cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hể trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam tiếp cận trình độ giáo d
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU.
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phướng pháp dạy học hiện nay:
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH, HĐH với mục tiêu đến năm
2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định của thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn lực người việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phô thông, và trước hết là phải bắt đầu từ việc xác định mục tiêu đào tạo như là xác định những gì cần đạt được (đối với người học) sau một quá trình đào tạo Nói chung đó là một hệ thống phẩm chất và năng lực được hình thành trên một nền tảng kiến thức kỹ năng đủ và chắc chắn
Đứng trước yêu cầu tất yếu của xã hội ngành giáo dục đổi mới PPDH theo hướng phát huy tích cực của HS là phù hợp với xu thế phát triển của thời đại là tất yếu khách quan
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc đổi mới PPDH, nghị quyết TW 4
khoá VII đã đề ra nhiệm vụ “Đổi mới PPDH ở tất cả các bậc học, cấp học”
Nghị quyết TWII - BCH TW Đảng khoá VIII đã nhấn mạnh “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS nhất là sinh viên đại học phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân nhất là thanh niên”.
Trước thực tế đó: Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khoá X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định
mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là; “Xây dựng nội dung chương trình phương pháp giáo dục, SGK phổ thông mới nhằm nâng
Trang 2cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hể trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới” và “việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải khắc phục những mặt hạn chế của chương trình SGK, tăng cường tính thực tiễn
và kỹ năng thực hành, năng lực tự học, coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của HS”.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của nước ta đã đề ra nhiệm
vụ “Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ chương trình và SGK phổ thông phù hợp với yêu cầu phát triển mới”.
Luật giáo dục, điều 242 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”.
Ngoài ra, định hướng đối với PPDH còn được cụ thể hoá trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 14 (04/1999)
Với tinh thần trên, nhiệm vụ của ngành giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay là phải đổi mới PPDH theo hướng đề cao vai trò chủ thể hoạt động của HS trong học tập và yêu cầu cấp thiết cuả sự nghiệp giáo dục hiện nay và hoàn toàn phù hợp với su thế phát triển của thế giới
1.2 Xuất phát từ thực tiễn dạy học hiện nay:
Như chúng ta đều biết, nhiệm vụ của dạy học không chỉ nhằm cung cấp cho
HS một khối lượng tri thức lý thuyết do nội dung chương trình SGK đã quy định,
mà phải tổ chức hoạt động học tập cho HS lĩnh hội tri thức một cách tích cực, chủ động, độc lập để phát triển tư duy khoa học, rèn luyện chí thông minh, óc sáng tạo, suy nghĩ linh hoạt Đó là những phẩm chất trí tuệ của con người lao động mới theo
Trang 3đúng mục tiêu đào tạo của nhà trường, của cấp học khi mà đại bộ phận HS tốt nghiệp bậc học này có thể ra đời tham gia lao động.
Để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ này, đòi hỏi GV phải lựa chọn các phương pháp giảng dạy để HS huy động vốn hiểu biết đã có, sử dụng các thao tác tư duy phân tích so sánh đối chiếu, rồi khái quát rút ra kết luận và giải đáp được những vần đề mà nhiệm vụ nhận thức ra Nghĩa là, HS tự giành lấy tri thức dưới sự tổ chức chỉ đạo của GV Như vậy việc thành công của việc dạy học phù thuộc rất nhiều PPDH được
GV lựa chọn
Qua tìm hiểu và qua dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy cùng một nội dung nhưng tuỳ thuộc vào phương pháp sử dụng trong dạy học, kết quả sẽ khác nhau về mức độ lĩnh hội các chi thức, về sự phát triển trí tuệ cùng các kỹ năng tư duy về giáo dục đạo đức, về sự chuyển biến thái độ hành vi
Bộ môn sinh học là một khoa học thực nghiệm nên nó cũng có những PP giảng dạy đặc thù cho bộ môn Trong số những PP thường sử dụng trong giảng dạy
bộ môn thì PP đàm thoại tìm tòi trong nhóm, PP dùng lời cũng được vận dụng phổ biến, dạy học thông qua PP này sẽ giúp GV khai thác những kiến thức mà các em
đã tích luỹ trong chương trình động vật, những hiểu biết thực tế trong đời sống của bản thân các em hoặc giúp các em vận dụng những kiến thức về giải phẫu, sinh lý người để tìm hiểu có biện pháp vệ sinh có liên quan đến việc bảo vệ, tăng cường sức khoẻ cho bản thân và cộng đồng
Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy ở trường THSC hiện nay, nhiều giờ dạy
có chất lượng và hiệu quả chưa cao, chưa phát huy được tính tích cực học tập của
HS bởi CH mà GV đưa ra chưa phù hợp với yêu cầu bài học, chưa sát với đối tượng, chưa xác định được vai trò chức năng của từng CH, mục đích hỏi, thiếu các yếu tố kết nối với CH mà thứ tự hỏi chưa phù hợp Chính vì vậy mà giờ dạy trở nên
đơn điệu, nhàm chán, bế tắc mà cuối cùng lại là “Thầy đọc - Trò chép”.
