TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN TRỌNG HƯNG NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ XÃ ĐIỂM XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TRỌNG HƯNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ XÃ ĐIỂM XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã ngành: 60 62 01 16
Thái Nguyên - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Hƣng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, phòng Quản lý Đào tạo sau đại học đã tạo điều kiện trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành chương trình học tập của khóa học Trong thời gian học tập, nghiên cứu đề tài tác giả đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo nhiệt tình của tập thể giảng viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, của thầy hướng dẫn thực hiện luận văn để đảm bảo hoàn thành kế hoạch và tiến độ đề ra; đặc biệt, tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Dương Văn Sơn đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức giúp đỡ tác giả hoàn thành tốt luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các cán bộ UBND huyện Võ Nhai, Phòng NN&PTNT huyện, UBND các xã La Hiên, Lâu Thượng và Phú Thượng đã tạo điều kiện, giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến
bổ ích trong quá trình nghiên cứu đề tài
Cuối cùng tôi xin trân thành cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành tốt luận văn của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Do vậy tác giả mong nhận được sự góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 14 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Hưng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan 4
1.1.2 Các kết quả chủ yếu về thực hiện xây dựng nông thôn mới tại Thái Nguyên 10
1.2 Cơ sở thực tiễn của nghiên cứu 11
1.2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của Việt Nam 11
1.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên 17
1.2.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của một số nước đã từng xây dựng Nông thôn mới trên thế giới 21
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 32
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32
2.2 Nội dung nghiên cứu 32
2.2.1 Quy mô và tổ chức quản lý sản xuất nông nghiệp tại một số xã điểm xây dựng nông thôn mới 32
2.2.2 Trình độ, năng lực sản xuất và các tiến bộ kỹ thuật công nghệ áp dụng trong sản xuất tại một số xã xây dựng nông thôn mới 32
2.2.3 Đề xuất các giải pháp trong phát triển sản xuất nông nghiệp theo tiêu chí xây dựng NTM của một số xã điểm của huyện Võ Nhai 33
Trang 52.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 33
2.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp 34
2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 36
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu 37
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 37
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của ba xã nghiên cứu 43
3.1.3 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đến sản xuất nông nghiệp của ba xã nghiên cứu 47
3.2 Quy mô và tổ chức quản lý sản xuất nông nghiệp tại các xã điểm xây dựng NTM 49
3.2.1 Vai trò của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế các xã 49
3.2.2 Nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp của các xã 51
3.2.3 Quy mô sản xuất nông nghiệp tại ba xã điểm xây dựng NTM 55
3.2.4 Tổ chức sản xuất trong các xã điểm xây dựng nông thôn mới 67
3.3 Trình độ, năng lực và áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp tại một các xã điểm xây dựng nông thôn mới 75
3.3.1 Trình độ lao động trong sản xuất nông nghiệp tại các xã nghiên cứu 75
3.3.2 Kỹ thuật áp dụng trong sản xuất nông nghiệp tại các xã nghiên cứu 77
3.3.3 Cơ giới hóa trong nông nghiệp 81
3.4 Giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới của một số xã điểm 83
3.4.1 Nhóm giải pháp nhằm tăng thu nhập, giảm nghèo theo tiêu chí số 10,11 83 3.4.2 Nhóm giải pháp nhằm giảm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp theo tiêu chí số 12 83
3.4.3 Nhóm giải pháp nhằm phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo tiêu chí số 13 84
KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Đề xuất và kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NTM UBND PTNT HTX
KT - XH THCS TBKT TTCN
BQ NS
…
Nông thôn mới
Ủy ban nhân dân Phát triển nông thôn Hợp tác xã
Kinh tế - Xã hội Trung học cơ sở Tiến bộ kỹ thuật Tiểu thủ công nghiệp Bình quân năng suất
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Kết quả một số chỉ tiêu chính đạt được của ngành nông nghiệp 16
Bảng 1.2: Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên năm 17
Bảng 1.3: Các chỉ tiêu về Nông, lâm nghiệp, thủy sản 20
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng các loại đất tại 3 xã 40
Bảng 3.2: Tỷ lệ hộ nghèo tại các xã nghiên cứu giai đoạn 2011-2012 45
Bảng 3.3: Cơ cấu giá trị các ngành sản xuất của các xã 49
Bảng 3.4: Cơ cấu giá trị sản các hoạt động xuất nông nghiệp của hộ 50
Bảng 3.5: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại các xã 51
Bảng 3.6: Lao động trong các ngành của ba xã 52
Bảng 3.8: Trung bình nhân khẩu và lao động của hộ 54
Bảng 3.9: Diện tích, năng suất và sản lượng cây trồng so với năng xuất của huyện 57
Bảng 3.10: Số lượng vật nuôi và số hộ chăn nuôi 61
Bảng 3.11: Diện tích rừng tại các xã nghiên cứu 63
Bảng 3.12: Bình quân diện tích theo loại đất canh tác 64
Bảng 3.13: Trung bình số lượng vật nuôi các hộ điều tra 66
Bảng 3.14: Diện tích đất lâm nghiệp theo phân loại hộ 66
Bảng 3.15: Các loại hình tổ chức sản trong nông nghiệp 67
Bảng 3.16: Sử dụng các sản phẩm trồng trọt 67
Bảng 3.17: Sử dụng sản phẩm chăn nuôi 68
Bảng 3.18: Hình thức chăn nuôi tại các xã nghiên cứu 69
Bảng 3.19: Đánh giá loại cây trồng theo giá trị thu nhập 70
