiệp Tuy nhiên, phải tính toán đến khả năng chi phí duy trì hoạt động tiếp xúc chào bán hàng
Bảng 1.4 Các hình thức phổ biến của các công cụ quảng bá du lịch
Quảng cáo Khuyến mại Quan hệ
công chúng
Bán hàng
cá nhân
Marketing trực tiếp