Đối tượng của quản lý vùng bờ là quan tâm xem xét vùng bờ biển như là một hệ thống tương tác các hoạt động kinh tế, quá trình vật lý, các phản ứng hóa học và hoạt động sinh vật.. - Hệ th
Trang 1Trường Đại học Thủy lợi - Delft University of Technology
- -
NGUYỄN BÁ QUỲ
Qu¶n lý vïng VEN bê
Cố vấn khoa học: Assoc Prof Ir K.J Verhagen
Hµ Néi -2002
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Quản lý vùng ven bờ là một trong các môn học được lựa chọn trong dự án
“Nâng cao năng lực đào tạo về kỹ thuật bờ biển cho Trường Đại học Thủy lợi Hà nội” do chính phủ Hà lan tài trợ
Môn học bao gồm những nội dung chủ yếu về bờ biển: Quản lý vùng bờ, quản lý đường bờ, cồn cát, nghiên cứu cửa sông, bờ biển, các hệ sinh thái ven bờ, các xung đột vùng bờ, quản lý tổng hợp vùng bờ
Đối tượng của quản lý vùng bờ là quan tâm xem xét vùng bờ biển như là một
hệ thống tương tác các hoạt động kinh tế, quá trình vật lý, các phản ứng hóa học và hoạt động sinh vật Ví dụ hoạt động kinh tế như: đánh cá, hàng hải, hoạt động giải trí, quốc phòng, lắng động chất thải, khai thác khoảng sản, đặt đường ống, đường cáp dưới đáy biển, khai hoang, xây dựng phát trển hải cảng, thăm dò khai thác dầu khí, bảo tồn thiên nhiên
Phát triển kinh tế trong vùng bờ phụ thuộc vào năng suất có thể chấp nhận được trong thời gian lâu dài và khả năng của tài nguyên vùng bờ.Quản lý với mục tiêu sử dụng hiệu quả tài nguyên bờ biển cho những lợi ích phát triển kinh tế vùng Quản lý cần dựa trên nhận thức tổng hợp về một hệ thống bờ biển và mối tương tác giữa hệ thống bờ biển với hệ thống ngoại vi liền kề: lưu vực sông, biển, đại dương Lập kế hoạch là một việc làm liên tục của các cơ quan quản lý và được xem xét là một nhiệm vụ cốt yếu trong sự phát triển cân bằng bền vững giữa một mặt là phát triển vùng, mặt khác là bảo vệ tài nguyên vùng bờ lâu dài
Mục tiêu cần đạt được trong môn Quản lý vùng bờ là:
- Đưa ra một phương pháp tổng hợp có hệ thống để mô tả quá trình vật lý, sinh vật và kinh tế xã hội trong vùng bờ và mối tương tác giữa chúng trong hệ thống
- Tăng cường kiến thức và sự hiểu biết về những quá trình này
- Đưa ra cách làm để sử dụng và cung cấp các thông tin có chất lượng cho các nhà ra quyết định về chính sách và các nhà quản lý vùng bờ
Môn học này được chia ra làm 3 phần:
* Phần giới thiệu đưa ra một cách nhìn cơ bản, toàn cảnh về hệ thống vùng bờ Bên cạnh các phân tích chính sách cốt lõi được coi như là một công cụ trong việc giải quyết vấn đề bờ biển Những yếu tố chính trong bất kỳ các phân tích về quản lý tổng hợp vùng bờ là:
+ Phân tích hệ thống tự nhiên bao gồm nước, bùn cát, chất hữu cơ hoặc hình thái bờ biển
+ Phân tích, đánh giá các hoạt động kinh tế và tác động của chúng với hệ thống tự nhiên
+ Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện việc phát triển kinh tế xã hội bền vững theo hướng tiếp cận quản lý tổng hợp
* Phần thứ hai bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
Trang 3- Hệ thống phi sinh vật
- Hệ thống hữu sinh
- Phân hệ kinh tế xã hội
- Sự phát triển của hệ thống quản lý
- Sự thay đổi toàn cầu tác động đến các hệ sinh thái ven biển
- Chính sách quốc tế về quản lý vùng bờ
* Phần thứ ba trình bày một mô phỏng mẫu về phương thức quản lý vùng bờ thông qua trò chơi mô phỏng Thông qua việc xây dựng các kịch bản giúp người học hiểu biết nội dung cần làm trong việc quản lý, nhận thức sâu sắc hơn các giá trị của vùng
