1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý

75 2,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 3,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo định nghĩa này, “Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, sình lầy, vùng than bùn hoặc vùng nước dù là tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hay từng chu kì, với nước đọng hay n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

TRẦN ĐỨC MẠNH

SO SÁNH KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA ẢNH SPOT VÀ LANDSAT ĐỂ THÀNH LẬP BẢN ĐỒ LỚP PHỦ VÙNG NGẬP

NƯỚC KHU VỰC VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

TRẦN ĐỨC MẠNH

SO SÁNH KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA ẢNH SPOT VÀ LANDSAT ĐỂ THÀNH LẬP BẢN ĐỒ LỚP PHỦ VÙNG NGẬP

NƯỚC KHU VỰC VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý

Mã số: 60440214

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN NGỌC THẠCH

Hà Nội - 2013

Trang 3

bè, đồng nghiệp đã cổ vũ động viên tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Tuy đã có những cố gắng nhất định nhưng do thời gian và trình độ có hạn nên chắc chắn luận văn này còn nhiều thiếu sót và hạn chế nhất định Kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn

Hà Nội,ngày 21 tháng11năm 2013

Học viên

Trần Đức Mạnh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả đạt được trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, tìm hiểu của riêng cá nhân tôi Trong toàn bộ nội dung của luận văn, những điều được trình bày hoặc là của cá nhân tôi hoặc là được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu Tất cả các tài liệu tham khảo đều có xuất xứ rõ ràng và được trích dẫn hợp pháp

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật theo quy định cho lời cam đoan của mình

Hà Nội,ngày 21 tháng11năm 2013

Học viên

Trần Đức Mạnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 9

Chương 1- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ 13

VAI TRÒ CỦA ĐẤT NGẬP NƯỚC 13

1.1 Đặc điểm, sự phân bố của đất ngập nước 13

1.1.1 Định nghĩa đất ngập nước 13

1.1.2 Phân loại đất ngập nước Việt Nam 15

1.1.2.1 Đất ngập nước tự nhiên 15

1.1.2.2 Đất ngập nước nhân tạo 17

1.2 Chức năng của đất ngập nước: 18

1.2.1 Chức năng nạp, tiết nước ngầm 18

1.2.2 Chức năng lắng đọng trầm tích, độc tố 19

1.2.3 Chức năng tích lũy chất dinh dưỡng 19

1.2.4 Chức năng điều hòa khí hậu: 19

1.2.5 Chức năng hạn chế lũ lụt 19

1.2.6 Chức năng sản xuất sinh khối 19

1.2.7 Chức năng duy trì đa dạng sinh học 19

1.2.8 Chức năng chắn sóng, chắn gió bão, ổn định bờ biển, chống xói lở, hạn chế sóng thần 20

1.2.9 Các chức năng khác 20

1.3 Giá trị của đất ngập nước ở Việt Nam 21

1.3.1 Giá trị kinh tế của đất ngập nước 21

1.3.2 Giá trị văn hóa của đất ngập nước 22

1.4 Hiện trạng bảo tồn và quản lí đất ngập nước ở Việt Nam 22

1.4.1 Quản lí đất ngập nước ở cấp trung ương: 23

1.4.2 Quản lí đất ngập nước ở cấp tỉnh, thành phố: 24

1.4.3 Bảo tồn đất ngập nước ở Việt Nam: 24

Trang 6

Chương 2 - ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN,KINH TẾ XÃ HỘI VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐẤT

NGẬP NƯỚC KHU VỰC ĐẢO CÁI BẦU 26

2.1 Khái quát chung về khu vực nghiên cứu 26

2.1.1 Phạm vi thực hiện 26

2.1.1.1Vị trí địa lý. 26

2.1.1.2 Địa hình 26

2.1.1.3 Thổ nhưỡng 29

2.1.1.4 Khí hậu 31

2.1.1.5 Đặc điểm thuỷ văn, hải văn 32

2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 34

2.1.2.1.Đặc điểm dân cư 34

2.1.2.2.Đặc điểm kinh tế 34

2.2 Đặc điểm thực vật ngập nước khu vực Đảo Cái Bầu 35

2.2.1 Tổng quan về hệ sinh thái đất ngập nước khu vực Cái Bầu 35

2.2.2 Đặc điểm phân bố không gian của rừng ngập mặn 36

2.2.2.1.Hệ sinh thái chịu tác động của thủy triều lên xuống: 36

2.2.2.2.Hệ sinh thái trong các đầm nuôi thủy sản: 36

2.2.2.3.Hệ sinh thái trên vùng đất caokhông hoặc ít chịu tác động của thủy triều 36 2.2.3 Cấu trúc của các quần xã RNM đặc trưng 37

2.2.3.1 Nhóm quần xã thuộc khu vực chịu tác động của thủy triều lên xuống 37

Chương 3- SỬ DỤNG TƯ LIỆU ẢNH SPOT VÀ LANDSAT THÀNH LẬP BẢN ĐỒ LỚP PHỦ VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC KHU VỰC 43

3.1 Tư liệu sử dụng 43

3.1.1 Tư liệu ảnh Spot 43

3.1.2 Tư liệu ảnh Landsat 45

3.2 Phân loại ảnh Spot và Landsat 48

Trang 7

3.2.1 Cácnguyêntắcphânloại 48

3.2.2 Phân loại định hướng dựa trên đối tượng 48

3.2.2.1 Một số vấn đề về nguyên lý của phương pháp ĐHĐT 48

3.2.2.2 Các thông số sử dụng để xây dựng cơ sở tri thức trong PLĐHĐT 49 3.2.3 So sánh phương pháp phân loại đinh hướng đối tượng và phân loại dựa trên pixel 55

3.3 Thành lập bản đồ lớp phủ vùng đất ngập nước khu vực đảo Cái Bầu 61

3.3.1 Quy trình phân loại ảnh theo định hướng đối tượng 61

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Rừng Tràm U Minh. 16

Hình 1.2: Vùng đất ngập nước châu thổ sông Hồng. 18

Hình 2.1: Mô hình số độ cao đảo Cái Bầu 30

Hình 2.2:Bản đồ thổ nhưỡng đảo Cái Bầu 30

Hình 2.3: Quần xã thực vật tham gia RNM trên thể nền cao, ít chịu tác động của thủy triều 39

Hình 2.4: Quần xã Đước và Vẹt dù ở Đảo Cái Bầu 38

Hình 2.5: Quần xã Trang và Sú 39

Hình 2.6:Vẹt dù trên đảo Cái Bầu 40

Hình 2.7: Quần xã Mắm biển,Sú 41

Hình 3.1 Sơ đồ phản xạ phổ của các đối tượng tự nhiên cơ bản 50

Hình 3.2: Mô hình xây dựng tập mờ (mờ hóa đặc điểm của đối tượng) (Ursula C Benz, Peter Hofmann et al 2004). 54

Hình 3.3 Quy trình phân loại ảnh theo định hướng đối tượng 57

Hình 3.4: Thông số dùng để phân đoạn ảnh Spot khu vực đảo Cái Bầu 59

Hình 3.5 Mẫu khóa giải đoán ảnh viễn thám về các đổi tượng 62

Hình 3.6: Bản đồ hiện trạng lớp phủ phân loại từ ảnh Spot và ảnh Landsat 64

Hinh 3.7:Vị trí các điểm khảo sát đảo Cái Bầu 66

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Các loài sinh vật có ở vùng đất ngập nước Việt Nam. 20

Bảng 1.2: Diện tích và sản lượng lúa cả nước qua một số năm. 21

Bảng 2.1: Một số đặc trưng khí hậu trong khu vực đảo Cái Bầu 32

Bảng3.1.Một số thông số về các kênh phổ của ảnh SPOT-1;-2;-3 43

Bảng 3.2 Một số thông số các kênh phổ của ảnh SPOT-4 47

Bảng 3.3: Đặc điểm ảnh vệ tinh Spot 5 48

Bảng3.4.Một số thông số các kênh phổ của ảnh LandsatTM 49

Bảng3.5 Một số thông số các kênh phổ ảnh LandsatETM+,Landsat-7 50

Bảng 3.6 So sánh phân loại Pixel-Based và phân loại định hướng đối tượng 60

Bảng 3.7: Độ chính xác phân loại của ảnh Landsat 72

Bảng 3.8: Độ chính xác phân loại của ảnh Spot 72

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất ngập nước rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới Hàng thế kỷ nay, con người và các nền văn hoá nhân loại được hình thành và phát triển dọc theo các triền sông hoặc ngay trên các vùng đất ngập nước Đất ngập nước đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay người ta đã nhận biết được các chức năng và giá trị to lớn của chúng Việc rà soát, đánh giá các thành tựu tồn tại và các xu thế liên quan đến đất ngập nước nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất những biện pháp xử lí cùng với việc phát triển bền vững các vùng đất ngập nước là hết sức cần thiết

