Rất nhiều diện tích đất nông nghiệp đang chuyển thành đất đô thị của các dự án đô thị hóa, tạo ra rất nhiều bước chuyển đổi nghề nghiệp và cơ cấu kinh tế trong khu vực nông thôn của đồng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN HÀ NỘI
- -
ĐINH THỊ DIỆU
ỨNG DỤNG DỮ LIỆU MODIS VÀ DỮ LIỆU THỐNG KÊ XÃ HỘI TRONG PHÂN TÍCH KHÔNG GIAN PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ SINH KẾ
KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
HÀ NỘI – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN HÀ NỘI
- -
ĐINH THỊ DIỆU
ỨNG DỤNG DỮ LIỆU MODIS VÀ DỮ LIỆU THỐNG KÊ XÃ HỘI TRONG PHÂN TÍCH KHÔNG GIAN PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ SINH KẾ KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Bản đồ, Viễn thám và hệ thông tin địa lý
Mã số: 60 44 76
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
HÀ NỘI -2012
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Cơ sở dữ liệu 5
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1: TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM SINH KẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH KẾ ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 7
1.1 Bối cảnh nghiên cứu Sinh kế 7
1.2 Đất ruộng và Sinh kế nông nghiệp bền vững 9
1.3 Các nguồn lực sinh kế và các nhân tố tác động đến Sinh kế ĐBSH 12
1.3.1 Các nguồn lực tự nhiên 12
1.3.1.1 Vị trí địa lý 12
1.3.1.2 Địa hình, địa mạo 13
1.3.1.3 Khí hậu 14
1.3.1.3 Thuỷ văn 16
1.3.2 Nguồn lực con người 17
1.3.3 Phân bố dân cư 19
1.3.4 Tác động của các chính sách nhà nước 22
1.3.4.1 Tổng quan về chính sách đổi mới của Việt Nam trong nông nghiệp từ năm 1986 đến nay 23
Trang 41.3.4.2 Tác động của những chính sách đổi mới trong nông nghiệp này đến nền
kinh tế Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) 26
Chương 2: ỨNG DỤNG DỮ LIỆU MODIS CHIẾT XUẤT LÚA VÀ ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG LÚA KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG GIAI ĐOẠN 2005-2010 29
2.1 Tổng quan nghiên cứu ứng dụng dữ liệu Modis chiết xuất lúa và trong đánh giá biến động lớp phủ lúa 29
2.2 Chiết xuất lúa từ ảnh Modis 34
2.3 Dữ liệu và phương pháp tiến hành 37
2.3.1 Dữ liệu 37
2.3.2 Các bước tiến hành 39
2.3.3 Kiểm chứng đánh giá kết quả 45
2.4 Kết quả 46
2.4.1 Sự phân bố không gian của vùng trồng lúa trên đồng bằng sông Hồng 46
Chương 3: ĐÁNH GIÁ TƯƠNG QUAN CÁC CHỈ SỐ VÀ PHÂN NHÓM CÁC VÙNG SINH KẾ CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 50
3.1 Phương pháp tiến hành 50
3.2 Lựa chọn các biến phân tích và kết quả phân tích 53
3.2.1 Phân nhóm các kiểu hình sinh kế ĐBSH năm 2005 53
3.2.3 Đánh giá hoạt động Nông nghiệp năm 2010 59
KẾT LUẬN 62
1 Kết luận về phương pháp luận 62
2 Kết luận về kết quả đạt được ở Đồng bằng sông Hồng 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 67
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Đặc trưng của các band phổ ảnh MODIS và ứng dụng 31
Bảng 2.2 : Tiêu chuẩn sử dụng để phân loại sử dụng đất 34
Bảng 2.3: 7 bands phổ với đầu thu MODIS được sử dụng trong đề tài 37
Bảng 2.4 Ma trận biến động giữa các loại hình lớp phủ giai đoạn 2005-2010 48
Bảng 3.1: Giá trị eigenvalue của các nhóm nhân tố 54
Bảng 3.2: Trọng số của các biến trên các trục nhân tố 56
Bảng 3.3: Giá trị Eigenvalue của các nhân tố 60
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) 8
Hình 1.2: Khung phân tích sinh kế nông thôn bền vững 10
Hình 1.3: Vị trí các tỉnh đồng bằng sông Hồng trong Việt Nam 13
Hình 1.4: Nhiệt độ và lượng mưa trung bình tháng tại các trạm quan trắc thời kỳ 1970-2011 đồng bằng sông Hồng 16
Hình 1.5: Mật độ dân số cấp huyện Đồng bằng sông Hồng, năm 2010 17
Hình 1.6: Phân bố lao động trên 15 tuổi các tỉnh Đồng bằng sông Hồng 18
Hình 1.7 : Phân bố nghèo các tỉnh Đồng bằng sông Hồng 19
Hình 1.8: Phân bố dân cư nông thôn ở Đồng bằng sông Hồng 20
Hình 1.9: Kênh tác động của thay đổi chính sách đến thay đổi sử dụng đất nông nghiệp 22
Hình 1.10: Thay đổi tỷ lệ đất Nông nghiệp theo đầu người ở ĐBSH 28
Hình 2.1: Chu kì phát triển của cây lúa 35
Hình 2.2: Ba chỉ số được Xiao sử dụng để dò tìm năng suất của mùa vụ lúa 36
Hình 2.3: Ảnh vệ tinh Landsat khu vực ven biển 2001, 2005, 2009 38
Hình 2.4 : Bản đồ sử dụng đất ĐBSH năm 2005 38
Hình 2.5: Sơ đồ các bước tiến hành thành lập bản đồ phân bố lúa và bản đồ biến đổi phân bố lúa 39
Hình 2.6: Các ảnh Modis trước và sau khi chuyển đổi hệ tọa độ 40
Hình 2.7: Ảnh đồng bằng Sông Hồng sau khi cắt 40
Hình 2.8: Ảnh tổ hợp màu và ảnh chỉ số mây 41
Hình 2.9: Ảnh chỉ số mây và ảnh mặt nạ mây 41
Hình 2.10: Gộp các kênh ảnh 42
Hình 2.11: Tính toán các chỉ số LSWI, NDVI, EVI 43
Hình 2.12: Đồ thị phổ theo mùa của các giá trị LSWI, NDVI, EVI theo mùa của khu vực Đồng bằng sông Hồng 44
Hình 2.13: Đồ thị tương quan giữa diện tích lúa thu từ ảnh Modis và diện tích lúa theo số liệu thống kê 45
Trang 7Hình 2.14: Sơ đồ tuyến thực địa kiểm chứng trên Đồng bằng sông Hồng 46
Hình 2.15: Bản đồ phân bố lúa Đồng bằng sông Hồng năm 2005 và năm 2010 47
Hình 2.16: Bản đồ biến động lớp phủ lúa đồng bằng Sông Hồng 48
giai đoạn 2005-2010 48
Hình 2.17: Diện tích lúa các tỉnh đồng bằng sông Hồng qua 2 năm 2005, 2010 49
Hình 3.1: Sơ đồ nghiên cứu sinh kế nông thôn Đồng bằng sông Hồng 51
Hình 3.2: Đồ thị phân bố các đo lường trong các phép phân tích thống kê 52
Hình 3.3: Phân tích thành phần chính cấp huyện năm 2005 53
Hình 3.4: Giá trị Eigenvalue của các nhóm nhân tố 54
Hình 3.5: Sự phân bố của các biến trên hai trục thành phần F1 và F2 55
Hình 3.6: Phân bố không gian của các kiểu vùng sinh kế nông thôn ĐBSH 58
Hình 3.7: Giá trị Eigenvalue của các nhân tố 59
Hình 3.8: Sự phân bố của các biến trên hai trục thành phần F1 và F2 60
Hình 3.9: Phân bố không gian của các vùng hoạt động trồng trọt và chăn nuôi năm 2010 các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng 61
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GIS Hệ thống thông tin địa lý
MNDWI
GOS
