Do đó, trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi thực hiện bước đầu “ Nghiên cứu khả năng lắng đọng và vận chuyển của chì Pb trong môi trường nước” ở các điều kiện khác nhau, từ đó có một
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LÊ THỊ HOA
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG LẮNG ĐỌNG VÀ VẬN
CHUYỂN CỦA CHÌ (Pb) TRONG
MÔI TRƯỜNG NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI, 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Lê Thị Hoa
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG LẮNG ĐỌNG VÀ VẬN
CHUYỂN CỦA CHÌ (Pb) TRONG
MÔI TRƯỜNG NƯỚC
Chuyên ngành: Hóa Môi trường
Mã số: 60 44 41
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Hồng Côn
Hà Nội, 2011
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục các bảng………
Danh mục các hình vẽ, đồ thị………
MỞ ĐẦU………
Chương 1 TỔNG QUAN………
1.1 Môi trường nước và sự ô nhiễm môi trường nước …………
1.1.1 Sự ô nhiễm nguồn nước………
1.1.2 Một số nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng do hoạt động công nghiệp ………
1.2 Giới thiệu về chì ………
1.2.1 Tính chất của chì
1.2.1.1.Tính chất vật lý………
1.2.1.2 Tính chất hóa học
1.2.1.3 Các dạng tồn tại của chì trong nước
1.2.2 Độc tính của chì ………
1.2.3.Nguồn gốc phát sinh ô nhiễm chì trong môi trường
1.2.4 Hiện trạng ô nhiễm chì trong môi trường nước trên thế giới
1.3 Các phương pháp xử lý chì trong nước
1.3.1 Phương pháp kết tủa
1.3.2 Phương pháp keo tụ
1.3.3 Phương pháp hấp phụ
1.3.4 Phương pháp trao đổi ion
1.4 Các phương pháp xác định chì
1.4.1 Phương pháp trắc quang
1.4.1.1 Thuốc thử dithizone
1.4.1.2 Phương pháp chiết
1.4.2 Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử
Chương 2 THỰC NGHIỆM………
2.1 Mục tiêu nghiên cứu.………
2.2.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu………
2.3 Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm và hóa chất thí nghiệm…………
2.3.1 Dụng cụ
i
ii
1
2
2
2
5
7
7
8
8
9
10
12
13
15
15
16
16
18
19
20
20
24
25
27
27
27
27
27
Trang 42.3.2 Thiết bị thí nghiệm
2.3.3 Hóa chất
2.4 Quy trình xây dựng đường chuẩn của Pb2+ theo phương pháp trắc quang
2.5 Xác định chì bằng phương pháp AAS
2.6 Quy trình nghiên cứu với các mẫu chì khác nhau
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN………
3.1 Khảo sát sự chuyển hóa của chì từ dạng thải Pb(OH)2
3.1.1 Khảo sát ảnh hưởng của pH môi trường…………
3.1.2 Khảo sát ảnh hưởng của các ion đến độ tan của Pb(OH)2 tại pH mà chì hydroxit có độ tan nhỏ nhất.………
3.1.2.1 Ion Cl-
3.1.2.2 Ion SO42-
3.1.2.3 Ion S2-
3.1.2.4 Ion PO43-
3.1.2.5 Ảnh hưởng đồng thời của các ion Cl-, SO42-, S2-, PO43-
3.1.3 Ảnh hưởng của các ion có khả năng tạo phức với chì
3.1.3.1 Ion CH3COO-
3.1.3.2 Ion C6H5O73-
3.1.4 Ảnh hưởng đồng thời của các ion Cl -, SO42-, S2-, PO43-, CH3COO- , C6H5O73-
3.2 Khảo sát sự chuyển hóa của chì khi dạng thải là PbS
3.2.1 Khảo sát ảnh hưởng của pH
3.2.2 Khảo sát ảnh hưởng của các ion đến độ tan của PbS tại pH=7
3.2.2.1 Ion Cl-
3.2.2.2 Ion SO42-
3.2.2.3 Ion PO43-
3.2.3 Khảo sát sự ảnh hưởng của các ion có khả năng tạo phức với chì
3.2.3.1 Ion CH3COO-
3.2.3.2 Ion Cit3-
28
28
29
31
31
34
34
34
36
36
37
38
40
42
43
43
44
45
47
47
48
48
50
51
52
52
53
Trang 53.3.1 Khảo sát sự ảnh hưởng của pH
3.3.2 Khảo sát hàm lượng chì khi dạng thải là Pb3(PO4)2 khi có mặt các ion tạo kết tủa với chì tại pH = 7
Trang 6dung dịch
34
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion Cl- 36 Bảng 3.3 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion SO42- 37 Bảng 3.4 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion S2-
39 Bảng 3.5 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion photphat 40 Bảng 3.6 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt đồng thời
thải là PbS
47
Bảng 3.11 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion Cl- 49 Bảng 3.12 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion SO42- 50 Bảng 3.13 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion PO43- 51 Bảng 3.14 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion
CH3COO-
52
Bảng 3.15 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion Cit
3-53 Bảng 3.16 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi pH thay đổi 54 Bảng 3.17 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion Cl- 55 Bảng 3.18 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion SO42- 56 Bảng 3.19 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion
CH3COO-
57
Bảng 3.20 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion Cit3- 58 Bảng 3.21 Kết quả khảo sát nồng độ chì khi có mặt đồng thời 59
Trang 8Hình 3.3 Khảo sát ảnh hưởng của ion SO4
2-38
2-39
Hình 3.7 Khảo sát ảnh hưởng đồng thời của các ion Cl
-, SO42-, S, PO43-
2-42
Hình 3.11 Khảo sát nồng độ chì khi dạng thải là PbS theo pH 48
Hình 3.15 Khảo sát nồng độ chì khi có mặt ion CH3COO- 52 Hình 3.16 Khảo sát ảnh hưởng của ion Cit3-
53 Hình 3.17 Khảo sát ảnh hưởng của pH (dạng thải là Pb3(PO4)2) 54
56
Hình 3.21 Khảo sát ảnh hưởng của ion Cit3-
