Định mức là lượng lao động sống và lao động quá khứ biểu hiện bằng thời gian lao động, bằng giá trị hoặc hiện vật được phép sử dụng để sản xuất một đơn vị sản phẩm hoặc thực hiện một khố
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
BỘ MÔN: CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG
Trang 2PHẦN I: ĐỊNH MỨC TRONG XÂY DỰNG
Chương I Khái niệm chung
1.1 Định nghĩa, phạm vi áp dụng, đối tượng phục vụ
1.1.1 Định nghĩa
Như đã biết, năng suất lao động, xét đến cùng là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo sự gia tăng sản phẩm hàng hóa cho xã hội, muốn tăng năng suất lao động phải giải quyết các vấn đề như:
có tính chất pháp lệnh thì tính toán, cụ thể hóa thành các chỉ tiêu số lượng
Định mức là lượng lao động sống và lao động quá khứ biểu hiện bằng thời gian lao động, bằng giá trị hoặc hiện vật được phép sử dụng để sản xuất một đơn vị sản phẩm (hoặc thực hiện một khối lượng công việc) theo tiêu chuẩn, chất lượng quy định và theo quy trình công nghệ hợp lý, trong những điều kiện trang thiết bị kỹ thuật, tổ chức sản xuất và trình
độ quản lý của thời kỳ kế hoạch (Theo NGHỊ ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ SỐ 201-CP NGÀY
26 THÁNG 5 NĂM 1981 VỀ QUẢN LÝ ĐỊNH MỨC KINH TẾ - KỸ THUẬT)
Định mức là tiêu chuẩn do Nhà nước, địa phương, hoặc xí nghiệp, công trường quy định:
nó phản ánh trình độ sản xuất của các ngành nghề trong một thời kỳ nhất định, dùng để khống chế việc sử dụng tiền vốn, vật tư, thiết bị máy móc, nhân lực một cách hợp lý Trong thi công thì định mức kỹ thuật là tiêu chuẩn biểu thị mối quan hệ giữa sự tiêu dùng bình thường về nhân lực, vật lực (sức lao động, máy móc, vật liệu, động lực v.v ) với số lượng sản phẩm có chất lượng hợp quy cách trong điều kiện tổ chức thi công hợp lý (tức
là dùng phương thức tổ chức lao động chính xác phù hợp với phương pháp thi công ở
Trang 3trình độ hiện tại và thiết bị, máy móc công cụ lao động hiện có)
Định mức kỹ thuật có tác dụng rất quan trọng đối với việc nâng cao trình độ thi công và
hạ thấp giá thành công trình, là một bộ phận không thể thiếu được trong công tác quản lý xây dựng cơ bản; nó cho phép áp dụng những biện pháp tổ chức lao động tiên tiến và nâng cao năng lực sản xuất Nhiệm vụ của công tác định mức kỹ thuật là dùng phương pháp khoa học để nghiên cứu sự quan hệ giữa số lượng sản phẩm với sự tiêu hao bình thường về nhân vật lực, định ra một tiêu chuẩn hợp lý hoặc phát hiện những vấn đề tồn tại trong việc sử dụng bình thường nhân vật lực, đề ra các biện pháp cải tiến tổ chức lao động, điều kiện lao động, phương pháp thi công, và các biện pháp nâng cao năng suất lao động
Định mức kỹ thuật có vai trò quan trọng sau:
a Các định mức kỹ thuật góp phần thống nhất và tiêu chuẩn hóa quá trình sản xuất
b Định mức kỹ thuật đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tăng năng suất lao động và tiết kiệm lao động xã hội
c Định mức kỹ thuật đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật và là cơ sở đúng đắn để tiêu chuẩn hóa quá trình sản xuất
d Định mức kỹ thuật rất cần thiết và là tiền đề cho công tác kế hoạch hóa, các kế hoạch được tính toán từ các chỉ tiêu định mức góp phần quản lý và sử dụng một khối lượng lớn về nhân công, vật tư, máy móc của ngành xây dựng, mang lại hiệu quả kinh tế cao
e Các định mức kỹ thuật phản ảnh đúng đắn các hao phí lao động xã hội trung bình cần thiết là cơ sở để xây dựng đơn giá và giá thành công trình xây dựng một cách chính xác, là cơ sở để so sánh, lựa chọn các giải pháp tối ưu trong xây dựng
f Định mức kỹ thuật là cơ sở để xây dựng chỉ tiêu phấn đấu một cách đúng đắn và đánh giá kết quả các thành tích đạt được trong quá trình lao động của từng cá nhân
và đơn vị
g Định mức kỹ thuật là cơ sở để thanh toán lương theo sản phẩm, thực hiện đúng đắn
sự phân phối theo lao động, đảm bảo công bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động khi tham gia sản xuất
1.1.2 Phạm vi áp dụng
Phạm vi ứng dụng của định mức kỹ thuật trong xây dựng rất rộng rãi Biên soạn dự toán,
sơ toán công trình, lập kế hoạch tiến độ thi công hay ký hợp đồng giao thầu nhận khoán,
Trang 4kết toán tiền lương hoặc xác định tổ chức lao động, truyền đạt nhiệm vụ thi công, kiểm tra hiệu quả công tác và phân tích các mặt hoạt động kinh tế của cơ cấu thi công của công
ty xây dựng đều phải dùng đến định mức kỹ thuật
1.2 Phân loại định mức
1.2.1 Nội dung phân loại định mức
Định mức được chia thành các loại sau đây:
1) Định mức Nhà nước áp dụng chung cho các ngành, các cấp, được quy định cho những sản phẩm (công việc) chủ yếu, do Nhà nước thống nhất quản lý, có liên quan đến các cân đối chung của nền kinh tế quốc dân
2) Định mức áp dụng trong từng ngành, được quy định cho những sản phẩm (công việc) khi chưa có định mức Nhà nước, khi cần cụ thể hóa định mức Nhà nước,hoặc cho những sản phẩm (công việc) của ngành được phân cấp quản lý
3) Định mức tỉnh,thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh) áp dụng trong phạm vi tỉnh, được quy định cho những sản phẩm (công việc) khi chưa có định mức Nhà nước, định mức ngành; khi cần cụ thể hóa định mức Nhà nước, định mức ngành; hoặc cho những sản phẩm (công việc) của tỉnh, được phân cấp quản lý
4) Định mức huyện, quận và thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là huyện)
áp dụng trong phạm vi huyện được quy định cho những sản phẩm (công việc) khi chưa
xó định mức Nhà nước, định mức ngành, định mức tỉnh, thành phố; khi cần cụ thể hoá định mức của cấp trên, hoặc cho những sản phẩm (công việc) của huyện được phân cấp quản lý
5) Định mức đơn vị cơ sở áp dụng trong từng đơn vị xơ sở được quy định cho những sản phẩm (công việc ) khi chưa có định nức Nhà nước, định mức ngành (đối với xí nghiệp quốc doanh trung ương), định mức địa phương (đối với xí nghiệp quốc doanh địa phương); khi cần cụ thể hoá định mức của cấp trên; hoặc cho những sản phẩm (công việc) của đơn vị cơ sở sản xuất được phân cấp quản lý
1.2.2 Nội dung phân loại định mức kỹ thuật
1 Mức tiêu phí lao động: Trong quá trình sản xuất, để thu lượm sản phẩm thì phải
tiêu phí một lượng lao động (một số yếu tố sản xuất về vật liệu, nhân công và máy thi công) Vậy yếu tố sản xuất tiêu phí để thu lượm một đơn vị sản phẩm, hoặc số
sản phẩm thu lượm được khi tiêu phí một yếu tố sản xuất được gọi là Mức tiêu phí lao động
Trang 52 Định mức kỹ thuật: Các tiêu phí lao động được xây dựng trên cơ sở đúng đắn của
quá trình sản xuất, sử dụng các yếu tố sản xuất hợp lý về mọi mặt, đảm bảo chất lượng sản phẩm, loại bỏ những tiêu phí bất hợp lý,mang tính chất tiên tiến và hiện
thực thì được gọi là Định mức kỹ thuật
3 Xây dựng định mức kỹ thuật là nghiên cứu tỷ mỉ quá trình sản xuất, loại trừ
những tiêu phí bất hợp lý nhằm biến nó thành quá trình tiêu chuẩn đặc trưng cho một trình độ sản xuất nhất định mà trong đó người lao động, công cụ lao động, đối tượng lao động được sắp xếp một cách hợp lý nhất theo thời gian và không gian Sau đó dùng các phương pháp và phương tiện để quan sát, đo lường, xử lý số liệu
và tính toán thành các định mức cụ thể
4 Công tác định mức kỹ thuật là một khái niệm chung để chỉ các công việc sau:
- Nghiên cứu tổ chức xây dựng các định mức mới để đưa chúng vào áp dụng thường xuyên
- Vận dụng các định mức mới đưa vào áp dụng để nghiên cứu điều chỉnh các định mức chưa hợp lý
- Nghiên cứu phương pháp sản xuất của người sản xuất tiên tiến nhằm phổ biến áp dụng và làm cơ sở xây dựng định mức mới
5 Các tiêu chuẩn thời gian và định mức gốc: Trong quá trình xây dựng định mức,
với những công việc cố định lặp đi lặp lại, người ta xây dựng thời gian tiêu chuẩn
để thực hiện phần việc đó, ngoài ra còn sử dụng các tài liệu gốc có sẵn, đặc biệt là của máy móc thiết bị (tốc độ quay, tốc độ chạy có tải, tốc độ chạy không tải…) để đưa vào tính toán định mức Các loại thời gian tiêu chuẩn và tài liệu sử dụng đó
gọi là Tiêu chuẩn thời gian và định mức gốc
6 Các định mức biến loại: có những công việc mà tính chất làm việc hoàn toàn
giống nhau, nhưng có một vài nhân tố ảnh hưởng làm thay đổi Ví dụ vận chuyển đất với phương tiện và trọng lượng không đổi, nhưng cự ly thay đổi; hoặc công tác
