1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kĩ năng đọc tiếng việt của học sinh lớp 2 dân tộc thái huyện thuận châu sơn la 1

32 733 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 162,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Để thực hiện nhiệm vụ thứ hai của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu thực tiễn sau: + Phương pháp quan sát Việc quan sát quá trình

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mét trong những KN quyết định chất lượng học tập của học sinh TH là KNđọc tiếng Việt Đọc tiếng Việt là phương tiện để học sinh lĩnh hội và tiếp thu đượccác môn học khác Học sinh tiểu học chỉ có thể học và học tốt các môn khác khicác em biết đọc thành thạo tiếng Việt

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc anh em), sù phát triển về các lĩnhvực kinh tế - xã hội, văn hoá, và nhất là lĩnh vực giáo dục, có sự chênh lệch lớngiữa miền đồng bằng và miền núi Sơn La là tỉnh miền núi nghèo nàn, lạc hậu vàchậm phát triển nhất về mọi mặt so với cả nước, nơi tập trung sinh sống của nhiềudân tộc thiểu số (người Thái, người H’Mông, người Mường, người Khơ mú ) vàmỗi dân tộc có một tiếng nói và chữ viết riêng của mình Do đó, đối với người dântộc thiểu số nói chung và học sinh tiểu học là người dân tộc nói riêng, tiếng Việt làngôn ngữ thứ hai nên họ có Ýt nhiều hạn chế trong quá trình học và sử dụng tiếngViệt, nhất là KNĐTV

Qua quan sát cho thấy, học sinh lớp 2 dân tộc vùng miền núi Sơn La khi đọctiếng Việt gặp nhiều khó khăn nhất là trong cách phát âm và hiểu nghĩa Những khókhăn này của các em có thể là do sù ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, do sù hạn chế về điềukiện sử dụng tiếng Việt (chủ yếu sử dụng ở trường), đặc biệt là những HSDTThái sinh sống ở những vùng sâu, vùng xa, Ýt có sù giao lưu với người Kinh

Muốn khắc phục những hạn chế này, đòi hỏi chúng ta phải hiểu một cách đầy

đủ, sâu sắc và đánh giá được một cách chính xác KNĐTV của học sinh tiểu học làngười dân tộc để từ đó có hướng khắc phục

Đọc tiếng Việt không phải là vấn đề mới, đã có nhiều công trình nghiên cứu ởViệt Nam Nhưng vẫn còn quá Ýt công trình nghiên cứu về vấn đề đọc tiếng Việtcủa học sinh dân tộc thiểu số, đặc biệt là vấn đề KNĐTV của học

sinh tiểu học là người dân tộc cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứunào đề cập một cách có hệ thống và triệt để

Trang 2

Tõ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: Kĩ năng đọc tiếng Việt của học sinh lớp 2 dân tộc Thái huyện Thuận Châu - S¬n La.

2 Mục đích nghiên cứu

Phát hiện được thực trạng KNĐTV của học sinh lớp 2 dân tộc Thái huyệnThuận Châu - S¬n La từ đó đưa ra những đề xuất nhằm góp phần hoàn thiệnKNĐTV cho các em

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hoá các khái niệm cơ bản làm cơ sở lí luận cho đề tài: KN,KNĐTV

3.2 Tìm hiểu thực trạng KN đọc tiếng Việt của học sinh lớp 2 dân tộcTháihuyện Thuận Châu - S¬n La

3.3 Kết luận và đề xuất sư phạm

4 Giả thuyết khoa học

Học sinh lớp 2 dân tộcThái huyện Thuận Châu - Sơn La có KNĐTV ở mức

độ chưa cao Trong đó, tốc độ đọc TV còn chậm, đọc chưa đúng ngữ điệu TV, mắcnhiều lỗi trong phát âm; nhận dạng chi tiết bài trong đọc TV chưa đầy đủ, hiểuđược ý chính của đoạn trong bài đọc TV, nhưng không có khả năng ứng dụng cũngnhư khả năng sáng tạo bài đọc TV Có sự khác biệt giữa HS các vùng về trình độKNĐTV

Thực trạng KN trên là do sù hạn chế về môi trường giao tiếp TV và sù giaothoa giữa tiếng mẹ đẻ của các em với tiếng Việt

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

5.1 §èi tîng nghiên cứu: KNĐTV

5.2 Khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu 69 HS lớp 2 DT Thái tại các trườngtiểu học thuộc các vùng khác nhau trong huyện Thuận Châu – Sơn La:

+ Trường Tiểu học Chiềng Bôm : 29 học sinh (Vùng III)

