Muốn vậy, doanh nghiệp phải tạo được cho mình một vị thế chắc chắn, ổn định trên thị trường và trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng môi trường và các đối thủ cạnh tranh với những giải phá
Trang 2Luận văn thạc sỹ
” tác giả viết dưới sự hướng dẫn của TS N
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
những thông tin, số liệu từ các tạp chí, sách, luận văn, v.v., theo danh mục tài liệu
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, ngày 09 tháng 09 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
kinh doanh, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh thuộc Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này
tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích
lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1: 4
1.1 Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp 4
1.1.1 Các quan điểm về doanh nghiệp 4
1.1.2 Định nghĩa doanh nghiệp 5
1.1.3 Phân loại Doanh nghiệp 6
1.2 Cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 8
1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh 8
1.2.2 Sự cần thiết của cạnh tranh lành mạnh 9
1.3 Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 10
1.3.1 Lĩnh vực cạnh tranh của Doanh nghiệp 10
1.3.2 Những yếu tố cơ bản quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 11
1.3.3 Ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 18
1.4 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của Thế giới và của Việt Nam 27
1.4.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số nước Thế giới 27
1.4.2 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp Thép ở Việt Nam 28
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 31
2.2 Cách tiếp cận 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
Trang 52.3.1 Cơ sở phương pháp luận 31
32
35
a doanh nghiệp 35
doanh nghiệp (mô hình hoá sự tác động) 35
Chương 3: Ở CÔNG TY CỔ PHẦN GANG THÉP THÁI NGUYÊN 36
3.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của TISCO 36
3.1.1 Một số nét sơ lược về TISCO 36
38
38
3.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh 41
3.2 Đánh giá khả năng cạnh tranh của TISCO 45
45
3.2.2 Phân tích các nhân tố tác động tới khả năng cạnh tranh của TISCO 54
3.2.3 Phân tích đối thủ cạnh tranh chủ yếu của TISCO 74
3.2.4 Phân tích cạnh tranh của TISCO với các đối thủ gia nhập tiềm năng và sản phẩm thay thế sản phẩm của TISCO 82
3.2.5 Phân tích quyền lực nhà cung cấp và người mua tới khả năng cạnh tranh của TISCO 84
3.2.6 Những thuận lợi và khó khăn về khả năng cạnh tranh của TISCO so với đối thủ cạnh tranh 87
3.3 Đánh giá chung về khả năng cạnh tranh TISCO 94
3.3.1 Kết quả đạt được về khả năng cạnh tranh của TISCO 94
3.3.2 Hạn chế đối với khả năng cạnh tranh của TISCO 96
3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế đến khả năng cạnh tranh của TISCO 99
Chương 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GANG THÉP THÁI NGUYÊN 105
4.1 Mục tiêu, định hướng phát triển TISCO 105
4.1.1 Tầm nhìn của TISCO 105
4.1.2 Mục tiêu chiến lược 105
4.1.3 Kế hoạch chủ yếu năm 2015 105
4.1.4 Định hướng nâng cao khả năng cạnh tranh của TISCO đến năm 2015 và tầm nhìn đến 2020 106
Trang 64.2.1 Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 109
4.2.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 109
4.2.3 Giảm chi phí đầu vào để tăng khả năng cạnh tranh 111
4.2.4 Tăng doanh thu, lợi nhuận, tỷ lệ cổ tức để nâng cao khả năng cạnh tranh 112
4.2.5 Nâng cao khả năng tài chính của TISCO 113
4.2.6 Nâng cao chất lượng sản phẩm và áp dụng có hiệu quả hệ thống QLCLSP 117
4.2.7 Đổi mới, cải tiến và ứng dụng công nghệ tiên tiến, phù hợp 117
4.2.8 Giải pháp hợp tác, liên doanh liên kết 119
4.2.9 Các giải pháp về marketing, quảng cáo, khuyến mãi, phân phối 119
KẾT LUẬN 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
3 CTHĐQT Chủ tịch hội đồng quản trị
7 DNN&V Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 8Bảng 3.1: Cơ c 31/12/2013 38
42
TISCO 48
Bảng 3.4: Khách hàng tiêu thụ sản phẩm thép của TISCO (2011 - 2013) 62
Bảng 3.5: Các công ty hoạt động trong ngành thép ở Việt Nam 74
Bảng 3.6: Một số chỉ tiêu tài chính của TISCO giai đoạn 2011 - 2013 95
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Hình
[14] 12
[14] 12
Hình 1.3: Các cách nhìn khác nhau về chất lượng [15] 15
Hình 1.4: Các yếu tố môi trường kinh doanh có tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp [13] 19
43
Sơ đồ Sơ đồ 1.1: Mô hình 5 lực lượng của Michael Porter 21
[32] 39
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ các kênh phân phối của TISCO 63
Biểu đồ Biểu đồ 1.1: Thị phần sản xuất thép trên toàn thế giới 28
2013 45
, năm 2013 45
Biểu đồ 3.3: Phân loại lao động theo trình độ [5] 51
Biểu đồ 3.4: Nhân lực của TISCO phân theo độ tuổi lao động [5] 52
Biểu đồ 3.5: Cơ cấu lao động của công ty phân theo giới tính [5] 52
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng đã có những chuyển biến mạnh mẽ Trong bối cảnh chung của nền kinh tế, Việt Nam đang thực thi hàng loạt các chính sách cho phát triển kinh tế; trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh vừa là một tất yếu kinh tế vừa là đặc trưng nổi bật nhất Bất luận ở lĩnh vực hay ngành hàng nào trên thị trường đều có sự chiếm lĩnh và chia cắt bởi các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh Trong đó, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì ngoài việc đảm bảo giữ vững phần thị trường đã có, phải luôn tìm cách vươn lên và mở rộng thị trường Muốn vậy, doanh nghiệp phải tạo được cho mình một vị thế chắc chắn, ổn định trên thị trường và
trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng môi trường và các đối thủ cạnh tranh với những giải pháp và biện pháp thực hiện thích hợp là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại, đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường
Công ty Cổ phần Gang Thép Thái Nguyên (TISCO), bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1963, là cái nôi công nghiệp đầu tiên trong nước, chuyên sản xuất và kinh doanh thép xây dựng Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng tốc
độ nhanh của nền kinh tế đất nước, nhu cầu về thép xây dựng ngày một tăng cao mở
ra nhiều triển vọng và thu hút được sự đầu tư mạnh mẽ của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất và kinh doanh thép xây dựng Nhiều doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng trong nước và liên doanh với nước ngoài công nghệ hiện đại, công suất lớn đã ra đời và sắp ra đời trong thời gian tới tạo ra những
áp lực cạnh tranh rất lớn cho các đơn vị đang hoạt động trong lĩnh vực này, làm cho mức độ cạnh tranh trong ngành ngày càng trở nên gay gắt Trong điều kiện cạnh tranh đó, TISCO gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh và xác định cho mình một hướng đi đúng, phù hợp với điều kiện môi trường và hoàn cảnh hiện tại của Công ty Hiện nay, môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn, với sự tham gia thị trường ngành Thép của các công ty trong nước và đặc biệt là các công ty nước ngoài, đã có ảnh hưởng lớn và tạo ra nhiều thách thức đến kh nh tranh của công ty
Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, làm thế nào để TISCO nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường và tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm? đây là một
Trang 11câu hỏi được đặt ra không chỉ cho việc xây dựng chiến lược phát triển của TISCO nói riêng, mà còn là câu hỏi cho các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu và có ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại và phát triển lâu dài của TISCO
“
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
ăng cạnh tranh của TISCO Từ đó đề xuất các giải
tạo bước đột phá nhằm mở rộng thị trường, thực hiện thành công chiến lược tái cơ cấu doanh nghiệp đối với TISCO, đáp ứng được sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của là
Trang 12Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của TISCO trong giai đoạn trước mắt và lâu dài
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn
4.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn hoàn thành là một công trình có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, là tài liệu tham khảo quan trọng giúp nâng cao khả năng cạnh tranh cho TISCO, từ đó khẳng định vị thế của công ty trên thị trường trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá với môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay
4.2 Những đóng góp của luận văn
tranh của TISCO 2015 và tầm nhìn đến năm
2020 Từ đó, góp phần thực hiện một cách đồng bộ tái cơ cấu TISCO và phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên theo định hướng CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
Luận văn nghiên cứu thành công là tài liệu tham khảo quan trọng cho lãnh đạo TISCO trong xây dựng chiến lược phát triển công ty giai đoạn tới, có thể vận dụng cho một số công ty SXKD cùng ngành, nghề, lĩnh vực; có thể tham khảo cho những nghiên cứu liên quan
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết lu
04 Chương, như sau:
p nghiên cứu ăng cạnh tranh của công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013
ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên
Trang 13Chương 1
1.1 Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp
1.1.1 Các quan điểm về doanh nghiệp