Bảng 3.20: Những khó khăn trong trồng trọt 72
Bảng 3.21: Những khó khăn trong chăn nuôi 74
Bảng 3.22: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong độ tuổi lao động 75
Bảng 3.23: Trình độ của chủ hộ trong các xã điều tra 76
Bảng 3.24: Trình độ các thành viên trong gia đình trong các xã điều tra 77
Bảng 3.25: TBKTđã áp dụng trong trồng trọt 78
Bảng 3.26: TBKTđược áp dụng trong chăn nuôi 79
Bảng 3.27: Nguồn cung cấp thông tin về TBKT cho người dân 80
Bảng 3.28: Cơ giới hóa trong sản xuất tại các xã nghiên cứu 81
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua Việt Nam đã tích cực thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta đã đạt được nhiều thành tựu hết sức to lớn Tuy nhiên, nhiều thành tự còn chưa xứng đáng với những tiềm năng sẵn có: Nông nghiệp chưa phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế thấp, sức cạnh tranh kém, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm Đời sống vật chất và tinh thần người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là ở các vùng miền núi và trung du, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn,…
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới nhằm khắc phục những bất cập trên đã được triển khai rộng rãi khắp cả nước, đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của toàn dân Xây dựng Nông thôn mới là một chương trình toàn diện về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Trong
đó, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao mức sống vật chất cho người dân giữ vị trí then chốt.Trong sản xuất nông nghiệp cần phải theo hướng bền vững gắn với bảo vệ môi trường và có quy hoạch cụ thể nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hóa Sản xuất nông nghiệp là một yếu tố rất quan trọng gắn liền với người nông dân nông thôn Do vậy, xây dựng Nông thôn mới thì một điều không thể bỏ qua đó là phát triển sản xuất nông nghiệp sao cho hiệu quả bền vững
Cùng với cả nước Thái Nguyên cũng đang triển khai chương trình xây dựng Nông thôn mới theo chủ trương của trung ương và của tỉnh Trong những năm gần đây, nhờ việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nên sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực
và thu được những kết quả nhất định, năng suất và sản lượng lương thực của
Trang 9huyện được nâng lên rõ rệt Đảm bảo an ninh lương thực, góp phần cải thiện nâng cao đời sống của người dân, thúc đẩy các ngành nghề khác nhất là chăn nuôi ngày càng phát triển, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc Tuy nhiên với đặc thù tỉnh trung du miền núi nên việc đáp ứng các tiêu chí của xây dựng Nông thôn mới còn gặp nhiều khó khăn
Thực hiên chủ chương xây dựng Nông thôn mới triển khai trên 35 xã điểm của cả tỉnh Thái Nguyên, huyện Võ Nhai cũng đã chọn được 3 xã điểm tham gia xây dựng xã về NTM đó là La Hiên, Lâu Thượng và Phú Thượng Trong những năm gần đây thực hiện xây dựng NTM kinh tế - xã hội của 3 xã này cũng như của huyện nói chung có nhiều chuyển biến tích cực để dần đáp ứng các tiêu chí của NTM Trong đó, sản xuất nông nghiệp của các xã điểm này đã có nhiều thay đổi đáng kể Năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi trong những năm qua đã có sự tăng lên đáng kể nhờ áp dụng các biện pháp kỹ thuật, thay đổi cơ cấu cây trồng,… Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu, đánh giá chuyên sâu nào về tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện cũng như tại các xã điểm xây dựng NTM này trong những năm gần đây Để giúp cho chính quyền địa phương tổng kết các kinh nhiệm, đề xuất các giải phù hợp trong sản xuất nông nghiệp với tình hình của từng xã điểm và làm bài học cho các xã khác của huyện Võ Nhai Xuất phát từ thực tế trên tác giả đã chọn nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu thực trạng sản xuất nông nghiệp của một số xã điểm
xây dựng Nông thôn mới tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tổng quát
Điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất nông nghiệp tại một số xã điểm xây dựng Nông thôn mới của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Đề xuất các giải pháp có hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp của các xã điểm đáp ứng các tiêu chí xây dựng Nông thôn mới
Trang 102.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá về quy mô và tổ chức quản lý sản xuất nông nghiệp tại các
xã điểm xây dựng Nông thôn mới
- Đánh giá về trình độ, năng lực sản xuất và các tiến bộ kỹ thuật công
nghệ áp dụng trong sản xuất tại các xã điểm xây dựng nông thôn mới
- Đề xuất các giải pháp trong phát triển sản xuất nông nghiệp theo tiêu chí xây dựng NTM tại các xã điểm của huyện Võ Nhai
Trang 11CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan
Nông nghiệp
Theo Bách khoa toàn thư Việt nam - Nông nghiệp: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm
cả lâm nghiệp, thuỷ sản [2]
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
+ Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai
+ Nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là
Trang 12sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc,
các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi [2]
Nông thôn
Thông tư Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới của Bộ NN&PTNT: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội
thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ
ban nhân dân xã [5]
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông và cộng sự: Nông thôn là vùng sinh
sống của làm việc của cộng đồng chủ yếu là nông dân, là nơi có mật độ dân
cư thấp, môi trường chủ yếu là thiên nhiên, sơ sở hạ tầng kém phát triển, tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp [8]
Từ điển tiếng Việt viết: Nông thôn là làng mạc sống bằng sản xuất nông