Việt Nam hiện đã xác định được 68 khu đất ngập nước có giá trị kinh tế và có thể phát triển bền vững môi trường sống Tuy nhiên, các khu đất ngập nước này đang dần dần bị thu hẹp, mà nguyên nhân chủ yếu là do sự khai thác quá mức của người dân địa phương, nhằm phục vụ các mục đích sử dụng không bền vững trước mắt

Các vùng đất ngập nước vẫn chưa thực sự là hạng mục quản lí riêng về sử dụng và bảo tồn đất Tình trạng quản lí các vùng đất ngập nước bị phân tán trong các ban và bộ khác nhau của Chính phủ Các chính sách tách biệt nhau gây ra các hoạt động mâu thuẫn nhau ở cơ sở, ví dụ như trồng rừng ngập mặn chưa gắn kết với nuôi tôm và bảo vệ rừng ven biển Chỉ riêng đất ngập nước ven biển nước ta, Ngân hàng Phát triển châu Á đưa ra bức tranh màu xám với 1755 km chiều dài đường bờ

bị ô nhiễm, trong đó 615 km chiều dài đường bờ bị ô nhiễm nặng, 712 loài bị đe dọa ở các vùng đất ngập nước ven bờ…

Thách thức đối với đất ngập nước là rất lớn Các hệ sinh thái đất ngập nước của nước ta chiếm diện tích rộng lớn nhưng hầu như chưa được chú ý đầy đủ và đánh giá đúng mức cũng như thiếu sự đảm bảo về thể chế và pháp lý Cần có nhiều

nỗ lực trung và dài hạn để xây dựng cơ sở tri thức, khung thể chế và pháp lý, nâng cao nhận thức của cộng đồng và những người làm chính sách cũng như tăng cường

Trang 12

năng lực ở các cấp đã được phân cấp để quản lí hợp lí đất ngập nước Tuy nỗ lực như vậy có thể bắt đầu bằng một chương trình tương đối nhỏ nhưng chắc chắn, theo thời gian, nỗ lực đó cần được phát triển thành một hệ thống toàn quốc, toàn diện trong lĩnh vực đất ngập nước mới mong đạt được sự quản lí hợp lí đất ngập nước

Quảng Ninh là một trong những tỉnh có biên độ thủy triều cao,ranh giới đất ngập nước lớn Nó có giá trị và ý nghĩa to lớn về đa dạng sinh học đối với việc bảo

vệ môi trường, đời sống người dân và phát triển kinh tế xã hội.Chính vì những ý

nghĩa đã nêu trên tôi tiến hành nghiên cứu thử nghiệm đề tài: “So sánh khả năng

ứng dụng của ảnh Spot và Landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nướckhu vực Vân Đồn-Quảng Ninh”

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Thử nghiệp so sánh khả năng ứng dụng ảnh Spot và Landsat trong việc nghiên cứu vùng ngập nước Hình thành quá trình ứng dụng của chúng trong việc nghiên cứu đất ngập nước

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Xác định ranh giới vùng ngập nước

+ Hệ thống hóa đặc điểm ảnh Spot và Landsat và khả năng thực hiện ảnh này

trong thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước

Trang 13

4 Giới hạn nghiên cứu

- Về không gian : khu vực đảo Cái Bầu-Vân Đồn-Quảng Ninh

-Tỉ lệ nghiên cứu : 1: 50.000

-Thời gian : hiện trạng năm 2012

5 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp viễn thám,GIS : được sử dụng để phân loại các ảnh vệ tinh

Landsat và Spot, các chức năng phân tích không gian của GIS được sử dụng để tích hợp các kết quả phân loại ảnh vệ tinh với dữ liệu bản đồ, dữ liệu thống kê thu thập được

+ Phương pháp điều tra khảo sát thực địa

6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn

Trang 14

Sau khi hoàn thành , luận văn một phần nào sẽ nêu nên được hiện trạng lớp phủ thực vật vùng ngập nước ở khu vực nghiên cứu dựa vào kết quả nghiên cứu có thể góp phần bảo tồn và phát triển đất ngập nước trong thời gian tới

7 Cấu trúc luận văn gồm 3 chương

- Chương 1: Khái quát chung về đất ngập nước và vai trò của đất ngập nước

- Chương 2: Đặc điểm tự nhiên,kinh tế xã hội và đặc điểm đất ngập nước khu vực đảo Cái Bầu

- Chương 3: Sử dụng tư liệu ảnh Spot và Landsat thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực đảo Cái Bầu- huyện Vân Đồn

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Trang 15

CHƯƠNG 1- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ

Tuỳ thuộc vào sự khác nhau về loại hình, phân bố cùng với những mục đích

sử dụng khác nhau mà người ta định nghĩa về đất ngập nước rất khác nhau

Trên thế giới hiện đã có trên 50 định nghĩa về đất ngập nước Nhiều tài liệu ở các nước như Canada, Hoa Kỳ và Úc, Uỷ ban đất ngập nước của Liên Hiệp Quốc (UN Committee on Characterization of Wetlands, 1995)… đã định nghĩa về đất ngập nước theo nhiều mức độ và mục đích khác nhau

Định nghĩa về đất ngập nước của Công ước RAMSAR (Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước - Convention on wetland of intrenational importance, especially as waterfowl habitat) có tầm khái quát và bao hàm nhất Theo định nghĩa này, “Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, sình lầy, vùng than bùn hoặc vùng nước dù là tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hay từng chu kì, với nước đọng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, bao gồm cả các vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét khi thuỷ triều thấp.” (Điều 1.1, Công ước Ramsar, 1971)

Dù định nghĩa thế nào đi chăng nữa thì nước - chế độ thuỷ văn vẫn là yếu tố tự nhiên quyết định và đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định, duy trì và quản lý các vùng đất ngập nước, đặc biệt là các vùng đất ngập nước nước ngọt nội địa

Đất ngập nước có vai trò quan trọng đối với đời sống của các cộng đồng dân cư Hiện nay, khoảng 70% dân số thế giới sống ở các vùng cửa sông ven biển và xung

Trang 16

quanh các thuỷ vực nước ngọt nội địa Đất ngập nước còn là nơi sinh sống của một số lượng lớn các loài động vật và thực vật, trong đó có nhiều loài quí hiếm

Ở Việt Nam, đất ngập nước rất đa dạng với diện tích xấp xỉ 5.810.000 ha, chiếm khoảng 8% toàn bộ các vùng đất ngập nước của Châu Á Trong đó đất ngập nước nước ngọt chiếm khoảng 10% diện tích của các vùng đất ngập nước toàn quốc Trong số các vùng đất ngập nước của Việt Nam thì 68 vùng (khoảng 341.833 ha) là có tầm quan trọng về đa dạng sinh học và môi trường thuộc nhiều loại hình đất ngập nước khác nhau, phân bố khắp trong cả nước (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 2001)

Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, đất ngập nước đang bị giảm diện tích và suy thoái ở mức độ nghiêm trọng

Năm 1989, Việt Nam đã tham gia công ước quốc tế Ramsar về bảo tồn đất ngập nước như là nơi sống quan trọng của các loài chim nước Thêm vào đó, Việt Nam cũng

đã có những cố gắng trong công tác nghiên cứu, quản lý và bảo tồn đất ngập nước như:

“Chương trình bảo tồn đất ngập nước quốc gia”; Nghị định 109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước; “Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010” (số 192/2003/QĐ-TTg), v.v

Các đặc điểm tự nhiên chủ yếu hình thành đất ngập nước ở Việt Nam:

- Đặc điểm địa mạo: 2/3 diện tích tự nhiên Việt Nam là đồi núi, có hướng nghiêng chung từ Tây sang Đông Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ là những vùng trũng, tạo nên hai vùng đất ngập nước tiêu biểu là vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long

- Đặc điểm khí hậu: thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hằng năm khá cao (hơn 200C), độ ẩm tương đối lớn (hơn 80%), lượng mưa dồi dào (1500mm/năm) Sự khác nhau về chế độ khí hậu giữa các vùng, đặc biệt là chế