Hiện nay trên phương diện lý thuyết đã có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất định với một giá trị nhất định, cụ thể:
Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách
pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước thông qua luật pháp và chính sách thuế
Xét theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất
mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá
bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy (M.Francois Peroux)
Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản
xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được [13]
Xét theo quan điểm hệ thống: Doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ
phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ: sản xuất, thương mại, tổ chức
và nhân sự
Các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởi những yếu tố sau đây:
- Yếu tố tổ chức: Một tập hợp các bộ phận chuyên môn hoá nhằm thực hiện các
chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính
- Yếu tố sản xuất: Các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin
Trang 14- Yếu tố trao đổi: Những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán
sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra
- Yếu tố phân phối: Thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà
nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu được
1.1.2 Định nghĩa doanh nghiệp
Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu về định nghĩa doanh nghiệp như
sau: “Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện
về tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hoá lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội” [17] Nó được thể hiện cụ thể:
- Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân: Tư
cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng định và xác định Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa
vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể
- Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại: Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ
nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính Vì vậy chu kỳ sống của doanh nghiệp phụ thuộc
rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo ra nó Doanh nghiệp ra đời và
tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương nhất định, sự phát triển
cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó
Trong Luật doanh nghiệp Việt nam đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12 tháng 6 năm 1999 và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2000 và trong Luật doanh nghiệp Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và đã được sửa đổi bổ sung và thông qua tại kỳ họp thứ 5 ngày 19/6/2009 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 08 năm
2009 thì: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
Trang 15dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [17], [18]
1.1.3 Phân loại Doanh nghiệp
1.1.3.1 Căn cứ vào tính chất sở hữu tài sản trong doanh nghiệp
- Doanh nghiệp Nhà nước: Là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn Nhà
nước - người đại diện toàn dân - tổ chức thực hiện chức năng quản lý trên mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ khi thành lập cho đến khi giải thể Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự trong phạm
vi số vốn do doanh nghiệp quản lý
- Doanh nghiệp hùn vốn: Là một tổ chức kinh tế mà vốn được đầu tư do các
thành viên tham gia góp vào Họ cùng chia lời và cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn đóng góp Trách nhiệm pháp lý của từng hình thức có những đặc trưng khác nhau Theo Luật doanh nghiệp, về loại hình công ty có các loại công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
- Doanh nghiệp tư nhân: Theo hình thức này thì vốn đầu tư vào doanh
nghiệp do một người bỏ ra Toàn bộ tài sản của doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tư nhân Người quản lý doanh nghiệp do chủ sở hữu đảm nhận hoặc có thể thuê mướn, tuy nhiên người chủ doanh nghiệp là người phải hoàn toàn chịu trách nhiệm toàn bộ các khoản nợ cũng như các vi phạm trên các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trước pháp luật
1.1.3.2 Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
- Doanh nghiệp nông nghiệp: là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp, hướng vào việc sản xuất ra những sản phẩm nông sản Hoạt động sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên
- Doanh nghiệp công nghiệp: là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực công nghiệp, nhằm tạo ra những sản phẩm thiết bị máy móc để khai thác hoặc chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm Trong công nghiệp có thể chia ra: công nghiệp xây dựng, công nghiệp chế tạo, công nghiệp điện tử v.v
- Doanh nghiệp thương mại: là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
thương mại, hướng vào việc khai thác các dịch vụ trong khâu phân phối hàng hoá cho người tiêu dùng, tức là thực hiện những dịch vụ mua vào và bán ra để kiếm lời Doanh nghiệp thương mại có thể tổ chức dưới hình thức buôn bán sỉ hoặc buôn bán
lẻ và hoạt động của nó có thể hướng vào xuất nhập khẩu
- Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dịch vụ: Cùng với sự phát triển của
nền kinh tế, lĩnh vực dịch vụ càng được phát triển đa dạng, những doanh nghiệp trong ngành dịch vụ đã không ngừng phát triển nhanh chóng về mặt số lượng và
Trang 16doanh thu mà còn ở tính đa dạng và phong phú của lĩnh vực này như: ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, vận tải, du lịch, khách sạn, y tế, v.v
- Doanh nghiệp xây dựng: Là những doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh trong lĩnh vực xây dựng công trình: Xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất, kinh doanh đấu thấu xây dựng, đầu tư theo các phương thức BOT, BTO, BT, và thực hiện các dịch vụ xây dựng
- Doanh nghiệp hỗn hợp: sản xuất, kinh doanh thương mại và dịch vụ
Ngoài ra, theo tính chất sản phẩm và dịch vụ còn chia ra doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp công ích
1.1.3.3 Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp
Tại khoản 1 điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 quy định:
- Doanh nghiệp siêu nhỏ: Là những doanh nghiệp có quy mô số lao động 10
người trở xuống
- Doanh nghiệp nhỏ: Là những doanh nghiệp có quy mô lao động từ trên 10
người đến 200 người và có tổng nguồn vốn 20 tỷ đồng trở xuống Đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ thì quy mô lao động là từ trên 10 người đến 50 người và tổng nguồn vốn 10 tỷ đồng trở xuống
- Doanh nghiệp vừa: Là những doanh nghiệp có quy mô lao động từ trên 200
người đến 300 người và có tổng nguồn vốn trên 20 tỷ đến 100 tỷ đồng Đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ thì quy mô lao động là từ trên
50 người đến 100 người và tổng nguồn vốn từ 10 tỷ đến 100 tỷ đồng
- Doanh nghiệp có quy mô lớn: là các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn 1.1.3.4 Căn cứ vào các hình thức sở hữu trong nền kinh tế quốc dân
Đây là cách phân loại phổ biến nhất hiện nay, có các loại doanh nghiệp sau:
- Doanh nghiệp Nhà nước: Là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành
lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao [18]
- Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp [17]
- Công ty cổ phần: Là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, vốn do các cổ
đông góp, cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức, cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn về nợ của công ty, số lượng cổ đông lớn hơn hoặc bằng ba và công ty được phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán [17]
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp; phần vốn góp của các thành viên
Trang 17chỉ được chuyển nhượng theo quy định; thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; công ty không được quyền phát hành
cổ phiếu; là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên
hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn; thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào [17]
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Doanh nghiệp liên doanh và
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; các doanh nghiệp thuộc khu chế xuất (EPZ) và các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp tập trung (IZ) [19]
- Ngoài ra còn có các doanh nghiệp tập thể và một số loại hình kinh doanh khác
1.1.3.5 Căn cứ theo trách nhiệm pháp lý
- Doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý vô hạn: Doanh nghiệp tư nhân,
doanh nghiệp chung vốn, v.v
- Doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý hữu hạn: Công ty TNHH, Công
ty Cổ phần
- Doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý hỗn hợp: Công ty hợp danh
1.2 Cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế chủ yếu được điều tiết bởi thị trường, đồng thời trong nền kinh tế thị trường hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự tác động của các quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị - giá cả Chính vì vậy, bất kì một doanh nghiệp nào tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trên thì trường thì đều phải chấp nhận cạnh tranh và cạnh tranh
là một tất yếu khi doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh trên thị trường Vậy cạnh tranh là gì?
