Đã có nhiều doanh nghiệp Việt nam đi đầu trong việc khai thác các lợi thế của Thương mại điện tử để tìm kiếm các cơ hội kinh doanh mới, quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm mới đến
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2TMĐT: Thương mại điện tử
CNTT: Công nghệ thông tin
DN: Doanh nghiệp
NH: Ngân hàng
BĐS: Bất động sản
E – ASEAN: ASEAN điện tử
CMND: Chứng minh nhân dân
SEO: Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (Search Engine Optimization)
SEM: Tiếp thị thông qua công cụ tìm kiếm (Search Engine Marketing)
ICT: Công nghệ thông tin và truyền thông ( Information and Communication
Technologies)
Trang 3MỤC LỤC BẢNG VÀ HÌNH
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Thương mại điện tử (electronic-commerce) chính là một công cụ hiện đại sử dụng mạng Internet giúp cho các doanh nghiệp có thể thâm nhập vào thị trường thế giới, thu nhập các thông tin quản trị nhanh hơn, nhiều hơn, chính xác hơn Với Thương mại điện tử, các doanh nghiệp cũng có thể đưa ra các thông tin về sản phẩm của mình đến các đối tượng khách hàng tiềm năng khác nhau ở mọi nơi trên thế giới - những nơi mà có thể kết nối Internet Khi đó với chi phí đầu tư thấp và nhiều tiện ích khác, các doanh nghiệp có thu được nhiều lợi ích như:
- Thu thập được các thông tin phong phú về thị trường và đối tác.
- Đưa thông tin của mình trên phạm vi không gian ảo rộng lớn không bị giới hạn bởi vị trí địa lý hay biên giới quốc gia và tất cả những người , những doanh nghiệp kết nối Internet
có thể xem được thông tin này vào bất cứ lúc nào.
- Trao đổi thông tin với khách hàng, đối tác nhanh hơn, nhiều hơn với chi phí thấp hơn nhiều lần so với các phương pháp truyền thống.
Ở Việt nam , Thương mại điện tử đã được bàn đến rất nhiều trong đời sống kinh tế
xã hội Đã có nhiều doanh nghiệp Việt nam đi đầu trong việc khai thác các lợi thế của Thương mại điện tử để tìm kiếm các cơ hội kinh doanh mới, quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm mới đến với đông đảo người tiêu dùng, …
Trong quá trình hội nhập WTO, AFTA quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thì vấn
đề đặt ra hiện nay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt nam là phải sẵn sàng thích ứng với môi trường kinh doanh mới dựa trên cơ sở của nền kinh tế số hóa mà bước đi đầu tiên là phải ứng dụng TMĐT vào trong chính quá trình sản xuất kinh doanh của mình
Tuy vậy, các điều kiện để có thể phát triển Thương mại điện tử ở nước ta vẫn chưa thực sự sẵn sàng với nhiều lí do khác nhau, như hạ tầng cơ sở kĩ thuật yếu kém, thiếu nguồn nhân lực có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin nghiêm trọng, chưa có hệ thống pháp luật phù hợp với nền kinh tế số đó chính là những rào cản cho chúng ta bước vào
kỷ nguyên kỹ thuật số với Thương mại điện tử là bước đi đầu tiên, tạo tiền đề cho toàn bộ nền kinh tế phát triển nhảy vọt, hòa nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, góp phần vào việc đẩy nhanh thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp hóa – hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế tri thức - một xu hướng tất yếu của thời đại
Nhận thức được tầm quan trọng của các nhân tố bên ngoài tác động đến Thương mại điện tử cũng như là mức độ ảnh hưởng của Thương mại điện tử đến các nhân tố ấy Em
đã chọn đề tài “ Mối quan hệ hai chiều giữa Thương mại điện tử và môi trường bên ngoài” để tìm hiểu Vì có những hạn chế về lượng kiến thức và tài liệu tham khảo nên sẽ
không tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được nhận xét và sự góp ý của thầy bộ môn để đề tài của em được hoàn thiện hơn nữa
Trang 5PHẦN 1: TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI
VIỆT NAM NĂM 2011
1.1 TỖNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Thương mại điện tử hay e-commerce bao gồm một loạt các hoạt động kinh
doanh trực tuyến đối với các sản phẩm và dịch vụ, giữa bản thân các doanh nghiệp cũng như giữa doanh nghiệp với khách hàng thông qua Internet
Đặc trưng cơ bản của TMĐT : Các bên tiến hành giao dịch TMĐT không tiếp
xúc trực tiếp với nhau; TMĐT được thực hiện trong một thị trường thống nhất toàn cầu; Mọi hoạt động giao dịch TMĐT có ít nhất ba chủ thể tham gia; Mạng lưới thông tin trong TMĐT chính là thị trường
