Những tư tưởng đạo đức về: Nhân, Nghĩa, Lễ , Trí, Tín, Trung, Hiếu,Cần, Kiệm, Liêm, Chính đã được Hồ Chí Minh tiếp thu, phát triển và trở thànhchuẩn mực sống của Người... Với tinh thần H
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hồ Chí Minh không chỉ để lại cho dân tộc ta một sự nghiệp cách mạng vẻvang, một sự nghiệp văn hoá đồ sộ mà qua cuộc đời đầy gian khổ hy sinh, vô cùngcao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ của mình, Người còn đểlại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản lớn, đó là tư tưởng và tấm gương đạo đứcsáng ngời của người cách mạng, tượng trưng cho những gì cao đẹp nhất trong tâmhồn, ý chí, nhân cách Việt Nam
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một vĩ nhân, không chỉ ở tầm dân tộc,
mà ở tầm thời đại, tầm nhân loại Trong diễn văn đọc tại lễ kỷ niệm 77 năm thànhlập Đảng cộng sản Việt Nam, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã đánh giá: Chủ tịch
Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, tiêu biểu cho phẩm chất và khí pháchcủa dân tộc ta, Đảng ta Giáo dục đạo đức, xây dựng lối sống tốt đẹp theo tư tưởngđạo đức Hồ Chí Minh vừa là yêu cầu cấp bách hiện nay, vừa là nhiệm vụ cơ bảnlâu dài Có thể nói rằng, cả cuộc đời Hồ Chí Minh là một bài học lớn về đạo đứccách mạng mà ngày nay mỗi người Việt Nam nói chung và mỗi cán bộ, đảng viênnói riêng cần học tập và noi theo
Hiện nay, Đảng ta xác định: sự xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức ở một bộphận không nhỏ cán bộ, đảng viên biểu hiện tập trung ở tình trạng tham nhũngđang làm băng hoại nền đạo đức xã hội, băng hoại truyền thống nhân văn của dântộc, đang là thách thức lớn nhất của công cuộc đổi mới đất nước, là nguy cơ đe doạ
sự sống còn của chế độ ta, đang làm mất thanh danh uy tín của Đảng, Nhà nước,làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội Bên cạnh đónhững thang bậc đạo đức xã hội đang có chiều hướng suy thoái, lối sống theo chủnghĩa cá nhân chưa bị ngăn chặn , trong bối cảnh đó đạo đức trong sáng, thanh taocủa Hồ Chí Minh lại càng có ý nghĩa thực tiễn vô cùng sâu sắc Làm theo lời Bácdạy và việc Bác làm, hơn lúc nào hết cần lắm ở mỗi cán bộ, đảng viên những việclàm gương mẫu dù là nhỏ còn gấp ngàn lần những lời nói suông
Nho giáo được truyền nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc, trải qua hơn haingàn năm tồn tại và phát triển, nó đã được Việt Nam hoá theo tinh thần của ngườiViệt Nho giáo đã trở thành một học thuyết đạo đức - chính trị xã hội ăn sâu vàotâm tưởng của người Việt Nam Những thang bậc đạo đức của Nho giáo, cùng vớithời gian được lớp lớp các thế hệ người Việt Nam tiếp thu và phát triển
Học thuyết Nho giáo đã đến với Hồ Chí Minh trong diện mạo hoàn chỉnh củamột hệ tư tưởng chính trị - đạo đức đã được Việt hoá Hồ Chí Minh là người ý thứchơn ai hết sự gắn bó của Nho giáo trong đời sống của người Việt Sinh ra trongmột gia đình nhà nho nghèo yêu nước, tư tưởng Nho giáo là hệ tư tưởng sâu sắc vềlòng nhân ái, đã thấm nhuần vào Hồ Chí Minh từ tấm bé, hình thành nên ở Hồ ChíMinh một trật tự gia phong, một kỷ cương xã hội, một tinh thần thượng quốc,thương dân Những tư tưởng đạo đức về: Nhân, Nghĩa, Lễ , Trí, Tín, Trung, Hiếu,Cần, Kiệm, Liêm, Chính đã được Hồ Chí Minh tiếp thu, phát triển và trở thànhchuẩn mực sống của Người
Trang 2Nghiên cứu về vấn đề này, chúng ta nhận thấy, trong nhiều tác phẩm, bài nói,bài viết của Hồ Chí Minh, dấu ấn Nho giáo hiện lên rất đậm nét Hồ Chí Minh đã
có thái độ như thế nào đối với Nho giáo? Với tinh thần Hồ Chí Minh, chúng ta cóthể tiếp thu được những nhân tố tích cực nào của đạo đức Nho giáo trong sựnghiệp đổi mới hôm nay? Với tinh thần Hồ Chí Minh, những phạm trù đạo đức cơbản của Nho giáo có ý nghĩa lý luận và thực tiễn như thế nào đối với việc giáo dụcđạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay?
