Giải pháp đầu tư tại Công ty Dệt - May Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Trang 1MỤC LỤC
LV102 1
M C L C Ụ Ụ 1
CH ƯƠ NG M T Ộ 5
NH NG V N Ữ Ấ ĐỀ CHUNG V Ề ĐẦ U T Ư 5
TRONG NGÀNH D T MAY Ệ 5
I ĐẦ U T TRONG DOANH NGHI P Ư Ệ 6
1 Khái ni m chung v ệ ề đầ ư 6 u t 2 Phân lo i ạ đầ ư 7 u t 2.1.C n c v o c c u v n, ă ứ à ơ ấ ố đầ ư ồ u t g m ba b ph n ộ ậ 7
2.2 C n c theo m c tiêu, ă ứ ụ đầ ư ồ u t g m n m b ph n ă ộ ậ 8
3.T m quan tr ng c a ho t ầ ọ ủ ạ độ ng đầ ư à ạ đố ớ u t d i h n i v i doanh nghi p ệ 9
4 Các y u t nh h ế ố ả ưở ng đế n quy t nh ế đị đầ ư à ạ 10 u t d i h n 4.1.Chính sách kinh t c a ế ủ Đả ng v Nh n à à ướ 10 c 4.2.Th tr ị ườ ng v các à đố i th c nh tranh ủ ạ 10
4.3.Lãi su t ti n vay ( chi phí v n vay) v chính sách thu ấ ề ố à ế 11
4.4.Ti n b khoa h c k thu t ế ộ ọ ỹ ậ 11
4.5.Kh n ng t i chính c a doanh nghi p ả ă à ủ ệ 11
4.6 Tình hình kinh t v chính tr trong n ế à ị ướ c v th gi i à ế ớ 12
5.Hi u q a ệ ủ đầ ư 12 u t Khái ni m ệ 14
IRR<r*: Bác b d án ỏ ự 14
6 Ngu n v n ồ ố đầ ư 17 u t 6.1.Ngu n v n ch s h u ồ ố ủ ở ữ 17
6.2 Ngu n v n vay ồ ố 18
II ĐẦ U T TRONG NGÀNH D T MAY Ư Ệ 20
1 Đặ đ ể c i m c a ng nh d t may ủ à ệ 20
1.1 L ng nh thu hút nhi u lao à à ề độ ng có trình độ ấ 20 th p 1.2 L ng nh công nghi p à à ệ đượ c b o h cao ả ộ 21
1.3 S n ph m c a ng nh d t may mang tính th i trang ả ẩ ủ à ệ ờ 22
1.4 L ng nh òi h i à à đ ỏ đầ ư u t ban đầ u không l n l m ớ ắ 22
2 Th c tr ng ự ạ đầ ư u t trong ng nh d t may Vi t Nam hi n nay à ệ ệ ệ 23
2.1 Th c tr ng ự ạ đầ ư u t ng nh d t à ệ 24
2.2 Th c tr ng thi t b công ngh ự ạ ế ị ệ đầ ư u t ng nh may à 26
3 C h i v thách th c ơ ộ à ứ đố ớ đầ ư i v i u t trong ng nh d t may Vi t Nam à ệ ệ 27
CH ƯƠ NG HAI: 30
TH C TR NG HO T Ự Ạ Ạ ĐỘ NG ĐẦ U T C A Ư Ủ 30
CÔNG TY D T - MAY HÀ N I TR Ệ Ộ ƯỚ C YÊU C U T NG C Ầ Ă ƯỜ NG XU T KH U Ấ Ẩ SANG HOA KỲ 30
I TH TR Ị ƯỜ NG HOA K VÀ HÀNG D T - MAY VI T NAM Ỳ Ệ Ệ 30
1.Yêu c u v h ng d t - may t i th tr ầ ề à ệ ạ ị ườ ng Hoa K ỳ 30
2 Các đố i th c nh tranh trên th tr ủ ạ ị ườ ng Hoa K ỳ 32
3 V trí c a h ng d t - may Vi t Nam trên th tr ị ủ à ệ ệ ị ườ ng Hoa K ỳ 34
II HI P NH TH Ệ ĐỊ ƯƠ NG M I VI T NAM- HOA K , M T C H I L N Ạ Ệ Ỳ Ộ Ơ Ộ Ớ ĐỐ I V I Ớ HO T Ạ ĐỘ NG XU T KH U HÀNG D T - MAY VI T NAM Ấ Ẩ Ệ Ệ 36
1 Yêu c u c a hi p nh ầ ủ ệ đị đố ớ à i v i h ng d t - may ệ 36
2 Phân tích v d báo nh ng c h i v thách th c à ự ữ ơ ộ à ứ đố ớ i v i xu t kh u h ng d t- may ấ ẩ à ệ Vi t Nam sang Hoa K ệ ỳ 39
Trang 2III HO T Ạ ĐỘ NG ĐẦ U T C A CÔNG TY D T - MAY HÀ N I TR Ư Ủ Ệ Ộ ƯỚ C YÊU C U Ầ
T NG C Ă ƯỜ NG XU T KH U SANG TH TR Ấ Ẩ Ị ƯỜ NG M Ỹ 42
A GI I THI U V CÔNG TY D T - MAY HÀ N I Ớ Ệ Ề Ệ Ộ 42
1 Quá trình hình th nh v phát tri n c a Công ty D t - May H N i à à ể ủ ệ à ộ 42
2 M t s ộ ố đặ đ ể c i m ch y u c a công ty ủ ế ủ 44
2.1 C c u t ch c, b máy qu n lý c a công ty ơ ấ ổ ứ ộ ả ủ 44
2.2 Đặ đ ể c i m s n xu t ả ấ 47
3 Đặ đ ể c i m v tình hình th c hi n s n xu t kinh doanh n m 2001 ề ự ệ ả ấ ă 49
4.Tình hình xu t kh u sang th tr ấ ẩ ị ườ ng M c a công ty ỹ ủ 50
N m ă 50
B.TH C TR NG HO T Ự Ạ Ạ ĐỘ NG ĐẦ U T T I CÔNG TY D T - MAY HÀ N I Ư Ạ Ệ Ộ 52
1 Th c tr ng thi t b v công ngh c a Công ty D t - May H N i tr ự ạ ế ị à ệ ủ ệ à ộ ướ c khi xây d ng chi n l ự ế ượ đầ ư c u t xu t kh u sang th tr ấ ẩ ị ườ ng M ỹ 52
N ướ ả c s n xu t ấ 53
2 Th c tr ng ngu n v n huy ự ạ ồ ố độ ng cho ho t ạ độ ng đầ ư 56 u t 2.1 Ngu n v n ch s h u ồ ố ủ ở ữ 56
2.2 V n vay ố 56
3 Gi i pháp m công ty ã th c hi n nh m t ng c ả à đ ự ệ ằ ă ườ ng kh n ng xu t kh u sang th ả ă ấ ẩ ị tr ườ ng M ỹ 58
3.1 Đầ ư u t chi u sâu ề 59
3.2 Đầ ư ở ộ u t m r ng s n xu t ả ấ 60
M T S GI I PHÁP T NG C Ộ Ố Ả Ă ƯỜ NG HI U QU Ệ Ả ĐẦ U T NH M ÁP NG YÊU C U Ư Ằ Đ Ứ Ầ XU T KH U SANG Ấ Ẩ 64
TH TR Ị ƯỜ NG M Ỹ 64
I PH ƯƠ NG H ƯỚ NG PHÁT TRI N C A CÔNG TY TRONG NH NG N M T I Ể Ủ Ữ Ă Ớ 64
II PH ƯƠ NG H ƯỚ NG ĐẦ U T C A CÔNG TY D T - MAY HÀ N I TRONG GIAI Ư Ủ Ệ Ộ O N 2001- 2005 Đ Ạ 66
3.1 Đầ ư u t chi u sâu nâng cao ch t l ề ấ ượ ng s n ph m ả ẩ 67
3.2 Đầ ư ở ộ u t m r ng s n xu t ả ấ để ạ t o ra s thay ự đổ ă i c n b n v ch t l ả ề ấ ượ ng .69
3.3 C c u ngu n v n ơ ấ ồ ố đầ ư u t giai o n 2001- 2005 đ ạ 69
Ngu nvay NHTM ồ 69
III M T S GI I PHÁP NH M NÂNG CAO HI U QU HO T Ộ Ố Ả Ằ Ệ Ả Ạ ĐỘ NG ĐẦ U T C A Ư Ủ CÔNG TY D T - MAY HÀ N I Ệ Ộ 72
1 Gi i pháp thu hút v n ả ố đầ ư 72 u t 1.1 Nâng cao kh n ng huy ả ă độ ng v n t các ngu n hi n có ố ừ ồ ệ 72
1.2 Liên doanh v i các công ty d t may c a M ớ ệ ủ ỹ 74
1.3 Liên k t v i các a ph ế ớ đị ươ ng, các công ty, xí nghi p trong n ệ ướ 74 c 2.Gi i pháp s d ng v n ả ử ụ ố đầ ư 75 u t 2.1 Đầ ư u t xây d ng h th ng tiêu chu n SA8000 ự ệ ố ẩ 75
2.2 Đầ ư u t dây chuy n d t kim an tròn ề ệ đ 76
2.3.Xây d ng thêm dây chuy n may s n ph m d t kim v Denim ự ề ả ẩ ệ à 77
2.4 Đầ ư u t xây d ng nh máy may m u th i trang ự à ẫ ờ 78
2.5 M t s gi i pháp chung ộ ố ả 79
III M T S KI N NGH Ộ Ố Ế Ị ĐỐ I V I CÁC C QUAN CH C N NG Ớ Ơ Ứ Ă 82
1 Đố ớ ổ i v i t ng công ty d t may v hi p h i d t may ệ à ệ ộ ệ 82
2 Đố ớ i v i nh n à ướ 83 c 2.1 Chính sách h tr v v n ỗ ợ ề ố 83
3.2.Chính sách h tr xu t kh u d t may ỗ ợ ấ ẩ ệ 84
3.3 Chính sách thu v th t c h i quan ế à ủ ụ ả 85
3.4 Chính sách h tr phát tri n cây bông v i ỗ ợ ể ả 86
K T LU N Ế Ậ 88
Trang 4LỜI NÓI ĐẦUVới lợi thế sử dụng nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần quan trọng trong việc ổn định chính trị, xã hội đất nước và khả năng đóng góp lớn vào xuất khẩu với giá trị gia tăng cao, ngành dệt may luôn giữ một vai trò quan trọng then chốt không những trong nền kinh tế các nước đang phát triển
Hiệp định thương mại song phương Việt Nam -Hoa Kỳ có hiệu lực đã mở
ra một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam Hiện tại, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ chiếm 40-45% tổng kim ngạch do nước ta đang được hưởng lợi thế phi hạn ngạch
Tuy nhiên trong thời gian tới, khi hiệp định về hàng dệt may được ký kết
và đặc biệt là đến năm 2005 theo hiệp định ACT (WTO), các nước thuộc WTO
sẽ không sử dụng hạn ngạch để hạn chế nhập khẩu Đến lúc đó hàng dệt may Việt Nam muốn tồn tại và phát triển ở thị trường Mỹ sẽ rất khó khăn do quy
mô hàng dệt may nước ta còn nhỏ, máy móc thiết bị lạc hậu; nguyên vật liệu, máy móc thiết bị hoá chất hầu như phải nhập ngoại
Vì vậy việc chú trọng đầu tư phát triển ngành dệt may là một trong những chủ trương đúng đắn của chính phủ nhằm đưa ngành dệt may trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn khi tham gia hội nhập với nền kinh tế thế giới
Trong khi nhiều công ty dệt may của Việt Nam vẫn có xu hướng sử dụng giá nhân công rẻ làm công cụ để cạnh tranh thì Công ty Dệt - May Hà Nội đã biết tận dụng cơ hội đang có, từ đó vạch ra cho mình một chiến lược đầu tư để thâm nhập và phát triển ở thị trường Mỹ trong cả hiện tại và tương lai Tuy nhiên, đây là một thị trường mới nên việc tìm hiểu và xác định nhu cầu thị
Trang 5trường để có chiến lược đầu tư đúng đắn là một bài toán khó đặt ra đối với những nhà quản lý Công ty.