Modification of Normalition Difference Water Index Tổng cục thống kê
Trang 9(DFID, 2001) đưa ra vào năm 1999 nhằm xem xét những yếu tố khác nhau ảnh
hưởng tới sinh kế con người, tìm hiểu xem các yếu tố này liên quan tới nhau như thế nào trong từng bối cảnh cụ thể Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển kinh
tế là cải thiện được sinh kế và nâng cao phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời luôn phải đặt nó trong khung cảnh biến động mạnh mẽ của các hình thức sử dụng đất cũng như các nguồn lực tự nhiên Biến đổi sinh kế được hiểu là biến đổi các hoạt động kiếm sống, đó chính là các hoạt động sản xuất của các hộ gia đình Trong bối cảnh đa tương tác, biến đổi các nguồn lực và biến đổi các hoạt động kiếm sống có quan hệ tương hỗ với nhau song yếu tố nào ảnh hưởng hay bị ảnh hưởng bởi yếu tố nào lại phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế - xã hội của các địa phương trong những thời kỳ khác nhau
Ở Việt Nam, đồng bằng sông Hồng – nơi vẫn được nhắc đến như cái nôi của nền văn minh lúa nước Sông Hồng, được đặc trưng bởi sự đa dạng về cảnh quan với dải địa hình đồi núi ở thượng lưu đồng bằng, địa hình bằng phẳng ở trung tâm và dải thực vật ngập mặn ở ven biển với nhiều đặc điểm nhân sinh Các chính sách đổi mới trong nông nghiệp từ sau năm 1986, sự tăng trưởng nhanh chóng về dân số
(Năm 1999: 16.833.837 người; đến năm 2009, dân số là 19.584.287 người – (theo GOS), và tốc độ đô thị hóa cao nhất cả nước (Năm 2009 tỉ suất tăng dân số thành thị bình quân 4,2% - (theo GOS), đồng bằng sông Hồng trở thành một khu vực có
chuyển đổi sử dụng đất nông thôn mạnh mẽ và đạt thành tựu to lớn về xóa đói giảm nghèo Rất nhiều diện tích đất nông nghiệp đang chuyển thành đất đô thị của các dự
án đô thị hóa, tạo ra rất nhiều bước chuyển đổi nghề nghiệp và cơ cấu kinh tế trong
khu vực nông thôn của đồng bằng sông Hồng (Năm 1999: dân số làm nông lâm
Trang 10đã và đang được ứng dụng vào rất nhiều lãnh vực như ngành Khí tượng-Thủy văn dùng để dự báo thời tiết, dự báo thiên tai liên quan đến biến đổi khí hậu ; ngành Nông –Lâm nghiệp ứng dụng để theo dõi mức độ biến đổi thảm phủ thực vật, độ che phủ rừng hoặc phòng cháy Ngành môi trường cũng sử dụng các dữ liệu MODIS vào công tác quản lý, điều hành Nhờ khả năng phân tích không gian, thời gian và mô hình hóa, GIS lại cho phép tạo ra những thông tin có giá trị gia tăng cho các thông tin được triết xuất từ dữ liệu vệ tinh đó
Các phương pháp toán thống kê ngày nay cũng đang được sử dụng rất hiệu quả trong các phân tích địa lý Cụ thể với các phương pháp phân tích đa biến như phân tích thành phần chính, phân tích hồi quy, phân tích nhân tố giúp cho việc giải thích mối tương quan của dữ liệu, khẳng định hay phủ định các giả thiết đặt ra ban đầu và tạo ra một ý nghĩa địa lý rất quan trọng
Từ những hiểu biết trên về Đồng bằng sông Hồng, học viên đã đặt ra câu hỏi nghiên cứu:
- Đồng bằng sông Hồng đã có những thay đổi gì về hệ thống nông nghiệp nhất
là hệ thống canh tác lúa nước trong vòng gần một thập kỉ qua?
- Giữa những thay đổi hệ thống canh tác lúa nước ở Đồng bằng sông Hồng và các chỉ số kinh tế xã hội có những mối quan hệ như thế nào? Các quan hệ này có thể làm chỉ báo về Sinh kế cho khu vực Đồng bằng Sông Hồng như thế nào?
Trang 11- Có thế dùng dữ liệu Modis để chiết tách lúa và đánh giá biến động lớp phủ
từ cấp khu vực tới Đồng bằng sông Hồng hay không? Việc mở rộng nghiên cứu đa
tỉ lệ là có thể khả thi hay không?
Sơ đồ các bước nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tổng quan về sinh kế và phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến Sinh kế Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2005-2010
- Sử dụng dữ liệu Modis chiết xuất lúa và đánh giá những biến đổi hệ thống sản xuất Nông nghiệp lúa nước khu vực Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2005-2010
- Đánh giá tương quan giữa biến đổi lớp phủ lúa và biến đổi về kinh tế xã hội cũng như hệ thống sản xuất nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2005-
Đánh giá biến đổi của Hệ thống sản xuất Nông nghiệp và Sinh kế
Hoạt động
Toàn đồng bằng
Trang 123 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu trên nhiệm vụ cần thực hiện là:
- Tìm hiểu, tổng quan các đặc điểm sử dụng đất, đặc điểm kinh tế xã hội và các đặc điểm sinh kế, đặc điểm về các chính sách thể chế ở đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn 2005-2010
- Thu thập các tài liệu bản đồ, ảnh vệ tinh Modis Xử lí, phân loại Kiểm chứng thực địa
- Thành lập các bản đồ hiện trạng lớp phủ lúa và biến động lúa qua giai đoạn 2005-2010
- Ứng dụng các phương pháp phân tích thống kê đánh giá biến động lúa trong mối tương quan với các chỉ số kinh tế xã hội, nghề nghiệp, nông nghiệp đặc trưng cấp huyện của toàn khu vực đồng bằng sông Hồng Từ đó rút ra chỉ báo về sinh kế và biến đổi sinh kế, phân nhóm các kiểu vùng sinh kế khu vực đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn nghiên cứu
- Đánh giá kết quả
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn:
- Không gian: Khu vực đồng bằng sông Hồng gồm 10 tỉnh
- Thời gian: hai năm 2005 và 2010
- Phạm vi khoa học: Sinh kế là một khái niệm rộng có thể ở nhiều cấp độ khác nhau từ cấp vùng đến cấp nông hộ Phạm vi của đề tài là đánh giá sinh kế nông nghiệp cấp huyện
Trang 135 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Góp phần khẳng định và mở rộng khả năng ứng dụng phương pháp viễn thám vào việc theo dõi biến động lớp phủ đặc biệt là là biến động vùng trồng lúa cho các khu vực nông nghiệp rộng lớn
- Ý nghĩa thực tiễn: Xây dựng bản đồ khu vực trồng lúa ở Đồng bằng sông Hồng từ dữ liệu vệ tinh có đủ độ tin cậy, phương pháp đánh giá sinh kế khoa học giúp các nhà quản lý có thể thấy được bức tranh chung về toàn
bộ nền sản xuất nông nghiệp cũng như những thay đổi sinh kế của vùng,
từ đó có những quyết sách phù hợp
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp xử lí dữ liệu viễn thám: xử lí và phân tích các tư liệu ảnh