Bản thân tác giả nhận thấy đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, mangtính thời sự cấp thiết trong việc nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Cũngbởi ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này nên tác giả chọn:
“Vấ n đề kế thừ a, phát triể n mộ t số phạ m trù cơ bả n củ a đạ o đứ c Nho giáo trong tư tư ở ng đạ o đứ c Hồ Chí Minh” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mụ c đích nghiên cứ u
- Phân tích sự kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nhogiáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, từ đó rút ra ý nghĩa lý luận và thực tiễncủa việc kế thừa, phát triển đó đối với việc giáo dục đạo đức, lối sống cho đội ngũcán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay
2.2 Nhiệ m vụ nghiên cứ u
- Tổng quan các công trình nghiên cứu về đạo đức Nho giáo; các công trìnhnghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và sự kế thừa, phát triển đạo đứcNho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
- Phân tích, làm rõ một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo ở TrungQuốc và Việt Nam
- Phân tích, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng và nội dung chủ yếu của việc kếthừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạođức Hồ Chí Minh
- Phân tích ý nghĩa rút ra từ việc kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bảncủa đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với việc giáo dụcđạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luậ n củ a luậ n án
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước về đạo
Trang 3đức và về việc kế thừa có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại cùng những giá trịtruyền thống của dân tộc; đồng thời luận án cũng kế thừa có chọn lọc kết quả cáccông trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã công bố liên quan tới đề tài.
4.2 Phư ơ ng pháp nghiên cứ u củ a luậ n án
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mác xít, đặc biệt là các phương pháplịch sử - lôgic, so sánh - đối chiếu, phân tích - tổng hợp, khái quát hoá … để hoànthành mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án hệ thống hóa lại các phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo có ảnhhưởng sâu sắc đến tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
- Luận án chỉ ra được sự kế thừa, phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh đối vớiđạo đức Nho giáo và cách cách tiếp cận khoa học của Người
- Luận án nêu được ý nghĩa rút ra từ việc kế thừa, phát triển một số phạm trù
cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với việcgiáo dục đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Những vấn đề luận án đề cập, giải quyết góp phần làm sáng tỏ việc nghiêncứu về tư tưởng đạo đức Nho giáo và sự ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Luận án sau khi hoàn thiện có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ chocông tác nghiên cứu và giảng dạy về đạo đức Nho giáo và đạo đức Hồ Chí Minh
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận án gồm 4 chương, 8 tiết
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Nh ng công trình nghiên c u v o c Nho giáo
Nho giáo ra đời trong bối cảnh đất nước Trung Hoa có nhiều biến động và tựthân Nho giáo đã trải qua nhiều bước thăng trầm trong lịch sử Mục đích của Nhogiáo là mong muốn xây dựng một xã hội thái bình, thịnh trị có trật tự kỷ cương, nềnếp Nho giáo chủ trương lấy Đức trị làm phương thức cai quản đất nước, vì vậy,Nho giáo đã xây dựng được hệ thống các phạm trù đạo đức, đề cao việc tu dưỡng,rèn luyện đạo đức, xây dựng các mối quan hệ phù hợp với những chuẩn mực đạođức Đạo đức Nho giáo, bên cạnh một số yếu tố tích cực, vẫn chứa đựng không ítnhững yếu tố tiêu cực mà cho đến nay còn ảnh hưởng khá nặng nề trong nhiều lĩnhvực của đời sống xã hội nước ta Trong nhiều năm trở lại đây, Nho giáo và đạo đứcNho giáo đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, được đánh dấu bởi các công
trình nghiên cứu sau: “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1998; “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà
Trang 4Nội, 2001; “Khổng giáo và phê bình tiểu luận” của Đào Duy Anh; “Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu” của Cao Xuân Huy, Nxb Văn học,
1995 (do Nguyễn Huệ Chi soạn, chú và giới thiệu); “Bàn về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện, Nxb Thế giới mới, 1993; “Các bài giảng về tư tưởng phương Đông” của Trần Đình Hượu; “Nho giáo xưa và nay” của Vũ Khiêu (chủ biên), Nxb Khoa học Xã hội, HN 1991; “Nho giáo tại Việt Nam” của Lê Sỹ Thắng (chủ biên), Nxb Khoa học Xã hội, HN, 1994; “Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam” của GS Phan
Đại Doãn (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 1999,
Nhìn chung, các công trình đã luận giải về nguồn gốc, nội dung của Nho giáo