Do vậy trong thời gian thực tập tại Công ty Dệt - May Hà Nội, em đã
mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài “ Giải pháp đầu tư tại Công ty Dệt - May Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu sang thị trường Mỹ ”.
Với mục đích đó chuyên đề được chia thành 3 chương:
+ Chương 1: Những vấn đề chung về đầu tư trong ngành dệt may Việt Nam + Chương 2: Thực trạng đầu tư tại Công ty Dệt - May Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu sang Mỹ
+ Chương 3: Một số giải pháp đầu tư nhằm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Tuy nhiên, hoạt động đầu tư là một trong những hoạt động hết sức phức tạp, đòi hỏi một sự nghiên cứu kỹ lưỡng của những người có trình độ và kinh nghiệm
Mặc dù được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo và các cô chú ở Công ty Dệt - May Hà Nội, nhưng với khả năng và thời gian có hạn, nên bài viết chắc chắn còn nhiều hạn chế Em kính mong được cô giáo có những nhận xét, hướng dẫn để em có thể hoàn thiện luận văn này tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 6phẩm cho phù hợp với thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng Để thực hiện được hoạt động đầu tư đó trước hết chúng ta phải hiểu được những vấn đề lý luận chung về đầu tư
I ĐẦU TƯ TRONG DOANH NGHIỆP
1 Khái niệm chung về đầu tư.
Đầu tư là một hoạt động tài chính quan trọng của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai Có thể hiểu đầu tư là sự bỏ vốn có tính chất dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp
Vốn đầu tư bỏ vào kinh doanh có thể là tiền, tư liệu sản xuất, mặt bằng, tài nguyên, nhà xưởng, sức lao động, công nghệ, bí quyết, bằng phát minh, nhãn hiệu, uy tín, hoặc các giấy tờ có giá khác
Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp được thể hiện tập trung qua việc thực hiện các dự án đầu tư Dự án đầu tư hay còn gọi là luận chứng kinh tế kỹ thuật,
là văn kiện phản ánh trung thực kết quả nghiên cứu cụ thể toàn bộ các vấn đề: thị trường, kinh tế, kỹ thuật có ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận hành khai thác
và tính sinh lợi của các công cuộc đầu tư
Như vậy, hoạt động đầu tư dài hạn có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, đây là hoạt động dài hạn, vốn đầu tư được đưa vào quá trình
sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian dài, thời gian thu hồi vốn dài
Thứ hai, để thực hiện được hoạt động đầu tư dài hạn, đòi hỏi doanh
nghiệp phải có lượng vốn lớn Lượng vốn này được dùng để tài trợ cho các tài sản cần thiết cho hoạt động của dự án
Thứ ba, là hoạt động thường gặp nhiều rủi ro do thời gian dài mà những
Trang 7Thứ tư, hoạt động đầu tư dài hạn thường tạo ra bước phát triển căn bản
cho doanh nghiệp
Thứ năm, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bao giờ cũng nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định như: mở rộng năng lực sản xuất kinh doanh, thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường mới, hạ giá thành sản phẩm, tối đa hoá lợi nhuận Và tất cả những mục tiêu trên đều nhằm đạt tới mục đích cuối cùng của mọi doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu, góp phần không ngừng tăng trưởng và phát triển
Tóm lại: Đầu tư là chỉ việc huy động nguồn lực nhằm biến các lợi ích dự
kiến thành hiện thực trong một khoảng thời gian đủ dài trong tương lai
2 Phân loại đầu tư
Có rất nhiều loại hình đầu tư khác nhau Để giúp doanh nghiệp có thể lựa chọn chính xác dự án đầu tư mà mình đang cần cũng như giúp cho các cấp có thể quản lý được các dự án đầu tư một cách khoa học, chính xác Người ta phân chia các dự án đầu tư thành các loại khác nhau:
2.1.Căn cứ vào cơ cấu vốn, đầu tư gồm ba bộ phận
• Đầu tư tài sản cố định ( TSCĐ )
Đây là loại đầu tư nhằm tạo ra hoặc nâng cao mức độ hiện đại tài sản cố định của doanh nghiệp thông qua việc xây dựng mới nhà xưởng, các công trình
hạ tầng và đầu tư cho thiết bị máy móc, công nghệ, bằng phát minh, mua bản quyền, bí quyết công nghệ Thông thường vốn đầu tư cho loại tài sản này chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp
• Đầu tư tài sản lưu động (T SLĐ )
Đây là khoản đầu tư nhằm đảm bảo sự hoạt động liên tục, nhịp nhàng của quá trình kinh doanh, đó là tiền mặt, tư liệu sản xuất, nguyên nhiên vật liệu Khi có sự tăng trưởng của doanh nghiệp ở một mức độ nào đó đòi hỏi phải có sự
bổ sung tài sản lưu động
• Đầu tư tài sản tài chính
Trang 8Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể lựa chọn đầu tư vào các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu Loại tài sản này
có thể mang lại các lợi ích tài chính trong tương lai
Việc phân loại đầu tư theo cơ cấu vốn giúp cho doanh nghiệp xây dựng
kế hoạch đầu tư phản ánh kết cấu vốn đầu tư hợp lý
2.2 Căn cứ theo mục tiêu, đầu tư gồm năm bộ phận
• Đầu tư hình thành doanh nghiệp:
Là hình thức đưa toàn bộ vốn đầu tư để xây dựng một đơn vị kinh doanh mới có tư cách pháp nhân riêng
• Đầu tư tăng năng lực sản xuất của doanh nghiệp:
Là toàn bộ các khoản đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất nhằm tăng khả năng sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp
• Đầu tư đổi mới sản phẩm:
Là đầu tư nhằm tạo ra những sản phẩm mới hoặc cải tiến, hoàn thiện các loại sản phẩm cũ
• Đầu tư thay đổi thiết bị:
Là đầu tư nhằm thay thế các trang thiết bị cũ Đây là trường hợp đầu tư phổ biến
• Đầu tư có tính chất chiến lược:
Là sự đầu tư nhằm tạo ra sự chuyển biến trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: mở rộng xuất khẩu sản phẩm, đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm để mở rộng thị trường tiêu thụ
Đầu tư khác như góp vốn thực hiện liên doanh, đầu tư vào tài sản tài chính
Việc phân loại theo mục tiêu đầu tư cho phép doanh nghiệp kiểm soát được tình hình thực hiện đầu tư theo những mục tiêu nhất định trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể tập trung vốn và có những biện pháp thích hợp để đạt được mục tiêu đề ra
Trang 93.Tầm quan trọng của hoạt động đầu tư dài hạn đối với doanh nghiệp
Thứ nhất, quyết định đầu tư dài hạn là một trong những quyết định có ý
nghĩa chiến lược quan trọng đối với doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu kinh doanh lâu dài Việc đạt hay không đạt được những mục tiêu trên sẽ ảnh hưởng đến tương lai của doanh nghiệp Bởi vì quyết định này tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời gian dài và ảnh hưởng có tính chất quyết định đến quy mô và trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ sản xuất cũng như cơ cấu chi phí tương lai của doanh nghiệp
Thứ hai, quyết định đầu tư dài hạn là một quyết định tài chính dài hạn, có
tác động đến tình hình tài chính và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động đầu tư dài hạn đòi hỏi một lượng vốn rất lớn Để đảm bảo sự
ổn định về tài chính, lượng vốn này phải được sử dụng một cách có hiệu quả Hiệu quả vốn đầu tư phụ thuộc vào việc dự toán đúng đắn vốn đầu tư Những sai lầm trong việc dự toán vốn đầu tư sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc đầu tư vốn quá mức hoặc đầu tư không đồng bộ sẽ dẫn đến lãng phí vốn, ảnh hưởng đến các hoạt động khác trong doanh nghiệp Nhưng ngược lại, việc dự toán vốn quá ít rất có thể dẫn đến tình trạng thiếu vốn, hạn chế khả năng sản xuất đáp ứng thị trường hoặc không kịp thời đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ, kết quả là doanh nghiệp mất thị trường hoặc thất bại trong cạnh tranh Một quyết định không đúng đắn buộc doanh nghiệp phải thay đổi sẽ dẫn tới những thiệt hại
về mặt tài chính do tài sản không bán được để chuyển hướng hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả là thua lỗ, không trả được nợ và phá sản Bên cạnh đó, với nguồn lực hạn hẹp của doanh nghiệp, quyết định đầu tư này có thể làm cản trở việc thực hiện các hoạt động đầu tư có hiệu quả khác Do vậy, buộc doanh nghiệp trước khi ra quyết định đầu tư phải cân nhắc và lựa chọn một cách chính xác để lựa chọn được dự án có hiệu quả nhất, đáp ứng được mục tiêu đặt ra
Trang 104 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư dài hạn
Có rất nhiều yếu tố tác động đến quyết định đầu tư dài hạn của doanh nghiệp, tuy nhiên trong bài viết này chúng ta chỉ tập trung vào những yếu tố quan trọng và mang tính chất điển hình
4.1.Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước
Nhà Nướclà người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế Thông qua chính sách kinh tế, pháp luật kinh tế Nhà Nướctạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch kinh tế vĩ
mô Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà Nướctrong mỗi thời kỳ định hướng cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh Với chính sách đòn bẩy, Nhà Nướckhuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào những ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho nền kinh tế quốc dân Vì vậy để đi đến quyết định đầu tư doanh nghiệp phải nghiên cứu chính sách kinh tế của Đảng và Nhà Nướcđể đảm bảo thực hiện đúng pháp luật kinh doanh đồng thời tận dụng những chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước
4.2.Thị trường và các đối thủ cạnh tranh.