nghiệp, khác hẳn thành thị Nói đúng hơn nông thôn là vùng địa lý cư trú gắn với thiên nhiên,khác hẳn với thành thị, với dân cư chủ yếu là nông dân, ngành nghề chủ yếu là nông nghiệp và có lối sống riêng, văn hóa riêng
Tóm lại: Nông thôn là một kiểu cộng đồng lãnh thổ xã hội nhất định, có
tính chất lịch sử hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội Nông thôn có đặc điểm là dân số không đông, mật độ dân số thấp, quy mô dân số nhỏ, lao động nông nghiệp đóng vai trò đáng kể, phân hóa nghề nghiệp ít…
Phát triển nông thôn và nông thôn mới
Phát triển nông thôn (PTNT) là vấn đề được nhiều nước và cả thế giới quan tâm Do yêu cầu phát triển không giống nhau mà mỗi nước có khái niệm
về phát triển nông thôn tương đối khác nhau:
Quan điểm của Châu Phi: PTNT được định nghĩa là sự cải thiện mức
sống của số lớn dân chúng có thu nhập thấp đang cư trú ở các vùng nông thôn
và tự lực thực hiện quá trình phát triển của họ
Trang 13Quan điểm của Ấn Độ: PTNT không thể là một hoạt động cục bộ, rời
rạc và thiếu quyết tâm Nó phải là hoạt động tổng thể, liên tục diễn ra trong nhiều vùng nông thôn của cả quốc gia
Theo Ngân hàng thế giới đã đưa ra khái niệm PTNT (1975) như sau:
PTNT là một chiến lược nhằm cải thiện đời sống kinh tế và xã hội của ngững người ở nông thôn, nhất là những người nghèo Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến vớ những người nghèo nhất trong số những người đang tìm kế sinh nhai ở các vùng nông thôn
Tóm lại: PTNT là một hoạt động nhằm làm tăng mức sống của những
người dân nông thôn có đời sống khó khăn, đây không phải là hoạt động đơn
lẻ mà là những hoạt động liên tục và diễn ra trong phạm vi toàn quốc
PTNT không chỉ đơn thuần là sự phát triển về mặt kinh tế mà cả phát triển về mặt xã hội nông thôn Nói cách khác là vừa nâng cao đời sống vật chất vừa nâng cao đời sống tinh thấn cho người dân nông thôn
PTNT không chỉ là phát triển sản xuất nông nghiệp mà phải là kết cấu với phát triển hợp lý sản xuất công nghiệp và dịch vụ nông thôn, tạo thành cơ cấu kinh tế nông thôn hợp lý Trong phát triển nông nghiệp phải chú trọng tới
cả phát triển lâm nghiệp và thủy sản…
Nghị quyết số 26 - NQ/T.Ư về nông nghiệp, nông dân, nông thôn của Ban Chấp hành Trung ương ban hành ngày 5/8/2008: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường” [3]
Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một chương trình hành động của Chính phủ về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận
Trang 14thức, hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là: xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ [6]
Theo quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiêp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triến nông thôn với đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa [10]
Bộ tiêu chí về xây dựng nông thôn mới cho các xã thuộc trung du miền
núi phía Bắc theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ký ngày 16/4/2014 của Thủ
II HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI
2 Giao thông Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa
hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật 100%
Trang 15của Bộ giao thông vận tải
Tỷ lệ đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp ký thuật của Bộ giao thông vận tải
50%
Tỷ lệ Km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa
100% ( 50% cứng hóa)
Tỷ lệ Km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện 50%
3 Thủy lợi
Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng được sản
Tỷ lệ Km kênh mương do xã quản lý được
70%
6 Cơ sở vật chất
văn hóa
Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của
Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt chuẩn của Bộ Văn hóa thể thao và du lịch 100%
III KINH TẾ VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT
10 Thu nhập Thu nhập bình quân đầu người/năm so với
12 Cơ cấu lao Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong các 45%
Trang 16động lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
Đạt
17 Môi trường
Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch hợp
Các cơ sở sản xuất – kinh doanh đạt tiêu chuẩn
Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch đẹp
Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt
Trang 171.1.2 Các kết quả chủ yếu về thực hiện xây dựng nông thôn mới tại Thái Nguyên
Thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TU ngày 03/02/2010 của Tỉnh uỷ Thái Nguyên về việc chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) về xây dựng nông thôn mới; Quyết định số 1282/QĐ-UBND ngày 25/5/2011 về việc Phê duyệt Chương trình Xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái nguyên giai đoạn
2011 – 2015, định hướng đến 2020; Văn bản số 842/UBND-KTN ngày 15 tháng 5 năm 2012 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc đẩy nhanh
tiến độ thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
Hiện nay, 100% các xã trong tỉnh Thái Nguyên đã hoàn thành công tác lập quy hoạch NTM (trong khi bình quân chung cả nước đạt 68%); thành lập
tổ chức bộ máy quản lý thực hiện chương trình từ tỉnh đến thôn, xóm; có cơ chế vay xi măng, hỗ trợ kinh phí xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng nông thôn, được nhân dân đồng tình, hưởng ứng cao với khí thế thi đua sôi nổi tại cơ sở, nhân dân tự nguyện hiến đất, tài sản trên đất, công sức, đã trở thành điểm nhấn, tạo động lực thực hiện các nội dung của chương trình xây dựng NTM;…
Với phương châm “tiêu chí dễ và ít kinh phí làm trước, tiêu chí khó làm sau; nguồn lực thực hiện chủ yếu của nhân dân”, đến nay, tỉnh Thái Nguyên đã có:
2 xã đạt tiêu chí giao thông, 28 xã đạt tiêu chí thủy lợi, 82 xã đạt tiêu chí điện, 69
