Theo Lê Trung Hoa trong tác phẩm ”Địa danh học Việt Nam” có định nghĩa: Địa danh là tên gọi của các đối tượng địa lý trên bề mặt Trái Đất bao gồm cả đối tượng địa lý tự nhiên, đối tượng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐINH THỊ BẢO HOA
HÀ NỘI – 2011
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
3 Mục tiêu của đề tài 5
4 Nhiệm vụ của đề tài 5
5 Phương pháp nghiên cứu thực hiện đề tài 6
6 Sản phẩm của đề tài 6
7 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA DANH VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan về địa danh 7
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về địa danh 7
1.1.2 Dưới góc độ xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh 8
1.2 Cấu tạo của địa danh Việt Nam 9
1.3 Phân loại địa danh 10
1.4 Các phương pháp nghiên cứu địa danh 13
1.4.1 Các nguyên tắc nghiên cứu địa danh 13
1.4.2 Các phương pháp nghiên cứu địa danh 13
1.5 Công tác địa danh của các nước trên thế giới 15
1.5.1 Liên hợp quốc với công tác địa danh 15
1.5.2 Công tác địa danh của một số nước trên thế giới 23
1.6 Quá trình phát triển và sử dụng địa danh ở Việt Nam 24
1.6.1 Quá trình hình thành chữ Việt và Việt hóa địa danh 24
1.6.2 Tình hình tổ chức nghiên cứu địa danh ở Việt Nam 27
1.7 Cơ sở khoa học của công tác xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh 28
1.7.1 Cơ sơ ̉ đi ̣a lí ho ̣c 28
1.7.2 Cơ sơ ̉ ngôn ngữ ho ̣c 28
1.7.3 Cơ sơ ̉ lịch sử và dân tô ̣c ho ̣c 29
1.7.4 Cơ sơ ̉ bản đồ ho ̣c 29
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG CẤU TRÚC CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA DANH 32
2.1.1 Khái niệm 32
2.1.2 Cấu tạo dữ liệu địa danh 33
2.2 Hiện trạng dữ liệu địa danh 36
2.3 Cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh 36
2.3.1 Nhóm tỷ lệ 1:5 000; 1:10 000 39
2.3.2 Nhóm tỷ lệ 1:25 000; 1:50 000 39
2.3.3 Nhóm tỷ lệ 1:100 000; 1:250 000 40
2.3.4 Nhóm tỷ lệ 1:500.000; 1:1000 000 41
2.4.4 Quy định về gán mã mở rộng 45
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA DANH TỈNH LAI CHÂU 47
3.1 Khái quát tình hình đặc điểm khu vực 47
3.1.2 Các đơn vị hành chính 47
3.2 Hiện trạng tư liệu 47
3.3 Lựa chọn tỷ lệ bản đồ để thực nghiệm 48
3.4 Các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu được áp dụng 48
3.4.1 Các nguyên tắc 48
3.4.2 Các phương pháp 49
3.5 Cấu trúc CSDL địa danh 50
3.5.1 Địa danh dạng vùng 50
3.5.1.1 Địa danh hành chính 50
Trang 4Tên lớp: HanhChinh 50
3.5.1.2 Địa danh thủy văn 51
3.5.1.3 Địa danh biển đảo 51
3.5.2 Địa danh dạng điểm 52
3.5.2.1 Địa danh dân cư 52
3.5.2.3 Địa danh văn hóa lịch sử 54
3.5.2.4 Địa danh kinh tế xã hội 54
3.5.3 Địa danh dạng tuyến 55
3.6 Quy trình thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh tỉnh Lai Châu 57
3.7 Nội dung các bước xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh 58
3.7.1 Xây dựng cấu trúc CSDL địa danh tỉnh Lai Châu bằng phần mềm Visio 58
3.7.2 Thống kê địa danh, phân loại và tách lọc địa danh theo cấu trúc đã được thiết kế 60 3.7.3 Xác minh địa danh 62
3.7.5 Chuyển đổi khuôn dạng của dữ liệu 65
3.7.6 Nhập thông tin thuộc tính 67
3.7.7 Kiểm tra nghiệm thu 69
3.7.8 Giao nộp sản phẩm 69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cơ sở dữ liệu : CSDL
Công ty ESRI : ESRI
Structured Query Language : SQL
Ủy ban nhân dân : UBND
Thiết kế kỹ thuật dự toán : TKKT-DT
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Địa danh nói chung và địa danh bản đồ nói riêng là một trong những thành phần quan trọng phản ánh đời sống văn hóa của con người qua các thời kỳ lịch sử, tuy nhiên địa danh thể hiện trên các loại bản đồ địa hình còn có nhiều điểm chưa thống nhất
Địa danh bản đồ là một thành phần của ngôn ngữ bản đồ, giúp cho người
sử dụng bản đồ có cái nhìn tổng quát về khu vực cần nghiên cứu, đồng thời cũng
là thành phần cơ sở của nền địa lý để các ngành quy hoạch, giao thông, thủy điện, du lịch, …sử dụng trong thực tiễn
Địa danh trên bản đồ, đặc biệt là bản đồ địa hình hiện sử dụng không thống nhất với địa danh thực tế, ví dụ như địa danh Khuổi Bốc thể hiện trên bản
đồ địa hình có phiên hiệu F48-56-B-a ở xã Thanh Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn nhưng trên thực tế địa danh này không tồn tại mà nguyên nhân có thế
do trong quá trình thành lập bản đồ đã có sự nhầm lẫn, mặt khác địa danh giữa các bản đồ địa hình thành lập ở các thời điểm khác nhau cũng có những khác nhau, ví dụ như địa danh Tục Mục ở xã Đông Ngũ, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh thì trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1:100.000 lưới chiếu Bonne được ghi là Hà Gian nhưng trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000 lưới chiếu Gauss thì lại ghi là Tục Mục Chính vì vậy, việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh phục vụ công tác lập bản đồ để sử dụng thống nhất trong cả nước là một yêu cầu cấp thiết
Hiện nay, thông tin về địa danh hầu như còn phân tán ở các cơ quan khác nhau như thông tin địa danh quốc tế được lưu trữ ở Bộ Tài nguyên và Môi trường, địa danh biển đảo được lưu trữ ở Bộ Nội vụ, địa danh hành chính được
Bộ Nội vụ và Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng lưu trữ, địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, hiện nay đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chuẩn hóa trên toàn quốc (đã thực hiện được ở 15 tỉnh khu vực miền núi phía Bắc) Trước thực trạng lưu trữ dữ liệu địa danh hiện nay như vậy, việc thống nhất dữ liệu địa danh về một mối là công việc cần làm và phải làm để phục vụ các mục đích khác nhau, đặc biệt phục vụ công tác lập bản đồ, bảo về chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ Để thực hiện việc đó thì việc xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh cần phải được nghiên cứu và thực hiện
Trang 7Xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh bản đồ làm tăng tính chính xác của bản đồ, làm cơ sở để xây dựng các loại bản đồ và xây dựng CSDL nền thông tin địa lý Quốc gia thống nhất về địa danh, làm căn cứ thống nhất để các ngành
sử dụng địa danh thống nhất
Xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh bản đồ để xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh thống nhất phục vụ nghiên cứu và phát triển văn hóa, lịch sử các vùng miền trong cả nước
Xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh bản đồ góp phần xây dụng chuẩn cơ sở dữ liệu địa danh thống nhất hướng tới hội nhập, giao lưu với các nước trên thế giới, tiến tới việc xây dựng Ủy ban địa danh quốc gia
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu, thiết kế cấu trúc CSDL địa danh Việt Nam trên bản đồ địa hình
- Ứng dụng cụ thể để xây dựng cấu trúc CSDL địa danh trên một đơn vị hành chính
3 Mục tiêu của đề tài
- Tổng hợp lý thuyết về địa danh học, địa danh bản đồ, cơ sở dữ liệu
- Xây dựng cấu trúc CSDL địa danh phục vụ công tác lập bản đồ
- Xây dựng thử nghiệm cơ sở dữ liệu địa danh trên một đơn vị hành chính theo cấu trúc cơ sở dữ liệu đã xây dựng, làm căn cứ để tiến hành nghiên cứu chuẩn quốc gia về địa danh sau này
4 Nhiệm vụ của đề tài
Thu thập, phân tích các đề án, dự án về địa danh bản đồ đã được thực hiện trong nước
Thu thập, nghiên cứu các chuẩn Quốc gia về CSDL nền thông tin địa lý - GIS
- Thu thập, đánh giá hiện trạng địa danh bản đồ (dự kiến ở bản đồ địa hình
Trang 85 Phương pháp nghiên cứu thực hiện đề tài
- Phương pháp thống kê và điều tra thực địa
- Phương pháp chuyên gia kết hợp thực nghiệm
- Phương pháp chồng xếp bản đồ đa thời gian
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, tài liệu và kế thừa
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, cấu trúc luận văn gồm 3 chương: Chương 1 Tổng quan về địa danh và các phương pháp nghiên cứu
Chương 2 Xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh
Chương 3 Xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh tỉnh Lai Châu
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA DANH VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỊA DANH
1.1 Tổng quan về địa danh
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về địa danh
Địa danh gắn liền với các công cuộc tìm kiếm, khám phá những vùng đất của loài người, nó là yếu tố động, liên quan đến sự xuất hiện hay mất đi của các đối tượng địa lý, sự thay đổi tên gọi của các đối tượng địa lý Chúng ta vẫn thường sử dụng địa danh trong đời sống hàng ngày nhưng có lẽ ít người để ý đến khái niệm địa danh là gì?
