1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ em từ 2 đến 5 tuổi tại các trường mẫu giáo nội thành hà nội (tt)

30 558 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 411,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ai cần bản full thì liên hệ mình sẽ gửi qua cho nhé. :)

Trang 1

NGUYỄN TUYẾT XƯƠNG

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VÀ YẾU TỐ NGUY

CƠ CỦA NGHE KÉM Ở TRẺ EM TỪ 2 ĐẾN

5 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG

-* -

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Viện Vệ sinh Dịch tễ

Luận án sẽ (hoặc đã) được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận

án nhà nước họp tại

Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, vào hồi giờ , ngày tháng năm 20

Có thể tìm hiểu luận án tại:

1 Thư viện Quốc gia

2 Thư viện Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ Nghe kém là hiện tượng giảm một phần hay toàn bộ khả năng cảm nhận về âm thanh Nghe kém có thể gặp ở mọi lứa tuổi và có thể do nhiều nguyên nhân gây ra Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), có khoảng 5% dân số, tương đương với 360 triệu người trên toàn thế giới bị nghe kém, trong đó có 32 triệu trẻ em bị vấn đề này

Theo Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, toàn thành phố

có 840 trường mầm non, trong đó 85,0% là công lập chiếm hơn 90,0% tổng số học sinh mầm non Cũng như các địa phương khác, đến nay Hà Nội vẫn chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu đặc điểmvà các yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ em độ tuổi từ 2 tuổi đến 5 tuổi Vì vậy, việc nghiên cứu các đặc điểm và các yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ trong độ tuổi nói trên là hết sức cần thiết nhằm cung cấp những số liệu khoa học về các vấn đề nêu trên

Từ những lý do trên, đề tài nghiên cứu “Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ em từ 2 đến 5 tuổi tại các trường mẫu giáo nội thành Hà Nội” được thực hiện với hai mục tiêu sau:

1 Mô tả một số đặc điểm của nghe kém ở trẻ em từ 2 tuổi đến 5 tuổi tại các trường mẫu giáo nội thành Hà Nội,

2011 - 2012

2 Xác định một số yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ em

từ 2 đến 5 tuổi khu vực nội thành Hà Nội

Trang 4

Ý NGHĨA THỰC TIỄN VÀ CÁC ĐÓNG GÓP MỚI

CỦA LUẬN ÁN

- Tính mới: Đây là nghiên cứu đầu tiên sử dụng máy đo OAE sàng lọc nghe kém ở lứa tuổi từ 2-5 tuổi tại các trường mẫu giáo tại Hà Nội

- Tính ứng dụng: Thông tin về tình hình dịch tễ học nghe kém ở trẻ từ 2-5 tuổi ở nội thành Hà Nội là bằng chứng, cơ sở khoa học nhằm xây dựng các chương trình sàng lọc, dự phòng nghe kém cho trẻ tại cộng đồng Những kết quả nghiên cứu luận án là cơ sở cho các nghành có liên quan hoạch định chiến lược can thiệp nghe kém phù hợp và có hiệu quả

CẤU TRÚC LUẬN ÁN Luận án gồm 93 trang, 4 chương: Đặt vấn đề: 2 trang, Chương 1 - Tổng quan: 30 trang, Chương 2 - Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 14 trang, Chương 3 - Kết quả:

23 trang, Chương 4 - Bàn luận: 21 trang, Kết luận: 1 trang, Khuyến nghị: 1 trang, Những đóng góp của luận án: 1 trang Luận án có 30 bảng, 4 biểu đồ, 8 hình, 1 sơ đồ, 134 tài liệu tham khảo trong và ngoài nước

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.4 Tình hình nghe kém

1.4.1.3 Tình hình nghe kém ở trẻ dưới 6 tuổi

Một nghiên cứu thuần tập ở Atlanta, Mỹ ở trẻ từ 3-10 tuổi cho thấy tỷ lệ trẻ bị nghe kém nặng tăng dần theo độ tuổi, từ 0,67/1000 trẻ 3 tuổi đến 1,38/1000 ở trẻ 10 tuổi Nghiên cứu cũng cho thấy nghe kém mức độ vừa là mức

