1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion

73 628 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó -đã kích thích mối quan tâm ứng dụng phương pháp này vào thực tiễn và cần thiết tổng kết lại các tư liệu tham khảo mà cho đến nay trong các tổng quan mới chỉ được đề cập rời rạc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN HOÁ HỌC

Lưu Thị Kim Nhung

GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG TRONG TỔNG

HỢP PREGNAN TỪ PHYTOSTEROL THÔNG QUA ANDROSTENDION

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - Năm 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN HOÁ HỌC

Lưu Thị Kim Nhung

GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG TRONG TỔNG

HỢP PREGNAN TỪ PHYTOSTEROL THÔNG QUA ANDROSTENDION

Chuyên ngành: Hóa Hữu cơ

Mã số: 60 44 27

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Đức Huy

Hà Nội – Năm 2011

Trang 3

1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN 4

1.1 Phương pháp cyanhydrin tổng hợp mạch bên pregnan 4

1.2 Phương pháp acetylen tổng hợp mạch bên pregnan 7

1.2.1 Ngưng tụ 17-cetoandrosten với acetylen 8

1.2.2 Chuyển hoá 17-etynylcacbinol đến dẫn xuất 17-etynylsteroid tương ứng `11

1.3 Tổng hợp mạch bên corticoid 16

1.3.1 Chuyển hoá nhóm 17-etynyl đến mạch bên corticoid 16

1.3.2 Chuyển hóa 20-cetopregnan đến mạch bên corticoid 20

1 4 Tổng hợp 16β-metyl-17α-hydroxy pregnan 21

1.4.1 Đưa mảnh 17α-hydroxy-16β-metyl vào 20-cetopregnan 21

1.4.2 Đưa nhóm metyl vào vị trí 16β phân tử corticosteroid 23

Chương 2: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

2.1 Tổng hợp mạch bên pregnan áp dụng phương pháp cyanhydrin 30

2 2 Tạo mạch bên corticoid sử dụng hợp chất đa hóa trị của iod PhI(OAc)2 42

2 3 Nghiên cứu chọn lựa lập thể tổng hợp 16β-metyl-17α-hydroxy pregnan 50

Chương 3: THỰC NGHIỆM 55

3 1 Tổng hợp 17α-hydroxy-17β-cyanandrost-4-en-3-on (2) 55

3 2 Tổng hợp 17α-hydroxy-3,3 (2,2-dimetyl propylen dioxy)-androst-5 -en-17β-carbonitril (3) 55

3 3 Tổng hợp 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)-17β-cyanandrost-5 ,16(17)-dien (4) 56

3 4 Tổng hợp 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)-pregn-5, 16(17)-dien-20-one (5) 56

3 5 Tổng hợp 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)-16α,17α-epoxy-pregn-5-en-20-one (6) 57

Trang 4

2

3 6 Tổng hợp 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)-16α,17α-epoxy-20,20-dimetyl

(7) 57

3 7 Tổng hợp 16α,17α-epoxy-21-hydroxy –pregn-4-en- 3,20-dion ( 8 ) 57

3 8 Tổng hợp 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)- 17α-hydroxy -pregn-5-en -20-one (10) 58

Trang 5

3

MỞ ĐẦU

Hiện nay Việt Nam phải nhập khẩu tới 90% hoạt chất làm thuốc, 100% các thuốc có gốc steroid và nền công nghiệp Hóa dược gần như là chưa có, do vậy giá thuốc rất cao so với mức thu nhập của người dân

Trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Chương trình trọng điểm quốc gia về Hoá - Dược từ 2007 đến 2015 có tính đến 2020, nhằm thúc đẩy

và tạo ra cú huých cho công nghiệp Hoá - Dược nước nhà phát triển Tháng 10/2007, Đại hội Hoá - Dược diễn ra ở Hà Nội, Hội Hoá - Dược được thành lập, và bàn bạc rất sôi nổi, hưởng ứng “Chương trình trọng điểm Hoá- Dược quốc gia” Phần lớn các ý kiến đều đồng nhất quan điểm cho rằng: Hiện nay, chương trình Hoá - Dược Việt Nam muốn thành công vẫn phải ưu tiên đi vào các nguồn hợp chất thiên nhiên như sterol đậu tương, flavonoid….[10]

Trước đây diosgenin và solasodin là nguyên liệu số 1 cho tổng hợp các loại thuốc steroid Tuy nhiên chúng phải gieo trồng trên đất nông nghiệp nhiều năm mới

có thu hoạch, do vậy giá thành cao Từ lâu người ta đã ra sức tìm kiếm các nguồn nguyên liệu rẻ tiền hơn Các sterol thực vật (phytosterol) được chú ý đến nhiều nhất

vì chúng có trữ lượng rất lớn và có thể thu hồi được từ phế phụ thải công nghiệp giấy, công nghiệp mía đường và công nghiệp dầu đậu tương Điều này đã trở thành hiện thực sau khi phát minh ra một số chủng vi sinh phân cắt chọn lựa mạch bên các sterol đến các 17-cetosteroid: androstendion (AD), androstadiendion (ADD) và

9-hydroxyandrostendion (9-OH AD) [3, 4, 23, 99]

Một số công ty dược lớn trên thế giới “Apdzon’’ [60] và “Serl”[18] của Mỹ,

“Sering” [73] của LB Đức, “Mitsubisi” [49] của Nhật đã đưa ra thị trường một vài dược phẩm đầu tiên được bán tổng hợp từ sterol thông qua 17-cetosteroid trung gian [2]

Ở Việt Nam, từ những năm 1978-1980 đã có một số lượng lớn cán bộ khoa học Viện Hoá học–Viện Khoa học và Công nghệ Việt nam (Viện KHVN-tên cũ)

và Viện Dược liệu - Bộ Y tế ra sức tìm kiếm nguồn nguyên liệu diosgenin và solasodin từ cây cỏ Việt Nam Kết quả là sau nhiều năm điều tra sàng lọc không chỉ

ra được cây nào có thể làm nguyên liệu vì hàm lượng hoạt chất quá thấp Cây

Trang 6

4

solanum di thực từ Liên Xô cũ vào Việt Nam trồng thử ở Lâm Đồng nhưng dần bị thoái hoá Một vài cây dioscorea lấy giống từ Mehico cho hàm lượng diosgenin khá cao và ổn định Vì vậy, Bộ Y tế đã có đề án quốc gia chiết xuất và chuyển hoá diosgenin đến các loại thuốc steroid Tuy nhiên, sau ba kế hoạch 5 năm vẫn chưa đưa vào sản xuất một loại thuốc nào mà chỉ bán tổng hợp được một vài dẫn xuất ban đầu theo quy trình cũ từ những năm 1950; từ 1990 đến nay đề tài này không thấy được tiếp tục, có lẽ chính vì như trên đã nói thời thế đã thay đổi, sterol đang bắt đầu lên ngôi

Ở nước ta đang hoạt động một số nhà máy giấy cỡ lớn và đậu tương là một nông sản quan trọng thứ 3 với sản lượng hàng trăm ngàn tấn/ năm Do vậy thu hồi sterol từ phế phụ thải của hai ngành sản xuất trên là một vấn đề thời sự có ý nghĩa khoa học, kinh tế, xã hội và môi trường to lớn