Theo Lê Trung Hoa trong tác phẩm ”Địa danh học Việt Nam” có định nghĩa: Địa danh là tên gọi của các đối tượng địa lý trên bề mặt Trái Đất bao gồm
cả đối tượng địa lý tự nhiên, đối tượng địa lý nhân tạo được con người sử dụng trong quá trình sinh sống, là một bộ phận không thể tách rời của cuộc sống xã hội
Theo định nghĩa trong Đại Từ điển tiếng Việt: Địa danh là tên các vùng miền, tên địa phương
Trong bài ”Địa danh nước ngoài trên bản đồ thế giới: khái niệm, thuật ngữ và phương thức nhập nội địa danh” của GS.TS Hoàng Thị Châu trên website http//ngonngu.net có đưa ra định nghĩa: Địa danh hay là tên địa lí (toponym, geographical name) là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính,… được con người đặt
ra
Địa danh có được định nghĩa như thế nào thì mỗi địa danh ra đời trong hoàn cảnh nhất định phản ánh thời điểm lịch sử xã hội chung quanh địa danh đó với rất nhiều biến cố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngôn ngữ,… được lưu trữ trong địa danh như Điện Biên Phủ, Quảng Trị Từ đó cho thấy , địa danh là tên gọi của các đối tượng trên bề mặt Trái Đất do con người đặt và sử dụng trong quá trình sinh sống và phát triển Do địa danh được hình thành theo quá trình sinh sống của con người nên địa danh cũng có quá trình hình thành, phát triển và biến đổi theo trong cuộc sống của con người, phản ánh các thời điểm của xã hội loài người Từ đó hình thành bộ môn khoa học nghiên cứu địa danh, được gọi là địa danh học Địa danh học là một bộ môn nghiên cứu về địa danh,
Trang 10phân loại địa danh, các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh, phân vùng địa danh, phương pháp đặt địa danh, cấu tạo của địa danh, vòng đời của địa danh
Địa danh được thể hiện trên bản đồ được gọi là địa danh bản đồ, địa danh bản đồ có đặc điểm khác với địa danh trong ngôn ngữ là được xác định trong mô hình không gian thu nhỏ của thế giới thực theo quy định của bản đồ về tỷ lệ, về
mô hình, ký hiệu
1.1.2 Dưới góc độ xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh
Địa danh thể hiện trên bản đồ là tên các đối tượng địa lý thể hiện trên bản
đồ, bao gồm danh từ chung chỉ loại và tên gọi của đối tượng địa lý đó
Danh từ chung có thể được ghi trên bản đồ như xóm, thôn, … hoặc cũng
có thể được thể hiện qua cách biểu diễn đối tượng trên bản đồ như kiểu chữ, màu chữ hoặc ký hiệu viết tắt nhưng bất kỳ đối tượng nào được thể hiện trên bản
đồ thì cũng được xếp loại vào một chuyên đề nhất định, gắn với một danh từ chung hoặc được ký hiệu theo một danh từ chung (có thể danh từ chung không được ghi cụ thể mà chỉ thể hiện qua màu chữ, kiểu chữ, )
Tên của đối tượng địa lý chính là thành phần quan trọng nhất của địa danh
để phân biệt đối tượng này với đối tượng khác mặc dù có thể là cùng có tên gọi giống nhau như địa danh Cầu Giấy có thể có Quận Cầu Giấy và Cầu Giấy,…
Như vậy, ta có thể nhận thấy rằng một địa danh nói chung sẽ bao gồm hai thành phần cơ bản là danh từ chung chỉ loại đối tượng và địa danh Khi các danh
từ chung trở thành một bộ phận cấu thành của địa danh thì viết hoa chữ cái đầu của danh từ chung như sau:
Quận Cầu Giấy: danh từ chung + địa danh
Cầu Giấy: danh từ chung + địa danh trong đó chữ “Cầu” là danh từ chung
đã trở thành một bộ phận cấu thành của địa danh và được viết hoa chữ ”C”, tuy nhiên đây là trường hợp rất khó xác định khi nào thì danh từ chung trở thành một bộ phần của địa danh, khi nào thì không trở thành một bộ phận của địa danh Thông thường thì địa danh có một âm tiết thì danh từ chung của chúng thường đi kèm và trở thành một bộ phận của địa danh
Việc nghiên cứu địa danh giúp ta xác định thế nào là địa danh, có bao nhiêu loại địa danh ở Việt Nam, người Việt có mấy phương thức đặt địa danh, cấu tạo của địa danh,… tuy nhiên trong đề tài này, học viên không đi sâu vào
Trang 11nghiên cứu địa danh theo hướng cách đặt địa danh, âm tiết của địa danh, mà học viên chỉ giới thiệu sơ qua về địa danh học ở khía cạch ngôn ngữ học để có một cái nhìn tổng thể về địa danh
1.2 Cấu tạo của địa danh Việt Nam
Cấu tạo địa danh dưới góc độ địa danh học và ngôn ngữ học có hai kiểu cấu tạo chủ yếu là cấu tạo đơn và cấu tạo phức
1.2.1 Địa danh có cấu tạo đơn
Địa danh có cấu tạo đơn là địa danh gồm có một từ đơn đơn âm tiết hoặc một từ đơn đa tiết thuộc loại cấu tạo đơn Các địa danh có thể là danh từ, động
từ, hoặc số từ nhưng đã chuyển thành danh từ như Nghĩa Tân, Rạch Lở, Chợ Mới, Phường 8, …
1.2.2 Địa danh có cấu tạo phức
Là các địa danh gồm hai thành tố có nghĩa (từ, ngữ) trở lên thuộc loại cấu tạo phức Loại này có thể chia ra như sau:
a Loại gồm các thành tố có quan hệ đẳng lập:
Loại này gồm các thành tố thuộc cùng từ và có cùng chức năng
+ Với địa danh thuần Việt: Loại địa danh thuần Việt có cấu tạo đẳng lập không nhiều như vùng Gò Môn (Gò Vấp + Hóc Môn), …
+ Với địa danh Hán Việt: Loại địa danh Hán Việt thường có cách cấu tạo này và thành tố thường là tính từ hoặc danh từ như Tân Phú, An Lạc, … Đôi khi hai, ba địa danh Hán Việt sát nhập thành một như Phú Khánh (Phú Yên + Khánh Hòa) Hà Sơn Bình (Hà Đông + Sơn Tây + Hòa Bình), …
Trang 12+ Địa danh hỗn hợp: Đa số có cấu tạo danh từ + danh từ, một số ít có cấu tạo danh từ + danh ngữ/ số từ / tính từ như huyện Hàm Tân, huyện Hàm Thuận Bắc, …
1.3 Phân loại địa danh
Tùy theo từng hướng nghiên cứu, cách tiếp cận mà các nhà nghiên cứu địa danh đã phân loại địa danh theo cách nghiên cứu của mỗi người, cụ thể như sau:
- Các nhà địa danh học Liên Xô cũ đã chia địa danh theo đối tượng mà địa danh thể hiện, tức là dựa vào nội dung của nó Trong cuốn sách Toponimija Moskvy, G.L Smolisnaja và M.V Gorbanevskij đã chia địa danh làm 4 loại:
1) Phương danh (tên các địa phương)
2) Sơn danh (tên núi, gò, đồi, …)
3) Thủy danh (tên các dòng chảy, hồ, …)
4) Phố danh (tên các đối tượng trong thành phố)
Còn A.V Superanskaja trong Chto takoe toponimika chia địa danh làm 7 loại như sau:
1) Phương danh (tên các địa phương)
2) Thủy danh (tên các sông, suối, hồ, …)
3) Sơn danh (tên núi, gò, đồi, …)
4) Phố danh (tên các đối tượng trong thành phố)
5) Viên danh (tên các quảng trường, công viên)
6) Lộ danh (tên các phố)
7) Đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, trên nước, trên không)
- Trong các bài viết của Trần Thanh Tâm “Thử bàn về địa danh Việt Nam” có chia địa danh Việt Nam làm 6 loại:
1) Loại đặt theo địa hình và đặc điểm
2) Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian
3) Loại đặt theo tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử
4) Loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu
5) Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế
6) Loại đặt theo sinh hoạt xã hội
Trang 13- Trong hai cuốn sách “ Địa danh Việt Nam” và “Một số vấn đề về địa danh Việt Nam”, Nguyễn Văn Âu đã phân loại địa danh theo ba cấp: loại, kiểu
và dạng
1) Loại địa danh
1.1) Địa danh tự nhiên: sông Hồng, núi Trường Sơn, …
1.2) Địa danh kinh tế - xã hội: làng Thượng Cát, huyện Sa Pa, …
2) Kiểu địa danh
2.1) Thủy danh: sông Hồng, hồ Núi Cốc,…
2.2) Sơn danh: núi Thằn Lằn, núi Bà Đen,…
2.3) Lâm danh: rừng Cúc Phương, rừng Tánh Linh, …
2.4) Làng xã: làng Trại, xã Hải Bối, …
2.5) Huyện thị: huyện Sa Pa, huyện Từ Liêm,…
3.3) Đồi núi: Trường Sơn, Tây Côn Lĩnh
3.4) Hải đảo: Côn Đảo, Trường Sa, …
3.12) Quốc gia: Việt Nam, Ấn Độ, …
- Trong cuốn sách “Địa danh học Việt Nam”, Lê Trung Hoa đã chia địa danh ra làm 4 loại như sau:
1) Địa danh chỉ địa hình tự nhiên
2) Địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều
Trang 143) Địa danh chỉ các đơn vị hành chính
4) Địa danh chỉ vùng