Theo Marx thì: "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các
Nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch"
Theo cuốn Từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì: "Cạnh tranh
trong cơ chế thị trường là sự ganh đua, sự kình địch giữa các Nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất về phía mình"
Trang 18Như vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các Doanh nghiệp trong việc giành giật thị trường và khách hàng Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường Đối với người mua, họ muốn mua được loại hàng hoá có chất lượng cao, với giá rẻ Còn ngược lại, các Doanh nghiệp bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi nhuận của mình Vì mục tiêu lợi nhuận, họ phải tìm mọi cách giảm chi phí và tìm cách giành giật khách hàng và thị trường về phía mình Và như vậy, cạnh tranh sẽ sẩy ra
Cạnh tranh kinh tế là quá trình đấu tranh giữa các doanh nghiệp, quốc gia, khu vực khác nhau trên một thị trường nhằm đứng chân được trên thị trường và tăng lợi nhuận, trên cơ sở tạo ra và sử dụng ưu thế về giá trị sử dụng, giá bán và tổ chức tiêu thụ sản phẩm của họ
Như vậy, đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường là hàng hoá, là tự do kinh doanh hàng hoá trong khung khổ pháp luật Do mưu cầu lợi ích của con người và do được tự do kinh doanh nên trong kinh tế thị trường cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ,
quyết liệt và đa dạng Từ đó, có thể phát biểu rằng “Nền kinh tế thị trường là nền
kinh tế hoạt động chủ yếu theo quy luật cạnh tranh đáp ứng nhu cầu hàng hoá”
1.2.2 Sự cần thiết của cạnh tranh lành mạnh
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì “Cạnh tranh là
sự giành giật thị trường, khách hàng, đối tác trên cơ sở các ưu thế về chất lượng sản phẩm - hàng hoá, thời hạn, thuận tiện và uy tín lâu dài” Cạnh tranh theo khái
niệm này là cạnh tranh lành mạnh Để có lợi thế về chất lượng sản phẩm, dịch vụ thì doanh nghiệp phải đầu tư thoả đáng cho việc nghiên cứu đổi mới sản phẩm, đổi mới quản lý, đổi mới công nghệ, đầu tư cho nhân tố con người Để có các ưu việt về chất lượng sản phẩm, giá chào bán, giá bán hàng hoá thì doanh nghiệp không còn cách nào khác là phải thường xuyên quan tâm đầu tư quản lý tốt tất các các yếu tố sản xuất, các hoạt động thành phần Như vậy, khi quản lý kinh doanh cần nắm bắt được chất lượng mà người tiêu dùng yêu cầu đối với sản phẩm, hàng hoá và phải biết quan hệ giữa chất lượng với chi phí Cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà sản xuất, giữa các nhà cung ứng tạo ra nhiều phản ứng dây chuyền tích cực đem lại nhiều lợi ích thiết thực trước hết cho người tiêu dùng, cho những doanh nghiệp cạnh tranh thành công, cho cộng đồng và cho toàn xã hội Tiến hành cạnh tranh lành mạnh là phải làm việc thực sự nghiêm túc, không ngừng sáng tạo, sử dụng sản phẩm sáng tạo, là phải biết chi nhiều để thu được nhiều hơn, là phải mạo hiểm, chấp nhận rủi
ro Doanh nghiệp nào tụt hậu trong hai lĩnh vực hoạt động đó là nguy cơ thất bại trong cạnh tranh, nguy cơ phá sản, đổ vỡ Do vậy, trong nền kinh tế thị trường thường doanh nghiệp chủ động bỏ tiền mua thành tựu khoa học công nghệ, phương
Trang 19pháp quản lý hiện đại hoặc đầu tư nghiên cứu và triển khai (R&D) để tạo ra các lợi thế cạnh tranh can sản phẩm, dịch vụ Trong thực tế luôn tồn tại những Doanh nghiệp không chịu hoặc không biết tiến hành cạnh tranh lành mạnh, tức là luôn có khả năng xuất hiện, tồn tại cạnh tranh thô bạo Do vậy, Nhà nước có nhiệm vụ, trách nhiệm tạo điều kiện cho cạnh tranh lành mạnh phát triển, kiểm soát và xử lý cạnh tranh không lành mạnh (Ban hành luật cạnh tranh và chống độc quyền)
Cạnh tranh là một quy luật khách quan, các doanh nghiệp bắt buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải luôn không ngừng tiến bộ để giành được
ưu thế tương đối so với đối thủ Nếu như mục tiêu chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là lợi nhuận thì cạnh tranh bắt buộc họ phải tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả cao nhất nhằm thu được lợi nhuận tối đa Ở Việt nam, cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế thì cạnh tranh được thừa nhận là một quy luật kinh tế khách quan và được coi là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức điều hành kinh doanh trong từng doanh nghiệp
Quy luật cạnh tranh là cơ chế vận động của thị trường hay có thể nói cơ chế
thị trường là “vũ đài cạnh tranh”, là nơi gặp gỡ của các đối thủ cạnh tranh (các
doanh nghiệp), mà kết quả sẽ là một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường, trong khi một số doanh nghiệp khác vẫn tồn tại và phát triển lớn mạnh hơn Cạnh tranh cũng là một quy luật chọn lọc nghiệt ngã và nó đã chia các doanh nghiệp thành hai nhóm: Nhóm năng động và nhóm trì trệ Điều đó đặt ra cho những doanh nghiệp đang yếu kém và lúng túng phải nhanh chóng thích nghi, vì nếu thích nghi được thì đó là cơ hội để phát triển và ngược lại nếu không thích nghi được đó
là dấu hiệu của sự phá sản Vì vậy, trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đạt đến được một khả năng cạnh tranh cao là con đường đảm bảo chắc chắn cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp
1.3 Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, v.v.,
có thể bán được nhiều sản phẩm, tăng thị phần, tăng lợi nhuận, tăng điều kiện sống tốt cho người lao động, từ đó tăng trưởng nhanh và bền vững
1.3.1 Lĩnh vực cạnh tranh của Doanh nghiệp
Xét dưới giác độ phạm vi kinh tế thì cạnh tranh được chi ra thành 3 lĩnh vực
đó là: Cạnh tranh giữa các quốc gia, cạnh tranh giữa các ngành và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nội bộ ngành Để giành lợi thế trên thị trường, các doanh nghiệp phải nắm vững các lĩnh vực cạnh tranh này để xác định đúng đối thủ cạnh tranh, từ đó lựa chọn chính xác vũ khí cạnh tranh phù hợp với điều kiện và đặc điểm của mình
Trang 201.3.1.1 Cạnh tranh giữa các quốc gia
Là cạnh tranh giữa các Nhà doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ có quốc tịch khác nhau Trong xu thế toàn cầu hoá, hình thành các liên kết kinh tế quốc tế mang tính khu vực và thế giới nên các quốc gia trong liên kết thường thực hiện cam kết loại bỏ các hàng rào cản trở đến thương mại và đầu tư, đường biên giới giữa các quốc gia dường như biến mất hoặc lu mờ, nhường chỗ cho sự ra đời và hoạt động với quy mô xuyên quốc gia của nhiều tập đoàn khổng lồ Việc nới lỏng các định chế kinh tế và từng bước hình thành thị trường tự do trong khu vực và trên toàn cầu Từ tháng 7/1995, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), tháng 11/1998 trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), năm 2007 Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Ngoài ra, Việt
g (TP ký kết
1.3.1.2 Cạnh tranh giữa doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau
Là cuộc đấu tranh giữa các Nhà doanh nghiệp sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao so với vốn đã bỏ ra và đầu tư vốn vào ngành có lợi nhất cho sự phát triển
Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những ngành đầu tư có lợi nhất nên đã chuyển vốn từ ngành có tỷ suất sinh lời thấp sang ngành có tỷ suất sinh lời cao
1.3.1.4 Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nội bộ ngành
Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự hình thành giá cả thị trường đồng nhất đối với hàng hoá dịch vụ cùng loại trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hoá dịch vụ đó Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau, doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường, doanh nghiệp thất bại sẽ thu hẹp kinh doanh, thậm chí bị phá sản
1.3.2 Những yếu tố cơ bản quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Các nhân tố bên trong bao gồm: Nhân - Tài - Vật - Lực, tức là con người - tài chính - tài sản vật chất, máy móc và thiết bị - nguồn lực như là vốn, công nghệ, nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào
Các nhân tố bên ngoài bao gồm: môi trường kinh doanh, khách hàng, chính sách pháp luật của nhà nước, địa bàn kinh doanh, hoàn cảnh địa lý và môi trường tự nhiên, các quy luật của nền kinh tế thị trường, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 21Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm tài sản cạnh tranh kết hợp với phương thức (hay quá trình) cạnh tranh (xem hình 1.1)
[14]
Tài sản cạnh tranh được kết hợp với một phương thức cạnh tranh phù hợp sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường so với đối thủ cạnh tranh Nếu không biết sử dụng một phương thức cạnh tranh phù hợp thì sẽ dẫn đến lãng phí tài sản và hạ thấp khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo quan điểm truyền thống, khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào những lợi thế so sánh về nguồn lực tài nguyên và nhân lực Nhưng điều này không thể giải thích được cho các nước có nguồn tài nguyên nghèo nàn nhưng khả năng cạnh tranh lại cao do năng suất cao hơn, sử dụng hợp lý và tối ưu các nguồn lực hay tài sản
cạnh tranh (có một phương thức cạnh tranh hợp lý)
Cạnh tranh cao hơn:
- Sức mạnh cạnh tranh được duy trì
- Thị phần cao hơn
Phần phân phối lớn hơn:
- Lượng cao hơn
- Lợi nhuận cao hơn
- Đầu tư cao hơn
Chất lượng Thời gian Thoả mãn khách hàng
Dịch vụ
Trang 22Trong các nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì có các nhân tố chủ yếu quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó là các nhân tố sau đây:
1.3.2.1 Thị trường và thị phần của doanh nghiệp
Thị trường quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp vì doanh nghiệp thực hiện chức năng chủ yếu là kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, do đó không
có thị trường thì cũng sẽ không có kinh doanh Như vậy, thị trường và doanh nghiệp luôn gắn liền với nhau, nếu doanh nghiệp không bám sát thị trường thì sẽ không cạnh tranh được với các đối thủ Thị trường của doanh nghiệp là nơi để doanh nghiệp
có thể gặp gỡ khách hàng, nhà cung cấp và đối tác để trao đối và liên kết Khi kinh doanh trên thị trường thì doanh nghiệp cần phải dự báo được nhu cầu của thị trường, nhận biết được các sản phẩm thay thế và các sản phẩm bổ sung, xác định được tỷ lệ phần trăm thị trường (thị phần) mà doanh nghiệp mình nắm giữ hoặc sẽ nắm giữ Điều này rất quan trọng bởi vì nó quyết định đến cơ hội kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì vậy, doanh nghiệp cần phải có các giải pháp để chiếm lĩnh thị trường,
dự báo nhu cầu thị trường và tìm mọi cách để thoả mãn nhu cầu, đồng thời phải coi
"Khách hàng là thượng đế" và bán những gì khách hàng cần chứ không bán những gì
mà doanh nghiệp có
Thị phần của doanh nghiệp trên thị trường: Là tỷ lệ phần trăm thị trường mà
doanh nghiệp nắm giữ Đây là một chỉ tiêu tổng hợp quan trọng để đánh giá khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, thị phần càng cao thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh Doanh nghiệp có thể căn cứ vào chỉ tiêu này để hoạch định chiến lược tiêu thụ sản phẩm và chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp mình trong tương lai Thông thường có các chỉ tiêu về thị phần sau:
- Thị phần tuyệt đối: là tỷ lệ phần trăm giữa doanh số của doanh nghiệp so với
doanh số của toàn ngành Thị phần tuyệt đối bao gồm: thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường và thị phần của doanh nghiệp trên phân đoạn thị trường mà doanh nghiệp mình phục vụ
- Thị phần tương đối: Là tỷ lệ giữa thị phần của một doanh nghiệp với thị
phần của đối thủ cạnh tranh lớn nhất trong ngành Ví dụ, nếu một doanh nghiệp có thị phần là 10% và thị phần của đối thủ cạnh tranh lớn nhất là 30%, thì thị phần tương đối là 1/3 Thị phần tương đối là cơ sở để xác định xem vị thế cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp là mạnh hay yếu
Trang 231.3.2.2 Sản phẩm, chất lượng sản phẩm và hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm
* Sản phẩm là gì?