Trong sản xuất hàng hoá, thị trường tiêu thụ sản phẩm là một căn cứ hết sức quan trọng để doanh nghiệp quyết định đầu tư Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải đầu tư sản xuất ra những sản phẩm mà người tiêu dùng cần, tức
là phải căn cứ vào nhu cầu sản phẩm của thị trường hiện tại và tương lai để xem xét vấn đề đầu tư Trong đầu tư, khi xem xét thị trường thì không thể bỏ qua yếu tố cạnh tranh Yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp trong đầu tư phải căn cứ vào tình hình hiện tại của doanh nghiệp, tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường và dự đoán tình hình trong tương lai để lựa chọn phương thức đầu tư thích hợp, tạo ra lợi thế riêng của doanh nghiệp trên thị trường
Trang 114.3.Lãi suất tiền vay ( chi phí vốn vay) và chính sách thuế
Thông thường để tiến hành hoạt động đầu tư ngoài vốn tự có, doanh nghiệp phải đi vay Và lãi suất tiền vay chính là chi phí của khoản vay đó Do đó khi xác định kế hoạch đầu tư dài hạn doanh nghiệp phải xem xét lãi suất tiền vay để đảm bảo với chi phí vốn vay đó hoạt động đầu tư của doanh nghiệp vẫn mang lại hiệu quả
Đồng thời chính sách thuế của Nhà Nướccũng rất quan trọng, thuế là một công cụ để Nhà Nướcđiều tiết và hướng dẫn các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh, thông qua chính sách thuế Nhà Nướccó thể hạn chế hay khuyến khích việc phát triển một ngành, một lĩnh vực nào đó Do đó thuế trong kinh doanh là yếu tố kích thích hay hạn chế sự đầu tư của doanh nghiệp
4.4.Tiến bộ khoa học kỹ thuật
Tiến bộ khoa học kỹ thuật có thể là cơ hội mà cũng có thể là nguy cơ đe doạ đối với sự đầu tư của một doanh nghiệp Trong đầu tư doanh nghiệp phải tính đến thành tựu của khoa học, công nghệ để xác định đầu tư về trang thiết bị, đầu tư về quy trình công nghệ sản xuất hoặc đầu tư kịp thời để đổi mới, hiện đại hoá trang thiết bị, nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải dám chấp nhận sự mạo hiểm trong đầu tư để phát triển sản phẩm mới Ngược lại, doanh nghiệp nếu không tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ để đổi mới trang thiết bị, đổi mới sản phẩm sẽ có nguy cơ dẫn doanh nghiệp tới tình trạng làm ăn thua lỗ do sản phẩm không còn phù hợp với nhu cầu thị trường
4.5.Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp chỉ có nguồn tài chính để đầu tư ở giới hạn nhất định bao gồm nguồn vốn tự có và nguồn vốn có khả năng huy động Doanh nghiệp không thể thực hiện những dự án có vốn đầu tư quá lớn, vượt quá khả năng tài chính của mình Đây là yếu tố quan trọng chi phối đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp
Trang 124.6 Tình hình kinh tế và chính trị trong nước và thế giới.
Trong điều kiện tình hình kinh tế và chính trị trong nước và thế giới ổn định thì các dự đoán về chi phí và lợi ích thu được trong tương lai sẽ chính xác hơn trên cơ sở đó sẽ thúc đầy doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong các quyết định đầu tư của mình Ngược lại, nếu một quyết định đầu tư đặt trong một tương lai
có nhiều yếu tố bấp bênh sẽ làm cho các nhà đầu tư thiếu tin tưởng, nghi ngại về
sự phát triển doanh nghiệp do đó sẽ hạn chế đầu tư
Trên đây là một số yếu tố chi phối đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp Tuy nhiên mỗi loại hình doanh nghiệp lại chịu tác động khác nhau của các yếu tố khác nhau Vì vậy trước khi đi đến quyết định đầu tư doanh nghiệp phải dự tính và sắp xếp các yếu tố đó theo mức độ tác động để nhằm tận dụng những yếu tố có lợi, hạn chế những yếu tố bất lợi đồng thời dự đoán chính xác hiệu quả tài chính dự án đầu tư, đảm bảo dự án đầu tư thực hiện đúng luật và hiệu quả
5.Hiệu qủa đầu tư.
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư được tiến hành thuận lợi, đạt được mục đích như mong muốn, thì trước khi tiến hành hoạt động đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá được hiệu quả của hoạt động đầu tư
Về lý thuyết cũng như trong thực tiễn, hiệu qủa đầu tư được đánh giá thông qua 4 phương pháp sau đây:
- Phương pháp giá trị hiện tại ròng ( NPV)
- Phương pháp tỷ suất nội hoàn ( IRR )
- Phương pháp thời gian hoàn vốn ( PP )
- Phương pháp chỉ số doanh lợi ( PI )
Để sử dụng các phương pháp này trước tiên chúng ta phải làm rõ một số khái niệm sau:
+ Gía trị theo thời gian của tiền: Tiền có giá trị không giống nhau ở những thời điểm khác nhau
Trang 13+ Lãi kép: Là một phương pháp tính lãi trong đó lãi của kỳ trước được nhập vào gốc để tính lãi tiếp cho kỳ sau:
r trong trường hợp này là tỷ lệ chiết khấu hay tỷ lệ hiện tại hoá
Sau đây ta sẽ đi vào xem xét đánh giá so sánh về ưu và nhược điểm cũng nhu phạm vi và trường hợp áp dụng mỗi phương pháp
Trang 14Chỉ tiêu Phương pháp giá trị hiện tại
ròng (NPV)
Phương pháp tỷ lệ nội hoàn (IRR)
Phương pháp chỉ số doanh lợi (PI)
Phương pháp thời gian hoàn vốn (PP)
Xác định một tỷ suất chiết khấu sao cho giá trị hiện tại của số dư bằng tiền dự kiến thu được từ
dự án đầu tư bằng giá trị hiện tại của số tiền bỏ ra
để đầu tư
Cho biết tỷ lệ giữa tổng giá trị hiện tại của thu nhập / vốn đầu tư bỏ ra
Là khoảng thời gian cần thiết để chuỗi các số dư bằng tiền từ dự án đầu
tư bằng số tiền ban đầu được bỏ ra để thực hiện
dự án đầu tư đó
Giả định -Vốn có thể đi vay hoặc cho
vay với cùng một lãi suất
- Lãi suất chiết khấu phản ánh chính xác chi phí cơ hội của vốn
-Vốn không bị giới hạn
Dòng tiền ròng trong các năm được tái đầu tư với
tỷ lệ bằng tỷ lệ sinh lời của dự án
Vốn có thể đi vay hoặc cho vay với cùng một lãi suất
Vốn có thể đi vay hoặc cho vay với cùng một lãi suất
IRR =r
⇔ NPV =∑i=n o +r i
CFi
) 1
) 1 (
) 1 (
có NPVmax
IRR<r*: Bác bỏ dự án
IRR>=r*: Chấp nhận dự
án có IRRmax
PI<1: Bác bỏ dự ánPI>=1: Chấp nhận dự án
có PImax
t > n: Bác bỏ dự án
t <= n: Chấp nhận dự
án có t min
Trang 15Chỉ tiêu Phương pháp giá trị hiện tại
ròng (NPV)
Phương pháp tỷ lệ nội hoàn (IRR)
Phương pháp chỉ số doanh lợi (PI)
Phương pháp thời gian hoàn vốn (PP)
của tiền -Cho biết lợi ích thuần của
dự án đầu tư
- Là phương pháp giúp lựa chọn dự án đầu tư tương đối chính xác
- Là phương pháp có độ tin cậy và linh hoạt nhất
chiết khấu tối đa mà nhà đầu tư có thể chấp nhận
mà vẫn không bị thua thiệt nên chính xác trong việc phân tích các dự án
có thời gian dài
- Có tính đến giá trị thời gian của tiền
lệ sinh lời của mỗi đồng vốn bỏ ra
-Tính đến giá trị thời gían của tiền
- Sử dụng phương pháp này không phải tính đến dòng tiền ngoài thời gian hoàn vốn nên tiết kiệm được chi phí
Nhược
điểm
- Không quan tâm đến sự khác biệt về thời gian giữa các dự án
-Độ chính xác của NPV phụ thuộc rất nhiều vào việc xác định r , mà việc xác định r là rất khó đồng thời r lại thay đổi qua các năm và với các
dự án khác nhau thì r cũng khác nhau
- Tính toán phức tạp
- Việc tính toán càng phức tạpđối với các dự
- Doanh lợi đo bằng số tương đối
-Không quan tâm đến quy mô, thời hạn của dự án
-Chỉ cho biết thời gian thu hồi vốn mà không biết về lợi nhuận
- Không lý giải được số
dư tiền mặt thu được sau thời điểm hoà vốn.Không quan tâm đến quy mô và thời hạn của
dự án
Trang 16Chỉ tiêu Phương pháp giá trị hiện tại
ròng (NPV)
Phương pháp tỷ lệ nội hoàn (IRR)
Phương pháp chỉ số doanh lợi (PI)
Phương pháp thời gian hoàn vốn (PP)
lãi suất chiết khấu qua các năm, nên dự án có thời gian dài sẽ không chính xác
- Không quan tâm đến tỷ suất sinh lời của vốn
án loại trừ vì phải tịnh trên dòng tiền gian tăng
Tại sao sử
dụng chỉ
tỉêu này
Đây là chỉ tiêu có độ tin cậy
và linh hoạt nhất, giúp lựa chọn dự án đầu tư tương đối chính xác
Vì các doanh nghiệp cho rằng điều quan trọng là phải biết được khoảng chênh lệch giữa tỷ suất thu hồi nội bộ của một dự
án đầu tư được đưa ra và chỉ tiêu hoàn trả mà doanh nghiệp đề ra
Chỉ tiêu này cho biết mức sinh lợi của mỗi đồng vốn bỏ ra Đây là yếu tố quan trọng để nhà đầu tư xem xét chấp nhận hoặc bác bỏ dự án
Thời gian đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định thực hiện một dự án đầu tư vì liên quan đến rủi ro và lạm phát
Trang 176 Nguồn vốn đầu tư.