+ Trường Tiểu học Chiềng Ly : 26 học sinh (Vùng II)

+ Trường Tiểu học Thị trấn Thuận Châu: 14 học sinh (VùngI) (Vïng I)

Trang 3

6 Phương pháp nghiên cứu

chúng tôi sử dụng mét sè phương pháp nghiên cứu sau:

6.1 Nhóm phương pháp phân tích tài liệu

Nhóm phương pháp đọc và phân tích tài liệu được chúng tôi sử dụng để thựchiện nhiệm vụ thứ nhất của đề tài Chúng tôi đọc và phân tích những tài liệu lí luậnliên quan đến đề tài: tâm lí học, ngôn ngữ học, sách giáo khoa tiếng Việt lớp 2 ,nhằm hệ thống hoá được hệ thống lí luận làm cơ sở của đề tài

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Để thực hiện nhiệm vụ thứ hai của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu thực tiễn sau:

+ Phương pháp quan sát

Việc quan sát quá trình đọc TV và học TV của học sinh ở trên lớp, mức độ sửdụng tiếng Việt và tiếng DT của các em trong các giờ ra chơi ở trường, cũng như ởnhà , là những thông số giúp chúng tôi lí giải nhiều vấn đề trong quá trình nghiêncứu

Trang 4

Nhằm thu thập những thông tin về cá nhân HS , gia đình HS và những quan điểmcủa GV trực tiếp giảng dạy HS lớp 2 về thực trạng KNĐTV của HSDT Thái.

6.3 Nhóm phương pháp toán thống kê

Các phương pháp toán thống kê sử dụng các đại lượng: số trung bình cộng, độlệch chuẩn, hệ số tương quan, kiểm định đánh giá các kết quả nghiên cứu đượcchúng tôi sử dụng để xử lí các số liệu, thông tin mà chúng tôi thu thập được Trên

cơ sở các số liệu đó, chúng tôi rút ra được các kết luận khoa học về những thôngtin thu được

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

7.1 Giới hạn nghiên cứu:

- Về nội dung:

KNĐTV gồm các hình thức: đọc thành tiếng và đọc thầm Trong khuôn khổluận văn tốt nghiệp, tôi chỉ nghiên cứu thực trạng KNĐTV thành tiếng của họcsinh dân tộc lớp 2

- Về địa bàn và khách thể nghiên cứu:

Huyện Thuận Châu – Sơn La là địa bàn chủ yếu tập trung sinh sốngcủangười DT Thái nên trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp này, tôi chỉ nghiên cứutrên những khách thể là HSDT Thái

dạy và học TV của HSDT Thái

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

Trang 5

1.1 Sơ lược lịch sử nghiờn cứu vấn đề

Từ lõu, vấn đề KN đọc và KNĐTV đó được nghiờn cứu dưới nhiều lĩnhvựcnh ngụn ngữ học, tõm lớ học, tõm lớ học ngụn ngữ và cho ra đời nhiều cụngtrỡnh nghiờn cứu của nhiều tỏc giả khỏc nhau Trong đề tài của này, chỳng tụi sẽ đềcập vấn đề này theo hai bỡnh diện chớnh như sau:

+ Lịch sử nghiờn cứu KN

+ Lịch sử nghiờn cứu KN đọc và KN đọc hiểu TV

1.1.1 Vấn đề KN đó được cỏc nhà tõm lớ học nghiờn cứu từ lõu dưới nhiều gúc độkhỏc nhau Nhưng nhỡn chung theo hai hướng chớnh:

* Hướng nghiờn cứu kĩ năng ở mức độ khỏi quỏt

Đại diện củahướng nghiờn cứu này cú: P.Ia.Galperin, K.K.Platụnov, P.V.Pờtrụpxki, V X Cudin…

P.Ia.Galperin, trong cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu của mỡnh [33] [Theo 28] chủyếu đi sõu vào vấn đề hỡnh thành tri thức, KN theo lớ thuyết hỡnh thành hành độngtrớ tuệ theo giai đoạn (xem mục 1.2.2)

K K Platụnov trong bài “Về cỏc tri thức, kĩ xảo và KN” đó trỡnh bày khỏiquỏt ba khỏi niệm: tri thức, kĩ xảo, KN và mối quan hệ giữa chúng theo quan niệmcủa ụng và cỏc nhà tõm lớ khỏc [Theo 4]

