Đặc điểm thành lập xêri bản đồ điện tử về dân số thành phố Hà Nội và lựa chọn chỉ tiêu biểu thị nội dung chuyên môn ..... Một số yếu tố khí hậu cơ bản của Hà Nội Bảng 3.1: Các bản đồ đị
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 31
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6
MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Mục tiêu của đề tài 10
3 Nhiệm vụ của đề tài 10
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 10
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 11
6 Cơ sở tài liệu thực hiện đề tài 11
7 Cấu trúc của luận văn 12
8 Dự kiến các kết quả đạt được của đề tài 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG XÊRI BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ VỀ DÂN SỐ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 13
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC THÀNH LẬP XÊRI BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ 13
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 13
1.1.1.1 Bản đồ 13
1.1.1.2 Bản đồ điện tử 15
1.1.1.3 Xêri bản đồ 17
1.1.1.4 Xêri bản đồ điện tử 20
1.1.2 Đặc điểm thành lập xêri bản đồ điện tử về dân số thành phố Hà Nội và lựa chọn chỉ tiêu biểu thị nội dung chuyên môn 22
1.1.2.1 Xêri bản đồ về dân số 22
1.1.2.2 Yêu cầu của xêri bản đồ về dân số 22
Trang 42
1.1.2.3 Nguyên tắc thành lập xêri bản đồ về dân số 23
1.1.2.4 Xử lý số liệu thống kê 25
1.1.2.5 Các phương pháp thể hiện nội dung bản đồ 27
1.1.2.6 Một số lưu ý khi biên tập, thành lập xêri bản đồ điện tử về dân số thành phố Hà Nội 36
1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG XÊRI BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ38 1.2.1 Bản đồ được thành lập theo công nghệ truyền thống 39
1.2.2 Bản đồ được xây dựng theo công nghệ hiện đại – công nghệ số 41
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 45
1.3.2 Phương pháp GIS 45
1.3.3 Phương pháp chuyên gia 46
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ ĐẶC ĐIỂM PHẦN MỀM ỨNG DỤNG 47
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 47
2.1.1 Vị trí địa lý 47
2.1.2 Địa hình 49
2.1.3 Khí hậu 50
2.1.4 Thuỷ văn 51
2.1.5 Đất đai 52
2.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI 53
2.2.1 Đặc điểm dân cư 53
2.2.2 Nhà ở 58
2.2.3 Giáo dục 58
2.2.4 Y tế 60
2.2.5 Văn hoá – du lịch 61
2.2.6 Kinh tế 61
2.3 ĐẶC ĐIỂM PHẦN MỀM ỨNG DỤNG 63
Trang 53
2.3.1 Phương pháp nền đồ giải (Ranges) 65
2.3.2 Phương pháp nền chất lượng (Individual) 65
2.3.3 Phương pháp biểu đồ (Bar charts, Graduated) 65
2.3.4 Phương pháp biểu đồ cấu trúc 67
2.3.5 Phương pháp chấm điểm (Dot Desnity) 67
2.3.6 Phương pháp kí hiệu nhỏ 67
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG XÊRI BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ VỀ DÂN SỐ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 68
3.1 SƠ ĐỒ QUY TRÌNH XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ VỀ DÂN SỐ THÀNH PHỐ HÀ NỘI BẰNG PHẦN MỀM MAPINFO 68
3.2 MỤC ĐÍCH THÀNH LẬP XÊ RI BẢN ĐỒ ĐIỆN TỪ VỀ DÂN SỐ 69
3.3 CÁC TƯ LIỆU SỬ DỤNG 71
3.4 THIẾT KẾ NỘI DUNG CHUYÊN MÔN CHO XÊRI BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ VỀ DÂN SỐ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 73
3.4.1 Xác định các chỉ tiêu thể hiện bản đồ về dân số thành phố Hà Nội 73
3.4.2 Thiết kế nội dung cho các trang bản đồ về dân số thành phố Hà Nội 74
3.4.2.1 Bản đồ quy mô và mật độ dân số 75
3.4.2.2 Bản đồ cơ cấu dân số 75
3.4.2.3 Bản đồ tăng dân số tự nhiên 75
3.4.2.4 Số sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 76
3.4.2.5 Dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 76
3.4.2.6 Dự báo dân số thành phố 76
3.5 XÂY DỰNG CƠ SỞ TOÁN HỌC VÀ NỀN CƠ SỞ ĐỊA LÝ 80
3.5.1 Thiết kế cơ sở toán học 80
3.5.2 Thiết kế nền cơ sở địa lý 80
3.5.2.1 Thiết kế nội dung nền cơ sở địa lý 81
3.5.2.2 Thiết kế hệ thống ký hiệu và mẫu chữ chung cho nền cơ sở địa lý 83 3.6 XÂY DỰNG CÁC BẢN ĐỒ VỀ DÂN SỐ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 85
3.6.1 Xây dựng bản đồ quy mô và mật độ dân số 85
Trang 64
3.6.2 Xây dƣ̣ng bản đồ cơ cấu dân số 87
3.6.3 Xây dƣ̣ng bản đồ tăng dân số tự nhiên 89
3.6.4 Xây dƣ̣ng bản đồ số sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 90
3.6.5 Xây dƣ̣ng bản đồ dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 92
3.6.6 Xây dƣ̣ng bản đồ dự báo dân số thành phố 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận 96
2 Kiến nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 98
Trang 8
6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Một số yếu tố khí hậu cơ bản của Hà Nội
Bảng 3.1: Các bản đồ địa hình sử dụng trong xây dựng xêri bản đồ điện tử cho thành phố Hà Nội mới
Bảng 3.2: Nội dung các bản đồ và phương pháp thể hiện
Bảng 3.3: Nội dung và phương pháp thể hiện nền cơ sở địa lý
Trang 97
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước; một trong những vấn đề hàng đầu tác động trực tiếp đến nền kinh tế – xã hội; là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của con người; dân số vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội là nguồn nhân lực, mà nguồn nhân lực luôn luôn gắn liền sự biến đổi dân số cả về số lượng và chất lượng Mục tiêu của sự phát triển là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được khi quy mô dân số, tốc độ tăng trưởng dân số, sự phân bố dân cư và nguồn nhân lực thật sự phù hợp và tác động tích cực đến sự phát triển
Dân số là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên một quốc gia nói chung và một vùng lãnh thổ nói riêng Việc nắm bắt kịp thời chất lượng, phân bố, cơ cấu và sự phát triển về cơ học cũng như tình hình tăng dân số tự nhiên của Quốc gia, vùng lãnh thổ giúp nhà quản lý hoạch định chính sách, các giải pháp tổng hợp cần thiết
để xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội cho phù hợp với tình hình dân số, đồng thời cũng qua đó từng bước nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường sống, giảm tỷ
lệ đói nghèo, thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội ngày càng giàu đẹp và văn minh là rất cần thiết
Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, là trung tâm kinh tế, văn hoá - xã hội của đất nước đang hàng ngày chuyển mình và phát triển mạnh mẽ Nhất là khi thủ đô Hà Nội sát nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (Hòa Bình) thì thủ đô Hà Nội đã mở rộng diện tích gấp 3.6 lần Hà Nội cũ và trở thành thành phố mang tầm khu vực và quốc tế Vì vậy, việc tăng dân số quá nhanh cùng quá trình đô thị hoá thiếu quy hoạch tốt đã khiến Hà Nội trở nên chật chội, ô nhiễm và giao thông nội đô thường xuyên ùn tắc; ảnh hưởng đến vấn đề quản lý trong việc cập nhật những biến động về dân số và phát triển kinh tế – xã hội Để tạo điều kiện
Trang 108
thuận lợi cho việc quản lý Nhà nước, đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần hoạch định chính sách kinh tế – xã hội, từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng dân số, cần thiết phải xây dựng một hệ thống thông tin về Dân số Hà Nội với độ chính xác cao,
có tính toàn diện và kịp thời
` Bản đồ là phương tiện phản ánh trực quan, mô hình hóa thế giới thực, được sử dụng một cách hiệu quả trong nhiều lĩnh vực của đời sống, khoa học và xã hội Trong những năm gần đây, cùng với sự ra đời và phát triển của công nghệ thông tin, bản đồ số trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu được quan tâm đặc biệt trong lĩnh vực bản đồ ở giai đoạn mới hiện nay Nhờ khả năng dễ cập nhật, hiệu đính, đảm bảo tính hiện đại của bản đồ, xử lý nhanh và chính xác khối lượng dữ liệu lớn, rút ngắn thời gian thành lập, tạo khả năng giao diện, khai thác thông tin rất hiệu quả cho người sử dụng cũng như làm cơ sở dữ liệu thông tin địa lý cho những mục đích tiếp theo, đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay Do vậy, trong thực tế, bản đồ số đã xuất hiện ngày càng nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, đã ngày càng trở thành công cụ trợ giúp
ra quyết định hữu hiệu trong các lĩnh vực nghiên cứu cũng như quản lý
Xêri các bản đồ điện tử về dân số thành phố Hà Nội mới sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích giúp cơ quan quản lý Nhà nước có được một kênh thông tin chính xác, toàn diện làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện phương hướng phát triển kinh tế – xã hội;
là tài liệu trực quan rất có giá trị khoa học đối với các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, quy hoạch, hoạch định khi nghiên cứu, quản lý về thủ đô Hà Nội, sẽ là tài liệu khoa học, cơ sở dữ liệu hệ thông tin địa lý trực quan về dân số của thủ đô Hà Nội và là cơ sở
dữ liệu gốc cho việc cập nhật thông tin thường xuyên một cách dễ dàng và nhanh nhất, đem lại hiệu quả về thời gian và công sức Nếu kết hợp cùng với các nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, lịch sử văn hoá của Hà Nội sẽ là cơ sở khoa học rút ra những quy luật của các quá trình và hiện tượng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ Hà Nội,
là những thông tin hữu ích trong việc trợ giúp ra quyết định, là cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với đặc trưng của thủ đô Hà Nội, giúp khai thác có hiệu quả các tiềm năng và thế mạnh của Hà Nội ngày nay
Trang 119
Cho đến nay, đã có một số công trình xây dựng bản đồ và atlas truyền thống và điện từ về Hà Nội, song mới chỉ dừng lại ở Hà Nội cũ, còn cho Hà Nội mới (Hà Nội sau mở rộng) thì chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào về xây dựng atlas hoặc xêri các bản đồ điện tử Do vậy, việc thành lập xêri bản đồ điện tử về dân số thành phố
Hà Nội mới là rất cần thiết và cấp bách
2 Mục tiêu của đề tài
Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin địa lý dạng bản đồ số phục vụ cho việc quản lý
và cập nhật thông tin thường xuyên về dân số Thành phố Hà Nội
3 Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đã giải quyết một số nhiệm vụ sau:
3.1 Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng xêri bản đồ điện tử về dân số
3.2 Nghiên cứu đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hà Nội
3.3 Xác định các chỉ tiêu phản ánh trên bản đồ
3.4 Khảo sát phần mềm chuyên ngành cần thiết, nghiên cứu công nghệ xây dựng xêri bản đồ điện tử
3.5 Xây dựng xêri bản đồ điện tử về dân số thành phố Hà Nội
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Phạm vi về không gian và thời gian:
Xây dựng xêri bản đồ số về dân số Thành phố Hà Nội mở rộng, bao gồm: Hà Nội cũ, toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (Hòa Bình) Số liệu thu thập năm 2009
4.2 Phạm vi khoa học: Nghiên cứu cơ sở khoa học và xây dựng xêri bản đồ số
về dân số Thành phố Hà Nội bằng phần mềm chuyên ngành
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Đề tài luận văn góp phần vào việc xây dựng cơ sở khoa học
và công nghệ thành lập xêri bản đồ dân số cấp tỉnh, thành phố
Trang 1210
Ý nghĩa thực tiễn: Xêri bản đồ số về dân số Hà Nội sẽ là tài liệu khoa học, cơ sở
dữ liệu hệ thông tin địa lý về thực trạng, tiềm năng trong lĩnh vực dân số của thủ đô Hà Nội, phục vụ cho nhiều mục đích khác tiếp theo Là tài liệu tham khảo hữu ích, giúp các cơ quan quản lý nhà nước có được một kênh thông tin khá toàn diện về dân số Hà Nội, làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện phương hướng phát triển kinh tế – xã hội
Là tài liệu trực quan rất có giá trị phục vụ cho việc giới thiệu với đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước về sự phát triển của Thủ đô Hà Nội ngày nay
6 Cơ sở tài liệu thực hiện đề tài
a Các tài liệu, tư liệu thu thập được:
- Bản đồ hành chính thành phố Hà Nội
- Atlas Hà Nội, Atlas quốc gia Việt Nam
- Tập bản đồ Dân số, gia đình và trẻ em thành phố Hà Nội, 2006 (Hà Nội cũ)
- Tài liệu bản đồ giao thông, các tài liệu liên quan khác
b Các số liệu thống kê thu thập được:
- Số liệu thống kê tại chi cục thống kê và phòng thống kê quận, huyện, thành phố,
và Tổng cục Thống kê (niên giám thống kê)
- Số liệu dân số trong kết quả tổng điều tra dân số ngày 01/04/2009, các số liệu tại kho dữ liệu dân số – KHHGĐ chi cục DS – KHHGĐ TP Hà Nội năm 2009
- Số liệu dự báo dân số toàn thành phố qua các năm: trước 2009 và các năm 2012,
2017, 2022
7 Các kết quả đạt được của đề tài
- Xác lập cơ sở khoa học xây dựng xêri bản đồ điện tử về dân số