và hệ thống những yêu cầu đạo đức của Nho giáo; bên cạnh việc phê phán nhữngảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng, cáccông trình trên đã đặt ra vấn đề kế thừa và phát triển những giá trị tích cực của nónhằm khắc phục những mặt tiêu cực, góp phần xây dựng đạo đức mới ở nước tatrong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên nội dung của việc kế thừa đó mới chỉ dừng lại
ở những nghiên cứu bước đầu Đây là những tư liệu có giá trị tham khảo để tác giả
kế thừa, khái quát, làm cơ sở về mặt lý luận cho việc triển khai, phân tích các nộidung nghiên cứu của luận án
1.2 Những công trình nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và
sự kế thừa, phát triển đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và ảnh hưởng của đạo đứcNho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đã nhiều tác giả bàn luận đến, có
thể kể đến những công trình tiêu biểu sau đây: “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh truyền thống dân tộc và nhân loại”, của Vũ Khiêu (chủ biên), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, của Thành Duy (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; “Nho giáo và phát triển ở Việt Nam” của Vũ Khiêu, Nxb Khoa học Xã hội, HN, 1997; “Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh”, của Trần Văn Giàu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nôi, 1997;
“Thử tìm mối quan hệ giữa tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và tư tưởng đạo đức Nho giáo” của Nguyễn Bình Yên, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, Số 5, 1996; Luận
án tiến sĩ của Nguyễn Văn Bình (2001) với đề tài “Quan niệm Nho giáo về các mối quan hệ xã hội Ảnh hưởng và ý nghĩa của nó đối với xã hội ta ngày nay”;
“Nâng cao đạo đức cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân” của Nguyễn Khánh Bật
(chủ nhiệm), Hoàng Trang, Trần Minh Trưởng (2004), Báo cáo tổng quan đề tài
KX 03.01; -“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, của Ban Tư tưởng Văn hóa
Trung ương, HN, 2005,
Mỗi công trình đều được các tác giả truyền tải những nội dung khác nhau về:nguồn gốc hình thành và đặc điểm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh; về Hồ ChíMinh với các giá trị và tinh hoa đạo đức của nhân loại; về sự tiếp thu và vận dụngnhững kinh nghiệm đạo đức Nho giáo của Hồ Chí Minh vào việc giáo dục đạo đức
và phát động tinh thần của nhân dân; về giá trị trường tồn của tư tưởng đạo đức HồChí Minh và vận dụng tư tưởng đạo đức, tấm gương đạo đức của Người trong bốicảnh xã hội hiện nay; Trên cơ sở những nghiên cứu của các học giả, luận án sẽ
Trang 5tiếp tục phân tích, lý giải dưới góc độ triết học về sự kế thừa có chọn lọc một sốphạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Những vấn đề luận án sẽ tiếp tục triển khai nghiên cứu:
Tổng quan các công trình nghiên cứu có thể thấy, cho đến nay, dưới góc độtriết học, không có nhiều công trình nghiên cứu sâu và toàn diện về mặt lý luận vấn
đề kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởngđạo đức Hồ Chí Minh Đặc biệt, chưa có các công trình nghiên cứu toàn diện, haycác luận văn, luận án hướng vào luận bàn trực tiếp, phân tích, tìm hiểu, làm rõ mộtcách có hệ thống tính khác biệt trong sự kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bảncủa đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Trong khi đó, nghiêncứu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và thực hành theo đạo đức của Người đã trởthành nhiệm vụ thường xuyên do Đảng ta phát động sâu rộng trong Đảng cũng nhưtrong nhân dân Vì vậy, rất cần thiết phải có nhiều hơn nữa các công trình nghiêncứu chuyên sâu về sự kế thừa có chọn lọc và phát triển sáng tạo những tinh hoavăn hóa nhân loại trong tư tưởng đạo đức của Người, mà những phạm trù đạo đứcNho giáo là một trong những tinh hoa đó
Trên cơ sở kế thừa những giá trị của các công trình đã công bố, luận án sẽ tiếptục triển khai nghiên cứu các nội dung sau:
Thứ nhất, phân tích, làm rõ một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo ở
Trung Quốc và Việt Nam
Thứ hai, phân tích, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng và nội dung chủ yếu của
việc kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởngđạo đức Hồ Chí Minh Từ đó chỉ ra sự khác biệt trong việc kế thừa, phát triển một sốphạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức của Người
Thứ ba, phân tích ý nghĩa rút ra từ việc kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ
bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với việc giáodục đức, lối sống cho cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay
Tiểu kết chương 1
Cho đến nay, dưới góc độ triết học, không có nhiều công trình nghiên cứu sâu