* Hướng nghiờn cứu kĩ năng ở mức độ cụ thể

Đõy là hướng nghiờn cứu lớn về KN, gắn liền với nhiều nhà tõm lớ lớn và

trong nhiều lĩnh vực lĩnh vực hoạt động cụ thể nh: KN hoạt động sư phạm(A.A.Leonchiev, X.I.Kixegof…), KN lao động (V.V.Tsebbưseva, V.G.Look,E.A.Milerian…), KN học tập (G.X.Kochiuc, N.A.Menchinxcaia…)

1.1.2 KN đọc và KNĐTV được nhiều tỏc giả khỏc nhau trong và ngoài nướcnghiờn cứu từ lõu với cỏc cụng trỡnh như sau:

* Nước ngoài

Năm 1905, tác giả E.Javal (Pháp)với tác phẩm “Sinh lí học của việc dạy

đọc và dạy viết”

Trang 6

Nhiều tỏc giả chủ yếu đi sõu vào nghiờn cứu liờn quan tới vấn đề KN đọc ởcỏc khớa cạnh khỏc nhau trong phương diện giỏo học phỏp như: về nguyờn tắc dạyhọc đọc, về phương phỏp dạy đọc, về cỏc giai đoạn và con đường và hỡnh thành

KN đọc, vấn đề kiểm tra - đỏnh giỏ KN đọc… với cỏc đại biểu như: F.Closset,W.S.Gray, I A Dimnhia…[Theo 27]

KN đọc cũng được cỏc nhà tõm lớ học nghiờn cứu nh: A.A.Leonchiev, I.G

Êgorôv, D.I.Cltrnhicova (Nga); F.J.Schonell (Anh); H.P.Smith vàEm.V.Dechant (Mĩ)… Trong đó:

I G ấgorụv cú cụng trỡnh “Tõm lớ học nắm vững kĩ xảo đọc” và “Nhữngkhảo luận của tõm lớ dạy trẻ em đọc”, đó đề cập tới cỏc cấp độ đọc hiểu khỏc nhau

và quan hệ giữa chúng trong việc hỡnh thành kĩ xảo đọc [Theo 4]

H P Smith và Em V Dechant cú cụng trỡnh “Psychology in teaching ofreading” (1961), trỡnh bày cỏc vấn đề: khỏi niệm đọc, cỏc cơ sở của đọc, cỏc yếu tố

cỏ nhõn trong quỏ trỡnh đọc…[Theo 4]

+ Nghiờn cứu về phương phỏp dạy đọc TV nh:Phạm Toàn - Nguyễn Trường cú cỏc

cụng trỡnh “Phương phỏp dạy tiếng Việt cho học sinh dõn tộc” (1978) và “Dạy đọc

và học đọc” (1982) Tỏc giả Phan Thiều với cỏc cụng trỡnh “Dạy núi cho trẻ emtrước tuổi cấp một”(1979) và “Đọc và dạy đọc ở cấp1”(1990) Luận ỏn Phú Tiến sĩkhoa học Tõm lý của tỏc giả Dương Diệu Hoa “Hỡnh thành KN đọc và viết tiếngViệt cho học sinh đầu lớp 1” (1995) Luận ỏn Tiến sĩ khoa học giỏo dục của NguyễnThị Hạnh “Rốn luyện KN đọc hiểu cho học sinh lớp 4 và lớp 5” (2001) NguyễnTrọng Hoàn với cuốn “Rốn luyện tư duy sỏng tạo trong dạy học tỏc phẩm vănchương” (2001) Nguyễn Thanh Hựng cú chuyờn đề " Dạy đọc hiểu trong nhàtrường phổ thụng" Lờ Phương Nga với cụng trỡnh “Dạy học tập đọc ở tiểu học”

Trang 7

(2001) và “Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học” có đề cập tới khái niệm đọc,

ý nghĩa của việc dạy đọc cho HSTH…

Tóm lại, các công trình lí luận và thực tiễn của các tác giả trong và ngoài nước

đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về KN, KN đọc, phương pháp dạy đọc TV Tuy nhiênchưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề KN đọccủa HS lớp 2, đặc biệt là việc nghiên cứu vấn đề này với khách thể là HSDT Thái lớp

2 ở vùng sâu, xa (như địa bàn tỉnh Sơn La) Do vậy, việc triển khai nghiên cứu đề tàinày sẽ góp phần bổ sung những thiếu hụt đó

1.2 Vấn đề hình thành kĩ năng trong tâm lí học

1.2.1 Khái niệm kĩ năng

Trong mọi lĩnh vực hoạt động, để tiến hành hoạt động có hiệu quả, con

ngư-ời không những cần phải có tri thức về đối tượng hoạt động mà còn phải biết sửdụng những tri thức đó vào việc vận dụng, cải tạo hiện thực, tức là con người cầnphải có KN Hiện nay, tồn tại hai quan niệm về vấn đề KN trong tâm lí học.[Theo 6,7,9,14,20,30]