Mỗi một doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động đầu tư có thể huy động vốn từ rất nhiều nguồn khác nhau, điều quan trọng là xác định hợp lý từng nguồn để có khả năng kiểm soát và sử dụng một cách có hiệu quả Sự hiệu quả này thể hiện ở cơ cấu vốn đầu tư hợp lý và chi phi sử dụng vốn thấp nhất Vốn đầu tư chủ yếu được huy động từ các nguồn sau:
6.1.Nguồn vốn chủ sở hữu
Khi có nhu cầu đầu tư, trước hết doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn
từ bên trong vì đây là nguồn mà doanh nghiệp có thể chủ động được.Nguồn vốn này bao gồm:
6.1.1 Lợi nhuận giữ lại
Hàng năm các doanh nghiệp thường để lại một phần lợi nhuận để tái đầu
tư nhằm tăng thêm vốn phát triển sản xuất kinh doanh Số tiền để lại phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh các năm trước và khả năng sinh lợi của đồng vốn để lại
6.1 2 Vốn khấu hao ( Quỹ khấu hao ).
Là toàn bộ số tiền trích khấu hao được tích luỹ lại Vốn khấu hao không thuộc vốn sản xuất kinh doanh mà là nguồn để tái sản xuất tài sản cố định Đối với từng ngành nghề khác nhau, tỷ lệ vốn khấu hao được quy định là khác nhau, phù hợp với quy mô tính chất vốn đầu tư
6.1 3.Vốn cổ phần:
Đối với công ty cổ phần ở các nước phát triển thì đây là nguồn tài trợ cơ bản Nguồn này được hình thành do những người sở hữu công ty phát hành Các
dự án đầu tư bằng vốn cổ phần có rất nhiều lợi thế
Trước hết, nhà đầu tư có thể tập hợp được sức mạnh về tài chính của nhiều người, khai thác được các nguồn vốn nhàn rỗi tại chỗ và kinh nghiệm quản lý điều hành dự án của tập thể hội đồng quản trị
Thứ hai, khi các cổ đông chấp nhận lời ăn lỗ chịu thì mức lợi tức cổ phần đặt ra từ đầu chỉ là mục tiêu phấn đấu của dự án, không gây sức ép về kinh tế và
Trang 18tâm lý như vốn đi vay và trong những năm đầu ít khả năng bị thiếu hụt trong thanh toán
Khi sử dụng nguồn tài trợ bằng hình thức cổ phần phải có kế hoạch cụ thể, khớp với tiến độ các giai đoạn dự án , tránh việc vội vàng huy động nhưng chưa triển khai được kế hoạch sử dụng mà vẫn phải trả lợi tức cổ phiếu, gây ảnh hưởng đến công việc vận hành sau này
vụ của Nhà nước
Trước 1996, vốn ngân sách là một trong các nguồn tài trợ quan trọng cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Tuy nhiên từ khi Nhà nước cho doanh nghiệp giữ lại phần khấu hao cơ bản để đầu tư mở rộng sản xuất thì hầu như vốn ngân sách đầu tư cho các ngành nghề dự án không có
Hiện nay các hạng mục đầu tư được cấp vốn ngân sách bao gồm các hạng mục về phát triển kinh tế, xã hội như: giáo dục, y tế, phúc lợi công cộng, các dự
án hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước
6.2 Nguồn vốn vay
6.2.1 Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tài chính:
Vay ngân hàng và các tổ chức tài chính có đặc điểm là: doanh nghiệp thường phải có tài sản thế chấp, phương án kinh doanh khả thi và lãi suất vay
do ngân hàng đưa ra
Đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nguồn vốn này thường chiếm từ 60-70% tổng nguồn vốn vì tính kịp thời và sự linh động về thời gian sử dụng của nó đồng thời nếu doanh nghiệp có uy tín và quan hệ tốt với ngân hàng,
Trang 19Tuy nhiên các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay chủ yếu cho vay ngắn và trung hạn thiếu các khoản vay dài hạn, mà đầu tư dài hạn lại thường có thời gian hoàn trả lâu do đó nguồn vốn này cũng chỉ chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư.
6.2 2.Vốn từ quỹ hỗ trợ phát triển quốc gia.
Hiện tại chính phủ đã đầu tư 4000 tỉ để thực hiện chương trình hỗ trợ cho các ngành công nghiệp phát triển Đây là nguồn vốn có nhiều ưu thế nếu doanh nghiệp tiếp cận được vì :
- Lãi suất cho vay thường là ưu đãi
- Thời hạn vay vốn dài
- Không bị ràng buộc bởi các điều kiện cho vay, do đó có thể tự do trong việc lựa chọn máy móc thiết bị, công nghệ phù hợp với mục tiêu sử dụng và giá
cả thấp nhất
Chủ đầu tư được vay vốn tín dụng Nhà Nước có trách nhiệm hoàn trả vốn
và lãi đúng thời hạn quy định
Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải xây dựng được dự án kinh doanh khả thi phù hợp với quy hoạch phát triển của ngành và hướng ưu tiên của chính phủ
Đó là điều kiện tiên quyết cho việc tiếp cận với nguồn vốn này
6.2 3.Vốn vay nước ngoài (ODA)
Đây là vốn viện trợ không hoàn lại hoặc vay với lãi suất ưu đãi của chính phủ, tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như: WB, IMF, ADB, mà các nước phát triển thường dành cho các nước đang phát triển
Nguồn vốn này thường dành cho các chương trình đầu tư có mục tiêu, cho phát triển cơ sở hạ tầng, trợ giúp khoa học kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực Việc rút vốn đầu tư từ nguồn ODA phải theo các trình tự thủ tục chặt chẽ của tổ chức chính phủ cho vay, phải qua rất nhiều khâu và thời gian thường bị kéo dài nên lãi suất thực tế chưa chắc đã là lãi suất ưu đãi
Điều quan trọng nhất đối với nguồn vốn này là phải giải ngân nhanh, có vốn đối ứng trong nước kịp thời, đảm bảo hiệu quả đầu tư và cân đối trả nợ từ ngân sách Nhà Nước
Trang 20Đồng thời nguồn vốn này thường đi kèm với những điều kiện nhất định, nên mặc dù mang tính chất ưu đãi nhưng khi sử dụng nguồn vốn này doanh nghiệp cũng cần phải xem xét tính toán để đảm bảo nguồn vốn thực sự đem lại hiệu quả.
6.2.4 Vốn tín dụng nước ngoài.
Nguồn vốn này chủ yếu do các doanh nghiệp Việt Nam vay của các tổ chức tài chính, ngân hàng nước ngoài với lãi suất cao, thời hạn trả nợ nhanh, cho các mục tiêu ngắn hạn: hỗ trợ nhập khẩu hàng hoá của nước ngoài để tạo thuận lợi cho việc thâm nhập thị trường Việt Nam, nhập máy móc thiết bị trả chậm, hỗ trợ làm hàng xuất khẩu
Thủ tục giải ngân vốn vay thương mại nhanh hơn các loại vốn vay khác nhưng phần lớn các tổ chức cho vay thường buộc các nhà đầu tư Việt Nam vay vốn phải có bảo lãnh của chính phủ Việt Nam và đây là nguy cơ làm tăng kim ngạch nhập siêu và nợ nước ngoài cho chính phủ
6.2.5 Vốn huy động từ phát hành trái phiếu.
Tuỳ theo luật pháp và tập quán từng nước, các công ty có thể phát hành trái phiếu với kỳ hạn khác nhau Tuy nhiên trước khi phát hành trái phiếu ra thị thị trường một trong những vấn đề cần xem xét là lựa chọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của công ty và tình hình tài chính trên thị trường.Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì nó liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành, tính hấp dẫn của trái phiếu
và sự phù hợp với luồng tiền thu được của dự án đầu tư
II ĐẦU TƯ TRONG NGÀNH DỆT MAY
1 Đặc điểm của ngành dệt may.
1.1 Là ngành thu hút nhiều lao động có trình độ thấp.
Do tính chất đặc thù của mình, ngành công nghiệp dệt may đòi hỏi số lượng lao động lớn, từ lao động thủ công giản đơn như thợ may ráp nối không
Trang 21cần phải đào tạo công phu đến lao động yêu cầu kỹ thuật cao như vẽ kiểu, giác
sơ đồ, cắt bằng máy tính.Trong đó lao động giản đơn chiếm khoảng 80%
Hiện nay lao động trong ngành dệt may chủ yếu tập trung ở các nước Châu Á chiếm tới 57% vì khu vực này có nguồn lao động dồi dào, giá gia công thấp, phù hợp với việc phát triển ngành dệt may
Mức lương trong ngành dệt may ở châu á nói chung là thấp nhưng của Việt Nam là thấp hơn cả
Bảng : Tiền lương trong ngành dệt may của một số quốc gia
( Đơn vị : USD/ giờ)
Nhật Pháp Mỹ Anh Đ.Loan H Quốc H.Kông Singapo
Malaysia T.Lan Philippin Ấn §é T Quèc In®onªxia ViÖt Nam
(Nguồn :vụ KH-ĐT Bộ Công Nghiệp )
Đây chính là nguồn lợi thế cho Việt Nam Tuy nhiên NSLĐ và trình độ tay nghề của công nhân của chúng ta còn thấp Nếu trong tương lai chúng ta không đầu tư đổi mới để tăng NSLĐ thì khó có thể giữ được thế cạnh tranh của mình
1.2 Là ngành công nghiệp được bảo hộ cao.
Trước khi hiệp định về hàng dệt may của WTO có hiệu lực, việc buôn bán quốc tế về sản phẩm dệt may được điều chỉnh theo những thể chế thương mại đặc biệt mà theo đó phần lớn các nước nhập khẩu thiết lập các hạn chế số lượng để hạn chế hàng dệt - may nhập khẩu Đồng thời mức thuế đánh vào hàng dệt may còn cao hơn so với các hàng hoá công nghiệp khác Bên cạnh đó, từng nước nhập khẩu còn đề ra những điều kiện đối với hàng dệt - may nhập khẩu Tất cả những rào cản đó ảnh hưởng rất nhiều đến đầu tư sản xuất hàng dệt - may trên thế giới
Với hiệp định về hàng dệt - may(ACT), Việt Nam vừa có nhiều cơ hội xuất khẩu hàng dệt may , sau khi Việt Nam ra nhập WTO, nhưng đồng thời
Trang 22Các nhà đầu tư vào ngành dệt may muốn thành công trong việc xuất khẩu hàng dệt - may ra thị trường nước ngoài cần có hiểu biết rõ về những chính sách bảo hộ, ưu đãi của từng quốc gia và của thế giới với ngành dệt may Như vậy, việc đầu tư sẽ thu được hiệu quả cao, tránh được những lãng phí sai lầm không đáng có.