và toàn diện về mặt lý luận vấn đề kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản củađạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Đặc biệt, chưa có cáccông trình nghiên cứu lớn, hay các luận văn, luận án hướng vào luận bàn trực tiếp,phân tích, tìm hiểu, làm rõ một cách có hệ thống tính khác biệt trong sự kế thừa,phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh Trong khi đó, nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và thựchành theo đạo đức của Người đã trở thành nhiệm vụ thường xuyên do Đảng ta phátđộng sâu rộng trong Đảng cũng như trong nhân dân Vì vậy, rất cần thiết phải cónhiều hơn nữa các công trình nghiên cứu chuyên sâu về sự kế thừa có chọn lọc vàphát triển sáng tạo những tinh hoa văn hóa nhân loại trong tư tưởng đạo đức củaNgười, mà những phạm trù đạo đức Nho giáo là một trong những tinh hoa đó
Trang 6Chương 2 MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO
2.1 N i dung m t s ph m trù c b n c a o c Nho giáo Trung Qu c
Nho giáo đã xây dựng được một cách có hệ thống các phạm trù đạo đứcrất đa dạng và tương đối hoàn chỉnh về Cương Thường, tam tòng tứ đức, tiếthạnh Trong phạm vi luận án này, tác giả chỉ bàn đến một số phạm trù đạo đức
cơ bản sau:
2.1.1 Phạ m trù Nhân, Nghĩa , Lễ , Trí, Tín
Phạm trù Nhân: Trong đạo đức làm người, đức Nhân được Khổng Tử đặt lênhàng đầu và coi là tiêu chuẩn cao nhất Đức nhân hay con người có đức nhân đượcbiểu hiện bởi: Nhân cách: đó là phải xác định được chủ thể của mình trong mốiquan hệ xã hội, phát huy được phẩm chất chủ thể ấy đối với mọi người xungquanh, đó là xác định tư cách của người có đức nhân; Nhân ái: Là lòng thương yêungười Thân ái yêu thương người như thể thương thân, mình thành công cũng giúpcho người thành công, điều gì mình không muốn thì đừng bắt người khác phảimuốn; Nhân an: Là lòng yêu thương người phải tự nhiên không khiên cưỡng Nhân
và an quan hệ mật thiết với nhau An là cái đức tính tốt của người có nhân, lúc nàocũng tự nhiên, làm việc gì cũng thung dung trúng đạo, ứng ra làm việc gì cũng phùhợp với tính thiện Có an mới nhân được; Nhân hậu: Là chung thuỷ, trước sau nhưmột, đã hứa là phải giúp, phải thực hiện
Nho giáo dạy Nhân là gốc lớn của sự sinh hoá trong trời đất và lấy Nhân làmcái tông chỉ duy nhất trong học thuyết của mình Nho giáo dạy Nhân là gốc mở đầucủa đạo đức Điều trọng yếu cốt ở đức nhân Nhân là đích tu dưỡng quan trọng Aiđạt bậc nhân thì làm việc gì cũng được lòng người, có ích cho đời Vì đức Nhân tolớn và sâu xa như vậy, nên cái học của Nho giáo chủ yếu ở đức Nhân Bởi baonhiêu hành vi đạo đức là căn bản ở Nhân cả
Phạ m trù Nghĩa: Theo quan niệm của Nho giáo, Nghĩa là hợp lý, hợp với
đạo nghĩa Nghĩa bao gồm sự trả nghĩa, trả cái ân huệ mà người khác đã vô tư giúp
đỡ mình qua hoạn nạn, không tiếc thân mình giữ lấy điều nghĩa với chủ tướng, vớibạn bè, với nghĩa cả Nghĩa gắn liền với Nhân Nhân thể hiện tình cảm sâu sắc, thìNghĩa là nghĩa vụ thực hiện tình cảm đó; Nghĩa gắn liền với lợi, người ta sinh rasống bằng nghĩa và lợi, lợi để nuôi thân thể, nghĩa để nuôi cái tâm Những điềucản trở làm việc nghĩa là phú quý, uy lực, bần tiện Nên muốn thực hiện điều nghĩathì phải phú quý bất chính không ham muốn, uy vũ không khuất phục, không vìnghèo khó mà bị chuyển lay
Phạ m trù Lễ : Lễ đóng vai trò quan trọng trong việc đưa nhân nghĩa vào
trong cuộc sống hàng ngày, đưa nhân nghĩa trở thành quy tắc, đi sâu vào tâm lýcon người, giáo dục con người tự nguyện tuân theo để duy trì kỷ cương xã hội Lễtiết là qui củ, chuẩn mực của con người Không nên khiếm khuyết cũng không nênthái quá; Lễ là toàn bộ những quy tắc ứng xử, mang tính nghi thức và nội dung vănhoá mà Nho giáo đòi hỏi mọi người nhất thiết phải tuân theo Trong xã hội Nho
Trang 7giáo, những hoạt động lễ coi như những hành vi chính trị, vì thế gọi là Lễ trị Lễ trị
có tác dụng nhiều mặt đối với con người: Lễ gây tình cảm thiện mỹ; Lễ tiết chếsống có đức độ; Lễ giúp con người giữ đúng đạo phải trái, trật tự trên dưới; Lễ còndạy con người định rõ thân sơ, quyết sự hiềm nghi, làm sáng rõ phải trái, biện bạchnhững điều bí ẩn đề phòng giữ cho dân, trên dưới có bậc, làm cho dân có lòngkhoan dung, nhường nhịn
Lễ của Nho giáo là đạo lý, là phép tắc, là hành vi chính trị, qua đó giúp conngười duy trì, phân rõ tôn ti trật tự trong gia đình, ngoài xã hội, quốc gia Sự giáohoá của lễ có ý nghĩa rất lớn trong xã hội Nho giáo xưa, ngăn cấm điều lâm nguykhi chưa xảy ra, giúp con người gần điều thiện Xét về ý nghĩa tích cực, Lễ đã đạttới mức độ sâu sắc, đã trở thành tiêu chuẩn đánh giá và thước đo phẩm giá của conngười Sự giáo dục con người theo Lễ của Nho giáo đã tạo thành hiệu ứng xã hộirộng lớn, giúp con người biết quý trọng lễ và khinh ghét người vô lễ Xét về ýnghĩa tiêu cực, Lễ là sợi dây ràng buộc, làm cho suy nghĩ và hành động của conngười trở nên cứng nhắc theo một khuôn phép cũ, bất di bất dịch và do đó Lễ kìmhãm sự phát triển của xã hội, làm cho xã hội trở nên trì trệ