độ nhiệt - ẩm có ảnh hưởng đến chế độ thủy văn của từng vùng như thời gian ngập nước, độ sâu ngập nước, chế độ nhiệt của nước, dẫn đến sự khác nhau giữa các loại hình đất ngập nước

- Đặc điểm thủy văn: hệ thống dòng chảy với một mạng lưới tiêu nước ra biển khá dày Tổng số các con sông lớn nhỏ ở Việt Nam lên đến 2500, trong đó những

Trang 17

con sông dài trên 10 km là 2360 sông Theo số liệu tính toán cho thấy hệ thống sông Cửu Long có nguồn nước chảy vào Việt Nam là lớn nhất, chiếm 61,4% tổng lượng dòng chảy sông ngòi của cả nước Các dòng sông chảy ra biển đã tạo thành

hệ thống cửa sông là một trong những loại hình đất ngập nước quan trọng của Việt Nam Hiện nay cả nước có trên 3500 hồ chứa nước nhỏ và 650 hồ chứa nước vừa

và lớn, các hồ chứa nước lớn như hồ Thác Bà có diện tích mặt nước 23400 ha, hồ Hòa Bình 218 km2, hồ Dầu Tiếng 35000 ha, hồ Trị An 27000 ha…

- Thổ nhưỡng: có 15 nhóm đất, trong đó có 7 nhóm đất liên quan đến các đặc trưng của các vùng đất ngập nước, đó là đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất glây, đất than bùn, đất xám và đất cát Do các đặc điểm khác nhau về địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng đã hình thành các đặc trưng về thực vật của các vùng đất ngập nước với hai dạng điển hình

là thực vật vùng đất ngập nước mặn và thực vật vùng đất ngập nước ngọt

1.1.2 Phân loại đất ngập nước Việt Nam

1.1.2.1 Đất ngập nước tự nhiên

 Đất ngập nước ven biển và biển:

- Các vùng biển nông có độ ngập dưới 6m lúc triều thấp, gồm cả vùng vịnh và

eo biển

- Các thảm thực vật biển dưới triều, bao gồm các bãi cỏ biển, các bãi cỏ biển nhiệt đới

- Các rạn san hô

- Các bờ biển đá, kể cả các đảo đá ngoài khơi và vách đá biển

- Các bờ cát, bãi cuội hay sỏi; bao gồm các roi cát, mũi đất nhô ra biển và các đảo cát; kể cả các hệ cồn cát và các hõm chứa bùn cặn ẩm ướt

- Các vùng nước cửa sông; nước thường xuyên của các vùng cửa sông và các

hệ thống cửa sông châu thổ

- Các bãi bùn gian triều, các bãi cát hay bãi muối

- Các đầm lầy gian triều; bao gồm các đầm lầy nước mặn, các đồng cỏ nước mặn, các bãi kết muối, các đầm nước mặn nổi lên; kể cả các đầm nước ngọt và lợ thủy triều

Trang 18

- Các vùng đất ngập nước có rừng gian triều; bao gồm rừng ngập mặn, các đầm dừa nước và các đầm có cây nước ngọt

- Các đầm/ phá nước lợ/mặn ven biển; các đầm/ phá nước lợ đến nước mặn ít nhất có một lạch nhỏ thông với biển

- Các đầm/ phá nước ngọt ven biển; bao gồm các đầm/ phá châu thổ nước ngọt

- Các hệ thống thủy văn castơ ngầm và hang động ven biển và biển

Hình 1.1: Rừng Tràm U Minh

 Đất ngập nước nội địa:

- Các đồng bằng châu thổ thường xuyên có nước

- Các sông/suối/lạch thường xuyên có nước; bao gồm cả các thác nước

- Các sông/suối/lạch có nước theo mùa/không liên tục/bất thường

- Các hồ nước ngọt có nước thường xuyên (trên 8 ha), bao gồm các hồ hình móng ngựa

- Các hồ nước ngọt có nước theo mùa/không liên tục (trên 8 ha), bao gồm cả các hồ ở đồng bằng ngập lũ

- Các hồ nước mặn/lợ/kiềm có nước thường xuyên

- Các hồ và bãi ngập mặn/lợ/kiềm theo mùa, không có nước thường xuyên

- Các đầm/vũng nước mặn/lợ/kiềm có nước thường xuyên

- Các đầm/vũng nước mặn/lợ/kiềm có nước theo mùa/không liên tục

- Các đầm/vũng nước ngọt có nước thường xuyên; các ao hồ (dưới 8 ha); các đầm nước và đầm lầy trên đất vô cơ; có thảm thực vật nổi úng nước ít nhất trong phần lớn mùa sinh trưởng

Trang 19

- Các đầm/ vũng nước ngọt có nước theo mùa/không liên tục trên đất vô cơ;

kể cả bãi lầy, hố/ hốc đá đồng cỏ ngập theo mùa, đầm cỏ lác/ lách

- Các vùng đất than bùn không có rừng; bao gồm đầm lầy than bùn có cây bụi hoặc trống, các đầm lầy/ bàu, các đầm lầy thấp

- Các vùng đất ngập nước núi cao; kể cả các đồng cỏ núi cao

- Các vùng đất ngập nước cây bụi chiếm ưu thế; các đầm lầy cây bụi, các đầm nước có cây bụi chiếm ưu thế, các rừng cây bụi, trên đất vô cơ

- Các vùng đất ngập nước nước ngọt có cây lớn chiếm ưu thế; kể cả rừng đầm lầy nước ngọt, rừng ngập theo mùa, đầm lầy cây gỗ; trên đất vô cơ

- Các vùng đất than bùn có rừng; rừng đầm lầy đất than bùn

- Suối, ốc đảo nước ngọt (các bàu nước ngọt trên các cồn cát miền Trung)

- Các vùng đất ngập nước địa nhiệt/ Suối nước nóng, suối khoáng

- Các hệ thống thủy văn castơ ngầm và hang động nội địa

Hình 1.2: Vùng đất ngập nước châu thổ sông Hồng

1.1.2.2 Đất ngập nước nhân tạo

 Đất ngập nước thuộc biển và ven biển:

- Các đầm/ ao nuôi trồng thủy sản (như các đầm nuôi tôm/cá)

- Các điểm khai thác muối; các ruộng/ hồ muối

 Đất ngập nước nội địa:

- Các ao; bao gồm các ao canh tác, các ao ươm, các hồ chứa nhỏ (nhìn chung nhỏ hơn 8ha)

- Đất được tưới tiêu; bao gồm các kênh mương tưới tiêu và các ruộng lúa

Trang 20

- Đất nông nghiệp ngập theo mùa (bao gồm các đồng cỏ ngập nước hoặc đồng

cỏ dùng để chăn thả gia súc hoặc được quản lý một cách tích cực)

- Các bãi khoáng mặn nội địa: Nam Cát Tiên (Đồng Nai), Cát Lộc (Lâm Đồng), Sa Thầy (Kon Tum)

- Các khu vực trữ nước; hồ chứa/ đập nước/ đập chắn/ vùng khoanh bao (nhìn chung trên 8 ha)

- Các nơi đào; các mỏ cuội/ gạch/ sét; các hố đất mượn, các moong

- Các vùng xử lý nước thải; các bãi chứa nước thải sinh hoạt, các ao lắng, các

và những giá trị to lớn về kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường, đóng góp rất quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.1 Chức năng nạp, tiết nước ngầm

Vào mùa mưa, khi dư lượng nước mặt lớn, các vùng đất ngập nước có tác dụng như một bể chứa nước để sau đó nước ngấm dần vào lòng đất trong mùa khô Quá trình này diễn ra liên tục nhằm bổ sung lượng nước cho các tầng nước ngầm Mặt khác, quá trình nạp và tiết nước liên tục giữa các vùng đất ngập nước với các tầng nước ngầm cũng góp phần thấm lọc, làm cho các tầng nước ngầm trở nên sạch hơn

Ví dụ như những vùng đất ngập nước dưới rừng Tràm (U Minh Thượng) đóng vai trò giữ nước, điều hòa độ ẩm, giữ cho lớp than bùn ẩm ướt Thêm vào đó, đất ngập nước còn có tác dụng hạn chế quá trình phèn hóa, cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt quanh năm của người dân và động vật

Trang 21

1.2.2 Chức năng lắng đọng trầm tích, độc tố

Các vùng đất ngập nước (đặc biệt là hồ, rừng ngập mặn, vũng vịnh ven bờ…) có tác dụng như là các bể lắng giữ lại trầm tích, các chất ô nhiễm, độc hại và chất thải nói chung, góp phần làm sạch nước và hạn chế ô nhiễm môi trường nước biển