độ chủ yếu trong các mức độ nghe kém (46%) Các nước

Trang 5

có thu nhập thấp có tỷ lệ nghe kém ở trẻ em cao hơn ở các nước phát triển

1.4.2 Tình hình nghe kém ở Việt Nam

Ở Việt Nam còn ít các nghiên cứu về giảm thính lực ở trẻ em Năm 2001, tác giả Lê Thị Lan và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu phản ứng thính giác trên 900 trẻ sơ sinh có nguy cơ cao tại bệnh viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ em bằng chuông tự tạo Kết quả cho thấy tỷ lệ không đáp ứng với âm thanh ở trẻ sơ sinh có nguy cơ cao là 4,4%

Phạm Thị Cơi và cộng sự đã xác định vai trò của âm phát ốc tai kích thích trong đánh giá thính giác ở 823 trẻ dưới 5 tuổi được chọn ngẫu nhiên tại Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ, kết quả cho thấy 4,87% cho kết quả nghi ngờ giảm thính lực cần phải kiểm tra lại Gần đây, một nghiên cứu sàng lọc nghe kém ở trẻ sơ sinh đã được tiến hành với 12.202 trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội bằng phương pháp đo âm ốc tai cho thấy, có tới 3,4% trẻ sơ sinh có nghi ngờ bị giảm thính lực

1.5 Các yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ

1.5.1 Các yếu tố bẩm sinh

1.5.1.1 Yếu tố liên quan đến di truyền

Khoảng 50% tất cả các trường hợp nghe kém bẩm sinh

là do di truyền Trong số đó, khoảng 70% nhiếm sắc thể (NST) thường dạng trội và 1 - 2% di truyền qua NST giới tính X Nghe kém nằm trong hội chứng chiếm 30% tổng

số điếc di truyền

1.5.1.2 Yếu tố nguy cơ trong quá trình mang thai

1.5.1.2.1 Nhiễm khuẩn trong quá trình mang thai

Trang 6

Bà mẹ bị một số bệnh nhiễm trùng như Rubella, giang mai trong quá trình mang thai có thể là nguyên nhân gây nghe kém hoặc điếc ở những đứa trẻ do họ sinh ra

1.5.1.2.2 Dùng thuốc trong quá trình mang thai

Sử dụng một số loại thuốc gây ngộ độc như nhóm aminoglycosides, cytotoxic, thuốc điều trị sốt rét và thuốc lợi tiểu trong quá trình mang thai có nguy cơ gây nghe kém bẩm sinh

1.5.1.3 Yếu tố nguy cơ trong khi sinh

1.5.1.3.1 Đẻ non, cân nặng sơ sinh thấp

Mối liên quan giữa trẻ sơ sinh đẻ non, cân nặng thấp lúc sinh (<1500g) và giảm thính lực đã được nêu ra trong nhiều nghiên cứu trên thế giới Tuy nhiên cơ chế thực chất của mối liên quan này vẫn còn chưa được hiểu rõ

1.5.1.3.2 Thiếu Oxy

Những trẻ sơ sinh bị thiếu oxy hay ngạt các tế bào hạch

ốc tai sẽ bị ảnh hưởng trước tiên Thiếu oxy nặng hơn sẽ gây phá hủy ốc tai, đặc biệt là các tế bào lông ngoài và lớp vân mạch máu Tuy nhiên cũng không có ngưỡng xác định

về mức độ thiếu oxy gây ảnh hưởng đến thính lực

1.5.1.3.3 Vàng da sau sinh

Tăng Bilirubin tự do có thể gây tổn thương chọn lọc nhân thần kinh thính giác thân não và cũng có thể phá hủy dây thần kinh thính giác và tế bào hạch ốc tai do tác động làm ứ trệ canxi nội bào noron thần kinh Cơ quan Corti và đường dẫn truyền thần kinh thính giác qua đồi thị -vỏ não thường không bị ảnh hưởng Vàng da nặng trong giai đoạn