Ở Việt Nam từ 1990 đến nay nhóm nghiên cứu của Lưu Đức Huy và cộng sự (Viện Hoá Học-Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã nghiên cứu nhằm hoàn thiện một số phương pháp mới chuyển hoá sterol đến corticoid thông qua 17-cetosteroid trung gian Mục đích cuối cùng là đưa ra một sơ đồ mới hiệu quả tổng hợp corticoid từ sterol thay thế cho các sơ đồ trước đây tổng hợp chúng dựa trên nguyên liệu cũ không còn tương lai diosgenin và solasodin

Năm 2006, lần đầu tiên Lưu Đức Huy và cộng sự Cuba đã công bố kết quả chuyển hoá vi sinh rất hiệu quả phytosterol, nguyên liệu Việt Nam đến androstendion (AD) và androstadiendion (ADD) [88]

Năm 2007, Bộ Khoa học  Công nghệ đã phê duyệt nhiệm vụ nghị định thư hợp tác với Liên bang Nga “Nghiên cứu công nghệ vi sinh chuyển hoá phytosterol đến androstendion (AD) và 9-hydroxy AD sử dụng trong công nghiệp Hoá-Dược”

do Lưu Đức Huy làm chủ nhiệm Vừa mới đây, Lưu Đức Huy và cộng sự Nga đã có công bố về công nghệ chuyển hóa vi sinh phytosterol của Việt Nam đến AD và 9α-OH AD với hiệu suất trung bình đạt 70% và 75÷80% tương ứng [98] Công nghệ còn được nghiên cứu cải tiến, nâng cấp nhờ áp dụng phương pháp xúc tác Immobil [38]

Trang 7

5

Về nguyên tắc khi nguyên liệu đầu là diosgenin hay solasodin, sau khi phân cắt chọn lọc mạch nhánh ta đã có được mạch bên pregnan; khi chuyển sang sterol

ta nhận được 17-cetosteroid, tức là chưa có mạch bên pregnan Như vậy, một trong

số các nhiệm vụ quan trọng nhất là xây dựng mạch bên pregnan Trong số nhiều phương pháp xây dựng mạch bên pregnan chúng tôi trình bày trong phần tổng quan, phương pháp cyanhydrin và phương pháp acetylen tỏ ra có triển vọng ứng dụng nhất

Từ phytosterol trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi hạn chế nghiên cứu các phương pháp chính sau:

1 Phương pháp cyanhydrin tạo mạch bên pregnan

2 Phương pháp tạo mạch bên corticoid sử dụng hợp chất đa hóa trị của iod PhI(OAc)2.

3 Phương pháp chọn lựa lập thể tổng hợp 16β-metyl-17α-hydroxy pregnan

Thuộc về một chương trình rộng lớn hơn của nhóm ngiên cứu do Lưu Đức Huy phụ trách, nghiên cứu tổng hợp các loại thuốc có gốc steroid đặc biệt là các corticoid

Trang 8

2 Ứng dụng phản ứng Vittic, tức là tương tác 17-cetosteroid với Ilit photpho

3 Ứng dụng phản ứng Knevenagel: ngưng tụ xúc tác bazơ 17-cetosteroid với hợp chất có nguyên tử hydro linh động như metoxy-, este cyanoacetic, isocyanoacetat, nitrometan v.v và tiếp theo, oxy hoá liên kết đôi C17=C20

4 Ứng dụng phản ứng Reformatxki: tương tác 17-cetosteroid với este của axit cacboxylic thế -halogen có mặt Zn và sau đó oxy hoá liên kết đôi C17=C20

5 Phương pháp acetylen, tức là 17-cetosteroit được ngưng tụ với acetylen; 17etynyl-17-hydroxy-androsten tạo ra sẽ được chuyển hoá đến pregnan bằng những phương pháp khác nhau Con đường acetylen bắt đầu phát triển chỉ vào những năm gần đây khi có được khả năng rõ ràng 17-etynyl hoá định hướng lập thể 17-cetosteroid hay là epime hoá hiệu quả trung tâm C17 của 17-etynyl-17-hydrocyandrosten nhận được ban đầu trong phản ứng ngưng tụ acetylen Điều đó

-đã kích thích mối quan tâm ứng dụng phương pháp này vào thực tiễn và cần thiết tổng kết lại các tư liệu tham khảo mà cho đến nay trong các tổng quan mới chỉ được đề cập rời rạc ở phạm vi tổng hợp mạch bên pregnan [4, 6, 7, 9] Trong tổng quan này chúng tôi sắp xếp bố cục theo thời gian phát triển của phương pháp chuyển hoá 17-cetoandrosten đến 20-cetopregnan, đặc biệt lưu ý tới các công trình gần đây nhất

1.1 Phương pháp cyanhydrin tổng hợp mạch bên pregnan

Phương pháp rất có ý nghĩa thực tiễn tổng hợp mạch bên pregnan là phương pháp cyanhydrin, bao gồm tương tác của các hợp chất 17-cetosteroid với acetocyanhydrin (hay HCN) và ankyl hoá tiếp theo hợp chất 17α-hydroxy-17β-

Trang 9

7

nitril vừa nhận được Phương pháp cyanhydrin xây dựng mạch bên corticoid từ AD

và 9-OH AD có hàng loạt ưu điểm: tính chọn lọc cao của phản ứng hydrocyan hoá vào nhóm 17-ceto, tác nhân acetocyanhydrin dồi dào, rẻ tiền Trong tổng hợp các pregnan từ AD chúng tôi đã chỉ ra tính hiệu quả cao của phản ứng này [72] Phương pháp cyanhydrin xây dựng mạch bên pregnan trên cơ sở AD cũng đã được

đề xuất bởi các tác giả Nhật [44]

Trong patent của hãng Apdzon [36], phương pháp cyanhydrin được áp dụng

để mô hình hoá các dẫn xuất khác nhau của AD Tuy nhiên việc sử dụng 9α-OH

AD là hợp chất đầu đã được tuyên bố nhưng chưa được mô tả trong các ví dụ Đã được biết để tránh chuyển vị không mong muốn với sự tham gia của nhóm 9-OH bậc 3 [18], một cách tiện lợi sẽ chuyển hoá nó đến dẫn xuất ∆9(11) , chức này khá bền vững hơn trong điều kiện các phản ứng tiếp theo Hãng Mitsubishi của Nhật đã

đề xuất điều chế 17β-cyan-17α-hydroxy-AD hay là dẫn xuất ∆9(11)-AD bằng cách hydrocyan Tuy nhiên phản ứng của ∆9(11)-AD với acetoncyanhydin trong các điều kiện đã được mô tả bởi tác giả xảy ra với sự tạo thành chỉ dẫn xuất không mong muốn 17α-cyan-17β-hydroxy trong khi phản ứng với sự có mặt nhóm 9α-hydroxy ở chính các điều kiện này chỉ cho đồng phân epime mong muốn 17β-cyan-17α-hydroxy Đồng phân epime 17β-cyan-17-hydroxy-∆9(11) có thể được nhận được bằng cách đồng phân hóa 17α-cyan-17-hydroxy tương ứng được tạo thành ban đầu bằng tác dụng, chẳng hạn natri cyanua hoặc là trietyl amoni hydrocyanua trong dung môi ancol bậc thấp [49] Tác giả patent [73] đã điều chế thành công đồng phân epime 17β-cyan-17α-hydroxy xuất phát từ ∆9