Trang 4Là một GV trực tiếp giảng dạy bộ môn sinh học, qua thực tế dạy học, qua nghiên cứu nội dung chương trính Sinh học 8, và qua yêu cầu thực tiễn khi dạy cùng với kết quả học tập của HS, với mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc đổi mới PPDH môn Sinh học ở trường THCS nhằm nâng cao chất
lượng giảng dạy và học môn Sinh học, tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài; “Sử dụng CH để tích cực hóa hoạt động học trong dạy học chương trình Sinh học 8 THCS”.
2 Mục đích nghiên cứu.
Xác định được biện pháp thiết kế và cách sử dụng CH nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong chương trình Sinh học 8 phù hợp nội dung, sát với đối tượng HS, đồng thời kích thích được óc tò mò khoa học, ham hiểu biết của HS
3 Thời gian và địa điểm.
Thời gian tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này từ tháng 1 năm 2014 đến tháng
12 năm 2015
Địa điểm: Trường TH&THCS Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
4 Đóng góp mới về mặt thực tiễn
Kinh nghiệm của tôi một mặt nhằm phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo
của học sinh Đồng thời cũng muốn đóng góp kinh nghiệm nhỏ bé của mình phục
vụ cho mục đích giáo dục chung của toàn xã hội Nó có thể là tài liệu tham khảo cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy trong trường THCS để nâng cao chất giáo dục Ngoài ra đề tài này cũng được áp dụng cho các khối lớp 7, 8, 9 trong chương trình đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học cơ sở
Trang 5II PHẦN NỘI DUNG
- Dạy học vấn đáp, đàm thoại là phương pháp trong đó GV đặt ra những CH
để HS trả lời hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả GV qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học vì ở phương pháp này hệ thống CH - câu trả lời là nguồn kiến thức chủ yếu Ở phương pháp này trò không tiếp thu bài một cách thụ động mà
ở một mức độ sáng tạo nhất định tìm ra kiến thức mới Khi trả lời CH, HS phải nhớ lại kiến thức đã có, sử dụng các thao tác lôgíc; phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá để gia công tài liệu tìm lời giải đáp đúng nhất
Muốn thực hiện được điều này, đòi hởi GV phải xây dựng được hệ thống CH phù hợp với yêu cầu bài học, hấp dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng CH, mục đích hỏi thứ tự hỏi GV cững cần dự kiến các phương án trả lời của HS có thể chủ động thay đổi hình thức, cách thức, mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua cách hỏi phụ trách đơn điệu, nhàm trán, nặng nề, bế tắc; tạo hứng thú học tập của học HS và tăng hấp dẫn của giờ học
1.1.2 Các loại CH và vai trò của chúng.
Dựa và yêu cầu nhận thức; Có các cách phân loại CH như sau
Cách 1: Có hai loại CH
- Loại CH đòi hỏi tái hiện các kiến thức, nhớ và trình bày một cách có hệ thống, có chọn lọc
Trang 6- Loại CH đòi hỏi sự thông hiểu, phân tích, tổng hợp khái quát hoá, hệ thống hoá vận dụng kiến thức.