59 Hình 3.22 Khảo sát đồng thời các ion ảnh hưởng đồng thời của các
ion
60
Trang 9MỞ ĐẦU
Hiện nay, ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề nóng bỏng mang tính toàn cầu, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống của con người Đặc biệt
là ô nhiễm các kim loại nặng
Kiểm soát các nguồn nước thải là công việc hết sức cần thiết nhằm giảm thiểu ô nhiễm do nước thải Công việc xử lý nước thải thường được thực hiện ngay tại nơi phát sinh nước thải hoặc trước khi thải vào nguồn tiếp nhận và sau
đó thì thường không được quan tâm nữa Trong khi đó, hiện nay các phương pháp xử lý kim loại nặng thường thải ra một lượng bùn thải rất lớn Theo thời gian, nếu lượng bùn thải này không được xử lý một cách phù hợp nó sẽ gây ô nhiễm môi trường một cách nghiêm trọng do tác động của các yếu tố môi trường
Một trong các kim loại nặng có độc tính cao đối với cơ thể con người là chì Chì là kim loại có nhiều ứng dụng trong đời sống và sản xuất như sản xuất ăcquy, pin, cáp điện, dệt nhuộm, luyện kim, sản xuất khai thác khoáng sản
Do đó lượng chì thải ra môi trường là rất lớn
Có nhiều phương pháp xử lý chì như phương pháp kết tủa, phương pháp thẩm thấu ngược hay phương pháp điện thẩm tách Các phương pháp này đều thải ra một lượng bùn thải rất lớn và thường không được xử lý Lượng chì thải
ra dưới dạng bùn thải này liệu đã an toàn với môi trường hay chưa? Liệu trải qua một thời gian dài cùng với sự thay đổi môi trường nước có làm ảnh hưởng đến sự lắng đọng và vận chuyển của chì trong bùn và trong nước hay không? Đây là một trong những vấn đề rất cấp thiết đối với các nhà khoa học, môi trường học và của toàn nhân loại Do đó, trong khuôn khổ luận văn này chúng
tôi thực hiện bước đầu “ Nghiên cứu khả năng lắng đọng và vận chuyển của
chì (Pb) trong môi trường nước” ở các điều kiện khác nhau, từ đó có một cách
nhìn khái quát nhất về sự an toàn và nguy hiểm của các dạng thải chì và bước đầu đề ra các biện pháp tối ưu nhất làm giảm thiểu ô nhiễm chì trong nước
Chương 1: TỔNG QUAN 1.2 Môi trường nước và sự ô nhiễm môi trường nước [1]
1.2.1 Sự ô nhiễm nguồn nước
Trang 10Nước có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của
sự sống trên trái đất Nước là thành phần quan trọng của tất cả các sinh vật, vật chất có trên trái đất Nước tham gia vào mọi quá trình xảy ra trong tự nhiên, nó tác động đến sự biến đổi của trái đất cũng như sự sống trên trái đất Nói cách khác, nước là nguồn gốc của sự sống là môi trường trong đó diễn ra các quá trình sống
Trên trái đất hơn 97% là nước biển, còn lại dưới 3% là nước ngọt Nước ngọt được con người sử dụng nhằm phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau như cung cấp cho sinh hoạt, tưới tiêu trong nông nghiệp, giao thông vận tải, sản xuất công nghiệp, làm nguyên liệu và các tác nhân trao đổi nhiệt trong rất nhiều quá trình quan trọng
Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp như hiện nay, các nguồn nước ngày càng bị nhiễm bẩn bởi các loại chất thải khác nhau, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, đe dọa sức khỏe và cuộc sống của con người Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước bao gồm:
Chất hữu cơ: Chất hữu cơ gây ô nhiễm nguồn nước bao gồm các chất
hữu cơ tổng hợp, dầu mỡ, các chất thải sinh hoạt…
Các chất hữu cơ tổng hợp bao gồm nhiên liệu, chất dẻo, dung môi, chất tẩy rửa, thuốc bảo vệ thực vật, dược phẩm… Các chất này có mặt trong nước sẽ làm cho nước có màu , mùi vị lạ, có tác hại đối với các loài động vật và thực vật sống trong nước Dầu mỡ nổi trong nước sẽ làm giảm sự truyền ánh sáng qua lớp nước, làm giảm DO của nước, gây bệnh cho nhiều loài động thực vật sống trong nước Các thuốc bảo vệ thực vật không bị phân hủy sẽ bị tích tụ trong đất ngày càng nhiều, và ngấm vào nguồn nước gây ô nhiễm nguồn nước
Vi sinh vật: Trong nước có nhiều loại vi trùng, siêu vi trùng, các đơn
bào, rong tảo…chúng xâm nhập vào nước từ môi trường xung quanh, chúng sống và phát triển trong nước Có thể chia chúng thành hai loại:
Loại vi sinh vật có hại là các vi trùng gây bệnh có trong nguồn chất thải, bệnh của người và gia súc như bệnh tả, thương hàn Vi khuẩn E-coli là vi khuẩn đặc trưng cho mức độ nhiễm trùng của nước
Các loại rong tảo làm cho nước có màu xanh, khi chết thối rữa sẽ làm tăng hàm lượng chất hữu cơ trong nước, làm cho nước có mùi, giảm DO và
Trang 11Các chất vô cơ: Nguồn nước tự nhiên thường bị ô nhiễm bởi các kim
loại và các chất vô cơ khác Nếu hàm lượng của chúng trong nước nhỏ thì có tác dụng tốt cho sinh trưởng, phát triển của động thực vật ở trong nước và cả những động thực vật sử dụng nguồn nước đó Nhưng nếu hàm lượng cao sẽ gây
ô nhiễm, đặc biệt đối với đời sống của các sinh vật, qua chu trình thức ăn sẽ tác động tới các loại thủy sản, tiếp đó là đến các động vật sống trên cạn và cuối cùng là con người Trong số những kim loại nặng độc hại phải kể đến như: Ni,
Hg, Pb, Cd, Cr, Cu
Ni: Niken là nguyên tố lượng vết chủ yếu có trong thành phần của một