1.2.3 Chức năng tích lũy chất dinh dưỡng

Các vùng ngập nước là nơi giữ lại các chất dinh dưỡng (nitơ, photpho, các nguyên tố vi lượng…) cho vi sinh vật, phát triển nguồn lợi thủy sản và lâm nghiệp, hạn chế bớt hiện tượng phú dưỡng như ở các vùng đất ngập nước đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các thủy vực khác

1.2.4 Chức năng điều hòa khí hậu:

Vùng ngập nước, đặc biệt ở vùng có cỏ biển, rừng ngập mặn, rạn san hô, góp phần cân bằng O2 và CO2 trong khí quyển, điều hòa khí hậu địa phương (nhiệt độ,

độ ẩm, lượng mưa) và giảm hiệu ứng nhà kính Theo tính toán của Tổ chức Jim Enright và Yadfon (2000), rừng ngập mặn có khả năng tích lũy CO2 ở mức độ cao, rừng ngập mặn 15 tuổi giảm được 90,24 tấn CO2/ha/năm, tác dụng lớn làm giảm hiệu ứng nhà kính

1.2.5 Chức năng hạn chế lũ lụt

Đất ngập nước (rừng ngập mặn, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo…) có thể đóng vai trò như bồn chứa lưu giữ, điều hòa lượng nước mưa và dòng chảy mặt, góp phần giảm lưu lượng dòng chảy lũ và hạn chế lũ lụt ở các vùng lân cận như hồ Hồ Hòa Bình,

hồ Thác Bà, hồ Trị An…

1.2.6 Chức năng sản xuất sinh khối

Vùng ngập nước là nơi sản xuất sinh khối, tạo nguồn thức ăn cho các loại thủy sản, gia súc, động vật hoang dã hoặc vật nuôi Ngoài ra, một phần các chất dinh dưỡng này có từ các động thực vật đã chết sẽ được các dòng chảy bề mặt chuyển đến các vùng hạ lưu và các vùng nước ven biển, làm giàu nguồn thức ăn cho những vùng đó

1.2.7 Chức năng duy trì đa dạng sinh học

Nhiều vùng đất ngập nước, đặc biệt là các vùng đất ngập nước có rừng ngập mặn, rạn san hô, cỏ biển là môi trường thích hợp cho việc cư trú, đẻ trứng, sinh sống và phát triển của nhiều loài động thực vật hoang dã Đất ngập nước là nơi duy trì nhiều nguồn gen, trong đó có nhiều loài quý hiếm, có giá trị

Trang 22

nước ven biển

- 350 loài san hô tạo rạn

- 15 loài cỏ biển

- 667 loài rong biển

- 94 loài thực vật ngập mặn

- Hơn 1300 loài cá và chim di cư

Bảng 1.1: Các loài sinh vật có ở vùng đất ngập nước Việt Nam

1.2.8 Chức năng chắn sóng, chắn gió bão, ổn định bờ biển, chống xói lở, hạn chế sóng thần

Nhờ thảm thực vật, đặc biệt là thảm thực vật rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô mà các vùng đất ngập nước ven biển có chức năng bảo vệ bờ biển khỏi tác động của sóng, thủy triều, xói lở, sóng thần Mặt khác, chúng còn tạo ra môi trường thuận lợi cho việc lắng đọng phù sa, góp phần ổn định và mở rộng bãi bồi Các rạn san hô ngầm rộng lớn đã giảm cường độ sóng tác động đến bờ biển, các vùng ven đảo trong thời kì giông bão, sóng thần Nhiều năm gần đây, diện tích các hệ sinh thái đất ngập nước tự nhiên (rừng ngập mặn, san hô, cỏ biển…) bị suy giảm để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy hải sản Do đó, đường bờ biển liên tục bị biến động, chiều dài bờ biển bị xói lở tăng (ven bờ đồng bằng sông Hồng, Trung Bộ và Nam Trung Bộ, Nam Bộ)

1.2.9 Các chức năng khác

Ngoài các chức năng nói trên, đất ngập nước còn đóng vai trò quan trọng tạo thành môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế của nhiều ngành khác nhau: nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, giao thông thủy, dịch vụ du lịch, khai thác khoáng sản… Đặc biệt, đất ngập nước là nơi sinh sống của một bộ phận lớn dân số Việt Nam

Trang 23

1.3 Giá trị của đất ngập nước ở Việt Nam

1.3.1 Giá trị kinh tế của đất ngập nước

Đất ngập nước góp phần quan trọng cho sự phát triển của các ngành nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, năng lượng, giao thông thủy Các dòng chảy thường xuyên tạo ra các vùng châu thổ rộng lớn phì nhiêu (là vùng sản xuất nông nghiệp trù phú), có khu hệ cá phong phú với sản lượng cao, là nguồn lợi cung cấp cho nhiều cộng đồng dân cư sống xung quanh

Nguồn: Tổng cục thống kê

(nghìn ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Bảng 1.2: Diện tích và sản lượng lúa cả nước qua một số năm

Giai đoạn sau năm 1989, các vùng đất ngập nước góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam từ một nước phải nhập khẩu 1 triệu tấn gạo/năm (giai đoạn 1976 – 1988) đã trở thành nước không chỉ cung cấp đủ gạo ăn mà còn trở thành một trong những nước xuất khất gạo hàng đầu thế giới Kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản liên tục tăng, thúc đẩy sự phát triển của một số ngành như công nghiệp chế biến hải sản Năm 2002, khai thác ven bờ đạt

1434800 tấn, đưa ngành thủy sản đạt kim ngạch xuất khẩu 2 tỷ USD, đứng vị trí thứ ba cả nước Nổi bật trong giai đoạn này là sự phát triển mạnh của ngành du lịch dựa trên các giá trị của đất ngập nước Vịnh Hạ Long, đảo Cát Bà, Côn Đảo, các bãi biển nổi tiếng Phan Thiết, Vũng Tàu, Phong Nha – Kẻ Bàng, các khu căn

cứ cách mạng ở vườn quốc gia U Minh Thượng, các khu du lịch sinh thái như vườn quốc gia Xuân Thủy, vườn quốc gia Hồ Ba Bể… là điểm thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước

Trang 24

1.3.2 Giá trị văn hóa của đất ngập nước

Đất ngập nước có những giá trị văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng và khảo cổ quan trọng đối với cộng đồng địa phương cũng như quốc gia Đất ngập nước Việt Nam là cội nguồn của nền văn minh lúa nước và rộng hơn là nền văn minh nước (water civilization) Đất ngập nước và các tài nguyên của nó là nguồn cảm hứng sáng tạo của nhiều nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ ở Việt Nam Có rất nhiều biểu tượng nổi tiếng mang ý nghĩa quốc gia có liên quan đến đất ngập nước như: Hoa sen được chạm khắc trong các đền chùa, trong các điệu múa, bài ca dao… Rối nước là loại hình nghệ thuật độc đáo, chỉ có ở duy nhất Việt Nam

Đất ngập nước là nơi lưu trữ nhiều hiện vật của các cuộc kháng chiến bảo vệ dân tộc (cửa Bạch Đằng…), là nơi gắn liền với các di tích lịch sử (đền Bà ở cửa Lân thuộc cửa sông Hồng, chiến khu cách mạng U Minh Thượng, bãi Nhà Mạc…) Thêm vào đó, các khu đất ngập nước còn đóng góp giá trị lớn vào việc giáo dục về môi trường, lịch sử văn hóa gắn liền với các thời kỳ cách mạng của dân tộc, nghiên cứu khoa học…

1.4 Hiện trạng bảo tồn và quản lí đất ngập nước ở Việt Nam

Việc quản lý tài nguyên và bảo tồn thông qua các cơ quan trung ương đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc hạn chế khai thác tài nguyên quá mức và những tác động huỷ diệt Vì thế, nhiều quốc gia hiện nay đang trở lại kiểm soát tài nguyên thiên nhiên ở cấp địa phương, bởi vì những người phụ thuộc trực tiếp vào những nguồn tài nguyên thường là những người tận tâm, có ý thức và là những người bảo

vệ có khả năng thực hiện được

Theo Luật đất đai (2003), không có danh mục về “đất ngập nước” Trong luật này, đất ngập nước được hiểu là “đất trồng lúa nước”, “đất làm muối”, “đất nuôi trồng thủy sản”, “đất rừng đặc dụng là các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước ”, “đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng”