-AD với hiệu suất 93% trong môi trường rượu /nước khi sử dụng phương pháp epime hoá mà bản chất của phương pháp này là kết tủa dần dần đồng phân epime 17β-cyan bằng cách thay đổi nồng độ nước

O

Trang 10

8

Chuyển hoá xa hơn hợp chất 17β-cyan-17α-hydroxy- đến 20-cetopregnan đã được thực hiện bằng tương tác các cyanhydrin tương ứng với các nhóm 3-ceto- và 17α-hydroxy đã được bảo vệ với metyl liti hay metyl magie bromua [37, 44, 74, 86]

Để tạo ra hợp chất ∆16- có thể sử dụng dẫn xuất 17α-cyan-17β-hydroxy cũng như đồng phân 17β-cyan-17α-hydroxy của nó, và cũng như là hỗn hợp của chúng Ban đầu người ta este hoá nhóm 17-hydroxy của 17-cyanhydrin bằng cách tương tác với metalsulfonylchlorid, sau đó 17-cyano-17-metalsulfonyloxysteroid tạo ra được xử lí bằng tác nhân dehydrat hoá Ankyl hoá tiếp theo ∆16-dehydro-17-nitril bằng tác nhân Grignard cho phép chuyển hoá các dẫn xuất androstan đến 20-cetopregnan với hiệu suất cao [22] Phương pháp đã được hoàn thiện và áp dụng đối với các trường hợp 3-acetoxy-∆5

-17-cetoandrostan và AD [75]

Để điều chế 17-acetyl steroid từ 17-oxo-steroid có thể sử dụng các tác nhân acetyl đặc biệt gọi là tác nhân acetyl che chắn làm thay đổi hoạt tính của nhóm cacbonyl Các nguyên tắc và ứng dụng của khái niệm này đã được xem xét lại bởi D.Seebach [94], B.T.Grobel & D.Seebach [24] Trong sự có mặt của các tác nhân acyl che chắn bazơ mạnh dạng anion bền vững mà nó dễ phản ứng với cacbon cacbonyl và tạo ra hợp chất trung gian dễ bị thủy phân thành nhóm acetyl dẫn tới 17-acetyl steroid khi phản ứng với 17-oxosteroid Các tác nhân acyl che chắn có thể được sử dụng để tạo ra mạch bên pregnan [39, 76] Rất ưa dùng loại này là alkyl hoặc các vinyl aryl ete, alkyl hoặc vinyl aryl thioete hoặc 1,1-trimetylendithio-etan Việc sử dụng các vinyl ankyl ete được minh họa bởi Baldwin & Cs [12, 13]

Phương pháp này có thể được áp dụng để chuyển hoá cetosteroid đến 9α,17α-dihydroxy-20-ceto pregnan :

BR2R

S

S (CH2)3R

O

R R

Trang 11

-acetyl-Để nhận được đồng phân epime 17-acetyl mong muốn có thể dehydrat hóa

nó đến 16,17-dehydro steroid tương ứng

Các hợp chất 9α-hydroxy- steroid với nhóm chức 3-ceto và 17-hydroxy đã được bảo vệ, nhóm 17β-cyano có thể được chuyển hóa tới hợp chất 17-(1-imio etyl) mà không cần tách ra, được chuyển hóa tiếp theo tới các hợp chất 17β-acetyl tương ứng [77]

R

CH3NH

OH

Các phương pháp khác xây dựng mạch bên corticoid là rất phức tạp, tốn kém

và không có triển vọng thực tiễn do hiệu suất thấp các sản phẩm mong muốn Đó là tổng hợp với việc ứng dụng phản ứng Vittic và mô hình hoá phản ứng này (Phản ứng Khorner-Emmons) [19], tổng hợp với việc sử dụng phản ứng Knevenagel [82] với việc sử dụng phản ứng Reformatsky [20, 79, 80, 81] hay là các phương pháp khác đã biết [25, 82, 83, 84]

Để điều chế hợp chất với mạch bên corticoid từ 20-ceto steroid, đầu tiên tiến hành 21-halogen hóa, sau đó nguyên tử halogen được thay thế bằng nhóm acetyl , cuối cùng nhóm acetyl này được thuỷ phân đến nhóm chức 21-hydroxy mong muốn [90, 26, 58]

1.2 Phương pháp acetylen tổng hợp mạch bên pregnan

Trang 12

10

1.2.1 Ngưng tụ 17-cetoandrosten với acetylen

Etynyl hoá 17-cetosteroid ở điều kiện khống chế nhiệt động xảy ra từ phía của phân tử, tạo thành dẫn xuất 17-etynyl-17-hydroxy Thông báo đầu tiên 17-etynyl hoá 3-hydrocyandrostenon-17 bằng acetylen trong amoniac lỏng xuất hiện vào năm 1937 [31, 32, 75, 77], cho đến những năm 1970 đã được xem như là sự khẳng định vô luận về tính chất đặc thù lập thể của quá trình này, không phụ thuộc vào điều kiện ngưng tụ acetylen Theo một phương pháp cổ điển (Favorski) 17-cetosteroid được xử lý bằng acetylen, có mặt bazơ (ancolat kali, liti diizopropylamit v.v ); đồng thời các phản ứng với androstendion, androstandiendion xảy ra mà không đụng chạm đến nhóm chức 3-ceto, cho hiệu suất cao (95  96%) 17-etynylcacbinol [44, 50]

Trang 13

17-etynyl hoá [98] androst-4,9(11)-dien-3,17-dion (9

-AD) dễ kiếm trước đây [51 55] Ngưng tụ 9

-AD với acetylen có mặt tert-butylat kali xảy ra với hiệu suất90% và không đòi hỏi bảo vệ nhóm 4

-3-ceto mà nhóm này được bảo vệ bằng cách tạo thành enolat bền vững

9

-AD Lần đầu tiên vào năm 1979 Kanojia và cộng sự [34] đã chỉ ra khả năng điều chế trực tiếp 17-etynylcacbinol bằng cách etynyl hoá trực tiếp 17-cetosteroid

Trong trường hợp ngưng tụ ete-3-metylic estron với acetylen trong

N-metylpirolidon / KOH đã nhận được cùng với 17-etynylcacbinol như dự đoán

(mestranol), epime 17-etynylcacbinol (epimestranol) (87% và 13% tương ứng

theo đánh giá bằng sắc ký bản mỏng hay 7% epimestranol đã được tách ra bằng sắc

ký điều chế)

O

O O

O

O

O

O O

+

Trang 14

-bazơ mạnh (KOH, t-BuOK v.v ) và dung môi amin epime hoá (etylendiamin; propylendiamin; 1,2-diaminopropan; 1,2-diaminoxiclohexan v.v không dưới 5%); đồng dung môi là THF, ete Et2O, dioxan đã khẳng định chắc chắn rằng vắng mặt dung môi epime phản ứng xảy ra chỉ từ vùng  và chỉ tạo thành 17-etynylcacbinol Tuy nhiên, nếu để hỗn hợp phản ứng trong một khoảng thời gian dài (24 ngày) có thể làm tăng thêm một lượng nhỏ sản phẩm 17-etynyl hoá Thêm dung môi epime (5%) làm thay đổi tỉ lệ 17-etynyl /17-etynylcacbinol (tùy thuộc vào chất đầu được sử dụng) từ 90/10 đến 75/25(%) Với mục đích điều chế, các tác giả đề nghị tiến hành phản ứng trong dung môi 100% amin, khi đó hiệu suất