Modis giai đoạn 2005 – 2010
- Phương pháp tích hợp GIS: phân tích không gian và đánh giá biến động đa
thời gian
- Phương pháp phân tích thống kê : sử dung phương pháp phân tích hồi quy
và phân tích nhân tố tìm các chỉ số quan hệ giữa biến động lớp phủ và chỉ tiêu kinh
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn được thực hiện gồm 66 trang, 34 hình và bản đồ, 7 bảng Cấu trúc luận
văn ngoài phần mở đầu, kết luận còn có 3 chương
Trang 15Chương 1: TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM SINH KẾ VÀ CÁC NHÂN
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH KẾ ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
1.1 Bối cảnh nghiên cứu Sinh kế
Ý tưởng về sinh kế đã được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu của R.Chamber những năm 1991 (R Chambers and G R.Conway, 1991) trong đó sinh kế theo cách hiểu đơn giản là phương tiện để kiếm sống Về sau khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của F.Ellis (E F, 1999), Barrett va Reardon (C
B Barrett and T Reardon, 2000)….Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau
về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình F.Ellis cho rằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo
đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ (E F, 1999) Năm 2001, Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm về Sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động của mình thì Sinh kế còn được mô
tả tổng hợp của nguồn lực và năng lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một người nhằm cố gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu và mơ ước của mình
(DFID, 2001) Sinh kế có thể được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân,
hộ gia đình, thôn, vùng phổ biến nhất là cấp hộ gia đình
Sinh kế bền vững (sustainable livelihood) từ lâu đã là chủ đề được quan tâm trong
các tranh luận về phát triển, giảm nghèo và quản lí môi trường cả trên phương diện
lý luận lẫn thực tiễn Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã làm thay đổi cách tiếp cận đối với phát triển trong thời kỳ những năm 1980 và 1990 theo hướng tập trung vào phúc lợi của con người và tính bền vững nhiều hơn là phát triển kinh tế Theo (T Reardon and J E Taylor, 1996) một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc
Trang 16tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên Một sinh kế bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên (Tim Hanstad, et al., 2004) Về cơ bản, các khung sinh kế bền vững đều phân tích sự tác động qua lại của 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế là: 1) nguồn lực sinh kế, 2) chiến lược sinh kế, 3) kết quả sinh kế, 4) các qui trình về thể chế và chính sách, và 5) bối cảnh bên ngoài
Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững của DFID (2001)
Nguồn lực sinh kế (tài sản sinh kế) được coi là yếu tố trọng tâm trong tiếp cận sinh
kế bền vững Đó là năm loại tài sản vốn, hay hình thức vốn, để giảm nghèo và đảm bảo an ninh bảo sinh kế, bao gồm:
Nguồn lực tự nhiên (natural capital): bao gồm tài nguyên thiên nhiên như
đất đai, rừng, nước, biển, đa dạng sinh học…, mà con người có thể sử dụng
Trang 17 Nguồn lực vật chất (physical capital): bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầngnhư
các tài sản tư nhân, tài sản công cộng hỗ trợ cho các hoạt động sinh kế
Nguồn lực tài chính (financial capital): bao gồm các nguồn vốn khác nhau,
có thể là tiền mặt hay tiền tiết kiệm, trang sức, các khoản thu nhập… có thể
sử dụng làm vốn luân chuyển
Nguồn lực xã hội (social capital): bao gồm các mối quan hệ giữa con người
với con người trong xã hội như các mạng lưới xã hội, họ hàng, bạn bè…
Nguồn lực con người (human capital): bao gồm các kỹ năng, kiến thức, kinh
nghiệm, khả năng lao động, sức khỏe, trình độ giáo dục…
Các thể chế và chính sách đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của các
sinh kế Chúng được xây dựng và hoạt động ở tất cả các cấp từ hộ gia đình, đến cấp vùng, quốc gia và quốc tế Nhưng cũng có khi cùng một chính sách, ở địa phương khác nhau lại có hiệu quả khác nhau
1.2 Đất ruộng và Sinh kế nông nghiệp bền vững
Mặc dù tỉ lệ phát triển đô thị ngày càng tăng trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt
là sự phát triển của các thành phố lớn từ đầu những năm đầu của thế kỷ XIX, nhưng
đa số dân cư trên thế giới đều đang sống ở nông thôn và ở phần lớn các quốc gia
trên thế giới, nông thôn vẫn là chủ yếu (B Q Dũng, 2007) Hiện nay giới nghiên
cứu và người lập chính sách sử dụng chủ yếu hai biến số về nhân khẩu – quy mô và mật độ tuyệt đối xét về mặt định cư – để xác định nông thôn Sự tập trung dân cư nông thôn ở các nước thu nhập thấp và tầm quan trọng của xã hội nông thôn trong các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội khiến cho việc hiểu biết về xã hội nông thôn
và các mối tương tác của nó với xã hội đô thị ngày càng có ý nghĩa
Scoones là người đầu tiên đưa ra khung phân tích về sinh kế nông thôn bền vững Câu hỏi then chốt được đặt ra trong khung phân tích này là: trong một bối
Trang 18cảnh cụ thể (về môi trường, chính sách, chính trị, lịch sử, sinh thái, các điều kiện kinh tế-xã hội), sự kết hợp nguồn lực sinh kế nào sẽ tạo ra khả năng thực hiện các chiến lược sinh kế (sản xuất nông nghiệp, đa dạng hóa các loại hình sinh kế, di dân) nhằm đạt được các sinh kế nhất định Mối quan tâm chính trong khung phân tích này là các quy trình thể chế và chính sách – được coi là nhân tố trung gian giúp thực hiện những chiến lược sinh kế này và đạt được các kết quả sinh kế mong muốn Trong các yếu tố cấu thành khung sinh kế bền vững, 5 nguồn lực sinh kế đóng vai trò cốt lõi đối với các hoạt động sinh kế ở các cấp Tuy nhiên các nguồn lực sinh kế này cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc bối cảnh bên ngoài và thể chế - chính sách ở địa phương, có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và việc sử dụng các tài sản mà
cuối cùng ảnh hưởng đến sinh kế (P Filipe, 2005).