số enzym và tham gia vào quá trình tạo cấu trúc màng Nếu tiếp xúc thường xuyên với niken, người ta có thể bị viêm mũi, hen, suyễn Mặt khác khi cơ thể hấp thụ một lượng lớn niken qua đường thức ăn và nước uống sẽ gây bệnh ung thư hoặc ảnh hưởng đáng kể đến hệ thần kinh trung ương
Hg: Các dạng thủy ngân có độc tính không giống nhau và trong thiên
nhiên nó chuyển hóa thành các dạng khác nhau Metyl thủy ngân là dạng độc nhất Vi khuẩn sống trong bùn ở các hồ ao, tổng hợp ra metan và thải ra hợp chất trung gian là metyl cobalamin, chất này tác dụng với thủy ngân tạo thành dimetyl thủy ngân (CH3)2Hg và trong môi trường axit nó biến thành metyl thủy ngân (CH3Hg+) có độc tính rất cao
Có hai nguồn gây ra ô nhiễm thủy ngân là tự nhiên và nhân tạo Nguồn thủy ngân nhân tạo thoát ra chủ yếu từ các chất thải, nước thải, khói bụi của các nhà máy luyện kim, nhà máy pin-acquy, nhà máy sản xuất đèn huỳnh quang, nhiệt kế, nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, nhà máy mạ, sơn và đặc biệt
là trong các nhà máy sản xuất xút, clo bằng điện phân Người ta tính được rằng
cứ sản xuất một tấn clo thì có khoảng 0.172kg thủy ngân xâm nhập vào môi trường Lượng thủy ngân an toàn đối với nước uống là < 0.001mg/l Hàm lượng thủy ngân trong cá tươi từ 0.5 – 1.0 µg/g là không an toàn đối với con người
Pb: Là nguyên tố có độc tính cao đối với sức khỏe của con người và
động vật Nó tác động đến tủy xương và quá trình hình thành các huyết cầu tố,
nó thay thế canxi trong xương Thực vật trồng trên những đất có hàm lượng chì cao thì nó sẽ hấp thụ chì và tích tụ lại, sau đó xâm nhập vào động vật do ăn các thực vật đó Đặc tính nổi bật của chì là sau khi xâm nhập vào cơ thể sống nó ít
bị đào thải mà tích tụ theo thời gian, tức là gây ra hiện tượng tích lũy sinh học
Trang 12Trong nước tự nhiên hàm lượng chì thấp ( 20 µg/l) nên nó không phải là tác nhân ô nhiễm nguy hiểm
Chì xâm nhập vào cơ thể con người qua nước uống bị ô nhiễm, thức ăn
là động vật, thực vật nhiễm chì Khi vào cơ thể nó tích tụ lại rồi đến một mức
độ nào đó mới bắt đầu gây độc Chì tác động mạnh vào hệ thần kinh, làm giảm trí thông minh, tác động vào máu, thận và tác động lên hệ enzym có liên quan đến quá trình tạo máu
Cd: xâm nhập vào khí quyển, nước qua nguồn tự nhiên và nhân tạo Cd
xâm nhập vào cơ thể người chủ yếu qua thức ăn từ thực vật được trồng trên đất giàu Cd gây nhiễu loạn hoạt động của một số enzym nhất định
Cr: Trong tự nhiên, crom tồn tại trong khoáng vật chủ yếu dưới dạng
Fe(CrO2)2 Phần lớn crom kim loại được dùng cho việc tạo thành hợp kim sử dụng trong công nghệ chế tạo máy, lượng này chiếm đến hơn một nửa toàn bộ lượng crom Những hợp kim Ni, Cr được ứng dụng làm ra các cặp nhiệt điện, thiết bị công nghiệp chịu nhiệt, hợp kim chịu nhiệt dùng trong tuốc bin động cơ phản lực, hợp kim thép không rỉ dùng trong môi trường nhiệt độ cao và ăn mòn Crom cũng có trong thành phần của các chất ức chế quá trình ăn mòn, các loại mực khác nhau, thuốc nhuộm, chất bảo quản thực phẩm, công nghiệp mạ
và thuộc da Trong luyện kim, crom được điều chế dưới dạng hợp kim với sắt (ferocrom) và đây là một trong những hợp kim cứng nhất Người ta dùng Cr2O3
để điều chế sơn màu và làm chất xúc tác CrO3 được dùng để điều chế Cr kim loại và dùng trong quá trình mạ crom các chi tiết máy
Độc tính của crom có quan hệ chặt chẽ với dạng tồn tại hóa học của nó Hầu hết các hiệu ứng gây độc hại của crom được gây ra bởi các hợp chất crom (VI) Theo nhiều nghiên cứu gần đây thì các hợp chất crom (VI) là những tác nhân gây ung thư
Cu: Các hợp chất của đồng không độc lắm, các muối đồng gây tổn
thương đường tiêu hóa, gan thận và niêm mạc Độc nhất là muối đồng xianua Đối với người lớn tỷ lệ hấp thu và lưu giữ đồng tùy thuộc vào lượng đưa vào cơ thể hàng ngày Sự kích thích dạ dày cấp tính có thể xảy ra ở một số người sau khi uống nước có nồng độ đồng trên 3mg/l Đồng có thể gây vị cho nước, ăn uống lâu dài nguồn nước có nồng độ đồng cao sẽ làm nguy cơ bị xơ gan
Trang 131.2.2 Một số nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng do hoạt động công nghiệp [12]
Nghành khai thác mỏ
Khoa học càng phát triển, nhu cầu của con người và xã hội ngày càng cao dẫn tới sản lượng kim loại do con người khai thác hàng năm cũng tăng lên Sản lượng chì khai thác hàng năm khoảng hai triệu tấn Trong khoảng thời gian
1935 – 1980 sản lượng cadimi và cacbon tăng 10 – 16 lần Thủy ngân và bạc tăng 2.5 lần Sản lượng sắt tăng từ 182 triệu tấn (1930) lên 912 triệu tấn (1979) Sản lượng nhôm tăng 80 lần thứ tự trong sản lượng khai thác (1930 – 1980): Al> Mo> V> Co> Cr> Ni> Cd> Mn> Se> Te> Cu> Fe> Sb> Zn> Si> Be> Pb> Hg> Ag> S đã nảy sinh yêu cầu cấp thiết về xử lý nước thải chứa các kim loại
đó Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm các kim loại nặng trong nước lại không tương ứng với sản lượng khai thác của chúng Mức độ ô nhiễm các kim loại nặng tăng theo thứ tự sau: Fe> Mn> Al> Zn> Pb> Cr> Ni> Sn> Mo> Sb> V> Co> Cd> Ag> Hg> Bi> Te> Be Trong thực tế người ta thường nghiên cứu ảnh hưởng của một số kim loại như: Cr, Cu, Pb, Cd, Ni, Zn, Hg, As