Theo quan điểm của học viên về địa danh trên quan điểm bản đồ thì mỗi địa danh tương ứng với một đối tượng địa lý trên bề mặt Trái Đất, được biểu diễn trên bản đồ nên việc phân loại địa danh theo nhóm đối tượng thể hiện trên bản đồ là phù hợp với cách thể hiện bản đồ Mặt khác, việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh được thể hiện trên bản đồ trên cơ sở phân loại địa danh theo các nhóm đối tượng thể hiện trên bản đồ tạo điều kiện thuận lợi trong việc tra cứu, lưu trữ và sử dụng địa danh trong công tác thành lập bản đồ và các mục đích khác Từ những quan điểm như vậy học viên tạm phân loại địa danh theo cách phân loại nhóm đối tượng trên bản đồ như sau:
1) Địa danh hành chính (tên các tỉnh, thành phố, quận, huyện, phường, xã) 2) Địa danh dân cư (tên các điểm dân cư như thôn, xóm, bản, làng, ) 3) Địa danh sơn văn (tên các dãy núi, núi, đỉnh núi, )
4) Địa danh thủy văn (tên sông, suối, hồ, )
5) Địa danh giao thông (tên các đường giao thông quốc gia, tỉnh, )
6) Địa danh văn hóa lịch sử (tên các điểm văn hóa lịch sử như bảo tàng, ) 7) Địa danh kinh tế xã hội (tên các điểm kinh tế xã hội như khu công nghiệp, công viên, )
8) Địa danh biển đảo (tên các biển, các đảo, quần đảo, bãi ngầm, )
Ta có sơ đồ như sau:
Địa danh Việt Nam
Trang 151.4 Các phương pháp nghiên cứu địa danh
1.4.1 Các nguyên tắc nghiên cứu địa danh
Trong quá trình nghiên cứu địa danh, các nhà địa danh học đã đưa các nguyên tắc nghiên cứu địa danh như sau:
1) Phải am hiểu lịch sử địa bàn nghiên cứu:
Lịch sử một vùng đất bao gồm các biến cố chính trị, quá trình sinh sống của các dân tộc, … do đó việc nghiên cứu địa danh cần sử dụng tư liệu của các ngành sử học, dân tộc học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, địa lý lịch sử, …
2) Phải am hiểu địa hình của địa bàn nghiên cứu:
Địa hình có hai loại chính là địa hình cao và địa hình thấp Địa hình cao gồm núi, đồi, gò, …Địa hình thấp gồm sông, rạch, biển, hồ, … Cần biết địa hình
để hiểu vì sao ở chỗ này, chỗ kia có nhiều địa danh mang các từ chỉ địa hình
3) Phải tìm những hình thức cổ của địa danh:
Là một từ ngữ như các từ ngữ khác, địa danh chịu sự tác động của các quy luật ngữ âm Do đó, một số địa danh đã biến đổi qua nhiều hình thức ngữ âm
4) Phải nắm vững các đặc điểm về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của phương ngữ tại địa bàn:
Superanskaja đã viết “Nhiều địa danh được sinh ra trong các phương ngữ,
từ chất liệu phương ngữ” Bởi vậy, nếu không có những kiến thức về phương ngữ tạo ra địa danh, ta không hiểu rõ nguồn gốc và ý nghĩa của một số địa danh Chẳng hạn nếu không hiểu sự phát âm lẫn lộn giữa hai âm đầu S và X trong phương ngữ Nam Bộ thì ta không thể hiểu nguồn gốc của địa danh Hàng Xanh (vốn là Hàng Sanh)
5) Phải thận trọng trong việc vận dụng các phương pháp ngôn ngữ học khi phân tích địa danh:
Địa danh được cấu tạo bởi những đơn vị ngôn ngữ, mặt khác các phương pháp của ngôn ngữ học thường mang đến những kết quả có độ chính xác cao nên rất có giá trị khoa học
1.4.2 Các phương pháp nghiên cứu địa danh
Trên cơ sở các nguyên tắc nghiên cứu địa danh, các nhà địa danh học cũng đưa ra các phương pháp nghiên cứu địa danh như sau:
1) Phương pháp thống kê phân loại
Trang 16Trước khi bắt tay nghiên cứu địa danh ở vùng nào, chúng ta phải thống
kê, phân loại toàn bộ địa danh vùng đó Qua bảng thống kê, phân loại địa danh này, ta có thể thấy rõ số lượng từng loại địa danh, từ đó rút ra đặc điểm của từng loại nói riêng và đặc điểm địa danh toàn vùng nói chung
2) Phương pháp điền dã
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu địa danh một cách có phương pháp và hệ thống mới khởi sự từ hai mươi năm trở lại đây Việc ghi chép thời điểm ra đời của các địa danh ít được quan tâm Do đó, địa danh ở bất cứ vùng nào, số lượng chưa rõ thời điểm địa danh ra đời cũng chiếm số lượng cao hơn rất nhiều so với
số lượng đã rõ Thực trạng này đòi hỏi người nghiên cứu phải mất công sức để tìm kiếm lời giải đáp mà một trong những hướng tìm là đi điền dã Phải đi về nơi xuất phát của địa danh mới có hy vọng tìm ra thời điểm xuất hiện địa danh,
lý do đặt tên cho đối tượng
3) Phương pháp so sách, đối chiếu
Để thấy rõ tính đặc thù của một vùng, ta cần so sánh, đối chiếu địa danh vùng đó với địa danh vùng khác để thấy những tương đồng và dị biệt của địa danh các vùng Đây là phương pháp so sánh, đối chiếu đồng đại Ngoài ra, để xác định nguồn gốc và ý nghĩa ban đầu của địa danh, ta phải sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu lịch đại
Khi sử dụng phương pháp đối chiếu lịch đại, ta phải hiểu rõ những quy luật biến đổi ngữ âm trong lịch sử Khi xác định dạng gốc của một địa danh, ta không những quan tâm đến mặt ngữ nghĩa mà còn đặc biệt quan tâm tới mặt ngữ
âm Về mặt này, ta phải lưu ý tới cấu trúc âm tiết tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học thường tách âm tiết thành ba yếu tố là âm đầu, vần và thanh điệu
4) Phương pháp khảo sát bản đồ
Ta có thể khảo sát các bản đồ theo diện đồng đại để phát hiện những loại địa danh nào xuất hiện nhiều ở địa bàn nào để tập trung tìm hiểu rõ nguồn gốc, ý nghĩa của từng nhóm địa danh đó Ngoài ra ta cũng có thể khảo sát, đối chiếu các bản đồ theo diện lịch đại, đối chiếu các bản đồ theo trình tự trước sau ta sẽ thấy một số địa danh cũ đã biến mất, một số địa danh mới xuất hiện, những thay đổi về ngữ âm, chữ viết
5) Tham khảo địa danh và các tài liệu địa danh của các nước láng giềng
Trang 17Là phương pháp sử dụng các tài liệu về địa danh của các nước khác trên thế giới để làm rõ và phong phú về quan điểm khoa học, phương pháp nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, kinh nghiệm nghiên cứu Từ đó đưa ra phương pháp nghiên cứu địa danh sát thực, tiệm cận theo sự phát triển của địa danh học ở các nước phát triển đã có quá trình nghiên cứu địa danh lâu dài, tạo điều kiện giảm bớt thời gian, chi phí cho công tác nghiên cứu địa danh trong nước Đồng thời trên cơ sở tài liệu địa danh của các nước, ta cũng có thể thấy được các địa danh
đã từng được sử dụng và đang được sử dụng trên lãnh thổ nước ta
1.5 Công tác địa danh của các nước trên thế giới
Công tác địa danh ở các nước trên thế giới hiện nay theo định hướng của Liên hợp quốc áp dụng cho tình hình thực tế của mỗi quốc gia khác nhau, với mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh chuẩn, thống nhất phục vụ các nhu cầu
xã hội
1.5.1 Liên hợp quốc với công tác địa danh
Liên Hiệp Quốc viết tắt là LHQ, là một tổ chức quốc tế tuyên bố hỗ trợ sự cộng tác của các quốc gia thành viên trong các lĩnh vực luật pháp quốc tế, an ninh quốc tế, phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và nhân quyền Liên Hiệp Quốc được thành lập năm 1945 để thay thế Hội Quốc Liên với mục đích ban đầu là chấm dứt chiến tranh giữa các quốc gia, gìn giữ hòa bình và thúc đẩy đối thoại
Từ trụ sở trong lãnh phận quốc tế tại thành phố New York, Liên Hiệp Quốc và các cơ quan chuyên môn của nó quyết định các vấn đề về điều hành và luật lệ Tổ chức này được chia thành các cơ quan hành chính, chủ yếu gồm: Đại hội đồng, Hội đồng Bảo An, Hội đồng kinh tế và xã hội, Ban thư kí, Tòa án Quốc tế vì Công lý Ngoài ra, một số tổ chức tiến hành quản lý các cơ quan của
Hệ thống Liên Hiệp Quốc, ví dụ như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF)
+ Nghị quyết số 4 của Hội nghị Liên hợp quốc về chuẩn hóa địa danh
Nghị quyết bao gồm những kiến nghị cụ thể dưới đây
Kiến nghị A: Các cơ quan quốc gia về địa danh
Chuẩn bị cho bước đi đầu tiên của viê ̣c chuẩn hoá q uốc tế về đi ̣a danh , mỗi nước đều phải có cơ quan quốc gia về đi ̣a danh với cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiê ̣m vu ̣ sau:
Trang 18a Cơ quan quốc gia về địa danh bao gồm mô ̣t thành viên hoă ̣c mô ̣t nhóm các thành viên phối hợp có quyền hạ n rõ ràng , có những quy phạm cho việc chuẩn hoá đi ̣a danh và có chính sách cho viê ̣c chuẩn hoá đi ̣a danh cho quốc gia mình