Hình 1.2: Khung phân tích sinh kế nông thôn bền vững ( I Scoones, 1998 )
Trang 19Khung sinh kế nông thôn bền vững cũng coi đất đai là một tài sản tự nhiên rất quan trọng đối với sinh kế nông thôn Quyền đất đai đóng một vị trí quan trọng
về nhiều mặt và tạo cơ sở để người nông dân tiếp cận các loại tài sản khác và những
sự lựa chọn sinh kế thay thế ( Tim Hanstad, et al., 2004 ) Đất đai cũng là một tài sản
tự nhiên mà qua đó có thể đạt được các mục tiêu sinh kế khác như đa dạng hóa sinh
kế, bình đẳng giới và sử dụng bền vững các nguồn lực ( P Filipe, 2005 ) Đất đai là phương tiện để kiếm sống, là đối tượng để đầu tư, làm giàu và kế thừa giữa các thế
hệ DFID đã xuất bản tài liệu cố vấn có tựa đề: “Cuộc sống tốt đẹp hơn cho người nghèo: Vai trò của đất đai và chính sách”(DIFD, 2002) Tài liệu này chỉ ra rằng: Sự đảm bảo, an toàn, và đủ năng lực chi trả về đất đai là cần thiết, tuy nhiên không luôn là điều kiện đủ để giảm nghèo Những tài liệu về chuyển dịch nghèo đói và sinh kế đều nhấn mạnh sự liên hệ giữa sinh kế, nghèo đói và những vấn đề rộng hơn
về chuyển dịch ruộng đất ( J Rigg, 2005 )
Việt Nam là một nước nông nghiệp, quyền sử dụng đất hàm chứa nhiều ý nghĩa và giá trị quan trọng, bao gồm ý nghĩa và giá trị của một phương tiện sản xuất, một nguồn thu nhập và một loại tài sản có giá trị Đặc biệt là đối với những người sống ở các cộng đồng nông thôn và ven đô, việc nâng cao mức sống vẫn chủ yếu được thực hiện bằng việc đa dạng hóa các hoạt động nông nghiệp (Worldbank, 2000) sử dụng đất canh tác dường như là sinh kế đầu tiên mà mọi người lựa chọn Trên thế giới, cây lúa được 250 triệu nông dân trồng, là lương thực chính của 1,3 tỉ người nghèo nhất trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của người nông dân Ở Việt Nam, dân số trên 80 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính Từ các cánh đồng lúa ở vùng đồng bằng cho đến những thửa ruộng bậc thang vùng miền núi, việc trồng lúa nước từ lâu đã là một đặc trưng cơ bản của nền nông nghiệp Việt Nam (J.-C Castella and A Erout, 2002) Trong đó Đồng bằng Sông Hồng được nhắc đến như là cái nôi của nền văn minh lúa nước Việt Nam Như vậy việc đánh giá sinh kế ĐBSH cần phải nhấn mạnh đến vai trò của các nguồn lực tự nhiên trong đó đất lúa là một trong những nguồn lực quan trọng Việc trả lời các câu
Trang 20hỏi: nguồn lực sinh kế nào, chiến lược sinh kế nào, thể chế-chính sách nào là quan trọng để đạt được sinh kế bền vững cho các nhóm đối tượng khác nhau Các kế hoạch phát triển cần phải toàn diện, nhất là phải xác định được những mối tương tác giữa các lĩnh vực làm ảnh hưởng đển sinh kế
1.3 Các nguồn lực sinh kế và các nhân tố tác động đến Sinh kế ĐBSH
1.3.1 Các nguồn lực tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Vùng Đồng bằng sông Hồng là phần lãnh thổ ở phía Bắc Việt Nam, có tọa
độ địa lý trong khoảng từ 20000' đến 21020' vĩ độ Bắc và từ 105030' đến 107000' kinh độ Đông, là vùng châu thổ được bao bọc bởi địa hình đồi núi ở ba mặt từ phía Bắc vòng sang phía Tây và xuống phía Nam Phía Đông của vùng giáp biển Đông được mở rộng ra như đáy của một tam giác với độ dài khoảng 130 km có nhiều cửa sông lớn, vịnh biển kín Vị trí của vùng là nơi hội tụ đầu mối giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội từ lâu đời của Việt Nam; với trung tâm là Thủ đô Hà Nội thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, tỏa đi khắp các miền, các vùng lãnh thổ trong cả nước, với các nước trong khu vực và trên thế giới.Vùng Đồng bằng sông Hồng nằm trong khu vực kinh tế- xã hội phát triển nhanh và năng động của cả nước, do đó có điều kiện tiếp thu, thừa hưởng lợi thế này trong quá trình xây dựng và phát triển
Trang 21Hình 1.3: Vị trí các tỉnh đồng bằng sông Hồng trong Việt Nam
1.3.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình của vùng tương đối đa dạng, phong phú bao gồm vùng núi, trung
du, đồng bằng và ven biển, nhìn chung địa hình có hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao trung bình từ 0,4 m đến 12 m so với mặt nước biển Toàn vùng có thể chia thành 4 dạng tiểu vùng địa hình tương đối, tiểu vùng núi, tiểu vùng trung du, tiểu vùng đồng bằng và tiểu vùng ven biển
Tiểu vùng núi và trung du nằm ở phía Bắc, phía Tây và phía Nam của vùng bao gồm các dãy núi đá vôi, các đồi thấp lượn sóng phân bố ở các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hải Dương, Hải Phòng Các tiểu vùng này có địa hình cao, đất đai tương đối tốt, thuận lợi cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi Ngoài ra còn phục vụ cho việc khái thác khoáng sản và nguyên vật liệu xây dựng
Trang 22Nhìn chung điều kiện địa hình của vùng cơ bản thuận lợi cho việc khai thác
sử dụng triệt để quỹ đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí dân cư, phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn của vùng
1.3.1.3 Khí hậu
Khí hậu của vùng mang tính chất khí hậu nhiệt đới, chịu ảnh hưởng rất mạnh của hai hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam và được phân thành 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông) Mùa xuân bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 4, nhiệt độ tăng dần, kèm theo mưa xuân cây trồng phát triển nhanh, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 7, thời tiết nóng nực, kéo theo mưa rào và gió bão, mùa thu từ tháng 8 đến tháng 10, thời tiết mát dịu, mùa đông từ tháng 11 năm đến tháng 1 năm sau, nhiệt độ xuống thấp, giá rét, kéo theo mưa phùn ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và
sinh hoạt của người dân (N Đ Ngữ, 2004)
Trang 23 Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm là 2305C, lượng bức xạ cao vào khoảng 115 kcal/cm2/năm, từ tháng 5 đến tháng 10 mặt đất có thể thu nhận từ
kcal/cm2/tháng Cán cân bức xạ ngay cả những tháng mùa đông đều dương, tổng số giờ nắng đạt tới 1.400 - 1.600 giờ/năm
Lượng mưa: Lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.500 - 2.000 mm,
lượng mưa phân bố theo mùa; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 lượng mưa chiếm trên 85% tổng lượng mưa cả năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa ít chiếm khoảng 15% lượng mưa cả năm
Độ ẩm: Độ ẩm trung bình các tháng trong năm chênh lệch không lớn, tháng