- Gall (1984) gọi loại thứ nhất là CH sự kiện và loại thứ hai là CH yêu cầu cao hơn về nhận thức
+ Hãy phát biểu định nghĩa mô là gì?
+ Hãy liệt kê các yếu tố của một cung phản xạ?
* CH ở mức độ “Hiểu”.
- Mục tiêu của loại CH này là để kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối các dữ kiện, số liệu, tên tuổi, địa điểm, các định nghĩa
- Việc trả lời các CH này cho thấy HS có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu
ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học
- Cụm từ để hỏi thường là: “Tại sao”, “Hãy phân tích”, “Hãy so sánh”,
“Hãy liên hệ”, “Hãy phân tích các yếu tố cơ bản”.
Ví dụ:
+ Hãy phân tích cấu trúc của một hệ tế bào người?
+ Hãy so sánh PSKĐK và PXCĐK?
* Câu hỏi ở mức độ “Vận dụng”.
Trang 7- Mục tiêu của loại CH này là để kiểm tra khả năng áp dụng các dữ kiện, các khái niệm, các quy luật, các phương pháp vào hoàn cảnh và điều kiện mới.
- Việc trả lời các CH áp dụng cho thấy HS có khả năng hiểu được cac quy luật, các khái niệm, có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết vấn đề, vận dụng các phương án này vào thực tiễn
- Khi đặt CH cần đặt ra những tình huống mới khác với điều kiện đã học
trong bài học và sử dụng cụm từ như: “Làm thế nào”, Em có thể giải quyết khó khăn về”, “như thế nào”.
Ví dụ:
+ Hãy tính khẩu ăn trung bình cho một HS nữ lớp 8 (15 tuổi)
+ Làm thế nào để đo được huyết áp?
* CH ở mức độ “Phân tích”
- Mục tiêu của loại CH này là để kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn
đề, từ đó đi đến kết luận tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh một luận điểm
- Việc trả lời CH này cho thấy HS có khả năng tìm ra được các mối quan hệ mới tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận
- Việc đặt ra các CH phân tích đòi hỏi HS phải giải thích được các nguyên
nhân từ thức tế: “Tại sao”, đi đến kết luận: “Em có nhận xét gì về”, “Hãy chứng minh”, Các CH phân tích thường có nhiều lời giải.
- CH tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của HS các em phải tìm ra những nhân tố
và những ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung
- Việc trả lời CH tổng hợp khiến HS phải: Dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa
ra các CH trả lời sáng tạo cần nói Do HS biết rõ rằng, các em có thể tự do đưa ra
Trang 8những ý tưởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình Các CH này đòi hỏi một thời gian chuẩn bị khá dài Vì vậy, cần để cho HS có đủ thời gian tìm ra câu trả lời.
Ví dụ:
+ Hãy đề ra những biện pháp vệ sinh hệ thần kinh? Tại sao đề ra như vậy?
* CH ở mức “Đánh giá”.
- Mục tiêu của loại CH này là để kiểm tra xem HS có thể đóng góp ý kiến và
đánh giá các ý tưởng, giải pháp dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra
VD: Theo em làm thế nào để ngăn chặn đại dịch AIDS?
Cách 3:
Theo giáo sư Trần Bá Hoành có thể sử dụng 5 loại CH chính sau đây:
* Loại CH kích thích sự quan sát, chú ý:
* Loại CH yêu cầu so sánh, phân tích:
- Loại CH này hướng HS vào việc nghiên cứu chi tiết những vấn đề khá phức tạp, nắm vững những sự vật, hiện tượng gần giống nhau, những khái niệm có nội hàm chồng chéo một phần
* Loại CH yêu cầu tổng hợp khái quát hoá, hệ thống hoá:
- Đây là loại CH đặc trưng cho một trương trình Sinh học mang tính lý thuyết dẫn tới hình thành những kiến thức đại cương, đặc biệt là sự phát hiện những mối liên hệ có tính quy luật trong thiên nhiên hữu cơ
* Loại CH liên hệ với thức tế : HS có nhu cầu muốn áp dụng kiến thức mới học vào thực tế đời sống, sản xuất, giải thích các hiện tượng trong tự nhiên CH đặt
ra càng gần với thực tế sẽ càng thu hút sự chú ý và kích thích sự suy nghĩ của HS
- CH kích thích tư duy sáng tạo, hướng dẫn HS nêu vấn đề, đề suất giả thiết.Dựa vào mục đích lý luận dạy - học có thể chia thành 3 loại:
* Loại CH dùng để dạy bài mới
- Loại CH này dùng để tổ chức, hướng dẫn HS nghiên cứu tài liệu mới Khi
HS trả lời được CH thì sẽ chiếm lĩnh được kiến thức mới
Trang 9* Loại CH để củng cố hoàn thiện kiến thức.