Công nghiệp sản xuất các hợp chất vô cơ
Theo số liệu của cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ US-EPA thì thường xuyên có sự phát thải kim loại từ các quy trình sản xuất hóa chất vô cơ, đó là quá trình sản xuất xút – clo, sản xuất HF, AlF3, thuốc nhuộm, K2Cr2O7, NiSO4, CuSO4
Việc khảo sát môi trường vùng lân cận của các nhà máy sản xuất xút-clo, theo công nghệ cũ cho thấy có sự nhiễm độc thủy ngân ở đất, nước và các sinh vật sống xung quanh khu vực đó Nguyên nhân là do công nghệ sản xuất xút – clo ở các nhà máy có sử dụng đến điện cực catot chế tạo từ thủy ngân Dòng nước thải từ bể điện phân có nồng độ thủy ngân cao hơn rất nhiều lần mức độ cho phép
Người ta nhận thấy rằng ở nhiều cơ sở, xí nghiệp sản xuất các hợp chất
vô cơ hàm lượng kim loại nặng trong nước thải đã vượt quá mức cho phép Chính vì vậy vấn đề cấp bách đặt ra là phải xử lý, tách loại các kim loại đó ra khỏi nguồn nước trước khi ra khỏi môi trường
Công nghiệp mạ điện
Trang 14Nước thải của quá trình mạ điện có hàm lượng kim loại nặng rất lớn Khi nghiên cứu tại một nhà máy mạ crom ở Mỹ đã chỉ ra rằng trong nước thải rửa, nồng độ crom là 1.84mg/l và niken là 4.1mg/l Nước rửa từ quá trình mạ đồng
có hàm lượng crom lên đến 0.84mg/l và đồng là 0.44mg/l Như vậy quá trình
mạ điện của các nhà máy là một nguyên nhân không nhỏ gây ra sự ô nhiễm kim loại nặng
Quá trình sản xuất sơn, mực và thuốc nhuộm người ta phát hiện thấy nồng độ của một số kim loại rất cao như: nhôm 100mg/l, kẽm 10mg/l Đặc biệt khi nồng độ cao có thể lên tới 40mg/l đối với coban, 62mg/l đối với chì và kẽm
là 900mg/l
Các quá trình sử dụng kim loại
Nhiều kim loại nặng được sử dụng trong các lĩnh vực công nghệ, giao thông vận tải, cơ khí, xây dựng sinh hoạt như nhôm, antimon, cadimi, asen, đồng, chì, kẽm, thủy ngân Trong đó, chì thường được dùng để sản xuất mực
in, xăng, pin Hằng năm trên thế giới sử dụng khoảng 3 triệu tấn chì trong đó 40% được xử dụng cho sản xuất acquy, 20% sử dụng cho xăng dưới dạng chì ankyl ( gần đây lượng chì sử dụng trong lĩnh vực này đã giảm do công nghệ sản xuất xăng không chì), 12% sử dụng trong công trình xây dựng, 6% sử dụng cho các đường dây cáp điện, 5% sử dụng trong quân sự , 17% sử dụng trong các mục đích khác
Việt nam là một nước đang phát triển, đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã khuyến khích các thành phần kinh tế, các ngành nghề truyền thống mở rộng phát triển Trong đó quan tâm đến một số ngành nghề thủ công ở các vùng nông thôn, đó là tái chế và tái sử dụng lại các vật liệu như đồng, chì Chính các hoạt động này đã gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước bị ô nhiễm kim loại nặng
1.3 Giới thiệu về chì [9],[13]
Chì là một trong bảy kim loại mà con người đã biết từ thời cổ đại Ba bốn ngàn năm trước công nguyên, người cổ Ai cập đã dùng chì để đúc tiền, đúc tượng và những vật dụng khác
Quặng chì quan trọng nhất là galenit (PbS), ngoài ra còn gặp chì trong quặng xeruzit (PbCO3)
Trang 15Trong chất sống (chủ yếu là thực vật) có chứa khoảng 5.10-5 mg/kg theo khối lượng khô; trong nước đại dương có khoảng 10-5 mg chì trong 1lit nước biển; còn trong các mẫu đá lấy từ Mặt Trăng thì hàm lượng chì là 10-5g/1g mẫu
PbCl2 + 2HCl H2PbCl4
Trang 16PbSO4 + H2SO4 Pb(HSO4)2
- Chì tương tác với axit nitric ở bất kì nồng độ nào
3Pb + 8HNO3loãng 3Pb(NO3)2 +2NO + 4H2O
- Chì có thể tan trong axit axetic và các axit hữu cơ khác
2Pb + 4CH3COOH + O2 2Pb(CH3COO)2 +2H2O
- Với dung dịch kiềm, chì tương tác khi đun nóng
Pb + 2KOH + 2H2O K2[Pb(OH)4] + H2
1.3.1.3 Các dạng tồn tại của chì trong nước [4], [9], [13]
Chì là kim loại tương tự nhôm, crom, kẽm có hydroxit, oxit tương ứng là lưỡng tính Do đó trong nước chì tồn tại ở các dạng khác nhau phụ thuộc vào
pH của môi trường và nồng độ chì
Trong dung dịch nước chì tồn tại ở hai trạng thái hóa trị, chủ yếu là Pb(II) và Pb(IV)
Trong dung dịch Pb2+ tồn tại các quá trình [4]:
, Pb(OH)2, và Pb(OH)3- Các dạng phức hydroxo cao hơn như Pb(OH)42-; Pb(OH)64- chỉ tồn tại ở pH > 13 Ở nồng độ cao hơn [Pb2+
] > 5.10-6 mol/l (một điều kiện không phổ biến đối với môi trường) tồn tại một số phức hydroxo dạng đa nhân như Pb3(OH)42+ (ở 50.10-6mol/l), Pb4(OH)44+ và Pb6(OH)84+ (ở 10-3 mol/l) Ở nồng độ chì rất cao còn tồn tại Pb2(OH)3+
Trang 18Chì kim loại và muối sunfua của nó được coi là không gây độc do chúng không được cơ thể hấp thụ Tuy nhiên, các hợp chất chì tan trong nước thì rất độc
Khi cơ thể bị nhiễm độc chì sẽ gây ức chế một số enzym quan trọng của quá trình tổng hợp máu gây cản trở quá trình tạo hồng cầu Nói chung, chì phá hủy quá trình tổng hợp hemoglobin và các sắc tố khác cần thiết cho máu như cytochromes
Khi hàm lượng chì trong máu đạt khoảng 0,3ppm thì nó ngăn cản quá trình sử dụng oxi để oxi hóa glucozơ, tạo ra năng lượng cho quá trình sống, do