làm cốt thép với các đường kính khác nhau Các loại định mức như vậy gọi là định mức biến loại Lợi dụng tính chất biến loại này, người ta có thể quan sát tính toán
một số điển hình, sau đó nội suy cho các loại khác
Cách phân loại khác của định mức kỹ thuật
a Theo yếu tố chi phí sản xuất: định mức kỹ thuật được phân thành 3 loại
- Định mức lao động
Trang 6- Định mức vật tư
- Định mức thời gian sử dụng máy
b Theo cách trình bày: trong định mức lao động và định mức thời gian sử dụng máy
được phân thành 2 loại:
- Định mức thời gian
- Định mức sản lượng
c Theo mức độ bao quát của các loại công việc nằm trong định mức: định mức kỹ
thuật được phân thành 3 loại
- Định mức dạng chỉ tiêu: quy đnh mức hao phí lao động, vật tư và thời gian sử dụng máy cho một đơn vị sản phẩm hoàn chỉnh, như số ngày công xây dựng/1m2 XD, số viên gạch /1m2 XD
- Định mức dự toán tổng hợp: quy đinh mức hao phí lao động, vật tư và thời gian
sử dụng máy cho một đơn vị khối lượng công việc xây dựng tổng hợp (bao gồm nhiều loại công việc xây dựng riêng rẽ có liên quan hữu cơ với nhau để tạo nên một đơn vị sản phẩm tổng hợp nào đó), hoặc cho một kết cấu xây dựng hoàn chỉnh nào đó Định mức dự toán tổng hợp được dùng để lập đơn giá xây dựng tổng hợp
- Định mức dự toán chi tiết: quy đinh mức hao phí lao động, vật tư và thời gian sử dụng máy cho một đơn vị khối lượng công việc xây lắp riêng rẽ nào đó Ví dụ công tác xây, trát, lợp ngói, lát nền … Định mức dự toán chi tiết được dùng để lập đơn giá xây dựng chi tiết
1.2.3 Phân loại định mức kỹ thuật trong xây dựng
Định mức kỹ thuật được sử dụng trong xây dựng có thể phân chia theo cách dùng hoặc theo nội dung của chúng
1.2.3.1 Phân loại theo cách dùng
Dựa vào cách dùng khác nhau thì định mức kỹ thuật chia làm ba loại là định mức sơ toán, định mức dự toán và định mức thi công
1 Định mức sơ toán thường lấy đơn vị khối lượng khuếch đại của toàn bộ kết cấu
công trình để tính toán (như sự tiêu dùng về nhân vật lực để hoàn thành l000m3 đập đất hay đập bêtông, l000m đường sắt v.v ) Nó dùng làm cơ sở tính toán trong giai đoạn thiết
Trang 7kế sơ bộ khi lập kế hoạch tiến độ khống chế và sơ toán công trình, hoặc dùng làm căn cứ cho bộ phận thiết kế xác định số lượng cần thiết về nhân vật lực và thiết bị máy móc cho
bộ phận thi công, đề nghị Nhà nước cung cấp vật tư và điều động nhân lực
2 Định mức dự toán thường lấy đơn vị khối lượng khuếch đại của từng bộ phận
công trình hoặc kết cấu bộ phận để tính toán (như sự chi phí về nhân vật lực để hoàn thành 10m3 bêtông trụ pin của cống lấy nước, 100m3 đất đào móng đập, ) Nó dùng làm
cơ sở tính toán trong giai đoạn thiết kế kỹ thuật khi lập kế hoạch tổng tiến độ thi công Kế hoạch tiến độ công trình đơn vị lập dự toán và chỉnh biên sơ toán công trình hoặc dùng làm căn cứ để định các chế độ hợp đồng giao thầu nhận khoán và nghiệm thu trong thi công
3 Định mức thi công là chỉ số lượng về nhân lực, vật lực, kíp máy cần thiết để hoàn
thành đơn vị sản phẩm của một quá trình thi công bất kỳ (quá trình công tác hoặc quá trình tổng hợp) Nó chủ yếu được dùng để biên soạn thiết kế thi công và kế hoạch phần việc, truyền đạt nhiệm vụ thi công, kết toán tiền lương, thực hành chế độ giao thầu nhận khoán và nhận lĩnh vật liệu Định mức thi công cũng dùng làm cơ sở cho việc biên soạn định mức dự toán
Ngoài ra còn có định mức bộ phận là định mức của một phần việc cá biệt, thậm chí còn là định mức của một thao tác Trong thực tế thi công thì định mức bộ phận ít sử dụng thường làm tài liệu cơ bản để dự thảo định mức thi công
1.2.3.2 Phân loại theo nội dung
Căn cứ vào nội dung khác nhau thì định mức kỹ thuật có thể chia ra thành định mức thời gian, định mức sản lượng, định mức thời gian máy, định mức sản lượng máy và định mức tiêu hao vật liệu:
1 Định mức thời gian là sự tiêu phí thời gian bình thường cần thiết để sản xuất đơn
vị sản phẩm có chất lượng hợp quy cách của công nhân tương xứng với ngành nghề và trình độ, làm việc trong điều kiện tổ chức lao động chính xác, tổ chức kỹ thuật bình thường, sử dụng phương tiện và công cụ lao động có hiệu quả
Định mức thời gian được đo bằng khoảng thời gian tiêu hao để hoàn thành một quá trình thi công (xây dựng hoặc lắp ráp) và được biểu thị bằng đơn vị ca, giờ, phút
2 Định mức sản lượng là số lượng sản phẩm hợp quy cách về chất lượng mà công nhân làm ra trong đơn vị thời gian với các điều kiện như trên Nó là số nghịch đảo của định mức thời gian
3 Định mức thời gian máy là sự tiêu phí bình thường về thời gian cần thiết sử dụng
Trang 8máy để sản xuất đơn vị sản phẩm có chất lượng hợp quy cách trong điều kiện tổ chức chính xác quá trình xây lắp bằng cơ giới
4 Định mức sản lượng máy (hay định mức năng suất máy) là số lượng sản phẩm có chất lượng hợp quy cách mà máy làm ra trong đơn vị thời gian (ca, giờ) khi tổ chức cơ giới hoá một cách chính xác quá trình sản xuất Nó là số nghịch đảo của định mức thời gian máy
5 Định mức tiêu hao vật liệu là số lượng vật liệu cần tiêu phí để sản xuất đơn vị sản phẩm hợp quy cách, dùng để xác định giá trị dự toán công trình cũng như tổ chức hạch toán và kiểm tra sự tiêu hao vật liệu
1.2.3.3 Phân loại theo phạm vi quản lý sử dụng
1 Định mức Nhà nước: do Nhà nước ban hành và áp dụng chung cho tất cả các có công tác xây dựng Thường là định mức dự toán tổng hợp
2 Định mức ngành hay địa phương: do từng ngành hoặc từng địa phương ban hành cho các chuyên ngành xây dựng hoặc cho các công tác xây lắp đặc biệt
mà Nhà nước chưa ban hành, để sử dụng trong phạm vi ngành hoặc từng địa phương mình
3 Định mức nội bộ (định mức công ty, xí nghiệp): Khi có những công việc có những đặc thù riêng mà Nhà nước và địa phương chưa ban hành, thì công ty, xí nghiệp sẽ xây dựng định mức riêng để áp dụng trong phạm vi công ty, xí nghiệp mình
Tóm lại, các loại định mức trên có thể do Nhà nước ban hành được sử dụng trong toàn quốc, có thể do địa phương, ngành, xí nghiệp, công trường ban hành để sử dụng trong phạm vi quản lý sản xuất của mình
Chương II: Phương pháp nghiên cứu định mức kỹ thuật
Việc nghiên cứu định mức là nhằm mục đích khởi thảo những mức chuẩn của quá trình xây lắp (định mức bộ phận), xác định mức độ thực hiện các mức chuẩn đang dùng, định
rõ sự quan hệ giữa số lượng sản phẩm với sự tiêu hao bình thường về nhân vật lực một cách khoa học
2.1 Nội dung và trình tự nghiên cứu
Trang 9chuẩn dựa trên cơ sở kỹ thuật thường được thực hiện theo các giai đoạn sau đây:
1 Giai đoạn chuẩn bị tiến hành nghiên cứu: phân tích toàn bộ quá trình thi công và các tài liệu có liên quan đến quá trình thi công đó (như phương pháp thi công, tổ chức thi công, quy trình an toàn lao động, quy phạm nghiệm thu thi công, kinh nghiệm sản xuất tiên tiến, biện pháp kỹ thuật mới v.v ) lựa chọn phương pháp định mức kỹ thuật, tập hợp và hệ thống hoá những số liệu cần thiết cho sự xác lập mức chuẩn Mục đích của những vấn đề này là để xác định trình tự thi công hợp lý, phương pháp thi công tiên tiến,
tổ chức lao động chính xác đối với việc hoàn thành quá trình thi công
Quá trình thi công là tên gọi tổng quát của các dạng quá trình sản xuất được tiến hành
trong phạm vi công trường Tuỳ theo mức độ phức tạp của tổ chức sản xuất của nó mà có thể chia ra thành phần việc, quá trình công tác và quá trình tổng họp Khi hoàn thành một quá trình thi công thì sẽ đạt được sản phẩm nhất định
Phần việc là một quá trình thi công đơn giản nhất không thể chia cắt về tổ chức, không
thể thay đổi về công nghệ Do đó nó sẽ trở thành đơn nguyên cơ bản trong việc phân chia quá trình thi công khi khởi thảo mức chuẩn của định mức kỹ thuật, chỉ ở trường hợp cần nghiên cứu phương pháp thao tác tiên tiến thì mới đem phần việc chia nhỏ thành thao tác
Tổ hợp của một số phần việc có liên quan mật thiết với nhau về quy trình công nghệ do cùng một công nhân hoặc một tổ công nhân hoàn thành được gọi là quá trình công tác Khi phân chia các hạng mục của định mức thì thường lấy quá trình công tác làm chuẩn Còn quá trình tổng hợp là tổ hợp của một số quá trình công tác có liên quan trực tiếp với nhau về mặt tổ chức được liên hệ chặt chẽ với nhau để hoàn thành đơn vị thành phẩm cuối cùng (Ví dụ, công trình đất đắp là thành phẩm của một quá trình tổng hợp do ba quá trình công tác đào, vận chuyển, đầm nện hợp thành.)