- Loại CH này được thiết kế dựa trên nhữn tri thức đã có của HS, nhưng các
ý kiến đó còn rời rạc, tản mạn chưa thành hệ thống Do đó chúng có tác dụng củng
cố kiên thức đã học, đồng thời khái quát hoá và hệ thống hoá kiến thức đó, rèn luyện các thao tác tư duy lôgíc phát triển cao hơn
* Loại CH dùng để kiểm tra, đánh giá
- Loại CH dùng để kiểm tra đánh giá khả năng lĩnh hội kiến thức của HS có thể sau một bài học, một chương trình hoặc một phần của chương trình
1.2.3 Phân chia CH dựa vào cách đặt CH.
Trang 10- Kiến thức được diễn đạt dưới dạng hỏi khuyết, HS lựa chọn nội dung kiến thức phù hợp để hoàn thành.
1.1.5 CH được sử dụng theo quy trình sau:
+ Bước 1: Nêu yêu cầu
+ Bước 2: Hướng dẫn nghiên cứu tài liệu cần thiết
+ Bước 3: Cá nhân HS hoạt động độc lập hoặc tổ chức hoạt động theo nhóm.+ Bước 4: Kết luận, chính xác hoá kiến thức
+ Bước 5: Vận dụng kiến thức mới
1.2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Phương pháp xác định thực trạng.
* Dùng phiếu điều tra GV của 5 trường với 10 GV dạy sinh:
-TH&THCS Đại Dực- Tiên Yên - Quảng Ninh
- THCS Đông ngũ – Tiên Yên - Quảng Ninh
- THCS Phong Dụ - Tiên Yên - Quảng Ninh
- THCS Thị Trấn Tiên Yên -Tiên Yên - Quảng Ninh
- THCS Tiên Lãng - Tiên Yên- Quảng Ninh
* Với các CH như sau:
Câu 1: Trong quá trình dạy học các đồng chí thường sử dụng loại CH nào?
Trang 11a, Loại CH HS có thể trả lời bằng một đoạn thông tin có sẵn trong SGK.
b, Loại CH HS phải nghiên cứu, tìm tòi, phân tích, so sánh rồi rút ra kết luận
c, Sử dụng cả hai loại CH trên
Câu 2: CH mà các đồng chí đưa ra thường được áp dụng bằng cách nào?
A, CH nêu ra chung cho HS cả lớp suy nghĩ, trả lời
B, CH nêu ra cho cả lớp cùng thảo luận
C, CH nêu ra và cho thảo luận nhóm
Câu 3: CH các đồng chí sử dụng trong quá trình dạy học thường mang tính
chất gì?
a, Mang tính chất chi tiết
b, Mang tính chất khái quát
c, Mang tính chất gì còn phụ thuộc vào độ khó của kiến thức
Câu 4: Dạng CH mà các đồng chí thường áp dụng trong quá trình dạy học là
c, Mọi HS đều có thể trả lời được
Câu 6: CH mà các đồng chí sử dụng là theo đúng số lượng và trình tự của
sách tham khảo hay đã có sự biến đổi để phù hợp với khả năng nhận thức và thực tế của địa phương?
a, Sử dụng CH đã có trong SGK
b, Sử dụng theo sách tham khảo
c, Sửa đổi để phù hợp với thực tế HS
Trang 12Câu 7: Khi kết thúc một hoạt động các đồng chí có đưa ra CH mang tính
chất tổng kết để HS tự rút ra kiến thức trọng tâm cần ghi nhớ ở mỗi nội dung hay không?
a, Không
b, Thỉnh thoảng
c, Thường xuyên
Câu 8: Cuối mỗi bài học các đồng chí có sử dụng bài tập củng cố nhằm kiểm
tra năng lực tư duy, khả năng khái quát và trình độ nhận thức của HS không?