Sản phẩm là kết quả của hoạt động sản xuất, của một hoạt động lao động có
mục đích cụ thể Sản phẩm trước hết phải có ý nghĩa đối với một nhu cầu tiêu dùng
Đó chính là tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu mà sản phẩm phải có Còn số lượng sản phẩm làm ra nhiều hay ít, chất lượng sản phẩm đạt hay không đạt tiêu chuẩn là do điều kiện của quá trình hoạt động lao động mang lại trong đơn vị thời gian lao động
* Nội dung của sản phẩm là gì?
Một là: Sản phẩm vật chất là kết quả của hoạt động sản xuất vật chất như sản
phẩm trong ngành công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, v.v
Hai là: Sản phẩm dịch vụ là kết quả hoạt động cung cấp dịch vụ như thương
mại, vận tải, bưu điện, ngân hàng, quản lý nhà nước, nghiên cứu khoa học, văn học nghệ thuật, v.v., ở mỗi dạng biểu hiện sản phẩm, còn được chia ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu vật chất và sản phẩm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng tinh thần
* Chất lượng sản phẩm
Theo cuốn ISO9000, "Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể
(đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn những nhu đã nêu hoặc tiềm ẩn" và "Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của sản phẩm, thể hiện sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm"
Chất lượng và khả năng cạnh tranh có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau Sự cạnh tranh càng khốc liệt thì đòi hỏi chất lượng của hàng hoá và dịch vụ càng phải cao và ngược lại chất lượng càng cao thì sự cạnh tranh càng khốc liệt Chính vì vậy, chỉ có những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm có chất lượng được cải thiện liên tục thì mới có thể thắng lợi lâu dài và cạnh tranh được trên thị trường Mặt khác, sự cạnh tranh càng trở nên khốc liệt hơn khi một doanh nghiệp phải chuyển từ chỗ kinh doanh ở địa phương sang kinh doanh trong toàn quốc, toàn khu vực và tiến tới kinh doanh trong toàn cầu Khi chuyển từ kinh doanh ở cấp thấp sang cấp cao hơn, các đối thủ cạnh tranh có sức cạnh tranh cao hơn, vì vậy để có thể tham gia vào cuộc chơi giành thắng lợi tức là thu được lợi nhuận, các doanh nghiệp phải có chất lượng hàng hoá và dịch vụ cao hơn
Thông thường người ta cho rằng sản phẩm có chất lượng là những sản phẩm hay dịch vụ hảo hạng, đạt được trình độ của khu vực hay thế giới và đáp ứng được mong đợi của khách hàng với chí phí có thể chấp nhận được Như vậy, cách nhìn về chất lượng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng khác nhau nhưng không mâu thuẫn nhau
Trang 24Hình 1.3: Các cách nhìn khác nhau về chất lƣợng [15]
Thông thường, người ta rất dễ chấp nhận ý tưởng cho rằng cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm là phải tập trung cải tiến và nâng cao đặc tính kỹ thuật, sự hoàn thiện của sản phẩm Quan niệm này sẽ dẫn đến xu hướng đồng hoá việc đầu tư vào đổi mới dây chuyền sản xuất, công nghệ sản xuất là nâng cao chất lượng sản phẩm Trong nhiều trường hợp, quan niệm này tỏ ra đúng đắn, nhất là khi sản phẩm đang được sản xuất ra với công nghệ quá lạc hậu Tuy nhiên, chất lượng đã vượt ra khỏi phạm vi của sản phẩm Doanh nghiệp sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng
và nhờ những sản phẩm tốt mà được khách hàng tín nhiệm Song muốn thật sự được người tiêu dùng tín nhiệm, thì cùng với sản phẩm tốt, doanh nghiệp còn phải thực hiện một loạt dịch vụ cần thiết khác như: bảo hành, hướng dẫn sử dụng, bảo dưỡng
kỹ thuật định kỳ và các dịch vụ phụ trợ khác
Chất lượng sản phẩm phải thể hiện thông qua 3 chữ P của chất lượng là:
- Perfectibility: sự hoàn thiện của sản phẩm
- Price: giá thể hiện chi phí để sản xuất (mua) sản phẩm và chi phí để khai
thác và sử dụng nó
- Punctuality: sự kịp thời, cả về chất lượng và thời gian
Hệ thống bảo đảm và quản lý chất lượng là một công cụ trong cạnh tranh hữu hiệu hiện nay bởi vì một trong số các yếu tố cơ bản để có thể cạnh tranh được trên thị trường toàn cầu là khả năng đáp ứng và vượt các tiêu chuẩn Trước đây hầu như có bao nhiêu ngành chế tạo thì bấy nhiêu tiêu chuẩn Nhưng từ khi hình thành
Thoả mãn nhu cầu của khách hàng
Trang 25thị trường toàn cầu thì tình trạng này không thể chấp nhận được Đặc biệt từ khi hình thành Liên minh Châu Âu thì nhu cầu đối với một tiêu chuẩn ống nhất lại càng trở nên cấp bách hơn Hiện nay có các hệ thống quản lý chất lượng như ISO 9000, ISO 14000, TCVN, QBASE, TQM, HACCP, SA8000, v.v Các hệ thống quản lý chất lượng này hiện đang được áp dụng đối với các doanh nghiệp, tạo lòng tin cho khách hàng và tăng khả năng cạnh tranh
Để có thể cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường, doanh nghiệp phải thực hiện chính sách đa dạng hoá sản phẩm Sản phẩm của doanh nghiệp phải luôn được hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp nhu cầu của thị trường bằng cách cải tiến các thông số chất lượng Đồng thời phải liên tục duy trì những sản phẩm mà doanh nghiệp có thế mạnh Mặt khác, doanh nghiệp cũng cần phải có chính sách phát triển
để cho ra đời sản phẩm mới để mở rộng thị trường tiêu thụ và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng Đa dạng hoá sản phẩm không chỉ là để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu thị trường, thu nhiều lợi nhuận mà còn là một biện pháp phân tán rủi
ro trong kinh doanh khi mà cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt
Đối với việc thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, để đảm bảo đứng vững trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp có thể thực hiện trọng tâm hoá sản phẩm vào một số loại sản phẩm nhằm cung cấp cho một nhóm người hoặc một vùng thị trường nhất định của mình Trong phạm vi này, doanh nghiệp có thể phục vụ khách hàng một cách tốt hơn, có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh và như vậy, doanh nghiệp đã tạo dựng được một rào chắn, đảm bảo giữ vững được phần thị trường của mình
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần phải thực hiện chiến lược khác biệt hoá sản phẩm, tạo ra những nét độc đáo riêng, nhằm cung cấp cho khách hàng những sản phẩm có những tính chất độc đáo, duy nhất cho toàn bộ thị trường hoặc một khúc nào đó, nhờ đó doanh nghiệp có thể bán được nhiều sản phẩm hơn hoặc bán được với mức giá cao hơn- tức là cạnh tranh được với đối thủ Mặt khác, khác biệt hoá là
cung cấp cho khách hàng một sản phẩm duy nhất nên dẫn đến có ưu thế cạnh tranh
và kéo theo đó là tránh được sự cạnh tranh đối đầu
1.3.2.3 Giá cả sản phẩm (chi phí sản xuất, giá bán)
Giá cả được thể hiện như là một vũ khí cạnh tranh thông qua việc định giá của sản phẩm: Định giá thấp, định giá ngang thị trường hay là chính sách định giá
cao (hớt váng sữa)
Với một mức giá ngang thị trường giúp doanh nghiệp giữ được khách hàng nếu doanh nghiệp tìm ra những biện pháp giảm giá thành thì lợi nhuận thu được sẽ
Trang 26tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao Ngược lại, với một mức giá thấp hơn giá thị trường thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng và tăng sản lượng tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ có cơ hội thâm nhập thị trường, chiếm lĩnh thị trường mới Mức giá doanh nghiệp áp đặt cao hơn mức giá thị trường chỉ sử dụng được với các doanh nghiệp có tính độc quyền, điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao
Để có được ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sự lựa chọn các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trong chu kỳ sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng khúc thị trường
1.3.2.4 Uy tín, danh tiếng hay thương hiệu của doanh nghiệp
Uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp cũng là một yếu tố rất quan trọng Đó là
cơ sở để doanh nghiệp có thể dễ dàng giành thắng lợi trong cạnh tranh vì Doanh nghiệp đã có một lượng khách hàng quen thuộc, tín nhiệm mình Uy tín và danh tiếng của một doanh nghiệp được hình thành sau một thời gian dài hoạt động trên thị trường và là một tài sản vô hình mà doanh nghiệp cần phải biết giữ gìn và phát huy tài sản đó
1.3.2.5 Công nghệ và bí quyết công nghệ
Công nghệ là nhân tố có tính chất quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp hiện nay Bất kì một sản phẩm nào được sản xuất ra đều gắn với một trình độ kỹ thuật công nghệ nhất định Vì vậy, công nghệ sẽ quyết định đến giá thành sản xuất, chất lượng sản phẩm và công trình từ đó quyết định tới giá cả của sản phẩm, hàng hoá từ đó nó quyết định tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Để có thể cạnh tranh trong thời đại hiện nay, bất kì một doanh nghiệp nào cũng cần phải có đầy đủ và chính xác thông tin về thị trường và đối thủ cạnh tranh
và biết cách xử lý có hiệu quả Công nghệ hiện đại sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền đạt thông tin một cách nhanh nhất, đầy đủ và chính xác nhất Công nghệ mới sẽ tạo nên hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho từng doanh nghiệp Đây là tiền đề để các doanh nghiệp ổn định nâng cao khả năng cạnh tranh
của mình Hiện nay, một số ngành đã áp dụng chiến lược công nghệ “đi tắt, đón đầu” để
có thể cạnh tranh được trong khi mà công nghệ luôn luôn đổi mới từng ngày hiện nay, nếu doanh nghiệp không có giải pháp về công nghệ thì sẽ không thể nâng cao khả năng cạnh tranh của mình được trên thị trường
1.3.2.6 Thời gian
Đối với các doanh nghiệp, yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công trong cạnh tranh và kinh doanh hiện đại của doanh nghiệp đó là yếu tố thời gian và tốc độ chứ không phải là các yếu tố truyền thống như là nguyên vật liệu và lao động
Trang 27Những thay đổi nhanh chóng của tiến bộ khoa học công nghệ đã làm cho cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, khốc liệt hơn và trong cuộc chạy đua này những doanh nghiệp nào biết nắm bắt thời cơ, đi trước thì doanh nghiệp đó sẽ
thắng Tốc độ cạnh tranh đã đạt tới một mức độ có thể gọi là “Tốc độ tức khắc”
Muốn chiến thắng trong cuộc cạnh tranh như vậy, doanh nghiệp phải biết tổ chức tốt hoạt động thu nhập và xử lý thông tin thị trường, nắm bắt thời cơ, lựa chọn mặt hàng theo yêu cầu của thị trường, nhanh chóng tổ chức kinh doanh, tiêu thụ thu hồi vốn Đi trước một bước trong cạnh tranh là giành được một chiến thắng quan trọng trong việc thu hút khách hàng và mở rộng thị trường, tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, khi xây dựng một chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp thường
đề cập tới vấn đề “Tốc độ thị trường”, “Cạnh tranh dựa trên thời gian” và chú trọng tới vấn đề về chu kỳ sản phẩm, thời gian nắm bắt, thoả mãn nhu cầu thị trường, thời gian đầu tư, thời gian thu hồi vốn, tốc độ công việc giao dịch và giao hàng, tốc độ của công tác nghiên cứu và triển khai, v.v
Ngoài ra các yếu tố vốn, quy mô doanh nghiệp, v.v., cũng có tác động rất lớn tới khả năng cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.3 Ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào môi trường kinh doanh và khả năng thích ứng của doanh nghiệp với hoàn cảnh của môi trường kinh doanh Bất kể một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng phải gắn với môi trường kinh doanh Do vậy, nó phải chịu sự tác động, ảnh hưởng của nhiều nhân tố bao gồm cả chủ quan và khách quan
Từ quan niệm chung: Môi trường là tập hợp các yếu tố, các điều kiện thiết
lập nên khung cảnh sống của một chủ thể, người ta thường cho rằng môi trường kinh doanh là tổng hợp các yếu tố, các điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Các yếu tố, các điều kiện cấu thành môi trường kinh doanh luôn luôn có quan hệ tương tác với nhau và đồng thời tác động đến hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, nhưng mức độ và chiều hướng tác động của các yếu tố, điều kiện lại khác nhau Trong cùng một thời điểm, với cùng một đối tượng
có yếu tố tác động thuận, nhưng lại có yếu tố tạo thành lực cản đối với khả năng cạnh tranh và sự phát triển của doanh nghiệp
Trang 281.3.3.1 Các yếu tố của môi trường kinh doanh xét theo cấp độ
Xét theo cấp độ tác động đến sản xuất và quản trị doanh nghiệp, ta có:
Hình 1.4: Các yếu tố môi trường kinh doanh có tác động đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp [13]
- Ở cấp độ nền kinh tế quốc dân (còn gọi là môi trường vĩ mô, môi trường tổng quát), các yếu tố môi trường gồm: Các yếu tố chính trị - luật pháp; Các yếu tố kinh tế;
Các yếu tố kỹ thuật - công nghệ; Các yếu tố văn hoá - xã hội; Các yếu tố tự nhiên
- Ở cấp độ ngành (còn gọi là môi trường tác nghiệp), các yếu tố bao gồm: Sức ép và yêu cầu của khách hàng; Các đối thủ cạnh tranh hiện có và tiềm ẩn;
Mức độ phát triển của thị trường các yếu tố; Các sản phẩm thay thế sản phẩm doanh nghiệp đang sản xuất; Các quan hệ liên kết
- Ở cấp độ doanh nghiệp (hoàn cảnh nội bộ), các yếu tố bao gồm: Nguồn
nhân lực; Các nghiên cứu và phát triển (R&D); Sản xuất; Tài chính kế toán; Marketing; Văn hoá doanh nghiệp
Ba mức độ điều kiện môi trường này được định nghĩa và mối tương quan của chúng Doanh nghiệp cần nhận biết hai yếu tố khác khi phân tích các ảnh hưởng của
Môi trường vĩ mô gồm các yếu
tố nằm bên ngoài doanh
nghiệp, định hình và có ảnh
hưởng đến các môi trường tác
nghiệp và môi trường nội bộ,
và tạo ra các cơ hội và mối
nguy cơ đối với các doanh
nghiệp Môi trường tác nghiệp
là môi trường bao hàm các yếu
tố bên ngoài doanh nghiệp,
định hướng sự cạnh tranh trong
ngành Hoàn cảnh nội bộ bao
hàm các nguồn lực nội tại của
Trang 29môi trường đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Thứ nhất là, tính phức tạp
của môi trường được đặc trưng bởi một loạt các yếu tố có ảnh hưởng đến các nỗ lực của tổ chức Môi trường càng phức tạp thì càng khó đưa ra các quyết định cạnh
tranh hữu hiệu Thứ hai là, tính biến động của môi trường, bao hàm tính năng động
hoặc mức độ biến đổi trong điều kiện môi trường liên quan Trong một môi trường
ổn định mức độ biến đổi có thể tương đối thấp và có thể dự đoán được Môi trường biến động đặc trưng bởi những vấn đề diễn ra nhanh chóng và khó mà dự báo trước được Tính phức tạp và biến động của môi trường đặc biệt hệ trọng khi tiến hành phân tích các điều kiện môi trường vĩ mô và môi trường tác nghiệp vì cả hai đều là yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp
1.3.3.2 Các yếu tố của môi trường kinh doanh xét theo quá trình kinh doanh
Xét theo quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, có thể phân chia môi trường kinh doanh thành môi trường bên trong và môi trường bên ngoài
- Môi trường bên trong (nhóm nhân tố chủ quan - hoàn cảnh nội tại): bao
gồm toàn bộ các quan hệ kinh tế, tổ chức kỹ thuật như nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật, nghiên cứu phát triển, các yếu tố sản xuất, tài chính kế toán, marketing, văn hoá doanh nghiệp, v.v., nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp kết hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm đạt hiệu quả cao