đó làm cho cơ thể mệt mỏi Ở nồng độ cao hơn (> 0,8ppm) có thể gây nên bệnh thiếu máu do thiếu các sắc tố hồng cầu Hàm lượng chì trong máu nằm trong khoảng 0,5 – 0,8ppm gây ra sự rối loạn chức năng của thận và phá hủy tế bào não
Xương là nơi tích tụ chì trong cơ thể, ở đó chì tương tác với photphat trong xương rồi truyền vào các mô mềm của cơ thể và thể hiện độc tính của nó
Tóm lại, khi xâm nhập vào cơ thể động vật chì gây rối loạn tổng hợp hemoglobin, giảm thời gian sống của hồng cầu, thay đổi hình dạng tế bào, xơ vữa động mạch, làm cho con người ngu đần, mất cảm giác, gây ra các bệnh về tai, mũi, họng, viêm phế quản Khi bị ngộ độc chì sẽ có triệu chứng đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy, ăn không ngon miệng và co cơ, sảy thai, kém sinh ra tinh trùng
Trẻ em bị nhiễm độc chì có thể trầm trọng hơn người trưởng thành, đặc biệt là trẻ em dưới 6 tuổi vì hệ thần kinh còn non yếu và chức năng đào thải chất độc chưa hoàn thiện Một số trẻ có thể bị nhiễm ngay từ khi còn trong bụng mẹ do chì nhiễm qua nhau thai hoặc bú sữa mẹ có hàm lượng chì cao Tới khi lớn trẻ em tiêu thụ các loại thực phẩm chứa chì, nuốt chì lẫn trong đất, bụi khi bò chơi trên mặt đất hoặc ăn các mảnh vụn sơn tường nhà cũ Do trẻ em có mức hấp thụ gấp 4-5 lần người lớn Mặt khác, thời gian bán phân hủy chì ở trẻ
em cũng lâu hơn nhiều so với người lớn Do đó, trẻ em dưới 6 tuổi và phụ nữ
có thai là những đối tượng mẫn cảm với những ảnh hưởng nguy hại do chì gây
ra
Trang 19Khi bị nhiễm độc chì, có thể giải độc bằng cách dùng các hóa chất như EDTA; 2,3-dimecaptopropanol, penicilamin là các hóa chất có khả năng tạo phức chelat với chì
Complexonat chì Phức chelat chì với 2,3-dimecaptopropanol
Phức chelat chì với d-penicilamin
Hình 1.2 Một số dạng phức chelat của chì
1.3.3 Nguồn gốc phát sinh ô nhiễm chì trong môi trường
Nguồn gốc gây ô nhiễm chì trong môi trường bao gồm nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo
Nguồn gốc tự nhiên, phần lớn chì đi vào môi trường là do hoạt động của
núi lửa, đá biến chất Tuy nhiên, nguồn ô nhiễm chì từ các quá trình địa hóa là không đáng kể so với các hoạt động nhân tạo
Nguồn gốc nhân tạo, chủ yếu do các hoạt động sản xuất công nghiệp,
giao thông vận tải và sinh hoạt của con người Chì (cả hai dạng vô cơ và hữu cơ) có trong nước thải của các nhà máy sản xuất pin, acqui, luyện kim, hóa dầu chì còn được đưa vào môi trường do khí thải giao thông, khai khoáng, đốt nhiên liệu hóa thạch, sản xuất và tái chế chì, sản xuất các hợp kim chì, đốt cháy các loại rác thải, sản xuất các loại phân bón hóa học, sản xuất xi măng, công nghiệp sản xuất sơn Các dạng tồn tại của chì có thể là PbBrCl, PbSO4, PbS, PbCO3 (trong công nghiệp khai khoáng); Pb(OH)2, PbCrO4 (trong công
Trang 20nghiệp sơn) Phần lớn những nước có nền công nghiệp phát triển cao thì nguy
cơ ô nhiễm nguồn nước do chì ở đó cũng cao hơn ở những nước khác do sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu chứa chì
Hoạt động nông nghiệp sử dụng các loại phân bón hóa học không tinh khiết và thuốc trừ sâu cũng đã đưa một lượng lớn kim loại nặng vào đất và nước ngầm Các kim loại nặng trong bùn thải được dùng để bón ruộng, trong
đó chì thường tồn tại dưới dạng hợp chất cacbonat (khoảng 60%) cũng là nguồn đưa kim loại này vào đất và nước Việc sử dụng các nguồn nước tưới ô nhiễm kim loại nặng cũng là vấn đề cần quan tâm Tất cả các hợp chất của chì như PbBrCl, PbSO4, PbS, PbCO3 được chuyển vào nước bằng các quá trình lý - hóa học khác nhau Khi sử dụng nguồn nước thải công nghiệp, nước mưa, nước chảy tràn đô thị và nông nghiệp, nước do quá trình khai thác mỏ để tưới vào
đất thì hàm lượng chì trong đất và nước ngầm tăng dần theo thời gian
1.3.4 Hiện trạng ô nhiễm chì trong môi trường nước trên thế giới
Theo đánh giá của viện nghiên cứu Blacksmith (Mỹ) trong 10 khu vực ô nhiễm nhất thế giới có Thiên Tân (Trung Quốc), La Oroya (Peru), Dalnegorsk (Nga) và Kebwe (Zambia) là những khu vực bị ô nhiễm nặng nề do ngành công nghiệp khai thác và luyện chì Chì là chất gây ô nhiễm được nói đến nhiều nhất trong danh sách của viện Blacksmith vì tác hại của nó đối với trẻ em rất nghiêm trọng
Tại La Oroya (Peru), ngành công nghiệp chủ yếu của thành phố này là khai thác và luyện chì Từ năm 1922 các cơ sở nấu kim loại đã làm ô nhiễm thành phố này Đến năm 1992, ngành công nghiệp này đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ khiến từ không khí, đất cho đến nước đều bị nhiễm chì nặng Việc khai thác và chế biến chì ở đây đã làm cho hàm lượng chì nhiễm vào máu của trẻ em ở thành phố này cao ở mức đáng ngại Số người có nguy cơ bị ảnh hưởng là 35 nghìn người, 99% số trẻ em có hàm lượng chì nhiễm vào máu vượt mức cho phép Theo những cuộc khảo sát gần đây hàm lượng chì trung bình cao gấp ba lần giới hạn cho phép của WHO Ngay cả sau khi hàm lượng chì trong không khí từ các cơ sở sản xuất kim loại đã giảm thì chì vẫn còn tồn tại trong đất hàng thế kỉ nữa Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có kế hoạch nào nhằm xử lý vấn đề này [17]