Trang 7

trẻ sơ sinh có thể gây tổn thương thần kinh nghe, qua đó gây nghe kém ở trẻ

1.5.2 Các nguyên nhân mắc phải

1.5.2.1 Trẻ bị nhiễm khuẩn

1.5.2.1.1 Viêm màng não

Viêm màng não (VMN) là một yếu tố quan trọng gây nghe kém ở trẻ em Nó cũng là nguyên nhân thường gặp nhất gây nghe kém tiếp nhận mắc phải Có khoảng 10% trẻ em bị nghe kém ở các mức độ khác nhau sau khi bị VMN Trẻ em bị VMNM có nguy cơ bị điếc cao nhất

1.5.2.1.2 Viêm tai mạn tính

TCYTTG chỉ ra rằng, khoảng 90% ca mắc viêm tai tập trung ở các nước trong khu vực Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương và khu vực Châu Phi

1.5.2.2 Tiền sử sử dụng thuốc ở trẻ em

1.5.2.2.1 Thuốc kháng sinh

Các loại thuốc kháng sinh là lựa chọn tốt trong các điều trị nhiễm khuẩn, tuy nhiên chúng có thể gây ảnh hưởng đến bộ phận ốc tai và tiền đình

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Trẻ em từ 2 tuổi đến 5 tuổi

- Các bà mẹ của trẻ đang học ở các trường mẫu giáo

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Trẻ có trong danh sách quản lý tại các trường mẫu giáo và các bà mẹ của trẻ đồng ý cho con tham gia vào nghiên cứu

và trả lời phỏng vấn

Trang 8

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Các trường mẫu giáo tại các quận nội thành Hà Nội

2.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 6/2011 đến tháng 02/2012

2.4 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang (phục vụ cho mục tiêu 1)

- Nghiên cứu bệnh chứng (phục vụ cho mục tiêu 2)

2.5 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.5.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả cắt ngang:

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu xác định tỷ lệ như sau:

Trong đó:

n: là cỡ mẫu tối thiểu

: Độ tin cậy ở ngưỡng 95%, với α = 0,05,

Trang 9

2.5.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu bệnh chứng

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu bệnh – chứng như sau:

Trong đó:

n: Cỡ mẫu tối thiểu

r: Tỷ số cỡ mẫu giữa 2 nhóm, trong nghiên cứu này thiết

kế nghiên cứu bệnh:chứng theo tỷ lệ 1:2, do đó r=2

β: Lực mẫu, lấy 80,0%, do đó Z=0,84

α = 0,05, do đó Zα/2 = 1,96

OR: Tỷ suất chênh mong muốn, lấy OR = 3

p: Tỷ lệ mắc viêm tai giữa mạn ở trẻ em, ước tính p = 4,0%

Thay số vào ta có

Như vậy cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu này là 762 trẻ, trong đó nhóm bệnh cần ít nhất 254 trẻ nghe kém, nhóm chứng cần ít nhất 508 trẻ không nghe kém

Định nghĩa ca bệnh:

- Là những trẻ từ 2 tuổi đến 5 tuổi có kết quả đo OAE lần

1 âm tính trong sàng lọc nghe kém ở cộng đồng (mô tả ở mục tiêu 1), và có kết quả OAE lần 2 âm tính và được xác định nghe kém qua đo ABR hoặc đơn âm tại phòng cách

Trang 10

âm chuẩn tại Trung tâm thính học của Bệnh viện Nhi Trung ương

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

Đo âm ốc tai của trẻ sử dụng máy đo OAE

Điều tra viên sẽ mang máy đo OAE đến các trường mẫu giáo đã được chọn và tiến hành đo âm ốc tai trẻ theo quy trình chuẩn

Khám và đo thính lực

Những trẻ có kết quả đo âm ốc tai OAE âm tính lần 1 (lần đo tại các trường) sẽ được mời về Bệnh viện Nhi Trung ương để đo âm ốc tai kích thích lần 2 (OAE lần 2)

và tiến hành khám thính lực

Phỏng vấn

Phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ của trẻ trong đối tượng nghiên cứu, sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn nhằm