- Môi trường bên ngoài (nhóm nhân tố khách quan): là tổng thể các quan hệ
kinh tế, chính trị, xã hội, tự nhiên, khoa học công nghệ, môi trường quốc tế tác động đến hoạt động của doanh nghiệp
1.3.3.3 Lý thuyết về cạnh tranh của Michael Porter
Người ta gọi Michael Porter là một Nhà chiến lược Cạnh tranh hiện đại, điều này cũng đúng vì lí thuyết về cạnh tranh của ông rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp và các quốc gia để có thể vận dụng trong xu hướng cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế giai đoạn hiện nay
- Mô hình cạnh tranh 5 lực lượng của Michael Porter
Michael Porter sinh năm 1947 tại Ann Arbor Michigan Porter tốt nghiệp Đại học Princeton năm 1969 với bằng cử nhân hạng ưu về kỹ thuật hàng không và cơ khí Tại Đại học Harvard, Porter bằng MBA (1971), tiếp sau đó là bằng tiến sĩ kinh tế học kinh doanh (1973) Porter trở thành giảng viên của Đại học Harvard năm 26 tuổi, một trong những người trẻ nhất được phong hàm giáo sư chính thức trong lịch sử của trường M Porter là một trong 15 người hiện nay tại Đại học
Trang 30Harvard có học hàm giáo sư bậc cao nhất gọi là University Professor Ông đã có rất nhiều sách về cạnh tranh Vì vậy, mô hình cạnh tranh 5 lực lượng của Michael Porter rất có ý nghĩa trong việc phân tích khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp
Theo mô này thì trong bất cứ ngành nào, doanh nghiệp nào, dù là nội địa hay quốc tế, dù sản xuất hay làm dịch vụ, các quy tắc cạnh tranh được thể hiện bằng năm lực lượng cạnh tranh, trong đó bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành kinh doanh đó Có 5 yếu tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh, người mua, người cung cấp, các đối thủ mới tiềm ẩn và sản phẩm thay thế Mối quan hệ giữa các yếu
Vì ảnh hưởng chung của các yếu tố này thường là một sự miễn cưỡng đối với tất cả các doanh nghiệp, nên chìa khóa để ra được một chiến lược thành công là phải phân tích từng yếu tố chủ yếu đó Sự am hiểu các nguồn sức ép cạnh tranh giúp các doanh nghiệp nhận ra mặt mạnh và măt yếu của mình liên quan đến các cơ hội và nguy cơ mà ngành kinh doanh đó gặp phải
Sơ đồ 1.1: Mô hình 5 lực lƣợng của Michael Porter
Nguồn: Adapted from Michael E Porter, “How Competitive Forces Shape Strategy,”
Harvard Business Review 57, no.2 (March-April 1979), pp 137 - 45
Người cung cấp
Các đối thủ dạng tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Sự ganh đua giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành
Hàng thay thế
Người mua
Khả năng ép giá của người cung cấp hàng
Khả năng ép giá của người mua
Nguy cơ do các sản phẩm và dịch vụ mới thay thế Nguy cơ có các đối thủ mới
cạnh tranh
Trang 31Thứ nhất: Các đối thủ cạnh tranh
Sự gia nhập ngành của các đối thủ cạnh tranh mới Những đối thủ cạnh tranh mới đòi hỏi phải có phản ứng cạnh tranh; phản ứng này sẽ tiêu tốn một số nguồn lực của Doanh nghiệp mình , do vậy làm giảm lợi nhuận của Doanh nghiệp Ta có thể phân tích cụ thể như sau:
Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp do nhiều nguyên nhân Thứ nhất là các đối thủ cạnh tranh quyết định tính chất và mức độ tranh đua hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành
Một điều rất có lợi cho Doanh nghiệp là nắm bắt được những nhận định của đối thủ cạnh tranh về chính họ và các doanh nghiệp khác trong ngành Nếu như các
nhận định này không chính xác thì chúng sẽ tạo ra các "điểm mù" - tức là điểm yếu
của đối phương Chẳng hạn, nếu đối thủ cạnh tranh tin tưởng rằng họ được khách hàng tín nhiệm cao, thì họ có thể mắc điểm yếu là không thực hiện biện pháp cạnh tranh như giảm giá và đưa ra các sản phẩm mới Tương tự như vậy, doanh nghiệp
có thể có những nhận định thiếu chính xác về ngành hàng hoặc môi trường hoạt động của mình Chẳng hạn, các hãng sản xuất ô tô của Hoa Kỳ đã một thời cho rằng nhu cầu xe còn phụ thuộc căn bản vào điều kiện kinh tế Điều nhận định sai lầm này
là điểm yếu của họ trước những đối thủ cạnh tranh nước ngoài nào sản xuất các loại
xe có các bộ phận xa xỉ hơn và được chấp nhận vì chất lượng cao hơn
Có thể nhận biết các nhận định của đối thủ cạnh tranh, kể cả các nhận định định sai lầm, bằng những câu hỏi sau đây:
- Đối thủ cạnh tranh nhận định như thế nào về các ưu điểm, nhược điểm và
vị thế nói chung về các vấn đề chi phí, chất lượng sản phẩm, mức độ tinh vi của công nghệ Các nhận định này có chính xác không?
- Xét về khía cạnh lịch sử và cảm xúc, danh tíếng của đối thủ cạnh tranh
được gắn liền với các sản phẩm và chính sách cụ thể như thế nào (thí dụ: phương
thức bán hàng, thị hiếu về chất lượng sản phẩm và phương thức thiết kế kiểu dáng sản phẩm)
- Những khác biệt về truyền thống văn hóa, tôn giáo, dân tộc có ảnh hưởng như thế nào đến thái độ của đối thủ cạnh tranh và sự nhận thức của họ đối với các
sự kiện?
- Các giá trị chuẩn mực có được thể chế hóa hoặc các qui tắc xã hội các chuẩn mực và qui tắc mà người sáng lập ra đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng đến quan điểm của họ không?
- Đối thủ cạnh tranh nhận định như thế nào về nhu cầu đối với các sản phẩm của họ hoặc các xu hướng phát triển khác của ngành trong tương lai?
Trang 32- Đối thủ cạnh tranh nhận định như thế nào về các mục đích và khả năng của đối thủ cạnh tranh của họ Các nhận định đó có chính xác không?
- Đối thủ cạnh tranh tin vào lý trí thông thường hay dựa vào kinh nghiệm kiểu như "chúng ta phải có dây chuyền khép kín" và "tập trung hóa là chìa khóa cho sự thành công Sự tin tưởng như vậy có phải là điểm yếu của đối thủ cạnh tranh hay không?
Cần lưu ý rằng việc phân tích cặn kẽ lịch sử của đối thủ canh tranh và kinh nghiệm của các nhà lãnh đạo và chuyên gia cố vấn của họ giúp ta hiểu rõ các mục đích và nhận định của họ
Các doanh nghiệp phải xem xét đến tiềm năng chính yếu của đối thủ cạnh tranh, các ưu, nhược, điểm của họ trong các lĩnh vực hoạt động sau đây:
- Các loại sản phẩm
- Hệ thống phân phối
- Marketing và bán hàng
- Các hoạt động tác nghiệp/sản xuất
- Nghiên cứu và thiết kế công nghệ
- Quan hệ xã hội (như đối với Chính phủ)
Ngoài các yếu tố kể trên cần xem xét đến tính thống nhất của các mục đích
và chiến lược của đối thủ cạnh tranh Các doanh nghiệp cũng cần xem xét các ưu, nhược điểm và tính thống nhất của đối thủ cạnh tranh có còn thay đổi không và thay đổi theo hướng nào
Ngoài ra, các doanh nghiệp cần tìm hiểu khả năng tăng trưởng của các đối
xuống nếu có sự tăng trưởng; (ii) Khả năng tiềm ẩn để tăng trưởng, cụ thể tiềm năng
về con người, tay nghề của người lao động và công nghệ; (iii) Mức tăng trưởng mà
họ có thể giữ vững theo triển vọng tài chính; (iv) Khả năng phản ứng nhanh của đối thủ cạnh tranh, tức khả năng phản công tức thì của họ cũng cần được đánh giá Các yếu tố cụ thể cần đưa ra phân tích là dự trữ tiền mặt chưa sử dụng đến, khả năng vay vốn, công suất nhà máy dư thừa và các loại sản phẩm mới chưa tung ra có thể nhanh chóng bị lạc hậu; (v) Một điều hết sức quan trọng là khả năng đối thủ cạnh tranh có
Trang 33thể thích nghi với những thay đổi Các doanh nghiệp cần xem xét khả năng phản ứng của đối thủ cạnh tranh trước các diễn biến của các tiến bộ công nghệ, lạm phát
và sự can thiệp mạnh của Chính phủ Ngoài ra, cần xem xét tới khả năng thích nghi của họ đối với các thay đổi liên quan đến từng lĩnh vực hoạt động marketing đang
mở rộng hoặc họ có quản lý được dây chuyền sản phẩm phức tạp hơn không?