Ví dụ: việc trưng bày hình ảnh hàng hóa, thông tin về doanh nghiệp trên website cũng là một phần của Thương mại điện tử, hay liên lạc với khách hàng qua email, tìm kiếm khách hàng thông qua việc tìm kiếm thông tin trên mạng Internet,…
Các mô hình TMĐT : Các mô hình giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh
nghiệp (B2B); doanh nghiệp với cơ quan nhà nước (B2G); doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C)…
TMĐT bao gồm:
+ Một là khảo hàng trực tuyến (Online shopping): bao gồm các thông tin và hoạt động nhằm cung cấpcho khách hàng thông tin cần thiết để tiến hành kinh doanh với bạn và đưa ra một quyết định mua hàng hợp lý
+ Hai là mua hàng trực tuyến (Online purchasing): cơ sở hạ tầng công nghệ để trao đổi dữ liệu và mua sản phẩm trên Internet
Có nhiều cấp độ thực hiện TMĐT: Ở cấp độ cơ bản, doanh nghiệp có thể chỉ mới
có website trưng bày thông tin, hình ảnh, tìm kiếm khách hàng qua mạng, liên hệ với khách hàng qua email mà thôi Cấp độ cao hơn thì doanh nghiệp đã có thể thực hiện một số giao dịch trên mạng như cho khách hàng đặt hàng thẳng từ trên mạng, quản lý thông tin khách hàng, đơn hàng bằng cơ sở dữ liệu tự động trên mạng, có thể xử lý thanh toán qua mạng bằng thẻ tín dụng
Lợi ích và hạn chế của TMĐT: TMĐT mang lại là mở rộng phạm vi giao dịch và
tiếp cận toàn cầu; giảm chi phí; cải thiện quan hệ với khách hàng; tăng doanh; tạo lợi thế canh tranh cho DN…Những hạn chế về kỹ thuật và phi kỹ thuật đó là sự thiếu an toàn của
hệ thống và cơ sở kỹ thuật của các giao tiếp cần thiết; về an toàn và bảo mật; các vấn đề pháp lý trong TMĐT…
Trang 6Ứng dụng của thương mại điện tử : Lĩnh vực thương mại hàng hóa, dịch vụ; Tài
chính, ngân hàng; Xuất bản điện tử; Đào tạo trên mạng; Chính phủ điện tử; Các ứng dụng khác như Quảng cáo trực tuyến, quảng cáo qua thư điện tử, nghiên cứu thị trường trực tuyến
1.2 TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM NĂM 2011 1.2.1.Thông tin chung:
2001 – 2010 được coi là thập kỷ hình thành TMĐT ở Việt Nam Có thể thấy tới cuối năm 2010 hạ tầng cơ bản cho ứng dụng TMĐT tại Việt Nam đã được xác lập Nếu như tới giữa thập kỷ này ứng dụng và triển khai TMĐT chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn thì tới cuối năm 2010 nó đã lan truyền tới tất cả các tỉnh trên cả nước
Việc điều tra cho Báo cáo TMĐT 2011 được tiến hành theo hướng cơ bản giữ nguyên quy mô khảo sát cho tất cả các địa phương, đồng thời phối hợp với Sở Công Thương và Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh điều tra với quy mô khá lớn thực trạng ứng dụng CNTT và TMĐT tại Thành phố Hồ Chí Minh
Độ chính xác và tin cậy của việc khảo sát tình hình ứng dụng TMĐT tại các doanh nghiệp phụ thuộc đáng kể vào các thông tin yêu cầu doanh nghiệp cung cấp tại mẫu phiếu khảo sát Mẫu phiếu điều tra khảo sát năm 2011 đã được điều chỉnh theo hướng phù hợp hơn với tình hình phát triển của TMĐT, đồng thời đảm bảo tốt hơn tính bí mật kinh doanh cũng như tránh cho người khai phải cung cấp trùng lặp thông tin Việc sửa đổi mẫu phiếu đảm bảo cấu trúc cơ bản của các câu hỏi không thay đổi và thông tin có thể so sánh được liên tục giữa các năm tới mức cao nhất
Tỷ lệ các phiếu được lãnh đạo doanh nghiệp trực tiếp điền năm 2011 là 24% Tỷ lệ này tương tự như năm 2010 cho thấy nhiều lãnh đạo doanh nghiệp quan tâm tới TMĐT, nhưng mặt khác cũng phản ánh tỷ lệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia điều tra khá cao Tỷ lệ các phiếu do cán bộ quản lý và nhân viên điền năm 2011 là 8% và 68% Các tỷ
lệ này cũng không khác nhiều so với năm 2010
Hình 1.1: So sánh về tỷ lệ người đại diện doanh nghiệp trả lời phiếu khảo sát giữa năm 2010
(hình 1.1.1) và năm 2011 (hình 1.1.2)
1.2.2 Wedsite:
Xu thế kinh doanh hiện đại trên thế giới cũng như ở Việt Nam đòi hỏi mọi doanh nghiệp, dù kinh doanh trong lĩnh vực nào, quy mô doanh nghiệp ra sao, đều cần có website riêng Tỷ lệ doanh nghiệp có website là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ ứng dụng TMĐT
Loại trừ sai số giữa các cuộc điều tra qua các năm, có thể thấy tỷ lệ doanh nghiệp
có website trong năm 2011 không thay đổi đáng kể so với năm trước Tính chung trên cả