Trang 11

thu thập thông tin về tuổi, giới, trường học của trẻở tất cả các trẻ

2.7 Công cụ thu thập số liệu

- Bộ câu hỏi được thiết kế sẵn

- Máy đo OAE loại GSI, Audx của Mỹ

- Máy đo ABR, đơn âm loại GSI của Mỹ

- Bệnh án mẫu nghiên cứu được thiết kế sẵn

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm của nghe kém ở trẻ em từ 2 đến 5 tuổi 3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Tổng số có 7191 trẻ em ở 5 quận tham gia vào nghiên cứu đáp ứng cỡ mẫu theo yêu cầu, số trẻ phân bố được chọn vào nghiên cứu của các quận không có sự khác biệt 3.1.2 Kết quả khám sàng lọc tại cộng đồng (đo âm Ốc tai lần 1)

Sàng lọc được 337 trẻ có kết quả OAE (-) chiếm tỷ lệ 4,7% Trẻ 2 tuổi chiếm tỷ lệ 8,1% Không có sự khác biệt giữa nam và nữ

3.1.2.4 Kết quả khám tại Bệnh viện Nhi (đo âm Ốc tai lần 2)

Trong tổng số 337 trẻ có kết quả đo âm Ốc tai âm tính lần

1, sau khi được khám tai và được đo OAE lần 2 tại phòng cách âm chuẩn của Trung tâm thính học có 314 trẻ có kết quả OAE (-), chiếm 93,2% Tỷ lệ trẻ có kết quả OAE (+)

Trang 12

Bảng 3.1: Tỷ lệ nghe kém theo quận (n=7191)

3.1.3.2 Tỷ lệ nghe kém theo lứa tuổi

Trang 13

5,4

3,1 2

3.1.3.5 Đặc điểm nghe kém theo vị trí tai và giới

Bảng 3.7: Đặc điểm trẻ nghe kém theo vị trí tai và giới

Đặc điểm

Nam (176) Nữ (138) Chung (314)

Số trẻ

trẻ

% Số trẻ

Trang 14

Tổng 176 56,1 138 43, 314 100 Kết quả nghe kém theo vị trí tai cho thấy nghe kém cả hai tai là nghe kém phổ biến nhất ở trẻ mẫu giáo nội thành Hà Nội, chiếm 70,1%, tiếp đến là nghe kém tai trái (16,9%) Chỉ nghe kém tai phải là nghe kém thấp nhất, chỉ 13,0%

Tỷ lệ nghe kém theo vị trí tai ở nam và nữ là gần như nhau

và không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Trang 15

thấp nhất, chỉ 12,4% Trẻ em nam có tỷ lệ nghe kém mức

độ nhẹ và vừa thấp hơn trẻ em nữ, 45,5% so với 46,4% nghe kém mức độ nhẹ và 40,9% so với 42,8% nghe kém mức độ vừa Tuy nhiên trẻ em nam có mức độ nghe kém nặng và sâu cao hơn trẻ em nữ, lần lượt là 13,6% và 10,9% Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Trang 16

kém tiếp nhận cũng cao hơn trẻ em nữ Tuy nhiên tỷ lệ trẻ

em nữ nghe kém hỗn hợp là 18,1%, cao hơn trẻ em nam là 15,9% Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống

Trang 17

3.2.2.1Các yếu tố trước sinh

Bảng 3.19: Mối liên quan giữa tiền sử mẹ bị bệnh khi mang thai và nguy cơ nghe kém ở trẻ

Yếu tố nguy cơ

(95% CI)

Số lượng (%) Số lượng (%) Tiền sử mẹ bị

Trang 18

Tiền sử mẹ bị Rubella trong quá trình mang thai là yếu tố nguy cơ của nghe kém Những trẻ có mẹ có

bị Rubella trong quá trình mang thai có nguy cơ bị nghe kém cao gấp 4,75 lần trẻ không có mẹ bị Rubella (OR=4,75 [1,22–18,49])