Phạ m trù Trí: Khổng Tử quan niệm: Trí là sự minh mẫn, sáng suốt trong con
người để phân biệt được kẻ chính, người tà Muốn có Trí thì phải học vì Trí khôngphải tự nhiên mà có, nó là một quá trình không ngừng học hỏi Theo sự phát triểnsau này của Nho giáo, Trí đã có sự phân biệt rạch ròi giữa các tầng lớp người trong
xã hội Sự phân biệt này mang màu sắc tiêu cực, nó nhằm trọng dụng cái trí củatầng lớp có địa vị, quyền hành trong xã hội như bậc thánh nhân, người quân tử, kẻ
sĩ Còn cái trí của những tầng lớp dưới mà Tuân Tử gọi là kẻ tiểu nhân, đứa dịchphu là cái trí không được trọng dụng Với nghĩa này, Trí của Nho giáo còn nhiềuhạn chế
Phạ m trù Tín: Theo thứ tự thì phạm trù Tín được xếp xuống hàng thứ năm
trong đạo đức Nho giáo, song không phải vì thế mà hạ thấp chữ tín Bởi đức tín là
hệ quả của bốn đức trên Có nhân, nghĩa, lễ, trí mới gây được lòng tin, mới thựchiện được chữ tín Người không có đức tín thì mất hết đức nhân, nghĩa, lễ, trí, làngười bỏ đi Nội dung của phạm trù Tín, theo Khổng Tử là phải có lòng tin tuyệtđối vào chính đạo, vào đạo lý của thánh hiền, vào mối quan hệ giữa vua tôi, chacon, chồng vợ, anh em, bằng hữu Muốn thực hiện đức Tín phải giữ đúng lễ, chínhdanh, đủ lợi Đúng lễ là đủ hiểu biết để thực hiện điều nhân nghĩa Chính danh làquan hệ đối xử đúng phân vị
2.1.2 Phạ m trù Trung, Hiế u
Phạ m trù Trung: Với nghĩa ban đầu của đạo đức Nho giáo, Trung là cái gốc
của trời đất, là cái gốc lớn nhất của thiên hạ, con người ta sinh ra ai cũng bẩm sinh
có cái “trung” để làm tính thường Theo được đạo trung là rất khó, mỗi người phảigiữ cái tâm của mình cho tinh thuần và chuyên nhất thì mới có thể giữ được Cùngvới sự phát triển của lịch sử, phạm trù Trung ngày càng được mở rộng Nho giáocoi “Tam cương, Ngũ thường” là nội dung cốt lõi của Trung Từ quan niệm “đâucũng là đất của vua, ai cũng là dân của vua”, đất nước chỉ là vật sở hữu của vua
Trang 8Nho giáo cho rằng: trung với vua là yêu nước Hay nói cách khác, muốn thể hiệnlòng yêu nước, trước hết phải trung với vua, phục tùng vua Nhà vua và triều thầnđều cần đến người bề tôi tuyệt đối phục tùng vua, trung thành với vua một cách vôđiều kiện theo kiểu “quân vi thần cương” (nhà vua là cương lĩnh của bề tôi) Trung
ở đây là tuyệt đối nghe theo, phục tùng và trung thành với vua mà mình theo Tínhchất trung đó được đạo đức và pháp luật xác nhận và trở thành cơ sở tư tưởng choviệc đánh giá đạo đức và xây dựng pháp luật, đảm bảo sự trung thành với một ôngvua Mục đích cao nhất của Trung là nhằm phục vụ cho lợi ích của triều đại phongkiến, phục vụ cho quyền lợi của vua quan trong xã hội đó Nó không mang lạiquyền lợi cho nhân dân và đất nước Đó chính là hạn chế của Nho giáo về “trung”.Bên cạnh nghĩa cơ bản trên, Trung của nho giáo còn được thể hiện ở nghĩatrung thứ Trung : là hết lòng hết dạ, thành tâm thật ý Thứ: là suy lòng ta ra lòngngười, thương mình như thương người, việc gì mình không muốn chớ làm chongười khác Với nghĩa trên, Trung của nho giáo lại mang sắc thái tích cực, có đónggóp nhất định cho xã hội sau này
Phạ m trù Hiế u: Nho giáo quan niệm, cái gốc của đạo nhân là ái và kính, bởi
vậy Nho giáo lấy ái và kính làm cơ sở cho chữ Hiếu Theo đạo đức Nho giáo, Hiếu
có nội dung nhiều mặt Trước hết, trong gia đình con cái phải có trách nhiệmphụng dưỡng bố mẹ khi về già và tế tự khi bố mẹ mất Tiếp đến, người con tronggia đình phải có khả năng và điều kiện để kế tục sự nghiệp của cha Có như thếmới là nhà có phúc Cha có con trai thì con cũng phải có con trai, nghĩa là ông phải
có cháu trai, nếu không được như thế là nhà vô phúc và người con trai đó bị coi làbất hiếu đối với cha mẹ Điều này thể hiện, do quá chú trọng đến dòng dõi tôngtộc, cộng với sự quá kém cỏi trong việc hiểu biết sinh lý con người nên có nhậnđịnh mang tính hà khắc, chủ quan.Thứ nữa, phận làm con trong gia đình khôngđược phép làm trái lời cha mẹ Trong sự hiếu của đạo đức Nho giáo, có hai điềuđược đặc biệt chú ý đó là vô vi và vô cải Vô vi là xử cảnh thường, thờ cha mẹkhông trái lễ Vô cải là xử cảnh biến, là không đổi ngay cái đạo của cha mẹ Cả haiđiều ấy, đều hàm ý là phục tùng, nhưng là phục tùng theo đạo phải, chứ khôngphục tùng một cách thụ động, không biết phân biệt điều hay, lẽ phải
Như vậy, về cơ bản, nội dung phạm trù Hiếu trong đạo đức Nho giáo mangmột ý nghĩa tích cực, bắt nguồn từ tình cảm xa xưa nhất đó là phận làm con phải cóhiếu với cha mẹ Đó cũng là truyền thống đạo đức phù hợp với mọi dân tộc, trướchết là các dân tộc phương Đông trong đó có Việt Nam
2.1.3 Phạ m trù Cầ n, Kiệ m, Liêm, Chính
Không giống như các phạm trù đạo đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Trung,Hiếu, được Nho giáo đặc biệt bàn luận nhiều Cụm phạm trù đạo đức Cần, Kiệm,Liêm, Chính chỉ xuất hiện lẻ tẻ trong các tác phẩm của nhà nho
Về Cầ n: được đề cập tới với hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là tận tâm, tận lực.