1.3 Sản phẩm của ngành dệt may mang tính thời trang.
Sản phẩm dệt may là sản phẩm tiêu dùng, phục vụ cho nhu cầu của tất cả mọi người Người tiêu dùng khác nhau về mặt văn hoá, phong tục tập quán, tôn giáo, khác nhau về khu vực địa lý, khí hậu, về giới tính tuổi tác sẽ có nhu cầu khác nhau về trang phục Do đó đòi hỏi sản phẩm dệt may phải hết sức đa dạng
Trong sản phẩm dệt may nhãn mác sản phẩm có ý nghĩa lớn đối với việc tiêu dùng của dân cư vì thông qua nhãn mác người ta có thể đoán biết được chất lượng sản phẩm
Với sản phẩm dệt may yếu tố thời vụ liên quan chặt chẽ đến thời cơ bán hàng Với các nhà xuất khẩu điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong vấn
đề giao hàng đúng thời hạn
1.4 Là ngành đòi hỏi đầu tư ban đầu không lớn lắm.
Đối với một số ngành công nghiệp nặng, suất đầu tư tạo việc làm cho một lao động là trên dưới 2000 USD Trong cùng ngành sản xuất hàng tiêu dùng, đầu tư cho sản xuất 1 tấn giấy cũng mất khoảng 1500-2000 USD Trong khi đó với ngành công nghiệp dệt, để tạo việc làm cho 1 lao động cần chi phí khoảng
1000 USD, riêng ngành may, con số này thấp hơn vào khoảng 600-700 USD Để
Trang 23tạo ra 1 triệu sản phẩm trong ngành may chỉ cần đầu tư khoảng 0.6-0.65 triệu USD.
Như vậy để đầu tư các doanh nghiệp may quy mô vừa và nhỏ, với năng lực dưới 1 triệu sản phẩm/năm thì chỉ cần một số vốn đầu tư khoảng trên dưới 500,000 USD Việc huy động số vốn đầu tư như vậy là không quá khó với các doanh nghiệp trong nước
Hơn nữa, vốn đầu tư trong ngành may có thể quay vòng nhanh do chu kỳ sản xuất ngắn Nếu doanh nghiệp chỉ đơn thuần may gia công thì vốn đầu tư ban đầu còn thấp hơn
Với đặc điểm về nguồn vốn như trên, ngành dệt may hoàn toàn có thể được ưu tiên phát triển trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá
2 Thực trạng đầu tư trong ngành dệt may Việt Nam hiện nay.
Đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam bao gồm đầu tư của khu vực trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong những năm qua để có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới, ngành dệt may đã tích cực đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ
Bảng: Tình hình đầu tư thiết bị cho từng loại sản phẩm.
STT Nội dung đầu tư Đơn vị Số lượng
cần đầu tư
Thực hiện
%thực hiện
( Nguồn: Tổng công ty Dệt May)
Trang 242.1 Thực trạng đầu tư ngành dệt.
Cho đến năm 90, thực trạng các thiết bị của ngành dệt Việt Nam hầu hết đều đã quá cũ, khoảng một nửa máy móc thiết bị đã được sử dụng ít nhất 20 năm nên nhiều doanh nghiệp chỉ đạt 50% công suất do đó sản phẩm làm ra không đáp ứng được yêu cầu cho may xuất khẩu và cũng chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu tiêu thụ trong nước
Nhận thức được vấn đề đó, trong những năm gần đây ngành dệt Việt Nam
đã cố gắng đầu tư để đổi mới thiết bị công nghệ của lĩnh vực này bao gồm:
+ Đầu tư thiết bị công nghệ vào những khâu còn yếu như khâu dệt, và một số thiết bị hoàn tất nhằm nâng cao chất lượng vải
+ Bổ sung nâng cấp, thay mới các máy đã qua sử dụng, tổng cộng 220.960 cọc sợi, với vốn đầu tư 45.964.407USD Những máy móc được bổ sung, thay mới thường sử dụng công nghệ của thập kỷ 90
+ Đầu tư một số dây chuyền công nghệ kéo sợi đồng bộ và hiện đại
Tuy nhiên do đặc thù của ngành dệt là thiết bị đắt, dây chuyền công nghệ dài, phức tạp, nên đến nay tuy đã cố gắng đổi mới đầu tư thiết bị song vẫn chưa tạo được nhiều dây chuyền sản xuất hiện đại đồng bộ, chưa cung cấp được vải chất lượng cao, mẫu mã phong phú, giá hạ, đáp ứng được yêu cầu may xuất khẩu
Đầu tư vào ngành dệt của Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp Nhà Nướcvà một số công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hiện nay đã có 81 dự án đầu tư nước ngoàivào ngành dệt,với tổng vốn thực hiện là 568 triệu USD, chiếm 34,18% tổng số dự án đầu tư vào ngành dệt của Việt Nam Đầu tư của khu vực nước ngoài vào khu vực sợi dệt nhuộm chỉ chiếm 1/3 so với toàn bộ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dệt may, nguyên nhân là do: Đầu tư vào lĩnh vực sợi dệt nhuộm đã được tập trung vào những năm 1990-1994 tại các nước đã phát triển sớm hơn Việt Nam trong khu vực Châu Á như: Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc Tại các quốc gia này ngành dệt vẫn đang phát triển mạnh, trong khi đó đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chủ
Trang 25yếu là để tận dụng nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, đây là lợi thế phù hợp với ngành may
Nhận thức được thực trạng đó nên trong những năm gần đây tổng công ty dệt may đã cố gắng nỗ lực và đề ra những chính sách ưu đãi để khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào lĩnh vực này Vì vậy trong thời gian qua đã có một số công ty mạnh dạn đầu tư những dây chuyền công nghệ đồng
bộ hiện đại như
+ Dây chuyền dệt vải Denim của Công ty Dệt - May Hà Nội
+ Dây chuyền kéo sợi HOWA của công ty dệt Thành Công
+ Dây chuyền kéo sợi HOWA TOYOTA của công ty dệt Nam Định
+ Dây chuyền kéo sợi Nhật của công ty Dệt Việt Thắng
+ Máy dệt Picanol Bỉ công ty dệt Nam Định
Bên cạnh việc đầu tư xây dựng những dây chuyền mới các công ty cững tích cực bổ sung nâng cấp thay mới những máy đã qua sử dụng để đáp ứng yêu cầu về chất lượng
Như vậy đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ tại một số công ty đang thực hiện khá tốt và từng bước theo hướng tạo ra cho mình những sản phẩm chuyên môn hoá cao, bước đầu đã đáp ứng được sự phát triển của thị trường tiêu thụ trong nước và hướng ra xuất khẩu Tuy nhiên trong việc đầu tư vào ngành dệt vẫn còn nhiều bất cập:
+ Qua bảng trên ta thấy tỷ lệ thiết bị công nghệ được đầu tư còn thấp so với nhu cầu, mới chỉ đạt khoảng 32%
+ Công nghệ ngành dệt đầu tư trong giai đoạn qua là nhập khẩu, do đó các công ty dệt Việt Nam phải phụ thuộc vào nước ngoài trong việc thay thế thiết bị khi có hỏng hóc
+ Vốn đầu tư có hạn nên phần lớn máy móc được đầu tư mới cho đạt trình độ trung bình hoặc trên trung bình
Trang 262.2 Thực trạng thiết bị công nghệ đầu tư ngành may.
Ngành may là ngành đi đầu trong việc đầu tư, đổi mới thiết bị , công nghệ sản xuất Trang thiết bị đầu tư cho ngành may được đầu tư đổi mới tăng nhanh
cả về số lượng và chất lượng, nhất là về tính năng công dụng Bên cạnh các thiết
bị may, để đáp ứng yêu cầu chất lượng ngày càng cao của người tiêu dùng việc đầu tư vào một số máy chuyên dùng cũng tăng nhanh đáng kể như: máy vắt chỉ, máy thùa đính, máy cạp 4 kim, bàn là treo, bàn là hơi, có đệm hút chân không
Nếu như trong giai đoạn trước, ngành may mới chỉ chú trọng đầu tư vào những khâu trọng yếu quyết định chất lượng sản phẩm mà chưa chú trọng khâu hoàn tất, đóng gói sản phẩm, làm giảm rất nhiều giá trị của sản phẩm, dẫn đến giảm giá sản phẩm, thì trong giai đoạn 1995-2000 rút ra bài học kinh nghiệm, mọi khâu đều được ngành đầu tư thiết bị , công nghệ phù hợp
Đồng thời các thiết bị may của công ty may bắt đầu được đầu tư theo hướng tự động Tuy nhiên loại thiết bị này chủ yếu mới được đầu tư tại các công ty lớn , số đông các công ty thuộc tổng công ty dệt may Chủng loại các thiết bị được đầu tư đạt trình độ tự động cũng rất ít
Dịch chuyển đầu tư theo hướng tăng cường các sản phẩm cao cấp, hiệu quả cao là xu thế của các công ty may hiện nay Hầu hết các công ty may đều đang tích cực chuẩn bị đầu tư cho sản phẩm chiến lược để tham gia vào thị trường Mỹ, thị trường ASEAN, đồng thời củng cố vị trí của mình tại các thị trường quen thuộc như EU Đông Âu
Bên cạnh khu vực đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài vào ngành may cũng chiếm tỷ trọng lớn với 144 dự án, tổng vốn thực hiện là 178.356.892 USD Trong đó hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ lệ cao nhất tới 81,95%, hình thức liên doanh không được các nhà đầu tư quan tâm mặc dù họ tận dụng được lợi thế mặt bằng nhà xưởng, nhân công sẵn có, nhưng họ thiếu đi sự chủ động trong kinh doanh
Đầu tư nước ngoài đã đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may nhưng chưa góp phần củng cố vị trí hàng may xuất khẩu của Việt
Trang 27Nam trên thị trường thế giới, vì những sản phẩm xuất khẩu này vẫn mang nhãn mác của các hãng nước ngoài.