Từ năm 1989 đến nay, diện tích một số loại đất ngập nước có diện tích tăng lên như: các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên (Vườn quốc gia Xuân Thủy, Vườn quốc gia U Minh Thượng, Vườn quốc gia Phú Quốc, Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát, Vườn quốc gia Núi Chúa…)

Trang 25

Các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên này đã được Thủ Tướng Chính phủ xác lập, thể hiện nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc bảo tồn những diện tích đất ngập nước tự nhiên còn duy trì các giá trị cao về đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên trong bối cảnh dân số và quá trình khai thác sử dụng đất cho mục đích kinh tế ngày càng tăng Diện tích đất ngập nước phục vụ nuôi trồng thủy sản tăng, trong khi diện tích rừng ngập mặn ven biển giảm đi Điều này, gây bất lợi về môi trường và sinh thái, nhưng lại góp phần nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Đồng thời, loại đất ngập nước canh tác lúa nước cũng tăng lên phục vụ cho mục tiêu phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực quốc gia Đến năm 2003, đã sản xuất được 34 triệu tấn thóc, cung cấp đủ gạo ăn và còn xuất khẩu được 3,8 triệu tấn gạo, trở thành nước thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo Rõ ràng, việc sử đất ngập nước như trên đã mang lại những thay đổi to lớn, góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Tuy nhiên, hoạt động này đã cản trở việc thực hiện các mục tiêu khác như cung cấp nước ngọt, giảm lụt lội, giảm khí thải nhà kính v.v nên cũng khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ, đặc biệt là phá rừng ngập mặn nuôi trồng thủy sản hay thoát nước đất ngập nước để phát triển nông nghiệp lại cản trở chính những hoạt động đó về dài hạn do

ô nhiễm và thiên tai

1.4.1 Quản lí đất ngập nước ở cấp trung ương:

Cho đến hiện nay, ở Việt Nam không có một cơ quan nào chịu trách nhiệm duy nhất về quản lý đất ngập nước ở cấp trung ương Mỗi bộ, ngành tùy theo chức năng được Chính phủ phân công sẽ thực hiện việc quản lý theo lĩnh vực từng ngành bao gồm cả đối tượng đất ngập nước Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm về đất ngập nước trong phạm vi đất canh tác lúa nước, các khu rừng là vườn quốc gia hay khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước, các công trình thủy lợi, các hồ chứa Bộ Thủy sản chịu trách nhiệm về đất ngập nước trong phạm vi diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản và vùng ven bờ biển Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm về đất ngập nước trong phạm vi các dòng sông, là cơ quan điều phối các hoạt động chung của quốc gia về đất ngập nước, nhất là các hoạt động liên quan đến Công ước Ramsar Các cơ quan khác liên quan đến sử dụng đất ngập nước như giao thông thủy, du lịch, thủy điện Một đặc điểm cơ bản là các vùng đất

Trang 26

ngập nước ở Việt Nam là nơi sinh sống của các cộng đồng dân cư từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã hình thành những giá trị văn hóa, tập quán canh tác đặc thù, vì vậy mà việc quản lý đất ngập nước không thể tách biệt chuyên ngành và với việc phát triển cộng đồng Tuy vậy, vấn đề tồn tại là sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch phát triển một vùng đất ngập nước, thiếu sự phối hợp giữa các ngành trong quản lý tổng hợp đất ngập nước Việc quản lý và sử dụng khôn khéo đòi hỏi phải có chính sách và biện pháp đồng bộ và tổng hợp

1.4.2 Quản lí đất ngập nước ở cấp tỉnh, thành phố:

Việt Nam có 64 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, ủy ban nhân dân các tỉnh là một cơ quan hành chính cao nhất của tỉnh, dưới ủy ban nhân dân tỉnh có các cơ quan cấp sở được tổ chức theo hệ thống ngành dọc từ cấp trung ương Vì vậy, tình hình quản lý đất ngập nước ở cấp tỉnh cũng tương tự như ở cấp trung ương, nghĩa là mỗi sở, ngành sẽ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực của mình trong đó có vấn đề liên quan đất ngập nước theo quy định của pháp luật và sự phân công của ủy ban nhân dân tỉnh Hiện nay, sự hiểu biết về đất ngập nước ở các

cơ quan cấp tỉnh còn rất hạn chế, vì vậy sự tuyên truyền, giáo dục người dân địa phương về đất ngập nước cũng là một tồn tại chưa thể khắc phục được

1.4.3 Bảo tồn đất ngập nước ở Việt Nam:

Vấn đề bảo tồn được đề cập là bảo tồn những đất ngập nước nước tự nhiên

có giá trị cao về đa dạng sinh học và những hệ sinh thái đặc thù Hiện nay, ở Việt Nam có hai hệ thống bảo tồn: hệ thống rừng đặc dụng (special-use forests system), thuộc sự quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và hệ thống các khu bảo tồn biển (marine conservation sites system), thuộc sự quản lý của Bộ Thủy sản Hầu hết các khu bảo tồn đất ngập nước hiện nay là các khu rừng đặc dụng Đến năm

2004, có 126 khu rừng đặc dụng, gồm 28 vườn quốc gia, 59 khu bảo tồn thiên nhiên

và 39 khu bảo vệ cảnh quan đã được Thủ Tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong số này có 4 vườn quốc gia (Xuân Thủy, Tràm Chim, U Minh Thượng, Mũi

Cà Mau) và 10 khu bảo tồn thiên nhiên (Thạnh Phú, Lung Ngọc Hoàng, Kiên Lương, Bạc Liêu, Tiền Hải, Vồ Dơi, Đảo hồ Sông Đà, Cấm Sơn, Hồ Lak, Hồ Núi Cốc) là những vùng đất ngập nước và có 6 vườn quốc gia (Ba Bể, Bái Tử Long, Cát

Trang 27

Tiên, Côn Đảo, Phú Quốc, Lò Gò - Xa Mát), 4 khu bảo tồn thiên nhiên (Bình Châu

- Phước Bửu, EaRal, Trấp Ksơ, Vân Long) có một phần diện tích là đất ngập nước

Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất 68 vùng đất ngập nước có giá trị đa dạng sinh học và môi trường của Việt Nam, bao gồm các hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo, các đầm, phá, cửa sông, các sân chim, các khu rừng ngập nước, các trảng

cỏ ngập nước theo mùa Trong đó, có 17 khu thuộc hệ thống các khu rừng đặc dụng

đã được Thủ Tướng Chính phủ xác lập

Một số định hướng về nguyên tắc bảo tồn đất ngập nước có thể nêu như sau:

- Khai thác sử dụng đất ngập nước một cách khôn khéo có nghĩa là không làm biến đổi các chức năng, dịch vụ và quá trình sinh thái của chúng;

- Tiến hành quản lý tổng hợp, nhất là quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng;

- Xây dựng thể chế, chính sách, quy hoạch, căn cứ pháp lý cũng như cơ sở khoa học để sử dụng khôn khéo, có hiệu quả và bền vững các vùng đất ngập nước;

- Quy hoạch và triển khai các hoạt động bảo vệ các vùng đất ngập nước quan trọng và các hệ sinh thái đất ngập nước là điểm nóng cần được bảo tồn;

- Lồng ghép quản lý đất ngập nước vào kế hoạch phát triển kinh tế địa phương, nghĩa là phải xem đất ngập nước là một trong những tài nguyên quốc gia phục vụ cho phát triển;

- Đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ về nghiên cứu, bảo tồn và sử dụng khôn khéo các hệ sinh thái đất ngập nước trên cơ sở bảo tồn để phát triển bền vững;

- Tạo những thu nhập thay thế giúp cộng đồng giảm sức ép lên đất ngập nước Gắn hoạt động phát triển kinh tế với bảo tồn đất ngập nước;

- Đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục môi trường nâng cao nhận thức về đất ngập nước nói riêng và môi trường nói chung

- Một trong những giải pháp quản lý, bảo tồn đất ngập nước được xem là có hiệu quả là thành lập các khu bảo tồn (IUCN, 2003) Các khu bảo tồn là thành tố quan trọng

để đạt được sự phát triển bền vững Các khu bảo tồn cung cấp các sản phẩm và dịch vụ vượt ra khỏi ranh giới của chúng đồng thời cũng góp phần quan trọng vào việc bảo tồn