Nghĩa thứ hai là đối xử trọng hậu Cần tức là “làm việc, làm lụng”, là chỉ sự siêngnăng, chăm chỉ, làm việc với năng suất cao Cần là đặc tính cơ bản nhất, phổ biếnnhất của loài người Những ai xa cách với cần, khinh thị chữ cần, quay lưng với
Trang 9cần thì những kẻ ấy cũng sẽ đi ngược với đức tính căn bản của loài người Cầntrong lao động sản xuất, xưa gọi là “cần lao”; Cần trong việc học hành xưa gọi là
“cần học”; Cần trong việc hành chính, cai trị, xưa gọi là “cần chính”; Cần trongnghề nghiệp, chức trách, xưa gọi là “cần nghiệp”
Về Kiệ m: phạm trù Kiệm trong thư tịch cổ vốn có nghĩa là “ước”, tiết chế để
không lãng phí Sách “Nhan thị gia huấn” nói: kiệm là lấy dè sẻn làm điều lễ.Người biết giữ mình cẩn trọng, tiết kiệm tiêu dùng để nuôi dưỡng cha mẹ, như thế
là biết đạo hiếu đễ, biết trọng lễ nghĩa Nhìn chung, Nho giáo khi bàn về việc sửdụng tiền của thường dạy cho con người phải kiệm, ước
Về Liêm: Nho giáo quan niệm Liêm là một phẩm chất cần có của người làm
quan, không dựa vào quyền thế, địa vị để bòn rút của công và vơ vét của dân
Về Chính: Chính nghĩa là thẳng, là chính trực, chính đáng, đúng với chức vụ,
không thiên lệch
2.2 N i dung m t s pham trù c b n c a o c Nho giáo Vi t Nam
2.2.1 Nhữ ng nhân tố chủ yế u làm biế n đổ i nộ i dung mộ t số phạ m trù cơ
bả n củ a đạ o đứ c Nho giáo ở Việ t Nam
Thứ nhất, truyền thống lịch sử văn hóa của dân tộc Việt Nam thể hiện qua lăng kính Tổ quốc và làng xã.
Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc, bằng con đườngxâm lược và giao lưu văn hoá, kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc Khi đượctruyền bá vào Việt Nam, Nho giáo không còn ở dạng nguyên sơ thuở ban đầu, nó
đã trải qua một quá trình biến đổi, được Đổng Trọng Thư đời Hán cải tạo cho thíchhợp với bộ máy Nhà nước quan liêu phong kiến tại Việt Nam lúc bấy giờ Khi vàotới Việt Nam, Nho giáo đã chịu sự chi phối bởi một loạt các yếu tố của nền văn hóa
cổ truyền Việt Nam với đặc trưng văn hóa xóm làng và văn hóa dân gian Tất cảnhững nét văn hóa truyền thống đó đã tạo nên một tinh thần dân tộc riêng biệt củangười Việt Nam Tinh thần dân tộc của người Việt, đóng vai trò chủ yếu trong việcbảo vệ dân tộc khỏi bị họa diệt vong, bảo vệ nền văn hóa dân tộc để nó giữ đượcsắc thái riêng, không để cho nền văn hóa nào thay thế
Xuất phát từ tinh thần dân tộc trên, trong quan hệ xã hội, cha ông ta có nhữngquan niệm riêng không hoàn toàn giống đạo lý của Nho giáo Nếu bóc tách vỏ Nhogiáo phủ bên ngoài để tìm cái cốt lõi bên trong thì chúng ta dễ nhận thấy trong mốiquan hệ như cha me, anh em, vợ chồng, làng xóm… người Việt Nam chúng ta lấy
tình thương yêu làm cơ sở cho cách xử thế ở đời và coi đó là triết lý sống Người
Việt thường khen ngợi và đề cao những tấm gương vì nghĩa, lên án những kẻ ácnhân, không tha thứ cho kẻ bạc tình, bạc nghĩa Tình thương yêu con người đã trởthành nếp nghĩ, hành động phổ biến của người dân Việt
Thứ hai, cơ tầng bản địa Đông Nam Á với nền văn minh nông nghiệp lúa nước, trọng tĩnh, lấy gia đình là hạt nhân.
Nho giáo khi vào Việt Nam đã chịu sự tiếp biến của cơ tầng bản địa ĐôngNam Á của người Việt Nếu làm phép so sánh nhỏ, ta sẽ nhận thấy: nước Việt Namxưa nằm ở lưu vực sông Hồng, khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất phù sa nâu do sông
Trang 10bồi, nông nghiệp tưới nước, ăn cơm xôi, ở nhà sàn, đi lại bằng thuyền bè…, vớiđặc trưng là nền văn minh nông nghiệp lúa nước, trọng tĩnh, lấy gia đình là hạtnhân và mang tinh thần nhân văn sâu sắc Còn Trung Quốc nằm ở lưu vực sôngHoàng Hà, khí hậu đại lục, mùa đông băng giá, đất hoàng thổ do gió cuốn, đấtnông nghiệp nửa khô hạn nên nông nghiệp trồng khô, ăn bánh cháo, ở nhà hầm, đilại trên bộ bằng ngựa…, với đặc trưng là văn minh du mục, trọng động và mangtính quyết liệt hơn.
Nếu hiểu văn hóa là môi trường được con người thích nghi và biến đổi thì tínhsông nước được xem là một đặc trưng của văn hóa Việt Nam Từ xa xưa, nơi ở củangười Việt là miền sông nước, gắn trồng trọt với chài lưới, thuyền bè đã trở thànhmột phương tiện giao thông quan trọng trong nếp sinh hoạt hàng ngày Làm ruộng,trồng lúa thì mối quan tâm hàng đầu cũng là nước Thế cho nên, tâm thức ngườiViệt, từ lâu đã không thể không bận lòng vì nước Người Việt đã đồng nhất khônggian xã hội, cộng đồng lãnh thổ, Tổ quốc với nước Nước, qua quá trình ‘‘nghiệmsinh và nội tâm hóa” của người Việt đã trở thành lòng khoan dung, đại lượng nhưcách ứng xử với kẻ thù của những vị vua lịch sử Việt Nam Triết lý sống ‘‘nướcchảy đá mòn ” là lý giải biện chứng cho: nhu có thể thắng cương, yếu có thể chốngmạnh, ít có thể địch nhiều… đó chính là bản sắc văn hóa Việt Bản sắc văn hóa này
là một trong những nhân tố làm thay đổi nội dung của những phạm trù đạo đức cơbản của Nho giáo mà tác giả sẽ trình bày ở phần sau
Thứ ba, chủ nghĩa yêu nước (tư tưởng yêu nước) Việt Nam.