Trang 21Thung lũng sông Rudnaya (Nga) là khu vực khai thác mỏ và luyện kim loại có tỷ lệ bệnh ung thư cũng như các bệnh mãn tính rất cao do xử dụng công nghệ đã lỗi thời Các thị trấn như Dalnegorsk, Rudnaya Pristan được xây dựng xung quanh các nhà máy luyện chì và cảng biển, là một trong những khu vực ô nhiễm chì và các chất độc hại khác lớn nhất ở Nga Tại đây, bệnh đường hô hấp, tổn thương thần kinh chiếm tỷ lệ cao nhất trong khu vực, đặc biệt nghiêm trọng ở trẻ em Khoảng 50% trẻ em được xét nghiệm cho thấy có hàm lượng chì trong máu rất cao Viện nghiên cứu Blacksmith đã xếp thị trấn Dalnegorsk
là một trong mười khu vực ô nhiễm nhất thế giới [16]
Thiên Tân là một khu công nghiệp hàng đầu Trung Quốc và cũng là một trong những thành phố ô nhiễm nhất nước này Lĩnh vực sản xuất chính của thành phố là ngành công nghiệp khai thác chì Do không quan tâm đến vấn đề môi trường nên hiện nay nồng độ chì trong không khí và đất ở đây cao gấp 10 lần mức độ cho phép, còn trong cây cối là gấp 24 lần Số người có khả năng bị tác động của ô nhiễm chì và các kim loại khác vào khoảng 140.000 người Qua kiểm tra cho thấy lúa mỳ có chứa lượng chì cao gấp 24 lần tiêu chuẩn của Trung Quốc [24]
Tại Kabwe (Zambia), ô nhiễm chì có thể tác động tới 255.000 người Tính trung bình, mức nhiễm chì ở trẻ em cao hơn chuẩn cho phép của Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ từ 5 - 10 lần, và có thể thậm chí còn cao hơn mức gây tử vong
Tại Việt Nam, nước thải của các nhà máy hóa chất và khu luyện kim hầu hết có hàm lượng chì rất cao, vượt quá giá trị tối đa cho phép của QCVN gấp nhiều lần (giá trị tối đa khoảng từ 0,1 - 0,5mg/l) Cụ thể, nước thải của nhà máy sản xuất Pb - Zn có hàm lượng chì khoảng 5,0 - 7,0 mg/l; nhà máy sản xuất Mo
- W là 0 - 16,0 mg/l
Tại các làng nghề tái chế kim loại khu vực Yên Phong (Bắc Ninh), hiện tượng ô nhiễm chì trong nước thải và khí thải rất nghiêm trọng, nồng độ chì trong khu vực đã vượt quá TCCP tới 87,2 lần [14]
Làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên), hàm lượng chì thải ra trong nguồn nước với mức trung bình là 0,77mg/l, vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 7,7-15 lần Ở nơi ao hồ đãi và đổ xỉ, hàm lượng là 3,278mg/l, vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 32-65 lần
Trang 22Tại xã Bản Thi - Chợ Đồn - Bắc Kạn, các hộ dân sinh sống lân cận xưởng tuyển của Xí nghiệp chì kẽm Chợ Điền và mỏ chì kẽm Bản Thi đều có biểu hiện của ô nhiễm chì rõ ràng Xưởng tuyển thường xuyên dùng nhiều hoá chất để lọc tuyển lấy quặng chì kẽm, nước xả ra được cho qua bể lắng rồi chảy thẳng xuống nguồn nước nơi các hộ dân sinh sống
Vì vậy việc xử lý để giảm bớt hàm lượng chì trong nước là việc cấp bách
và cần thiết để bảo vệ môi trường cũng như sức khoẻ con người
1.4 Các phương pháp xử lý chì trong nước
1.4.1 Phương pháp kết tủa
Phương pháp này dựa trên nguyên tắc chuyển dạng tan của kim loại cần
xử lý sang dạng không tan sau đó loại bỏ chúng bằng cách lắng lọc
Đối với chì ta có thể chuyển ion Pb2+
sang dạng Pb(OH)2 hoặc các dạng khác như : PbS, PbSO4, Pb3(PO4)2
tụ trong bùn ngày càng nhiều và chúng có thể tan vào môi trường nước gây ô nhiễm bất cứ lúc nào nếu môi trường nước bị thay đổi
Trang 23Các chất keo tụ thường là các muối nhôm, sắt hoặc hỗn hợp hai muối đó như: Al2(SO4)3.18H2O, KAl(SO4)3.12H2O, Fe2(SO4)3.2H2O, FeCl3, Việc lựa chọn chất keo tụ phụ thuộc vào tính chất lý hóa, nồng độ của các tạp chất trong nước, pH và giá thành của chất keo tụ Để tăng cường hiệu quả của quá trình keo tụ người ta còn dùng các chất trợ keo tụ có nguồn gốc thiên nhiên như tinh bột, xenlulozo, dextrin, các este Việc sử dụng chất trợ keo tụ cho phép hạ thấp liều lượng chất keo tụ, giảm thời gian của quá trình keo tụ và nâng cao tốc độ lắng của các hạt bông keo
Các chất hấp phụ thường sử dụng như silicagen, than hoạt tính, các loại khoáng sét, các hydroxit kim loại, các sản phẩm phụ như bùn than hoạt tính, xỉ, tro có giá thành rẻ, dễ kiếm
Chất bị hấp phụ là chất được tập trung trên bề mặt chất hấp phụ, thường
ở pha lỏng hoặc khí Quá trình hấp phụ thường được phân thành hai loại là hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học
Hấp phụ vật lý: là hấp phụ được gây bởi lực hút Van der Waals giữa các
phần tử chất hấp phụ và chất bị hấp phụ Lực hút này yếu do đó nhiệt tỏa ra trong quá trình hấp phụ thường từ 2 – 3 kcal/mol Tốc độ hấp phụ vật lý xảy ra nhanh hơn do quá trình hấp phụ không đòi hỏi sự hoạt hóa phân tử, hấp phụ vật
lý rất ít phụ thuộc vào bản chất hóa học bề mặt chất hấp phụ
Hấp phụ hóa học: được thực hiện bởi lực liên kết hóa học giữa các phân
tử trên bề mặt chất hấp phụ và phân tử chất bị hấp phụ Lực này bền khó bị phá
vỡ nên nhiệt tỏa ra trong quá trình hấp phụ thường lớn hơn 22 kcal/mol Hấp phụ hóa học đòi hỏi sự hoạt hóa phân tử nên tốc độ hấp phụ chậm hơn và phụ thuộc rất nhiều vào bản chất hóa học của bề mặt chất hấp phụ
Yêu cầu của vật liệu hấp phụ (VLHP):
- Có diện tích bề mặt lớn