đa dạng sinh học và xoá đói giảm nghèo Các quan điểm về bảo tồn và các khu bảo tồn cũng thay đổi theo thời gian

Trang 28

CHƯƠNG 2- ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN,KINH TẾ XÃ HỘI VÀ ĐẶC ĐIỂM

ĐẤT NGẬP NƯỚC KHU VỰC ĐẢO CÁI BẦU

2.1 Khái quát chung về khu vực nghiên cứu

2.1.1 Phạm vi thực hiện

Khu vực nghiên cứu thuộc địa phận đảo Cái Bầu huyện Vân Đồn, trong phạm vi 21004’27”B và 107025’12”Đ

2.1.1.1 Vị trí địa lý

+Phía Bắc giáp vùng biển huyện Tiên Yên

+ Phía Tây giáp thị xã Cẩm Phả

+ Phía Đông giáp vùng biển huyện Cô Tô

+Phía Nam giáp Vịnh Bái Tử Long

2.1.1.2 Địa hình

Địa hình, địa mạo phần đảo

Đảo Cái Bầu nằm trong đới địa chất duyên hải Bắc Bộ, hướng cấu trúc kiến tạo Đông Bắc – Tây Nam, song song với bờ biển của đất liền.Đảo này thuộc phức

hệ nếp lồi Quảng Ninh, và ở đơn vị cấp nhỏ hơn là khối nâng đơn nghiêng Vân Đồn Với những thành phần cát sạn, thạch anh, kết cấu cát và cuội dạng quắc zít, pha lẫn trầm tích vụn thô- nguồn gốc hình thành từ trầm tích cơ học.Một số núi trên đảo

có tầng đá mẹ là đá vôi - có nguồn gốc hình thành là trầm tích hóa học Như vậy đảo Cái Bầu có cấu tạo địa chất khá đặc biệt, một thân đảo có 2 nền địa chất với nguồn gốc hình thành rất khác nhau Phần Bắc đảo là “núi đất” trên nền đá lục nguyên ( gồm các đá mẹ sa thạch, cuội kết, cát kết) chiếm diện tích hơn 1/3 đảo Phần Nam đảo là núi đá vôi, đặc trưng bởi địa hình castơ có nhiều hang động và thung áng Do chịu ảnh hưởng thủy triều, các thung áng này hình thành thành các vụng kín trong lòng núi, tạo ra những cảnh quan rất đặc sắc và hấp dẫn

Về địa hình: Đảo Cái Bầu địa hình đồi núi thấp, bao gồm những đỉnh núi

cao dưới 300 mét so với mặt biển.Hình dáng này nhìn chung hẹp về chiều ngang và kéo dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam Độ dốc của 2 sườn đảo có sự phân hóa

rõ rệt

Trang 29

Ven chân các đảo có nhiều vũng, bãi gian triều đất bùn, hoặc nhiều bãi cát hẹp và bãi đá ở chân đảo rộng từ 30 mét đến 70 mét, ngập triều theo chu kỳ Một số vùng rộng hàng trăm héc ta, vừa có bãi bùn, vừa có bãi cát, bãi đá, vừa có chỗ sâu, cảnh quan đẹp, thuận lợi cho việc neo trú tầu thuyền

Địa hình, địa mạo đáy biển

Nằm giữa các đảo là hệ thống các lạch biển có địa hình đáy phức tạp, được hình thành bởi quá trình mài mòn, xâm thực và tích tụ ngầm Có 2 hệ thống lạch định hướng Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc – Tây Nam Hệ thống lạch theo hướng Tây Bắc - Đông Nam chia cắt các đảo chắn ngoài và đạt tới độ sâu 32m ở giữa hòn Sậu Đông và đảo Sậu Nam, 20m ở giữa đảo Sậu Nam và hòn Vành (Cửa Sậu), 22m ở giữa hòn Vành và đảo Ba Mùn (Cửa Nội), 20m ở giữa đảo Ba Mùn và Quan Lạn (Cửa Đối) Ở các lạch này, hoạt động xâm thực – mài mòn đáy mạnh mẽ,

lộ ra các vật liệu thô và rất thô Hệ thống lạch theo hướng Đông Bắc – Tây Nam tương đối rộng, sâu phổ biến 5 – 15m, nơi đây diễn ra quá trình hỗn hợp mài mòn – tích tụ

Cấu trúc hình thái bờ đảo không đồng nhất do khác nhau về thành phần vật chất cấu thành đảo và động lực biển hiện đại Bờ phía Đông của đảo chắn ngoài cấu tạo từ các đá vụn lục nguyên, tương đối thẳng và dốc, thường xuyên chịu tác động của sóng ở tất cả các mùa, nơi phát triển các dạng địa hình bờ kiểu vách (cliff) và bãi tảng

Trang 30

Hình 2.1: Mô hình số độ cao đảo Cái Bầu

Trang 31

2.1.1.3 Thổ nhưỡng

Đảo Cái Bầu chủ yếu là nhóm đất cát pha,đất phù sa không được bồi chua,đất cát ven biển,đát mặn, đất feralit vàng nhạt phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô Từ độ cao hơn 100 m đất có rừng che phủ, độ ẩm cao, tầng dầy khoảng 50 cm và giàu dinh dưỡng Ở độ cao nhỏ hơn 100 m, ven chân đảo đất có tầng mỏng khoảng 40 cm, nghèo dinh dưỡng do bị xói mòn, rửa trôi Nhờ quá trình cải tạo và tu bổ, loại đất này được phục vụ cho quá trình canh tác, phục vụ cho sản xuất lúa và hoa màu.Một số đã được cải tạo thành đất canh tác, đắp đầm nuôi tôm, còn lại là bãi sú vẹt, cồn cát ven biển bị ngập nước thủy triều

Trang 32

Hình 2.2:Bản đồ thổ nhưỡng đảo Cái Bầu

Trang 33

2.1.1.4 Khí hậu

Đảo Cái Bầu nằm trong vùng nhiệt đới cận chí tuyến bắc Khu vực thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiều giông bão, chia thành hai mùa: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, có đặc điểm nóng, mưa nhiều, nhiệt độ cao nhất có thể đạt đến 370C - 380C, gió nam thịnh hành Mùa khô kéo dài

từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, rét và khô, lượng mưa không đáng kể, nhiệt độ thấp nhất 40

C - 50C, gió đông bắc chiếm ưu thế

Hằng năm, khu vực có khoảng 1.400 – 1.800 giờ nắng Các tháng mùa mưa

số giờ nắng cao, đạt trung binh 130 – 180 giờ/tháng Vào mùa đông số giờ nắng thấp nhất thường dưới 130 giờ/tháng

Mùa mưa bắt đầu vào tháng 5, kết thúc vào tháng 8 hoặc tháng 9 và là mùa

có nhiều giông bão Trung bình mỗi năm có khoảng từ 130 – 160 ngày mưa với lượng mưa trung bình năm là 2.329 mm, thuộc loại cao của khu vực ven biển vịnh Bắc Bộ Từ tháng 11 đến tháng 4 thuộc mùa khô, lượng mưa rất ít

Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 22,60C và thấp nhất vào tháng 1 (150C - 170C), nhiệt độ cao vào mùa hè (tháng 7 và 8) trung bình vào khoảng 270

Các dạng thời tiết đặc biệt: Mưa phùn xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 4, tập trung vào tháng 2 Sương mù khoảng 15 – 20 ngày/năm và xuất hiện tập trung vào các tháng 11 – tháng 4 Mùa hè thường xảy ra hiện tượng giông, bão và lốc Hàng năm, trung bình có khoảng 1,5 cơn bão đổ bộ trực tiếp và bị ảnh hưởng của khoảng

3 – 4 cơn bão Mùa đông các trận gió mùa kéo dài và tần suất lớn đạt đến 20 – 25 đợt trong vòng hoảng 6 tháng mùa đông (từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau)

Trang 34

Bảng 2.1: Một số đặc trưng khí hậu trong khu vực đảo Cái Bầu

0 không khí ( 0 C)

Lượng mưa (mm)

Tổng giờ nắng

Tổng lượng bốc hơi (mm)

Độ ẩm (%)

(Tổng cục khí tượng thủy văn 2001 Khí tượng thủy văn vùng biển Việt Nam, NXB

Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.) 2.1.1.5 Đặc điểm thuỷ văn, hải văn