* Quan niệm thứ nhất: Coi KN là mặt kĩ thuật của mét thao tác, hành động

hay hoạt động nào đó

KN bao giờ cũng gắn liền với hành động cụ thể nào đó, được xem như mét đặcđiểm của hành động, mức độ hình thành KN được biểu hiện ở mức nắm vững cáchthức thực hiện hành động và việc tiến hành thành thạo, nhuần nhuyễn các thao táctheo phương thức hành động đã nắm vững

Đại diện có các tác giả:

+ V S Kudin cho rằng, KN là phương thức hoạt động không cần sự củng cốbắt buộc bằng luyện tập tõ trước

+ V A Cruchetxki cho rằng, KN là các phương thức thực hiện một loại hoạtđộng - những cái mà con người đã lĩnh hội được tõ trước.[6]

Như vậy, theo hai ông chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con người

đã có KN không cần tính đến kết quả

Trang 8

+ Theo A.G.Côvaliov, KN là phương thức thực hiện hành động thích hợp vớimục đích và những điều kiện hành động Do đó, người có KN là người thực hiện cáchành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động, không đề cập đến kết quảhành động, mà chỉ coi kết quả hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong đó,quan trọng hơn cả là năng lực của người chứ không đơn giản là nắm vững cách thứchoạt động thì đem lại kết quả tương ứng.

+ Trần Trọng Thuỷ cho rằng: KN là mặt kĩ thuật của hành động, con ngườinắm được hành động tức là có kĩ thuật hành động, có KN

Như vậy, con người nắm được các tri thức về hành động, thực hiện được hànhđộng theo đúng những yêu cầu về thao tác kĩ thuật của nó thì con người có KN.Còn việc thực hiện hành động nào đó có đạt được mục đích hay không thì điều nàykhông được xem xét dưới góc độ của mét KN

Các tác giả theo hướng này nhấn mạnh mặt kĩ thuật của hành động, chú trọngđến khía cạnh cách thức hành động, coi việc nắm được cách thức hành động là cóKN

* Quan niệm thứ hai: Nhấn mạnh mặt hiệu quả của hành động trong KN, coi

KN không đơn thuần là kĩ thuật hành động mà còn là biểu hiện năng lực của conngười và KN vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt:

+ N Đ Lêvitốp cho rằng, KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đóhay mét hoạt động phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thứcđúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định Ở đây, ông đặc biệt chú ý đến kếtquả của hoạt động Việc vận dụng lý thuyết vào thực tiễn được chia thành hai mức t-ương ứng với hai bước khác nhau: KN sơ đẳng và KN phát triển

- KN sơ đẳng: được biểu hiện ở những thể nghiệm đầu tiên trong việc thực hiện

có kết quả các tác động cần thiết, KN sơ đẳng được xuất hiện do sù bắt chước, donhững tri thức ngẫu nhiên Nhưng khi hoạt động càng phức tạp, các KN được hìnhthành chỉ do quan sát và bắt chước sẽ kém tin cậy hơn

Trang 9

- KN phát triển: xuất hiện ở giai đoạn cao hơn, được hình thành trong quátrình vận dụng những tri thức, hiểu biết vào thực tiễn, do tập luyện mà dần trởthành kĩ xảo và ngày càng hoàn thiện.

Mét người có KN hoạt động là phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cáchthức của hành động, nhằm thực hiện hành động có kết quả

+ Theo các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn,Trần Quốc Thành, KN là năng lực của con người thực hiện một công việc nào đó

có kết quả.[44]

Nhìn chung, các tác giả theo hướng này đã coi KN không chỉ đơn

thuần bao gồm mặt kĩ thuật của hành động, mà còn chú trọng tới mặt kết quảcủa nã trong mối quan hệ với mục đích, phương tiện, điều kiện và cách thức tiếnhành hành động

+ Trong từ điển tâm lý học của A V Pêtrovxki và M G Jarosevxki chủ biên năm

1990 định nghĩa: “KN là phương thức thực hiện thông thạo hành động của chủ thểdựa trên cơ sở tổ hợp những tri thức, kĩ xảo đã có KN được hình thành bằng conđường luyện tập, tạo cho con người khả năng thực hiện hành động không chỉ trongnhững điều kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện đã thay đổi”.[29; tr414]+ Trong từ điển tiếng Nga (1968), KN được hiểu theo 3 ý sau: Mét: KN là khảnăng làm được một cái gì đó; Hai: Khả năng được hình thành bởi tri thức, kinhnghiệm; Ba: Khi có KN tất cả đều có thể làm được.[ 4; tr19]