Trang 7Trong khi tỷ lệ doanh nghiệp có website không tăng, tỷ lệ 11% doanh nghiệp chưa
có website nhưng dự kiến sẽ xây dựng website thậm chí còn giảm so với các năm trước Cả hai tỷ lệ quan trọng này đều không tăng có thể do hậu quả của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động sâu sắc và toàn diện tới các doanh nghiệp Việt Nam Các doanh nghiệp đã cắt giảm tới mức cao nhất chi phí kinh doanh, bao gồm các chi phí mới cho quảng cáo và đầu tư chiều sâu, kể cả cho xây dựng website
Hình 1.2: Tình hình sở hữu website của doanh nghiệp trong giai đoạn 2006 - 2011
Phân tích tỷ lệ doanh nghiệp có website theo lĩnh vực kinh doanh, tương tự như các năm trước có thể thấy lĩnh vực CNTT và TMĐT vẫn đi tiên phong trong việc xây dựng website phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh với tỷ lệ 72% doanh nghiệp có website Tỷ
lệ này của năm 2010 là 63%
Nhóm doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu website cao thứ hai là nhóm các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bất động sản với tỷ lệ 45% Tỷ lệ cao các doanh nghiệp tài chính, ngân hàng coi trọng việc ứng dụng công nghệ thông tin và TMĐT trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, bao gồm cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng thông qua website là một xu hướng rõ ràng từ nhiều năm qua Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp kinh doanh bất động sản đã khai thác tốt công cụ website để giới thiệu sản phẩm
Tỷ lệ cao các doanh nhiệp thuộc nhóm này có website phản ảnh xu hướng đó
Một lĩnh vực khác có tỷ lệ website cao và ổn định là lĩnh vực nông, lâm, thủy sản
Có thể phán đoán các doanh nghiệp trong lĩnh vực này có định hướng hội nhập và xuất khẩu rất cao nên coi trọng việc xây dựng website nhằm giới thiệu hình ảnh và sản phẩm của doanh nghiệp Năm 2011, có tới 37% doanh nghiệp trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản
có website và 11% doanh nghiệp có kế hoạch xây dựng website Các tỷ lệ này của năm
2010 là 32% và 21% Như vậy, suy thoái kinh tế hầu như không ảnh hưởng tới ứng dụng TMĐT của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này Có thể có mối tương quan chặt chẽ giữa
Trang 8các tỷ lệ này với tỷ lệ tăng trưởng cao khoảng 28% của kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam năm 2011 so với năm 2010.
Đáng chú ý, tỷ lệ 28% các doanh nghiệp thuộc nhóm kinh doanh thương mại, bán buôn, bán lẻ có website là khá thấp Xét về vị trí tương đối qua các năm điều tra, tỷ lệ có website của nhóm doanh nghiệp này luôn luôn đứng ở vị trí trung bình thấp
Từ đó có thể nhận xét các doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối ở Việt Nam nói chung chưa bắt nhịp với trình độ công nghệ và quản lý hiện đại Đây có thể là một yếu tố khiến cho chi phí phân phối hàng hóa và dịch vụ còn cao
Kết quả khảo sát nội dung của website theo các tiêu chí giới thiệu doanh nghiệp, giới thiệu sản phẩm, cho phép đặt hàng trực tuyến và cho phép thanh toán trực tuyến cho thấy có sự cải thiện rõ ràng Tỷ lệ website có các chức năng cao hơn chức năng giới thiệu doanh nghiệp và sản phẩm như chức năng đặt hàng và thanh toán trực tuyến đã tăng lên đáng kể Năm 2011 có tới 32% website có chức năng đặt hàng trực tuyến so với tỷ lệ 20% của năm 2010 Tỷ lệ website có chức năng thanh toán trực tuyến là 7%, cao hơn gấp đôi so với tỷ lệ 3% của năm 2010
Hình 1.3: Tỷ lệ doanh nghiệp sở hữu website theo lĩnh vực hoạt động năm 2010 ( Hình 1.3.1)
và năm 2011 ( Hình 1.3.2)
Trang 9Hình 1.4: So sánh tỷ lệ các chức năng của website giữa năm 2010 và năm 2011
1.2.3 Nhận đơn đặt hàng:
Việc khảo sát bốn phương tiện điện tử chủ yếu là điện thoại, fax, email và website
để nhận đơn đặt hàng được tiến hành đều đặn trong nhiều năm Trong khi tỷ lệ các doanh nghiệp nhận đơn đặt hàng qua các phương tiện điện thoại, email và website không có sự thay đổi rõ ràng thì tỷ lệ các doanh nghiệp nhận đơn đặt hàng qua phương tiện fax đã giảm dần
Bảng 1.1: Doanh nghiệp sử dụng phương tiện điện tử nhận đơn đặt hàng năm 2010 -2011
Bảng 1.2: Doanh nghiệp sử dụng phương tiện điện tử để đặt hàng năm 2010 - 2011
1.2.5 Sàn giao dịch thương mại điện tử
Theo thống kê của Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin, tính đến hết năm 2011 đã có khoảng 130 doanh nghiệp nộp hồ sơ đăng ký sàn giao dịch TMĐT, trong