- Xây dựng được các bản đồ điện tử về dân số làm cơ sở dữ liệu gốc để cập nhật thông tin thường xuyên, phân tích không gian, đối sánh, dự báo các vấn đề có liên quan
8 Cấu trúc của luận văn
Trang 131.1 CƠ SỞ KHOA HỌC THÀNH LẬP XÊRI BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
Trang 1412
- Theo K.A Salisev: “Bản đồ địa lý là sự biểu hiện bề mặt trái đất hoặc hành tinh lên mặt phẳng, được xác định về mặt toán học, có khái quát hoá, sử dụng hệ thống ký hiệu hình tượng, nhằm phản ánh sự phân bố, trạng thái, các mối quan hệ của các hiện tượng tự nhiên và xã hội khác nhau, được chọn lọc và phản ánh phù hợp với mục đích của từng bản đồ cụ thể”
- J Pravda: “Bản đồ là sự thể hiện bằng kí hiệu các đối tượng, hiện tượng, hoặc các đặc tính của chúng trên bề mặt trái đất, hoặc tương tự như vậy trên các hành tinh khác, hoặc không gian quỹ đạo nào đó Sự biểu hiện này tuân theo quy tắc về thu nhỏ, tổng quát hoá, được thiết lập cho mỗi tỷ lệ, và tuân theo quy tắc của một phép chiếu phẳng bản đồ”
- Borden D Dent: ”Bản đồ là sự biểu thị môi trường văn hóa và tự nhiên bằng đồ họa”
- Theo Board: “Bản đồ là sự thể hiện hoặc trừu tượng hiện thực địa lý, công cụ
để thể hiện thông tin địa lý ở dạng nhìn thấy, số, hoặc xúc giác” [8]
Từ định nghĩa trên cho thấy:
- Bản đồ là mô hình về hiện thực địa lý, không gian của lãnh thổ, tích hợp các thông tin đa dạng về nội dung theo lãnh thổ Là mô hình thu nhỏ của thế giới thực trên
cơ sở toán học nhất định, sử dụng hệ thống kí hiệu để biểu diễn nội dung một cách chọn lọc, khái quát
- Mô hình bản đồ có 4 đặc điểm quan trọng, xác định sự khác biệt giữa bản đồ với các loại mô hình khác, đó là:
+ Phản ánh hiện thực địa lý (các thực thể, hiện tượng, quá trình, tính chất, trạng thái trong mối quan hệ định vị trong không gian)
+ Được xác định về mặt toán học - hệ quy chiếu, tỷ lệ
+ Phản ánh hiện thực địa lý có chọn lọc (tổng quát hoá), xuất phát từ một số điều kiện, trong đó quan trọng nhất là mục đích và tỷ lệ của bản đồ
+ Phản ánh hiện thực địa lý bằng mô hình ký hiệu là chủ yếu
Trang 1513
Chức năng của bản đồ: Bản đồ mang chức năng nhận thức và thông tin:
- Chức năng nhận thức: Bản đồ là một sản phẩm khoa học, nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan (hiện thực địa lý) bằng ngôn ngữ bản đồ; Từ đó, bản đồ là
mô hình, là nguồn tri thức, giúp người dùng bản đồ nhận thức thế giới khách quan thông qua mô hình
- Chức năng thông tin: Bản đồ là phương tiện truyền đạt thông tin về hiện thực địa lý (mà nó phản ánh) một cách trực quan, chính xác và nhanh chóng đến người sử dụng
1.1.1.2 Bản đồ điện tử
Bản đồ điện tử là một dạng của bản đồ số Theo A.M.Berliant: “Bản đồ điện tử
là bản đồ số được hiển thị hoá (trực quan hoá) trên màn hình hay trên môi trường máy tính, được làm sẵn để nhìn trực quan (đĩa quang hay thiết bị ghi nào đó) nhờ sử dụng các phương tiện kỹ thuật và chương trình, trong phép chiếu, hệ thống ký hiệu, có xét đến độ chính xác đã đặt ra và sự trình bày ”
- Theo Stepanovich: “ Bản đồ điện tử là tập hợp có tổ chức các dữ liệu bản đồ trên các thiết bị có khả năng đọc bằng máy tính điện tử, và được thể hiện dưới dạng hình ảnh bản đồ ”[8]
- Theo Ascge & Herrmann 1994, Cit Ditz 1998: “Một khi công nghệ số không chỉ được dùng để thiết kế và sản xuất bản đồ, mà còn để xuất bản và ứng dụng, thì các
dữ liệu bản đồ số còn cho phép tiếp tục mở rộng thành bản đồ đa phương tiện kiểu cơ
sở bản đồ, gọi là bản đồ điện tử hoặc bản đồ giao diện (Electronic or interactive map)” [39]
- Dent 1985: “Để lập bản đồ, nhà bản đồ phải lựa chọn dữ liệu và diễn đạt thành thông tin” Từ quan điểm này, bản đồ được coi là sự trừu tượng hoá môi trường bằng bản đồ Quá trình trừu tượng hoá gồm: lựa chọn (selection), phân loại (classification), đơn giản hoá (Siplification), và ký hiệu hoá (simbolization) [8]:
- Sự lựa chọn thông tin được xác định bởi mục đích của bản đồ
Trang 1614
- Sự phân loại là gộp các đối tượng thành các nhóm có thuộc tính giống hoặc tương tự nhau
- Đơn giản hoá là gạt đi những chi tiết không cần thiết
- Kí hiệu hóa là tái tạo lại hình dạng của đối tượng trong thế giới thực bằng sự thể hiện bản đồ
Đây đồng thời cũng là những quy trình tổng quát hóa bản đồ
- Robert G Cromley: Bản đồ là một mô hình dữ liệu (data model) [9]
- Peuquet (1984): Mô hình bản đồ là một sự mô tả tổng quát các nhóm thực thể khác biệt và mối quan hệ giữa những nhóm thực thể đó [9]
- Harvey, 1969, chức năng của một mô hình được phản ánh thông qua các phương tiện khác nhau [8]:
+ Mô hình biểu tượng (Iconic model) – tái tạo thực tế chỉ thu nhỏ tỷ lệ
+ Mô hình tương tự (Analog model) – cũng thu nhỏ tỷ lệ nhưng thể hiện các yếu
tố của thế giới thực tương tự như yếu tố đó (ví dụ thể hiện cơ sở địa lý)
+ Mô hình kí hiệu (Simbolic model) – là sự thể hiện mang tính lý thuyết cao hơn, về thực tế bằng ngôn ngữ gần với đối tượng của thế giới thực Bản đồ thực (real map) nhìn chung là sự kết hợp của 2 mô hình tương tự và kí hiệu Ví dụ, ở bản đồ chuyên đề, cơ sở địa lý là mô hình tương tự, còn lớp phủ chuyên đề là mô hình ký hiệu,
về những thông tin này được thể hiện bởi một ngôn ngữ trừu tượng
Từ những khái niệm về bản đồ điện tử như trên, có thể thấy rằng bản đồ điện tử là thể loại bản đồ có những đặc điểm sau:
- Bản đồ điện tử trước hết là bản đồ, có đầy đủ các đặc điểm cơ bản của bản đồ truyền thống như: phản ánh các thông tin địa lý, tuân theo cơ sở toán học, có tổng quát hoá, sử dụng hệ thống ký hiệu, nhưng mọi thông tin trên bản đồ được ghi ở dạng số
- Thông tin của bản đồ điện tử được cấu trúc theo kiểu raster hoặc vector, có kèm theo topology, tổ chức thành các file bản đồ riêng rẽ, hoặc liên kết thành thư mục trong
Trang 1715
các cơ sở dữ liệu bản đồ hoặc hệ thống thông tin địa lý (GIS), được lưu trữ trong một
hệ thống máy tính hoặc các thiết bị ghi thông tin có khả năng đọc bằng máy tính
- Bản đồ điện tử có thể chuyển đổi và hiện thị thành hình ảnh bản đồ dạng tương đồng, trên các phương tiện khác nhau như: giấy, màn hình, qua mạng,
- Để có thể sử dụng và làm việc với bản đồ điện tử nhất thiết phải có máy tính điện tử và các thiết bị liên quan, hệ điều hành cũng như các phần mềm liên quan (phần mềm trên hệ điều hành và phần mềm chuyên dụng trong công tác thành lập bản đồ)