+ Trong từ điển tiếng Việt (1992): KN là khả năng vận dụng những kiến thứcthu nhận được trong mét lĩnh vực nào đó vào thực tế.[42; tr517]

Qua việc trình bày các quan điểm trên, chúng ta thấy vấn đề KN còn có những

ý kiến khác nhau, nhưng thực ra chóng không có gì mâu thuẫn, phủ định lẫn nhau

Sù khác nhau là ở chỗ mở rộng hay thu hẹp phạm vi triển khai của mét KN hànhđộng trong các tình huống khác nhau Nhìn chung, khi xem xét KN, chúng ta cầnchú ý đến những điểm sau:

Thứ nhất: KN trước hết phải hiểu là mặt kĩ thuật của thao tác hay hành động

nhất định KN không có mục đích riêng Mục đích của nó là mục đích của hành

Trang 10

động, không có KN chung chung, trừu tượng tách rời hành động Khi nói tới KN lànói tới một hành động cụ thể với mức độ đúng đắn và thành thục nhất định KNhành động đồng nghĩa với hành động có KN.

Thứ hai: Cơ chế hình thành KN thực chất là cơ chế hình thành hành động.

Mỗi hành động bao giờ cũng có mục đích khách quan và lôgic thao tác

dẫn đến đến mục đích đó Lôgic thao tác làm nên mặt kĩ thuật của hành động.Việc hình thành KN hành động là cá nhân phải biết triển khai thao tác theo đúnglôgic phù hợp với mục đích khách quan Việc định hướng, điều khiển và điềuchỉnh quá trình hình thành KN được qui về định hướng, điều khiển, điều chỉnh quátrình hình thành và củng cố hành động

Thứ ba: Tính đúng đắn thành thạo và sáng tạo, là những tiêu chuẩn quan trọng

để xác định sự hình thành và mức độ phát triển của KN hành động bậc cao Hànhđộng chưa thể có KN nếu còn mắc nhiều lỗi và vụng về, hành động còn tiêu tốnnhiều thời gian, công sức triển khai nã và hành động còn cứng nhắc mang tính rậpkhuôn Vì vậy, để có KN hành động, cá nhân không chỉ hiểu sâu sắc về hành động(mục đích, cơ chế, điều kiện hành động) mà chủ yếu là phải mềm dẻo và linh hoạttriển khai hành động trong mọi hoàn cảnh theo đúng lôgic của nó với mọi vật liệu cóthể có để đạt được mục đích của hành động Ta có thể đánh giá học sinh có KNĐTVkhi các em triển khai đúng đắn thao tác đọc TV trên tất cả các bài đọc TV chứ khôngthể chỉ dừng lại ở một vài đoạn ngắn hay vài bài TV nào đó

Nh vậy ta có thể hiểu KN hành động là khả năng triển khai đúng đắn hànhđộng nào đó trên cơ sở hiểu sâu sắc và đầy đủ hành động đó

Với nội hàm có trong các khái niệm nêu trên, chúng tôi sử dụng khái niệm

KN theo quan niệm thứ hai - cái đó được nhiều tác giả sử dụng trong các côngtrình nghiên cứu khác nhau, cụ thể là khái niệm KN của nhà tâm lý học Nga

K.K.Platonov: “Kĩ năng là khả năng của con người thực hiện một hoạt động bất

kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm cò" [Theo 4;tr20] làm

khái niệm công cụ cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn KN trong hoạt độngđọc TV của HSDT Thái lớp 2

Trang 11

1.2.2 Phân biệt kĩ năng và kĩ xảo

Việc xác định KN hành động dựa trên các thông số mức độ đúng đắn, cao củaviệc triển khai nã trong thực tiễn buộc ta phải khoanh vùng phạm vi KN và kĩ xảo.Các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: “Kĩ xảo là loại hành động tựđộng hoá nhờ luyện tập Nó có đặc điểm: không có sự kiểm soát thường xuyên của ýthức; động tác mang tính chất khái quát; không có động tác thừa; kết quả cao mà Ýttèn năng lượng thần kinh và cơ bắp”.[9; tr255]

Sù giống nhau giữa KN và kĩ xảo ở chỗ về bản chất đều là các thuộc tính kĩthuật của hành động cá nhân Chúng đều được hình thành trên cơ sở các tri thức vềhành động đã được lĩnh hội và được triển khai trong thực tiễn