có độ ẩm cao nhất và tháng có độ ẩm thấp nhất chênh nhau 12% Độ ẩm trung bình tối đa là 92%, độ ẩm trung bình tối thiểu là 80% Độ ẩm trung bình tháng dưới 85% chỉ chiếm 35%
Nhìn chung khí hậu vùng Đồng bằng sông Hồng thuộc miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm, mưa nhiều và được phân hoá theo mùa, sự chênh lệch nhiệt
độ giữa các mùa và các tháng trong mùa tương đối lớn, lượng bức xạ và tổng số giờ nắng trong năm tương đối cao; mưa phân bố theo mùa, lượng mưa tập trung vào mùa hạ, độ ẩm không khí trung bình rất cao, đây là điều kiện thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng, phát triển quanh năm Tuy nhiên sự thay đổi thất thường trong chế độ mưa, gió gây trở ngại cho sản xuất và đời sống con người, đây cũng là nét đặc trưng nổi bật của khí hậu vùng Đồng bằng sông Hồng
Trang 24Hình 1.4: Nhiệt độ và lượng mưa trung bình tháng tại các trạm quan trắc thời kỳ
1970-2011 đồng bằng sông Hồng 1.3.1.3 Thuỷ văn
Mạng lưới sông ngòi: Đồng bằng sông Hồng có mạng lưới sông, ngòi, hồ, ao phong phú và đa dạng, có hai hệ thống sông chủ yếu là sông Hồng và sông Thái Bình với mật độ mạng lưới sông từ 1-1,3 km/km2, tạo nên vùng đồng bằng châu thổ phì nhiêu màu mỡ, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Sông Hồng là con sông lớn nhất miền Bắc có chiều dài 200km, có tổng lượng nước hàng năm khá lớn trung bình tới 1.220.109 m3 Lũ sông Hồng chịu ảnh hưởng trực tiếp của 3 sông, trong đó
Trang 25sông Đà chiếm 41- 61%, sông Lô 20-34%, sông Thao 15-22%, khi lũ của ba con sông này gặp nhau thì sông Hồng sẽ có các ngọn lũ lớn đột xuất
1.3.2 Nguồn lực con người
Đồng bằng sông Hồng là vùng dân cư đông đúc nhất cả nước Mật độ dân số trung bình là 949 người/km2 (năm 2011) Mặc dù tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số trong vùng giảm mạnh nhưng mật độ dân số vẫn cao, gấp 5 lần so với mật độ trung bình của cả nước, gấp gần 2,2 lần so với Đồng bằng sông Cửu Long, gấp 8 lần so với miền núi và trung du Bắc Bộ và gấp 10 lần so với Tây Nguyên
Hình 1.5: Mật độ dân số cấp huyện Đồng bằng sông Hồng, năm 2010
Những nơi dân cư đông nhất của vùng là Hà Nội (2013 người/km2 ), Bắc
(1.242người/km2) Ở các nơi khác, chủ yếu ở khu vực rìa phía Bắc và Đông Bắc của châu thổ, dân cư thưa hơn Sự phân bố dân cư quá đông ở Đồng bằng sông Hồng liên quan tới nhiều nhân tố như nền nông nghiệp thâm canh cao với nghề trồng lúa
Trang 26nước là chủ yếu đòi hỏi phải có nhiều lao động Trong vùng còn có nhiều trung tâm công nghiệp quan trọng và một mạng lưới các đô thị khá dày đặc Ngoài ra, Đồng bằng sông Hồng đã được khai thác từ lâu đời và có các điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho hoạt động sản xuất và cư trú của con người Đây là một thuận lợi vì vùng có nguồn lao động dồi dào với truyền thống kinh nghiệm sản xuất phong phú, chất lượng lao động dẫn đầu cả nước Thế nhưng, dân số đông cũng đem đến những khó khăn nhất định, gây sức ép nặng nề lên sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng
(Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê) Hình 1.6: Phân bố lao động trên 15 tuổi các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
Việt Nam là nước có diện tích canh tác tính theo đầu người rất thấp (892m2) Trên cái nền chung ấy, chỉ số này ở Ðồng bằng sông Hồng còn thấp hơn nhiều do bị sức ép quá nặng nề của dân số Ở đây, bình quân mỗi đầu người chỉ đạt khoảng ½ con số trung bình của cả nước Đất canh tác ít, dân đông nên phải đẩy mạnh thâm canh Song nếu thâm canh không đi đôi với việc hoàn lại đầy đủ các chất dinh dưỡng sẽ làm cho đất đai ở một số nơi bị giảm độ phì nhiêu Dân số đông và sự gia
Trang 27tăng dân số đã để lại những dấu ấn đậm nét về kinh tế – xã hội Mặc dù mức gia tăng dân số đã giảm nhiều, nhưng sản xuất nhìn chung chưa đáp ứng được nhu cầu tích lũy và cải thiện đời sống nhân dân Hàng loạt các vấn đề như việc làm, nhà ở, y
tế, văn hóa, giáo dục vẫn còn rất nan giải
1.2.6 Đặc điểm phát triển khu dân cư nông thôn
(Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê) Hình 1.7 : Phân bố nghèo các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
1.3.3 Phân bố dân cư
vùng Đồng bằng sông Hồng sống theo làng xã từ lâu đời Trong những năm gần đây cùng với quá trình chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông thôn và quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh tại địa bàn các thành phố, các thị xã, thị trấn một phần diện tích đất khu dân cư nông thôn ven đô đã chuyển sang đất đô thị Mặt khác do hình thành các khu, cum công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã kéo theo kinh tế dịch vụ phát triển, đây cũng là động lực để hình thành các thị trấn, thị tứ, trung tâm cụm xã, trung tâm xã có điều kiện cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện
Trang 28(Nguồn số liệu: Niên giám thống kê các tỉnh ĐBSH năm 2010)
Hình 1.8: Phân bố dân cư nông thôn ở Đồng bằng sông Hồng
Trên địa bàn mỗi xã có nhiều điểm dân cư nông thôn đó là các thôn, làng; hình thái phát triển không gian phổ biến là “chùm, điểm tương đối” (hình thái chùm diểm tương đối tập trung phân bố trên địa bàn xã có quy mô nhỏ, phù hợp với điều kiện thâm canh vùng đất đồng bằng hình thành lâu đời), mật độ điểm dân cư của vùng là tương đối dày 10 điểm/10 km2, với các hình thái:
- Hình thái điểm dân cư tập trung: chủ yếu là những điểm dân cư phát triển như các thị tứ, các trung tâm cụm xã, trung tâm xã, trung tâm kinh - tế xã và các nông, lâm trường quốc doanh
- Hình thức điểm dân cư phát triển theo tuyến chủ yếu theo các tuyến giao
thông, đó là các điểm dân cư nằm trên các trục giao thông quan trọng (các nút giao thông) hoặc ở các trung tâm khu kinh tế mới, trung tâm xã, nông lâm trường, trung
tâm cụm xã Đây là một hình thái phát triển mới, mầm mống của đô thị nhỏ, tốc độ phát triển mạnh, có ưu thế trong tương lai, khi có sự chuyển đổi cơ cấu nông
Trang 29nghiệp, công nghiệp hoá nông thôn lớn, kết hợp quá trình chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp, sẽ hình thành nên nhiều thị trấn, thị tứ (dạng đô thị)
Khu vực kinh tế nông nghiệp