b Cơ quan quốc gia về địa danh có tình tra ̣ng pháp lý , hợp phần , chức năng và thủ tu ̣c sau:
- Là một tổ chứ c bền vững trong cấu trúc nhà nước;
- Tạo cơ hội lớn nhất cho sự thành công của chương trình chuẩn hoá địa danh quốc gia;
- Trong khuôn khổ củ a nó có thể thành lâ ̣p các uỷ ban đi ̣a danh theo vùng hoă ̣c khu vực tương ứng với khu vực đi ̣a lý hoă ̣c ngôn ngữ;
- Tạo điều kiện cho các cơ quan chính phủ , các tổ chức tư nhân và các tổ chức khác xem xét về hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng của nó , qua đó ta ̣o nên mô ̣t sự quan tâm chung của cả nước;
- Tạo khả nă ng sử du ̣ng đầy đủ các di ̣ch vu ̣ của các nhà trắc đi ̣a , các nhà bản đồ, các nhà ngôn ngữ cũng như của bất kỳ những chuyên gia nào để có thể giúp cho cơ quan địa danh quốc gia tiến hành công việc của mình một cách có hiê ̣u quả;
- Cho phép ghi chép, lưu trữ và xuất bản , phổ biến rô ̣ng rãi và mau chóng các địa danh đã được chuẩn hoá trong nước và trên thế giới
Về mă ̣t tổ chức , những quốc gia chưa bắt đầu tiến hành viê ̣c chuẩn hoá
đi ̣a danh trên cơ sở quốc gia cần bắt đầu thành lâ ̣p cơ quan quốc gia về đi ̣a danh của mình và thông báo cho Liên hợp quốc về cơ cấu tổ chức , chức năng và đi ̣a chỉ liên lạc của nó
Kiến nghị B: Thu thập địa danh
Để chuẩn hoá đi ̣a danh trướ c hết cần thu thâ ̣p các đi ̣a danh Yêu cầu của viê ̣c thu thâ ̣p đi ̣a danh cu ̣ thể như sau:
a Tiến hành cả ở trong phòng và ngoài thực đi ̣a nhằm thu thâ ̣p đầy đủ các thông tin sau:
- Dạng phát âm và viết của địa danh cũng như nghĩa của nó theo dân cư
đi ̣a phương;
- Cách viết trong các tài liệu địa chính và quản lý đất đai;
Trang 19- Cách viết trên các bản đồ cũ và mới , trong các nguồn tài liê ̣u li ̣ch sử khác;
- Cách viết trong các báo cáo thống kê , danh mục và trong các tài liệu khác có giá trị tương đương;
- Cách viết trong các dịch vụ hành chính và kỹ thuật khác
b dạng phát âm địa phương của địa danh được ghi lại trên băng từ và được viết bằng ký hiê ̣u ngữ âm của cơ quan đi ̣a danh quốc gia
c Xác định đặc điểm , phạm vi, vị trí của đối tượng được đặt tên (về mặt này ảnh máy bay là một công cụ đắc lực ), đồng thời cũng cần xác đi ̣nh các thuâ ̣t ngữ đi ̣a lý chung được sử du ̣ng ta ̣i đi ̣a phương
d Nếu có thể , ít nhất cần tham khảo hai nguồn tư liệu độc lập tại địa phương cho mỗi đi ̣a danh được điều tra Những người có nhiê ̣m vu ̣ thu thâ ̣p đi ̣a danh cần phải được đào ta ̣o đầy đủ để nhâ ̣n biết và giải quyết những vấ n đề về ngôn ngữ (Hê ̣ thống ngữ âm, cấu trúc ngữ pháp và chính tả ) về đối tượng đi ̣a lý
và thuật ngữ địa lý
Kiến nghị C: Những nguyên tắc xử lý địa danh trong phòng
Mỗi cơ quan đi ̣a danh lâ ̣p ra , chấp nhâ ̣n và quy đi ̣nh những ngu yên tắc
đi ̣nh hướng cũng như những thao tác để áp du ̣ng trong quá trình tác nghiê ̣p Những nguyên tắc và thao tác phải bao hàm:
a Những thủ tu ̣c buô ̣c phải tuân theo trong viê ̣c đê ̣ trình cơ quan đi ̣a danh những đề nghi ̣ đă ̣t tên mới hoă ̣c thay đổi tên cũ
b Những nhân tố mà cơ quan đi ̣a danh cần tính đến khi xem xét các đề nghị về địa danh, như:
- Cách sử dụng hiện tại;
- Thông tin cơ bản về li ̣ch sử;
- Việc xử lý đi ̣a danh các vùng đa ngôn ngữ và ngôn ngữ không có chữ viết;
- Phạm vi mà những địa danh ngoại lai cần phải tránh;
- Tránh sự lặp lại của địa danh;
- Tránh việc một đối tượng có nhiều hơn một tên gọi;
- Làm rõ phạm vi chính xác của mỗi địa danh riêng biệt , bao gồm việc đă ̣t tên cho toàn bô ̣ hoă ̣c mô ̣t số phần của các đối tượng chính;
Trang 20- Loại bỏ những địa danh không ai ưa thích
c Các quy tắc viết địa danh
d Những trình tự để các tổ chức có quan tâm có thể thể hiê ̣n quan điểm của họ về một kiến nghị về địa danh để cơ quan địa danh tham khảo, quyết đi ̣nh
e Những trình tự hình thức cho viê ̣c công bố các quyết đi ̣nh của cơ quan
đi ̣a danh và để đảm bảo các đi ̣a danh đã được chuẩn hoá sẽ xuất hiê ̣n trên các bản đồ quốc gia
Ngoài các nguyên tắc này cần thêm những đề nghi ̣ sau:
1) Tránh những thay đổi địa danh không cần thiết;
2) Cách viết địa danh phù hợp nhất với qui tắc chính tả hiện hành của đất nước đồng thời lưu ý đến các dạng thổ ngữ;
3) Việc xử lý đi ̣a danh mô ̣t cách hê ̣ thống không làm mất đi những thành phần quan tro ̣ng;
4) Xem xét và cho ̣n ra mô ̣t đi ̣a danh chuẩn khi mà tồn ta ̣i nhiều tên go ̣i cho mô ̣t đối tượng;
5) Đối với các nướ c mà ngôn ngữ của ho ̣ đưa phần ma ̣o từ xác đi ̣nh vào
đi ̣a danh thì cơ quan đi ̣a danh phải xác đi ̣nh những đi ̣a danh nào bao gồm ma ̣o từ xác định và chuẩn hoá chúng một cách phù hợp Trường hợp các ngôn ngữ có cả dạng xác đị nh và không xác đi ̣nh đối với tất cả hoă ̣c hầu hết đi ̣a danh thì cần chuẩn hoá trên cơ sở mô ̣t da ̣ng nào đó;
6) Tất cả các nước đă ̣t ra các tiêu chuẩn cho viê ̣c sử du ̣ng chữ viết tắt các thành phần trong địa danh;
7) Mỗi nướ c sẽ đề xuất một hệ thống riêng cho việc xử lý các địa danh ghép
Kiến nghị D: Những khu vực đa ngôn ngữ
Đối với những nước có nhiều hơn một ngôn ngữ, cơ quan đi ̣a danh cần:
a Xác định các địa danh trong từng ngôn ngữ chính thố ng và trong các ngôn ngữ khác mô ̣t cách thích hợp;
b Cho một chỉ đi ̣nh rõ ràng về sự bình đẳng hoă ̣c quyền ưu tiên của các
đi ̣a danh đã được thừa nhâ ̣n mô ̣t cách chính thức;
c Công bố các tên đã được thừa nhâ ̣n chính thức trên bản đồ và danh mục địa danh
Trang 21Kiến nghị E: Danh mục địa danh quốc gia
Mỗi cơ quan đi ̣a danh quốc gia lâ ̣p ra và thường xuyên tái bản các danh mục địa danh phù hợp cho tất cả các địa danh đã được chuẩn hoá
Trong danh mu ̣c , ngoài bản thân địa danh còn cần thêm một số thông tin cần thiết về vi ̣ trí và sự nhâ ̣n biết các đối tượng được đă ̣t tên Cụ thể như sau:
a Loại đối tượng;
b Mô tả chính xác về vi ̣ trí và pha ̣m vi cho mỗi đối tượng Nếu được nên
có một điểm có toạ độ để tham khảo;
c Đối với các đối tượng tự nhiên có phân bố dài , rộng cần có thêm thông tin tham khảo về các hợp phần của chúng;
d Những thông tin về hành chính hoă ̣c vùng là cần thiết và nếu có thể cần chỉ ra vị trí của đối tượng trên bản đồ;
e Tất cả các đi ̣a danh (nếu nhiều hơn mô ̣t) đã được chuẩn hoá chính thức cho mô ̣t đối tượng; các địa danh đã dùng trước đây cho đối tượng
Nếu điều kiê ̣n kỹ thuâ ̣t và k inh tế cho phép có thể bổ xung thêm những thông tin khác về đi ̣a danh như giống , số, dạng xác định hay không xác định , vị trí của đường phố, tông (giọng) và ngữ âm trong hệ thống của Hội ngữ âm Quốc tế Những thông tin này s ẽ giúp cho việc hiểu biết tốt hơn và sử dụng địa danh
cả trong nước và quốc tế
+ Nhóm chuyên gia Liên hợp quốc về địa danh (UNGEGN)
UNGEGN được thành lâ ̣p theo Nghi ̣ quyết 715 A (XXVII) ngày 23 tháng
4 năm 1959 và 1314 (XLIV) ngày 31 tháng 5 năm 1968 và quyết định của Hội đồng Kinh tế Xã hô ̣i Liên hợp quốc ta ̣i cuô ̣c ho ̣p lần thứ 1854 ngày 4 tháng 5 năm 1973 để đẩy mạnh việc chuẩn hoá địa danh trên cả hai mức độ quốc gia và quốc tế
a) Mục đích
Những mu ̣c đích chính của UNGEGN là:
- Nhằm nhấn mạnh tầm quan tro ̣ng của viê ̣c chuẩn hoá đi ̣a danh trên cả hai mức đô ̣ quốc gia và quốc tế và để chứng minh những lợi ích phát sinh từ viê ̣c chuẩn hoá này;
- Thu thập những kết quả làm viê ̣c của các thành viên quốc gia và quốc tế liên quan đến viê ̣c chuẩn hoá đi ̣a danh và để làm thuâ ̣n tiê ̣n cho viê ̣c phổ biến
Trang 22- Nghiên cứ u và đưa ra các nguyên tắc , chính sách và phương pháp phù hợp cho viê ̣c giải quyết vấn đề chuẩn hoá ở từng quốc gia và quốc tế;
- Đóng góp vai trò tích cực trong viê ̣c làm dễ dàng sự trợ giúp khoa ho ̣c
và kỹ thuật, nói riêng cho các nước đang phát triển, nhằm ta ̣o ra cơ chế để chuẩn hoá địa danh ở từng quốc gia và quốc tế;