Sù khác nhau giữa KN và kĩ xảo được đặc trưng bởi mức độ cao, tự độnghoá,bởi mức độ tham gia của ý thức vào các thao tác, bởi cấu trúc và vai trò của chóngtrong quá trình hành động Cụ thể:

+ So với KN, kĩ xảo cao hơn, tự động hoá và được giải phóng khái sù kiểmsoát của ý thức “Trong đa số trường hợp, kĩ xảo được nảy sinh trên cơ sở biếnhành động thành thao tác như là một phương thức hành động tự động hoá một cách

có ý thức, như là một phần được tự động hoá của việc thực hiện hành động, đó làthao tác có ý thức” [19; tr318].Nói chung, để có kết quả cao trong hành động mà cánhân không bị “cộm” trong ý thức thì các thao tác (với tư cách là phương tiện củahành động đó)không chỉ dừng lại ở mức KN mà nó phải vươn tới trình độ kĩ xảo

Do đó Có thể nói kĩ xảo có tính hoàn thiện cao hơn KN, được hình thành trên cơ

sở của những KN có trước [30; tr120] “Suy cho cùng trong dạy học, đặc biệt là

dạy hành động học tập cho học sinh, phải huấn luyện hành động tới mức thao tác

kĩ xảo Bởi vì đa số tri thức, KN mà học sinh tiếp thu được ở nhà trường cần phảiđược trang bị cho nã, phục vụ nã còng tuyệt nhiên không cần phải mãi mãi lànhững cái được ý thức một cách hiện tại, không được làm “cộm” ý thức của nó.Không phải vô cớ mà

Trang 12

người ta nói rằng người biết chữ không được coi là người không thể viết mộtcách không thành thạo mà phải coi là người không thể viết một cách không thànhthạo, ngay cả khi không cần đặc biệt nghĩ đến điều đó Tôi biết hàng loạt các quitắc, nhưng khi tôi vận dụng chóng, chóng không ngập ý thức của tôi, Êy thế màtrên thực tế hầu như không bao giờ tôi lại vận dụng chóng một cách hoàn toàn có ýthức Nếu không thì nói chung không thể viết được một tác phẩm, lái máy bay vàthậm chí phán đoán một cách lôgic, tức là phán đoán bằng cách tuân theo các quitắc lôgic” [19; tr322].

Nh vậy, KN và kĩ xảo hành động là hai mức độ khác nhau của sù tựđộnghoá và cao hành động Chúng đều là kết quả của sự lĩnh hội và luyện tập trongthực tiễn

+ Giữa KN và kĩ xảo có sự khác nhau về cấu tróc Trong tiến trình hình thành,

KN là đại lượng có hướng, được hình thành theo mét hướng xác định nhằm vàonhững mục đích, nhiệm vụ cụ thể Về tổng thể, KN có cấu trúc gồm 3 thành phần:

- Tri thức về phương thức thực hiện các thao tác và hành động cấu thành KNđó

- Mục đích tiến hành hành động

- Các thao tác tương ứng kèm theo những phương tiện thực hiện chóng

Ngược lại, kĩ xảo là đại lượng vô hướng, có tính chất cơ giới, tự động hoá,được cá nhân sử dụng một cách tự do Trong cấu trúc của kĩ xảo không gồm yếu tốcấu tróc 1 và 2 của KN xét ngay trong quá trình diễn biến, chỉ bao gồm một hệthống lôgic các thao tác và phương tiện kèm theo

Trang 13

1.3.1.1 Khái niệm đọc

Đọc là phạm trù trung tâm của nhiều ngành khoa học khác nhau: ngôn ngữhọc, sinh lí học, tâm lí học… Hiện nay, trong các trình nghiên cứu về đọc đã xuấthiện nhiều quan niệm với các nội hàm khác nhau Do đó, để có một cách hiểu đúng

về đọc làm cơ sở lí luận cho đề tài, chúng tôi xem xét mét sè khái niệm khác nhau

về đọc trên thế giới còng nh ở Việt Namnh sau:

* Đọc được xét ở góc độ vị trí, vai trò của nó đối với đời sống của con người nói chung và với việc học ngôn ngữ nói riêng.