Kể từ sau đổi mới 1989, kinh tế hộ gia đình được tái thiết, người nông dân trở thành đơn vị sản xuất tự chủ, đất đai được chia cho nông dân theo thời hạn sử dụng quy định trong luật năm 1993 Hệ thống sản xuất của các hộ nông dân nói chung và Đồng bằng sông Hồng nói riêng bao gồm sản xuất nông nghiệp thuần, nông nghiệp kiêm các ngành nghề phi nông nghiệp và sản xuất phi nông nghiệp, trong đó sản xuất nông nghiệp tương đối đồng nhất bao gồm canh tác cây lương thực, rau màu và chăn nuôi gia súc, gia cầm Trong những năm gần đây, quá trình
đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng ở ĐBSH là điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển hệ thống canh tác và tăng thu nhập bằng cách mở rộng các hoạt động phi nông nghiệp theo hướng sử dụng sản phẩm nông nghiệp và khai thác lao động nông nghiệp, các hoạt động phi nông nghiệp như sản xuất tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh thương mại dịch vụ, làm thuê thời vụ, đi xuất khẩu lao động (L
T Nghệ, 2006)
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản có sự chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hoá Cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiêp và lâm nghiệp, tăng dần tỷ trọng thuỷ sản Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 91,97% năm 2000 xuống còn 89,78% năm
2005 (bình quân mỗi năm giảm 0,44%); lâm nghiệp giảm từ 0,98% năm 2000 xuống còn 0,83% năm 2005 (bình quân mỗi năm giảm 0,03%); thuỷ sản tăng từ 7,05% năm 2000 lên 9,38% năm 2005 (bình quân mỗi năm tăng 0,47%).Một số mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản đã xâm nhập thị trường trong nước và thế giới như hoa quả, thuỷ hải sản
- Trồng trọt là ngành sản xuất chính trong nông nghiệp, luôn chiếm tỷ trọng cao trong giá trị sản xuất nông nghiệp Trong nhiều năm qua ngành trồng trọt ở các
Trang 30tỉnh trong vùng đã từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá tập trung, hình thành các vùng chuyên canh cây trồng cho năng suất cao và phẩm chất tốt, sản phẩm sản xuất ra gắn với thị trường Giá trị sản xuất ngành trồng trọt đã giảm xuống từ 72,90% (năm 2000) còn 67,30% (năm 2005)
- Chăn nuôi đang trở thành ngành sản xuất chính trong sản xuất nông nghiệp của vùng, giá trị sản lượng ngành chăn nuôi tăng từ 25,02% (năm 2000) lên 29,95% (năm 2005), số lượng, chất lượng đàn gia súc, gia cầm tăng đều qua các năm (đàn trâu, bò tăng 702,00 nghìn con (năm 2000) lên 831,70 nghìn con (năm 2005); đàn lợn tăng 2.022,10 nghìn con trong 5 năm; đàn gia cầm tăng 9.783 nghìn con từ năm
2000 đến năm 2005) Nhiều mô hình chăn nuôi trang trại theo quy mô công nghiệp được phát triển và nhân rộng
1.3.4 Tác động của các chính sách nhà nước
Từ khi đổi mới mở cửa (từ năm 1986) đến nay, Việt Nam đã không ngừng đổi mới chính sách đất đai, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, khiến nông nghiệp nông thôn phát triển mạnh và đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam Để có thể khái quát cơ chế tác động từ việc đổi mới chính sách trong nông nghiệp đến việc sử dụng đất tại đồng bằng Sông Hồng,
có thể sử dụng sơ đồ minh họa sau:
Hình 1.9: Kênh tác động của thay đổi chính sách đến thay đổi sử dụng đất nông
nghiệp
Đổi mới chính sách đất
đai - nông nghiệp
Thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội
Thay đổi sử dụng đất
Tác động gián tiếp Tác động
trực tiếp
Trang 311.3.4.1 Tổng quan về chính sách đổi mới của Việt Nam trong nông nghiệp từ năm
1986 đến nay
Trong một phần tư thế kỷ đổi mới vừa qua, việc đổi mới về chính sách đất
đai ở nông thôn Việt Nam có thể được chia làm ba (03) giai đoạn như sau (L Q
Sử, 2001):
Giai đoạn I (1981-1992): chuyển từ chế độ tập thể hóa nông nghiệp sang chế
độ khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình trong những năm 80 thế kỷ XX Trước những năm 80 thế kỷ XX, miền Bắc Việt Nam thực hiện chế độ tập thể hóa nông nghiệp Ngoài diện tích 5% ruộng (ruộng phần trăm) mà các hộ nông dân được phép giữ lại để gieo trồng rau màu riêng, toàn bộ phần đất còn lại dùng để sản xuất tập thể Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, chế độ tư hữu đất đai ở miền Nam bắt đầu được cải tạo, nhưng vẫn chưa triệt để Năm 1980, Việt Nam sửa đổi hiến pháp, thực hiện quốc hữu hóa đất đai, đẩy mạnh toàn diện tập thể hóa nông nghiệp, nông dân không được quyền quyết định sản xuất và bán sản phẩm ra thị trường Các chính sách kinh tế giai đoạn này dẫn tới nguy cơ khủng hoảng kinh tế xã hội, làm thui chột các nhân tố tích cực trong sản xuất Cộng thêm tác động của việc
“Ngăn sông, cấm chợ” (ngăn cấm vận chuyển lương thực, thực phẩm giữa các địa phương) cho nên tình trạng thiết hụt lương thực diễn ra trầm trọng, nhất là tại các tỉnh Miền Bắc Để khắc phục những hạn chế về mặt chính sách đã bộc lộ, đầu năm
1981, ngày 13 tháng 01 năm 1981 Ban Bí thư Trung ương đảng khóa V đã ra Chỉ
thị số 100/CT-TƯ về công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là Chỉ thị 100) Chỉ thị 100 đã hướng
dẫn các hợp tác xã thực hiện việc khoán sản phẩm đến hộ gia đình và người lao động; xã viên được đầu tư vốn, sức lao động trên khoán ruộng và hưởng trọn phần vượt khoán Đây là bước mở đầu để Việt Nam thực hiện chính sách khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình
Trang 32Đại hội VI năm 1986 đã quyết định đổi mới toàn diện, từng bước đẩy mạnh đổi mới các chính sách về nông nghiệp, nông thôn Văn bản đầu tiên do Nhà nước ban hành về đất đai và ruộng đất thể hiện tinh thần đổi mới của Đại hội VI là Luật Đất đai năm 1987 Luật đất đai 1987 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý, cấm mua bán dưới mọi hình thức, nhưng cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất Có thể thấy rằng, chính sách đất đai giai đoạn 1981-1992
đã thể hiện tinh thần đổi mới nhưng rất thận trọng, thực hiện từng bước chậm, chủ yếu là mang tính thăm dò, thí điểm; Những bước đi ban đầu chủ yếu là điều chỉnh trong nông nghiệp và các đơn vị tập thể như nông, lâm trường, hợp tác xã; Tuy nhiên, quyền sử dụng đất ổn định lâu dài của cá nhân vẫn chưa được thừa nhận
Giai đoạn II (1993-2000): bắt đầu từ những năm 90 thế kỷ XX, từng bước