bờ và đề xuất các giải pháp nhằm khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên vùng ven biển
Tác giả xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân viên của CICAT, Khoa xây dựng, Trường Đại học công nghệ Delft Cảm ơn các nhà khoa học, đồng nghiệp trong và ngoài trường Đại học Thủy lợi, đặc biệt là PGS H.J.Verhagen, người đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành quyển giáo trình và PGS TS Vũ Minh Cát - người hiệu đính, hoàn thiện trước khi in ấn Đây là lần soạn thảo đầu tiên, không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được ý kiến đóng của các chuyên gia, các đồng nghiệp và sinh viên để từng bước hoàn thiện, có thêm một tài liệu khoa học phục vụ giảng dạy và tham khảo
Hà nội – 2002 PGS TS Nguyễn Bá Qùy
Trang 4CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ QUẢN LÝ VÙNG BỜ
1.1 Lịch sử và khái niệm quản lý vùng ven bờ
Con người luôn ưa thích vùng ven bờ vì những nguồn tài nguyên hấp dẫn của
nó Với những vùng đất đồng bằng màu mỡ và có nguồn tài nguyên biển phong phú, cộng với khả năng tiếp cận các thị trường quốc tế một cách dễ dàng, vùng ven bờ đã
và vẫn đang thu hút sự quan tâm của con người Vùng ven bờ là trung tâm phát triển kinh tế của một quốc gia, nơi tập trung rất nhiều hoạt động kinh tế, xã hội, đồng thời cũng chịu nhiều ảnh hưởng bởi hoạt động này Trong tương lai, tầm quan trọng của vùng ven bờ sẽ ngày một cao hơn do số lượng người dân đến đó sinh sống ngày một nhiều hơn
Vùng ven bờ thực chất là một hệ thống tài nguyên đa dạng Nó cung cấp các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật cho hoạt động của con người và có chức năng điều hoà môi trường tự nhiên cũng như nhân tạo Mặt khác, vùng ven bờ là một hệ thống nhiều người sử dụng Con người sử dụng các nguồn tài nguyên cho sự sống như nước và thức ăn, cho các hoạt động kinh tế như sử dụng không gian, các tài nguyên tái tạo và không tái tạo được và nghỉ ngơi, giải trí (các bãi cát và nước ven bờ)
Quá trình công nghiệp hoá, phát triển thương mại và áp lực của sự gia tăng dân số liên tục ở nhiều nơi đã làm tăng sự xói mòn, lũ lụt, mất dần các vùng đất ngập nước, ô nhiễm, khai thác bừa bãi đất đai và các nguồn nước ở vùng ven bờ
Nâng cao nhận thức về giới hạn của các nguồn tài nguyên, sự suy thoái môi trường và hậu quả đối với con người đã thúc đẩy các nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp lâu dài cho vấn đề quản lý các nguồn tài nguyên Những nghiên cứu đó dựa trên cơ sở khái niệm về khả năng chịu đựng của môi trường, là chỉ dẫn cho các hoạt động kinh tế xã hội vì mục tiêu bảo tồn lâu dài các yếu tố và khu vực thiết yếu và khu vực thiết yếu của hệ thống môi trường
Năm 1972, lần đầu tiên trong báo cáo của Câu Lạc Bộ Thành Rôm đã đề cập những vấn đề nói trên một cách hệ thống và chặt chẽ, kết quả đã cho ra đời một cuốn sách nổi tiếng nhan đề “Những giới hạn phát triển “ (Meadows và những người khác -1972) Phản ứng chính trị đối với thách thức này đã được Uỷ ban Quốc tế về Môi
trường và Phát triển trình bày năm 1987 trong báo cáo Bruntland về “Tương lai
chung của chúng ta”(WCED-1987) Báo cáo đưa ra khái niệm phát triển bền vững
như một giải pháp đảm bảo những điều kiện sống có thể chấp nhận được cho các thế
hệ hôm nay cũng như mai sau Báo cáo Bruntland đã đưa ra các mục tiêu cho chiến lược bảo tồn toàn cầu như sau:
- Duy trì các quá trình sinh thái thiết yếu và các hệ thống duy trì sự sống
- Bảo tồn đa dạng gen