đó Cục đã xác nhận đăng ký cho 35 website sàn giao dịch Các website đã đăng ký có mô hình hoạt động khá đa dạng, tuy nhiên có thể xếp chung thành một số nhóm sau:
- Các sàn giao dịch điện tử được tổ chức theo mô hình trung tâm thương mại hoặc chợ điện
tử, nơi các thành viên được mở “gian hàng ảo” và có quyền quản lý, cập nhật thông tin, hình ảnh trên các gian hàng đó (ví dụ chodientu, enbac, vatgia, 123mua, v.v…)
- Các website cung cấp dịch vụ kinh doanh theo nhóm, nơi nhiều doanh nghiệp có thể thông qua website tiến hành hoạt động truyền thông, tiếp thị và trực tiếp bán hàng hóa, dịch
vụ cho khách hàng (muachung, muare, bookdeal, v.v…)
Trang 10- Các website rao vặt, diễn đàn, nơi thành viên có thể đăng ký tài khoản và đưa thông tin về nhu cầu mua bán ở dạng đơn giản như tin rao vặt hay chủ đề thảo luận (ví dụ rongbay.com, nhavadat.vn, v.v…)
Từ 35 sàn giao dịch TMĐT đã đăng ký, đến cuối năm 2011 Cục TMĐT và CNTT
đã thống kê được lưu lượng giao dịch trực tuyến rất khả quan, với hơn 1,5 triệu giao dịch được ghi nhận trên 30 sàn, đạt tổng giá trị giao dịch hơn 4.130 tỷ đồng Bản thân các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sàn giao dịch TMĐT cũng đã có doanh thu: 15 trên 30 doanh nghiệp được khảo sát báo cáo phát sinh doanh thu trong năm 2011, với tổng doanh thu đạt gần 111 tỷ đồng Những con số này cho thấy dịch vụ TMĐT nói chung và dịch vụ sàn giao dịch TMĐT đang là một hình thức kinh doanh nhiều tiềm năng, mở ra cơ hội phát triển cho
cả doanh nghiệp cung ứng dịch vụ cũng như doanh nghiệp sử dụng dịch vụ để tiến hành hoạt động kinh doanh khác trên môi trường trực tuyến
Bảng 1.3: Thống kê hoạt động các Sàn giao dịch TMĐT đã được xác nhận đăng ký năm 2011
Số thành viên tham gia giao dịch 3.148.000 thành viên
Số giao dịch thành công 1.501.000 giao dịch
Tổng giá trị giao dịch thành công 4.130 tỷ VNĐ
Trong tổng doanh thu của những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sàn giao dịch TMĐT, phí thu từ các thành viên tham gia sàn chiếm tới 84% nguồn doanh thu, phí thu được từ các hoạt động quảng cáo là 10% và 6% là từ các hoạt động khác như doanh thu bán hàng trực tiếp, phí đào tạo, phí tính trên giá trị giao dịch của thành viên…
Hình 1.5: Nguồn doanh thu của các sàn giao dịch TMĐT năm 2011
Trong số 30 sàn giao dịch TMĐT được thống kê, nếu xếp theo quy mô doanh thu thì riêng 5 sàn giao dịch hàng đầu đã chiếm thị phần áp đảo, với giá trị giao dịch cộng gộp trên 5 sàn này chiếm 94% tổng giá trị giao dịch thành công và doanh thu cộng gộp chiếm 86% tổng doanh thu của toàn bộ 30 sàn 5 sàn giao dịch TMĐT đó là: vatgia.com, enbac.com, muachung.vn, chodientu.vn và 123mua.vn
Hình 1.6: Thị phần tổng giá trị giao dịch và thị phần doanh thu của các sàn TMDT năm 2011
Trang 11Tổng hợp kết quả điều tra các trở ngại khi ứng dụng, triển khai TMĐT tại Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2011 cho thấy môi trường tổng thể cho sự phát triển TMĐT đã thay đổi theo hướng thuận lợi rõ rệt Thứ nhất, mức trở ngại chung đã giảm liên tục qua các năm với điểm trung bình từ 3.09 năm 2005 xuống còn 2.28 năm 2011 Thứ hai, phân tích
độ lệch giữa điểm cao nhất và điểm thấp nhất theo từng năm trong giai đoạn cho thấy sự khác biệt giữa các trở ngại đã được thu hẹp dần, làm cho trở ngại lớn nhất không quá chênh lệch so với những trở ngại khác
Bảng 1.4: Tổng hợp đánh giá các trở ngại trong triển khai TMĐT giai đoạn 2005 – 2011
Các trở ngại 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
An ninh mạng - 2.78 2.90 2.37 2.83 2.54 2.38 Nhận thức xã hội và môi trường kinh
doanh 3.09 2.45 2.48 2.49 3.07 2.55 2.36
Hệ thống thanh toán điện tử 3.27 3.19 2.84 2.64 2.76 2.39 2.30 Nguồn nhân lực 2.95 2.45 2.54 2.49 2.68 2.32 2.26 Môi trường pháp lý 3.11 2.64 2.55 2.57 2.69 2.29 2.25 Dịch vụ vận chuyển và giao nhận - - - - 2.56 2.30 2.11 Nhận thức của người dân 3.32 3.23 2.74 2.43 2.89 2.49 -
Hạ tầng CNTT và Truyền thông 2.81 2.22 2.32 2.68 - -
-Điểm trung bình 3.09 2.71 2.62 2.52 2.78 2.41 2.28
Độ lệch giữa điểm cao nhất và thấp nhất 0.51 1.01 0.58 0.31 0.51 0.26 0.27
*) Các ô với ký hiệu “-” tương ứng với tiêu chí không đưa vào đánh giá.