- Cung cấp phương tiện liên hê ̣ và phối hợp giữa các quốc gia thành viên
và các cơ quan quốc tế trên các công việc liên quan đến chuẩn hoá địa danh;
- Thực hiê ̣n các nhiê ̣m vu ̣ mà nghi ̣ quyết của các Hô ̣i nghi ̣ của Liên Hợp quốc về chuẩn hoá đi ̣a danh giao cho
b) Các nguyên tắc
- Nhóm chuyên gia sẽ hoạt động như một đoàn thể, mang tính tư vấn và vì
vâ ̣y những thoả thuâ ̣n về những vấn đề không mang tính thủ tu ̣c sẽ đa ̣t được bằng sự đồng thuâ ̣n chứ không phải bằng biểu quyết;
- Những quyết đi ̣nh của nhóm chuyên gia sẽ được đê ̣ trình như những đề nghị lên các Hội nghị Liên hợp quốc về chuẩn h oá địa danh , và nếu được chấp thuâ ̣n, sẽ được đệ trình lên Hội đồng kinh tế và Xã hội dưới dạng nghị quyết để xác nhận cuối cùng , với kiến nghi ̣ rằng tất cả các quốc gia thành viên sẽ tìm cách tốt nhất để phổ biến v à trưng bày qua các phương tiện và các kênh thích hợp như các tổ chức chuyên môn , các viện nghiên cứu, các viện đào tạo Những quyết đi ̣nh của nhóm chuyên gia sẽ mang tính đề nghi ̣;
- Các câu hỏi liên quan đến chủ quyền quốc gia sẽ không được nhóm chuyên gia thảo luâ ̣n;
- Nhóm chuyên gia trong các hoạt động của mình sẽ trung thành với những nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp quốc và với những điều khoản sau:
+ Việc chuẩn hoá đi ̣a danh sẽ được dựa trên những thành tựu khoa ho ̣c liên quan đến cả ngôn ngữ và các phương tiê ̣n kỹ thuâ ̣t của viê ̣c gia công và ta ̣o
ra cơ sở dữ liê ̣u đi ̣a danh ho ̣c;
+ Việc chuẩn hoá quốc tế về đi ̣a danh phải dựa trên cơ sở sự chuẩn hoá quốc gia
c) Các chức năng
Nhóm chuyên gia có các chức năng sau:
Trang 23- Phát triển các thủ tục và thiết lập cơ chế chuẩn hoá địa danh nhằm đáp ứng yêu cầu quốc gia và các yêu cầu riêng;
- Tiến hành công viê ̣c chuẩn bi ̣ cho các Hô ̣i nghi ̣ thườ ng kỳ của Liên hợp quốc về chuẩn hoá đi ̣a danh , tạo sự hoạt động liên tục giữa các kỳ hội nghị , lâ ̣p
ra bô ̣ phâ ̣n lãnh đa ̣o thực hiê ̣n các nghi ̣ quyết do các hô ̣i nghi ̣ ban hành;
- Khuyến khích viê ̣c thảo luâ ̣n và nghiên cứu cá c bước đi lý thuyết và thực tiễn hướng đến viê ̣c chuẩn hoá;
- Phối hợp hoa ̣t đô ̣ng giữa các phân ban ngôn ngữ / đi ̣a lý đã được thành
lâ ̣p nhằm mở rô ̣ng tầm công viê ̣c vượt trên mức quốc gia , khuyến khích sự tham gia tích cực của các quốc gia và các phân ban , và đẩy mạnh mức độ thống nhất trong các công viê ̣c đã tiến hành;
- Tạo ra một cơ cấu cần thiết để phục vụ công việc của các phân ban và phân phát các xuất bản phẩm theo các lĩnh vực của các phân ban;
- Phát triển các chương trình đào tạo phù hợp cho các quốc gia riêng rẽ hoă ̣c nhóm các quốc gia để phu ̣c vu ̣ viê ̣c chuẩn hoá;
- Giúp cho các tổ chức sản xuất bản đồ nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng các địa danh đã được chuẩn hoá;
- Duy trì quan hê ̣ với các tổ chức quốc tế có liên quan nhằm khuyến khích các phân ban của UNGEGN tham gia vào các hội nghị vùng của Liên hợp quốc
và các hội nghị bản đồ khác;
- Tạo mức độ làm việc ở cấp quốc gia và quốc tế cao nhất có thể nhằm làm gắn bó giữa địa danh học và bản đồ học;
- Biến các nguyên tắc chuẩn hoá và các đi ̣a danh đã được chuẩn hoá sẵn
có thành thông tin thực tiễn để sử dụ ng rô ̣ng rãi nhất thông qua tất cả các phương tiê ̣n phù hợp
d) Các thành phần
* Các phân ban ngôn ngữ/địa lý
- Nhóm chuyên gia sẽ bao gồm các chuyên gia từ các phân ban ngôn ngữ/đi ̣a lý do các quốc gia cử Nhóm chuyên gia sẽ bầ u ra người đứng đầu để dẫn dắt các hoa ̣t đô ̣ng của nhóm trong và giữa các phiên ho ̣p;
- Các phân ban ngôn ngữ/địa lý sẽ hỗ trợ hoa ̣t đô ̣ng của nhóm chuyên gia;
- Số lượng các phân ban ngôn ngữ /đi ̣a lý và thành phần của chúng có thể
Trang 24- Mỗi nướ c tự quyết đi ̣nh viê ̣c tham gia vào phân ban nào Mô ̣t nước có thể là thành viên của mô ̣t phân ban khác nếu sự tham gia của nước đó không làm thay đổi đă ̣c tính ngôn ngữ /đi ̣a lý của phân ban đó Mô ̣t chuyên gia có thể được mời tham dự các buổi gă ̣p gỡ của các phân ban khác như mô ̣t quan sát viên hoă ̣c cố vấn;
- Mỗi phân ban nếu có hơn mô ̣t quốc gia sẽ bầu ra , theo cách riêng của mình, mô ̣t chuyên gia đa ̣i diê ̣n cho phân ban ( chủ tịch phân ban ) tại tất cả các cuô ̣c ho ̣p nhóm chuyên gia;
- Để bảo đảm sự hoa ̣t đô ̣ng liên tu ̣c , mỗi phân ban nếu có hơn mô ̣t quốc gia sẽ bầu thêm mô ̣t quyền đa ̣i diê ̣n; đa ̣i diê ̣n phân ban sẽ hoa ̣t đô ̣ng chă ̣t chẽ với quyền đại diê ̣n;
- Đại diê ̣n phân ban sẽ khuyến khích các hoa ̣t đô ̣ng về chuẩn hoá đi ̣a danh trong nô ̣i bô ̣ phân ban bằng tất cả các phương tiê ̣n phù hợp (thư từ với các đa ̣i diê ̣n quốc gia về chuẩn hoá đi ̣a danh và các cơ quan đo đ ạc bản đồ quốc gia ; tổ chức các buổi gă ̣p mă ̣t của các chuyên gia phân ban);
- Đại diê ̣n phân ban có trách nhiê ̣m làm cho công viê ̣c của nhóm chuyên gia và tiềm năng của nó đối với viê ̣c hỗ trợ kỹ thuâ ̣t sẽ khiến các quốc gia t rong phân ban của mình quan tâm , đồng thời có trách nhiê ̣m báo cáo lên Liên hợp quốc mo ̣i vấn đề đă ̣c biê ̣t của phân ban;
- Để thảo luâ ̣n các vấn đề kỹ thuâ ̣t và thủ tu ̣c, mô ̣t phân ban có thể tổ chức các cuộc họp vùng trong th ời gian các hội nghị Liên hợp quốc về chuẩn hoá địa danh cũng như trong thời gian các cuô ̣c ho ̣p nhóm các chuyên gia , hoă ̣c vào bất
kỳ thời gian thích hợp nào khác
* Cán bộ
- Nhóm chuyên gia sẽ bầu chọn các cán bộ sau : Chủ tịch, phó chủ tịch và
mô ̣t báo cáo viên;
- Tất cả các phân ban tôn tro ̣ng sự bầu cho ̣n và chức năng của các cán bô ̣ được quy đi ̣nh trong các quy chế về thủ tu ̣c của nhóm
* Các nhóm làm việc
- Các nhóm làm việc sẽ được g iải tán sau khi hoàn thành các nhiệm vụ được chỉ đi ̣nh Viê ̣c kéo dài thời gian hoa ̣t đô ̣ng của nhóm làm viê ̣c sẽ được quyết đi ̣nh ta ̣i phiên ho ̣p nhóm chuyên gia Nếu cần có thể thành lâ ̣p thêm nhóm làm việc và xác định nhiệm vu ̣ làm viê ̣c của nó;
Trang 25- Trưở ng nhóm làm viê ̣c sẽ do nhóm làm viê ̣c bầu cho ̣n
1.5.2 Công tác địa danh của một số nước trên thế giới
+ Công tác địa danh ở Mỹ:
Ủy ban địa danh Hoa Kỳ là một cơ quan Liên Bang thành lập vào năm
1890, hoạt động theo Luật Công (1947) để duy trì việc sử dụng địa danh thống nhất trong cả Liên Bang, thành phần của Ủy ban bao gồm đại diện của các cơ quan liên quan như thông tin địa lý, dân số, sinh thái và quản lý đất đai công cộng
Việc chuẩn hóa địa danh được đặt ra khi nảy sinh các vấn đề phức tạp liên quan đến địa danh trong quá trình thăm dò, khai thác và giải quyết các tranh chấp ở vùng lãnh thổ phía Tây, sau nội chiến ở Hoa Kỳ Mâu thuẫn trong cách
sử dụng địa danh đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng cho các nhà khảo sát, các nhà sản xuất bản đồ và các nhà khoa học đã đặt ra yêu cầu thống nhất, không mâu thuẫn nhau trong quá trình sử dụng địa danh
Tổng thống Benjamin Harrison thành lập Ban địa danh, Ban địa danh có nhiệm vụ giải quyết các câu hỏi về địa danh Các quyết định của Hội đồng Ủy ban được tất cả các phòng ban và các cơ quan chính phủ chấp nhận Ban địa danh từng bước mở rộng các phạm vi hoạt động trong Thế chiến thứ II bao gồm địa danh nước ngoài và các khu vực khác mà Hoa Kỳ quan tâm Năm 1947, Ban Địa danh được Quốc hội Hoa Kỳ thành lập theo Luật Công 80-242 mà tính hữu ích của việc chuẩn hóa địa danh đã được chứng minh thời gian
Ngày nay, hơn 50 quốc gia có loại hình cơ quan địa danh quốc gia, Liên hợp quốc cho rằng "phương pháp tốt nhất để đạt được tiêu chuẩn hóa quốc tế là qua các chương trình chuẩn quốc gia." Nhiều quốc gia thành lập các chính sách liên quan đến địa danh ở các quốc gia của họ