Trang 24- Có trung tâm hoạt động: nhóm chức, phân tử có khả năng tạo liên kết hóa học
- Kích thước mao quản phù hợp với tạp chất cần tách
Cân bằng hấp phụ: Quá trình hấp phụ là quá trình thuận nghịch và có thể biểu diễn dưới dạng một phản ứng hóa học
A: chất hấp phụ
A’: phần bề mặt chất hấp phụ đã bị chiếm chỗ bởi chất bị hấp phụ
O: bề mặt chất hấp phụ còn trống
K1, K2: hằng số tốc độ của các quá trình hấp phụ và giải hấp
Các phân tử chất bị hấp phụ khi đã bị hấp phụ lên bề mặt chất hấp phụ vẫn có thể di chuyển trở lại pha lỏng hoặc pha khí Theo thời gian phân tử chất lỏng hoặc chất khí di chuyển lên bề mặt chất rắn càng nhiều thì sự di chuyển ngược lại pha lỏng hoặc pha khí của chúng sẽ tăng lên Đến một thời gian nào
đó, tốc độ hấp phụ lên bề mặt của chất hấp phụ sẽ bằng tốc độ di chuyển của chúng ra ngoài pha lỏng hoặc pha khí, khi đó quá trình hấp phụ sẽ đạt trạng thái cân bằng
Phương pháp hấp phụ có hiệu quả xử lý cao, quy trình xử lý đơn giản, công nghệ xử lý không đòi hỏi thiết bị phức tạp Vật liệu hấp phụ có độ bền khá cao, có khả năng tái sử dụng nhiều lần nên chi phí xử lý thấp nhưng hiệu quả xử lý cao Phương pháp này đang được đưa vào ứng dụng nhiều trong kĩ thuật xử lý nước và nước thải
1.4.4 Phương pháp trao đổi ion
Trao đổi ion là quá trình trao đổi ion dựa trên sự tương tác hóa học giữa ion trong pha lỏng và ion trong pha rắn
Dựa trên nguyên tắc của phương pháp trao đổi ion dùng ionit là nhựa hữu cơ tổng hợp, các chất cao phân tử có gốc hydrocacbon và các nhóm chức trao đổi ion
Nhựa trao đổi ion có thể tổng hợp từ hợp chất vô cơ hay hữu cơ có gắn các nhóm như: (- SO3H), (- COO -), amin Các cation và anion được thay thế các ion trao đổi (H+, Cl-) trên bề mặt nhựa trao đổi theo phản ứng:
Trang 25RCl + A- RA + Cl- Quá trình trao đổi ion có thể được tiến hành trong các cột anionit hoặc cationit
K Srinivasa Rao và các cộng sự [20] đã nghiên cứu xử lý nước thải có chứa Pb và Fe bằng cách sử dụng hai loại nhựa trao đổi ion khác nhau là Duolite ES 467 (có chứa nhóm chức amino-phosphonic) và nhựa vòng càng trao đổi ion (có chứa nhóm chức axít hydroxamic)
Phương pháp trao đổi ion được sử dụng rộng rãi trong các quá trình xử lý nước thải cũng như nước cấp Trong xử lý nước cấp, phương pháp trao đổi ion thường được sử dụng để khử các muối, khử cứng, khử khoáng, khử nitrat, khử màu, khử kim loại nặng cũng như các ion kim loại khác trong nước Trong xử
lý nước thải, phương pháp trao đổi ion được sử dụng để loại các kim loại (kẽm, đồng, crom, niken, chì, thủy ngân, cadimi, các hợp chất của asen, xianua, photpho và các chất phóng xạ) Phương pháp này cho phép thu hồi các chất có giá trị với độ làm sạch nước cao
Tuy nhiên phương pháp này cần chi phí đầu tư và vận hành khá cao nên
ít được sử dụng cho các công trình lớn và thường chỉ sử dụng cho các trường hợp đòi hỏi chất lượng xử lý cao
Trong các phương pháp xử lý ở trên thì phương pháp kết tủa, phương pháp keo tụ là các phương pháp đã và đang được sử dụng nhiều nhất Đồng thời đây cũng là những phương pháp thải ra lượng bùn thải rất lớn Do đó việc xác định nồng độ chì trong nước ở những khu vực sử dụng bùn thải để tái sử dụng
cho sản xuất nông nghiệp hoặc khu vực hồ chứa bùn thải là rất quan trọng
Trang 26Ở điều kiện bình thường các phân tử và nhóm phân tử ở trạng thái bền vững và nghèo năng lượng Đây là trạng thái cơ bản nhưng khi có một chùm sáng với năng lượng thích hợp chiếu vào thì các điện tử hóa trị trong các liên kết sẽ hấp thụ năng lượng chùm sáng, chuyển lên trạng thái kích thích với mức năng lượng cao hơn Hiệu số giữa hai mức năng lượng cơ bản Eo và kích thích
Em chính là năng lượng mà phân tử hấp thụ từ nguồn sáng để tạo ra phổ hấp thụ phân tử của chất
Nguyên tắc: Phương pháp xác định dựa trên việc đo độ hấp thụ ánh sáng của
dung dịch chứa ion cần xác định với một thuốc thử hữu cơ hoặc vô cơ trong môi trường thích hợp khi được chiếu bởi chùm sáng đơn sắc Phương trình định lượng của phép đo:
A = KC Trong đó:
M và là một phương pháp được sử dụng rất phổ biến
Xác định chì bằng phương pháp trắc quang – thuốc thử dithizone là phương pháp có độ nhạy và độ chính xác cao Thuốc thử dithizone có thể tạo phức màu rất tốt với chì, cho dù hàm lượng chì là rất nhỏ
1.5.1.1 Thuốc thử dithizone
Thuốc thử dithizone là tên gọi tắt của 1,5-diphenylthiocarbazone hoặc có thể gọi theo các tên sau: n,n-diphenyl-C-mercaptoformazane, phenylazothio-formic acid 2-phenylhydrazide
Công thức phân tử là C13H12N4S, có khối lượng phân tử 256,32 đvC Dithizone tồn tại ở ba dạng cấu tạo:
Trang 27Dithizone ở dạng tinh thể màu tím đen có ánh kim, điểm nóng chảy
165oC đến 169oC, thăng hoa ở 40 đến 123oC Thực tế không tan trong nước ở
pH nhỏ hơn 7 (7,2.10-5g/l đến 5g/l), nhưng tan hoàn toàn trong kiềm pH>7 (>20g/l) có màu vàng của ion dithizonat (HDz-) và tan trong nhiều dung môi hữu cơ
Dithizone là một axit yếu hai lần axit, khi tan trong nước phân ly rất yếu theo hai nấc
H2Dz HDz- + H+ Với hằng số phân ly nấc thứ nhất:
5 1
2
2 2
.