- Ngoài các đặc điểm giống như bản đồ truyền thống thì bản đồ điện tử còn có rất nhiều các ưu điểm hơn hẳn bản đồ truyền thống như:
+ Cho khả năng giao diện trực tiếp, thuận lợi và linh hoạt giữa người dùng với thông tin bản đồ
+ Cho ta khả năng chứa đựng thông tin rất phong phú và chi tiết nhưng không hề ảnh hưởng đến sự hiển thị và các phương pháp sử dụng bản đồ, do đặc điểm tổ chức các lớp thông tin, và do khả năng của các thiết bị tin học ngày càng tinh xảo
+ Bản đồ điện tử có tính chuẩn hoá cao về: dữ liệu, tổ chức dữ liệu, thể hiện dữ liệu,
+ Dễ dàng cập nhật, chỉnh sửa, hoặc có thể thay đổi về thiết kế, trình bày, ký hiệu; do đó thông tin của bản đồ luôn luôn mới, hoặc muốn theo ý người quản lý, người sử dụng, trong khi đó các thông tin cũ vẫn được bảo lưu
+ Có thể bảo mật ở các mức độ khác nhau
1.1.1.3 Xêri bản đồ
Berliant A M.: Bản đồ trong xêri là bản đồ nằm trong một loạt bản đồ nào đó
được hợp nhất bởi sự thống nhất về tỷ lệ, lãnh thổ, ý nghĩa, hoặc một dấu hiệu (tiêu chí) nào đó
Xêri bản đồ là một tập hợp (một loạt) các bản đồ thống nhất nhau về tỷ lệ hoặc lãnh thổ, hoặc ý nghĩa, hoặc một tiêu chí nào đó
Ở Việt Nam đã có các xêri:
Trang 1816
- Các xêri bản đồ địa hình các tỷ lệ
- Các xêri bản đồ địa chất các tỷ lệ
- Xêri các bản đồ biển (hằng hải) tỷ lệ khác nhau
- Các xêri bản đồ địa giới hành chính các tỉnh
- Các xêri bản đồ hành chính các cấp
- Các xêri bản đồ dự báo thời tiết
- Xêri bản đồ giao thông…
Phân loại xêri bản đồ:
Phân loại theo lãnh thổ
- Toàn quốc, tỉnh, huyện, xã
- Vùng, á vùng, tiểu vùng
Phân loại theo tỷ lệ: Phụ thuộc vào sự phân loại của mỗi ngành
3) Phân loại theo chuyên đề, chuyên ngành;
+ Tự nhiên: Địa chất, Địa mạo, …
Đặc điểm của xê ri bản đồ:
- Có sự thống nhất về độ chính xác, nội dung và trình bày trong một x ê
Trang 19Xê ri bản đồ được coi là đầy đủ khi nó đề cập một cách đầy đủ và cần thiết đến tất cả các vấn đề và các chủ đề do mục đích mà Xê ri bản đồ đặt ra
Sự thống nhất nội tại của xê ri bản đồ chính là sự bổ sung lẫn nhau, tính phù hợp với nhau và khả năng so sánh các bản đồ trong xê ri bản đồ với nhau Tuy nhiên, so với atlat thì sự thống nhất nội tại của xêri bản đồ không chặt chẽ bằng Sự thống nhất đó được thực hiện bằng:
- Sự lựa chọn hợp lý các phép chiếu, không nên quá nhiều; Đối với xêri bản đồ dân cư, văn hóa - xã hội của thành phố Hà Nội, để thống nhất, tốt nhất chỉ chọn 1 phép chiếu (theo bản đồ tài liệu dùng làm nền cơ sở địa lý)
- Giới hạn số lượng tỷ lệ được sử dụng Để so sánh thuận tiện, nên có một tỷ lệ chung cho các bản đồ giống nhau trong xê ri bản đồ, và bản đồ có nội dung ít và đơn giản thì tỷ lệ nhỏ hơn
- Tính thống nhất (hay tính phù hợp) của các phương pháp biểu thị và của các chỉ số được sử dụng
- Những qui định khái quát hoá thống nhất
- Quy nội dung Xê ri bản đồ về một mốc thời gian (hoặc các mốc nhất định)
- Phân bố hợp lý (thứ tự phân bố) các bản đồ trong xê ri bản đồ
Mục đích của xê ri bản đồ quy định nội dung (phạm vi những thông tin mà xê ri bản đồ thông báo), khối lượng xê ri bản đồ (số lượng các bản đồ)
1.1.1.4 Xêri bản đồ điện tử
Trang 2018
a Khái niệm
Xêri bản đồ điện tử là xêri bản đồ được xây dựng và sử dụng bằng phương tiện điện tử, chủ yếu trên máy tính điện tử, là xêri bản đồ dạng số, được trực quan hoá và sử dụng trên màn hình, tiếp cận GIS và sử dụng kỹ thuật đa phương tiện, có khả năng phân tích và truy xuất dữ liệu không gian
b Phân loại xêri bản đồ điện tử
+ Theo mức độ tương tác và khả năng thực hiện các phép phân tích trong quá
trình khai thác, thường có:
- Xêri bản đồ chỉ xem (View only): đối với loại này thì người sử dụng chỉ có thể
xem các bản đồ có sẵn mà không thể thực hiện các phép phân tích cũng như không thể khai thác các dữ liệu bản đồ trên đó
- Xêri bản đồ tương tác (Interactive): đối với thể loại xêri bản đồ này thì người
sử dụng có thể tạo thêm các bản đồ theo nhu cầu
- Xêri bản đồ phân tích (Analytical): đối với thể loại Xêri bản đồ này thì người
sử dụng có thể thực hiện các phép toán phân tích như trên các hệ thống cơ sở dữ liệu GIS
Tuy nhiên, hiện nay trong thực tế hầu hết các Xêri bản đồ hoặc atlas đều được xây dựng kết hợp cả 3 dạng trên và xem chúng như 3 mức độ sử dụng trong một Xêri
bản đồ hoặc atlas
+ Theo đặc điểm khi xây dựng
- Loại Xêri bản đồ hướng chủ yếu về dữ liệu (data - oriented)
- Loại Xêri bản đồ hướng chủ yếu về hình ảnh và đa phương tiện (graphics and multimedia oriented)
Trong thực tế có rất nhiều Xêri bản đồ hoặc atlas thoả mãn cả hai đặc điểm này,
và nói chung, một sản phẩm Xêri bản đồ hoặc atlas điện tử nên chú ý đến cả hai khía cạnh này khi xây dựng Do vậy, tiêu chuẩn phân loại này ít được chú ý và sử dụng hơn
Trang 2119
c Đặc điểm chung của xêri bản đồ điện tử
Xêri bản đồ điện tử có các đặc điểm cơ bản sau:
+ Về tổng thể Xêri bản đồ điện tử là một sản phẩm phải đáp ứng các tiêu chuẩn như một Xêri bản đồ truyền thống Đó là một hệ thống các bản đồ có tính liên kết và thống nhất nội tại của cả xêri và giữa các bản đồ với nhau Có tính thống nhất về phương pháp thể hiện, ngôn ngữ bản đồ và hệ thống chú giải cũng như cơ sở toán học của cả xêri như hệ toạ độ, phép chiếu và tỷ lệ Các bản đồ trong xêri phải có đầy đủ các đặc điểm của thể loại bản đồ chuyên đề, có nội dung phong phú và đa dạng, có tính hệ thống và nhất quán cao theo mục đích và chủ đề đã định của toàn xêri
+ Xêri bản đồ điện tử phải được xây dựng trên cơ sở phối hợp và sử dụng các công nghệ bản đồ và các công nghệ tin học hiện đại Đó phải là một cơ sở dữ liệu thống nhất được biên tập thiết kế rõ ràng, được chuẩn hóa theo yêu cầu của các lớp thông tin GIS, trên cơ sở các phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu không gian, công nghệ tích hợp dữ liệu không gian với dữ liệu thuộc tính, dữ liệu multimedia, công nghệ cập nhật thay đổi số liệu, công nghệ tra cứu dữ liệu đa tỷ lệ, công nghệ bảo mật và an toàn
+ Giao diện đơn giản, được thiết kế để có thể sử dụng dễ dàng cho mọi đối tượng Khác với các xêri bản đồ truyền thống, khối lượng và tỷ lệ bản đồ trong các xêri bản đồ điện tử đa dạng hơn nhiều Để khắc phục, tầm bao quát và thể hiện của bản đồ