Các nhà nghiên cứu đều cho rằng đọc giữ mét vai trò quan trọng nhất địnhtrong hình thành và phát triển của con người Đại diện cho quan niệm này là:Fr.Leidinger, H.P.Smith, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Trọng Hoàn

Chẳng hạn, theo Nguyễn Thanh Hùng: " Đọc là một năng lựcvăn hoácó ý nghĩa cơ bản đối với việc phát triển nhân cách, bởi vì phần lớnnhững tri thức hiện đại được truyền thụ qua việc đọc "[17]

Nguyễn Trọng Hoàn thì cho rằng: “Đọc là phương pháp tiếp nhận nghệ thuậtngôn từ qua đó người đọc biểu hiện nhu cầu giao cảm hưởng thụ văn hoá và pháttriển nhân cách đồng thời bộc lộ chính mình”.[13]

* Đọc được xét theo quan điểm thông tin.

Theo Phạm Toàn và Nguyễn Trường (1982): “Đọc là sử dụng được mét bé mãgồm hai phương diện… (bộ mã ý/ chữ và bộ chữ/âm).”.[40; tr22]

Fr Leisinger cho rằng: “Đọc giống nh là sự giải mã”.[4; tr31]

- So với TV, chữ viết của tiếng Thái không có những âm và vần

nh-: r, d,ngh, ây, âu… và không dùng phụ âm nh làm phụ âm cuối, nhưng lại có những vần mà TV không có nhaư.

- Hệ thống thanh điệu của tiếng Thái không phong phó và đầy đủ nh của TV.Tiếng thái thực chất chỉ có chỉ có ba thanh và được chia thành 6 thanh khi dùng ởnhóm âm cao và thấp (xem mục1.4.2.3) Khi so sánh với hệ thống thanh điệu của

TV, hệ thống thanh điệu của tiếng Thái không có mét sè thanh điệu nh của TV, đó

là thanh ngã, thanh huyền, thanh nặng

Trang 14

Nếu như cấu trúc ngữ âm của TV trong mét âm tiết về cơ bản có âm đầu vần - thanh điệu thì trong tiếng Thái cấu trúc ngữ âm phức tạp hơn với năm kiểucấu trúc tuỳ thuộc vào vị trí đứng của của các loại may khác nhau trong âm tiết(xem 1.4.2.2)

-là 15 tiếng/ phút (Lò Văn Sơn, Lường Văn Tuyển, TH Chiềng Bôm) Điều đó

có nghĩa là dao động tốc độ đọc TV giữa các HSDT Thái là rất rộng Thực tế nàycho thấy: giữa các địa bàn khác nhau và thậm chí ngay trong cùng một địa bànnghiên cứu thì cũng có sự khác biệt đáng kể về tốc độ đọc TV Sù khác biệt đó tuỳthuộc vào sự tương đồng hay không tương đồng về điều kiện môi trường ngôn ngữ

TV Thuận Châu là huyện miền núi với địa hình phức tạp, giao thông khó khăn và

sự phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội còn yếu kém và có sự chênh lệch lệch lớngiữa các vùng nên rất khác nhau về điều kiện giao tiếp TV - sù giao lưu giữa người

DT với người Kinh, do đó ảnh hưởng tới khả năng nói TV và đọc TV của HSDTThái

3 Tốc độ đọc TV của HS lớp 2 DT Thái huyện Thuận Châu - Sơn La có sựkhông đồng đều giữa các vùng Cụ thể:

Trang 15

- HS vùng thị trấn có tốc độ đọc TV nhanh với = 81, 2 tiếng/ phút, trong đó:57,

2 % (89, 4 tiếng/phút), 42, 8 % (70, 1 tiếng/phút)

- HS vùng I có tốc độ đọc TV trung bình với = 63,8 tiếng/ phút, trong đó: 30,

8 % (87, 5 tiếng/phút), 57, 7 % (58tiếng/phút) và 11, 5 % (29, 3 tiếng/phút)

- HS vùng III có tốc độ đọc TV trung bình với = 47, 1 tiếng/ phút, trong đó: 6,

9 % (87, 5 tiếng/phút), 51, 7 % (55, 9tiếng/phút) và 41, 1 % (29, 3 tiếng/phút)

Nh vậy, HSDT Tháivùng I có tốc độ đọc TV tốt hơn so với HS vùng I vàIII.HSDT Thái ở vùng III có tốc độ đọc TV chậm hơn cả Sự khác biệt này rất cóthể này là do sù khác nhau về những điều kiện môi trường ngôn ngữ

Thực tế là,do điều kiện môi trường giao tiếp TV giữa các vùng khác nhau nênthời lượng và tần suất sử dụng TV của HSDT Thái ở các vùng cũng khác nhau, do