xã đạt tiêu chí trường học, 25 xã đạt tiêu chí chợ nông thôn, 96 xã đạt tiêu chí bưu điện Bên cạnh đó, tỉnh đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các xã lập các đề án và đến nay, đã phê duyệt Đề án xây dựng NTM cho 47/143 xã, Đề án phát triển sản xuất cho 18/143 xã và Ban chỉ đạo xây các cấp đang tích cực đôn đốc các xã còn lại trình phê duyệt xong các đề án trong quý II/2013
Tính đến hết năm 2012, đánh giá dựa trên bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM (19 tiêu chí) toàn tỉnh Thái Nguyên có 23/143 xã đạt dưới 05 tiêu chí, 83/143 xã (trong đó có 10/35 xã điểm) đạt từ 05 - 08 tiêu chí, 36/143 xã
Trang 18(trong đó có 24/35 xã điểm) đạt 09 - 13 tiêu chí, 01 xã đạt từ 14 - 19 tiêu chí Như vậy tính đến thời điểm này, tỉnh có 37/143 xã đạt chuẩn ở mức khá trở lên (từ 09 tiêu chí), chiếm tỷ lệ 25,9% tổng số xã trong toàn tỉnh Năm 2013, tỉnh phấn đấu không có xã đạt dưới 05 tiêu chí, có 79/143 xã đạt từ 05 - 08 tiêu chí, có 50 xã (trong đó có 26/35 xã điểm) đạt từ 9 - 13 tiêu chí, có 14 xã (trong đó có 9/35 xã điểm) đạt từ 14 - 19 tiêu chí
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chương trình xây dựng NTM, tỉnh vẫn còn một số dung chưa đạt được như: công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý và tổ chức thực hiện chương trình còn một số hạn chế nhất định; kết quả thực hiện một số tiêu chí đạt thấp [9]
1.2 Cơ sở thực tiễn của nghiên cứu
1.2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của Việt Nam
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 255,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với năm 2011, bao gồm: Nông nghiệp đạt 183,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,8%; lâm nghiệp đạt 8,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6,4%; thuỷ sản đạt 63,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5% [4]
Nông nghiệp
Sản lượng lúa cả năm 2012 ước tính đạt 43,7 triệu tấn, tăng 1,3 triệu tấn
so với năm trước do diện tích và năng suất đều tăng, trong đó diện tích gieo trồng ước tính đạt 7753,2 nghìn ha, tăng 97,8 nghìn ha; năng suất đạt 56,3 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha Nếu tính thêm 4,8 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2012 ước tính đạt 48,5 triệu tấn, tăng 2,6% so với năm 2011
Trong sản xuất lúa năm nay, sản lượng lúa đông xuân đạt gần 20,3 triệu tấn, tăng 510,4 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước do diện tích tăng 27,6 nghìn
ha và năng suất tăng 1,1 tạ/ha Sản lượng lúa hè thu đạt 14 triệu tấn, tăng 573,3 nghìn tấn do diện tích đạt 2659,8 nghìn ha, tăng 70,3 nghìn ha (Riêng diện tích lúa thu đông tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tăng 31,3 nghìn ha); năng
Trang 19suất đạt 52,5 tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha Sản lượng lúa mùa ước tính đạt gần 9,4 triệu tấn, tăng 179,6 nghìn tấn, chủ yếu do năng suất tăng 0,9 tạ/ha
Sản xuất cây vụ đông ở các tỉnh phía Bắc bị ảnh hưởng của thời tiết xấu nên sản lượng một số cây hàng năm giảm so với năm 2011, trong đó đậu tương đạt 175,2 nghìn tấn, giảm 34,4%; vừng đạt 29,7 nghìn tấn, giảm 6,3%
Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển do thuận lợi về giá bán sản phẩm đã khuyến khích người dân mở rộng diện tích gieo trồng Diện tích cho sản phẩm và sản lượng một số cây chủ lực tăng so với năm 2011, trong
đó diện tích chè ước tính đạt 115,8 nghìn ha, tăng 1,4%; sản lượng đạt 923,1 nghìn tấn, tăng 5%; cà phê diện tích đạt 574,2 nghìn ha, tăng 5,6%, sản lượng đạt 1292,4 nghìn tấn, tăng 1,2%; cao su diện tích 505,8 nghìn ha, tăng 10%, sản lượng đạt 863,6 nghìn tấn, tăng 9,4%; hồ tiêu diện tích đạt 46,9 nghìn ha, tăng 4,2%, sản lượng đạt 112,7 nghìn tấn, tăng 0,6%
Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá, trong đó sản lượng dứa năm 2012 ước tính đạt 571,6 nghìn tấn, tăng 7,7% so với năm 2011; chuối đạt 1,8 triệu tấn, tăng 3%; xoài đạt 776,3 nghìn tấn, tăng 13%; bưởi đạt 435,6 nghìn tấn, tăng 2,7% Tuy nhiên, một số cây khác do ảnh hưởng của thời tiết và một phần diện tích đang được cải tạo, chuyển đổi nên sản lượng giảm như: Sản lượng nhãn đạt 545,3 nghìn tấn, giảm 8,5% so với năm 2011; vải, chôm chôm đạt 649,3 nghìn tấn, giảm 10,5%; cam, quýt đạt 690,3 nghìn tấn, giảm 1,8%
Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp trong năm gặp một số khó khăn do điều kiện thời tiết không thuận lợi nên việc triển khai các dự án trồng rừng chậm tiến độ, đặc biệt đối với rừng trồng phòng hộ và đặc dụng Mặc dù vậy, kết quả các hoạt động lâm nghiệp khác vẫn tăng khá do một số yếu tố tích cực như: Sự ổn định của thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ và lâm sản khác trong những năm qua đã kích thích người dân tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng, đặc biệt là rừng trồng sản xuất; các hoạt động lâm sinh khác như chăm sóc rừng trồng, khoanh nuôi tái
Trang 20sinh rừng tiếp tục được chú trọng để tăng độ che phủ rừng; diện tích rừng sản xuất được quy hoạch ổn định và đầu tư hợp lý Diện tích rừng trồng tập trung cả năm đạt 187 nghìn ha, bằng 88,2% năm 2011; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 169,5 triệu cây, tăng 0,3%; diện tích rừng trồng được chăm sóc tăng 34,8%; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ tăng 12,6%; sản lượng
gỗ khai thác đạt 5251 nghìn m3, tăng 11,9%, trong đó gỗ khai thác từ rừng trồng chiếm trên 80% Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao là: Đồng Nai tăng 64,1%; Bắc Kạn tăng 51,6%; Thái Nguyên tăng 48,6%; Quảng Bình tăng 48%; Yên Bái tăng 47,2%; Kon Tum tăng 42,5%; Thanh Hóa tăng 42%; Lâm Đồng tăng 25,6%; Lào Cai tăng 17,6%; Bắc Giang tăng 14% Sản lượng củi khai thác đạt 27,4 triệu tấn, tăng 3%