Đối với dân tộc Việt Nam, yêu nước là tư tưởng hàng đầu như sợi chỉ đỏxuyên suốt lịch sử dân tộc Từ truyền thuyết Thánh Gióng đến phong trào CầnVương và các cuộc cách mạng sau này, tư tưởng yêu nước luôn chói sáng khôngbao giờ tắt Tư tưởng yêu nước Việt Nam luôn được bảo tồn, củng cố, không để bịsát nhập hay đồng hoá bởi dân tộc nào, dù dân tộc đó có nền văn hoá lớn, từng xâmlược Việt Nam nhiều lần và thống trị rất lâu dài nhiều thế kỷ Tư tưởng yêu nướcViệt Nam là tư tưởng chiến đấu hết sức kiên trì, lấy yếu thắng mạnh, lấy ít thắngnhiều, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn Tư tưởng yêu nước Việt Nam là hiếu sinhkhông hiếu sát, kiên quyết chiến tranh để nhằm mục đích hoà bình, xây dựng đấtnước Tư tưởng yêu nước Việt Nam là “lấy dân làm gốc”, thời chiến thì nhờ vàonhân dân để bảo vệ nền độc lập, thời bình thì nuôi dưỡng sức dân, làm cho thôncùng xóm vắng không có tiếng oán hờn Tình yêu nước của nhân dân Việt Namgiản dị như không khí và ánh sáng Nó thấm vào máu thịt của mỗi người Suốt mấynghìn năm lịch sử, tinh thần yêu nước được coi là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giáđạo đức của con người
Bởi vậy, khi Nho giáo vào Việt Nam, văn hoá Việt Nam đã tiếp biến Nhogiáo Trung Quốc, kết hợp với văn hoá Việt hình thành một loại Nho giáo lấy
“Nghĩa” làm trọng Chính vì được sinh ra trong một hoàn cảnh như vậy, cho nên
người Việt đề cao chữ Nghĩa, là một phạm trù đạo đức của Nho giáo, trong đó
nhấn mạnh sự đoàn kết tương thân tương ái và nhấn mạnh cả kỷ cương trong quan
hệ giữa cộng đồng và cá nhân
Trang 112.2.2 Biể u hiệ n đặ c thù củ a mộ t số phạ m trù cơ bả n trong đạ o đứ c Nho giáo ở Việ t Nam
Lễ giáo của phong kiến nước ngoài cùng với những lời răn dạy của Khổng
Tử khi đi vào đời sống của nhân dân không thể không gặp những phản ứng gay gắtban đầu Với những truyền thống lâu đời của mình trong dựng nước và giữ nước,nhân dân ta đã chống lại Nho giáo, đặc biệt là ở tinh thần nô dịch, tính chất phảnnhân đạo của nó
Luận án đi vào phân tích những quan điểm về Nhân, Nghĩa, Trung, Hiếu…của ba nhà nho đại diện cho tầng lớp nho sĩ Việt xưa: Nguyễn Trãi, Bùi Huy Bích,Nguyễn Đình Chiểu:
Nếu Nhân, Nghĩa của Khổng Tử được thể hiện trong mối quan hệ vua tôi,cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè, ở nghĩa vụ trung thành tuyệt đối trong quan hệvua tôi, ở nghĩa vụ tôn thờ một cách mù quáng vị Hoàng đế của mình - người thaytrời mà thống trị nhân dân cả nước trong thiên hạ, thì dân tộc Việt Nam không thừanhận nhân nghĩa theo kiểu ấy Nguyễn Trãi đã nhấn mạnh yêu cầu đầu tiên củanhân nghĩa là yên dân, là thương dân và giúp dân trừ bạo Nhân nghĩa của Nhogiáo là đạo đức nhân nghĩa chung chung (nhân là yêu người, nghĩa là điều nênlàm) Nhân nghĩa khi vào Việt Nam đã được Nguyễn Trãi xác định rõ đối tượng vàyêu cầu Đối tượng của ‘‘nhân” ở đây là quần chúng dân đen, con đỏ đang quằnquại trong cảnh nước mất nhà tan Yêu cầu của ‘‘nghĩa” ở đây là hành động chiếnđấu để giải phóng đất nước đang bị quân thù giày xéo để trả nợ nước đền ơn dân
Bên cạnh quan niệm về nhân nghĩa, Nguyễn Trãi cũng nói rất nhiều về trunghiếu, về nghĩa quân thần và đạo phụ tử Trung hiếu là lẽ sống của Nguyễn Trãi, làphẩm chất ‘‘mài chẳng khuyết, nhuộm chẳng đen” Ở Khổng giáo, trung là trungvới ông vua của mình, trung với dòng họ nhà vua ấy Nguyễn Trãi với truyền thốngdân tộc không bao giờ quan niệm trung là trung với một dòng họ Tổ quốc theoông không phải của riêng một triều đại mà của toàn thể nhân dân
Đến Bùi Huy Bích - một nhà Nho của thế kỷ 18, được bồi dưỡng về Nhogiáo từ thủa lọt lòng, quan niệm về Hiếu là nghĩa vụ của con cháu đối với việc thờcúng và giữ gìn mồ mả của tổ tiên Khi đã thờ cúng là phải có lòng thành kính.Trong các tác phẩm của mình ông nói nhiều về đạo Hiếu trong gia đình để răn dạycon cháu những đức tính tốt đẹp, những tấm gương Trung Hiếu ,Tiết Nghĩa của tổtiên; về Trung: Ông giữ trọn vẹn tấm lòng thần tử với vua Lê chúa Trịnh thời bấygiờ Cũng như hầu hết các nhà Nho thời bấy giờ, Bùi Huy Bích luôn một lòng thờvua và kính chúa Suốt cuộc đời mình ông một lòng giữ trọn chữ Trung với chúa