1,3-17-etynylcacbinol đạt 50% Thực tế, hãng Niu-zi-lan “Gist-Brocads” đã xây dựng bằng phát minh “phương pháp đặc thù lập thể 17-etynyl hoá 14-hydroxy-17-cetoandrostan” Thêm vào đó, các tác giả khẳng định rằng: có mặt nhóm chức 14-hydroxy trong phân tử không làm thay đổi hướng lập thể của phản ứng này [57]

Về nguyên tắc, phương pháp này ít khác biệt so với phương pháp trước đây, có chăng khi đó để etynyl hoá đã sử dụng phức chất của acetylenua liti với etylendiamin là một sản phẩm thương mại bền vững dạng bột dễ kiếm [17, 30] Có khả năng, chính yếu tố 17-etynylcacbinol được đưa ra khỏi môi trường phản ứng (dioxan), do vậy hiệu suất rất cao (92%) là chi tiết quan trọng của sáng chế này mà các tác giả đã không đặc biệt lưu ý đến

Trang 15

13

Ở đây chúng tôi xét thấy có sự tương tự với phương pháp cyanhydrin tổng hợp corticosteroid, khi đó 17-cyan hoá đặc thù lập thể 17-cetosteroid đạt được bằng cách kết tinh chọn lựa trực tiếp 17-nitril epime từ môi trường phản ứng trong điều kiện cân bằng nhiệt động [14, 45, 58-62] Phương pháp điều chế chọn lựa 17-cyanhydrin này đã được công bố 48 năm trước đây [21], nhưng chỉ những năm gần đây mới được quan tâm thoả đáng vì các sản phẩm trung gian có thể được sử dụng trong tổng hợp corticoid Xem xét tính chất tương tự rõ ràng giữa phương pháp cyanhydrin và ví dụ duy nhất hiện nay được dẫn ra ở trên 17-etynyl hoá 17-cetosteroid, có thể giả thiết rằng hướng này có thể phát triển trong thời gian tới

1.2.2 Chuyển hoá 17α-etynylcacbinol đến dẫn xuất 17β-etynylsteroid tương ứng

Chuyển hoá 17-etynylcacbinol đến các hợp chất với nhóm 17-etynyl, là nhóm chức hai nguyên tử C cần thiết để xây dựng mạch bên pregnan được thực hiện nhờ hai con đường sau: con đường thứ nhất bao gồm quá trình đề hydrat hoá nhóm 17-hydroxy, tạo ra 16 -enin; con đường thứ hai là epime hoá 17-etynylcacbinol qua 17-este của chúng

Trước nghiên cứu của Lưu Đức Huy và cộng sự [2], chưa được biết các thử nghiệm epime hoá trực tiếp 17-etynylcacbinol đến 17-etynylcacbinol bỏ qua giai đoạn 17-este hoá Chỉ có bằng sáng chế chuyển hoá rượu 17-etynylic thành 17-epime của nó trong điều kiện tổng hợp acetylen được thực hiện trong dung môi amin epime hoá [56]

Vào những năm gần đây, trên một phông phát triển mạnh mẽ các phương pháp khác nhau tổng hợp 20-cetopregnan từ 17-etynyl-17-hydroxyandrosten tỏ

ra có kết quả nhất là các phương pháp gián tiếp epime hoá thông qua 17-OR este (R = -SO3H, -COCF3, -NO2, v.v ) xúc tác muối kim loại và sau đó hydrat hoá

O

OH

OH O

OH OH

Trang 16

14

nhóm 17-etynyl; đồng thời trong một số trường hợp cả hai giai đoạn này được kết hợp làm một Hướng này bắt đầu phát triển vào những năm 1970 từ những nghiên cứu ít có ý nghĩa thực tiễn epime hoá 17-acetat-17-etynylcacbinol trên xúc tác

Al2O3, tuy nhiên cho ta khả năng có tính nguyên tắc thực hiện quá trình này [34,

35, 63, 65] Ví dụ, mestranol acetat chỉ bị epime hoá 5% đến epimestranol, trong khi đó cần lưu ý rằng 4

-3-ceto-17-etynyl-17-acetat không bị đồng phân hoá và sản phẩm chính là enin [35]

C CH OAc

+

C CH

OH +

Vấn đề phát hiện ra quá trình C17 - đồng phân hoá các acetat rõ ràng là lý do thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hướng nghiên cứu này với trọng tâm sử dụng 17-este

OH OCOR

C CHO H

Trang 17

15

khác dễ dàng tách loại nhóm este (trifloacetat, mezilat, nitrat) Có một số bằng phát minh, đặc biệt lưu ý đến giá trị thực tiễn là của hãng Sering- con đường một giai đoạn chuyển hoá este nitro thành 17-hydroxy (metoxy-,acetoxy)-20-cetopregnan [27, 65] Theo phương pháp này, ví dụ 19-nor-17-etynyltestosterol được chuyển

hoá 70% hiệu suất đến 19-nor-17-hydroxyprogesterol bằng cách đun nóng este nitro trong môi trường triamit của axit hexametyl photphoric (Et3N hay DMFA) và axit muravic, có mặt muối thuỷ ngân Giả thiết phản ứng xảy ra qua sự tạo thành phức  với liên kết ba, làm đứt liên kết C17-O Do vậy, tấn công tiếp theo của nucleophil (ion formiat) được thực hiện từ vùng  ít bị cản trở hơn của phân tử Khi

đó muối thuỷ ngân mang hai chức năng xúc tác: tạo khả năng không chỉ epime hoá vào nguyên tử C17 mà còn hydrat hoá liên kết ba Sử dụng các nucleophil khác nhau (HOAc, MeOH) cho phép nhận được 17-acetoxy- và 17-metoxy-20-cetosteroid tương ứng, không luôn luôn cho hiệu suất định lượng (6% 17-acetoxyprogesteron trong [65] và 40% trong [27]) Các muối bạc có tác dụng epime hoá tương tự, đồng thời không hydrat hoá liên kết acetylen, dừng lại ở giai đoạn tạo thành 17-formiat-

17-etynylsteroid

Tương tự về nguyên tắc, trong phương pháp sử dụng 17-trifloacetat thay cho este 17-nitro Theo các tác giả (Gedeon Rixter), 17-trifloacetat tỏ ra ưu việt theo quan điểm công nghiệp cũng như điều chế, cho hiệu suất định lượng 17-hydroxy- và 17-acetoxy-20-cetopregnan Theo một phương pháp giả thiết 17-trifloacetat-17-etynylcacbinol sau khi điều chế in situ, được đun nóng có mặt

O

O

O OCOH

Trang 18

16

muối thuỷ ngân và axit muravic hay acetic, dung môi là bazơ lưỡng cực hay là không có proton [66] Các tác giả xác nhận vắng mặt quá trình C17- epime hoá khi

xử lý tương tự 17-formiat, acetat hay là monocloacetat, tạo ra 17-pregnan:

Phát triển tiếp tục hướng nghiên cứu này, hãng Sering đã chuyển hoá thành công một giai đoạn 17-nitrat (triflo và tricloacetat)17-halogen-etynylcacbinol đến