Công nghiệp may đang tích cực tiến hành đầu tư tạo nên thế mạnh cho mình để củng cố vị trí trên thị trường Thiết bị công nghệ đồng bộ tiên tiến giúp quyết định một phần lớn trong thành công của ngành
Tóm lại: Qua phân tích thực trạng đầu tư trong ngành dệt may Việt Nam
trong thời gian qua ta có thể rút ra một số kết luận sau:
- Cơ cấu đầu tư giữa ngành dệt và ngành may chưa hợp lý Ngành may do vốn đầu tư không lớn nên thường đầu tư vào thiết bị công nghệ đạt trình độ tiên tiến Trong khi đa phần các trang thiết bị của ngành dệt chỉ đạt ở mức trung bình Kết quả là sản phẩm ngành dệt không đáp ứng được yêu cầu chất lượng cho ngành may, dẫn đến ngành may chủ yếu may gia công cho nước ngoài.Vì vậy trong tương lai nhu cầu đầu tư vào ngành dệt vẫn rất lớn
- Đầu tư nước ngoài vào ngành dệt may tuy chiếm tỷ trọng lớn nhưng hầu hết là hình thức 100% vốn nước ngoài, đồng thời lại mang nhãn mác của các công ty mẹ ở nước ngoài, nên đầu tư nước ngoài thực sự chưa góp phần nâng cao vị thế của ngành dệt may ở thị trường quốc tế, mà mới chỉ tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm và trở thành thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định cho Việt Nam
- Việc phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ nước ngoài là một bất lợi của ngành dệt may Việt Nam trong qúa trình hội nhập
Như vậy, đầu tư thiết bị công nghệ là rất cần thiết, quan trọng để phát triển ngành dệt may Việt Nam, đặc biệt là ngành dệt Tuy nhiên khi đầu tư phải xem xét sao cho việc đầu tư phải phù hợp quy hoạch phát triển ngành, tận dụng được lợi thế của Việt Nam đồng thời bắt kịp trình độ, công nghệ của thế giới Khi đó đầu tư sẽ có hiệu quả cao Ngành dệt may Việt Nam sẽ có được những bước phát triển
3 Cơ hội và thách thức đối với đầu tư trong ngành dệt may Việt Nam.
• Cơ hội
Trang 28Với lợi thế sử dụng nhiều lao động thủ công, khả năng đóng góp lớn vào xuất khẩu với giá trị gia tăng cao Ngành dệt may ở nước ta ngày càng giữ vai trò quan trọng Trong những năm gần đây nghành dệt may Việt Nam đã có tốc
độ phát triển đáng kể, đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu đã tăng nhanh vươn lên giữ vị trí thứ hai trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sau dầu thô Năm 2000, kết thúc chặng đường mười năm đổi mới, toàn ngành dệt may đạt kim ngạch xuất khẩu 1.9 tỷ USD, tăng gấp 10 lần so với năm 1991 Trong 5 năm qua hàng may mặc xuất khẩu tăng bình quân hàng năm 20-25% chiếm khoảng 13-14% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước, tạo việc làm cho gần 1,6 triệu lao động Đây là một lợi thế để ngành dệt may có cơ hội phát triển
Trong những năm gần đây ngành dệt may Việt Nam đã cung cấp được những sản phẩm có chất lượng cao, đa dạng, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao và đã có mặt ở thị trường hơn 30 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có các bạn hàng như: Nhật Bản, Ôxtrâylia, HôngKông, Đài Loan, Hàn Quốc, EU đã và đang tiêu thụ ngày càng nhiều hàng may mặc Việt Nam Điều đó chứng tỏ hàng dệt may Việt Nam đã có uy tín trên thị trường thế giơi và có thể cạnh tranh ở các thị trường khác nhau
Nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm dệt may vẫn còn rất lớn Đặc biệt ngành may phát triển nhanh đang là thị trường vải và phụ liệu rất lớn cho ngành dệt Việt Nam
Việc hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa kỳ có hiệu lực đã
mở ra một cơ hội lớn về thị trường cho hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam
Trong những năm tới cơ hội về thị trường sẽ ngày càng mở rộng đối với hàng dệt may Việt Nam: Theo hiệp định ATC (WTO) từ năm 2005 và hiệp định AFTA (ASEAN) từ năm 2006 các nước thuộc WTO và ASEAN sẽ thực hiện bãi
bỏ hạn ngạch và giảm thuế đối với hàng dệt may nhập khẩu
Chính phủ đã phê duyệt QĐ 55/ QĐ- TTg ngày 23/4/2001 về phê duyệt chiến lược phát triển và một số cơ chế chính sách hỗ trợ thực hiện chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2005 Qua đó chính phủ cũng đề
Trang 29ra một số cơ chế, chính sách để hỗ trợ đầu tư phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010:
- Dùng ngân sách Nhà Nướchỗ trợ cho việc phát triển hạ tầng nguyên liệu, giải pháp môi trường, hạ tầng kỹ thuật cho khu công nghiệp và công tác đào tạo, nghiên cứu ứng dụng;
- Bố trí cân đối ngân sách đảm bảo vốn tín dụng nhà nước( 50% lãi suất bằng 1/2 lãi suất ưu đãi hiện hành, 50% còn lại theo lãi suất ưu đãi bình thường);
- Đảm bảo ưu đãi về thuế theo luật khuyến khích đầu tư trong nước;
- Ủng hộ đề suất đối với vải, phụ tùng may sản xuất trong nước nếu bán cho đơn vị gia công hàng xuất khẩu được hưởng thuế suất VAT như đối với hàng xuất khẩu;
- Dành mức hỗ trợ tối đa cho xúc tiến thương mại theo quy định tại thông tư 61 BTC;
- Đối với doanh nghiệp nhà nước: tạo quyền tự chủ tài chính tối đa, gắn với trách nhiệm bảo toàn vốn( chuyển sang hình thức đầu tư vốn cho doanh nghiệp), tạo cơ chế để doanh nghiệp tự tạo vốn tự đầu tư phát triển gắn kết quả kinh doanh với nhu cầu đâù tư phát triển và lợi ích vật chất ( để lại thu sử dụng vốn cho doanh nghiệp) đảm bảo đủ vốn cho doanh nghiệp Nhà Nướctheo quy định hiện hành;
Như vậy cơ hội đầu tư của ngành dệt may ở giai đoạn hiện nay là hết sức
to lớn Tuy nhiên bên cạnh đó hoạt động đầu tư của ngành cũng phải đối mặt với một số thách thức
• Thách thức:
Tuy chính phủ đã có những chính sách để hỗ trợ vốn cho ngành dệt may nhưng trong điều kiện nguồn vốn tín dụng Nhà Nướccòn phải đầu tư vào nhiều lĩnh vực vì vậy việc tranh thủ được nguồn vốn này cũng không nhiều
Hoạt động tăng tốc đầu tư của chúng ta tiến hành trong điều kiện trình độ của các nước trong khu vực đã vượt ta một khoảng cách rất xa, nếu chúng ta không có được chiến lược đầu tư một cách đúng đắn thì hoạt động đầu tư không những không đem lại hiệu quả mà còn gây lãng phí vốn
Trang 30Hầu hết máy móc thiết bị, công nghệ sử dụng cho chiến lược đầu tư đều phải mua của nước ngoài, do đó chi phí cao hơn Đồng thời trong điều kiện trình
độ cán bộ kỹ thuật của Việt Nam còn chưa cao, nên rất dễ bị mua phải thiết bị công nghệ đã qua sử dụng, được tân trang lại, hoặc những thiết bị công nghệ khi hỏng hóc thay thế phải phụ thuộc hoàn toàn vào nhà sản xuất
Năng suất lao động của ngành dệt may Việt Nam nhìn chung chỉ bằng 2/3 so với mức bình quân của các nước ASEAN, lao động có kỹ năng cao chiếm
tỷ lệ ít, trình độ lao động không đồng đều, phương pháp quản lý chưa khoa học Lao động có trình độ kỹ thuật còn ít
Chi phí sử dụng vốn vay cao: Lãi suất ngân hàng còn cao, thủ tục khó khăn, khó tiếp cận với các khoản vay trung và dài hạn
Từ những cơ hội và thách thức đó, với sự quan tâm của Đảng và chính phủ hy vọng trong tương lai ngành dệt may Việt Nam có thể phát triển để cạnh tranh ngang bằng với các nước trong khu vực và trên thế giới
CHƯƠNG HAI:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA
CÔNG TY DỆT - MAY HÀ NỘI TRƯỚC YÊU CẦU TĂNG CƯỜNG XUẤT KHẨU SANG HOA KỲ
I THỊ TRƯỜNG HOA KỲ VÀ HÀNG DỆT - MAY VIỆT NAM
1.Yêu cầu về hàng dệt - may tại thị trường Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ là một cường quốc kinh tế, khoa học, công nghệ quân sự vào hàng đầu thế giới, đồng thời cũng là một trong ba trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất thế giới Với diện tích 9.2 triệu km² dân số 272 triệu người, GDP bình quân đầu người là 26,900 $/ năm chiếm 25% GDP thế giới
Hoa Kỳ hiện nay là quốc gia nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới Trong những năm gần đây trị giá hàng dệt - may nhập khẩu vào nước này tăng mạnh, năm 2000 là 60 tỷ$ và năm 2001đã là 65.441 tỷ $ Đồng thời Hoa Kỳ cũng là quốc gia xuất khẩu lớn sản phẩm dệt( 9.5 tỷ $ ) và sản phẩm may
Trang 31may Việt Nam khi được hưởng quy chế quan hệ thương mại bình thường( NTR).
Hoa Kỳ nhập khẩu chủ yếu sản phẩm dệt từ Canada, Mehico, Trung Quốc, EU và một số nước khác Các sản phẩm của Hoa Kỳ cũng xuất chủ yếu sang các nước này Đối với sản phẩm may, Hoa Kỳ chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc, Hongkong, Mehico chiếm tổng cộng 36%
Sự đa dạng về chủng loại hàng hoá của thị trường Mỹ cộng với sức mua lớn khiến cho cơ cấu mặt hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ cũng rất đa dạng từ sản phẩm cao cấp cho đến các sản phẩm bình dân với đủ chủng loại kích cỡ, trong
đó có một số mặt hàng mà Việt Nam có thể đáp ứng được là: dệt kim, đan kim
và len, khăn, vớ, găng tay, sợi, vải, sơ mi nam nữ, quần kaki, soóc, hàng Jeans,
bộ vest, quần tây, Jacket( thể thao và mùa đông)
Về chất lượng hàng hoá xuất khẩu vào Hoa Kỳ cũng rất linh hoạt, người tiêu dùng Hoa Kỳ tương đối dễ tính hơn so với người tiêu dùng ở Nhật hay EU Nhiều mặt hàng chất lượng vừa phải ở Châu Á và Nam Mỹ đã được nhập khẩu vào Hoa Kỳ với số lượng lớn hàng năm
Nhu cầu tiêu dùng hàng dệt may của khách hàng ở Mỹ thay đổi theo lứa tuổi Đối tượng có nhu cầu mua sắm quần áo lớn nhất là thanh thiếu niên Lứa tuổi này đặc biệt chú trọng đến những quần áo hợp thời trang và đồ hiệu Trong khi đó lứa tuổi 45 trở lên có xu hướng dành tỷ lệ chi tiêu lớn cho mua nhà và nuôi con Sự cắt giảm tỷ lệ chi tiêu buộc họ tìm đến những sản phẩm có chất lượng trung bình Còn lứa tuổi từ 65 trở lên thì ít quan tâm đến thời trang mà chú ý nhiều hơn đến sự thoải mái và tiện dụng
Xu hướng mặc quần áo theo phong cách tự do đã làm tăng nhu cầu đối với loại quần áo thường quần aó thun làm từ vải dệt kim Vì vậy hàng dệt kim ngày càng được ưa chuộng so với hàng dệt thoi Đây là một lợi thế mà hiệp hội dệt may đã nghiên cứu và có những biện pháp cụ thể để phát triển mặt hàng dệt kim có lợi thế của Việt Nam
Trang 32Một xu hướng đang làm thay đổi nhu cầu về hàng may mặc là người tiêu dùng ít có thời gian đến cửa hàng hơn trước Xu hướng này làm tăng thị phần của các loại quần áo và hàng trang trí bán qua thư và Internet.