Tuy nhiên, môi trường xã hội, tập quán kinh doanh thương mại và nhận thức của người dân chưa cao đã và vẫn tiếp tục có xu hướng là trở ngại hàng đầu đối với việc triển khai TMĐT Bên cạnh đó, lo ngại về an toàn thông tin số có thể thuộc nhóm các trở ngại lớn nhất trong những năm tới
Trang 12PHẦN 2: MỐI QUAN HỆ HAI CHIỀU GIỮA MÔI TRƯỜNG
KINH DOANH VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
2.1 NHÂN TỐ CHÍNH TRỊ:
2.1.1 Vai trò của chính phủ trong việc phát triển của TMĐT:
Trong khi có sự đồng ý chung rằng thành phần tư nhân cần nắm vai trò dẫn đầu trong việc phát triển và sử dụng thương mại điện tử, chính phủ đóng vai trò như một công
cụ trong việc khuyến khích sự tăng trưởng của thương mại điện tử qua những phương pháp thực hành cụ thể như là:
* Tạo ra một môi trường chính sách thuận lợi cho TMĐT:
Một số vấn đề chính sách công trong thương mại điện tử chính phủ thực hiện là:
- “Xóa khoảng cách số” hay thúc đẩy việc tiếp cận tới mạng thông tin dễ tiếp cận
và rẻ tiền
- Việc thừa nhận hợp pháp các giao dịch thương mại điện tử
- Bảo vệ người tiêu dùng từ lỗi vi phạm
- Bảo vệ quyền của người tiêu dùng với sự riêng tư
- Bảo vệ hợp pháp với sự đột nhập (hay sự tiếp cận không được phép tới hệ thống máy tính)
- Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
* Chính phủ cần là người sử dụng đi đầu của thương mại điện tử nếu các thành phần doanh nghiệp và tư nhân khác nhau liên quan tới các hoạt động được khuyến khích tham gia mạng đó là thành lập chính phủ điện tử
Cũng như thương mại điện tử, có nhiều cách định nghĩa về Chính phủ điện tử
Chính phủ điện tử là khái niệm về việc các cơ quan chính phủ sử dụng công nghệ thông tin như : Mạng diện rộng, Internet, các phương tiện di động để quan hệ với công dân, giới doanh nghiệp và bản thân các cơ quan của chính phủ hay là việc cung cấp thông tin và các dịch vụ chính phủ qua Internet hay các phương tiện điện tử Từ đó chính phủ trở thành một sự ảnh hưởng tích cực Chính phủ điện tử có thể hình thành từ các giao dịch điện tử như là đăng ký công ty, thuế, ứng dụng cho các yêu cầu liên quan tới nhân viên và doanh nghiệp
Trang 132.1.2 Ở Việt Nam, Chính phủ sử dụng thương mại điện tử như thế nào?
Internet ra đời đã làm thay đổi nhiều hình thái hoạt động của con người, đồng thời thúc đẩy việc phổ cập và thâm nhập của tri thức vào các hoạt động trên toàn thế giới Về mặt điều hành Nhà nước (hay còn gọi là về mặt cầm quyền) người ta lại nói đến Chính phủ điện tử, vì đó là môi trường bảo đảm cho sự thành công của thương mại điện tử và nền kinh
tế số sau này Trong khuôn khổ các hoạt động của ASEAN, Chính phủ ta đã ký Hiệp định khung về E-ASEAN ASEAN điện tử có nhiều nội dung song nổi lên 2 mảng là Chính phủ điện tử và Thương mại điện tử Việc ký Hiệp định này, đòi hỏi chúng ta phải triển khai các hoạt động của Hiệp định, từng bước xây dựng hạ tầng cơ sở nhằm hiện thực hóa Chính phủ điện tử và thương mại điện tử ở Việt Nam Khi nói đến Chính phủ điện tử thì đề cập hai nhóm công việc chính, đó là:
- Một là các dịch vụ chính phủ trực tuyến : Trước đây các cơ quan chính phủ
cung cấp dịch vụ cho dân chúng tại trụ sở của mình, thì nay, nhờ vào CNTT và viễn thông, các trung tâm dịch vụ trực tuyến được thiết lập, hoặc là ngay trong trụ sở cơ quan chính phủ hoặc gần với dân Qua các cổng thông tin cho công dân (Citizen Portal) là các trung tâm này người dân nhận được thông tin, có thể hỏi đáp pháp luật, được phục vụ ( giải quyết) các việc trong cuộc sống hàng ngày, như công chứng, đăng ký lập doanh nghiệp, đăng ký nhân khẩu, sang tên trước bạ v.v mà không phải đến chầu chực tại trụ sở các cơ quan trên như trước đây
- Hai là tác nghiệp chính phủ : Là việc số hoá, hay điện tử hoá bản thân các hoạt
động trong chính phủ, giữa các cơ quan chính phủ khác cấp và cùng cấp ở đây người ta nói đến cơ cấu tổ chức, trình độ quản lý của bộ máy cũng như nhân viên chính phủ, việc quản lý lưu trữ công văn tài liệu trên nền công nghệ Web, các biểu báo thống kê điện tử, việc sử dụng mạng máy tính và Internet để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước và các tác nghiệp của bản thân bộ máy chính phủ