17-hydroxy-21-halogen-20-cetopregnan [28, 67] Khi đó phát hiện thấy tính chất không chờ đợi của muối bạc hydrat hoá nhóm 17-halogen etynyl Đạt được mụcđích này bằng cách xử lý các este vừa nói đến ở trên bằng 0,1 0,2 molAgNO3 và HCO2H trong dung môi bazơ N-metylpyrolidon ở 200C, sau đó khi cần thiết người ta thuỷ phân 17-formiat vừa tạo thành Ở đây, este nitro tỏ ra ưu việt hơn; thử nghiệm không thành công khi chuyển hoá tương tự dẫn xuất benzoat

R=NO2, COCF3, COCCl3, Hal = Br, Cl

Cần nói đến phương pháp tương tự chuyển hoá định lượng este androstensulphit được tạo thành khi xử lý 17-etynylcacbinol với tionylclorua trong pyridin đến 17-formiat-20-cetopregnan hay là 17-metoxy-20-cetopregnan [64, 68] Phản ứng xúc tác muối thuỷ ngân nghịch đảo cấu hình trung tâm C17, đồng thời hydrat hoá nhóm acetylen xảy ra dễ dàng ở 10350C trong dung môi không có proton và có mặt nucleophil (HCO2H, MeOH) Phương pháp này, cùng với các phương pháp đã được mô tả ở trên là các phương pháp rất có triển vọng chuyển hoá hai giai đoạn 17-etynylcacbinol đến 17-hydroxy-20- cetopregnan

bis-Hg2+ ,RCO2H OOCOROCOCF3

O

82 95% 

C CH

Trang 19

17

Không thể không nhấn mạnh các phương pháp thành công nhất epime hoá

17-etynylcacbinol đến 17-etynylcacbinol qua 17-sulphonat và 17-nitrat [45], [69, 99] Chẳng hạn, 17-sulphonat mestranol bị epime hoá xúc tác muối Ag+trong THF ẩm thành epimestranol với hiệu suất cao lạ thường (95%) [99] Quátrình 16

- tách loại không mong muốn metalsulphoaxit thực tế không đáng kể (5%) Trong các điều kiện tương tự este 17-nitro-17-etynyl-1,4

-androstadienon cho 89% hiệu suất 17-hydroxy-17-etynylandrostenon [45] Vai trò xúc tác epime hoá có thể dùng các muối đồng hoá trị một [69]

Có hai quan điểm giải thích cơ chế nghịch đảo xúc tác kim loại trung tâm

C17 của 17-este-17-etynylcacbinol Quan điểm thứ nhất là giả thuyết đã được nhắc đến ở trên [27] giả thiết tạo thành phức  giữa kim loại với các electron acetylen và oxy của nhóm este Khi đó liên kết C17-O bị đứt ra kích thích thế SN2 nhóm este bằng nucleophil từ phía  của phân tử ít cản trở không gian Theo ý kiến của các nhà khoa học Nhật [36], cơ chế này không giải thích được tại sao vắng mặt hoàn toàn quá trình C17 isome hoá khi xử lý tương tự este 17-nitro-17-etynylcacbinol và như vậy cho phép nghĩ đến có khả năng hơn tạo thành 17- cacbocation được bền hoá bởi kim loại và nucleophil tấn công từ vùng  theo cơ chế SN1 : (M=Ag+, Cu+, Hg+, Hg2+)

Lưu Đức Huy và cộng sự [29] lần đầu tiên đã áp dụng thành công phản ứng Nicholas [43] để epime hoá trực tiếp 17-etynylcacbinol bỏ qua giai đoạn este hoá Phương pháp tỏ ra là một phương pháp chung trong tổng hợp một lớp chất bất kỳ

O O

C CH

C CH

C CH M

+

O

O SO

2

O

O OCOH

Trang 20

1.3 Tổng hợp mạch bên corticoid

1.3.1 Chuyển hoá nhóm 17-etynyl đến mạch bên corticoid

17-etynylcacbinol dễ dàng bị hyđrat hoá xúc tác muối thuỷ ngân hoá trị hai đến 20-cetosteroid (phản ứng Kutrerov) [29, 70] C21-hydroxyl hoá 21-metyl-20-cetosteroid tạo thành có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau đã biết [22] Một trong số các phương pháp chuyển hoá nhóm 17-etynyl đến mạch bên corticoid là xử lý 17-etynylandrosten bằng N-bromacetamit trong dung dịch đệm

H2O-CH3COOH, sau đó chuyển hoá 21,21-dibrom-20-ceto đến 21-acetat tương ứng với hiệu suất 5070%, bằng cách đun nóng với KOAc trong dung môi phân cực không có proton [42]

Các phương pháp hoàn chỉnh và thành công đã được thảo luận ở trên tổng hợp 17-etynylandrosten thúc đẩy chúng ta tìm kiếm những phương pháp mới có khả năng chuyển hoá nhóm 17-etynyl đến mạch bên corticoid Vào năm 1985 đã xuất hiện hai hướng nghiên cứu và cả hai đều dự kiến sử dụng các hợp chất hữu cơ iod đa hoá trị [45, 71, 97] Ở hướng nghiên cứu thứ nhất, 17-acetoxy-17-etynylandrost-1,4-dien-3-on được chuyển hoá thành 17,21-diacetoxypregn-1,4-dien-3,20-dion [45] Giai đoạn chìa khoá là phản ứng xảy ra định lượng tạo thành 21,21-diiodua khi tương tác 17-etynyl-17-acetat với hỗn hợp iod/ axit peracetic; trong khi đó dẫn xuất 17-hydroxy của nó không phản ứng Tuy nhiên, thế iod bằng nhóm acetoxy trong 21,21-diiodua và monoiodua xảy ra khó khăn và có thể

Trang 21

19

đạt được chỉ khi xử lý tetrametyl amoniacetat/ N-metylpyrolidon Cần lưu ý rằng

sự tạo thành 21,21-diiodua trong các điều kiện này là ngoài dự đoán đối với các tác giả có ý định áp dụng phản ứng được phát minh năm 1971 cho các steroid (Ogata

và Urasaki) [47]

ở đây:

i=CH3CO3H/ I2/ CH3CO2H

ii=NaOAc/ Et3NOAc/ Me2CO

Phản ứng iodacetoxyl hoá ankyl bằng acetylhypoiodua (AcOI) sinh ra in situ

khi tương tác I2 với CH3CO3H trong CH3CO2H Vic-acetoxyiodua tạo thành dễ dàng bị thuỷ phân đến -oxyceton [100, 101] Tiếc rằng hướng nghiên cứu đó không có ý nghĩa thực tiễn trong trường hợp steroid Ở đây, phản ứng xảy ra mà không có sự tham gia của AcOI (tốc độ tạo thành nó từ CH3CO3H và I2 có thể nhỏ)

và nhóm 17-acetat tham gia làm bền hoá điện tích dương ở trung tâm cacbocation

OAc (MeO)3P

Trang 22

20

Phát triển tiếp tục các nghiên cứu theo hướng này cho thấy [102] việc sử dụng nguồn AcOI khác (diacetoxyiodbenzen và I2 trong CH3CO2H [100, 101]) khi tương tác 17-epime-17-etynylandrost-4-en-17-ol-3-on và 17-acetat của chúng không làm thay đổi tiến trình phản ứng, đồng thời trong trường hợp sau dẫn tới C17epime 21,21-dibromua tương ứng (17-etynylcacbinol trơ trong các điều kiện này)