bị giới hạn theo kích thước của màn hình, các bản đồ được tổ chức theo nguyên tắc đa lớp đa tỷ lệ Các bản đồ được hiển thị rất linh hoạt theo các chuỗi tỷ lệ khác nhau và mức độ chi tiết khác nhau Đây cũng là sự khác biệt lớn và là ưu điểm nổi trội của xêri bản đồ số Điều này cho phép đáp ứng các hướng khai thác thông tin, phục vụ cho các
Trang 2220
nhu cầu sử dụng khác nhau của người sử dụng Với tỷ lệ nhỏ có thể nghiên cứu khái quát lãnh thổ và tổng quan các hiện tượng, đối tượng địa lý, với tỷ lệ lớn có thể tiếp cận từng đối tượng nghiên cứu
1.1.2 Đặc điểm thành lập xêri bản đồ điện tử về dân số thành phố Hà Nội và lựa
chọn chỉ tiêu biểu thị nội dung chuyên môn
1.1.2.1 Xêri bản đồ về dân số
Xêri bản đồ dân số là xêri bản đồ trong đó bao gồm những bản đồ thể hiện các đối tượng và hiện tượng địa lý về dân số như: phân bố dân cư, thành phần dân cư như kết cấu dân số, kết cấu lao động, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, biến động dân số, cơ cấu dân số, dự báo dân số,
1.1.2.2 Yêu cầu của xêri bản đồ về dân số
Việc thành lập xêri bản đồ về dân số phải thoả mãn được các yêu cầu sau đây:
1 Phản ánh được tính chất cùng thời gian đặc trưng của các đối tượng, hiện tượng Các đối tượng, hiện tượng luôn biến động theo không gian và thời gian, nhất là
ở những lãnh thổ trong thời kỳ diễn ra những biến đổi mạnh mẽ về sự phát triển kinh
tế Vì vậy chỉ tiêu, chỉ số đưa lên bản đồ càng cập nhật thì bản đồ càng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao Các chỉ tiêu đó phải thống nhất về thời gian
2 Tài liệu sử dụng để thành lập xêri bản đồ về dân số phải bảo đảm sự thống nhất
và đầy đủ đối với toàn bộ lãnh thổ được biểu hiện trên bản đồ Sự không đồng nhất và khác nhau về chất lượng của những tài liệu để thành lập bản đồ sẽ dẫn đến sự không đồng nhất của bản đồ trên những lãnh thổ khác nhau, cũng như làm sai lệch tính khách quan và mối tương quan của các hiện tượng, đối tượng Vì vậy cần phải chọn và dựa trên nguồn tài liệu cơ bản và đáng tin cậy nhất, có tham khảo các tài liệu khác để chỉnh
lý và bổ sung
3 Phương pháp biểu hiện bản đồ phải gần gũi nhất với đặc tính địa lý của các đối tượng, hiện tượng Mỗi loại đối tượng, hiện tượng có đặc điểm phân bố khác nhau (như theo điểm, đường, diện, phân bố phân tán,…) Để bản đồ có tính địa lý cao, phản ánh
Trang 23mà còn cho phép nâng cao độ phong phú của nội dung bản đồ
1.1.2.3 Nguyên tắc thành lập xêri bản đồ về dân số
Dân số là yếu tố động và thuộc phạm trù xã hội Sự nhận xét, đánh giá chúng có thể theo những góc độ khác nhau, vì thế trên những nguyên tắc chung thành lập bản đồ, việc thành lập xêri bản đồ về dân số cần phải đặc biệt chú ý đến những nguyên tắc sau: Mục đích của xêri bản đồ phải được xác định cụ thể, rõ ràng Phải xác định rõ xêri bản đồ được thành lập nhằm mục đích gì?, phục vụ đối tượng nào? và muốn nhấn tới ý tưởng gì? để từ đó có hướng cho nội dung, cho việc lựa chọn những chỉ tiêu, chỉ
số ký hiệu bản đồ và phương pháp thành lập
Các bản đồ của xêri được thành lập trên cơ sở các thành tựu hiện đại của khoa học kĩ thuật về nội dung cũng như hình thức, theo những nguồn tài liệu chính xác và hiện đại Vì vậy, khi thành lập bản đồ cần phải khảo sát, kiểm tra về độ chính xác, tính đầy đủ và sự xác thực của những đối tượng, hiện tượng được biểu hiện trên bản đồ Nội dung bản đồ phải đáp ứng đầy đủ và sâu sắc những đặc trưng của các đối tượng họa đồ như số lượng, cấu trúc, động lực cũng như các mối quan hệ của các đối tượng theo mục đích và chủ đề mà bản đồ đặt ra
Các đối tượng trên mỗi bản đồ trong xêri phải được phân loại một cách khoa học, đúng đắn về phương pháp, liên tục về hệ thống và thống nhất về nguyên tắc phân loại
Sự biểu hiện chúng trên bản đồ phải được bảo đảm nguyên tắc thống nhất và tương ứng của hệ thống phân loại đã xác định Đã chọn dấu hiệu nào cho các đối tượng cùng thuộc hệ phân loại phải đảm bảo tính nhất quán, chúng được thể hiện thông qua
Trang 2422
phương pháp và hệ thống ký hiệu thể hiện và được trình bày đầy đủ, và hệ thống trong bản chú giải bản đồ
Các đối tượng trên bản đồ phải bảo đảm tính chính xác địa lý Tính chính xác địa
lý là một nguyên tắc quan trọng của bản đồ địa lý Tất cả những chỉ số làm nội dung đưa lên bản đồ phải được quy về những điểm và vùng cụ thể Phá nguyên tắc này sẽ dẫn đến sự sơ đồ hoá bản đồ, mất hết ý nghĩa khoa học và thực tiễn của bản đồ
Trên đây là những nguyên tắc cũng như yêu cầu để thành lập cho các bản đồ của xêri bản đồ về dân số, nên khi thành lập bản đồ sẽ phải có các tính chất và nội dung trên, nhưng nó cũng bao hàm một số nét riêng đặc trưng cho từng loại bản đồ chuyên
đề
1.1.2.4 Xử lý số liệu thống kê
Trong thành lập xêri bản đồ điện tử về dân cư, số liệu chủ yếu là thống kê Do vậy khi thành lập thường phải xử lý số liệu
a Thuật toán phân bậc
Một dãy các con số thống kê không theo quy luật sẽ không nói lên một điều gì cả Một cách đơn giản, ít ra các con số đó cũng phải được sắp xếp, ví dụ theo thứ tự từ nhỏ tới lớn Nhưng như thế vẫn chưa đủ, phải phân chúng thành các bậc
Trước khi phân bậc, có thể trình bày các dữ liệu dưới dạng đồ hoạ, đồ thị tần số hay còn gọi là histogram Đồ thị tần số này cho thấy sự tập trung co cụm của dãy số liệu
Sau khi dãy số liệu dưới dạng đồ hoạ, trên đồ thị có những điểm gãy, những điểm gãy này đánh dấu nơi đồ thị chuyển sang một hướng mới hay chính là dãy số liệu chuyển sang một hình thái mới, một cách cục bộ, có thể chia nhỏ dãy số liệu ra theo sự gãy đó Điều này dẫn tới dãy số liệu được nhóm lại theo các nhóm mà ranh giới chính
là điểm gãy của đồ thị Đây là một hình thức phân bậc của dãy số liệu dựa vào hình thái của đồ thị, chính là điểm gãy tự nhiên
Để thực hiện thuật toán phân loại cần tiến hành một số bước sau:
Trang 2523
(1) Sắp xếp dãy số liệu theo quy luật từ nhỏ tới lớn;
(2) Xây dựng biểu đồ tầng phân tán;
(3) Xây dựng đồ thị phân bố, rút ra quy luật biến đổi của dãy số liệu;
(4) Đánh giá quy luật biến đổi của dãy số liệu xem chúng theo cấp số cộng, cấp
số nhân hay phân bố chuẩn;
(5) Phân bậc theo quy luật của dãy số đã tìm thấy ở bước 4;