và lo cho đất nước được thanh bình, nhân dân được ấm no
Ở Nguyễn Đình Chiểu lại quan niệm: Nhân là lòng thương người, là tinhthần vị tha, là sự quan tâm đến đời sống của nhân dân Còn Nghĩa được hiểu cóliên hệ với vấn đề trách nhiệm và hành vi đạo đức nhằm bảo vệ trật tự xã hội đãđược xác định để duy trì cuộc sống yên lành của mọi người Nguyễn Đình Chiểu
đã nhào nặn lại khái niệm nhân nghĩa của Nho giáo và gạt bỏ đi những thành phầntiêu cực Ông đã làm cho những khái niệm ấy biến đổi về mặt nội dung cho phù
Trang 12hợp với yêu cầu vận dụng của mình Nguyễn Đình Chiểu đã đưa vào khái niệmnhân, nghĩa những yếu tố lành mạnh từ trong cuộc sống của nhân dân Đối vớiNguyễn Đình Chiểu, khái niệm nhân không chỉ được giới hạn trong một số đẳngcấp bên trên như Khổng Tử Nhân ở ông đề cập đến tất cả các tầng lớp nhân dântrong xã hội.
Ngoài khái niệm nhân nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu còn đề cập đến các phạmtrù khác của Nho giáo như Trung, Hiếu, tiết hạnh… Trung trong quan niệm củaNguyễn Đình Chiểu đã có những cải biến nhằm đáp ứng trước yêu cầu dân chủ vàdân tộc của nhân dân Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ 19 Ông cho rằng đạo trung quân
là cần thiết cho mọi người Nhưng ông đòi hỏi một ông vua được mọi người tônthờ phải là ông vua hiền tài, thương dân và yêu nước Ông vua ấy phải tượng trưngcho hạnh phúc của nhân dân và nền tự chủ của đất nước Nguyễn Đình Chiểu xuấtphát từ yêu cầu và khát vọng của nhân dân được sống hạnh phúc trong hòa bình vàđộc lập để quy định vai trò và chức năng của một ông vua trong xã hội Đó là điều
mà các nhà kinh điển của Nho giáo không thể có được Trung theo quan niệm củaNguyễn Đình Chiểu còn gắn liền với hiếu để cùng nêu lên những phẩm chất có liên
hệ với nhau của một con người Qua sự vận dụng của ông, phạm trù Hiếu của Nhogiáo đã đỡ cứng nhắc và trở lên gần gũi với nhân dân Hiếu ở ông là lòng biết ơn,tôn kính cha mẹ, là trách nhiệm trông nom, chăm sóc cha mẹ với tất cả tình cảmsâu nặng của người con
Chịu ảnh hưởng của Nho giáo là một tất yếu đối với mọi người trí thức dướichế độ phong kiến, nhưng ở Nguyễn Đình Chiểu sự gắn bó thường xuyên với nhândân và truyền thống yêu nước của dân tộc đã đưa vào những phạm trù đạo đức Nhogiáo mà ông sử dụng một nội dung tích cực, thể hiện đạo lý làm người và nhữnggiá trị đạo đức tốt đẹp của nhân dân ta
Bên cạnh Nhân, Nghĩa, Trung, Hiếu, những phạm trù Lễ, Trí, Tín cũng đượccác nhà nho Việt Nam tiếp thu và phát triển Khi vào Việt Nam, Lễ của nho giáo
đã được các nhà nho Việt Nam hiểu: một mặt là để tổ chức xã hội, tổ chức cuộcsống, một mặt là đạo đức, là ý thức, thái độ giữ gìn, tôn trọng nếp sống, kỷ cương,những quy định lễ nghi, trật tự của xã hội
Về Trí: Các nhà nho Việt Nam hiểu, gắn liền với Trí là sự hiểu biết Đầu mốicủa Trí ở bên trong con người là lòng thị phi, làm cho con người phân rõ phải trái,đúng sai, qua đó xác định cho mình cách ứng xử cho phải đường đạo Con ngườiphải có Trí mới đạt được Nhân vì vậy không thể là người nhân mà lại thiếu trí, chonên để thành người có nhân, thành con người hoàn thiện thì phải học
Về Tín: Trên cơ sở nội dung của nho giáo về Tín, các nhà nho Việt Nam khitiếp nhận và hiểu, Tín có nghĩa là lòng tin, sự tín nhiệm, đức hạnh của một conngười được xã hội thừa nhận Nhân dân ta chấp nhận chữ Tín như một đức tính cầnthiết của con người trong cách xử thế giao dịch, làm ăn, nên mới có câu: ‘‘một sựbất tín vạn sự bất tín” là xuất phát từ quan niệm trên
Ngoài ra, nhân dân Việt Nam còn có truyền thống quý báu lâu đời đó là đứctính cần cù và tiết kiệm Nhờ cần cù trong lao động và tiết kiệm trong chi tiêu mà