Trong thời đại bùng nổ các hệ thống thông tin địa lý, Internet, và đất quốc phòng hiện nay thì dữ liệu địa danh ngày càng quan trọng hơn và khó khăn hơn trong quá trình sử dụng Với việc áp dụng công nghệ mới nhất, Ban địa danh tiếp tục sứ mạng phục vụ Chính phủ Liên bang và công chúng như là một tổ chức cao nhất giải quyết các vấn đề về địa danh như yêu cầu đặt tên, thay đổi tên
và đề xuất tên mới Hợp tác với Liên bang, nhà nước và các cơ quan địa phương, Ban địa danh cung cấp một quy chuẩn thống nhất sử dụng địa danh mà qua đó được áp dụng hiện nay
Trang 26+ Công tác địa danh ở Hungari:
Uỷ ban địa danh Hungari được thành lập vào năm 1989, trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Vùng Mỗi địa danh mới hay thay đổi đều phải thông qua Uỷ ban địa danh Công tác địa danh Hungari được bắt đầu từ năm 2005 như
là một phần của nhóm nghiên cứu bản đồ và địa tin học MTA-ELTE Công tác địa danh Hungari với mục tiêu định nghĩa cách dùng địa danh thông thường và giải quyết các vấn đề liên quan đến địa danh trên bản đồ, cách biểu thị địa danh Một trong các mục đích của công tác địa danh Hungari là hoàn thiện cơ sở dữ liệu địa danh trong môi trường GIS Dự án chính của công tác địa danh Hungari
là tạo lập và xây dựng hình ảnh của cơ sở dữ liệu địa danh Hungari từ một bản
đồ phối cảnh Hệ thống cơ sở dữ liệu địa danh Hungari sẽ được xây dựng thành
hệ thống thông tin địa lý, trong đó địa danh Hungari của toàn bộ Carpathian Basin thì được lựa chọn và phân tích Có một số lớn địa danh Hungari gốc cổ ở trong khu vực này và hầu hết được sử dụng hiện nay, khu vực bao trùm bởi địa danh của người Hungari thì lớn hơn gấp 3.5 đến 4 lần diện tích hiện tại Có các danh sách tên riêng rẽ và nguồn dữ liệu số khác của chúng nhưng một từ điển địa lý của các địa danh thì vẫn bị lỗi
1.6 Quá trình phát triển và sử dụng địa danh ở Việt Nam
1.6.1 Quá trình hình thành chữ Việt và Việt hóa địa danh
Địa danh do con người đặt ra và đầu tiên được con người trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ nói, sau đó khi có chữ viết, địa danh được viết bằng bộ chữ của mỗi dân tộc
Cùng với quá trình hình thành và phát triển của tiếng Việt và chữ Việt, địa danh trên các văn liệu nói chung và bản đồ nói riêng cũng thay đổi theo
Chữ Việt xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XVII do hai giáo sĩ người Italia và
Bồ Đào Nha là ông Gaspa d’ amaral và Antonio de Barbosa Cả hai ông đều làm cuốn từ vựng là Annammitacium - Lutanium (Bồ - Việt); Lutanium - Annammitacium (Việt - Bồ) Alexandre de Rhodes, giáo sĩ người Pháp là người tổng kết và hoàn thiện thêm cách phát âm
- Trước năm 1651, chữ chưa có dấu, chưa phân biệt a, ă, o, ô, u, ư, e, ê
- Giữa thế kỷ XVII đã có dấu hỏi, dấu nặng, dấu ngã, đã phân biệt a, ă, o,
ô, u, ư, e, ê
- Thế kỷ XVIII - XX có nhiều công trình nghiên cứu về chữ Việt
Trang 27- Từ thế kỷ thứ XX chữ Việt trở thành công cụ giao tiếp thuận lợi trong xã hội Việt Nam, ta quen gọi là chữ Quốc ngữ
Có thể nói chữ Việt hiện nay là hệ thống chữ ghi âm tiếng nói Việt bằng các ký tự Latinh và các dấu phụ để thể hiện các thanh điệu tiếng Việt Chữ Việt hiện nay còn có một số các nhƣợc điểm sau:
- Chƣa hoàn toàn tuân theo các nguyên tắc ngữ âm học, đó là một ký tự chỉ đƣợc biểu hiện bằng một âm vị nhất định và mỗi âm chỉ đƣợc ghi bằng một
ký tự nhất định Ví dụ nhƣ âm /k/ đƣợc ghi bằng cả ba ký tự c, k, q hoặc một ký
tự nhƣ g có lúc ghi âm /g/ trong gay, go, ga… và âm /z/ trong gia, gio…
- Không có các phụ âm kép, phụ âm câm và không có các phụ âm b, d, l,
Ha, Cống, Ngái, Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Sán Dìu, Hà Nhì, Xinh Mun
28 dân tộc đã có chữ viết, đó là các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Hoa, Khơme, H’rê, Cơ Ho, Ra Glai, H’Mông, M’Nông, Bru-Vân Kiều, Cơ Tu, Lô
Lô, Giẻ-Triêng, Tả Ôi, Mạ, Co, Chơ Ro, Chu Ru, Lào, Dao, Cao Lan, Gia Lai, Ê
Đê, Ba Na, Xơ Đăng, Chăm, X’tiêng
Trong đó chữ có tự dạng Latinh là: Gia Lai, Ê Đê, Ba Na, Xơ Đăng, H’rê,
Cơ Ho, Ra Glai, Cơ Tu, Giẻ-Triêng, Tà Ôi, Bru-Vân Kiều, Co, Chơ Ro, Chu Ru, M’Nông, X’tiêng
1949 và chữ Xơ Đăng sau đó
Trang 28Như vậy, đầu tiên các địa danh ở Việt Nam xuất hiện dưới tự dạng Hán và Nôm (như trong “Đại Nam Nhất thống toàn đồ” của Phan Huy Chú, “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi…) trong một thời gian dài Bắt đầu từ thế kỷ XVII, địa danh ở Việt Nam được viết bằng bộ chữ Việt do Alexandre de Rhodes đặt ra
Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam cuối thế kỷ XIX, công việc làm bản đồ được tiến hành rất sớm để phục vụ cho các hoạt động quân sự và khai thác thuộc địa Qua đó, các địa danh đã được Latinh hoá (Pháp ngữ hoá) và đưa lên bản đồ ngay
từ khi tiếng Việt còn đang trong giai đoạn chuyển sang hệ chữ Latinh Hệ thống bản đồ địa hình trên lưới chiếu Bone tỷ lệ 1/100.000 phủ trùm toàn Đông Dương
là kết quả của quá trình này và ảnh hưởng rõ rệt đến các loại bản đồ tỷ lệ 1/50.000 cũng như các tỷ lệ lớn hơn được làm sau đó tại miền Bắc (do Cục Đo đạc và Bản đồ Phủ Thủ tướng và Phòng Bản đồ - Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam làm) và tại miền Nam (do Nha Địa dư Đà Lạt và quân đội
Với địa danh Việt Nam, do quá trình Việt hoá thông qua Pháp ngữ và bộ chữ các dân tộc có chữ viết tự dạng Latinh (Êđê, Giarai, X’tiêng…) nên chúng
ta đã từng viết Lao Kay, Yên Báy, Hòn Gay, Bắc Kạn… và vẫn viết Cư Jút, Ea Wer, Ea Wy,… tuy trong bộ chữ Việt không có các chữ cái W, F, J, Z Cũng không ai chắc chắn lắm khi viết Đắclắc (hay Daclac, Dăk lăk, Dăklăk, Dac_lac, Đăc lắc ), Plâycu (hay Plêy cu, Pleiku, Plei ku )…
Với địa danh nước ngoài thì lại càng rõ ràng hơn, chúng ta vẫn viết nước Nga (mà thủ đô lại là Maxcơva), nước Đức (mà thủ đô là Beclin)… Chúng ta đã từng viết Á Căn Đình/Acgiăngtin/Achentina; Úc đại lợi/Úc/Oxtrâylia Với địa danh Trung Quốc thì cho đến nay chúng ta vẫn hoàn toàn sử dụng địa danh Hán
- Việt không phải là phiên âm, chuyển tự mà là dịch âm Hán qua nghĩa Việt, vì vậy mà chỉ có người Việt hiểu được (Nam Ninh thay vì Nanning, Bắc Kinh thay
vì Beijing, Thượng Hải thay vì Shanghai…) Địa danh nước ngoài thuần Việt rất
Trang 29ít so với tên Hán Việt và thường là tiểu địa danh Với địa danh ngoại lai (địa danh do người nước ngoài đặt cho nước ta do quá trình thám hiểm và xâm chiếm) cũng có những cách viết khác nhau Ví dụ Grôttơ hoặc đảo Hang, Xơmen hay hòn Đế giày, hòn Hài, hòn Guốc…
+ Tình hình sử dụng địa danh ở Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam trừ địa danh hành chính (tên tỉnh, thành phố, thị xã, quận huyện, thị trấn, xã, phường) được sử dụng thống nhất trong cả nước theo Nghị quyết của Quốc hội và Nghị định của Chính phủ về việc thành lập các đơn
vị hành chính, địa danh được sử dụng rất không thống nhất, kể cả với các địa danh Việt Nam, địa danh nước ngoài (Foreign geographical name) và địa danh ngoại lai (exonyms) Sự không thống nhất này thể hiện qua cách viết địa danh (viết hoa / viết thường; viết liền / viết rời; có gạch nối / không có gạch nối; chính tả), cách sử dụng thuật ngữ địa lý (danh pháp), giữa các cơ quan thông tin đại chúng (báo viết, báo nói, báo hình), giữa các cơ quan trung ương và địa phương, giữa các bộ, ngành
1.6.2 Tình hình tổ chức nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Hiện nay nước ta chưa có Uỷ ban Quốc gia về địa danh mà mỗi bộ, ngành đều làm công tác địa danh riêng để phục vụ cho mục đích của mình, vì vậy nên mỗi bộ, ngành đều có những quy định riêng Ví dụ như Bộ Giáo dục và Đào tạo
có quy định về cách viết chính tả tiếng Việt hay như Quốc hội có quy định về cách viết tên nước ngoài,
Theo Nghị định 12/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2002 của Chính phủ về hoạt động đo đạc và bản đồ đã quy định cụ thể về “Hệ thống địa danh trên bản đồ như sau:
1) Địa danh các đơn vị hành chính theo quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
2) Địa danh các đối tượng địa lý tự nhiên và xã hội chưa sử dụng thống nhất thì quyết định trên cơ sở thống nhất ý kiến với uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
3) Địa danh quốc tế chưa được sử dụng thống nhất thì quyết định trên cơ
sở thống nhất ý kiến với Bộ Ngoại giao”
Trước tình hình đó, Bộ Tài Nguyên và Môi trường cho phép Cục Đo đạc
và Bản đồ Việt Nam thành lập Phòng Địa danh bản đồ tại Trung tâm Thông tin
dữ liệu đo đạc và bản đồ nhằm mục đích phục vụ công tác quản lý, cập nhật,
Trang 30cung cấp và nghiên cứu địa danh, đặc biệt là địa danh phục vụ công tác thành lập bản đồ Đây là đơn vị duy nhất trên cả nước có chức năng quản lý, cập nhật, cung cấp địa danh bản đồ
1.7 Cơ sở khoa học của công tác xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh
1.7.1 Cơ sở đi ̣a lí ho ̣c
Địa lý học là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu về quy luật phân bố không gian của địa hình, thủy văn, khí hậu, cư dân, các hiện tượng tự nhiên và kinh tế, văn hóa xã hội khác Các quá trình hình thành, phát triển của các đối tượng địa lý như hình thành cao nguyên, dòng chảy nước mặt, nước ngầm, những hiện tượng tự nhiên này đều được ngành địa lý ghi lại, lý giải, dự báo trên
cơ sở đó giúp con người hiểu được tự nhiên hơn, biết được đối tượng địa lý nào mới được hình thành, đối tượng nào đã mất đi, khu vực nào con người có thể sống, có thể trồng cây gì,
Địa lý học giúp xác định phạm vi phân bố, định vị địa danh, phân loại và những thông tin cần thiết để xác định địa danh trên cơ sở toán học với sự trợ giúp và sử dụng các ký hiệu qui ước để phản ánh sự phân bố, trạng thái và mối quan hệ tương quan của các hiện tượng thiên nhiên và xã hội được lựa chọn và khái quát hoá để phù hợp với mục đích sử dụng của bản đồ và đặc trưng cho khu vực nghiên cứu Địa danh gắn liền với các yếu tố, đối tượng địa lý Mỗi địa danh đều được cấu thành bởi hai bộ phận là danh từ chung chỉ đối tượng địa lý (sông, suối, núi,…) và danh từ riêng chỉ tên gọi của các đối tượng địa lý
Mỗi địa danh đều được gắn liền với không gian địa lý, không gian địa lý cho con người biết được các thông tin thuộc tính của đối tượng địa lý mà địa danh thể hiện như cấu tạo, thành phần,
1.7.2 Cơ sở ngôn ngữ ho ̣c
Địa danh được đặt ra bằng thứ ngôn ngữ mà con người sử dụng Địa danh
là một bộ phận đặc biệt của từ vựng, được cấu tạo bởi những đơn vị ngữ âm (âm
vị, âm tiết), chịu sự tác động của các quy luật ngữ âm nên địa danh còn là tài liệu nghiên cứu của ngữ âm học Địa danh là những danh từ, danh ngữ,… tuân theo những phương thức cấu tạo từ, cấu tạo ngữ của tiếng Việt nên địa danh cũng là tài liệu khảo cứu của Ngữ pháp học Địa danh còn là sản phẩm do người bản địa tạo ra, gắn chặt với ngôn ngữ của một địa phương nhất định nên địa danh cũng là tài liệu nghiên cứu của Phương ngữ học Địa danh ra đời trong một
Trang 31thời đại nhất định nên nó cũng là tài liệu của ngành Ngôn ngữ học lịch sử Do
đó, các kết quả của nghiên cứu địa danh học sẽ góp phần soi sáng nhiều mặt cho các chuyên ngành khác nhau của Ngôn ngữ học
Địa danh có cấu tạo theo những nguyên tắc nhất định của ngôn ngữ như địa danh có cấu tạo đơn hoặc có cấu tạo phức, đồng thời địa danh cũng có sự phân loại theo cách nó thể hiện, nội dung nó thể hiện
1.7.3 Cơ sở lịch sử và dân tô ̣c ho ̣c
Địa danh – nhất là địa danh hành chính là một sản phẩm của một chế độ chính trị nhất định Nó được ban hành bởi những nghị định của nhà nước đương thời Địa danh thường mang tên người, cây cỏ, cầm thú,…Trong hoàn cảnh có nhiều dân tộc nối tiếp nhau hoặc cùng sinh sống trên một địa bàn, địa danh sẽ mang từ vựng của nhiều ngôn ngữ Mỗi địa danh ra đời đều gắn với một sự kiện hoặc một biến cố lịch sử, địa danh luôn biến đổi theo quá trình phát triển của xã hội, của đời sống con người
Mặt khác, địa danh tại mỗi vùng miền đều là sản phẩm của văn hóa của dân tộc ở vùng miền đó Mỗi dân tộc có một cách gọi các đối tượng địa lý khác nhau, thể hiện các nền văn hóa khác nhau mà cụ thể như cùng là “núi” nhưng ở khu vực miền núi phía Bắc của nước ta gọi là phia, phja (dân tộc Tày, Nùng) như Phia Khao, Phia Đén hoặc Pu, Pù (dân tộc Tày, Thái) như Pu Đen Đinh, Pu Sam Sao Trên cơ sở đó cho thấy địa danh phản ánh quá trình lịch sử cũng như phản ánh từng dân tộc sinh sống theo không gian và theo thời gian
1.7.4 Cơ sở bản đồ ho ̣c
Bản đồ là hình ảnh thu nhỏ của bề mặt Trái Đất lên mặt phằng theo một phương pháp toán học và theo lệ nhất định, trên đó địa danh được trình bày là tên gọi của các đối tượng địa lý trên bề mặt Trái Đất được thể hiện trên bản đồ, chúng là những hình ảnh, ký hiệu hay hình tượng mô tả các thực thể và các hiện tượng, đối tượng địa lý trong thế giới thực (đường giao thông, sông suối, ao hồ, ) hoặc mô tả các đối tượng trừu tượng, có tính ước lệ, nhưng có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong nghiên cứu, quản lý lãnh thổ Địa danh thể hiện trên bản đồ
là tên gọi của các đối tượng địa lý ở dạng điểm, dạng đường và dạng vùng Cách thể hiện cụ thể như sau:
Đối với địa danh dạng điểm: thể hiện các đối tượng địa lý có dạng điểm như đỉnh núi, điểm dân cư, cầu giao thông, … Tương ứng với mỗi địa danh
Trang 32dạng điểm sẽ có tọa độ của địa danh để xác định vị trí của địa danh đó trên bản
đồ và trên thực tế, cụ thể theo Hình 1
Hình 1 Địa danh thể hiện ở dạng điểm
Đối với địa danh dạng đường: thể hiện các đối tượng địa lý có dạng tuyến như đường giao thông, sông, suối, kênh, mương, … Tương ứng với mỗi địa danh dạng tuyến sẽ có tọa độ của địa danh để xác định vị trí của địa danh đó trên bản đồ và trên thực tế, cụ thể theo Hình 2
Hình 2 Địa danh thể hiện ở dạng tuyến
Đối với địa danh dạng vùng: thể hiện các đối tượng địa lý có dạng vùng như vùng dân cư, hồ, ao,khu công nghiệp, … Tương ứng với mỗi địa danh dạng vùng sẽ có tọa độ của địa danh để xác định vị trí của địa danh đó trên bản đồ và trên thực tế, cụ thể theo Hình 3
Trang 33Hình 2 Địa danh thể hiện ở dạng vùng
Từ các cơ sở khoa học về các mặt địa lý, ngôn ngữ, lịch sử, dân tộc và bản
đồ cho thấy địa danh là tên gọi của các đối tƣợng địa lý trên bề mặt Trái Đất, sử dụng các đơn vị ngôn ngữ để biểu thị đối tƣợng địa lý, qua các quá trình lịch sử, các dân tộc sinh sống và đƣợc thể hiện trên bản đồ theo những nguyên tắc nhất định Việc xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh dựa trên các cơ sở khoa học
Trang 34CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG CẤU TRÚC CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA DANH
Trong đề tài này, học viên đi theo hướng xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh trên cơ sở cấu trúc cơ sở dữ liệu nền địa lý để khi thành lập bản đồ địa hình từ dữ liệu nền địa lý thì có thể sử sụng được dữ liệu địa danh Nếu xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh tách rời với cơ sở dữ liệu nền địa lý thì có thể ứng dụng theo cấu trúc này để sau này có thể sử dụng tích hợp vào các cơ sở dữ liệu các ngành khác, đáp ứng được các yêu cầu về tận dụng dữ liệu, đồng thời tiết kiệm được các chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng cũng như hiệu quả kinh tế
2.1 Khái niệm cơ sở dữ liệu địa danh
2.1.1 Khái niệm
Cơ sở dữ liệu địa danh là tập hợp các dữ liệu địa danh được sắp xếp, lưu trữ theo một cấu trúc nhất định phục vụ công tác tra cứu, tìm kiếm, cập nhật và
sử dụng địa danh theo các mục đích khác nhau
Cơ sở dữ liệu địa danh được xây dựng theo các chuyên đề địa danh đã được phân loại như hành chính, dân cư, sơn văn, thủy văn, văn hóa lịch sử, kinh
tế xã hội, biển đảo theo hình vẽ như sau:
CSDL DIADANH