đó mà ảnh hưởng tới tốc độ đọc TV của các em Theo quan sát và điều tra củachúng tôi trên HS và giáo viên cho thấy:

- Đối với những HSDT Thái vùng III:

Hơn nữa, điều kiện sử dụng các phương tiện trao đổi thông tin như ti vi, đài,truyện, báo…cũng ảnh hưởng tới tốc độ đọc TV của HSDT Thái Theo kết quảđiều tra, trong các gia đình HSDT Thái ở vùng III chỉ có 3, 6 % có ti vi, 7, 2 % cóđài và không gia đình nào có sách tham khảo, truyện và báo… cho con em mìnhđọc Trong khi đó, 100% các gia đình HSDT Thái tại thị trấn có ti vi, sách thamkhảo, truyện báo dành cho các em và 70 % gia đình có đài

Để xem xét yếu tố giới tính có ảnh hưởng tới tốc độ đọc TV của HSDTTháihay không? Chúng tôi đã tiến hành làm trắc nghiệm và điều tra về tốc độ đọc

TV giữa HSDT nữ và HSDT nam, kết quả thu được trình bày ở bảng 2

Bảng 2: Tốc độ đọc TV của HSDT theo giới tính

Trang 16

5 5 6

1 84 12

63, 2

60,

4 3

15, 8

29, 3

59,

9 4 12,9 35 66,2 2

điểm số trung bình là = 26,2, trong khi đó những HS có ngữ điệu đọc TV không đúng (mức 1) có điểm số trung bình chỉ là = 1,8.

Kết quả này phản ánh sự không đồng đều và quá chênh lệch về ngữ điệu đọc

TV giữa các HS lớp 2 DT Thái huyện Thuận Châu - Sơn La Những em có điểm sốcao nhìn chung thể hiện ngữ điệu TV tốt, đảm bảo đúng được về cao độ, tốc độ,nhịp độ và trường độ khi đọc TV… Đây thường là những em biết thể đúng ngữđiệu của các loại câu nhất là loại câu cảm thán và cầu khiến Ngược lại, những HSkhông thể hiện được ngữ điệu đọc TV vì chỉ biết đánh vần không đọc được trơntiếng nên không thể hiện được ngữ điệu đọc TV Trong kết quả đo về ngữ điệu đọc

TV mà chúng tôi thu được, em có điểm ngữ điệu đọc TV cao nhất là 29, em thấpnhất là 0 Điều đó có nghĩa là dao động trình độ KN ngữ điệu đọc TV giữacácHSDT Thái là rất rộng Thực tế này cho thấy: giữa các địa bàn khác nhau vàthậm chí ngay trong cùng một địa bàn nghiên cứu thì cũng có sự khác biệt đáng kể

về trình độ KN ngữ điệu đọc TV

Ngày đăng: 08/01/2015, 11:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tốc độ đọc TV của HSDT theo giới tính - kĩ năng đọc tiếng việt của học sinh lớp 2 dân tộc thái huyện thuận châu sơn la 1
Bảng 2 Tốc độ đọc TV của HSDT theo giới tính (Trang 16)
Bảng 24: So sánh KN sáng tạo bài đọc giữa HSDT Thái với HS là người Kinh          DT - kĩ năng đọc tiếng việt của học sinh lớp 2 dân tộc thái huyện thuận châu sơn la 1
Bảng 24 So sánh KN sáng tạo bài đọc giữa HSDT Thái với HS là người Kinh DT (Trang 22)
Bảng 25: Quan hệ giữa kĩ thuật đọc với khả năng thông hiểu TV của HSDT Thái - kĩ năng đọc tiếng việt của học sinh lớp 2 dân tộc thái huyện thuận châu sơn la 1
Bảng 25 Quan hệ giữa kĩ thuật đọc với khả năng thông hiểu TV của HSDT Thái (Trang 25)
Bảng 26: KNĐTV của HS lớp 2 DT Thái Thuận Châu - Sơn La có cha mẹ làm - kĩ năng đọc tiếng việt của học sinh lớp 2 dân tộc thái huyện thuận châu sơn la 1
Bảng 26 KNĐTV của HS lớp 2 DT Thái Thuận Châu - Sơn La có cha mẹ làm (Trang 29)
Bảng 27: KNĐTV của HS lớp 2 DT Tháihuyện Thuận Châu - Sơn La có cha mẹ - kĩ năng đọc tiếng việt của học sinh lớp 2 dân tộc thái huyện thuận châu sơn la 1
Bảng 27 KNĐTV của HS lớp 2 DT Tháihuyện Thuận Châu - Sơn La có cha mẹ (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w