b Xây dựng ranh giới phân bậc
So sánh đồ thị phân bố với đồ thị lý thuyết (gần giống đường cong của cấp số nào thì ta phân bậc theo phương pháp phân bậc của sự phân bố đó)
+ Phân bố theo cấp số nhân:
Gọi A: min, B: max, n: số bậc
logX = (logB- logA)/ n
Bậc 1: AAX
Bậc 2: AXAX2
Bậc 3: AX2 AX3
Trang 26Bậc càng nhỏ, tỉ số của số liệu thể hiện càng nhỏ, thì nền đồ giải có màu nhạt Bậc càng lớn, tỷ số của số liệu thể hiện lớn, thì nền đồ giải có màu càng đậm Khi đó bằng cách trực quan đánh giá độ đậm nhạt của màu nền, phân biệt được
độ lớn của hiện tượng, biểu thị cho một tính chất nào đó của nội dung cần thể hiện
1.1.2.5 Các phương pháp thể hiện nội dung bản đồ
Bản đồ dân số có vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế đất nước Xây dựng bản đồ dân số có những nguyên tắc nghiêm ngặt Tuỳ theo từng loại bản đồ, từng mục đích của bản đồ, số liệu thu thập được để chọn phương pháp áp dụng biểu thị nội bản đồ một cách tối ưu nhất
Có 7 phương pháp dùng để thể hiện nội dung các bản đồ dân số Đó là những phương pháp sau:
Trang 27 Độ chính xác của nền đồ giải phụ thuộc vào đơn vị lãnh thổ biểu thị, diện tích càng nhỏ thì sự biểu thị càng chính xác
o Khó thể hiện được cấu trúc của hiện tượng
o Chỉ thể hiện được giá trị bình quân tương đối, mà không biểu thị giá trị tuyệt đối
Ưu điểm: Biểu thị cho động lực phát triển của hiện tượng thông qua việc thành lập bản đồ ở 2 trạng thái khác nhau
Trang 28* Đặc điểm
Dùng để biểu thị cho các đối tượng phân bố rời rạc
Vị trí của các biểu đồ bản đồ không cố định tại một điểm mà di chuyển trong một vùng giới hạn mà theo nó giá trị định lượng được xác định
Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý đến 2 vấn đề :
o Xác định được ranh giới vùng phân bố của đối tượng và hiện tượng
o Biết được tổng giá trị của hiện tượng rơi vào trong vùng ranh giới đó
Kích thước : Dùng để biểu thị giá trị số lượng của hiện tượng
Màu sắc: Dùng để biểu thị bản chất của hiện tượng
Thể hiện được động lực phát triển của Trong quá trình xây dựng biểu đồ bản đồ làm sao cho đơn vị lãnh thổ được biểu thị càng nhỏ thì càng đặc trưng được đặc điểm phân
bố địa lý của hiện tượng
* Phương pháp thành lập
Phương tiện đồ hoạ: dùng các ký hiệu hình học đơn giản
* Ưu, nhược điểm
Dùng phương pháp biểu đồ bản đồ biểu thị được:
o Chất lượng của hiện tượng
o Cấu trúc của hiện tượng
o Động lực phát triển của hiện tượng
c Phương pháp chấm điểm
Trang 29 Phương pháp này biểu thị cho đối tượng phân bố rời rạc theo diện tích
Để xác định phương pháp bản đồ bằng phương pháp chấm điểm cần chú ý đến
ba vấn đề
o Chọn trọng lượng điểm hay tỉ trọng: là quy định giá trị số lượng của hiện tượng
mà một điểm biểu thị Tỷ lệ bản đồ càng lớn, khu vực biểu thị càng rộng cho phép chọn được những tỷ trọng bé và ngược lại
o Chọn kích thước điểm: tiến hành đồng thời với việc chọn tỷ trọng điểm phụ
thuộc vào tỷ lệ bản đồ và mật độ thưa dày của đối tượng cần thể hiện Mật độ dày, khu vực biểu thị nhỏ thì chọn tỷ trọng lớn, kích thước nhỏ và ngược lại
o Chọn cách bố trí điểm: Tuỳ theo từng khu vực biểu thị mà thực hiện theo hai
Trang 30Là phương pháp dùng để phản ánh các đối tượng có hình dạng kéo dài thành tuyến
mà độ rộng của chúng thông thường không thể biểu thị theo tỷ lệ bản đồ được
Thể hiện chất lượng của bản đồ thông qua hình dạng, màu sắc, ký hiệu
Ký hiệu tuyến có thể là tỉ lệ hoặc phi tỉ lệ
Đối với bản đồ dân cư – lao động thì phương pháp ký hiệu tuyến này chỉ dùng
để xác định các yếu tố cơ sở địa lý cho bản đồ chuyên đề Cụ thể là đường giao thông
và hệ thống thuỷ văn (hệ thống sông suối, ao, hồ…)
* Phương pháp thành lập
Màu sắc và hình dạng của các đường nét là phương tiện đồ hoạ thể hiện trong phương pháp này để phân biệt số lượng và chất lượng của hiện tượng
e Phương pháp ký hiệu nhỏ
Trang 31 Phương pháp này biểu thị cho các đối tượng phân bố rời rạc
Thể hiện vị trí chính xác của đối tượng
Được sử dụng chủ yếu khi diện tích của đối tượng cần phản ánh quá nhỏ
Dùng kí hiệu định vị để phản ánh các cấu trúc nội dung khác nhau của các đối tượng và hiện tượng (như trường học, trung tâm dân cư, thị xã…)
o Thường được dùng trong thành lập bản đồ khoáng sản với mục đích như tuyên truyền, quảng cáo
Ký hiệu hình học:
o Dùng các hình đơn giản với tâm của chúng là vị trí chính xác của đối tượng
o Ưu điểm: Dễ đo, dễ vẽ, dễ nhớ, chiếm ít diện tích, chỉ vị trí chính xác của đối tượng, thể hiện được chất lượng, số lượng của hiện tượng
Trang 3230
Ký hiệu nghệ thuật:
o Có hình dáng giống với hình dáng thực tế của đối tượng
o Nhược điểm: Khó vẽ, chiếm diện tích lớn, cồng kềnh, nội dung truyền đạt thông tin bị giảm, đối tượng chồng chéo và che lấp nhau, khó so sánh về mặt đặc tính khối lượng giữa các đối tượng
o Ưu điểm: Tính liên tưởng và tính trực quan cao thích hợp với những bản đồ có nội dung ít (như sân bay…)
Ký hiệu tượng trưng :
o Là sản phẩm của sự kết hợp tinh tế giữa ký hiệu nghệ thuật và ký hiệu hình học đơn giản
o Ưu điểm: Đơn giản và dễ vẽ hơn ký hiệu nghệ thuật nhưng vẫn mang tính liên tưởng và tính trực quan cao, đã khắc phục được nhược điểm của ký hiệu nghệ thuật
Do đó, ký hiệu này sử dụng nhiều hơn và cũng được dùng cho những bản đồ ít đối tượng
f Phương pháp nền chất lượng
* Khái niệm
Là phương pháp dùng để biểu thị sự phân chia lãnh thổ ra những vùng đồng nhất về mặt chất lượng theo những dấu hiệu nào đó của tự nhiên, kinh tế hoặc là hành chính, chính trị
* Đặc điểm
Được sử dụng với những hiện tượng có tính chất phân bố đều khắp lan truyền khắp lãnh thổ (ví dụ: lớp thổ nhưỡng)
Có 2 nguyên tắc để thành lập theo phương pháp này là nguyên tắc cơ bản và
nguyên tắc khoanh vùng riêng biệt
* Phương pháp thành lập
Nguyên tắc
Trang 3331
o Nguyên tắc cơ bản: là phân chia theo một bảng phân loại nhất định Dựa trên
dấu hiệu định tính cụ thể hoặc cũng có thể được xây dựng theo cơ sở hàng loạt các dấu
hiệu từ đó soạn thảo ra bảng phân loại có nhiều cấp hạng
o Nguyên tắc khoanh vùng riêng biệt: không theo một bảng phân loại nào cả, như
bản đồ hành chính, chính trị
Phương tiện đồ hoạ:
o Dùng màu sắc, nét chải hoặc màu sắc kết hợp với nét chải để thể hiện hai hệ