Nhà nước ta đã và đang triễn khai một số dự án và đề xuất ứng dụng thương mại điện tử trong việc quản lý nhà nước như sau:
Thứ nhất là cấp CMND điện tử:
Theo thông tin của ICTnews, Đại diện Cục Quản lý hành chính và trật tự xã hội (C64), Bộ Công an cho biết, đến tháng 6/2011, Bộ Công an đã cấp máy tính, và phần mềm quản lý và in CMND cho 80% tổng số các đơn vị cấp huyện trên toàn quốc, dự kiến tới cuối năm sẽ cấp cho các đơn vị còn lại để triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất
Từ quý 3/2011, Bộ Công an sẽ thí điểm cấp CMND theo công nghệ mới là sản phẩm thẻ CMND có kích thước theo chuẩn quốc tế với nhiều đặc điểm bảo an và in mã vạch hai chiều để lưu trữ một số thông tin nhân thân cơ bản Các trường hợp cấp mới, cấp đổi và cấp lại CMND điện tử sẽ không được miễn lệ phí
Trang 14Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng ( hiện nay là chủ tịch Quốc Hội ) vừa đồng ý
về nguyên tắc với đề nghị của Bộ Công an, Bộ Tài chính về việc thu lệ phí CMND theo công nghệ mới Đồng thời lưu ý 2 Bộ cần quy định rõ việc miễn, giảm lệ phí đối với trường hợp ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người thuộc hộ nghèo, chính sách, Cần lưu ý, theo Chỉ thị số 24/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường, chấn chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật phí và lệ phí, thì khi đăng ký cấp mới CMND, người dân sẽ được miễn lệ phí
Tuy nhiên, theo Quyết định số 446/QĐ-TTg ngày 11/5/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt dự án sản xuất, cấp và quản lý CMND theo công nghệ mới thì để có kinh phí tổ chức sản xuất, cấp, quản lý CMND điện tử, Bộ Công an được phép thu lệ phí để đầu tư trở lại cho đến khi hoàn thành dự án Dự kiến sẽ có 71 triệu CMND điện tử được cấp mới
Thứ hai là phát hành hộ chiếu điện tử:
Theo thông tin VNMedia cho biết, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vừa ký quyết định phê duyệt đề án sản xuất và phát hành hộ chiếu điện tử Việt Nam Đề án này sẽ được thực hiện trong 4 năm với tổng dự toán đầu tư là 1024 tỷ đồng Mục đích của việc sản xuất và phát hành hộ chiếu điện tử Việt Nam chính là nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về xuất nhập cảnh, đồng thời đáp ứng yêu cầu đảm bảo an ninh quốc gia và tăng cường hội nhập quốc tế
Dự án này sẽ chia làm 2 giai đoạn Giai đoạn 1 (từ đầu năm 2011 đến hết năm 2012), sẽ đầu tư cho sản xuất và phát hành hộ chiếu điện tử ở trong nước Giai đoạn 2, trong hai năm tiếp theo, sẽ đầu tư cho việc mở rộng phát hành hộ chiếu điện tử ra các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và triển khai việc kiểm soát hộ chiếu điện tử tại các cửa khẩu Theo đó, Bộ công an sẽ chủ trì dự án đầu tư dây chuyền thiết bị và phần mềm sản xuất hộ chiếu điện tử Việt Nam; và dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật, thiết bị và phần mềm phục vụ cấp phát, kiểm soát và quản lý hộ chiếu điện tử Bộ Ngoại giao sẽ triển khai dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật, thiết bị và phần mềm cấp phát hộ chiếu điện tử trong các đơn vị thuộc Bộ này Trong khi đó, Bộ Quốc phòng sẽ thực hiện dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật, thiết bị và phần mềm kiểm soát hộ chiếu điện tử và người xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu
do Bộ này quản lý
Theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, công nghệ nhận dạng vân tay triển khai trong đề án phải tương thích với các công nghệ nhận dạng vân tay sử dụng trong hệ thống chứng minh nhân dân điện tử, và hệ thống tàng thư tội phạm do Bộ Công an đang xây dựng
Ngoài ra, cơ sở dữ liệu quốc gia về hộ chiếu điện tử phải đảm bảo khả năng mở rộng và tích hợp để trao đổi, chia sẻ và sử dụng lại dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác về dân cư, chứng minh nhân dân và tội phạm
Thứ ba là dùng định vị vệ tinh ( GPS) chống buôn lậu:
Theo VNExpress, đề án dùng dịch vụ định vị vệ tinh (GPS) để giám sát hàng hóa xuất, nhập khẩu đang được Tổng cục Hải quan xây dựng và dự kiến áp dụng trong thời gian tới Cục Giám sát quản lý về Hải quan, Tổng cục Hải quan có văn bản gửi Công ty cổ
Trang 15phần Nam Hải đề nghị phối hợp cùng xây dựng hệ thống định vị vệ tinh để giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu.