Khả năng đối thủ cạnh tranh thích nghi với các thay đổi chịu ảnh hưởng:
- Định phí so với biến phí;
- Giá trị của công suất chưa sử dụng;
- Sự tồn tại của các rào cản lối ra
- Khả năng chịu đựng của đối thủ cạnh tranh, tức khả năng đương đầu với các cuộc tranh giành kéo dài Khả năng chịu đựng phụ thuộc vào dự trữ tiền vốn, sự nhất trí trong ban lãnh đạo, triển vọng lâu dài trong các mục đích tài chính của doanh nghiệp và không bị sức ép trên thị trường chứng khoán
- Sự am hiểu về các đối thủ cạnh tranh chính có tầm quan trọng đến mức có thể nó cho phép đề ra thủ thuật phân tích đối thủ cạnh tranh và duy trì hồ sơ về các đối thủ trong đó có các thông tin thích hợp và các thông tin về từng đối thủ cạnh trạnh chính được thu nhận một cách hợp pháp
Thứ hai : Khách hàng
Vấn đề khách hàng là một bộ phận không tách rời trong môi trường cạnh tranh Sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị nhất của hãng Sự tín nhiệm đó đạt được do biết thỏa mãn tốt hơn nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với với các đối thủ cạnh tranh Mặt khác, người mua sẽ dừng sức mạnh mặc cả, nếu
có và điều này sẽ làm giảm lợi nhuận, do ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi Ta có thể thấy như sau:
Một vấn đề mấu chốt khác liên quan đến khách hàng là khả năng trả giá của
họ Người mua có ưu thế có thể làm cho lợi nhuận của ngành hàng giảm bằng cách ép giá xuống hoặc đòi hỏi chất lượng cao hơn và phải làm nhiều công việc dịch vụ hơn
Người mua có tương đối nhiều thế mạnh hơn khi họ có các điều kiện sau:
- Lượng hàng người mua chiếm tỷ lệ lớn trong khối lượng hàng bán ra của hãng, như lượng bán hàng mà hãng General Motors mua của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện nhỏ
- Việc chuyển sang mua hàng của người khác không gây nhiều tốn kém;
- Người mua đưa ra tín hiệu đe dọa đáng tin cậy sẽ hội nhập ngược với các bạn hàng cung ứng, như các hãng sản xuất ô tô thường làm;
- Sản phẩm của người bán ít ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của người mua
Trang 34Nếu sự tương tác của các điều kiện nói trên làm cho doanh nghiệp không đạt được mục tiêu của mình thì doanh nghiệp phải cố gắng thay đổi vị thế của mình trong việc thương lượng giá bằng cách thay đổi một hoặc nhiều điều kiện nói trên hoặc là phải tìm khách hàng ít có ưu thế hơn
Doanh nghiệp cũng cần lập bảng phân loại các khách hàng hiện tại và tương lai Các thông tin thu được từ bảng phân loại này là cơ sở định hướng quan trọng cho việc hoạch định kế hoạch, nhất là các kế hoạch liên quan trực tiếp đến marketing
Thứ ba : Nhà cung ứng
Các doanh nghiệp cần phải quan hệ với các tổ chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau, như vật tư, thiết bị, lao động và tài chính Sức mạnh mặc cả của người bán (Nhà cung cấp) với ưu thế hơn Doanh nghiệp thì họ sẽ tăng giá và ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh lợi của Doanh nghiệp
Người bán vật tư, thiết bị
Các tổ chức cung cấp vật tư, thiết bị có ưu thế có thể gây khó khăn bằng cách tăng giá, giảm chất lượng sản phẩm hoặc giảm dịch vụ đi kèm Yếu tố làm tăng thế mạnh của các tổ chức cung ứng cũng tương tự như các yếu tố làm tăng thế mạnh của người mua sản phẩm, Cụ thể là các yếu tố: số lượng cung cấp ít; không có mặt hàng thay thế khác và không có nhà cung cấp nào chào bán các sản phẩm có tính khác biệt Nếu người cung cấp có được điều kiện thuận lợi như vậy thì các doanh nghiệp mua hàng cần kiếm cách cải thiện vị thế của họ bằng cách tác động đến một hay nhiều yếu tố nói trên Họ có thể đe dọa hội nhập dọc bằng cách mua lại các cơ
sở cung cấp hàng cho chính họ, hoặc có thể mua giấy phép độc quyền
Việc lựa chọn người cung cấp dựa trên số liệu phân tích về người bán Cần phân tích mỗi tổ chức cung ứng theo các yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Các hồ sơ về người bán trong quá khứ cũng có giá trị, trong các hồ
sơ đó ít nhất cũng phải tóm lược được những sai biệt giữa việc đặt hàng và nhận hàng liên quan đến nội dung, ngày tháng, điều kiện bán hàng và bất kỳ tình tiết giảm nhẹ nào có tác động đến người cung cấp hàng
Người cung cấp vốn
Trong những thời điểm nhất định phần lớn các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp làm ăn có lãi, đều phải vay vốn tạm thời từ người tài trợ Nguồn tiền vốn này có thể nhận được bằng cách vay ngắn hạn hoặc dài hạn hoặc phát hành cổ phiếu Khi doanh nghiệp tiến hành phân tích về các tổ chức tài chính thì trước hết
cần chú ý xác định vị thế của mình so với các thành viên khác trong cộng đồng Cần
đặt ra các câu hỏi cơ bản sau:
Trang 35- Cổ phiếu của doanh nghiệp có được đánh giá đúng không ?
- Các điều kiện cho vay hiện tại của chủ nợ có phù hợp với các mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp không ?
- Người cho vay có khả năng kéo dài ngân khoản và thời gian cho vay khi cần thiết không?
Nguồn lao động
Nguồn lao động cũng là một phần chính yếu trong môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp Khả năng thu hút và giữ được các nhân viên có là tiền đề để dảm bảo thành công cho doanh nghiệp Các yếu tố chính cần đánh giá là đội ngũ lao động chung (total labor pool) bao gồm: trình độ đào tạo và trình độ chuyên môn của
họ, mức độ hấp dẫn tương đối của doanh nghiệp với tư cách là người sử dụng lao động và mức tiền công phổ biến
Các nghiệp đoàn cũng có vai trò đáng kể trong môi trường cạnh tranh Tính chất đặc thù của mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các nghiệp đoàn liên quan, với
tư cách là người cung cấp lao động, có thể tác động mạnh đến khả năng đạt được mục tiêu của doanh nghiệp
Thứ tư: Đối thủ tiềm ẩn mới
Sự đua tranh giữa những đối thủ cạnh tranh hiện tại Do có cạnh tranh nên cần đầu tư vào tiếp thị, nghiên cứu và phát triển (R&D) hay giảm giá, điều đó sẽ làm giảm lợi nhuận của Doanh nghiệp
Đối thủ mới tham gia kinh doanh trong ngành có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp do họ đưa vào khai thác các sản xuất mới, với mong muốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết Cần lưu ý là việc mua lại các cơ sở khác trong ngành với ý định xây dựng phần thị trường thường là biểu hiện của sự xuất hiện đối thủ mới xâm nhập
Mặc dù không phải bao giờ doanh nghiệp cũng gặp phải đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn mới, song nguy cơ đối thủ mới hội nhập vào ngành vừa chịu ảnh hưởng đồng thời cũng có ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh những vấn đề khác, việc bảo vệ vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm việc duy trì hàng rào hợp pháp ngăn cản sự xâm nhập từ bên ngoài Những hàng rào này là: lợi thế do sản xuất trên quy mô lớn, đa dạng hóa sản phẩm, sự đòi hỏi có nguồn tài chính lớn, chi phí chuyển đổi mặt hàng cao, khả năng hạn chế việc xâm nhập từ các kênh tiêu thụ vững vàng và ưu thế về giá thành mà đối thủ cạnh tranh
không tạo ra được (thí dụ, độc quyền về công nghệ và nguồn nguyên liệu thuận lợi)
Một hàng rào khác ngăn cản xự xâm nhập của đối thủ tiềm ẩn mới là sự chống trả mạnh mẽ của các doanh nghiệp đã đứng vững
Trang 36Thứ năm : Sản phẩm thay thế
Sức ép do có sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của ngành
do mức giá cao nhất bị khống chế Nếu không chú ý tới các sản phẩm thay thế tiềm
ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại với các thị trường nhỏ bé Thí dụ: như các doanh
nghiệp sản xuất máy chơi bóng bàn không chú ý tới sự bùng nổ của các trò chơi điện tử Vì vậy, các doanh nghiệp cần không ngừng nghiên cứu và kiểm tra các mặt hàng thay thế tiềm ẩn