Trang 13- Qua số liệu điều tra trên cho thấy hầu hết GV đều có nhận thức đúng về vai trò của CH trong dạy HS học Mọi GV đều cho rằng trình độ nhận thức (tốc độ nhanh hay chậm) cũng như lượng kiến thức mơi mà HS phát hiện, rút ra được phụ thuộc rất nhiều vào cách sử dụng CH của GV.
- Đa số GV đều có cách sử dụng CH phù hợp với đối tượng HS và phù hợp
với việc đổi mới PPDH “GV là người tổ chức hướng dẫn”.
- Phần lớn GV không sử dụng một loại CH duy nhất mà có sự phối hợp nhiều loại CH dưới nhiều cách thức hỏi khác nhau
- Tuy nhiên phần lớn các GV chỉ sử dụng CH đã có sẵn và luôn theo một trình tự nhất định dựa vào một loại sách tham khảo nào đó mà chưa thực sự quan tâm đến
khả năng nhận thức cũng như tình hình thực tế của địa phương
Nguyên nhân thực trạng.
- Có nhiều GV đã ý thức được vai trò của CH trong dạy học, nhưng chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay (do thời gian công tác chưa được lâu, kinh nghiệm chưa nhiều và một số GV tuổi đã cao)
- Một số GV chưa tự tin vào phương án mà mình tự tìm ra và chỉ áp dụng những phương án, hình thức tổ chức đã có sẵn và vẫn được sử dụng
Qua thực tế điều tra cho thấy việc xây dựng CH và cách thức sử dụng CH nhằm phát triển năng lực nhận thức, trình độ khái quát hoá và khai thác kiến thức cũng như phát huy được tính tích cực của HS vẫn còn là vấn đề cần phải tiếp tục
được nghiên cứu Chính vì vậy tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài“Sử dụng CH để tích cực hóa hoạt động học trong dạy học chương trình Sinh học 8 THCS”.
2 Chương 2 Nội dung vấn đề nghiên cứu.
Trang 142.1 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
* Thuận lợi :
Về phía nhà trường : Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu nhà
trường, luôn tạo điều kiện tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu chuyên đề
Về phía giáo viên: Giáo viên tuổi đời còn trẻ,nhiệt tình trong công việc giảng dạy
Luôn tìm tòi phát huy cái mới,áp dung những bài tập, phương pháp mới vào giảng dạy Phát huy hết khả năng tự học để lĩnh hội kiến thức
Về phía học sinh: Học sinh đa số các em ngoan, lễ phép chấp hành tốt yêu cầu của
giáo viên.Có tinh thần học nghiêm túc và yêu thích nghiên cứu khoa học
*Ngoài những thuận lợi trên thì còn tồn tại một số khó khăn nhất định sau :
Giáo viên giảng dạy môn sinh học tuổi nghề trẻ, kinh nghiệm giảng dạy còn chưa nhiều
Giáo viên chưa quan tâm sâu sát đến hếtcác đối tượng học sinh
Năng lực tiếp thu, kĩ năng sống của học sinh còn hạn chế, chưa nhanh nhẹn
Tất cả học sinh đều là dân tộc thiểu số có trình độ dân tri thấp, điều kiện khó khăn, phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm đên việc học tập của học sinh
2.2 Các giải pháp
2.2.1 Nguyên tắc sử dụng CH: sử dụng CH phải đảm bảo những nguyên tắc sau:
- CH đưa ra phải bám sát mục tiêu bài học
- CH phải đảm bảo tính chính xác của nội dung dạy học
- CH phải phát huy được tính tích cực của HS
- CH phải đảm bảo được nguyên tắc hệ thống: có nghĩa là CH khi đưa vào sử dụng phải được sắp xếp theo một lôgíc hê thống cho từng nội dung SGK, cho một chương trình một bài học, một phần cho cả chương trình phân môn và môn học
Trang 15- CH phải đảm bảo tính thực tiễn.