Cơ quan này cho hay, Tổng cục Hải quan đang có chủ trương triển khai ứng dụng dịch vụ định vị vệ tinh GPS trong quản lý, giám sát hàng hóa vận chuyển bằng container trên mọi tuyến đường Hải quan đến nghị phía Nam Hải phối hợp đưa ra các giải pháp kỹ thuật, gồm xây dựng thiết bị định vị GPS, hệ thống máy chủ, cơ sở dữ liệu, phần mềm quản
lý, hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin đảm bảo truyền và xử lý dữ liệu đáp ứng yêu cầu quản lý Bên cạnh đó, hải quan cũng yêu cầu phía Nam Hải xác định được vị trí và tốc độ hiện tại, giám sát lộ trình, vận tốc, hướng di chuyển ngay trên nền bản đồ số chi tiết toàn Việt Nam qua máy tính Đồng thời thống kê số quãng đường xe di chuyển, cảnh báo khi xe dừng đỗ quá thời gian cho phép Ngoài ra, hệ thống định vị này cũng đáp ứng được yêu cầu
có thể cảnh báo khi xe đi sai lộ trình cho máy chủ quản lý và một số điện thoại đã được đăng lý Bên cạnh đó, thiết bị cũng theo dõi và mô phỏng được lộ trình di chuyển của xe, lưu trữ các thông tin trên máy vi tính và có thể xem lại khi cần
Thứ tư là triển khai thủ tục hải quan điện tử:
Thủ tục hải quan điện tử bắt đầu được triển khai từ ngày 26/6/2005 theo Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử Bộ Tài chính triển khai thí điểm thủ tục hải quan theo hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (từ 10/2005 - 11/2009): Giai đoạn thí điểm hẹp
- Giai đoạn 2 (từ 12/2009 – 12/2011): Giai đoạn thí điểm mở rộng
Tính đến ngày 15/10/2011đã có 46.919 doanh nghiệp tham gia thí điểm thủ tục hải quan điện tử, chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, gia công
và sản xuất hàng xuất khẩu Các doanh nghiệp tham gia tập trung tại 5 địa bàn hải quan lớn
là TP Hồ Chí Minh – 30.256, Hải Phòng – 9.706, Hà Nội –2.449, Lạng Sơn – 1.089, Bình Dương – 771 Số lượng tờ khai thực hiện bằng thủ tục hải quan điện tử đạt 2.510.153 tờ3, gấp gần 10 lần số lượng của năm 2010 Kim ngạch XNK thực hiện qua thủ tục hải quan điện tử đạt 198.932,94 triệu USD, gấp 7 lần so với năm 2010 Tổng số thuế thu được 187.867,18 tỷ VNĐ, gấp 4,5 lần so với năm 2010
Trên cơ sở các kết quả đạt được sau 5 năm triển khai, ngày 23/3/2011 Văn phòng Chính phủ đã có Công văn số 1757/VPCP-KTTH cho phép triển khai mở rộng thủ tục hải quan điện tử (TTHQĐT) tại 07 Cục Hải quan Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa thiên Huế, Bình Định, Đắc lăk, Tây Ninh, Long An
Thứ năm là thu thuế điện tử:
Hệ thống khai thuế điện tử bắt đầu được thực hiện thí điểm theo Quyết định số 1830/QĐ- BTC ngày 29 tháng 7 năm 2009 của Bộ Tài chính Đến cuối năm 2011 đã có khoảng 56.000 doanh nghiệp tham gia kê khai thuế điện tử, tăng hơn 5 lần so với con số 10.000 doanh nghiệp tham gia khai thuế điện tử vào năm 2010.Các tổ chức, doanh nghiệp đáp ứng những điều kiện sau sẽ được tham gia khai thuế
điện tử:
- Các tổ chức doanh nghiệp đã được cấp mã số thuế (MST) và đang hoạt động
- Đang thực hiện lập hồ sơ khai thuế bằng phần mềm ứng dụng hỗ trợ kê khai
từ phiên bản 2.1.0 trở lên do Tổng cục thuế cung cấp miễn phí
Trang 16- Đã được cấp Chứng thư số của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký
số công cộng được Bộ Thông tin và truyền thông cấp phép hoạt động
- Có khả năng truy cập và sử dụng Internet đồng thời có địa chỉ thư điện tử
liên lạc ổn định với cơ quan thuế
- Thực hiện tốt nghĩa vụ thuế
Đến cuối năm 2011 hệ thống khai thuế điện tử đã được triển khai tại 41 tỉnh thành, tăng 22 tỉnh so với năm 2010 Đã có 69.393 người nộp thuế đăng ký dịch vụ khai thuế điện
tử, trong đó có 54.364 người nộp thuế đã thực hiện kê khai thuế điện tử hàng tháng.Việc khai thuế điện tử có thể thực hiện trực tiếp với cơ quan thuế - trên hệ thống iHTKK hoặc qua dịch vụ T-VAN của bên thứ ba (tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế) Theo số liệu thống kê của Tổng cục thuế, đã có 58.785 người nộp thuế đăng ký sử dụng hệ thống iHTKK và 51.535 người nộp thuế thực hiện kê khai thuế điện tử hàng tháng qua hệ thống này Với phương thức khai thuế điện tử qua dịch vụ T-VAN, đã có 10.608 ngưởi nộp thuế đăng ký và 2.829 người nộp thuế thực hiện kê khai thuế điện tử hàng tháng qua dịch vụ này Tổng số tờ khai thuế điện tử cơ quan thuế đã tiếp nhận là 719.176 tờ khai
Các sáng kiến thương mại điện tử của chính phủ là thước đo chỉ ra liệu hạ tầng đó
có ủng hộ việc sử dụng thương mại điện tử của các công ty tư nhân Điều này có nghĩa nếu chính phủ không có khả năng ứng dụng mua bán trên mạng, bảo mật các dữ liệu trên mạng hay có phí hải quan hoàn trả điện tử hay không, do đó thành phần tư nhân cũng có những khó khăn trong việc ứng dụng thương mại điện tử Lợi ích từ thương mại điện tử cũng đến với chính phủ, theo như kinh nghiệm của một số nước như Singapore, Hàn Quốc, Malaysia
Dưới đây là một số đề xuất sử dụng TMĐT để cải thiện hệ thống chính trị, theo trang quantriwed:
Thứ nhất là vấn đề Hoàng sa và Trường xa:
Với hình ảnh trên Google map thì những người nước ngoài sẽ nghĩ quần đảo bên cạnh là của Trung Quốc
Trang 17Hình 2.1: Vị trí của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Google Map
Từ đó hình thành ý tưởng là :Thế mạnh của chúng ta là bạn bè quốc tế sử dụng Google để search còn Trung Quốc lại dùng Baidu vậy thì tại sao không SEO tràn ngập thông tin và bằng chứng về hai quần đảo đó là của Việt Nam Nếu tiến hành theo cách này, gần 6 tỷ dân còn lại sẽ hiểu hai đảo kia là của chúng ta
Thứ hai là vấn đề cuộc chiến chống chất độc màu da cam:
Hiện nay chúng ta đang đấu tranh đòi quyền được bồi thường thiệt hại chất độc da cam Nhưng chúng ta vẫn chưa dành được phần thắng Vì những người biết thì không nói, còn đại đa số người dân mỹ lại không biết vì không có thông tin
Từ đó hình thành ý tưởng rằng: SEO trên google.com để dẫn đến một bài báo của Mỹ về việc các công ty Mỹ phải có trách nhiệm với người bị hại và với thế hệ Việt Nam
Hình 2.2: Những từ khóa về chất độc màu da cam và dioxin
2.2 NHÂN TỐ PHÁP LUẬT
2.2.1 Sự ảnh hưởng của pháp luật đến hoạt động kinh doanh TMĐT
Đến cuối năm 2011, khung pháp lý cho TMĐT Việt Nam đã cơ bản định hình với một loạt văn bản từ luật, nghị định cho đến thông tư điều chỉnh những khía cạnh khác nhau của hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin và TMĐT Bên cạnh hệ thống luật chuyên ngành, các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động TMĐT cũng cần nắm vững và tuân thủ những quy định liên quan trong các văn bản pháp luật về kinh doanh, thương mại
Trang 18Hai văn bản cốt lõi nhất điều chỉnh hoạt động thương mại là Bộ luật dân sự và Luật Thương mại đã thừa nhận giá trị pháp lý của giao dịch điện tử thông qua việc thừa nhận thông điệp dữ liệu – hình thức biểu hiện cụ thể của giao dịch điện tử Bên cạnh Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại, người tham gia TMĐT còn phải tuân thủ quy định khác liên quan tới hoạt động kinh doanh, thương mại như Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Quảng cáo, v.v… Những văn bản luật này cũng dành một
số điều cụ thể quy định về giao dịch điện tử
Khung pháp lý cho giao dịch điện tử nói chung và TMĐT nói riêng được hình thành với hai trụ cột chính là Luật Giao dịch điện tử và Luật Công nghệ thông tin, tám nghị định hướng dẫn Luật, cùng một loạt thông tư quy định chi tiết những khía cạnh cụ thể của giao dịch điện tử trong từng lĩnh vực ứng dụng đặc thù
Luật Giao dịch điện tử đặt nền tảng pháp lý cơ bản cho các giao dịch điện tử trong
xã hội bằng việc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu, đồng thời quy định khá chi tiết về chữ ký điện tử, một yếu tố đảm bảo độ tin cậy của thông điệp dữ liệu khi tiến hành giao dịch Nếu Luật Giao dịch điện tử tập trung điều chỉnh các khía cạnh pháp lý của giao dịch điện tử, thì Luật Công nghệ thông tin chủ yếu quy định về hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin cùng những biện pháp bảo đảm về mặt chính sách và hạ tầng cho các hoạt động này Trong số năm nghị định hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử, có ba nghị định tập trung điều chỉnh về thông điệp dữ liệu trong các lĩnh vực kinh tế đặc thù là thương mại, tài chính và ngân hàng Nghị định về TMĐT tiếp tục được chi tiết hóa bằng hai thông tư, trong đó một thông tư hướng dẫn về việc cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website TMĐT, một thông tư quy định về quản lý hoạt động của các website TMĐT bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ Hai Nghị định hướng dẫn về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính và ngân hàng cũng được cụ thể hóa bằng một loạt thông tư bên dưới để điểu chỉnh từng nghiệp vụ đặc thù như chứng khoán, thuế, kho bạc, hóa đơn, thanh toán điện tử liên ngân hàng, v.v…
Bên cạnh các văn bản thuộc hệ thống Luật Giao dịch điện tử, hoạt động TMĐT còn chịu sự điều chỉnh của Luật Công nghệ thông tin cùng những văn bản hướng dẫn thi hành Trong số các vấn đề được quy định tại Luật Công nghệ thông tin, có 2 nhóm vấn đề lớn cần đặc biệt lưu ý là các quy định về Internet – nền tảng kỹ thuật của hoạt động TMĐT nói chung, và quy định về ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước – nền tảng của việc triển khai loại hình TMĐT B2G trong tương lai
Hoạt động giao dịch điện tử nói chung và TMĐT nói riêng chịu sự điều chỉnh của rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật Bên cạnh hệ thống luật về TMĐT và công nghệ thông tin, giao dịch TMĐT còn phải tuân thủ các quy định của Luật Thương mại, Luật Quảng cáo, Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ người tiêu dùng, cũng như tất cả các quy định khác về hoạt động kinh doanh - thương mại Do đó, những hành vi vi phạm trong TMĐT tùy theo tính chất có thể bị xử lý theo các văn bản khác nhau
Chế tài đối với các hành vi vi phạm được chia làm 2 loại: xử phạt hành chính và
xử lý hình sự Ở mức độ thông thường, vi phạm trong giao dịch TMĐT sẽ bị xử lý căn cứ