thống nền chất lượng như bản đồ địa chất hoặc bản đồ thổ nhưỡng
o Màu nền: Theo màu quang phổ: đỏ, da cam, vàng, lục, lam, tràm, tím, ưu tiên sử
dụng phương tiện biểu thị mạnh cho những hiện tượng phân bố khắp nơi trên một diện
rộng với diện tích lớn
* Ưu, nhược điểm
Nhược điểm:
o Ít khi thể hiện động lực phát triển của hiện tượng
o Dễ nhầm lẫn với phân tầng mầu độ cao trên bản đồ địa hình
Ưu điểm:
Dễ dàng phối hợp với các phương pháp biểu thị khác
Là phương pháp chủ đạo cho việc xây dựng hệ thống ký hiệu của bản đồ địa chất
theo bảng phân loại đã quy định sẵn
g Phương pháp đường đẳng trị
* Khái niệm
Là phương pháp dùng để biểu thị các hiện tượng có sự phân bố đều khắp,
tuần tự trên lãnh thổ bằng một hệ thống các đường đẳng trị được xây dựng tương ứng
với các giá trị số lượng của chúng
* Đặc điểm
Trang 3432
Phương pháp biểu thị cho các đối tượng theo khối
Chủ yếu dựa vào nguyên tắc nội suy:
o Nội suy trực tiếp: Dựa vào giá trị số lượng của các điểm (ví dụ: đường đẳng cao,
đường đẳng sâu trên bản đồ địa lý) Nội suy nguyên tắc này không tuân theo các thuật toán
o Nội suy gián tiếp: Dựa vào mối tương quan địa lý của hiện tượng hay còn gọi là
nội suy địa lý (ví dụ: sự thay đổi nhiệt độ phụ thuộc vào độ cao địa hình)
Giá trị của điểm nằm trong vùng được tô màu giới hạn bởi các đường đẳng trị là thay đổi
Trường hợp biểu thị cho những hiện tượng không có tính liên tục hoặc tuần tự thì việc xây dựng đường đẳng trị kiểu này gọi là phương pháp giả đường đẳng trị Nếu
sự phân bố hiện tượng một cách trừu tượng như đường đẳng trị trung bình năm
Phương tiện đồ hoạ:
o Phương pháp đường đẳng trị kết hợp với thang tầng màu Màu sắc phản ánh
bản chất của đường đẳng trị
o Màu sắc: Dùng để phân tầng màu mang ý nghĩa làm tăng độ đọc cuả bản đồ và
thể hiện phân vùng theo các đường đẳng trị mà không mang theo một ý nghĩa nào khác
1.1.2.6 Một số lưu ý khi biên tập, thành lập xêri bản điện tử về dân số thành phố Hà Nội
a Thu thập tài liệu, số liệu và địa chỉ thu thập
Đây là công đoạn quan trọng nhất quyết định đến sự thành công về khối lượng, chất lượng của xêri bản đồ Để có kế hoạch thu thập tư liệu, số liệu bản đồ phù hợp với công tác biên tập bản đồ các trang, cần xây dựng kế hoạch chi tiết thu thập tài liệu cụ thể:
b Thu thập tài liệu, số liệu tại Nhà xuất bản Bản đồ:
Trang 3533
- Bản đồ hành chính thành phố Hà Nội;
- Tài liệu bản đồ giao thông, các tài liệu liên quan khác
- Atlas Việt Nam, Atlas kinh tế xã hội Hà Nội…
- Các số liệu về dân số từ nguồn xây dựng bản đồ hành chính các cấp của thành phố
c Thu thập tư liệu, tài liệu ở địa phương:
* Các thể loại bản đồ, sơ đồ thuộc các lĩnh vực chuyên ngành ở các Sở, Ban Ngành…
* Các tài liệu văn bản:
- Các báo cáo tổng kết các năm của UBND các quận huyện, thành phố
- Các báo cáo tổng kết của hội đồng nhân dân các quận, huyện, thành phố
- Các văn kiện đại hội Đảng các quận, huyện, thành phố
- Các loại sách báo, bài viết giới thiệu về thành phố
- Các tài liệu chuyên ngành của trung ương và địa phương
* Số liệu thống kê:
Cần thu thập hai loại số liệu dự báo và số liệu thực tế Các năm quá khứ và hiện tại có hai số liệu: thực tế và dự báo Các năm trong quy hoạch có số liệu dự báo
Nơi có thể thu thập số liệu thống kê:
- Số liệu thống kê tại chi cục thống kê và phòng thống kê quận, huyện, thành phố,
và Tổng cục Thống kê (niên giám thống kê),
* Các tài liệu thu thập ở các đài phát thanh và truyền hình quận, huyện, thành phố bao gồm các bài viết, video phim tư liệu giới thiệu về Hà Nội
* Tham khảo tài liệu trên mạng Intenet để định hướng được loại hình thông tin cần thu thập Cố gắng lấy càng chi tiết thông tin trên mạng càng tốt (bao gồm: bản đồ, tin tức, biểu đồ v.v)
Trang 3634
* Xác định mốc thời gian lấy tài liệu, tư liệu
- Số liệu dân số: 1990, 1995, 2000, 2007, 2008, 2009
- Số liệu dự báo dân số qua các năm 2012, 2017, 2022
* Lập bản “Kế hoạch thu thập tài liệu” trước khi đi thu thập để tránh thiếu sót khi
thực hiện ở địa phương Trong bản kế hoạch này cần liệt kê đầy đủ các thể loại tài liệu cần thu thập càng chi tiết càng tốt để tạo điều kiện cho người đi địa bàn nắm được nội dung tài liệu và các thể loại tài liệu cần thu thập Cần căn cứ vào việc nghiên cứu nội dung đề tài của các trang bản đồ để lập biểu càng chi tiết, cụ thể càng tốt
Cần lưu ý nhất là tài liệu, số liệu của các đơn vị hành chính mới thành lập
d Lựa chọn chỉ tiêu biểu thị nội dung chuyên môn
Việc lựa chọn chỉ tiêu nội dung chuyên môn của bản đồ cần chú ý đến những yếu
tố sau:
- Mức độ chi tiết của đối tượng nội dung
- Phương pháp chọn chỉ tiêu biểu thị
Cần chọn được chỉ tiêu và phương pháp biểu thị nội dung hợp với quy luật phân
bố của đối tương Đồng thời đối với các yếu tố áp dụng phương pháp biểu thị (ký hiệu, biểu đồ, nền đồ giải), cần đưa ra được nguyên tắc chọn bậc thang tầng số lượng của yếu tố hợp lý nhất nhằm phản ánh đúng quy luật biến thiên của đối tượng
1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG XÊRI BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ
VỀ DÂN SỐ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Theo hướng nghiên cứu của đề tài, từ trước tới nay, ở nhiều nước trên thế giới
và ở Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học đã và đang thực hiện
1.2.1 Bản đồ được thành lập theo công nghệ truyền thống
Trên thế giới, hầu như tất cả các nước đều xây dựng cho mình các bản đồ riêng
tờ, xê ri bản đồ với các chuyên đề khác nhau, atlat tổng hợp, atlat chuyên đề phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau
Trang 3735
Ở Việt Nam, trong những năm qua cũng đã có nhiều công trình liên quan tới
hướng của đề tài:
- Tập bản đồ Lai Châu (1975)
- Tập bản đồ dân cư - kinh tế - xã hội tỉnh Đắc Lắc (1982)
- Atlat Quốc gia Việt Nam (2000)
- Tập bản đồ kinh tế xã hội Việt Nam (2005)
Trong đó:
- Atlat Quốc gia Việt Nam (2000) là tập atlat quốc gia đầu tiên của nước ta