xây dựng chế độ về quyền sở hữu đất đai, lấy “5 quyền” làm trung tâm Tháng 6/1993, Hội nghị toàn thể trung ương 5 khóa 7 nêu rõ phải để nông dân có “5 quyền” là: quyền trao đổi, quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyền thừa kế, quyền thế chấp đất đai Tháng 7/1993, Quốc hội Việt Nam công bố bộ “Luật đất đai” mới, xác nhận bằng pháp luật quyền sử dụng đất lâu dài và địa vị chủ thể kinh
tế của nông dân, quy định rõ thời hạn sử dụng đất lâu dài và địa vị chủ thể kinh tế của nông dân, quy định rõ thời hạn sử dụng đất canh tác nông nghiệp dùng để trồng cây nông nghiệp ngắn ngày và đất nuôi trồng thủy sản là 20 năm, thời hạn sử dụng dùng trong kinh doanh cây nông nghiệp dài ngày là 50 năm, nông dân sử dụng đất theo pháp luật, sau khi hết hạn có thể được gia hạn thêm; quyền sử dụng đất có thể được kế thừa, cũng có thể trao đổi hoặc dùng làm thế chấp, trong một số tình huống nào đó còn có thể cho thuê và chuyển nhượng, thời gian cho thuê và chuyển nhượng nhiều nhất là 3 năm
Luật Đất đai 1993 thực chất là thể chế hóa chính sách đất đai cho phù hợp với yêu cầu kinh tế-xã hội đặt ra Sau khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời, Chính phủ và các bộ, ngành đã có văn bản triển khai Luật này Nghị định 64/CP ngày27-9-1993
về đất nông nghiệp Nghị định 88/CP ngày 17-8-1994 về đất đô thị Nghị định
Trang 3302/CP ngày 15-1-1994 về đất lâm nghiệp Dựa theo những quy định trong Luật Đất đai 1993, Việt Nam đã xây dựng chế độ cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, quy định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chính quyền các huyện thống nhất ban hành, giấy chứng nhận do Chủ tịch huyện ký tên là văn bản pháp luật duy nhất giao quyền sử dụng đất cho nông dân, những thay đổi về quyền sử dụng đất phải đăng ký
Luật Đất đai 1993 có sự thay đổi cơ bản là nhà nước giao đất cho các chủ sử dụng ổn định, lâu dài và được thực hiện 5 quyền của người sử dụng đất (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp) Luật cũng nói về việc xác định giá các loại đất để tính thuế, lệ phí, tính giá trị tài sản khi giao đất và bồi thường thiệt hại khi giao đất Luật năm 1998 làm rõ thêm về thực hiện 5 quyền năng; bổsung quyền, nghĩa vụ của các tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất, cho thuê đất.Đến cuối những năm 1990, ngoài số đất địa phương tạm thời giữ lại do nhu cầu chung, 94% đất nông thôn Việt Nam đã được phân phối đến các hộ nông dân, trên 90% số hộ đã nhận được giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất
Việt Nam đã lần lượt sửa đổi, bổ sung “Luật đất đai” vào năm 1998 và năm
2001, công bố bộ “Luật đất đai” với điều chỉnh bổ sung lớn lần thứ 3 vào năm
2003, việc sử dụng đất có thời hạn được kéo dài tới 70 năm, xác định rõ nghĩa vụ của nhà nước và người sử dụng đất, có những quy định tỉ mỉ đối với việc phê duyệt, cho thuê, chuyển nhượng, đấu giá quyền sử dụng đất Luật sửa đổi lần này là chú trọng đến khía cạnh kinh tế của đất đai và vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai Điều đó được thể hiện bởi những qui định về khung giá các loại đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tính giá trị tài sản khi giao đất hoặc khi nhà nước bồi thường, qui hoạch và kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Giai đoạn III (2000-nay): Hoàn thiện thêm các điều kiện cho việc thương
mại hóa quyền sử dụng đất và quy mô hóa kinh doanh đất đai trên cơ sở xây dựng chế độ về quyền sở hữu đất đai hoàn chỉnh Đại hội IX của Đảng năm 2001 đề xuất xây dựng và phát triển thị trường bất động sản bao gồm cả buôn bán giao dịch
Trang 34quyền sử dụng đất Luật 2001 hoàn thiện những vấn đề trên, nhưng quan trọng nhất
là phân cấp và tăng cường quản lý nhà nước của chính quyền các cấp trong quản lý đất đai Đại hội X của Đảng năm 2006 lại tiến thêm một bước nêu rõ muốn đảm bảo chuyển hóa thuận lợi quyền sử dụng đất thành hàng hóa, làm cho đất đai thật sự trở thành vốn phát triển, yêu cầu phải sớm giải quyết hiện trạng đất canh tác của các
hộ nông dân nhỏ lẻ phân tán, khuyến khích trao đổi đất canh tác tập trung, dùng cho thuê hoặc góp cổ phần bằng đất đai
1.3.4.2 Tác động của những chính sách đổi mới trong nông nghiệp này đến nền kinh tế Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH)
Tác động của đổi mới chính sách trong nông nghiệp có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các khía cạnh biến động của việc sử dụng đất đai và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) Chuyển đổi cơ cấu kinh tế có bản chất là sự điều chuyển lao động từ khu vực có năng suất thấp sang khu vực có năng suất cao Chuyển đổi cơ cấu kinh tế kéo theo hệ quả khá mật thiết là chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất; chuyển đổi sở hữu, quy mô tích tụ đất; chuyển đổi tập quán sản xuất, kinh doanh, cây trồng vật nuôi; chuyển đổi thu nhập và phân hóa thu nhập hộ gia đình
Xu hướng chung của việc chuyển đổi cây trồng vật nuôi ở ĐBSH thời gian qua là tập trung vào cây lương thực để tự túc lương thực trong thời gian đầu và sau
đó chuyển sang cây thức ăn gia súc và chăn nuôi, rồi phát triển các cây có dầu, đạm, rau, quả có giá trị cao trên thị trường Công nghiệp chế biến thực phẩm trong thời gian qua cũng có bước phát triển đáng kể, tuy còn nhiều hạn chế về thương hiệu và trình độ công nghệ so với các nước trong khu vực
Theo quan điểm của Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam (Đ T Anh) thì các nhân tố giúp xác định quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn ĐBSH là:
- Tăng năng suất cây lương thực để giải quyết an ninh lương thực và xóa đói giảm nghèo Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phát triển cây thức ăn gia súc
Trang 35nhằm phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.Chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
đa dạng hóa những cây hàng hóa như rau, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày, cây công nghiệp dài ngày phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu Thúc đẩy đa dạng hóa cây trồng và đa dạng hóa nội ngành thông qua chế biến ở các vùng chuyên môn hóa
- Phát triển công nghiệp chế biến nông sản nhằm thúc đẩy quá trình đa dạng hóa nội ngành Phát triển công nghiệp nông thôn, cụm làng nghề và dịch vụ nông thôn nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập của nông dân và đẩy nhanh công nghiệp hóa Phát triển các khu công nghiệp phân bổ hợp lý trong môi trường nông thôn nhằm tạo sự phát triển cân đối giữa nông thôn và đô thị, giảm sự tập trung cao ở các đô thị lớn