Thị trường Hoa Kỳ không bao giờ đặt hàng gia công mà thường mua theo phương thức FOB( là phương thức đặt hàng trực tiếp giữa người mua - người bán và nguyên vật liệu do người bán tự lo)với khối lượng mỗi đơn đặt hàng rất lớn từ 50,000 sản phẩm trở lên trong thời gian ngắn
Một đặc điểm khác là đơn hàng của các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ đòi hỏi chính xác về thời hạn giao hàng một khi khách hàng đã mở thư tín dụng và dễ huỷ hợp đồng nếu họ thấy bất lợi về thị trường Vì vậy khi ký kết các doanh nghiệp phải chú ý ràng buộc các điều kiện trong hợp đồng phải rất chặt chẽ và
rõ ràng
Để xuất khẩu được sản phẩm dệt may sang Hoa Kỳ, hiệp hội dệt may Hoa Kỳ khuyến cáo các doanh nghiệp Việt Nam nên áp dụng các tiêu chuẩn ISO 9000, SA8000, ISO 14000 này vì bất cứ một nhà nhập khẩu lớn nào khi xem xét để nhập khẩu hàng vào Hoa Kỳ thì đó là tiêu chuẩn đầu tiên
2 Các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Hoa Kỳ.
Hàng dệt - may Việt Nam tham gia thị trường Mỹ khi thị trường này đã định hình, phải cạnh tranh gay gắt với các nước có cùng loại sản phẩm xuất khẩu nhưng có trình độ phát triển sản xuất hơn, có tên tuổi và uy tín hơn trên thị trường lại được hưởng các ưu đãi GSP và các ưu đãi từ các thoả thuận song phương về hàng dệt may với Mỹ Có thể kể đến một số một số đối thủ sau:
• Trung Quốc:
Là một trong những nước Châu Á xuất khẩu hàng dệt - may lớn nhất thế giới Với khối lượng xuất khẩu lớn vào thị trường Mỹ chỉ đứng sau Mexico
Nước này có lợi thế hơn Việt Nam rất nhiều khi xuất khẩu hàng sang Mỹ
vì họ có quan hệ buôn bán từ lâu với Mỹ, có nhiều kinh nghiệm làm ăn trên thị trường này, sản phẩm đa dạng phong phú với giá rất rẻ, không những thế năng
Trang 33mới chỉ đạt 25%) Hiện tại Trung Quốc đã thiết lập quan hệ bình thường với Mỹ
và trở thành thành viên của WTO
Hàng Trung Quốc xuất khẩu ra thị trường theo hai kênh chính : Các công
ty bán lẻ có nhãn hiệu và các cửa hàng nhỏ cấp thấp Với kênh tiêu thụ thứ hai này Trung Quốc hầu như chiếm ưu thế vì có thể cung cấp lượng hàng rất lớn trong thời gian ngắn với giá rẻ nhất thế giới
• Các nước vùng vịnh Caribe và Mexico:
Ưu thế của các nước này là gần Mỹ nên dễ kiểm soát sản xuất, tiết kiệm được chi phí vận chuyển và đảm bảo tiến độ giao hàng, gía nhân công tương đối
rẻ, đặc biệt lại thuộc khối NAFTA nên được Mỹ ưu tiên hơn trong thuế suất
Chính vì những lợi thế trên đã giúp cho ngành xuất khẩu may mặc ở khu vực này phát triển nhanh và đã đưa Mexico trở thành nhà cung cấp hàng đầu hàng dệt - may ở Mỹ
• Các nước ASEAN:
Trong 10 năm trở lại đây đón nhận xu thế chuyển dịch ngành dệt may các nước ASEAN phát triển nhanh Đặc biệt là Philippin, Indonesia, Thailan có kinh nghiệm xuất khẩu hàng dệt - may đã nhiều năm với ưu thế về trình độ quản lý, công nghệ, năng suất lao động, ưu đãi chung về thuế quan và hạn ngạch Giá nhân công cao hơn Việt Nam nhưng không đáng kể Thị phần của các nước ASEAN tập trung chủ yếu ở phần thị trường cấp trung bình
• Các nhà sản xuất Mỹ:
Mỹ cũng là nước xuất khẩu hàng dệt - may lớn trên thế giới Trình độ sản xuất, chất lượng sản phẩm, uy tín nhãn hiệu là những lợi thế mà các doanh nghiệp dệt may của Mỹ có được Thêm vào đó, họ còn nắm được thông tin về thị trường, về thay đổi của các chính sách, về sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng, thị hiếu mẫu mốt một cách nhanh chóng nên sớm đưa ra được các kế hoạch chiến lược sản phẩm phù hợp và sản phẩm của Mỹ thường chiếm lĩnh thị phần hàng cao cấp
Trang 34Mỹ tuy đã ký cho các nước hưởng Quata ưu đãi thuế quan nhưng Mỹ vẫn dành quyền chủ động Khi xét thấy nền sản xuất trong nước bị hàng nhập đe doạ
Mỹ vẫn đơn phương dành quyền cắt bỏ các ưu đãi thuế quan đã thỏa thuận Như vậy các doanh nghiệp dệt may của Mỹ yên tâm trước sự bảo hộ của chính phủ Mỹ
3 Vị trí của hàng dệt - may Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Từ năm 1997 chúng ta đã xuất khẩu hàng dệt - may sang thị trường Hoa
Kỳ nhưng kim ngạch còn rất hạn chế vì hàng hoá của Việt Nam chưa được hưởng NTR Kim ngạch xuất khẩu năm 1997, 1998, 1999, 2000 tương ứng là 23 triệu $, 26 triệu $, 34 triệu$, 50 triệu$
Xuất khẩu hàng dệt - may của Việt Nam sang Hoa Kỳ chỉ thực sự phát triển khi Hiệp định thương mại song phương có hiệu lực vì thông qua hiệp định hàng hoá Việt Nam sẽ được hưởng thuế suất NTR thấp hơn 5-10 lần mức thuế suất không có NTR, đưa mặt hàng dệt - may Việt Nam từ chỗ hầu như bị cấm vận vào thị trường Hoa Kỳ thì dự kiến đến năm 2002 có thể đạt kim ngạch 1tỉ $
Hiện nay xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ chiếm khoảng 45-50% tổng kim ngạch hàng dệt - may xuất khẩu vì các doanh nghiệp đang cố gắng tìm mọi biện pháp xuất khẩu sang Hoa Kỳ càng nhiều càng tốt để làm cơ sở xác định hạn ngạch khi ký kết hiệp định về hàng dệt - may Tuy nhiên khoảng thời gian phi hạn ngạch này sẽ rất ngắn, trong tương lai kim ngạch xuất khẩu sang Hoa
Kỳ chiếm khoảng 27-30%
Trong năm 2001, Việt Nam đã có khoảng 50 doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt - may sang thị trường Hoa Kỳ với nhiều mặt hàng có chất lượng tương đối tốt như dệt kim của dệt may Hà Nội ,dệt may Đông xuân, Dệt may Thành Công, Dệt may Huế; Sơ mi của may Thăng Long, May 10, Quần áo các loại của May Việt Tiến, May Đông Phương, May Ninh Bình; Quần áo vải Denim của Jămbo, dệt may Hà Nội ; đồ lót của Trump và đang từng bước trở thành bạn hàng của các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ
Trang 35Khách hàng Hoa Kỳ đã vào Việt Nam để tìm hiểu luật pháp của chính phủ Việt Nam cũng như điều kiện làm việc và trình độ của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam để xúc tiến quan hệ buôn bán và đặt hàng Điều đó chứng tỏ các doanh nghiệp Việt Nam đã đáp ứng và từng bước xâm nhập vào thị trường rộng lớn này.
Hiện nay Việt Nam có lợi thế so với các nước khác là chưa bị khống chế
về hạn ngạch nhưng trong thời gian tới khi hiệp định về hàng dệt - may được ký kết, thì với quy mô nhỏ bé như hiện nay Việt Nam sẽ khó có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực và trên thế giới Năng lực của ngành dệt may Việt Nam hiện nay mới chỉ bằng 1/10 so với Thái Lan, 1/15 so với Indonesia, 1/30 so với Ân Độ và 1/50 so với Trung Quốc Ngoài ra trình độ công nghệ của ngành dệt nước ta còn lạc hậu từ 10-20 năm so với các nước trên do đó để có thể cạnh tranh được trong tương lai ngành dệt may Việt Nam cần có chiến lược đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất đồng thời đổi mới công nghệ ngành dệt nếu không chúng ta lại phải nhập sợi về để sản xuất sản phẩm may xuất khẩu
Mặt khác các nước đã có quan hệ buôn bán lâu với Hoa Kỳ, có nhiều kinh nghiệm làm ăn trên thị trường này, được Hoa Kỳ cấp hạn ngạch hàng năm nên kim ngạch khá ổn định Hơn thế nữa Việt Nam lại chưa ra nhập tổ chức WTO
và chưa được hưởng chế độ thuế quan phổ cập (GPS ) Do đó việc xâm nhập và tồn tại ở thị trường Hoa Kỳ là một thử thách lớn
Tuy nhiên Việt Nam đang nỗ lực thực hiện tiến trình ra nhập WTO, đồng thời nước ta có nguồn lao động rồi dào, khéo tay, giá nhân công thuộc loại thấp nhất thế giới Đặc biệt chính phủ đang đầu tư xây dựng “chiến lược đầu tư tăng tốc” cho ngành dệt may Hy vọng năm 2005-2010 ngành dệt may Việt Nam có thể ngang bằng với các nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 36II HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM- HOA KỲ, MỘT CƠ HỘI LỚN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT - MAY VIỆT NAM.