Vắng mặt quá trình epime hoá vào C17 trong cả hai dãy hoá lập thể gây nên nghi ngờ đã được nêu lên ở [93] cơ chế tham gia của nhóm 17-acetat đòi hỏi khi thừa nhận trạng thái chuyển tiếp A nghịch đảo một phần hay toàn bộ hoá lập thể trung tâm C17 trong phản ứng với 17-acetoxy-17-etynylandrost-4-en-3-on Có thể giả thiết nhóm acetat bên cạnh hoạt hoá liên kết acetylen quyết định nhanh hơn ảnh hưởng điện tử của nhóm acetat còn lại Cộng hợp nhanh chọn lựa vùng hai phân tử AcOI vào liên kết ba và sau đó vào liên kết đôi trong hợp chất trung gian kiểu B (với hoá lập thể ban đầu trung tâm C17 , tạo ra 21,21-diiodua [102]

C O O

OAc OMe C

I

Trang 23

21

Trong kế hoạch chuyển hoá một giai đoạn 17-etynylsteroid đến hydroxy-20-cetopregnan, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến phản ứng Mercusev [103, 104] tương tác ankin với phenyliodosotrifloacetat (FIFA) có mặt nước Cơ chế phản ứng được trình bày như là tấn công electrophil phân tử FIFA vào liên kết ba

21-Ban đầu muối phenyliodoni tạo thành A bị thuỷ phân tạo ra muối iodoni B, muối này bị đồng phân hoá thành C Muối C do tính chất không bền vững của các muối iodoni dãy béo dễ dàng tự phân huỷ và thuỷ phân

Theo [97] ứng dụng phản ứng này trong hoá học steroid cho phép thực hiện chuyển hoá 5360% hiệu suất 17-etynylcacbinol dãy estranoic (mestranol) đến

17-iso-20-cetopregnan tương ứng

FIFA : PhI(OCOCF3)2

Đây là ví dụ duy nhất được biết trước khi Lưu Đức Huy và cộng sự [2, 3, 4] bắt đầu nghiên cứu ứng dụng phản ứng này trong chuyển hoá 17-etynylandrostan đến 20-cetopregnan Những kết quả nghiên cứu ban đầu của tác giả [2] đã chỉ ra rằng con đường này tỏ ra hiệu quả trong tổng hợp chất S Reichstein (80%) và 11-deoxy-16,17-epoxy corticosterol (43%) Tuy nhiên, có mặt các nhóm thế có thể tích lớn ở vị trí 17- (ví dụ: -OMe) hay các nhóm chức khác nhau trong vòng C đều ảnh hưởng âm lên hiệu quả của quá trình

1.3.2 Chuyển hóa 20-cetopregnan đến mạch bên corticoid

Các hợp chất 20-cetopregnan nhận được từ phản ứng metyl hóa dẫn xuất 17- cetosteroid với HCN theo phương pháp cyanhidrin hoặc nhờ phản ứng hydrat

R=Ac (53%) R=Ts (60%)

Trang 24

X Y

O

X Y O I

X Y O OAc X

Y

O OH

-Phương pháp mới thứ 2: sử dụng hệ oxi hóa Ph(IOAc)2/KOH/MeOH [40, 41]:

X Y

O

X Y

O OH

Lưu Đức Huy và cộng sự [2] cũng đã thử nghiệm áp dụng thành công phản ứng Moriarty [40, 41] để tiến hành 21-hydroxyl hoá trực tiếp một vài 17-acetylsteroid sử dụng hệ xúc tác PhI(OAc)2 /KOH/MeOH Cơ chế phản ứng được giả thiết đi qua sản phẩm trung gian 20,21-epoxysteroid:

CH3O

X

Y

X Y X

Y

X

Y

O OH OH

OCH3OCH3

O OCH3

PhI(OAc)2/KOH/MeOH

200C, 2h

p-TSA/axeton

200C; 1,5h

Trang 25

23

Hiện nay nhóm nghiên cứu này vẫn đang tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện phản ứng Moriarty

1 4 Tổng hợp 16β-metyl-17α-hydroxy pregnan

1.4.1 Đưa mảnh 17α-hydroxy-16β-metyl vào 20-cetopregnan

Phương pháp bao gồm quá trình epoxit hoá bằng hydroperoxit trong môi

trường kiềm hợp chất ∆16

-20-ceto pregnan, sau đó mở vòng chọn lựa lập thể bằng metylmagiebromua là ưa dùng nhất cho phép đồng thời đưa các nhóm 17α-

hydroxy- và 16β-metyl vào phân tử 20-cetopregnan

Dehydrat hoá nhóm 17α-hydroxy- đến sản phẩm 16(17)-dehydro tương ứng

có thể được thực hiện, ví dụ bằng hỗn hợp oxyclorua phospho và pyridin Phương pháp với việc este hoá sơ bộ nhóm 17-hydroxy bằng axit metyl sulfonic và xử lí tiếp theo bằng kolidin là phương pháp lựa chọn Khi đó trong cả hai trường hợp nhóm 9α-hydroxy được bảo tồn Tuy nhiên các điều kiện tiến hành phản ứng có thể được thay đổi như sau, sẽ đồng thời tách loại cả hai nhóm hydroxy ở C-9 và C-17 Phối kết hợp các phản ứng là phương án được ưu tiên trong trường hợp khi phản ứng dehydrat hoá đến ∆9(11) Giải phóng các nhóm bảo vệ C-3 và C-17 xảy ra đồng thời với giai đoạn tổng hợp tiếp theo Ví dụ xử lí bằng axit sulfuric 9α-hydroxy-steroid đã bảo vệ các nhóm 3,3-etylendioxy và 17α-tetrahydropyranyloxy, chỉ một giai đoạn cho hợp chất 17α-hydroxy-3-ceto-∆9(11) steroid

Phương pháp đã được nghiên cứu rất tốt trên ví dụ dãy ∆5

-21-deoxy-∆16cetopregnan Các tác giả ngay từ ban đầu đã bảo vệ nhóm hydroxy của hợp chất 3β-hydroxy-∆5 bằng phương pháp este hoá Hiển nhiên rằng nhóm bảo vệ este này trong các điều kiện xúc tác kiềm là không bền vững Bởi vậy trong trường hợp này đòi hỏi phải tái tạo lại nó [95]

Trang 26

-20-24

HO

OH O AcO

O

HO

O O

AcO

O O

AcO

O O O

O

OH O

Phối kết hợp phương pháp cyanhydrin tổng hợp 20-cetopregnan và phương pháp này để tổng hợp 17α-hydroxy-16β-metyl-20-cetopregnan đã được ứng dụng

để mô hình hoá các hợp chất ∆5-3-cetosteroid có liên kết ∆9(11) sau khi bảo vệ sơ bộ nhóm 3-ceto bằng cách ketal hóa [85]

O

O O

O

O O O

O

OH O O

Trang 27

25

Các nhóm 16β-metyl và 17α-hydroxy có thể được chuyển thành hydroxy-∆16-20-cetopregnan một cách đồng thời hay là tuần tự Trong trường hợp sau, ban đầu người ta đưa nhóm metyl vào với sự tạo thành 16β-metyl-17-dezoxy- Chẳng hạn nhóm 16β-metyl có thể được đưa vào bằng phản ứng của diazo metal với 21-acetoxy-∆16-20-cetopregnan [86] Đun nóng tiếp theo dẫn xuất 16α,17α-diazo-metylen nhận được ở nhiệt độ 140-1700C, hydrat hoá hợp chất 16-metyl-∆16