2.2.2 Quy trình sử dụng CH trong dạy HS học:
Quy trình sử dụng CH có thể theo trình tự của sơ đồ sau:
Sơ đồ: Quy trình sử dụng CH
TT Các bước thực hiện của GVVai trò Vai trò của HS Tri thức
1 Nêu CH hướngĐịnh Tự nghiên cứu nhân HSLời giải của cá
2 cứu tài liệu cần thiếtHướng dẫn nghiên Tổ chức Tự thể hiện Lời giải của cá nhân HS
3 Tổ chức thảo luận theo nhóm Trọng tài cố vấn Thể hiện qua nhóm Lời giải của tập thể (nhóm, tổ, lớp)
4 Kết luận chính xác hoá kiến thức Kết luận Tự kiểm tra, tự điều chỉnh Tri thức khoa học
5 Vận dụng kiến thức
mới
Kiểm tra đánh giá
Tự thể hiện sáng tạo
Vận dụng vào các tình huống trong học tập và trong đời sống
Có thể phân tích nội dung cụ thể của các bước sử dụng CH để tổ chức quá trình dạy học như sau:
* Nêu CH:
- GV giao CH trước để định hướng cho HS nghiên cứu SGK, các tài liệu, các loại phương tiện dạy - học CH được sắp xếp theo một lôgíc chặt chẽ tương ứng với nội dung bài học
- Bên cạnh các CH chính có thể có các CH phụ có tác dụng hướng dẫn HS nghiên cứu tài liệu vì vậy các CH loại này thường giúp HS huy động các kiến thức
đã có hoặc từ SGK để trả lời và giải quyết các CH Trong trường hợp cần thiết có thể có đề cương hướng dẫn trả lời
* Hướng dẫn nghiên cứu tài liệu cần thiết
Trang 16- GV nêu các nguồn tài liệu cần thiết bằng việc chỉ dẫn các mục hoặc các đoạn của SGK (hay tài liệu khác nếu cần và có điều kiện) Ở giai đoạn đầu khi HS chưa làm quen với đọc các đoạn có nội dung thông tin tương ứng với CH đề cập đến trong một số trường hợp, gợi ý một dàn bài để HS đọc và thu thập chọn lọc thông tin từ tài liệu đọc.
- HS cần có các hoạt động sau đây:
+ Phân tích CH, định hướng, giải quyết
+ Thu thập thông tin, tái hiện kiến thức
+ Xử lý thông tin để đưa ra các phương án trả lời
+ Ghi lại câu trả lời để báo cáo
* Tổ chức thảo luận:
- GV có thể tiến hành cách tổ chức thảo luận ở tập thể cả lớp hoặc theo nhóm
+ Thành lập nhóm, các nhóm cử nhóm trưởng, thư kí
+ Khuyến khích sự tham gia của mỗi cá nhân HS
+ Đưa ra những CH gợi ý khi thảo luận nếu HS gặp những bế tắc khó khăn
- Quá trình thảo luận là quá trình học bạn (hay học hợp tác với bạn) làm cho các sản phẩm ban đầu đó được thông qua đánh giá, phân tích, sàng lọc, bổ sung, điều chỉnh Cách tổ chức như vậy làm cho mỗi cá nhân HS không thụ động nghe bạn nói, nhìn bạn làm, mà phải học tích cực chủ động bằng cách:
+ Mỗi cá nhân phải tích cực chủ động lắng nghe bạn trình bày, trả lời
+ Đối chiếu với câu trả lời của mình
+ Tham gia trình bày ý kiến bảo vệ câu trả lời của mình và có thể phê phán ý kiến của bạn khác
+ Ghi ý kiến bổ sung của các bạn, tự điều chỉnh câu trả lời của mình trên cơ
sở rút kinh nghiệm cái sai cái đúng của bạn
Trang 17Câu trả lời của tập thể - Là sản phẩm được tổng hợp từ các sản phẩm ban đầu của mỗi HS và được bổ sung, điều chỉnh bằng những điều thu hoạch được qua thảo luận của tập thể.