Do thời tiết trong năm nắng nóng, khô hạn kéo dài nên xảy ra hiện tượng cháy rừng ở một số địa phương, chủ yếu là các tỉnh thuộc khu vực Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên Tổng diện tích rừng bị thiệt hại năm 2012 là 3225 ha, giảm 18% so với năm 2011, bao gồm: diện tích rừng bị cháy 2091 ha, tăng 19,8%; diện tích rừng bị chặt, phá 1134 ha, giảm 48,2% Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Hà Giang 298 ha; Đà Nẵng 181 ha; Lạng Sơn 132 ha; Phú Yên
106 ha; Lào Cai 100 ha; Thừa Thiên-Huế 92 ha; Quảng Nam 80 ha Một số tỉnh
có diện tích rừng bị chặt, phá nhiều là: Lâm Đồng 140,3 ha; Kon Tum 106 ha; Sơn La 86 ha
Chăn nuôi
Chăn nuôi gia súc, gia cầm gặp khó khăn do giá thịt giảm, chi phí đầu vào tăng cao và khó khăn về vốn nên chăn nuôi của các hộ và các doanh nghiệp cũng như trang trại bị ảnh hưởng Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2012, đàn lợn cả nước có 26,5 triệu con, giảm 2,1% so với cùng thời điểm năm 2011, trong đó đàn lợn nái có 4,0 triệu con, giảm 0,5%;
Trang 21đàn trâu có 2627,8 nghìn con, giảm 3,1%; đàn bò có 5194,2 nghìn con, giảm 4,5%, nguyên nhân chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp, chăn nuôi hiệu quả thấp nên chưa khuyến khích người nuôi mở rộng quy mô đàn Riêng nuôi
bò sữa vẫn phát triển, tổng đàn bò sữa tại thời điểm trên của cả nước đạt 167 nghìn con, tăng 17% so với cùng thời điểm năm 2011 Đàn gia cầm có 308,5 triệu con, giảm 4,4% so với thời điểm 01/10/2011, trong đó đàn gà 223,7 triệu con, giảm 3,86% Tính đến ngày 20/12/2012, cả nước không còn địa phương nào có dịch bệnh trên gia súc, gia cầm chưa qua 21 ngày
Sản lượng thịt hơi các loại năm 2012 ước tính đạt 4,3 triệu tấn, tăng 2,5% so với năm trước, trong đó sản lượng thịt trâu tăng 0,8%; sản lượng thịt
bò tăng 2,4%; sản lượng thịt lợn tăng 2%; sản lượng thịt gia cầm tăng 4,8% Sản lượng trứng tăng 5,8%; sữa tươi tăng 10,5%; mật ong tăng 4,8%; kén tằm tăng 6,5%
Thuỷ sản
Sản lượng thủy sản năm 2012 ước tính đạt 5732,9 nghìn tấn, tăng 5,2%
so với năm 2011, trong đó cá đạt 4343,7 nghìn tấn, tăng 5,3%; tôm đạt 632,7 nghìn tấn, tăng 0,3% Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2012 ước tính đạt
1059 nghìn ha, tăng 0,7% so với năm trước, trong đó diện tích nuôi cá tra là 11,5 nghìn ha, tăng 3,4%; diện tích nuôi tôm sú 599,2 nghìn ha, giảm 1,4%; diện tích tôm thẻ chân trắng 34,3 nghìn ha, tăng 17,2%
Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm nay ước tính đạt 3110,7 nghìn tấn, tăng 6,1% so với năm 2011, trong đó cá đạt 2402,2 nghìn tấn, tăng 6,5%; tôm 473,9 nghìn tấn, giảm 1% Nuôi cá tra vẫn gặp khó khăn do giá không ổn định, những tháng đầu năm giá tăng cao nhưng các tháng sau giá giảm trong khi giá cả các yếu tố đầu vào tăng như: Giá thuốc, thức ăn, nhiên liệu, v.v gây tâm lý e ngại và chưa khuyến khích các hộ mạnh dạn đầu tư mở rộng diện tích thả nuôi Mặc dù Chính phủ đưa ra gói hỗ trợ 9000 tỷ đồng cho ngành cá tra,
Trang 22với mức lãi suất cho vay giảm nhưng đến nay người dân chưa mạnh dạn đầu
tư nuôi lại vì thị trường tiêu thụ không ổn định, trong khi đó các nhà máy luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu Đối với một bộ phận các doanh nghiệp nuôi cá tra quy mô lớn, do chủ động và thực hiện các biện pháp khắc phục khó khăn nên nhìn chung tương đối ổn định
Sản lượng thủy sản khai thác năm 2012 đạt 2622,2 nghìn tấn, tăng 4,3% so với năm 2011, trong đó khai thác biển đạt 2418 nghìn tấn, tăng 4,8%
Mô hình tổ đội kết hợp trong tổ chức khai thác biển nhằm tiết kiệm chi phí đang được các địa phương khuyến khích nhân rộng Hiện nay tàu thuyền đánh bắt tập trung chủ yếu vào khai thác có chọn lọc các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao Một số nghề đạt sản lượng khá là nghề cào, nghề lưới vây ánh sáng, nghề câu mực, đặc biệt là nghề câu cá lớn như cá ngừ Sản lượng cá ngừ đại dương năm 2012 đạt 18 nghìn tấn, tăng 38% so với năm 2011 Một số địa phương có sản lượng cá ngừ đại dương khai thác đạt khá trong năm là: Phú Yên 6100 tấn, tăng 8% so với năm 2011;Bình Định 8389 tấn, tăng 78,7%, Khánh Hòa 3500 tấn, tăng 29,7% [4]
Trang 23Bảng 1.1: Kết quả một số chỉ tiêu chính đạt đƣợc của ngành nông nghiệp
Một số chỉ tiêu Đơn vị
tính
Thực hiện % so với 15/12/11 15/12/12 C.kỳ
(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 12 tháng năm 2012 ngành nông
nghiệp và phát triển nông thôn của Bộ NN&PTNT)
Trang 241.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên có 354.318 ha diện tích đất tự nhiên Trong đó: Diện tích đất nông nghiệp là 294.011 ha, chiếm 83,21%; diện tích đất phi nông nghiệp là 45.637 ha, chiếm 12,92%; diện tích đất chưa sử dụng là 13.669 ha, chiếm 3,87% [7]
Bảng 1.2: Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên năm
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2013)
Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn lên đến 83,21 % trong tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên Trong đất nông nghiệp, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 108.074 ha chiểm 30,59% trong đó đất trồng cây hàng năm là 63.794 ha chiếm 18,06% và đất trồng cây lâu năm là 44.280 ha chiếm 12,53% Diện tích đất lúa là 47.008 ha chiếm 73,69% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm Diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 4.373 ha
Trang 25- sản xuất nông, lâm nghiệp: Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp - thuỷ sản cả năm 2012 ước tính đạt 2.775,5 tỷ đồng, tăng 7,5% so với năm 2011 (theo giá so sánh năm 2010 ước đạt 8.612 tỷ đồng); cơ cấu trong giá trị sản xuất, nông nghiệp chiếm 93,6%, lâm nghiệp chiếm 3,7% và thuỷ sản chiếm 2,7%
Tính chung cả năm 2012, diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 119,07 nghìn ha, tương đương năm 2011; dự ước sản lượng lương thực năm 2012 đạt 445,5 nghìn tấn, giảm 3,2 nghìn tấn (-0,7%) so với năm 2011 Giá trị sản xuấ