- Đầu tư vào vốn con người thông qua giáo dục, sức khỏe, dạy nghề nhằm nâng cao trình độ chuyên ngành cho nông dân
Chính sách đất đai cũng làm nảy sinh những tiêu cực mới Diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp và manh mún, quản lý sử dụng kém hiệu quả Với tốc độ tăng dân số bình quân từ năm 1990 đến năm 2004 là 1,6%/năm làm đất canh tác ở các vùng nông thôn Việt Nam ngày càng bị thu hẹp lại Bình quân mỗi một nông dân có 0,3678 ha đất canh tác, thuộc loại thấp nhất thế giới Đồng bằng Sông Hồng, những tỉnh thuộc khu vực sản xuất lúa truyền thống đều có diện tích sử dụng đất nông nghiệp rất thấp Đi cùng với diện tích đất nông nghiệp hạn chế, chính sách chia ruộng cho nông dân hậu thời kỳ Hợp tác hóa là tình trạng manh mún ruộng đất Việc chia đất nông nghiệp đã được thực hiện theo nguyên tắc có tốt có xấu, có xa có gần, có cao có thấp để tạo công bằng nhưng lại làm cho đất đai trở nên manh mún, phân tán do hộ gia đình có quá nhiều mảnh đất với diện tích nhỏ, có khi chỉ bằng chiếc chiếu Là nước nông nghiệp với 80% dân số sống bằng nghề nông nhưng ruộng đất ở ta lại manh mún với 70 triệu mảnh đất Đồng bằng sông Hồng hiện là khu vực ruộng đất manh mún nhất Mỗi hộ dân ở đây trung bình có tới gần 10 mảnh ruộng ở các vị trí khác nhau
Trang 36Trong quá trình đô thị hóa nông thôn và thương mại hóa đất đai, nhìn chung Việt Nam đã tạo ra một thị trường đất đai chính thức khá năng động ở khu vực nông thôn Nhưng do chính sách pháp luật không kiện toàn, quản lý không hoàn thiện và
do một số cá nhân tham nhũng làm nảy sinh một số vấn đề trong quản lý và sử dụng đất đai ở nông thôn Việt Nam Có giai đoạn, nông dân liên tục khiếu kiện kêu oan lên các cấp chính quyền, có vụ tụ tập đông người gây ra các vấn đề an ninh, xã hội
Tỷ lệ đất nông nghiệp theo đầu người (ha/người)
(Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê) Hình 1.10: Thay đổi tỷ lệ đất Nông nghiệp theo đầu người ở ĐBSH
0.04 0.05 0.06
< 0.03
> 0.07
Năm 2005
Năm 2010
Trang 37và hiệu quả sử dụng nước trong nông nghiệp… Đối tượng chính để áp dụng Viễn thám trong nông nghiệp là các loại lớp phủ khác nhau như: thực vật, khu dân cư, đất trống và mặt nước có độ phản xạ khác nhau tại các kênh phổ nhìn thấy, kênh nhiệt
và kênh sóng radar Kỹ thuật xử lí ảnh sử dụng sụ khác biệt này trong phân loại, chiết tách các thông tin cần thiết đối với vùng đất nông nghiệp và đặc biệt là vùng trồng lúa để xác định: quy mô, diện tích, tình trạng sinh trưởng, sâu bệnh, khô hạn, ngập úng, năng suất; từ đó đưa ra các cảnh báo theo tần suất nhất định Người ta lập bản đồ các vùng sản xuất lúa bằng sử dụng độ phản xạ dải phổ quang học, nhờ đó kiểm kê diện tích, ước tính và dự báo sản lượng, và đánh giá mức độ
thiệt hại(T G V Niel and T R McVicar, 2001) Dải sóng radar là thích hợp cho
việc giám sát sự tăng trưởng cây lúa, lập bản đồ và dự báo năng suất mùa vụ (Lâm Đạo Nguyên, 2008) Người ta còn có thể dùng dải phổ nhiệt để xác định nhiệt độ
bề mặt (bao gồm các nhiệt độ mặt nước) và lập bản đồ độ ẩm bề mặt (T Hùng,
2007) Hơn nữa, đất nông nghiệp có đặc tính chung là thời vụ và việc hiểu rõ chu kỳ sinh trưởng cây trồng nói chung và của cây lúa nói riêng là đặc biệt quan trọng cho việc áp dụng thành công công nghệ viễn thám trong nông nghiệp Do vậy, sử dụng
dữ liệu viễn thám đa thời gian sẽ gia tăng khả năng nghiên cứu và theo dõi mùa màng nói chung và mùa vụ lúa nói riêng Những năm qua, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã và đang có nhiều nghiên cứu ứng dụng tư liệu viễn thám đa thời gian
Trang 38trong theo dõi mùa màng nói chung và mùa vụ lúa nói riêng Tùy vào yêu cầu về mức độ chi tiết của nghiên cứu mà dữ liệu viễn thám với độ phân giải không gian khác nhau có thể được lựa chọn Các tư liệu viễn thám quang học độ phân giải cao như Landsat và SPOT và siêu cao như IKONOS và Quickbird có thể sử dụng để theo dõi chi tiết từng thửa ruộng Tuy nhiên với giá thành cao và phần lớn thời gian
mà mùa vụ lúa trồng ở miền nhiệt đới là vào mùa mưa, thời gian mà hiếm khi có được ảnh quang học không bị mây che phủ nên tư liệu viễn thám độ phân giải cao hiện thường được sử dụng cho khu vực nông nghiệp quy mô nhỏ Đối với việc giám sát vùng trồng lúa rộng lớn, thì những tư liệu viễn thám có độ phân giải không gian trung bình hoặc thấp (250 – 1000 m) và chu kỳ lặp lại nhanh (hàng ngày) như ảnh NOAA/AVHRR hoặc MODIS thường được sử dụng cho việc theo dõi sự tăng trưởng của mùa vụ lúa
MODIS là thiết bị chủ lực được gắn vào 2 vệ tinh TERRA (còn gọi là vệ tinh EOS AM) và vệ tinh AQUA (còn gọi là vệ tinh EOS PM) Quĩ đạo của Terra là vòng quanh trái đất từ Bắc xuống Nam, ngang qua xích đạo vào một giờ nhất định của buổi sáng, trong khi đó, Aqua đi ngược lại, từ Nam lên Bắc và ngang qua xích đạo vào buổi chiều, cũng vào 1 giờ nhất định Terra MODIS và Aqua MODIS ghi nhận dữ liệu trong 36 dải quang phổ và các nhóm sóng (spectral bands or groups of wavelengths) có độ dài sóng từ 0.4μm đến 14.4μ m và độ phân giải không gian là 250m (dải 1, 2), 500m (dải 3 đến dải 7) và 1000m (dải 8 đến dải 36) trên toàn bộ mặt đất MODIS có chu kỳ chụp lặp lại cao, trong một ngày đêm có thể thu nhận được 2 ảnh ban ngày và 2 ảnh ban đêm đối với mọi vùng trên trái đất Vệ tinh TERRA và AQUA bay qua lãnh thổ Việt Nam 4 lần trong một ngày vào khoảng 1giờ 30 phút, 10h 30 phút, 13 giờ 30 phút, 20 giờ 30 phút tuỳ theo quỹ đạo bay
Trang 39Bảng 2.1: Đặc trưng của các band phổ ảnh MODIS và ứng dụng
Ứng dụng trước đây Kênh phổ Bước sóng Độ phân giải (m)
Ranh giới đất/mây/
Trang 40nước và tại Việt Nam (T Hùng, 2007, T Sakamoto, 2009, Z Xia, et al., 2005) Chỉ
số thực vật chuẩn NDVI hoặc (VI, EVI, RVI, DVI…) kết hợp thông tin trong kênh phổ màu đỏ và kênh hồng ngoại gần đã được sử dụng một cách hiệu quả trong quan trắc tình trạng lớp phủ thực vật và phân biệt giữa các loại lớp phủ thực vật và các lớp phủ khác Các thuật toán phân loại đối với dữ l iệu chuỗi thời gian NDVI (từ ảnh NOAA/AHVRR và MODIS) sử dụng chỉ số tương tự tổng TSS, hoặc phân tích