10 HDz
Theo Fisơ công thức cấu tạo của dithizonat một lần thế có dạng:
Trang 28Ở đây n là hóa trị của kim loại:
Công thức cấu tạo của dithizonat hai lần thế có dạng sau:
Và còn có dạng khác:
Phản ứng tạo phức của dithizone với kim loại xảy ra khi cho dung dịch chứa kim loại lắc đều với dung môi hữu cơ có hòa tan dithizone Phức màu tạo thành phân bố chính trong pha hữu cơ:
Mn+ + nH2Dz dmhc M(HDz)n dmhc + nH+Cấu trúc chính của phức dithizonat của kim loại hóa trị hai như sau:
Nếu kim loại dư hoặc pH cao, các ion kim loại như Cu (II), Ag, và Hg cho phức phụ mà cấu trúc của chúng tương ứng với kim loại hóa trị một và hai như sau:
Trang 29Ion chì Pb2+ trong dung dịch thường tạo phức chì dithizonat một lần thế (sau khi đã loại bỏ các yếu tố cản trở) Hợp chất này không tan trong nước nhưng tan trong dung môi hữu cơ có màu đỏ anh đào
Pb2+ + 2H2Dz Pb(HDz)2 + 2H+ Xanh ngọc bích Đỏ anh đào Phức tạo thành có cấu tạo:
Nguyên tử hydro trong nhóm mecapto được thay thế bởi kim loại
Phức chì này tan trong dung môi hữu cơ và được chiết tách rồi đem đo quang ở 510nm Nồng độ phát hiện nhỏ nhất của máy là 1g/10ml dithizone
1.5.1.2 Phương pháp chiết [3], [11]
Chiết là quá trình vận chuyển vật chất giữa hai pha không tan lẫn vào nhau khi chúng tiếp xúc với nhau Chiết nhằm mục đích làm giàu vật chất hoặc tách các chất ra khỏi nhau
Khái niệm chiết chỉ giành cho quá trình vận chuyển vật chất giữa hai pha
là rắn - lỏng hoặc lỏng - lỏng Đối với hai pha rắn – khí hay lỏng – khí người ta quan niệm đó là các quá trình hấp thụ hay hấp phụ, chứ không gọi là chiết
Quá trình chiết xảy ra sau khi hệ đạt tới cân bằng, hai pha sẽ tách khỏi nhau Vật chất được chuyển vào pha nào, pha đó được gọi là phần chiết (hay dịch chiết) pha còn lại gọi là nước cái (hay nước mẹ) Thông thường trong phân tích, phần chiết thường là pha hữu cơ còn nước cái là pha nước sau khi chiết
Hằng số chiết Kex: là hằng số cân bằng của phản ứng chiết xảy ra giữa hai pha trong hệ chiết
pha hữu cơ Phương trình phản ứng
Trang 30Đối với hệ chiết này quá trình chiết không xảy ra các phản ứng hóa học,
mà vận hành thuần túy theo quy luật độ tan của các chất giữa hai pha Hệ chiết này chỉ dùng để chiết các cấu tử là những hợp chất không phân cực (gồm các hợp chất cộng hóa trị, các hợp chất hữu cơ, cá phần tử không mang điện tích) Dung môi sử dụng là những dung môi hữu cơ không hoặc ít phân cực Đây cũng là hệ chiết được sử dụng nhiều trong công nghiệp
Đối với những hệ chiết vật lý, các chất có phân tử càng lớn thì hệ số phân bố càng lớn và phân tử không chứa các nhóm chức có khả năng liên kết hóa học thì khả năng chiết sẽ cao
Trong đó : S là độ tan của A trong các pha
PA là hằng số phân bố của A
- Hệ chiết hóa học
Trong các hệ chiết loại này, quá trình chiết xảy ra luôn luôn đi kèm với các phản ứng hóa học Do đó khả năng của một chất ngoài việc phụ thuộc vào quy luật độ tan còn phụ thuộc vào các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình
thành các dạng chiết và phân bố chúng giữa hai pha
Trang 31Trong điều kiện thường, nguyên tử không thu cũng không phát ra năng lượng dưới dạng các bức xạ năng lượng, lúc này nguyên tử ở trạng thái cơ bản Khi nguyên tử ở trạng thái hơi tự do, nếu chúng ta kích thích nó bằng một chùm sáng đơn sắc có năng lượng phù hợp có độ dài sóng trùng với các vạch phổ phát xạ đặc trưng của nguyên tố đó thì chúng sẽ hấp thụ các tia sáng đó và sinh ra phổ hấp thụ nguyên tử
Trên cơ sở sự xuất hiện của phổ hấp thụ nguyên tử, ta thấy phổ hấp thụ nguyên tử chỉ được sinh ra khi nguyên tử tồn tại ở trạng thái khí tự do và ở mức năng lượng kích thích Vì vậy, muốn thực hiện được phép đo phổ AAS cần phải thực hiện các công việc sau:
1 Chuyển mẫu phân tích từ trạng thái ban đầu (rắn, dung dịch) thành trạng thái hơi Đây là quá trình hóa hơi mẫu
2 Nguyên tử hóa đám hơi đó, phân li các phân tử, tạo ra các đám hơi nguyên
tử tự do của các nguyên tố cần phân tích trong mẫu để chúng có khả năng hấp thụ bức xạ đơn sắc Đây là giai đoạn quan trọng nhất và quyết định đến kết quả của phép đo AAS
3 Chọn nguồn phát tia sáng có bước sóng phù hợp với nguyên tố cần phân tích
và chiếu vào đám hơi nguyên tử đó Phổ hấp thụ sẽ xuất hiện
4 Nhờ một hệ thống máy quang phổ, người ta thu toàn bộ chùm sáng sau khi
đi qua môi trường hấp thụ, phân ly chúng thành phổ và chọn một vạch phổ cần
đo của nguyên tố phân tích hướng vào khe đo để đo cường độ của nó Trong một giới hạn nhất định của nồng độ, giá trị cường độ này phụ thuộc tuyến tính vào nồng độ của nguyên tố cần phân tích theo phương trình:
.
A k C L
Trong đó: A: Cường độ vạch phổ hấp thụ
k: Hằng số thực nghiệm L: Chiều dài môi trường hấp thụ C: Nồng độ nguyên tố cần xác định trong mẫu đo phổ
Trang 32Chương 2: THỰC NGHIỆM
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Hiện nay, ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng, là vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu Đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng
Chì là một trong những kim loại được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp Do đó, lượng chì thải ra môi trường là rất lớn, gây ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe và đời sống của con người Với tính chất đặc biệt, khi các dạng chì thải ra ngoài môi trường có thể quay trở lại gây ô nhiễm môi trường nước bất cứ lúc nào nếu môi trường thay đổi Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của
đề tài là : Nghiên cứu sự lắng đọng và vận chuyển của chì trong môi trường nước
2.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài chúng tôi chỉ bước đầu nghiên cứu chì với các mẫu nghiên cứu trong phòng thí nghiệm Kết quả thu được có thể ứng dụng để nghiên cứu các mẫu nước thải thực tế
Đối tượng nghiên cứu là các dạng hợp chất ít tan của chì và các dạng hợp chất tan trong nước của chì trong các môi trường nước khác nhau
2.3 Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm và hóa chất thí nghiệm
Cuvet thủy tinh:
Các dụng cụ khác: Phễu lọc, giấy lọc, đũa thủy tinh, giá đỡ, bình tia nước cất…
2.3.2 Thiết bị thí nghiệm
Cân phân tích, cân kỹ thuật