Chia quá trình thi công ra thành phần việc, quá trình công tác và quá trình tổng hợp nhằm mục đích giúp cho những vấn đề về phân tích sự tiêu hao thời gian làm việc, xác định điều kiện bình thường, tiến hành quan trắc thời gian và xây dựng dự thảo định mức đạt được tính chính xác Đồng thời việc phân tích mức độ đơn giản hay phức tạp của quá trình thi công cũng có ý nghĩa rất lớn đối với tính hợp lý của tổ chức thi công
2 Tổ chức tiến hành nghiên cứu, gồm có: phân tích các loại nhân tố ảnh hưởng đến quá trinh thi công, lựa chọn chính xác đối tượng quan trắc và phương pháp ghi chép thời gian, quy định điều kiện bình thường bình quân tiên tiến để hoàn thành quá trình thi công (như tổ chức lao động, phương pháp thi công, máy móc thiết bị, chất lượng vật liệu và sản phẩm v.v ) chuẩn bị tốt công tác quan trắc thời gian và xác định sơ bộ khối lượng nghiên cứu
Trang 10Sự phân biệt giữa quá trình thi công này với quá trình thi công khác quyết định bởi các nhân tố ảnh hưởng đến chúng Vì vậy có thể dùng nhân tố ảnh hưởng để nói rõ lên đặc điểm của quá trình thi công
Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trinh thi công có thể chia làm hai loại lớn là nhân tố
kỹ thuật và nhân tố thi công
Nhân tố kỹ thuật bao gồm:
1 Loại hình và đặc tính kỹ thuật của sản phẩm (hoặc của công tác)
2 Loại hình, quy cách và cấp của vật liệu
3 Loại hình, và dung lượng của thiết bị máy móc
Nhân tố thi công được quyết định bởi đặc điểm tổ chức của quy trình công nghệ và điều kiện công tác của quá trình thi công
Chỉ sau khi nghiên cứu, phân tích các nhân tố ảnh hưởng mới có thể xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố và mối liên quan giữa chúng Từ đó mới định ra được điều kiện bình thường bình quân tiên tiến của quá trình thi công Trước khi xác định điều kiện bình thường bình quân tiên tiến của quá trình thi công thì đầu tiên dựa vào nhân tố kỹ thuật để phân chia các quá trình thi công, sau đó mới quy định trị số bình quân tiên tiến của nhân
tố thi công nội bộ và trị số trung bình của nhân tố thi công bên ngoài
3 Tiến hành công tác nghiên cứu: tức là ghi đo thời gian tiêu phí và tình hình phân
bố thời gian để thực hiện quá trình thi công, ghi chép số lượng sản phẩm được hoàn thành, xác định mức ảnh hưởng của các loại nhân tố đối với sự tiêu hao thời gian làm việc, quan sát quá trình làm việc của công nhân hoặc máy, ghi chép và làm sáng tỏ những vấn đề còn tồn tại có liên quan đến quá trình nghiên cứu Kết quả của quan trắc thời gian phải ghi vào bảng mẫu in sẵn để làm tài liệu gốc cho dự thảo định mức
Sau khi kết thúc quan trắc thời gian thì tiến hành xử lý bước đầu các tài liệu quan trắc và kiểm tra mức độ chính xác việc ghi chép thời gian trên những bảng mẫu in sẵn
4 Phân tích đánh giá và xác định kết quả nghiên cứu: Nội dung trong giai đoạn này
là tiến hành phân tích, chỉnh lý cuối cùng tài liệu quan trắc, tính toán trị số mức chuẩn, xác định sơ đồ cấu tạo các hạng mục của những tiêu chuẩn của định mức để làm căn cứ cho việc biên soạn định mức
Khi hình thành kết quả nghiên cứu cần tiến hành thiết kế và giải thích bản thuyết minh các hạng mục của những mức chuẩn, tiến hành tổ chức kiểm tra và biện luận về bản dự
án các hạng mục của những mức chuẩn Bản dự án có hạng mục này phải được phê chuẩn
Trang 11và chấp thuận
5 Tổ chức phổ biến và áp dụng kết quả nghiên cứu: Đây là giai đoạn cuối cùng của công việc tổ chức nghiên cứu định mức Nội dung của nó là trình bày một cách rõ ràng biện pháp thực hiện định mức sẽ được ban hành phù hợp theo các điều kiện làm việc, biên soạn các bảng tra cứu và biểu đồ, tiến hành kiểm nghiệm lại trong thực tế rồi hiệu đính và ban hành để áp dụng
2.2 Phương pháp quan trắc thời gian
Trước khi bắt đầu chính thức quan trắc thời gian cần phải làm tốt một số công việc chuẩn bị sau đây:
1 Căn cứ vào yêu cầu của bình quân tiên tiến chọn ra các đối tượng quan trắc
2 Dựa theo điều kiện bình thường bình quân tiên tiến mà bố trí quá trình thi công để chuẩn bị tiến hành quan trắc
3 Căn cứ vào yêu cầu của mục đích quan trắc để lựa chọn phương pháp quan trắc thích hợp
4 Phân chia quá trình thi công (quá trình tổng hợp, quá trình công tác) thành các phần việc và xác định kiểm định giờ của chúng, tức là quy định ranh giới về thời gian giữa phần việc này với phần việc khác Khi nghiên cứu phương pháp công tác tiên tiến thì còn phải chia phần việc ra thành thao tác (thậm chí thành động tác)
5 Ghi chép các nhân tố ảnh hưởng để tiện thuyết minh đối với các loại tình huống nảy sinh trong quá trình quan trắc
Quan trắc với mục đích nghiên cứu sự tiêu hao làm việc có thể thực hiện theo ba phương pháp: ghi chép thực tế ngày làm việc, ghi chép thực tế giờ làm việc và đo giờ
1 Phương pháp ghi chép thực ngày làm việc, chủ yếu được dùng cho việc thu thập những số liệu thực tế với sự tiêu hao thời gian làm việc để so sánh với các định mức hiện hành Nó cho phép quan trắc đồng thời 15 - 20 người và 2 - 3 loại công việc khác nhau với mức độ chính xác 5 - 10 phút
Phương pháp này giản đơn nhưng mức độ chính xác ghi đo thời gian không cao, không có khả năng dùng để thiết kế định mức và nghiên cứu các phương pháp tiên tiến, biện pháp lao động cũng như mức độ lợi dụng thời gian làm việc Nó chỉ được sử dụng
để nghiên cứu các loại thời gian tổn thất, thời gian gián đoạn theo quy định, mức độ thực
tế về thời gian làm việc của công nhân lành nghề, từ đó tìm ra nguyên nhân và mức độ lớn nhỏ của thời gian tổn thất mà đề xuất biện pháp khắc phục chúng
Trang 122 Phương pháp ghi chép thực dùng để nghiên cứu tất cả các loại tiêu hao thời gian làm việc với mức độ chính xác 5 - 60 giây, nó được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực xây dựng, nhưng có nhược điểm là khối lượng quan trắc và xử lý số liệu khá lớn
Theo đặc điểm quan trắc thì phương pháp ghi chép thực được chia ra hai trường hợp: Quan trắc đối với cá nhân và quan trắc đối với nhóm tổ Quan trắc đối với cá nhân dùng
để tính toán sự tiêu hao thời gian làm việc và sản phẩm của mỗi công nhân khi quan trắc công việc của.một tổ công nhân hoặc công việc của một công nhân Quan trắc đối với nhóm, tổ được tiến hành cho công việc của toàn tổ công nhân khi sản phẩm hoàn thành là kết quả chung của một số công nhân
Căn cứ vào cách ghi chép thời gian thì phương pháp ghi chép thực phân thành ba loại nhỏ: phương pháp ghi bằng số, phương pháp ghi bằng đồ thị và phương pháp ghi hỗn hợp
a) Phương pháp ghi bằng số: chỉ dùng ở trường hợp không có khả năng sử dụng phương pháp ghi bằng đồ thị và phương pháp ghi hỗn hợp Đối với phương pháp này thì
số lượng công nhân được quan trắc cùng lúc không thể vượt quá 2 và dùng chữ số để ghi chép kết quả quan trắc thời gian vào bảng mẫu với mức độ chính xác 5 - 30 giây
b) Phương pháp ghi bằng đồ thị: có thể quan trắc cùng lúc từ 1 - 3 công nhân Đặc điểm của phương pháp này là việc ghi chép được đơn giản và rõ ràng, dùng độ dài của đường nét để biểu thị kết quả quan trắc thời gian lên bảng mẫu với mức độ chính xác 30
- 60 giây
c) Phương pháp ghi hỗn hợp thích hợp khi quan trắc sự làm việc của nhóm, tổ có từ 3 công nhân trở lên Trong bảng ghi chép dùng đường nét để biểu thị sự tiêu hao thời gian làm việc còn số lượng công nhân tham gia vào quá trình làm việc thì dùng số để ghi chép Mức độ ghi chép chính xác là 30 - 60 giây
3 Phương pháp đo giờ chỉ cho phép nghiên cứu sự tiêu hao thời gian làm việc của các công việc có tính chất chu kỳ của quá trình xây lắp do những công nhân hoặc những máy móc thực hiện với độ chính xác 0,2 - 1 giây Đối tượng quan trắc là một công nhân hoặc một máy Phương pháp này còn chia ra làm hai loại nhỏ: phương pháp lựa chọn và phương pháp liên tục