2.1.1.5.1 Thủy văn sông

Trong hệ thống sông Đông Bắc Việt Nam, sông Tiên Yên có ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất tới chế độ thủy văn phần biển đảo Cái Bầu Sông Tiên Yên có chiều dài 82 km bao gồm 7 phụ lưu trên lưu vực rộng 1070 km2 bắt nguồn từ độ cao 1175 m thuộc địa phận Bình Liêu Chủ lưu rộng trung bình 100 m và sâu 3m, lưu lượng thấp nhất đạt 28 m3/s Hàng năm, sông Tiên Yên đổ ra biển khoảng 660 x

106 m3 nước và 0,0347 x 106 tấn phù sa Tuy nhiên, phần lớn lượng phù sa này tạo nên các chương cát ngầm và bãi triều vùng cửa sông Tiên Yên

Trên đảo không có dòng chảy mặt thường xuyên thay vì có một số suối ngắn

và dốc hình thành trong mưa Thảm thực vật trên đảo tuy tương đối dày song không

có khả năng sinh thuỷ mà chỉ có khả năng cân bằng động thái nước mặt đệm giữa nước ngầm do nước mưa trữ trong vỏ phong hoá và nhu cầu tiêu thụ của thảm thực vật hiện có Điều đó có nghĩa là mọi hoạt động của con người triệt thoái thảm thực vật hay bóc lộ vỏ phong hoá trên đảo dễ dẫn tới phá vỡ cân bằng nước trên đảo và mất thảm thực vật

Trang 35

2.1.1.5.2 Hải văn

Thủy triều và mực nước

Chế độ độ thủy triều và mực nước biển khu vực đảo Cái Bầu có 2 đặc điểm nổi bật:

+ Là khu vực có chế độ thủy triều toàn nhật đều điển hình với đặc trưng mỗi

tháng có 2 kỳ nước cường và 2 kỳ nước kém Mỗi kỳ nước cường từ 11 đến 13 ngày, mức nước cáo nhất có thể cao từ 3,5 đến 4 m so với mức nước 0 hải đồ ( 0mHĐ) Mỗi kỳ nước kém từ 3 đến 4 ngày, mức nước cáo nhất từ 0,5 đến 1m so với mức nước 0mHĐ

+ Mực nước khu vực này có biên độ dao động lớn nhất nước ta Mực nước

lớn nhất có thể đạt tới 4,8m

Theo kinh nghiệm bản địa, các tháng 5 và 10 có biên độ triều lớn nhất Khoảng từ tháng 4 tới tháng 8 nước lớn về đêm, cạn vào ban ngày; từ tháng 9 tới tháng 3 năm sau nước thường lớn vào ban ngày và cạn về đêm Thời điểm nước lớn

và mực nước cao, thấp là yếu tố ảnh hưởng rất nhiều tới đặc tính sinh trưởng, phát triển của các loài thuỷ sản, đồng thời cũng là yếu tố ảnh hưởng rất sâu sắc tới các hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, giao thông và dịch vụ du lịch

Sóng

Chế độ sóng khác nhau giữa bờ Đông hệ thống đảo chắn ngoài và vùng nước trung tâm đảo Ở vùng biển phía Đông, độ cao sóng tương đối lớn, đạt trung bình 0,82 m cả năm và trung bình riêng các tháng chưa tới 1,0 m, khoảng 0,75 – 0,95 m Sóng hợp với trường gió theo mùa, có hướng Đông vào thời kỳ chuyển tiếp Sóng hướng Tây, Tây Nam hay Tây Bắc rất hiếm Độ cao sóng lớn nhất có thể tới

Do được che chắn bởi dãy đảo: Sậu, Ba Mùn, Quang châu- Quan lạn, kéo dài tới gần 50 km từ bắc xuống Nam như một bức trường thành tự nhiên nên đảo Cái Bầu luôn được bảo vệ an toàn nếu xảy ra những hiện tượng thiên tai bất thường như bão và sóng thần ở biển Đông

Dòng chảy

Ở phía đông đảo Cái Bầu, dòng chảy chịu ảnh hưởng của hải lưu ven bờ có hướng và tốc độ thay đổi theo mùa tương tự với sự thay đổi của hướng sóng Về

Trang 36

mùa Đông, dòng chảy hướng Tây Nam với tốc độ trung bình trong khoảng 0,25 –0,4 m/s Ngược lại về mùa hè, dòng chảy hướng Đông Bắc và tốc độ nhỏ hơn, trong

khoảng 0,15 – 0,25 m/s

Ở phần trung tâm đảo dòng chảy tổng hợp được quyết định bởi dòng triều, dòng sông, dòng gió Hướng dòng chảy thuận nghịch theo pha triều Khi triều lên, dòng chảy hướng Đông Bắc theo luồng lạch và hướng Tây Bắc qua các cửa giữa các đảo chắn Khi triều xuống, dòng chảy có hướng ngược lại và tốc độ lớn hơn lúc triều lên

Độ mặn nước biển

Nước ven bờ là sự pha trộn giữa nước biển và nước ngọ từ vùng núi cao phía Tây, Tây – Bắc theo dòng sông Tiên Yên đổ ra vịnh theo quy luật mùa Vào mùa khô, từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nước biển chiếm ưu thế, độ mặn trong mùa này dao động từ 26 - 30‰ Vào mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 8 với lượng mưa lớn trên vùng vịnh và được cộng thêm lượng nước mưa từ phía các vùng núi cao đổ xuống đã làm cho độ mặn giảm xuống đáng kể Độ mặn trung bình trong mùa này

thường dao động từ 5 - 17‰

2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội

2.1.2.1 Đặc điểm dân cư

Đảo Cái Bầu bao gồm thị trấn Cái Rồng và các xã Ðông Xá, Hạ Long, Bình Dân, Ðoàn Kết, Ðài Xuyên, Vạn Yên Với dân số khoảng 31.081 người, mật độ dân

cư khoảng 74 người/km2

Tộc người trên đảo là dân tộc Kinh, Sán Chỉ, Dao, Tày, Hoa

2.1.2.2 Đặc điểm kinh tế

Nền kinh tế trên đảo chủ yếu là kinh tế biển và khai thác khoáng sản bao gồm: nuôi trồng và đánh bắt hải sản, trồng và khai thác lâm nghiệp, dịch vụ du lịch biển, khai thác than, đá vôi , cát trắng, sắt, vàng sa khoáng Nông nghiệp trồng trọt thì kém phát triển

Vùng biển có nhiều chủng loại hải sản quý như: tôm he , cá mực, sá sung , cua, ghẹ Nghề khai thác hải sản có từ lâu đời, song chủ yếu là đánh bắt trong

Trang 37

lồng bè và ven bờ, chỉ từ năm 1995 tới nay mới phát triển đánh bắt xa bờ Việc nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là nghề nuôi cấy ngọc trai, từ năm 1990 mới phát triển mạnh Sản lượng hải sản đánh bắt và nuôi trồng vào đầu những năm 1990 tăng từ 2-

3 nghìn tấn/năm lên 5-6 nghìn tấn/năm

Công nghiệp khai khoáng gồm: khai thác than đá Trữ lượng hiện còn khoảng 107 triệu tấn Mỏ quặng sắt Cái Bầu có trữ lượng lớn khoảng 154.000 tấn, hiện đang khai thác đá với sản lượng 20.000 tấn/năm Vàng sa khoáng và vàng trong đới quặng sắt có ở đảo Cái Bầu

2.2 Đặc điểm thực vật ngập nước khu vực Đảo Cái Bầu

2.2.1 Tổng quan về hệ sinh thái đất ngập nước khu vực Cái Bầu

Thực vật ngập nước khu vực đảo Cái Bầu rất đa dạng và phong phú nhưng chủ yếu là rừng ngập mặn Rừng ngập mặn (RNM) là một bộ phận cấu thành quan trọng của thực vật đảo Cái Bầu Ngoài các chức năng sinh thái chung của kiểu hệ sinh thái này, thì rừng ngập mặn còn có ý nghĩa riêng cho khu vực này Đất ở nhiều nơi trên đảo nhạy cảm với tác động xói mòn của mưa, gió, và sự xói lở của sóng biển Vì thế, trong khi thực vật trên núi góp phần giảm bớt xói mòn do mưa gió thì thực vật ngập mặn bảo vệ, cố định chân những hòn đảo Cũng cần phải nhấn mạnh tầm quan trọng không thể phủ nhận của RNM là vai trò phòng hộ của chúng Trận sóng thần khủng khiếp ngày 26/12/2004, với hơn 20 vạn người ở 13 quốc gia châu