* Kết luận chính xác hoá kiến thức
- Trong quá trình thảo luận HS có thể gặp phải những vấn đề nan giải khó phân biệt đúng sai, khó đi đến kết luận khoa học hoặc câu trả lời của HS chưa hoàn thiện GV có thể sử lý các tình huống đó với tư cách là người trọng tài, cố vấn như sau:
+ Xem xét và tổng kết báo cáo của các nhóm
+ Ghi lại những điểm nhất trí và chưa nhất trí, những khía cạnh mà các nhóm
bỏ qua
+ Yêu cầu các nhóm lập luận và chứng minh câu trả lời
+ Đưa ra những kết luận đúng tức là lời giải đáp đúng cho các CH, yêu cầu
HS bổ sung hoàn chỉnh câu trả lời của mình
Cách tiến hành tổ chức như trên HS không thụ động nghe GV mà hoạt động học tập tích cực như: tự ghi lại ý kiến kết luận của GV đối chiếu với câu trả lời của mình tự đánh giá bổ sung cho câu trả lời của mình HS học được lôgíc trả lời của GV
- Tóm lại HS được rèn luyện qua việc thực hiện các hoạt động sau:
+ So sánh đối chiếu kết luận của thầy và của bạn với sản phẩm của mình.+ Kiểm tra lí lẽ, tìm luận cứ để có cơ sở chứng minh mình đúng - sai
+ Tự sửa sai bổ sung điều chỉnh những gì cần thiết
+ Tự rút ra kinh nghiệm về cách đọc, cách xử lý tình huống, cách giải quyết vấn đề của mình
Tri thức mà HS thu được là tri thức khoa học Đó là kết quả lao động của cá nhân HS kết hợp với lao động của tập thể, nhóm, tổ, lớp và lao động của GV đồng thời viếc tự chiếm lĩnh kiến thức kĩ năng, thái độ bằng hành động học của chính
Trang 18mình, mỗi HS còn đượclàm quen dần với tự học, bồi dưỡng năng lực tự học, phát triển ở HS năng lực tư duy, năng lực hành động, trí thông minh.
* Vận dụng kiến thức mới.
- GV ra CH về nhà cho HS nhằm kiển tra tri thức và khả năng vận dụng tri thức đã chiếm lĩnh vào giải quyết các tình huống cụ thể trong học tập và đời sống Qua đó cho phép GV đánh giá chất lượng lĩnh hội kiến thức kĩ năng, thái độ của
HS theo mục tiêu bài học, phân loại trình độ HS, cung cấp thông tin ngược để điều chỉnh quá trình dạy - học
- HS cũng tự đánh giá trình độ của bản thân, tự rút kinh nghiệm về cách học,
tự sửa chữa sai xót đã mắc phải và tự điều chỉnh thái độ, hành vi của mình hợp lý hơn, tiến bộ hơn Có thể xem đây là bước vừa có tác dụng củng cố kiến thức, vừa làm cho kiến thức thực sự trở thành sản phẩm trí tuệ của mỗi HS, kiến thức vừa vững chắc, vừa được vận dụng linh hoạt trong các tình huống khác nhau Di chuyển kiến thức để giải quyết các tình huống mới là biểu hiện cao của mức độ chất lượng lĩnh hội
- Bản chất của việc sử dụng CH theo quy trình tiến là ở chỗ GV biết tổ chức
HS để họ có thể có những hoạt động học tập như:
+ Tác động lên nội dung học tập (đối tượng học), sắp xếp, chuyển dời, sưu tầm, tra cứu, quan sát, mô tả, phân tích, tổng hợp để làm bộc lộ bản chất của đối tượng HS
+ Diễn đạt bằng lời những sự kiện, hiện tượng sinh học đã quan sát, phát hiện được
+ Diễn đạt bằng hình vẽ, kí hiệu hoặc sơ đồ hoá, mô hình hoá các nội dung sinh học
+ Tổng hợp khái quát hoá hình thành khái niệm, quy luật sinh học
+ Vận dụng khái niệm, quy luật đã học để giải thích các hiện tượng hoặc vào hoạt động thực tế (từ khái niệm trở về với hành động thực tế) Tự đánh giá, rút kinh