a) Phương pháp lựa chọn là một dạng của phương pháp đo giờ được sử dụng rộng rãi nhất không chỉ trong công nghiệp mà cả trong xây dựng nhờ đặc điểm giản đơn và chính xác của nó Thực chất của phương pháp này là căn cứ theo “điểm định giờ” của các hạng
Trang 13mục trong bộ phận tổ hợp của chu kỳ làm việc mà tiến hành quan trắc và dùng chữ số ghi chép kết quả vào bảng
b) Phương pháp liên tục: Phương pháp này ít được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực xây dựng Nó khác với phương pháp lựa chọn là phải quan trắc và ghi chép thời gian một cách liên tục đối với các bộ phận tổ hợp của chu kỳ làm việc trong quá trình thi công
2.3 Xử lý kết quả quan trắc
Do tài liệu thu nhận được trong quá trình quan trắc chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân
tố ngẫu nhiên Do đó muốn cho kết quả quan trắc trở thành tài liệu gốc thì sau khi quan trắc thời gian cần phải tiến hành phân tích và chỉnh lý những số liệu đã ghi đo được trong các bảng ghi chép
Phương pháp phân tích và chỉnh lý tài liệu quan trắc thường dùng là phương pháp tính toán và phương pháp đồ giải
1 Phương pháp tính toán: Đầu tiên loại bỏ các trị số bất hợp lý có sai số cực lớn trong dãy số ghi chép Những trị số này là do ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên hoặc nhân
tố do người gây ra Sau đó đem những trị số còn lại sắp xếp thành dãy số có tính quy luật được gọi là liệt số quan trắc Trong liệt số quan trắc này có thể còn một vài trị số tương đối đột xuất gọi là trị số khả nghi gây nên bởi sự nhầm lẫn trong lúc quan trắc hoặc do bỏ qua những nhân tố ảnh hưởng quan trọng, vì vậy cũng cần loại trừ chúng ra khỏi dãy số quan trắc để bảo đảm mức độ tin cậy cho liệt số quan trắc
Mức độ tin cậy của liệt số quan trắc được đánh giá bởi hệ số phân tán của liệt số Kp xác định theo công thức sau:
amax - trị số lớn nhất trong liệt số quan trắc;
amin - trị số nhỏ nhất trong liệt số quan trắc
Nếu trị số Kp không lớn hơn 1,3 thì xem liệt số quan trắc như vậy là đạt được mức độ tin cậy và tiếp tục xác định trị số tính toán trung bình của chúng để làm cơ sở cho quá trình biên soạn định mức Nếu trị số Kp lớn hơn 1,3 nhưng không lớn hơn 2,0 thì phải dùng phương pháp giá trị giới hạn và khi trị số Kp lớn hơn 2,0 thì áp dụng phương pháp xác định sai số bình phương trung bình tương đối mà tiến hành xử lý số liệu quan trắc Thực chất của phương pháp giá trị giói hạn là so sánh các trị số đầu tiên và cuối cùng
Trang 14của liệt số quan trắc với các giá trị giới hạn cho phép nhỏ nhất và lớn nhất đối với liệt số
đó Những giá trị giới hạn cho phép này được xác định theo các công thức sau:
)(
n
a a
n
a a
acmin- giá trị giới hạn cho phép nhỏ nhất của trị số đầu tiên trong liệt số quan trắc;
an và a1 - trị số cuối cùng (lớn nhất) và trị số đầu tiên (nhỏ nhất) của liệt số quan trắc; an-1
và a2 - trị số kề trước trị số cuối cùng và trị số thứ hai của liệt số quan trắc;
ai - tổng số của tất cả các trị số được sắp xếp trong liệt số quan trắc;
n - số trị số trong liệt số quan trắc (số lần quan trắc);
K - hệ số có quan hệ với số trị số trong liệt số quan trắc, được xác định theo bảng 2-1 dưới đây
Bảng 2.1 Giá trị của K phụ thuộc theo n
lý phải tiến hành lần lượt, bắt đầu từ trị số lớn nhất trở đi
Thực chất của phương pháp xác định sai số bình phương trung bình tương đối là vạch
ra sai số thực tế trong liệt số quan trắc và so sánh nó với trị số sai số cho phép Phương
Trang 15pháp này chỉ dùng để đánh giá kết quả quan trắc của những liệt số có hệ số phân tán Kp >
2, mà trong thực tế của công tác nghiên cứu định mức rất ít khi gặp đến, do đó không cần thiết phải giới thiệu một cách tỉ mỉ ở chương này
2 Phương pháp đồ giải nên áp dụng cho trường hợp xử lý tài liệu quan trắc của quá trình thi công có rất nhiều bộ phận hợp thành và bị ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố Ví dụ: quá trình khoan lỗ thì tốc độ khoan (hoặc thời gian khoan) có quan hệ với rất nhiều nhân tố như độ sâu và đường kính lỗ khoan, hình thức và chất lượng mũi khoan, cấp bậc của đá.v.v Phương pháp này cho phép tránh khỏi những sai sót lớn trong quá trình phân tích, chỉnh lý và còn có thể dùng kết quả chỉnh lý để nội suy tìm ra những trị số khác chưa quan trắc được
Nội dung của phương pháp đồ giải là lập đồ thị kết quả quan trắc trên hệ tọa độ vuông góc, trên trục tung biểu thị sự tiêu hao thời gian và trên trục hoành biểu thị giá trị của nhân tố ảnh hưởng Mỗi một điểm tọa độ chấm vẽ ở đồ thị tương ứng với kết quả của một lần quan trắc Do ảnh hưởng của các nhân tố chưa được quan sát một cách đầy đủ cho nên các điểm tọa độ phân bố không có quy tắc Vì vậy phải liên hệ giữa chúng với nhau bằng đường cong trơn để biểu thị sự quan hệ liên tục giữa các nhân tố ảnh hưởng và thời gian tiêu hao Đường cong trơn nên cố gắng vẽ xuyên qua tương đối nhiều điểm và làm cho các điểm tọa độ nằm ngoài đường cong được phân bố đều sang hai bên
Nếu khi một nhân tố nào đó có một loạt kết quả quan trắc thì cần phải tính trước trị số trung bình cộng của chúng, rồi đem chấm vẽ lên đồ thị Lúc này các điểm tọa độ của số lần quan trắc không giống nhau cũng cần được ghi rõ lên đồ thị và khi vẽ đường cong trơn nên cố gắng vẽ lệch về phía các điểm tọa độ có trị số trung bình cộng tương đối lớn
Chương 3: Phương pháp lập định mức kỹ thuật
Sau khi phân tích, chỉnh lý số liệu quan trắc thời gian thì sẽ thu nhận được thời gian kéo dài tính toán của các bộ phận (tức là của phần việc hoặc của thao tác, động tác), gọi là định mức bộ phận (mức chuẩn) Trên cơ sở của định mức bộ phận mà dự thảo biên soạn thành định mức thi công thực dụng
Định mức dự toán xây dựng công trình là nhân tố quyết định tới giá trị dự toán của công trình do vậy về nguyên tắc cần được xây dựng sao cho phù hợp thực tế, mang tính đặc trưng của công việc
Trang 16Hệ thống chỉ tiêu định mức luôn được sử dụng để xác định chi phí xây dựng là cơ sở tính
dự toán trong đầu tư xây dựng công trình Từ rất nhiều năm nay trước kia, Nhà nước luôn quản lý rất chặt công tác xây dựng, ban hành các định mức dự toán để xây dựng các bộ đơn giá địa phương của 64 tỉnh, thành phố Tình hình đó làm cho giá cả xây dựng của các tỉnh, thành phố mang dáng dấp giống nhau cả về hình thức và trị số và không phù hợp với thực tế của từng địa phương
Theo hướng đổi mới, hệ thống định mức được xác định phù hợp điều kiện thực tế sản xuất, biện pháp thi công thực tế của mỗi nhà thầu ở mỗi một công trình và do chính các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng tự xây dựng để làm cơ sở xác định giá sản phẩm của mình
a Định mức dự toán xây dựng
Nội dung: định mức dự toán xây dựng công trình thể hiện mức hao phí về vật liệu, nhân công và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng, từ khâu chuẩn bị đến khâu kết thúc công tác xây dựng
Mức hao phí vật liệu: là số lượng vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện hoặc các bộ
phận rời lẻ, vật liệu luân chuyển cần cho việc thực hiện và hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng
Mức hao phí nhân công lao động: là số ngày công lao động của công nhân trực tiếp và
phục vụ theo cấp bậc thực hiện và hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng
Mức hao phí máy thi công: là số ca sử dụng máy và thiết bị thi công chính và phụ để hoàn
thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng
Trang 17b Hệ thống định mức dự toán xây dựng:
Định mức dự toán xây dựng do Bộ Xây dựng công bố: là định mức dự toán các công tác
xây dựng, lắp đặt, phổ biến, thông dụng có ở các loại hình công trình xây dựng
Ví dụ như:
-Công văn 1751/BXD-VP, ngày 14-08-07 công bố định mức - Phần chi phí QLDA (thay cho QĐ 10/2005 và 11/2005, 11/2005) Bao gồm định mức QLDA, lập dự án, thiết kế, thẩm tra thiết kế-dự tóan,lựa chọn nhà thầu
-Công văn 1776/BXD-VP ngày 16/8/07 công bố định mức - Phần xây dựng (thay QĐ
Định mức dự toán xây dựng do các Bộ (có xây dựng chuyên ngành), UBND các tỉnh công bố: là định mức dự toán cho các công tác chưa có trong hệ thống định mức do Bộ Xây
Định mức dự toán xây dựng công trình: là những định mức dự toán của tất cả các công
tác xây dựng, lắp đặt, cần thiết phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công và biện pháp thi công của công trình làm cơ sở để lập đơn giá xây dựng công trình
Đinh mức dự toán xây dựng công trình chính: là định mức của từng bảng dự toán đã được
Trang 18chỉnh sửa cho phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công và biện pháp thi công của công trình bởi kỹ sư định giá
c Định mức cơ sở
Định mức cơ sở còn gọi là định mức kỹ thuật, chưa tính đến các thành phần hao phí, luân chuyển và các hao phí khác Định mức cơ sở bao gồm định mức vật tư, định mức nhân công lao động và định mức năng suất máy thi công
d Định mức vật tư
Là mức hao phí từng loại vật liệu để cấu thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng (1m3 tường xây gạch, 1m2 lát gạch hoặc 1 loại cấu kiện hay kết cấu xây dựng) phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn xây dựng, quy phạm thiết kế - thi công của Nhà nước Định mức vật tư được lập trên cơ sở các quy chuẩn xây dựng, quy phạm thiết kế, thi công, nghiệm thu và kết quả áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ xây dựng, công nghệ vật liệu xây dựng
e Định mức lao động
Là hao phí lao động trực tiếp (theo các loại cấp bậc thợ hoặc từng loại cấp bậc thợ phải tác nghiệp) để thực hiện từng công việc cụ thể của công tác xây dựng, lắp đặt, với lao động có trình độ chuyên môn tương ứng làm việc trong điều kiện bình thường
f Định mức năng suất máy thi công
Là số lượng sản phẩm do máy, thiết bị thi công hoàn thành trong một đơn vị thời gian (giờ máy, ca máy )
Một số chỉ tiêu, định mức khác của máy và thiết bị thi công: nguyên giá của máy và thiết
bị thi công, số ca, giờ máy hoạt động trong năm; định mức tỷ lệ khấu hao, sửa chữa, tiêu hao nhiên liệu, năng lượng, được tính toán cho từng loại, nhóm máy, thiết bị thi công phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công của công trình Xem Thông tư 06/2005/TT-BXD ngày 15 tháng năm 2005 hướng dẫn phương pháp xây dựng giá ca máy và thiết bị thi công để biết thêm các định mức về ca máy
3.1.2 Định mức tỷ lệ
Định mức tỷ lệ được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên chi phí theo quy định dùng để xác định chi phí của một số loại công việc trong đầu tư xây dựng không cần xác định theo phương pháp lập dự toán
Trang 193.2 Biên soạn định mức
Khi phân loại các hình thức lao động có thể phân ra thành quá trình lao động bằng tay, quá trình lao động có cơ giới hoá bộ phận (công nhân làm việc có sự giúp đỡ của máy móc), và quá trình cơ giới hoá (bản thân máy móc tham gia), nhưng xét cho cùng trong các quá trình này cũng chỉ có 2 loại đối tượng tham gia là công nhân và máy móc, khi thiết kế định mức thường có 4 loại sau đây:
- Định mức lao động cho công nhân làm việc bằng tay (thủ công)
- Định mức lao động cho công nhân làm việc bằng tay có sự giúp đỡ của máy (cơ giới hoá bộ phận)
- Định mức thời gian sử dụng máy
- Định mức cho thợ lái máy
Để đơn giản khi áp dụng thường người ta thiết kế 3 loại định mức sau:
a Định mức lao động cho quá trình làm bằng tay và cơ giới hoá bộ phận
b Định mức bản thân máy móc (định mức thời gian sử dụng máy)
c Định mức cho thợ lái máy, việc định mức cho thợ lái máy rất đơn giản, khi đã định mức được thời gian sử dụng máy Tuỳ theo số thợ điều khiển của 1 máy mà lập định mức cho thợ lái máy
1 Bất kỳ loại định mức nào cũng tiến hành theo các bước sau:
Bước1 Thu thâp các tài liệu gốc:
- Các tài liệu đã quan sát và chỉnh lý, trong đó các thời gian tác nghiệp của công nhân, thời gian làm việc phù hợp với nhiệm vụ của máy đã được tính toán chỉnh lý
- Phiếu đặc tính của quá trình làm căn cứ để thiết kế điều kiện tiêu chuẩn
- Các phiếu quan sát ChANLV để xác định thời gian chuẩn bị - kết thúc, thời gian bảo dưỡng của máy, thời gian nghỉ giải lao và ngừng thi công
- Các tiêu chuẩn thời gian hoặc định mức gốc: nếu những phần việc đã xác đinh được tiêu chuẩn thời gian hoặc thời gian chuẩn bị - kết thúc, thời gian nghỉ giải lao … đã được nghiên cứu ban hành thống nhất thì coi đó là tài liệu gốc
- Các tài liệu có liên quan khác như: loại công việc, thang lương bậc lương của công nhân xây dựng hiện hành …
Bước2 Thiết kế điều kiện tiêu chuẩn:
Trang 20Dựa vào các tài liệu thu được trong phiếu đặc tính, các quá trình sản xuất phù hợp với trình độ hiện tại, đề ra các điều kiện tiêu chuẩn chung của định mức hoặc điều kiện tiêu chuẩn riêng cuả từng định mức
Bước3 Thiết kế các trị số định mức:
Tính số giờ công hoặc giờ máy cho 1 đơn vị khối lượng định mức và tiền lương chính tương ứng với giờ công, hoặc chi phí trực tiếp ứng với giờ máy
Bước4 Lập bảng thuyết minh và trình bày định mức:
Việc thuyết minh phải đảm bảo ngắn gọn nhưng đầy đủ nội dung pháp lý của định mức Việc trình bày định mức thành bảng sao cho hợp lý và khoa học, tức là những loại định mức nào có thể trình bày chung trong 1 bảng với số cột, số dòng hợp lý phản ảnh các biến loại và nhân tố ảnh hưởng của nó liên quan đến bảng danh mục và mô hình định mức đã đề ra từ đầu
Với mỗi trị số định mức thông thường có 2 phần: giờ công / tiền lương
Trị số giờ công thống nhất tính theo số thập phân mà không tính theo tạp số, ví dụ trong định mức ghi 1,50 giờ có nghĩa là 1 giờ 30 phút
Trị số tiền lương chính quy ước lấy đến 4 số lẻ, giờ công lấy đến 2 số lẻ
2 Để thuận tiện trong quá trình tính toán giá trị định mức, cần tiến hành đồng nhất đơn vị để quá trình tính toán đơn giản hơn
Hệ số chuyển đơn vị:
Khi quan sát thu thập các tài liệu định mức người ta chia nhỏ các quá trình thành các phần việc và phần tử để loại bỏ những chỗ không hợp lý, sẽ thu được sản phẩm của phần việc hay sản phẩm phần tử, nhưng khi tính toán trình bày định mức, người ta tính toán cho sản phẩm quá trình đơn giản hoặc cho sản phẩm quá trình tổng hơp Việc tính toán này được thực hiện nhờ hệ số chuyển đổi đơn vị từ sản phẩm phần tử sang sản phẩm quá trình đơn giản hoặc sản phẩm quá trình tổng hơp
Hệ số chuyển đơn vị là số sản phẩm phần tử hoặc sản phẩm phần việc tính cho 1 đơn vị sản phẩm của quá trình đơn giản hoặc số sản phẩm của quá trình đơn giản tính cho
1 đơn vị sản phẩm của quá trình tổng hợp
Ví dụ:
a Cần rải 50 m2 sân nhựa, phải đào 150 m3 đất, trải đá từng lớp 100 m2, rải nhựa 50 m2
Ta có hệ số chuyển đơn vị như sau:
Trang 21Nghĩa là muốn làm 1 m2 sân nhựa phải đào 3 m3 đất, rải 2 m2 đá và rải 1 m2 nhựa
b Khi quan sát định mức cho quá trình xây tường (quá trình đơn giản) đơn vị là m3 xây Quá trình quan sát người ta chia ra các phần việc sau:
- Vận chuyển gạch tiêu phí lao động là 15 người-phút / xe, mỗi xe 60 viên
- Vận chuyển vữa tiêu phí lao động là 10 người-phút /chuyến, mỗi chuyến 2 xô bằng 20 lít
- Xây gạch tiêu phí lao động là 150 người-phút /m3 xây Mỗi m3 xây cần 540 viên gạch và
280 lít vữa Hãy tính hệ số chuyển đơn vị và tiêu phí lao động cho 1 m3 xây
Ví dụ:
Khi quan sát lắp khối bê tông móng, tổng số 140 khối, trong đó có 126 khối ở giữa và 14 khối ở góc
Tiêu phí thời gian để máy lắp 1 khối ở giữa 101=Tphútt
Tiêu phí thời gian để máy lắp 1 khối ở góc 122=Tphút