Phần lớn sản phẩm thay thế mới là kết quả của cuộc bùng nổ công nghệ Muốn đạt được thành công, các doanh nghiệp cần chú ý và dành nguồn lực thích hợp để phát triển hay vận dụng công nghệ mới vào chiến lược của mình
Sức mạnh tổng hợp của 5 lực lượng cạnh tranh này sẽ quyết định khả năng của các Doanh nghiệp cùng cùng một ngành trong việc đạt được tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư cao hơn chi phí vốn Sức mạnh của 5 lực lượng cạnh tranh ở mỗi ngành, mỗi Doanh nghiệp là khác nhau, và có thể thay đổi quá trình phát triển của mỗi ngành
- Bốn phẩm chất tạo nên sức cạnh tranh của Michael Porter: Theo Porter
cho rằng có bốn phẩm chất tổng quát của một quốc gia giúp tạo nên một môi trường
để cho các công ty của mình có khả năng cạnh tranh, và những phẩm chất này sẽ thúc đẩy hay cản trở việc tạo ra lợi thế cạnh tranh của quốc gia ấy trên thương trường quốc tế Đó là: (i) Các yếu tố trời cho; (ii) Sức cầu nội địa; (iii) Sự tồn tại hay thiếu vắng các ngành công nghiệp có tính hỗ trợ hoặc có liên quan; (iv) Chiến
lược, cơ cấu, cùng sự cạnh tranh nội địa của các công ty
Bốn phẩm chất này tạo thành một viên kim cương, sự thuận lợi mà chúng mang lại cho một ngành và một doanh nghiệp sẽ giúp ngành này và doanh nghiệp này có sức cạnh tranh nhiều hay ít Ngoài ra, các phẩm chất kia còn tương tác với nhau, cái nọ tuỳ thuộc vào cái kia Chẳng hạn, một sức cầu cao vẫn không là một lợi thế nếu không có cạnh tranh ở một mức nào đó để buộc các doanh nghiệp phải đáp ứng nhu cầu
1.4 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của Thế giới và của Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số nước Thế giới
Năm 2012, theo hiệp hội Thép Thế giới - WSA (đại diện cho khoảng 170 nhà sản xuất thép), tổng sản lượng phôi thép thế giới đạt 1.510 triệu tấn tăng 1,35% so với năm 2011 Trong đó Trung quốc là quốc gia sản xuất phôi thép nhiều nhất thế giới chiếm 47% thị phần, tiếp đến là Nhật chiếm 7%, Mỹ chiếm 6%, Nga chiếm 5%, Hàn Quốc chiếm 5%, v.v Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn giữa các quốc
Trang 37gia khi sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến được các quốc gia áp dụng vào trong sản xuất cùng với sự hội nhập kinh tế thế giới ngày càng phát triển Top 15 công ty thép hàng đầu chiếm 1/3 thị phần thép thế giới bao gồm Mittal, Arcelor, Severstal, Corus, Baosteel, Posco, JFE, Nippon, Riva, Nucor, ThyssenKrupp, US steel, Evraz, Gardau, Tangshan
Tính đến tháng 5 năm 2013 Trung Quốc là nước sản xuất lớn nhất với 67 triệu tấn, tăng 7,3% so với cùng tháng năm ngoái Trong khi đó, sản lượng thép thô được sản xuất bởi EU đạt 14,7 triệu tấn, giảm 4,7% so với cùng tháng năm ngoái Đức là cũng là quốc gia sản xuất lớn với 3,65 triệu tấn, giảm 1,5% so với cùng tháng năm ngoái Thị trường thép thế giới đang dần phục hồi, giá thép cuộn cán nóng niêm yết trên sàn New York giảm mạnh từ 655 USD/tấn giá thép đầu năm
2013 xuống 578 USD/tấn Đến gần cuối tháng 5, giá thép dần hồi phục trở lại, giá thép cuộn cán nóng 25/06/2013 ở mức 617 USD/tấn do những tín hiệu lạc quan từ nền kinh tế thế giới, giá nhà bán của Trung Quốc và Mỹ đều tăng mạnh trong tháng
6 Tuy nhiên nhiều khả năng giá thép thế giới tháng 7 sẽ giảm do Tập đoàn sản xuất thép hàng đầu Trung Quốc và lớn thứ 2 thế giới Baoshan Iron & Steel (Baosteel) thông báo sẽ hạ giá đối với các đơn đặt hàng tháng 7 do nhu cầu tiêu thụ chậm lại
Biểu đồ 1.1: Thị phần sản xuất thép trên toàn thế giới
Nguồn: Hiệp hội thép thế giới
1.4.2 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp Thép
ở Việt Nam
* HPG - Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát
Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát tiền thân là Công ty cổ phần thép Hòa Phát thành lập vào năm 1992 Tập Đoàn Hòa Phát hiện đang có 12 công ty thành
Trang 38viên hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thép, khai thác khoáng sản, than coke, kinh doanh bất động sản, sản xuất nội thất, máy móc và các thiết bị xây dựng Với vốn điều lệ 4.190 tỷ đồng Trong đó, sản xuất thép và các sản phẩm liên quan như than coke, quặng sắt chiếm đến 83,6% cơ cấu doanh thu HPG hiện là một trong những công ty đầu ngành có lợi thế cạnh tranh và thương hiệu trong ngành thép So với các doanh nghiệp thép niêm yết trên sàn thì HPG là công ty có lợi thế nổi trội nhờ dây chuyền sản xuất khép kín từ phôi thép đến thành phẩm
Lợi nhuận từ BĐS: Hòa Phát đang tập trung bán hàng và hoàn thiện dự án Mandarin Garden để bàn giao vào tháng 9/2013 Doanh thu từ dự án Mandarin Garden khoảng 5,000 tỷ đồng, trong đó dự tính lợi nhuận thu được khoảng 10% (500 tỷ đồng) Dự kiến sẽ hạch toán khoảng 100 tỷ đồng lợi nhuận vào quý 4/2013
Năng lực sản xuất thép: Dự kiến trong tháng 7 này, giai đoạn 2 Khu liên hợp sản xuất gang thép đi vào hoạt động, nâng công suất toàn khu liên hợp lên 850 nghìn tấn thép thành phẩm và 500.000 tấn phôi mỗi năm Với sự gia tăng công suất, tập đoàn đặt mục tiêu tiêu thụ 787 nghìn tấn thép xây dựng trong năm 2013
POM - Công ty Cổ phần Thép Pomina
Công ty Cổ phần Thép Pomina được thành lập ngày 17/08/1999 tiền thân là Công ty TNHH Thép Việt với vốn điều lệ ban đầu là 42 tỷ đồng Hiện nay, vốn điều
lệ của công ty đã lên đến 1.874 tỷ đồng Hoạt động sản xuất và kinh doanh các sản phẩm từ thép, gang Thép Pomina là một trong những thương hiệu thép nỗi tiếng trên thị trường thép xây dựng Sản phẩm mang lại doanh thu chính cho POM là thép thanh chiếm đến 88% cơ cấu doanh thu
Năng lực sản xuất thép: Công suất luyện thép của Pomina hiện nay đã lên đến 1,5 triệu/tấn năm, cán thép 1,6 triệu tấn/năm
HSG - Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
Công ty được thành lập vào tháng 08 năm 2001 tiền thân là Công ty cổ phần Hoa Sen Với mức vốn điều lệ hiện nay là 1.007 tỷ đồng Chuyên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất tấm lợp bằng mạ kẽm, hợp kim nhôm, mã kẽm phủ sơn và mạ các loại hợp kim khác, mua bán vật liệu xây dựng bằng nhựa, hạt nhựa PVC, PE, PR,
PP, v.v., sản xuất và kinh doanh ống thép, kim loại, ngoài ra công ty còn đầu tư kinh doanh cảng sông, cảng biển và các công trình thủy lợi Trong đó, sản xuất và kinh doanh tôn mạ chiếm 64,3% cơ cấu doanh thu, ống thép chiếm đến 29%
Trang 39VIS - Công ty Cổ phần Thép Việt Ý
Công ty Cổ phần Thép Việt Ý thành lập năm 2002, tiền thân là nhà máy Thép Việt Ý thuộc Tổng công ty Sông Đà Chuyên sản xuất và kinh doanh các mặt hàng thép xây dựng phi 5,5 - phi 12; thép thanh D10 - D40 đều đạt tiêu chuẩn quốc tế Mức vốn điều lệ hiện nay là 492 tỷ đồng Thị trường tiêu thụ của thép Việt ý khá rộng với 50 nhà phân phối và hơn 500 đại lý khắp các tỉnh thành trong cả nước Năng lực sản xuất: Vis có dây chuyền công nghệ hiện đại được nhập khẩu đồng bộ 100% và chuyển giao công nghệ từ tập đoàn Danieli - Ý với công suất 250.000 tấn/năm
Trang 40Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
năng lực cạnh tranh ở TISCO hiện tại như thế nào?
ở TISCO là gì?
Ba là, giải pháp nào để phát huy và không ngừng
tranh ở TISCO thời gian tới?
2.2 Cách tiếp cận
Một là, cách tiếp cận hệ thống
; tác giả xây dựng mô hình hệ thống phân tích để thấy được các nhân tố tác động
năng cạnh tranh của TISCO
TISCO
TISCO
Hai là, cách tiếp cận thực tiễn: Theo
năng cạnh tranh hiện tại của TISCO
TISCO
, đó là từ những vấn đề cụ thể đến khái quát và từ những vấn đề khái quát đến cụ thể Tiếp cận
từ những số liệu thứ cấp và số điều tra sơ cấp từ các đối tượng có liên quan
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Cơ sở phương pháp luận