21-steroid nhận được với nickel reny dẫn tới hợp chất 16β-metyl 21-steroid

HO

O OAc

CH3

HO

O OAc

CH3

O

O OAc

CH3

Tiếp theo việc đưa nhóm 17α-hydroxy vào 16β-metyl-20-cetopregnan có thể được thực hiện, ví dụ theo phương pháp Barton [87] bằng cách oxy hoá bằng oxy không khí trong sự có mặt của bazơ mạnh

Đã được biết các ceton steroid có nguyên tử hydro bậc 3 phản ứng với oxy trong sự có mặt của bazơ mạnh tạo thành α-hydroperoxy, hợp chất này có thể dễ dàng bị khử hoá đến dẫn xuất hydroxy Điều chế các hợp chất 17α-hydroperoxy-pregnan-20-on và chuyển hoá chúng đến các hợp chất 17α-hydroxy tương ứng lần đầu tiên đã được mô tả bởi Barton và cộng sự [87] Phương pháp bao gồm ban đầu

là enol hoá oxosteroid trong rượu no bậc 3 (ví dụ tec-BuOH) với sự có mặt lượng

dư tec-alkoxit tương ứng (tec-BuOK) và cho oxy hay không khí đi qua cho đến khi

tạo thành nhóm hydroperaxit Khác với nhóm metyl ở C-16 với cấu hinh α-, sự có mặt của nhóm 16β-metyl không gây cản trở không gian đối với quá trình enol hoá 20-ceton với sự tạo thành ∆17(20) - enolat khi đưa nhóm thế vào 17α-, vì vậy phương

Trang 28

26

pháp oxy hoá trực tiếp hợp chất 16β-metyl-20-oxo theo Barton có thể được xem như là phương pháp lựa chọn để mô hình hoá các hợp chất 21-deoxy steroid Tuy nhiên phương pháp này, rõ ràng là kinh tế và không những hiệu quả đối với các hợp chất có mạch bên dioxyaceton khác nhau với các hợp chất tương tự 21-dezoxy bởi

vì trong các điều kiện xúc tác kiềm có thể xảy ra tách nhóm bảo vệ este của các nhóm hydroxy ở C21 và xảy ra các quá trình phụ không mong muốn có đặc tính oxy hoá đối với nhóm hydroxy ở C21 được khơi mào bởi các bazơ mạnh Bởi vì sự có mặt trong vòng A hệ thống liên hợp không được bảo vệ có thể dẫn tới tạo thành tạp chất có đặc tính oxy hoá, do vậy cần thiết bảo vệ nó chẳng hạn bằng cách chuyển thành enol este

Như các tác giả [87] đã chỉ ra, việc chuyển hoá nhóm 17α-hydroperoxy đến 21-dezoxy-∆9(11)-20-cetopregnan theo Barton không đòi hỏi bảo vệ trước liên kết đôi 9(11)

HO

O OOH

Đã chỉ ra khả năng ứng dụng của phương pháp này đối với các hợp chất 16β-metyl-∆9(11)

-20-cetopregnan dãy 5α-, 5β- và ∆5 Tuy nhiên, vắng mặt đối với ví

dụ 16β-metyl steroid có nhóm ∆4,9(11)-3-ceto Chỉ thấy mô tả việc điều chế hydroperoxyprogesteron Khử hoá nhóm hydroperoxy đến hydroxy có thể được thực hiện bằng phương pháp đã biết, ví dụ bằng tác dụng Zn bột trong môi trường axit acetic hay là hydro hoá xúc tác

17α-Như vậy từ phân tích các dữ liệu tài liệu tham khảo các phương pháp hiệu quả và triển vọng nhất tổng hợp các pregnan từ 17-cetoandrosten là hai phương án

“tổng hợp acetylen” và “tổng hợp cyanhydrin” Để đưa nhóm 16β-metyl vào

Trang 29

17-27

cetoandrostan, phương án có khả năng ứng dụng nhất là phương pháp glyoxylat ; còn để đưa 16β-metyl vào 20-cetopregnan là phương pháp epoxy hoá- alkyl hoá

Trang 30

28

Chương 2: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Các phương pháp và các phản ứng nghiên cứu được tóm tắt trong Sơ đồ 2 1 sau:

O

O

O

CN OH

CN

O O

CN

O O

OH

O O

O O

O

O O

O O

O O

CN

O O

2

H 5 /TH

F, p-TSA

2

H 5 ) 3 N

45m

Trang 31

Hiệu suất (%)

Điểm nóng chảy (0C) (Dung môi) [TLTK]

Rf

(Hexan/Aceton: 2/1)

IR (KBr, cm-1)

1 H-NMR (CDCl3; 500MHz; ppm)

Trang 32

3

C20H37O2N CN

O O

OH

84 225÷228 (Aceton) [227÷229]

0,904 (s, CH3-ketal)

4

C20H35O2N CN

O O

70 188÷190 (aceton)

0,63 2227(ν C≡N );

1673(ν C=C );

1104(ν C-Oketal )

6,629 (q, H-16); 5,353( d, H-6); 3,422÷3,601 (OCH 2 -ketal);

1,058 (s, CH3-19); 1,013 (s, CH3 18); 0,945 (s, CH3-ketal); 0,905 (s,

-CH3-ketal)

Trang 33

30

O O

O

70 203÷207 (EtOAc)

0,63 1658 (ν C=O );

1103 (ν C-O ketal )

6,71 ( q, H-16); 5,358( d, H-6); 3,422÷3,603 (OCH 2 -ketal); 2,257 (

s, CH3-21); 1,055(s, CH3-19); 1,014(s, CH3-18); 0,921 (s, CH3- ketal); 0,890 (s, CH3-ketal)

6

C26H38O4

O O

O O

91 211÷215 (EtOAc)

0,63 1697 (νC=O);

1664 (νC=C);

1099 (νC-O ketal)

5,358 ( H-6); 3,699 (s, H-16); 3,604 và 3,416 (CH2-O ketal); 2,042 ( s, CH3-21); 1,047 (s, CH3- 19); 1,03 (s, CH3-18); 1,006 và 0,899 (s, 2 CH3-ketals)

Trang 34

OH-31

O O

80,8 162÷164 (EtOAc)

(8H-ketal); 3,368 (s, H-16);

1,435 (s, CH3-21); 1,044 (s, CH3-19); 0,991 (s, CH3-18)