Nhưng khi tính toán định mức người ta chỉ trình bày chung một định mức lắp 1 khối bê tông móng nói chung Muốn vậy phải tính hệ số cơ cấu:
Trang 22Tiêu phí lao động để lắp 1 khối bê tông móng nói chung là:
Khác với hệ số chuyển đơn vị là 1 số bất kỳ, bao giờ tổng các hệ số cơ cấu cũng bằng 1,
có thể tính hệ số cơ cấu theo tỷ lệ %, khi đó thì tổng của chúng bằng 100%
3.2.1 Biên soạn định mức nhân công
Trước khi tính toán trị số định mức phải thiết kế điều kiện tiêu chuẩn Điều kiện tiêu chuẩn là căn cứ để đề ra điều kiện và phạm vi áp dụng của định mức ban hành kèm theo định mức
Nội dung điêù kiện tiêu chuẩn bao gồm:
- Tên định mức (tên công việc)
Có 3 phương pháp xác định tiền lương công nhân:
1 Dựa vào các định mức cũ hoặc các quy định hiện hành: Nếu thấy thành phần công
nhân thực tế phù hợp với quy định đó và phù hợp với quy trình sản xuất thì lấy ngay thành phần công nhân đó để đưa vào điều kiện tiêu chuẩn
2 Dựa vào việc bố trí công nhân hợp lý theo cấp bậc công việc quy định và tỷ trọng
thời gian tác nghiệp của từng loại việc
Ví dụ:
Quan sát quá trình xây tường gồm 1 nhóm công nhân 5 người, tương đối hợp lý, sau khi
số liệu tính toán được ở bảng sau:
Trang 23Tên phần việc Thời gian tác
nghiệp tính cho 1 m3 xây
Cấp bậc công việc quy định
Tỷ trọng thời gian tác nghiệp
Tỷ trọng tác nghiệp theo bậc
3 38.3
Xây gạch
Kiểm tra
40.0 25.5
5
5
13.79 8.62
Chú ý: Phương pháp này có cơ sở khoa học, nhưng chỉ chính xác tương đối, vì theo từng
cấp bậc thông thường không là bội số chẵn của nhau, và trong thực tế khi bố trí công nhân hoặc quan sát cũng có khi không có công việc đều cho mọi người, mà có thể người
có bậc cao đi làm công việc bậc thấp và ngược lại
Để áp dụng phương pháp này, cần phải nắm chắc thông tư quy định cấp bậc công việc, bố trí, phân công công nhân trong tổ hợp lý, giao công việc có bậc lương tương ứng với cấp bậc công nhân, tiến hành khảo sát thử 1 vài ca và tính toán lại tỷ trọng thời gian tác nghiệp xem sự phân công đó đã hợp lý chưa Nếu hợp lý thì tiếp tục quan sát và đưa thành phần đó vào thiết kế định mức
Trang 243 Bố trí thành phần công nhân theo nhiều phương án khác nhau
Việc bố trí thành phần công nhân cũng dựa trên thời gian tác nghiệp phần việc và cấp bậc quy định, bố trí thành nhiều phương án kkác nhau, chọn phương án tối ưu sao cho có thời gian ngừng việc là nhỏ nhất
Thành phần công nhân ghi kèm theo định mức, nó quy định tiền lương trong định mức, nhưng không nhất thiết phải bằng thành phần công nhân thực tế mà có khi chỉ là ước số chung của thành phần công nhân thực tế
Ví dụ: Thành phần thực tế có 4 thợ bậc 2, 2 thợ bậc 3 mà thành phần trình bày trong định mức cần 2 thợ bậc 2, 1 thợ bậc 3
Ngoài ra, cũng có thể biên soạn định mức nhân công (định mức tiêu hao lao động) tiến hành theo 5 giai đoạn dưới đây:
1 Quy định mức chuẩn: thực chất của công việc này là lựa chọn các giá trị tối ưu của những nhân tố ảnh hưởng trên cơ sở nghiên cứu các văn kiện kỹ thuật như hồ sơ thiết kế, quy trình, quy phạm v.v
Khi xác lập mức chuẩn nếu bỏ sót bất kỳ một trị số nào của các nhân tố ảnh hưởng thì đều có thể đưa đến những sai lầm trong quá trình biên soạn định mức Mức chuẩn hay định mức bộ phận cần phải phù hợp với trình độ kỹ thuật và tổ chức thi công hiện tại
2 Xác định định mức của công việc cơ bản: định mức của công việc cơ bản của quá trình công tác hoặc quá trình tổng hợp là do định mức bộ phận tổ hợp lại mà thành, được xác định theo dạng công thức sau đây:
Nc = k1n1 + k2n2 + +knnnTrong đó: Nc - định mức của công việc cơ bản, lấy đơn vị ghi đo số lượng của quá trình công tác hoặc quá trình tổng hợp để biểu thị
n1, n2, nn - định mức bộ phận, lấy đơn vị ghi đo số lượng của phần việc để biểu thị
k1, k2, kn - hệ số tính đổi từ đơn vị ghi đo số lượng của phần việc sang đơn vị ghi đo
số lượng của quá trình công tác hoặc quá trình tổng họp Nếu đơn vị ghi đo số lượng của phần việc và đơn vị ghi đo số lượng của quá trình công tác hoặc quá trình tổng hợp hoàn toàn như nhau thì hệ số tính đổi sẽ bằng 1 ; nếu không, nên dựa vào tình hình cụ thể mà tính toán
3 Xác định định mức của công việc phụ, công việc chuẩn bị và kết thúc: thường dùng tỷ lệ phần trăm mà các công việc này chiếm trong toàn bộ thời gian tiêu hao để xác định Nếu tỷ lệ phần trăm không lớn (nhỏ hơn 6%) thì căn cứ theo kết quả thu nhận được
Trang 25trong bảng ghi chép thực ngày làm việc hoặc trong bảng ghi chép thực và trực tiếp dựa vào đcm vị ghi đo số lượng sản phẩm của quá trình công tác hoặc quá trình tổng hợp để tính toán thời gian tiêu hao của chúng (trị số tuyệt đối hoặc tương đối, thường biểu thị bằng trị số tương đối, tức là tỷ lệ phần trăm của thời gian kéo dài của ca làm việc) Khi số lần quan trắc tương đối ít hoặc thời gian quan trắc tương đối ngắn, tức là không thể thu được những số liệu mang đầy đủ tính chất đại diện để khẳng định thời gian tiêu hao của công việc phụ cũng như công việc chuẩn bị và kết thúc thì có thể tham khảo theo bảng số liệu kinh nghiệm cho sẵn (bảng 2.3)
Bảng 2.3 Định mức thời gian của công việc phụ, công việc chuẩn bị và kết thúc
Hạng mục
Số phút chiếm trong ca làm việc 8 giờ
Tỷ lệ phần trăm chiếm trong thời gian kéo dài của
ca làm việc, %
Bảo dưỡng công cụ máy móc
Di chuyển địa điểm
Chuẩn bị địa điểm làm việc
Nhận nhiệm
v ụ
Tổng cộng
Trang 264 Tính toán sự tiêu hao thời gian cho nghỉ ngơi, cần thiết tự nhiên và định mức thời gian gián đoạn vì kỹ thuật (tức là tính toán định mức tiêu hao thời gian gián đoạn theo quy định : Sự tiêu hao thời gian do gián đoạn vì kỹ thuật nên căn cứ vào kết quả quan trắc thời gian để xác định và biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm của thời gian kéo dài của ca làm việc Còn định mức thời gian nghỉ ngơi và cần thiết tự nhiên thì nên dựa vào tài liệu quan trắc thời gian và mức độ nặng nhọc của công việc mà xác định Đôi khi vì tài liệu quan trắc không đầy đủ và cùng một lúc công nhân tiến hành các công việc có mức độ nặng nhọc khác nhau nên cũng không thể khẳng định được thời gian nghỉ ngơi cần thiết thực
tế Trong những trường hợp như vậy thì phải tính theo tỷ lệ phần trăm của thời gian kéo dài của ca làm việc và có thể dùng bảng 2- để tham khảo
Bảng 2.4 Định mức thời gian nghỉ ngơi và cần thiết tự nhiên (biểu thị bằng % của thời
gian kéo dài của ca làm việc)
Mức độ năng nhọc
của công việc
Tỷ lệ phần trăm chiếm trong thời gian kéo dài của ca làmviệc theo mức độ chính xác của quan trắc
0,5 4- lphút 1 -ỉ- 5sec Công việc loại nhẹ 6-8 8 + 10 Đóng đinh; quản lý máy móc;
công tác dầu mỡ Công việc loại vừa 9+12 12 -15 Công tác ván khuôn; buộc cốt
nặng
25 -30 30-35 Đóng cọc bằng thủ công, đào đá,
phá dỡ khối đá xây bằng thủ công
Nhưng thực tế khó kết hợp thời gian gián đoạn vì kỹ thuật làm thời gian nghỉ ngơi
Do đó chỉ được xét dùng một phần thời gian gián đoạn vì kỹ thuật làm thời gian nghỉ ngơi Nhưng thời gian nghỉ ngơi sau khi đã giảm nhỏ đi (do có kết hợp với thời gian gián
Trang 27đoạn vì kỹ thuật) thì cũng không thể ít hơn 5% thời gian kéo dài của ca làm việc (trong mỗi giờ không ít hơn 3 phút)
6 Tính toán đại lượng của tổ hợp định mức : sau khi đã xác định các bộ phận định mức tiêu hao thời gian ở trên thì tiến hành tổ hợp chúng lại sẽ có được định mức nhân công Nn, dựa theo công thức tính toán dưới đây :
)(
100
100
3 2
1 t t t
N N
N
p c
Nc - mức tiêu hao lao động của công việccơ bản, công - giờ ;
Np - định mức thời gian của công việc phụ, tính theo % thời gian kéo dài của ca làm việc;
tị- mức tiêu hao thời gian của công việc chuẩn bị và kết thúc, tính theo % thời gian kéo dài của ca làm việc;
t2- mức tiêu hao thời gian cho nghi ngơi, tính theo % thời gian kéo dài của ca làm việc;