Á và châu Phi thiệt mạng và sự tàn phá môi trường nặng nề của nó khiến con người ngày càng chú ý đến vai trò phòng hộ của RNM Theo khảo sát của IUCN , UNEP

và nhiều nhà khoa học cho thấy xóm làng phía sau RNM còn nguyên vẹn hoặc rừng trồng rộng đã làm giảm năng lượng sóng từ 50-90% nên thiệt hại rất thấp Ở Việt N

am, trong 3 năm vừa rồi khi có những trận bão lớn đổ bộ vào đất liền thì những dải

đê có RNM bảo vệ vẫn vững vàng trước sóng gió, trong khi đó mặc dù đã kè tông nhưng nhiều nơi RNM bị tàn phá, những con đê vẫn bị tàn phá nghiêm trọng như ở Cát Hải (Hải Phòng), Hậu Lộc (Thanh Hóa Rừng ngập mặn là nhân tố vừa chịu tác động của việc nóng lên toàn cầu đồng thời cũng là nhân tố góp phần làm giảm thiểu nồng độ khí thải nhà kính trong khí quyển

Ngày đăng: 07/01/2015, 12:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Bảo vệ Môi trường, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (2003), Chương trình Quốc gia về bảo tồn và quản lí đất ngập nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Quốc gia về bảo tồn và quản lí đất ngập nước
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Bảo vệ Môi trường, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
Năm: 2003
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Bảo vệ Môi trường, Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học vùng đất ngập nước sông Mekong (2006), Hệ thống phân loại đất ngập nước Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống phân loại đất ngập nước Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Bảo vệ Môi trường, Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học vùng đất ngập nước sông Mekong
Năm: 2006
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Bảo vệ Môi trường (2005), Tổng quan hiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsar, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan hiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsar
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Bảo vệ Môi trường
Năm: 2005
11. Phùng Tiểu Bôi và cộng sự (2001), Rừng ngập mặn ven biển miền Bắc Việt Nam 12. Trần Thị Ân , Cơ sở viễn thám fundamentals of remote sensing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng ngập mặn ven biển miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Phùng Tiểu Bôi và cộng sự
Năm: 2001
4. Đỗ Đình Sâm, Phan Nguyên Hồng, Vũ Tấn Phương, Ngô Đình Quế,Kế hoạch hành động Bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn Việt Nam đến 2015 Khác
5. Hà Quốc Hùng, Đặng Trung Tấn ( 1990), Sổ tay cây cỏ RNM Cà Mau; Sở khoa học Công nghệ và môi trường tỉnh Và Mau-Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật rừng ngập mặn Minh Hải Khác
6. Nguyễn Ngọc Thạch (2005) ,Cơ sở Viễn Thám, Đại Học Khoa Học Tự Nhiên Đại Học Quốc Gia Hà Nội Khác
8. Phạm Văn Cự (2005), Cơ sở khoa học của phương pháp viễn thám với kỹ thuật xử lý số Tài liệu giảng dạy: Trung tâm viễn thám và Geomatric VTGEO Khác
10. Phan Nguyên Hồng (1991), Đặc điểm sinh thái, phân bố thực vật và thảm thực vật ven biển Việt N am. Luận Án cấp II, Đại học Sư Phạm Hà Nội I Khác
13. Viên Ngọc Nam và Trần Hậu Huệ. Phân bố Thực vật Rừng ngập mặn Vườn Quốc gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. P.N Hồng (chủ biên) Trong Phục hồi Rừng ngập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu hướng tới phát triển bền vững. NXB Nông Nghiệp. 2008. 321-332 Khác
14. Chen M., Sua W., Li L., Zhang C., Yuea A., Lia H. (2009), 'Comparison of Pixel-based and Object-oriented Knowledge-based Classification Methods Using SPOT5 Imagery ', Wseas transactions on information science and applications, 6 Khác
15. Cohen J (1960), 'A coefficient of agreement for niminal scales', Educ. Psychol. Measurment 20, pp. 37-46 Khác
16. De Kok R., Schneider T., Ammer U. (1999), Object-based classification and applications in the Alpine forest environment, 32, International Archives of Photogrammetry and Remote Sensing Valldolid Spain Khác
17. Gaurav K. P., Prasun K. G. (2010), 'Comparison of Advanced Pixel Based (ANN and SVM) and Object-Oriented Classification Approaches Using Landsat-7 Etm+ Data', International Journal of Engineering and Technology, 2, pp. 245-51 Khác
18. Ivits E., Koch B., Blaschke T., Jochum M., Adler P. (2005), 'Landscape structure assessment with image grey-values and object-based classification at three spatial resolutions', International Journal of Remote Sensing, 26, pp.2975–93 Khác
19. Matinfar H.R., Sarmadian F., Alavi Panah S.K., Heck R.J. (2007), 'Comparisons of Object-Oriented and Pixel-Based Classification of Land Use/Land Cover Types Based on Lansadsat7, Etm+ Spectral Bands (Case Study: Arid Region of Iran) ', American-Eurasian J. Agriculture &Environment, Science, 2, pp. 448-56 Khác
20. Ryherd S., Woodcock C (1996), 'Combining Spectral and Texture Data in the Segmentation of Remotely Sensed Images ', Photogrammetric Engineering& Remote Sensing, 62, pp. 181-94 Khác
21. Sun Xiaoxia Zhang Jixian Liu Zhengjun Chinese Academy of Surverying And Mapping, No16, Beitaiping Rd, Haidian District, Beijing, 100039, China Khác
22. Whiteside T., Ahmad W. (2005), A comparison of object-oriented and pixel- Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Rừng Tràm U Minh. - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Hình 1.1 Rừng Tràm U Minh (Trang 18)
Hình 1.2: Vùng đất ngập nước châu thổ sông Hồng. - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Hình 1.2 Vùng đất ngập nước châu thổ sông Hồng (Trang 19)
Bảng 1.1: Các loài sinh vật có ở vùng đất ngập nước Việt Nam. - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Bảng 1.1 Các loài sinh vật có ở vùng đất ngập nước Việt Nam (Trang 22)
Bảng 1.2: Diện tích và sản lượng lúa cả nước qua một số năm. - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Bảng 1.2 Diện tích và sản lượng lúa cả nước qua một số năm (Trang 23)
Hình 2.1: Mô hình số độ cao đảo Cái Bầu - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Hình 2.1 Mô hình số độ cao đảo Cái Bầu (Trang 30)
Hình 2.2:Bản đồ thổ nhưỡng đảo Cái Bầu - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Hình 2.2 Bản đồ thổ nhưỡng đảo Cái Bầu (Trang 32)
Bảng 2.1: Một số đặc trưng khí hậu trong khu vực đảo Cái Bầu - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Bảng 2.1 Một số đặc trưng khí hậu trong khu vực đảo Cái Bầu (Trang 34)
Hình 2.3: Quần  xã  thực vật tham gia RNM trên thể nền cao, ít chịu tác động của  thủy triều - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Hình 2.3 Quần xã thực vật tham gia RNM trên thể nền cao, ít chịu tác động của thủy triều (Trang 39)
Hình 2.4: Quần xã Đước và Vẹt dù ở Đảo Cái Bầu  2.  Các quần xã Trang + Sú - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Hình 2.4 Quần xã Đước và Vẹt dù ở Đảo Cái Bầu 2. Các quần xã Trang + Sú (Trang 40)
Hình 2.5: Quần xã Trang và Sú - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Hình 2.5 Quần xã Trang và Sú (Trang 41)
Hình 2.6:Vẹt dù trên đảo Cái Bầu - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Hình 2.6 Vẹt dù trên đảo Cái Bầu (Trang 42)
Hình 2.7: Quần xã Mắm biển,Sú - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Hình 2.7 Quần xã Mắm biển,Sú (Trang 43)
Bảng 3.2. Một số thông số các kênh phổ của ảnh SPOT-4 - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Bảng 3.2. Một số thông số các kênh phổ của ảnh SPOT-4 (Trang 46)
Bảng 3.3: Đặc điểm ảnh vệ tinh Spot 5 - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Bảng 3.3 Đặc điểm ảnh vệ tinh Spot 5 (Trang 47)
Bảng 3.4. Một số thong số các kênh phổ của ảnh Landsat TM - so sánh khả năng ứng dụng của ảnh spot và landsat để thành lập bản đồ lớp phủ vùng ngập nước khu vực vân đồn, tỉnh quảng ninh  luận văn ths. bản đồ viễn thám và hệ thông tin địa lý
Bảng 3.4. Một số thong số các kênh phổ của ảnh Landsat TM (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w