Trang 35

32

Ngày đăng: 08/01/2015, 08:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lưu Đức Huy, (1992), “Luận án TS. Matxcơva” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án TS. Matxcơva
Tác giả: Lưu Đức Huy
Năm: 1992
3. Lưu Đức Huy, (2001), “Báo cáo toàn văn Hội nghị Khoa học và Công nghệ Hoá Hữucơ toàn quốc , lần thứ hai Hà Nội”, tr 249- 254 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo toàn văn Hội nghị Khoa học và Công nghệ Hoá Hữucơ toàn quốc , lần thứ hai Hà Nội"”
Tác giả: Lưu Đức Huy
Năm: 2001
4. Lưu Đức Huy , (2002), Tạp chí Dược học, số 317, tr 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dược học
Tác giả: Lưu Đức Huy
Năm: 2002
5. Lưu Đức Huy, Nguyễn Thị Diệp, (2000), Tạp chí Hoá học, 38(2), tr 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Hoá học
Tác giả: Lưu Đức Huy, Nguyễn Thị Diệp
Năm: 2000
8. Lưu Đức Huy, Lê Thị Duyên, (2000), Tạp chí Hoá học, 38(1), tr 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Hoá học
Tác giả: Lưu Đức Huy, Lê Thị Duyên
Năm: 2000
10. Từ Minh Koóng , (2007), Tạp chí Dược Học, 337, tr.39. TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dược Học
Tác giả: Từ Minh Koóng
Năm: 2007
11. Batist J. N. M., Barendse Nicholas C. M. E., Marx A. F. , (1990), Steroids, 5.5, pp.109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Steroids
Tác giả: Batist J. N. M., Barendse Nicholas C. M. E., Marx A. F
Năm: 1990
12. Batist J. N. M., Slobbe A. F. M., Marx A. F. , (1989), Steroids, 54, pp. 321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Steroids
Tác giả: Batist J. N. M., Slobbe A. F. M., Marx A. F
Năm: 1989
13. Bergstrom C. G., Dodson R. M. , (1961), Chem. and Ind., (38), pp. 1530 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chem. and Ind
Tác giả: Bergstrom C. G., Dodson R. M
Năm: 1961
14. Beumel O. F., Harris F. F. , (1963), J. Org. Chem., 28(10), pp. 2775 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Org. Chem
Tác giả: Beumel O. F., Harris F. F
Năm: 1963
17. Danishefsky S., Nagasawa K: Wang N., (1975), J. Org. Chem. 40 (13), p. 1989-1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Org. Chem
Tác giả: Danishefsky S., Nagasawa K: Wang N
Năm: 1975
18. D. Seebach, (1974), Chemistry and Industry, pp.687-692 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chemistry and Industry
Tác giả: D. Seebach
Năm: 1974
19. Daniewski A. R., Wojciechowska W., (1982), “Synthesis of corticoid side chain”, J.Org. Chem.47(15), pp 2993-2995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Synthesis of corticoid side chain”, "J. " Org. Chem
Tác giả: Daniewski A. R., Wojciechowska W
Năm: 1982
20. Ereoli A., Ruggieri P. (1953), J. Amer. Chem. Soc, 75(3), pp. 650 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Amer. Chem. Soc
Tác giả: Ereoli A., Ruggieri P
Năm: 1953
21. E. S Rothman, T. Perlstein, M. E. Wall, (1960), J. Org. Chem, 25(11), pp. 1966- 1968 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Org. Chem
Tác giả: E. S Rothman, T. Perlstein, M. E. Wall
Năm: 1960
22. Fried J., Edvards J. A., (1972), Organic Reactiones in Steroid Chemistry. N.Y., 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Organic Reactiones in Steroid Chemistry. N.Y
Tác giả: Fried J., Edvards J. A
Năm: 1972
23. Fujimoto K., Chen Ch.-S. et. al., (1982), J. Amer. Chem. Soc, 104(17), pp. 4718 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Amer. Chem. Soc
Tác giả: Fujimoto K., Chen Ch.-S. et. al
Năm: 1982
24. Gumulka M., Kurek A., Wicha I. Pol. , (1982), J. Chem, 56, pp. 741-747 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Chem
Tác giả: Gumulka M., Kurek A., Wicha I. Pol
Năm: 1982
25. Hofmeister H., Annen K. et. al., (1978), Chem. Ber, 111, pp. 3086 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chem. Ber
Tác giả: Hofmeister H., Annen K. et. al
Năm: 1978
26. Hofmeister H., Annen K., Laurent H. Liebigs, (1987), Ann. Chem, pp. 423 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ann. Chem
Tác giả: Hofmeister H., Annen K., Laurent H. Liebigs
Năm: 1987

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2. 1: Các phản ứng đã nghiên cứu - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Sơ đồ 2. 1: Các phản ứng đã nghiên cứu (Trang 30)
Bảng 2. 1: Hiệu suất, các đặc trưng hóa-lí và phổ của các hợp chất. - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Bảng 2. 1: Hiệu suất, các đặc trưng hóa-lí và phổ của các hợp chất (Trang 31)
Sơ đồ 2. 2: Tổng  hợp mạch bên pregnan từ AD (1) . - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Sơ đồ 2. 2: Tổng hợp mạch bên pregnan từ AD (1) (Trang 38)
Hình 2. 1: SKBM của 17α-hydroxy-17β-cyanandrost-4-en-3-on (2) so với AD (1). - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Hình 2. 1: SKBM của 17α-hydroxy-17β-cyanandrost-4-en-3-on (2) so với AD (1) (Trang 38)
Hình 2. 2: Phổ IR của 17α-hydroxy-17β-cyanandrost-4-en-3-on (2). - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Hình 2. 2: Phổ IR của 17α-hydroxy-17β-cyanandrost-4-en-3-on (2) (Trang 39)
Hình 2. 3: Phổ  1 H-NMR  của 17α-hydroxy-17β-cyanandrost-4-en-3-on (2). - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Hình 2. 3: Phổ 1 H-NMR của 17α-hydroxy-17β-cyanandrost-4-en-3-on (2) (Trang 40)
Hình 2. 5: Phổ IR của 17α-hydroxy-3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)- - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Hình 2. 5: Phổ IR của 17α-hydroxy-3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)- (Trang 41)
Hình 2. 6: Phổ  1 H-NMR của 17α-hydroxy-3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)- - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Hình 2. 6: Phổ 1 H-NMR của 17α-hydroxy-3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)- (Trang 42)
Hình 2. 7: SKBM của hợp chất (9) so với 17α-hydroxy-3,3-(2,2-dimetyl - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Hình 2. 7: SKBM của hợp chất (9) so với 17α-hydroxy-3,3-(2,2-dimetyl (Trang 43)
Hình 2. 8: SKBM của hợp chất (10) so với 17α-hydroxy-3,3-(2,2dimetyl - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Hình 2. 8: SKBM của hợp chất (10) so với 17α-hydroxy-3,3-(2,2dimetyl (Trang 44)
Hình 2. 10: Phổ IR của  3,3-(2,2-dimetyl propylen  dioxy)-17β-cyanandrost-5 - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Hình 2. 10: Phổ IR của 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)-17β-cyanandrost-5 (Trang 45)
Hình 2. 9: SKBM của 3,3-(2,2-dimetyl propylen  dioxy)-17β-cyanandrost-5  ,16(17)dien (4) so với 17αhydroxy3,3(2,2dimetyl propylen  dioxy)androst5 - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Hình 2. 9: SKBM của 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)-17β-cyanandrost-5 ,16(17)dien (4) so với 17αhydroxy3,3(2,2dimetyl propylen dioxy)androst5 (Trang 45)
Hình 2. 11: Phổ  1 H-NMR của hợp 3,3-(2,2-dimetyl propylene dioxy)-17β- - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Hình 2. 11: Phổ 1 H-NMR của hợp 3,3-(2,2-dimetyl propylene dioxy)-17β- (Trang 46)
Hình 2. 12: SKBM của 3,3-(2,2-dimetyl propylen  dioxy)-pregn-5, 16(17)-dien-20- - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Hình 2. 12: SKBM của 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)-pregn-5, 16(17)-dien-20- (Trang 47)
Hình 2. 13:  Phổ IR của 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)- - góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion
Hình 2. 13: Phổ IR của 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)- (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w