t3 - mức tiêu hao thời gian do gián đoạn vì kỹ thuật, tính theo % thời gian kéo dài
c ủ a c a l à m v i ệ c
Nếu trong định mức thời gian của công việc cơ bản có bao gồm mức tiêu hao thời gian cho công việc phụ thì công thức trên sẽ trở thành :
)(
100
100
3 2
1 t t t
Ncp - định mức tiêu hao lao động để thực hiện quy trình công nghệ (gồm cả công việc
cơ bản và công việc phụ), công - giờ;
3.2.2 Thiết kế trị số định mức
Để tính toán được trị số định mức (giờ công) ta phải xác định hao phí lao động của 4 loại thành phần thời gian được định mức, bao gồm: Thời gian tác nghiệp (ttng, Ttng), thời gian chuẩn bị kết thúc (tckt, Tckt), thời gian nghỉ giải lao và nhu cầu cá nhân (tnggl, Tnggl), thời gian ngừng thi công (tngtc, Tngtc)
Trang 28Để thống nhất trong quá trình tính toán ký hiệu t là thời gian tính theo số tương đối (%),
T là thời gian tính theo số tuyệt đối
a Tính toán thời gian tác nghiệp:
i n
i i
Ttng: Thời gian tác nghiệp, thường tính theo số tuyệt đối
Ti: Tiêu phí thời gian lao động trung bình đã chỉnh lý sau các lần quan sát
n: Số phần tư thuộc thời gian tác nghiệp
Ki: Hệ số chuyển đơn vị hoặc hệ số cơ cấu
b Xác định thời gian chuẩn bị - kết thúc:
Thời gian chuẩn bị - kết thúc thường xảy ra ở đầu ca và cuối ca, nhưng cũng có thể xảy ra
ở giữa ca khi có chuyển đi nhận những nhiệm vụ khác nhau
Có 3 cách xác định thời gian chuẩn bị - kết thúc:
1 Nếu công việc có thời gian chuẩn bị - kết thúc nhiều: thì cũng chia nhỏ thành các phần
tử làm công tác chuẩn kết, quan sát, tính trung bình cho từng phần tử và tính toán như đối với thời gian tác nghiệp
2 Nếu công việc có thời gian chuẩn bị - kết thúc không nhiều lắm (1 – 2)%:
Có thể lấy tổng số thời gian làm công việc chuẩn kết chia cho số sản phẩm (định mức)
= Tổng tiêu phí lao động làm công việc chuẩn bị kết thúc / Số sản phẩm (ĐM) thu được
3 Dựa trên quan sát chụp ảnh ngày làm việc: tiến hành nhiều lần, nhiều ca cho từng loại
ngành nghề và xác định thời gian chuẩn bị kết thúc trung bình () để áp dụng cho từng loại ngành nghề đó đưa vào tính định mức Nếu có sự phối hợp nghiên cứu của các cơ quan
và ban hành của Nhà Nước thì lấy thời gian chuẩn bị kết thúc đó đưa vào định mức Nước ta hiện nay vì chưa có quy định chung về thời gian chuẩn bị kết thúc nên khi làm định mức phải quan sát chụp ảnh ngày làm việc Ở Liên Xô các viện nghiên cứu đã ban hành như sau:
Trang 29Bảng 2.5 Quy định thời gian chuẩn bị - kết thúc
Đổ bêtôn toàn khối
Công tác đất Công tác nề
Kỹ thuật vệ sinh Lắp kính
3.3 Biên soạn định mức sử dụng ca máy
Như sơ đồ phân tích thời gian sử dụng máy, để thiết kế được định mức thời gian sử dụng máy ta phải xác định được thời gian định mức:
- Máy làm việc theo nhiệm vụ,
- Máy ngừng việc được quy định (bảo dưỡng), nghỉ giải lao, ngừng do thi công
Khi tính toán định mức thời gian sử dụng máy: thời gian máy làm việc theo nhiệm vụ được biểu thị trong năng suất tính toán thuần túy của 1 giờ, còn các loại thời gian ngừng việc được quy định biểu thị trong hệ số sử dụng thời gian
Để thiết kế định mức thời gian sử dụng máy ta tiến hành các bước sau:
1 Thiết kế điều kiện tiêu chuẩn
2 Thiết kế thành phần công nhân phục vụ máy
3 Xác định năng suất tính toán 1 giờ máy
Xác định chế độ làm việc trong ca của máy
5 Tính định mức định thời gian sử dụng máy
1 Quy định mức chuẩn : Mức chuẩn của một quá trình cơ giới hoá cần phải đáp ứng được những yêu cầu cần chung đối với quá trình xây lắp bằng cơ giới Khi quy định mức chuẩn nên chú ý đến sự cần thiết về mối ràng buộc phối họp lẫn nhau một cách rõ ràng giữa các cồng việc thủ công và máy móc Mức chuẩn phải bảo đảm năng suất lao động cao và chất lượng sản phẩm tốt, phù hợp với các điều kiện kỹ thuật
Trang 302 Xác lập định mức năng suất thực của máy : Định mức năng suất thực của máy còn gọi là năng suất bình thường làm việc thực trong một giờ của máy Đó là năng suất đạt trong 1 giờ khi máy làm việc ở điều kiện tổ chức thi công bình thường và do công nhân
có trình độ kỹ thuật nhất định điều khiển sử dụng nó Định mức năng suất thực của máy tương ứng với sự tiêu hao thời gian làm việc thực của máy Sự tiêu hao thời gian này gồm
có thời gian làm việc khi có phụ tải (bình thường và giảm thấp) và khi không có phụ tải
có tính chất chu kỳ, thời gian gián đoạn theo quy định có tính chất chu kỳ Còn các loại thời gian tiêu hao cần thiết khác (như thời gian làm việc không phụ tải có tính chất định
kỳ, thời gian gián đoạn theo quy định có tính chất định kỳ, thời gian ngừng việc vì nhu cầu sinh lý cần thiết của công nhân v.v ) thì đều thuộc về thời gian có tính chất phụ Năng suất thực của máy nên căn cứ vào đặc điểm (tác dụng chu kỳ hay liên tục) tính nãng công tác, điều kiện làm việc của máy và dùng phương pháp quan trắc thời gian hoặc phương pháp tính toán để xác định
a) Đối với loại máy tác dụng chu kỳ : năng suất bình thường làm việc thực Nt] của loại máy tác dụng chu kỳ được biểu thị bằng công thức sau :
cs ck
t
N 3600
Trong đó :
tck - thời gian kéo dài bình thường của một chu kỳ làm việc, sec;
V - Số lượng sản phẩm hoàn thành trong mỗi chu kỳ làm việc;
Kcs - hệ số sử dụng công suất của máy (như hệ số đầy gầu của máy đào đất, hệ số xuất liệu của máy trộn bêtông v.v )
Việc xác định số lượng sản phẩm V nói chung không có gì là khó khăn, có thể dựa vào tính năng kỹ thuật của máy (dung tích thùng trộn của máy trộn bêtông, dung tích gầu của máy đào đất, trọng lượng nâng tải của cần trục v.v ), hoặc thông qua nhiều lần quan trắc thời gian mà tính toán Còn hệ số Kcs thì được quy định theo số liệu lý lịch máy và theo chỉ số vận hành máy
Riêng đối với trị số tck, vì nó vừa có quan hệ đến tính năng kỹ thuật của máy, vừa có quan hệ với các nhân tố như điều kiện làm việc cụ thể của máy, sự tổ chức thi công, kỹ thuật thao tác của công nhân v.v cho nên cần thiết phải tổ chức điều kiện làm việc bình thường cho máy và tiến hành quan trắc thời gian mà không thể dựa hẳn vào tính năng kỹ thuật của máy để xác định Kết quả tính toán khi trực tiếp căn cứ theo tính năng kỹ thuật của máy chỉ có tác dụng để kiểm tra, đối chiếu mà thôi
Trang 31b) Đối với loại máy tác dụng liên tục: năng suất bình thường làm việc thực trong một giờ của một số máy tác dụng liên tục như bơm bêtông, máy đào đất nhiều gầu v.v có khả năng xác định theo đặc trưng kết cấu của chúng Lúc này chỉ cần bảo đảm điẻu kiện làm việc bình thường và sau khi quan trắc ghi đo số lượng sản phẩm đạt được trong thời gian nhất định thì có thể tính toán năng suất thực Nt2 qua công thức sau:
Kcs - hệ số sử dụng công suất của máy
Có một số loại máy tác dụng liên tục như máy nghiền đá, băng chuyền vận chuyển, súng nước v.v vì do khó xác định phụ tải bình thường hoặc các nhân tố ảnh hưởng, cho nên năng suất thực của chúng phải đối chiếu với các loại điều kiện tổ chức thi công cụ thể, thông qua thực nghiệm và tiến hành nhiều lần quan trắc mới tính toán được
3 Xác định thành phần tổ hợp công nhân phục vụ máy Công nhân phục vụ máy gồm
có hai loại:
a) Công nhân trực tiếp thao tác và bảo vệ máy
b) Công nhân phụ như công nhân đưa vật liệu vào máy nghiền đá, công nhân lắp cấu kiện vào móc treo cần trục, công nhân chất xếp, bốc dỡ,
Trong định mức không những cần tính toán số lượng các loại công nhân kể trên mà còn phải xác định loại việc, cấp bậc kỹ thuật, sự phân công lao động và sự phối hợp giữa
họ với nhau
Số lượng yêu cầu về loại công nhân thứ nhất có thể tính toán một cách dễ dàng dựa theo sự vận hành kỹ thuật của máy móc Riêng đối với loại công nhân thứ hai thì cần phải thông qua quan trắc thời gian mà xác định, số lượng công nhân nên bảo đảm cho máy phát huy hiệu quả cao nhất, đồng thời bảo đảm sự phân công giữa họ với nhau phải hợp