ển mạnh theo hướng chăn nuôi trang trại, chăn nuôi công nghiệp sản xuất hàng hóa, nguyên nhân do năm 2011 dịch bệnh kéo dài làm giảm số lượng tổng đàn, sang năm 2012 do không bị thiệt hại về dịch bệnh như năm trước nên tổng đàn tăng nhanh, tuy nhiên do giá bán sản phẩm các tháng giữa năm liên tục giảm trong điều kiện giá thức ăn tăng nên hiệu quả sản xuất không cao, mức tăng trưởng giá trị tăng thêm chỉ tăng 4,8% so với năm 2011
Diện tích lúa cả năm ước đạt 72,5 nghìn ha, tăng 1,4 nghìn ha, năng suất cả năm ước đạt 51 tạ/ha, giảm 0,75 tạ/ha; dự ước sản lượng thóc cả năm đạt 370 nghìn tấn, bằng 107% so với kế hoạch, tăng 0,4% so với năm
2011 Diện tích ngô ước thực hiện đạt 17,9 nghìn ha, giảm 3,5%, năng suất ước đạt 42,07 tạ/ha, giảm 1,2 tạ/ha so với năm 2011, sản lượng ước đạt 75,5 nghìn tấn, giảm 4.589 tấn so với năm 2011
Theo kết quả điều tra chăn nuôi tại thời điểm 01/10/2012 toàn tỉnh có: đàn lợn 544,82 nghìn con, tăng 28,18 nghìn con so với thời điểm 1/10/2011, trong đó đàn lợn thịt là 450,8 nghìn con, tăng 6,23% (tương ứng với tăng 26,45 nghìn con); đàn gia cầm 8,3 triệu con tăng 4,8% (+0,38 triệu con); đàn trâu là 70,58 nghìn con giảm 4,4% (-3,38 nghìn con); đàn bò là 34,77 nghìn con tăng 12,8% (+3,95 nghìn con)
Sản lượng thịt hơi xuất chuồng cả năm 2012 đạt 83,4 nghìn tấn, tăng 12,8% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng thịt lợn hơi 63,3 nghìn tấn, tăng
Trang 2614,7% (riêng sản lượng của khối trang trại chăn nuôi chiếm khoảng 20%); thịt gia cầm 13,8 nghìn tấn, tăng 8,5%; riêng sản lượng thịt trâu và bò hơi xuất chuồng tăng 5% cùng kỳ
2011 Dự tính diệ
ớ ại cả năm 2012 toàn tỉnh là 1.271 ha và toàn bộ là chè cành (chè trồng mới ước đạt 516 ha và chè trồng cải tạo là 755 ha), tăng 11,4% so với trồng năm 2011 Tổng diện tích trồng rừng mới tập trung trên địa bàn năm 2012 đạt 4.890 ha, bằng 81,9% so với năm 2011; trong đó rừng sản xuất đạt 4.789 ha, rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 101 ha Riêng do địa phương trồng đạt 4.633 ha, giảm 1.134 ha so với cùng kỳ Trồng cây phân tán đạt 390
ha, khoanh nuôi tái sinh đạt 1.250 ha; khai thác gỗ đạt 146 nghìn m3
gỗ, tăng 74% so với năm 2011, chủ yếu được khai thác từ gỗ rừng trồng đến hạn khai thác Diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2012 đạt 4.784 ha, tương đương diệ
ản lượ ỷ sản đạt 6.870 tấn, tăng 6% so với năm 2011, về cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ
Trong năm 2012, các địa phương cũng thực hiện có hiệu quả các chính sách của tỉnh hỗ trợ phát triển sản xuất, khuyến khích phát triển trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản Ngoài chính sách hỗ trợ của tỉnh, một số địa phương thực hiện hỗ trợ thêm giá giống cây lương thực như Đại Từ, Đồng Hỷ, Phổ Yên
Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới như: tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết và thông tin tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng đến các tầng lớp cán bộ, đảng viên; xây dựng Chương trình hành động cụ thể, phát động phong trào thi đua chung tay xây dựng nông thôn mới; hoàn thành công tác lập quy hoạch Đồ
án xây dựng nông thôn mới, Đề án xây dựng nông thôn mới và Đề án phát triển sản xuất, phát triển kinh tế hợp tác Các cấp, ngành và ban giám sát cộng đồng
ở cơ sở thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, quản lý, giám sát trong quá trình
Trang 27triển khai thực hiện, nhất là có sự giám sát rất chặt chẽ của nhân dân sở tại; nhằm thực hiện đẩy mạnh phát triển hạ tầng nông thôn và giúp tiêu thụ xi măng trên địa bàn, tỉnh đã triển khai 40 nghìn tấn xi măng cho các địa phương vay, cùng với nguồn đối ứng và đóng góp về cát sỏi, công lao động của nhân dân đã tạo không khí tích cực trong thực hiện xây dựng nông thôn mới, ước thực hiện trong năm 2012 với tổng số 375 công trình, chiều dài trên 213 km đường giao thông nông thôn [16]
Bảng 1.3: Các chỉ tiêu về Nông, lâm nghiệp, thủy sản
tính
Thực hiện
2011
Kế hoạch
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành
0
- Giá trị sản xuất trên diện tích đất
nông nghiệp trồng trọt (theo giá thực
( Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH năm 2012, phương hướng, nhiệm vụ phát triển KT-XH năm 2013 tỉnh Thái Nguyên)
Trang 281.2.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của một số nước đã từng xây dựng Nông thôn mới trên thế giới
Mỹ: phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp”
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa
Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp
Mỹ Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồng rất thuận lợi: máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt tiền Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn Phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí, theo các nhà môi trường, quá phổ biến Công nghệ vũ trụ được sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản phẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy, hải sản, chẳng hạn như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá
Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các
tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo
Trang 29ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn
Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra
ít trang trại hơn, nhưng quy mô các trang trại thì lớn hơn nhiều Đôi khi được
sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn Vào năm 1940, Mỹ
có 6 triệu trang trại và trung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng 67 ha, đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, số trang trại chỉ còn 2,2 triệu nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190 ha Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh - từ 12,5 triệu người năm
1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập niên 90 của thế kỷ trước - dù cho dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi Và gần 60% trong số nông dân còn lại
đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trang trại; thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để bù đắp thêm thu nhập cho mình
Hiện nay, trong cuộc sống hiện đại ồn ào, đầy sức ép, người Mỹ ở vùng
đô thị hay ven đô hướng về những ngôi nhà thô sơ, ngăn nắp và những cánh đồng, phong cảnh miền quê truyền thống, yên tĩnh Tuy nhiên, để duy trì
“trang trại gia đình” và phong cảnh làng quê đó thực sự là một thách thức [1]
Nhật Bản: “Mỗi làng một sản phẩm”
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản)
đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu
Trang 30vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào
“Mỗi làng một sản phẩm”
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất
là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình [1]
Hàn Quốc: Phong trào Làng mới
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo
Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và, hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được
mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân
Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn
Trang 31thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631 km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322 m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220 km, trung bình mỗi làng là 1.280 m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên
cố hóa 7.839 km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào
Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là, năm 1971 cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975, trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp,
áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế
Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết, Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi
đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn [1]
Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng
nông thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước
bỏ ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ
hỗ trợ cho 33.267 làng, mỗi làng 335 bao xi măng Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, dân làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án
Trang 32Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục
vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977, thu nhập trung bình của các hộ tăng lên 3 lần
Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác
định nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ
sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng
Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập
hội đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình
Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc
đã thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán bộ HTX do dân bầu chọn Phong trào SU là bước ngoặt đối với sự phát triển của HTX hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch
vụ khác Trong vòng 10 năm, doanh thu bình quân của một HTX tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won
Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh
toàn dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ
Trang 33giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng Nếu năm 1970, phá rừng còn là quốc nạn, thì 20 năm sau, rừng xanh đã che phủ khắp nước, và đây được coi là một kỳ tích của phong trào SU
Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có [1]
Thái Lan: sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo
Trang 34đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:
- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng
- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm 2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực
Trang 35phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, ngày nay thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận
- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc
mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của
Trang 36nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [1]
Trung Quốc là nước có nền nông nghiệp lớn và lâu đời nhất thế giới, đồng thời là một trong những chiếc nôi của nền nông nghiệp thế giới Do đó, nền nông nghiệp Trung Quốc đã tích lũy nhiều kinh nghiệm thâm canh
cổ truyền với một hệ thống công cụ sản xuất thủ công phong phú, đa dạng, tận dụng nguồn lao động dồi dào ở nông thôn, bảo đảm sản xuất nông nghiệp tự túc, tự cấp có hiệu quả cao Kể từ khi tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa đến nay, nền nông nghiệp Trung Quốc đã có nhiều thay đổi, phát triển theo hướng hiện đại hóa và bền vững Kinh tế nông nghiệp Trung Quốc đã có sự chuyển dịch cơ cấu tích cực nhằm tạo ra năng suất cây trồng, vật nuôi cũng như hiệu quả lao động cao, sản xuất nhiều nông sản hàng hóa Nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đã có những bước thay đổi to lớn và đạt được những thành tựu đáng kể, đời sống nông dân được cải thiện từng bước, một bộ phận dân cư đã có đời sống khá giả Là nước có diện tích đất canh tác khan hiếm
và eo hẹp, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp cao, Trung Quốc chủ trương nâng cao hiệu quả sử dụng đất và cải tạo đất trồng, giải quyết vấn đề dôi dư lao động Vì vậy, quốc gia này đã thực hiện thu hẹp kiểu kinh doanh cần nhiều lao động, mở rộng việc kinh doanh tập trung vốn và kỹ thuật Đó là điều có lợi cho nông dân, cho công cuộc cải cách nông thôn và việc phân bổ tối ưu các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp Thực tế cho thấy, phương thức kinh doanh trên những mảnh ruộng manh mún cổ truyền trước đây không còn phù hợp với việc thâm canh bằng tập trung vốn và kỹ thuật Chỉ có
Trang 37phương thức kinh doanh với quy mô lớn mới tạo tiền đề cho việc đầu tư nhiều vốn và kỹ thuật nhằm đạt tới một nền sản xuất hiện đại và bền vững