3.2.2.2 Các yếu tố khi sinh

Bảng 3.20: Mối liên quan giữa tiền sử khi sinh và nguy cơ nghe kém ở trẻ

Trang 19

So với những trẻ sinh đủ tháng (≥37 tuần tuổi), những trẻ sinh thiếu tháng (<37 tuần tuổi) có nguy cơ

bị nghe kém cao hơn 4,75 lần (OR=4,75 [1,22–18,49]) Trẻ khi sinh có cân nặng <2500g có nguy cơ bị mắc bệnh cao gấp hơn 3 lần so với những trẻ khi sinh có cân nặng ≥ 2500g (OR=3,41 [1,22 – 9,47]) Những trẻ phải can thiệp thở O2, bị ngạt sau khi sinh là yếu tố nguy cơ quan trọng của tình trạng nghe kém (OR=14,70 [3,32-65,11] Những trẻ bị vàng da sau khi sinh phải điều trị có nguy cơ bị nghe kém cao hơn 8,96 lần so với những trẻ không bị

Trang 20

3.2.2.3 Các yếu tố sau sinh

Bảng 3.21: Mối liên quan giữa các yếu tố sau sinh và nguy cơ nghe kém ở trẻ

Trang 22

3.2.2.4 Mối liên quan giữa các yếu tố trước sinh, trong sinh và sau sinh tới nghe kém ở trẻ - mô hình phân tích hồi quy đa biến

Bảng 3.23: Mối liên quan giữa các yếu tố trước sinh, trong sinh và sau sinh tới nghe kém ở trẻ - mô hình

phân tích hồi quy đa biến, Mô hình 2

Trang 23

không bị (OR=26,44 [5,65 – 123,59], trẻ bị bệnh ở tai có nguy cơ nghe kém cao gấp hơn 14 lần trẻ không bị bệnh ở tai (OR=14,03 [9,85 – 19,97]

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 4.1 Đặc điểm nghe kém ở trẻ mẫu giáo nội thành Hà Nội 4.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu này 7191 trẻ từ 2 đến 5 tuổi ở các trường mẫu giáo thuộc 5 quận là Ba Đình, Tây Hồ, Đống

Đa, Thanh Xuân và Hoàng Mai được sàng lọc nghe kém Trong số trẻ được sàng lọc nghe kém, trẻ 2 tuổi có số lượng thấp nhất (9,7%) và số lượng trẻ tăng dần theo tuổi, cao nhất ở trẻ 5 tuổi có số lượng cao nhất (33,7%)

4.1.2.Tỷ lệ nghe kém qua sàng lọc bằng phương pháp OAE

Kết quả sàng lọc giảm thính lực bằng đo âm ốc tai kích thích lần 1 với 7.191 trẻ mẫu giáo cho thấy có 337 trẻ có kết quả âm ốc tai kích thích âm tính (OAE(-)), chiếm 4,7% Tuy nhiên trong lần đó OAE thứ 2 đối với tất cả 337 trẻ này chỉ có 314 trẻ có kết quả OAE (-), chiếm 93,2% số trẻ OAE (-) trong lần 1

Kết quả của nghiên cứu này tương tự kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Cơi và cs năm 2001 về đánh giá vai trò của âm ốc tai trong thính học tại cộng đồng ở 3 tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ trên 823 trẻ dưới 5 tuổi với tỷ lệ trẻ có kết quả OAE (-) là 4,87% Nghiên cứu giảm thính lực ở trẻ sơ sinh bằng đo âm ốc tai sàng lọc cho trẻ sơ sinh tại Hà Nội của Nguyễn Thu Thủy cho thấy trong số 11.789 trẻ sơ sinh được đo OAE sàng lọc 1 lần,

Trang 24

có 413 trẻ, chiếm 3,4% số trẻ sơ sinh có kết quả sàng lọc

âm tính

4.1.3 Tỷ lệ nghe kém qua đo OAE theo tuổi

Trong nghiên cứu này, trẻ 2 tuổi có kết quả OAE (-) cao nhất, chiếm 7,9% Kết quả này tương tự nghiên cứu ở

Mỹ cho thấy, trẻ 2 tuổi là tuổi có tỷ lệ OAE(-) cao nhất, chiếm 10,5% Tỷ lệ OAE (-) có xu hướng giảm dần theo