được xuất bản, đánh dấu sự thành công lớn, thể hiện sức mạnh đoàn kết, tinh thần lao động cần cù của các nhà khoa học thuộc các ngành khác nhau trong cả nước Đây là một tác phẩm khoa học và văn hóa khắc họa được mô hình đất nước có lịch sử lâu đời đang xây dựng một xã hội phát triển, công bằng và văn minh Tác phẩm này như một dấu mốc ghi nhận trình độ khoa học của nước ta hiện nay, làm tài liệu hữu ích trong giáo dục - đào tạo, giúp cho mỗi người Việt Nam nhận thức đầy đủ về đất nước mình Atlas quốc gia Việt Nam còn là một thông điệp văn hóa của nhân dân ta gửi tới bạn bè các nước để giới thiệu về đất nước, về con người Việt Nam
- Tập bản đồ kinh tế xã hội Việt Nam (2005) mô tả tổng điều tra Dân số và Nhà
ở của Việt nam năm 1999 Đây là tài liệu tham khảo tốt cho các cán bộ hoạch định chính sách, các cơ quan giáo dục và bạn đọc quan tâm đến Việt Nam nói chung, nông thôn Việt nam nói riêng Tập bản đồ Kinh tế xã hội Việt Nam giới thiệu bao quát nhiều mặt kinh tế xã hội của dân cư Việt Nam Lần đầu tiên số liệu tổng điều tra dân số được trình bày dưới dạng bản đồ với mục đích phân tích theo không gian ở cấp độ chi tiết, các chỉ tiêu thể hiện tới cấp xã, cung cấp cho người đọc bức tranh chi tiết về mô hình không gian của dân cư, giáo dục và đời sống xã hội của Việt Nam
Nhận thấy, tập bản đồ thể hiện rõ ràng, chi tiết và khá đầy đủ các chỉ tiêu về dân
cư, kinh tế, xã hội Việt Nam, đưa ra một bức tranh toàn cảnh mô tả tổng điều tra dân số
và nhà ở năm 1999 Các số liệu trong từng trang bản đồ được thể hiện tới cấp xã Giao diện bản đồ đẹp (nền màu tạo hiệu ứng nổi) Có thuyết minh chung giới thiệu từng
Trang 3836
chương Ưu điểm nổi bật của atlas là có thuyết minh chung cho từng trang bản đồ, nêu
rõ đặc điểm phân bố và phân tích, nhận xét về các chỉ tiêu thể hiện trên bản đồ Giúp người đọc bản đồ có thêm kiến thức về địa lý kinh tế xã hội của Việt nam Hiếm khi gặp được một atlas có sự phân tích về các đối tượng thể hiện trên bản đồ như atlas này
Bố cục các chương, các bản đồ trong các chương rõ ràng, hợp lý Tất cả các bản đồ cùng tỷ lệ, dễ cho việc so sánh và đối chiếu giữa các chỉ tiêu khác nhau trên các trang bản đồ Thuyết minh bằng 2 thứ tiếng: Việt và Anh Do đó atlas là nguồn tài liệu tham khảo không những cho người Việt Nam mà còn cho cả bạn bè quốc tế Tuy nhiên, atlas nghèo nàn trong việc chọn lựa các phương pháp thể hiện, phần lớn các trang bản đồ đều sử dụng lặp lại phương pháp nền đồ giải Các biểu đồ, đồ thị gần như là không xuất hiện trên các trang bản đồ nên không thể hiện được các số liệu thống kê trong toàn vùng Tất cả bản đồ cùng một tỷ lệ nên không thể hiện được chi tiết và nhấn mạnh tới từng vùng Số liệu điều tra dân số từ năm 1999 cho tới năm 2005 mới được xuất bản, khi đó đã có rất nhiều sự thay đổi như ranh giới hành chính, mật độ phân bố của các yếu tố địa lý
Như vậy, trong hai tập Atlat quốc gia Việt Nam và tập bản đồ kinh tế xã hội
Việt Nam có thể hiện thủ đô Hà Nội, nhưng là Hà Nội cũ khi chưa sát nhập và ở tỷ lệ rất nhỏ, mọi chỉ tiêu thể hiện trên các bản đồ trong hai Atlat trên chỉ mang tính tổng thể của toàn thành phố Hà Nội Vì là tập bản đồ của toàn lãnh thổ quốc gia, nên chúng không có khả năng cho phép khai thác các thông tin chi tiết về các quận, phường trong thành phố Hà Nội
Đối với Hà Nội - khu vực nghiên cứu, từ trước tới nay cũng đã có một số công
trình nghiên cứu theo hướng đề tài, nhưng mới chỉ là trong phạm vi của Hà Nội cũ:
- Atlat Hà Nội (trích tập), NXB Uỷ Ban Khoa học và kỹ thuật Hà Nội, năm 1984: Atlat Hà Nội được thành lập nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng Thủ đô, trong đó
có 6 bản đồ thuộc nhóm kinh tế xã hội Tập atlat này đã được xây dựng cách đây hơn
20 năm, trong điều kiện nền kinh tế bao cấp, kinh phí eo hẹp và kỹ thuật chưa hiện đại (công nghệ truyền thống) Nội dung của atlat phản ánh thực trạng của Hà Nội lúc đó, không còn phù hợp với Hà Nội ngày nay
Trang 3937
- Xê ri bản đồ Hà Nội qua các thời kỳ, đề tài cấp Bộ, năm 2005, do PGS.TS Trần Trung Hồng chủ trì Nội dung của công trình này chỉ đề cập đến các bản đồ lịch
sử (hình thể) của thủ đô Hà Nội qua các thời kỳ Không đề cập đến lĩnh vực kinh tế –
xã hội của Hà Nội mới
Kết quả của các công trình trên được xuất bản ở dạng các bản đồ in trên giấy về một tỉnh hoặc một quốc gia, trong đó có nhóm các bản đồ về dân cư và kinh tế - xã hội bằng công nghệ truyền thống Do vậy, rất hạn chế về tính phổ biến rộng rãi, tính phổ thông và tính hiện đại (tính cập nhật thông tin rất hạn chế)
1.2 2 Bản đồ được xây dựng theo công nghệ hiện đại - công nghệ số
Trên thế giới: Dựa trên các thành tựu của công nghệ thông tin, công nghệ bản
đồ số (bản đồ điện tử) mang tính năng ưu việt so với bản đồ truyền thống về chất lượng sản phẩm cũng như trong cách thành lập và khai thác chúng: Canada, Thụy Sỹ,
Hà Lan và tiếp theo sau đó là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Phần Lan là những quốc gia đầu tiên đã sớm áp dụng công nghệ bản đồ số để xây dựng các bản đồ, atlat điện tử Qua tham khảo các tư liệu sách báo và truy tìm trên mạng Internet, có thể thấy rằng hiện nay đã có hàng trăm atlat điện tử được xây dựng và cập nhật, ví dụ như:
- Electronic National Atlas of USA
- Electronic Atlas Canada
- Electronic Arizona Electronic Atlas
- Electronic Atlas Northeast Indiana
Ở Việt Nam, xu hướng này cũng đã và đang phát triển với sự hình thành hàng
loạt các dự án về atlat điện tử ở quy mô quốc gia lẫn quy mô tỉnh, như:
- Atlat địa lý Việt Nam
- Atlat tài nguyên thiên nhiên và môi trường Việt Nam
- Atlat điện tử Quốc gia Việt Nam
- Atlat điện tử thành phố Hồ Chí Minh
- Bản đồ điện tử phục vụ quản lý bưu chính viễn thông Huế
Trang 4038
- GIS Huế
- Atlat điện tử tỉnh Đồng Nai, đã xuất bản ở dạng bản đồ điện tử (đĩa CD)
- Atlat điện tử tỉnh Lào Cai, đã xuất bản ở dạng bản đồ điện tử (đĩa CD)
- Atlat điện tử thành phố Hải Phòng, đã xuất bản ở dạng bản đồ điện tử (đĩa CD)
Các bản đồ mạng đã đƣợc Nhà xuất bản Bản đồ truyền tải lên mạng nhƣ:
- Bản đồ Hà Nội (bản đồ mạng về hành chính Hà Nội ) do Nhà xuất bản Bản đồ đƣa lên mạng
- Atlas Thăng Long Hà Nội 2010, thể hiện các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Hà Nội cũ
- Tập bản đồ dân số, gia đình và trẻ em Thành phố Hà Nội, do uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em xây dựng, xuất bản tại Nhà xuất bản Bản đồ năm 2006 Đây là tập bản đồ đƣợc xây dựng ở dạng số và đƣợc in ở dạng