Hiện nay, nông nghiệp vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc Tổng kết kinh nghiệm 20 năm cải cách và phát triển kinh tế nông thôn, Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ rõ: "Không có sự ổn định của nông thôn sẽ không có sự
ổn định của cả nước, không có sự sung túc của nông dân sẽ không có sự sung túc của nhân dân cả nước, không có hiện đại hóa nông nghiệp sẽ không có hiện đại hóa của toàn bộ nền kinh tế quốc dân" Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng định rằng, hiện nay và trong một thời gian dài nữa, nông nghiệp Trung Quốc vẫn giữ vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế; hiện đại hóa nông nghiệp là một bộ phận trọng yếu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quan điểm trên xuất phát từ thực tế là ở Trung Quốc, nông nghiệp có vai trò mà không một ngành kinh tế nào có thể thay thế được Tuy nhiên, trên thực tế, nông nghiệp Trung Quốc vẫn chưa đạt tới trình
độ hiện đại hóa và bảo đảm sự phát triển bền vững Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã ban hành một loạt chính sách có lợi cho việc giải quyết vấn đề "tam nông" như: thực hiện xóa bỏ thuế nông nghiệp và phụ thu thuế nông nghiệp; trợ cấp cho nông dân sản xuất lương thực; thực hiện chế độ khám chữa bệnh loại hình mới trong cả nước, trong đó có việc giải quyết khám chữa bệnh cho nông dân
Qua hơn 20 năm cải cách nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa và phát triển bền vững, Trung Quốc đã thu được những bài học kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn Đó là: Bảo đảm đầy đủ quyền
tự chủ, phát huy tính tích cực của nông dân; phát triển nhiều loại hình sở hữu kinh tế, trong đó công hữu là chủ thể, thực hiện sở hữu tập thể đối với ruộng đất kinh doanh khoán gia đình, tách quyền sử dụng với quyền sở hữu; cải cách theo hướng thị trường, tạo ra sức sống mới cho kinh tế nông thôn;
Trang 38xây dựng địa vị chủ thể của trang trại trong kinh doanh tự chủ của các nông
hộ, khuyến khích nông dân phát triển sản xuất hàng hóa hướng về thị trường; tôn trọng tinh thần sáng tạo của nông dân, thúc đẩy sự nghiệp cải cách, khoán chế độ trách nhiệm đến hộ gia đình và phát triển các xí nghiệp hương trấn; kiên trì đường lối căn bản “từ quần chúng mà ra, đi vào quần chúng"; coi trọng cao độ nông nghiệp, kết hợp cải cách nông thôn và cải cách thành thị
Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững và hiện đại hóa hiện là xu thế tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế các nước Trung nền tảng ổn định xã hội và tích lũy cho công nghiệp, thu hút vốn đầu
tư, phát triển công nghiệp hướng vào xuất khẩu, làm tăng nhanh tiềm lực kinh tế đất nước
Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa
và phát triển bền vững của các nước này là bài học kinh nghiệm để chúng ta tham khảo và học tập [1]
Trang 39CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Trong giới hạn của nghiên cứu này chỉ tập chung vào điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất nông nghiệp của một số xã điểm về xây dựng Nông thôn mới của huyện Võ Nhai:
- Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp: Trồng trọt (kể cả lâm nghiệp), chăn nuôi
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: 3 xã điểm xây dựng nông thôn mới là Lâu Thượng, xã Phú Thượng và xã La Hiên
- Phạm vi về thời gian: từ tháng 6/2012 – 6/2013
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Quy mô và tổ chức quản lý sản xuất nông nghiệp tại một số xã điểm xây dựng nông thôn mới
- Vai trò của nông nghiệp và các nguồn lực phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
- Quy mô diện tích canh tác, diện tích cây trồng, số đầu gia súc, mét vuông diện tích nuôi trồng thủy sản,… bình quân trên hộ tại địa bàn nghiên cứu;
- Số lượng và chất lượng các trang trại sản xuất nông nghiệp trên địa bàn;
- Loại hình tổ chức sản xuất (hợp tác xã, nhóm hộ, câu lạc bộ, tổ chức nông dân,…): số lượng, chất lượng, hoạt động,…
2.2.2 Trình độ, năng lực sản xuất và các tiến bộ kỹ thuật công nghệ áp dụng trong sản xuất tại một số xã xây dựng nông thôn mới
- Trình độ và năng lực sản xuất: Nhân lực (số lượng, chất lượng), cơ sở vật chất, thiết bị,…
Trang 40- Kỹ thuật công nghệ áp dụng trong sản xuất: Các kỹ thuật tiến bộ, nguồn cung cấp kỹ thuật tiến bộ, phản ứng của người sản xuất về kỹ thuật tiến bộ,…
- Các thuận lợi và khó khăn trong sản xuất nông nghiệp của các xã nghiên cứu
2.2.3 Đề xuất các giải pháp trong phát triển sản xuất nông nghiệp theo tiêu chí xây dựng NTM của một số xã điểm của huyện Võ Nhai
Căn cứ theo kết quả điều tra, đưa ra một số giải pháp, cụ thể:
- Giải pháp nhằm tăng thu nhập, giảm nghèo theo tiêu chí số 10,11
- Giải pháp nhằm giảm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp theo tiêu chí
số 12
- Giải pháp nhằm phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo tiêu chí số 13
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu thứ cấp: phương pháp thu thập thông tin từ các nguồn
khác nhau như tại UBND các xã Lâu Thượng, Phú Thượng, La Hiên, UBND huyện Võ Nhai, Phòng NN&PTNT huyện Võ Nhai, Ban chỉ đạo Chương trình NTM tỉnh Thái Nguyên…
Thông tin thứ cấp trong đề tài này nhằm thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, khí hậu thời tiết, đất đai,…), các điều kiện kinh tế - xã hội (hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ sản xuất, cơ cấu kinh tế,
cơ cấu lao động, thu nhập bình quân, tỷ lệ hộ nghèo,…) tại các xã nghiên cứu; thu thập các thông tin liên quan đến các hình thức tổ chức sản xuất như số lượng, lĩnh vực hoạt động, chất lượng, các sản phẩm nông sản… của các hình thức tổ chức đó trên địa bàn các xã nghiên cứu; thu thập các thông tin về diện tích, năng suất cây trồng, vật nuôi,…