độ tuổi tăng dần

4.1.5 Nghe kém theo vị trí tai

Kết quả sàng lọc nghe kém qua đo OAE cho thấy nghe kém cả 2 tai là hình thức nghe kém phổ biến nhất, chiếm 70,1% tổng số nghe kém Chỉ nghe kém tai phải hoặc tai trái chiếm tỷ lệ thấp 13,0% và 16,9% Kết quả này cũng tương tự các kết quả nghiên cứu trước đây qua sàng lọc nghe kém bằng đo âm ốc tai Nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy (2005) cho thấy nghe kém cả 2 tai chiếm 85,0%, chỉ nghe kém tai phải hoặc tai trái chỉ chiếm 15,0% Tương tự như vậy, sàng lọc nghe kém ở trẻ sơ sinh tại Thái Bình cũng cho thấy trẻ có kết quả OAE âm tính ở cả 2 tai chiếm

tỷ lệ cao nhất (51,6%) Nghiên cứu của Olusanya (2008) tại Nigeria cũng cho thấy nghe kém cả 2 tai chiếm đa số ở trẻ nhỏ bị nghe kém (83,9%)

4.1.6 Mức độ nghe kém ở trẻ mẫu giáo

Tất cả trẻ em được xác định có nghe kém qua đo OAE lần 2 tại Trung tâm thính học tiếp tục được đo bằng các xét nghiệm chuyên sâu hơn như ABR hoặc đơn âm nhằm xác định trẻ thực sự có nghe kém và mức độ nghe kém của trẻ Kết quả cho thấy nghe kém mức độ nhẹ (21- ≤40 dB)

Ngày đăng: 08/01/2015, 12:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tỷ lệ nghe kém theo quận (n=7191) - Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ em từ 2 đến 5 tuổi tại các trường mẫu giáo nội thành hà nội (tt)
Bảng 3.1 Tỷ lệ nghe kém theo quận (n=7191) (Trang 12)
Bảng 3.7: Đặc điểm trẻ nghe kém theo vị trí tai và giới - Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ em từ 2 đến 5 tuổi tại các trường mẫu giáo nội thành hà nội (tt)
Bảng 3.7 Đặc điểm trẻ nghe kém theo vị trí tai và giới (Trang 13)
Bảng 3.10: Mức độ nghe kém của trẻ theo giới (n=314) - Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ em từ 2 đến 5 tuổi tại các trường mẫu giáo nội thành hà nội (tt)
Bảng 3.10 Mức độ nghe kém của trẻ theo giới (n=314) (Trang 14)
3.1.3.9. Hình thức nghe kém - Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ em từ 2 đến 5 tuổi tại các trường mẫu giáo nội thành hà nội (tt)
3.1.3.9. Hình thức nghe kém (Trang 15)
Bảng 3.19: Mối liên quan giữa tiền sử mẹ bị bệnh khi mang thai và nguy cơ nghe kém ở trẻ  Yếu tố nguy cơ - Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ em từ 2 đến 5 tuổi tại các trường mẫu giáo nội thành hà nội (tt)
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa tiền sử mẹ bị bệnh khi mang thai và nguy cơ nghe kém ở trẻ Yếu tố nguy cơ (Trang 17)
Bảng 3.20: Mối liên quan giữa tiền sử khi sinh và nguy cơ nghe kém ở trẻ - Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ em từ 2 đến 5 tuổi tại các trường mẫu giáo nội thành hà nội (tt)
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa tiền sử khi sinh và nguy cơ nghe kém ở trẻ (Trang 18)
Bảng 3.21: Mối liên quan giữa các yếu tố sau sinh và nguy cơ nghe kém ở trẻ - Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ em từ 2 đến 5 tuổi tại các trường mẫu giáo nội thành hà nội (tt)
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa các yếu tố sau sinh và nguy cơ nghe kém ở trẻ (Trang 20)
Bảng 3.23: Mối liên quan giữa các yếu tố trước sinh,  trong sinh và sau sinh tới nghe kém ở trẻ - mô hình - Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ của nghe kém ở trẻ em từ 2 đến 5 tuổi tại các trường mẫu giáo nội thành hà nội (tt)
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa các yếu tố trước sinh, trong sinh và sau sinh tới nghe kém ở trẻ - mô hình (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w