Cơ sở dữ liệu địa danh sẽ được xây dựng trên nguyên tắc thể hiện các đối tượng địa lý của bản đồ, đó là các đối tượng được thể hiện ở ba dạng là dạng điểm, dạng đường, dạng vùng Tuy nhiên, tùy từng tỷ lệ bản đồ mà cách thể hiện
sẽ có những thay đổi khác nhau, chẳng hạn như ở bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25 000, thôn Phố Mới sẽ có dạng vùng nhưng ở bản đồ địa hình tỷ lệ 1:250 000 thì thôn Phố Mới sẽ có dạng điểm Chính vì vậy, khi xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh, học viên sẽ chia ra 4 nhóm tỷ lệ bản đồ địa hình cơ bản để thể hiện dữ liệu không gian của địa danh như sau:
- Nhóm tỷ lệ 1:5 000; 1:10 000;
Trang 352.1.2 Cấu tạo dữ liệu địa danh
Dữ liệu địa danh bao gồm hai thành phần là dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính, có thể mô tả cấu tạo dữ liệu địa danh theo hình vẽ như sau:
Hình 1: Dữ liệu địa danh
2.1.2.1 Khái niệm về địa danh hành chính
Địa danh hành chính là tên gọi của các đơn vị hành chính các cấp theo quy định của Nhà nước như địa danh hành chính cấp tỉnh, địa danh hành chính cấp huyện, địa danh hành chính cấp xã Ở nước ta hiện nay có 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh, 692 đơn vị hành chính cấp huyện, 11059 đơn vị hành chính cấp
xã
DỮ LIỆU KHÔNG GIAN
DỮ LIỆU ĐỊA DANH
DỮ LIỆU THUỘC TÍNH
- Địa danh hành chính
- Địa danh dân cư
- Địa danh sơn văn
- Địa danh thủy văn
- Địa danh giao thông
- Địa danh văn hóa lịch sử
- Địa danh kinh tế xã hội
- Địa danh biển đảo
- Địa danh hành chính
- Địa danh dân cư
- Địa danh sơn văn
- Địa danh thủy văn
- Địa danh giao thông
- Địa danh văn hóa lịch sử
- Địa danh kinh tế xã hội
- Địa danh biển đảo
Trang 36Địa danh hành chính thường có các thông tin như sau: mã đơn vị hành chính, tên đơn vị hành chính, loại đơn vị hành chính, diện tích, dân số, tọa độ, lịch sử, các thông tin khác như GDP, GNP, thành phần dân tộc, tình hình kinh tế
xã hội, …
Địa danh hành chính bao giờ cũng có hai thành phần là danh từ chung chỉ loại đơn vị hành chính như tỉnh, huyện, xã + tên của đơn vị hành chính như Hưng Yên, Gia Lâm, Quốc Tuấn
2.1.2.2 Khái niệm về địa danh dân cư
Địa danh dân cư là tên gọi của các điểm quần cư như thôn, xóm, làng, bản, tổ dân phố, … Địa danh dân cư bao giờ cũng thuộc một đơn vị hành chính cấp xã quản lý
Địa danh dân cư thường có các thông tin như sau: tên điểm dân cư, loại điểm dân cư, tọa độ điểm dân cư, tên gọi trước đây (nếu có), thông tin khác (nếu có)
Địa danh dân cư được cấu tạo từ hai thành phần cơ bản là danh từ chung (loại điểm dân cư) + tên của điểm dân cư như thôn Phố Mới, Bản Tùy,…
2.1.2.3 Khái niệm về địa danh sơn văn
Địa danh sơn văn là tên gọi các đối tượng địa hình tự nhiên như núi, dãy núi, cao nguyên, …
Địa danh sơn văn thường có các thông tin cơ bản như sau: tên của đối tượng, tọa độ của đối tượng, diện tích (nếu có), chiều dài (nếu có), chiều rộng (nếu có), …
Địa danh sơn văn được cấu tạo từ hai thành phần cơ bản là danh từ chung (loại đối tượng sơn văn) + tên của đối tượng sơn văn như núi Thằn Lằn, dãy núi Hoàng Liên Sơn, …
2.1.2.4 Khái niệm địa danh thủy văn
Địa danh thủy văn là tên gọi các đối tượng như sông, suối, hồ, …
Địa danh thủy văn có các thông tin cơ bản như tên của đối tượng, loại đối tượng, diện tích (nếu có), chiều dài (nếu có), chiều rộng (nếu có), ý nghĩa (nếu có)
2.1.2.5 Khái niệm địa danh giao thông
Trang 37Là tên của các tuyến đường giao thông, tên của các đối tượng gắn với đường giao thông như cầu, cống, … như đường Hồ Chí Minh, đường Nguyễn Trãi
Địa danh giao thông có các thông tin cơ bản như tên đường giao thông, loại đường giao thông, chiều dài, chiều rộng, …
Địa danh giao thông được cấu tạo từ hai thành phần cơ bản là loại đối tượng giao thông + tên của đối tượng giao thông như Quốc lộ 5, đường Bắc Thăng Long,…
2.1.2.6 Khái niệm địa danh văn hóa lịch sử
Là tên của các điểm văn hóa, di tích lịch sử như chùa Một Cột, thành cổ
2.1.2.7 Khái niệm địa danh kinh tế xã hội
Là tên của các điểm kinh tế xã hội như cụm công nghiệp, khu kinh tế, … như khu công nghiệp Bắc Thăng Long, khu kinh tế mở Chu Lai
Địa danh kinh tế xã hội có các thông tin cơ bản như tên đối tượng, loại đối tượng, …
Địa danh kinh tế xã hội được cấu tạo từ hai thành phần cơ bản là loại đối tượng kinh tế xã hội + tên của đối tượng kinh tế xã hội như khu công nghiệp Nội Bài, Khu công nghiệp Quang Minh,…
2.1.2.8 Khái niệm địa danh biển đảo
Là tên của các vùng biển, các đảo, quần đảo như đảo Song Tử Tây, quần đảo Hoàng Sa,…
Địa danh biển đảo có các thông tin cơ bản như tên đối tượng, loại đối tượng, lịch sử, địa phương quản lý, …
Địa danh biển đảo được cấu thành từ hai thành phần cơ bản là loại đối tượng biển đảo + tên của đối tượng biển đảo như đảo Cồn Cỏ, quần đảo Hoàng
Sa, …
Trang 382.2 Hiện trạng dữ liệu địa danh
Dữ liệu địa danh hành chính, dân cư, sơn văn, thủy văn, KTXH được xây dựng trên cơ sở Đề án ”Xây dựng hệ thống thông tin địa danh Việt Nam và quốc
tế phục vụ công tác lập bản đồ” do Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt, bao gồm địa danh hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, KTXH Riêng địa danh Biển Đảo được xây dựng trên cơ sở Dự
án ”Thống nhất tên gọi các địa danh biển đảo Việt Nam” do Bộ Nội vụ chủ trì 2.2.1 Dữ liệu địa danh hành chính
Dữ liệu địa danh hành chính Việt Nam được xây dựng trên cơ sở Dự án
”Xây dựng hệ thống thông tin địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam”, bao gồm địa danh hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã
Hiện trạng cấu trúc dữ liệu địa danh hành chính được xây dựng hệ quản trị cơ sở dữ liệu Access, được trình bày cụ thể ở Phụ lục 1
2.2.2 Dữ liệu địa danh biển đảo
Cơ sở dữ liệu địa danh biển đảo được xây dựng trên ngôn ngữ lập trình Delphi, sử dụng nền raster có số hóa một phần dữ liệu để thể hiện dữ liệu đồ họa địa danh biển đảo, cơ sở dữ liệu thông tin thuộc tính địa danh biển đảo được xây dựng trên hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server, cấu trúc bảng dữ liệu được trình bày cụ thể ở Phụ lục 1
2.2.3 Dữ liệu địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, KTXH
Dữ liệu địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, KTXH được xây dựng theo các TKKT-DT trên từng khu vực cụ thể, hiện nay đã triển khai thi công xong 02 TKKT-DT ở khu vực 15 tỉnh vùng vúi phía Bắc
Dữ liệu địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, KTXH là dữ liệu thuộc tính, không có dữ liệu đồ họa kèm theo, thiết kế cụ thể được trình bày ở Phụ lục 1
2.3 Cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh
Cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh trên bản đồ địa hình gồm thông tin không gian và thông tin thuộc tính
Trang 39Nội dung cơ sở dữ liệu địa danh
Cơ sở dữ liệu địa danh bao gồm các chủ đề (Feature datatset) nhƣ sau: 1) Địa danh hành chính 5) Địa danh giao thông
2) Địa danh dân cƣ 6) Địa danh văn hóa lịch sử
3) Địa danh sơn văn 7) Địa danh kinh tế xã hội
4) Địa danh thủy văn 8) Địa danh biển đảo
CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA DANH THUỘC TÍNH
- Địa danh hành chính
- Địa danh dân cƣ
- Địa danh sơn văn
- Địa danh thủy văn
- Địa danh giao thông
- Địa danh văn hóa lịch sử
- Địa danh kinh tế xã hội
- Địa danh biển đảo
- Địa danh hành chính
- Địa danh dân cư
- Địa danh sơn văn
- Địa danh thủy văn
- Địa danh giao thông
- Địa danh văn hóa lịch sử
- Địa danh kinh tế xã hội
- Địa danh biển đảo
CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA DANH
KHÔNG GIAN
CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA DANH
Trang 40Các chuyên đề Các lớp Thông tin thuộc tính
Bản Làng Thôn
Động Dãy núi Núi
Hồ Suối Sông
Cầu Đường sắt Đường bộ
Công viên Khu KT Cụm CN
Di tích LS Chùa Đình
Quần đảo Đảo Biển