1 Yêu cầu của hiệp định đối với hàng dệt - may.
Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ có hiệu lực ngày 28/11/2001 đã
mở ra một trang mới trong quan hệ kinh tế- thương mại - đầu tư giữa hai nước
Hiệp định là cơ sở pháp lý cho quan hệ thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ và là một bước tiến dần đến mục tiêu gia nhập WTO của Việt Nam vì mọi cam kết thực hiện hiệp định đều dựa trên những nguyên tắc của WTO đồng thời cũng mở ra một cơ hội mới cho Việt Nam trong việc hội nhập vào kinh tế toàn cầu
Thương mại hàng dệt nằm trong chương về thương mại hàng hoá Để thực hiện hoạt động thương mại hàng hoá được thuận lợi, chương một quy định
cụ thể các nguyên tắc cơ bản để các bên áp dụng bao gồm các vấn đề:
- Áp dụng quy chế quan hệ thương mại bình thường- NTR ( là quy chế yêu cầu các bên cam kết dành cho hàng hoá của bên kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho hàng hoá của bất kỳ nước thứ ba, trừ một số ngoại l (điều1)
- Áp dụng quy chế sự đãi ngộ quốc gia ( quy chế yêu cầu các bên phải dành cho hàng hoá của bên kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho hàng hoá dịch vụ nội địa tương tự) (điều 2)
- Những nghĩa vụ mà các bên phải thực hiện đối với hoạt động thương mại hàng hoá được thực hiện trên lãnh thổ của mình ( điều 3)
- Những hoạt động xúc tiến thương mại được các bên khuyến khích tổ chức: như hội chợ, triển lãm, trao đổi phái đoàn thương mại (điều 4)
- Việc thiết lập văn phòng thương mại của chính phủ mỗi bên đặt trên lãnh thổ bên kia nhằm giải quyết các vấn đề thương mại có liên quan ( điều 5)
Trang 37- Các biện pháp ngăn chặn những nguy cơ làm rối loạn thị trường trong nước của một bên do hoạt động nhập khẩu ồ ạt gây ra hay là hoạt động khẩn cấp đối với nhập khẩu (điều 6)
- Giải quyết tranh chấp thương mại và các hình thức giải quyết tranh chấp (điều 7)
- Hoạt động thương mại Nhà Nướcmà cụ thể là hoạt động của các DNNN
để thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá thuộc cơ chế điều chỉnh theo các quy định về thương mại Nhà Nước
Đồng thời trong chương một hai nước cũng quy định việc không áp dụng quy chế NTR đối với thương mại hàng dệt và các sản phẩm dệt vì nó phù hợp với nguyên tắc của WTO trong giai đoạn hiện nay
Như vậy trong quá trình buôn bán với Mỹ các doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý những điểm sau:
Một là : Thuế và hải quan.
Mỹ có một hệ thống danh bạ thuế quan thống nhất (HTS) trong đó quy định mức thuế suất cụ thể đối với từng mặt hàng Hiện tại hàng dệt may Việt Nam đang ở cột hai danh mục điều hoà thuế Vì vậy các doanh nghiệp cần nắm vững danh bạ HTS mới nhất để biết được sản phẩm của mình xuất khẩu vào thị trường Mỹ chịu thuế suất bao nhiêu
Đồng thời Mỹ xác định giá trị để tính thuế dựa trên giá trị giao dịch chứ không dựa vào giá trị hàng hoá theo nước xuất xứ hoặc giá trị được xác định một cách võ đoán hay không có cơ sở
- Phí và thủ tục hải quan : Luật hải quan và thương mại cho phép hải quan
Mỹ được thu phí làm thủ tục hải quan cho chuyến hàng nhập khẩu Tuy nhiên việc thu phí này phải phù hợp với quy định của WTO, không mang tính chất hàng rào bảo hộ mậu dịch gián tiếp
- Quy định về mác mã: Mỹ yêu cầu nước nhập khẩu vào Mỹ phải ghi rõ xuất xứ của hàng hoá, tên người mua cuối cùng của Mỹ bằng tiếng anh đồng thời quy định rõ xuất xứ của hàng hoá, tên người mua cuối cùng ở Mỹ bằng
Trang 38tiếng anh đồng thời quy định rõ những biện pháp sẽ áp dụng đối với những hàng hoá không đáp ứng đúng những yêu cầu đó.
Hai là: Luật khắc phục những bất lợi trong thương mại của Mỹ
- Luật thuế đối kháng: Nếu bộ thương mại Mỹ điều tra xác định rằng có tình trạng trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc chế tạo, sản xuất xuất khẩu một hàng hoá nào đó vào Mỹ của nước xuất khẩu làm hàng hoá đó của Mỹ bị tổn thương hoặc đe doạ bị tổn thương về mặt vật chất Thì Mỹ sẽ áp đặt ngay mức thuế đối kháng dựa trên mức độ trợ cấp của nước xuất khẩu Đây là mức thuế đánh bổ sung thêm vào mức thuế hiện hành
- Luật chống bán phá giá: Luật này cho phép đánh một mức thuế bổ sung vào mức thuế hiện hành khi Mỹ phát hiện rằng hàng đang bán hoặc sẽ bán vào nước Mỹ thấp hơn giá trị của nó làm cho một ngành công nghiệp Mỹ bị tổn thương hoặc đe doạ bị tổn thương do việc phá giá đó Và mức thuế bổ sung sẽ ngang với mức hàng đó đã bán thấp hơn giá trị đích thực của nó trong tương quan so sánh với giá bán tại Mỹ
- Hành động khẩn cấp: Trong trường hợp việc nhập khẩu hiện tại hoặc trong tương lai hàng hoá vào Mỹ gây ra hoặc đe doạ gây ra hay góp phần đáng
kể vào việc làm rối loạn thị trường thì Mỹ có quyền đơn phương huỷ bỏ các ưu đãi và áp dụng các biện pháp hạn chế hoặc cấm nhập khẩu các loại hàng hoá đó vào Mỹ
- Về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ: Mỹ có quy chế nghiêm cấm việc sử dụng bất hợp pháp mẫu mã, kiểu dáng công nghiệp Trường hợp vi phạm bản quyền, làm giả mạo mẫu mã, nhãn hiệu sẽ bị trừng phạt nặng
- Về trách nhiệm đối với sản phẩm : Luật pháp Mỹ quy định người sản xuất phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá đối với sức khỏe người tiêu dùng Nếu sản xuất sai quy chế về chất lượng quốc gia sẽ bị phạt
Ba là: Việc lập doanh nghiệp tại Mỹ.
Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ có hiệu lực Việt Nam được hưởng chế độ đối xử quốc gia Các doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam
Trang 39trường Mỹ Do vậy trước mắt các doanh nghiệp dệt may có thể thành lập các chi nhánh bán hàng hoặc phân phối tại Mỹ.
Để thành lập chỉ cần đăng ký kinh doanh tại sở đăng ký thương mại với thủ tục được hướng dẫn hết sức đơn giản
2 Phân tích và dự báo những cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu hàng dệt- may Việt Nam sang Hoa Kỳ.
Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ là một bước tiến dài trong việc bình thường hoá quan hệ kinh tế hai nước, mang lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc thâm nhập thị trường Mỹ Đây là điều kiện để hai nước tiến tới việc ký kết hiệp định hàng dệt may Đồng thời cũng là cơ hội cho Việt Nam gia nhập WTO vì để ra nhập được tổ chức này Việt Nam phải ký được hiệp định song phương với tất cả các nước thành viên của WTO trong đó
Mỹ là thành viên quan trọng nhất và có vai trò chi phối
Sau khi hiệp định có hiệu lực các sản phẩm có xuất xứ Việt Nam khi nhập khẩu vào thị trường Mỹ được hưởng thuế suất NTR Điều này đã đem lại cho Việt Nam cơ hội được cạnh tranh ngang bằng với các nước khác để theo đuổi chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu mà đã được tiến hành thành công tại các nước như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, HồngKông, Singapo,
Tại tất cả các nước này hàng dệt may luôn là một trong những ngành hàng nền tảng cho sự phát triển của họ Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Đón nhận xu thế chuyển dịch đầu tư kinh doanh hàng dệt - may từ những nước công nghiệp một cách tích cực với sự quan tâm của chính phủ, nên trong những năm gần đây ngành dệt may Việt Nam đã có tốc độ phát triển đáng kể đặc biệt
là xuất khẩu đã tăng trưởng nhanh và có đóng góp quan trọng cho việc ổn định
và phát triển kinh tế đất nước
Thông qua hiệp định chính phủ hai nước quy định: sẽ không dành quy chế NTR cho thương mại hàng dệt và sản phẩm dệt có nghĩa là chính phủ Hoa Kỳ sẽ vẫn áp dụng hạn ngạch đối với hàng may mặc và giấy phép( Visa) đối với hàng
Trang 40dệt để khống chế việc xuất khẩu hàng dệt - may Và hai nước sẽ ký một hiệp định riêng về hàng dệt- may
Tuy nhiên trong thời gian hiện nay khi hiệp định về hàng dệt - may chưa được ký kết thì hàng dệt - may Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ sẽ được hưởng thuế suất NTR và phi hạn ngạch Đây chính là lợi ích to lớn mà hiệp định mang lại cho cho thương mại hàng dệt may vì trước khi có hiệp định thì thuế suất đối với hàng dệt may khoảng 50-60%, nay chỉ còn 10-15% Với mức thuế suất này hàng dệt may Việt Nam từ chỗ không thể thâm nhập vào thị trường Mỹ chuyển sang chiếm một tỷ trọng đáng kể
Như vậy Hiệp định đem lại cho Việt Nam một số cơ hội và thách thức sau:
♦Cơ hội:
Mỹ là một thị trường có sức mua lớn và có nhiều tầng lớp dân cư nên yêu cầu về chất lượng cũng rộng rãi So với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản và Châu âu, thì Hoa Kỳ là lỗ đen không đáy cho sản phẩm dệt may Việt Nam Trong vài năm gần đây kim ngạch hàng dệt may của Việt Nam
đã phát triển trên thị trường Nhật Bản và Châu Âu, do đó việc mở cửa thị trường Hoa Kỳ sẽ là cơ hội để tăng kim ngạch xuất khẩu
Mức thuế suất NTR không chỉ áp dụng cho các công ty Việt Nam mà còn
áp dụng cho cả các công ty nước ngoài đầu tư sản xuất tại Việt Nam Vì thế các nước sẽ có động cơ đầu tư vào Việt Nam nhiêu hơn để sản xuất hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Thị trường Hoa Kỳ nhập hàng trực tiếp giữa nhà sản xuất và khách hàng theo giá FOB mà không thông qua trung gian để đặt gia công như thị trường EU nên chúng ta sẽ không bị ép gía nhiều
Hàng dệt kim tại thị trường Mỹ ngày càng được ưa chuộng trong khi đó công nghiệp sản xuất hàng dệt kim của Việt Nam tương đối phát triển, các doanh nghiệp đã chủ động được từ khâu sản xuất sợi cho đến khâu thành phẩm của hàng dệt kim