lý, làm việc được nhịp nhàng
4 Thiết kế chế độ làm việc của ca máy, trong chế độ làm việc của máy nên quy định
rõ ràng về thời gian công nhân bắt đầu làm việc, thời gian cần thiết để tiến hành công việc chuẩn bị trước khi cho máy chạy, thời gian bắt đầu của ca làm việc và thời gian máy làm việc có ích sau khi nghỉ giữa ca, thời gian ngừng làm việc có ích của máy trước khi nghỉ giữa ca và trước khi kết thúc ca làm việc, thời gian kéo dài bảo dưỡng máy trong ca làm việc.v.v Để phát huy đầy đủ hiệu quả làm việc của máy thì chế độ làm việc của ca
Trang 32máy khi thiết kế phải được chặt chẽ, muốn vậy nên cố gắng loại trừ thời gian gián đoạn
do nguyên nhân kỹ thuật và tổ chức gây nên, tranh thủ kết hợp thời gian nghỉ ngơi của công nhân với thời gian ngừng việc của máy Quá trình thiết kế chế độ làm việc của ca máy nên thông qua công tác quan trắc thực tế mà tiến hành hiệu chỉnh cần thiết
Dựa theo chế độ làm việc của ca máy đã thiết kế sẽ tính toán được hệ số lợi dụng thời gian của máy trong ca làm việc, tức là:
Trong đó:
Ktg- hệ số lợi dụng thời gian làm việc của máy;
T - thời gian làm việc thực của máy trong ca làm việc;
T0 - thời gian kéo dài của ca làm việc
5 Xác định đại lượng toàn bộ của định mức: Căn cứ vào năng suất bình thường làm việc thực trong một giờ của máy và chế độ làm việc của ca máy thì tính toán được định mức sản lượng máy theo công thức sau đây:
Nsl = NTT0Ktg Trong đó:
Nsl - định mức sản lượng máy;
NT - định mức năng suất thực của máy;
T0 - thời gian kéo dài của ca làm việc;
Ktg - hệ số lợi dụng thời gian của máy
Định mức thời gian máy Nt là số nghịch đảo của định mức sản lượng máy nên có quan hệ như sau:
Định mức nhân công của công nhân phục vụ máy được xác định theo công thức:
Nn.m = n.Ntg
n - số người trong tổ công nhân phục vụ máy, thường tính toán riêng cho từng loại công nhân (trực tiếp và phụ) tìm ra định mức nhân công tương ứng cho từng loại
Trang 333.3.1 Thiết kế điều kiện tiêu chuẩn
Điều kiện tiêu chuẩn phải thể hiện được các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo các điều kiện về kỹ thuật thi công phù hợp với đặc tính và tính năng của máy móc
- Đảm bảo cho việc sử dụng máy móc một cách có hiệu quả
- Đảm bảo điều kiện làm việc của công nhân và an toàn lao động
- Tổ chức đúng đắn lực lượng điều khiển máy móc và công nhân phục vụ đảm bảo tận dụng hết năng lực làm việc của máy móc
- Quy định các điều kiện bảo dưỡng chặt chẽ của máy móc đảm bảo cho máy móc không hư hỏng trước định kỳ sửa chữa
- Tổ chức theo mặt bằng và không gian làm việc hợp lý của máy móc
- Cung cấp vật tư, nguyên vật liệu, các trang thiết bị cho máy đầy đủ để máy hoạt động liên tục
3.3.2 Thiết kế thành phần công nhân phục vụ máy
Việc thiết kế thành phần công nhân phải nhằm khai thác hết năng lực của máy móc Thông thường trong quá trình cơ giới hóa có 2 loại công nhân tham gia: công nhân điều khiển máy và công nhân phục vụ máy
1 Xác định số công nhân điều khiển máy
Đối với máy móc, phần lớn mỗi máy đã quy định số công nhân điều khiển, nhưng trong điều kiện sử dụng tập trung có thể tính toán số công nhân điều khiển sao cho hợp
lý Chẳng hạn thợ bậc cao có thể trông coi quán xuyến nhiều máy, từng thợ bậc thấp hơn điều khiển từng máy, nếu điều kiện cho phép 1 công nhân trông coi nhiều máy, thì số máy 1 công nhân có thể trông coi được tính bằng:
pv
t ca
T
k T
Trang 342 Xác định số công nhân xây lắp phục vụ máy:
Căn cứ vào đặc tính của máy móc, quy trình kỹ thuật thi công mà bố trí công nhân xây lắp phục vụ máy cũng phải đảm bảo nguyên tắc công việc giao phải phù hợp với cấp bậc công nhân và có công việc đều cho mọi người để khỏi phải chờ đợi
a Đối với máy hoạt động có chu kỳ:
Có thể giữa chu kỳ phục vụ của công nhân với chu kỳ hoạt động của máy có độ lâu khác nhau, thì cần phải đảm bảo tận dụng hết năng suất của máy móc, còn công nhân có thể ngừng việc chút ít Điều đó có nghĩa là chu kỳ làm việc của máy lớn hơn hoặc bằng chu
kỳ làm việc của công nhân
Ví dụ:
Bố trí công nhân phục vụ máy trộn bê tông 250 lít Theo tính toán cấp phối 1 mẻ trộn cần
2 xe cát, 3 xe đá Theo số liệu quan sát ta thấy:
Hai công nhân: xúc đầy 1 xe đá cần 0.8 phút, vận chuyển mất 1 phút, chuẩn kết mất 1.8 phút
Hai công nhân: xúc đầy 1 xe cát cần 0.4 phút, vận chuyển mất 1 phút, chuẩn kết mất 1.4 phút
Chu kỳ của máy: 2 phút / 1 mẻ trộn
Vậy bố trí 3 công nhân vừa xúc vừa chuyển đá, 2 công nhân vừa xúc vừa chuyển cát Như thế sẽ đảm bảo chu kỳ làm việc của máy lớn hơn chu kỳ làm việc của công nhân
b Đối với máy hoạt động liên tục:
Số công nhân phục vụ bằng năng suất máy hoạt động liên tục chia cho năng suất của 1 công nhân:
'
1
tng
ca t
may ca
pv
T
T k NS
CN
NSmáyca: Năng suất 1 ca của máy
Ttng’: Thời gian tác nghiệp, tính bằng phút cho 1 đơn vị sản phẩm
Tca: Độ lâu ca làm việc tính bằng phút
Kt: Hệ số sử dụng thời gian của máy
Trang 35Ví dụ:
Một máy ép gạch có = 34.000 viên / ca (1 ca làm việc 7 giờ), = 0.9 Thời gian tác nghiệp lấy gạch đúc xong trên băng chuyền đưa đi là .5 người phút /1000 viên Hãy xác định
số công nhân cần thiết để lấy gạch trên máy
Thay vào công thức trên, ta có số công nhân cần thiết là:
49.060710005.4434000 công nhân
3.3.3 Xác định năng suất tính toán 1 giờ của máy
Năng suất tính toán 1 giờ của máy là năng suất thuần túy liên tục trong 1 giờ của máy chưa kể đến thời gian ngừng việc được quy định Đối với máy hoạt động chu kỳ và hoạt động liên tục sẽ có cách xác định khác nhau
a Đối với máy hoạt động có chu kỳ: như máy trộn, máy đào, cần trục…
n chuky
NSttgiờ: Năng suất tính toán 1 giờ của máy
1giờ/Tchukỳ: Số chu kỳ thực hện trong 1 giờ Nếu tính bằng giờ, phút, hoặc giây thì đại
lượng thời gian có thể để 1 giờ, 60 phút, hoặc 3600 giây
V: Khối lượng công việc máy thực hiện được trong 1 chu kỳ Đó là dung tích của thùng trộn, dung tích của máy đào, số lượng cấu kiện 1 lần cần trục thực hiện
k1, k2, k3: Các hệ số kể đến điều kiện làm việc của máy, chẳng hạn như hệ số kể đến số lượng của thùng trộn đối với máy trộn bê tông, hệ số đầy gàu đối với máy đào, hệ số tơi xốp của đất
Ví dụ 1:
Sau khi quan sát và chỉnh lý số liệu các lần quan sát đối với máy đào có dung tích gầu 0.5
m3 đã thu được số liệu sau:
Lấy đất vào gầu: t = 51giây
Nâng quay: t = 62 giây
Đổ đất ra: t= 113 giây
Quay về vị trí: t = 74 giây
Trang 36Vậy Σtchu kỳ = 5 phút = 0,83 giờ
Loại gầu này có hệ số đầy gầu = 0.88, hệ số rơi = 1 V = 29 m3 Hãy xác định năng suất
tính toán giờ của máy
- Đối với băng chuyền: W = v.q
v: Tốc độ di chuyển của băng chuyền
q: Trọng lượng chứa được trên 1 m dài băng chuyền
k1,k2, …kn : Các hệ số kể đến điều kiện làm việc của máy
3.3.4 Xác định chế độ làm việc trong ca của
Xác định chế độ làm việc trong ca của máy tức là phải xác định các thời gian máy làm việc không chu kỳ, thời gian ngừng việc được quy định qua đó tính toán hệ số sử dụng thời gian của máy Vì vậy trong quá trình xác định chế độ ca làm việc cần phải xác định được:
Thời gian đăc biệt là thời gian hoạt động không thuộc chu kỳ, hoặc thời gian máy chạy
không tải cho phép Tdb
Thời gian ngừng việc được quy định:
Trang 37(với Tbd là thời gian bảo dưởng máy), các loại thời gian này cũng do quan sát, tính toán chỉnh lý trung bình sau các lần quan sát bằng phương pháp bình quân số học đơn giản Nếu có những loại thời gian (, ) đã được nghiên cứu và ban hành chung thì lấy những thời gian đã ban hành quy định đó đưa vào tính định mức Sau khi xác định được các loại thời
gian trên ta tính được hệ số sử dụng thời gian của máy
: tính theo phút , : tính theo số tương đối %
3.3.5 Tính định mức thời gian sử dụng máy