- Sử dụng bền vững các loài và các hệ sinh thái
Trang 5Năm 1992, 20 năm sau báo cáo của câu lạc bộ Thành Rôm, một hội nghị đặc biệt về môi trường và Phát triển(UNCED) của Liên hợp quốc đã được tổ chức ở Rio
de janero Chương trình nghị sự 21 là một kế hoạch hành động được đưa ra cho các quốc gia nhằm phát triển bền vững Nội dung “Chương trình nghị sự 21” bao gồm toàn bộ những chủ đề có liên quan đến môi trường và Phát triển Sự tiếp cận theo huớng tổng hợp như vậy được trình bày trong cuốn sách của Meadow - được gọi là
“Tiếp cận tầm giới hạn” (Meadow và các cộng sự -1992)
Hình 1.1: Phát triển của các thành phố trên bờ biển
Ngày nay người ta đã công nhận rằng sự phát triển vùng ven bờ cần dựa trên
cơ sở sự hiểu biết đúng đắn về các quá trình ở đó, sử dụng kĩ thuật và các kỹ năng kinh tế xã hội nhằm đạt được một sự cân bằng có thể chấp nhận được giữa những lợi ích trước mắt và lâu dài Chính vì vậy, một sự phát triển được kiểm soát cần phải tiến hành ngay tại vùng ven bờ Các mâu thuẫn giữa các đối tượng sử dụng khác nhau đang trở nên gay gắt hơn Chúng ngày càng phát triển cả về quy mô cũng như phạm vi khi dân số và việc sử dụng các nguồn tài nguyên trên trái đất tăng lên Sự cần thiết phải có một phương pháp chung để mô tả mối quan hệ qua lại phức tạp
giữa hệ thống tài nguyên và việc sử dụng nó Bởi thế, cần phải lập kế hoạch và kiểm
soát quá trình này một cách bền vững và hệ thống Quá trình này gọi là “Quản lý
vùng ven bờ” (CZM)
Quản lý vùng ven bờ nhằm mục đích giải quyết những vấn đề hiện tại và trong tương lai ở vùng ven bờ, bằng cách tìm ra một sự cân bằng bền vững giữa lợi
Trang 6ích kinh tế và sự an toàn của môi trường Điều này có thể đạt được nhờ phân tích cụ thể, chi tiết các quá trình tự nhiên và hoạt động phát triển kinh tế xã hội
Cần phải đẩy mạnh việc phát triển khả năng quản lý tổng hợp vùng ven bờ đối với các quốc gia vùng ven biển, bởi vì:
- Xu hướng tăng tỷ lệ đói nghèo ở các vùng ven biển hiện nay đang dẫn đến sự suy thoái vùng ven bờ và chất lượng cuộc sống ở đó
- Các áp lực do phát triển và dân sinh hiện nay đang làm gia tăng ô nhiễm biển có nguồn từ đất liền và sự can thiệp của con người ở các lưu vực sông cũng như ảnh hưởng của quá trình ven bờ Những áp lực này bao gồm :
- Giảm nơi cư trú và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có các bãi biển, rừng ngập mặn, đất ngập nước, cỏ biển và san hô, cũng như các tài nguyên thủy, hải sản và các nguồn tài nguyên biển và ven bờ khác;
- Tăng sự tổn thương đối với vùng ven bờ do bị ô nhiễm, mất bãi biển, sinh cảnh, tăng hiểm hoạ tự nhiên và các tác động lâu dài của sự thay đổi khí hậu toàn cầu
Những thay đổi nói trên chắc chắn sẽ hạn chế khả năng phát triển trong tương lai:
- Nhiều nguồn tài nguyên và hệ sinh thái ven bờ đã xuống cấp và đang bị đe dọa cần phải được tái tạo và phục hồi;
- Các nỗ lực để phát triển năng lực quản tổng hợp vùng ven bờ và thực hiện các chương trình quốc gia có kéo dài 10 năm hoặc hơn nữa;
- Thực hiện các chiến lược nhằm thích ứng và giảm thiểu những ảnh hưởng của thay đổi khí hậu toàn cầu có thể kéo dài một vài thập kỷ và hơn nữa, cho dù có
áp dụng ngay các biện pháp làm giảm bớt lượng phát thải khí nhà kính
D©n sè vïng kh¸c D©n sè vïng ven biÓn
Hình 1.2: Dân số vùng ven biển Bởi vậy, quản lý tổng hợp vùng ven bờ phải bắt đầu hoặc đẩy mạnh ngay từ bây giờ Nhìn chung, các mục tiêu cơ bản của quản lý vùng ven bờ bao gồm:
- Dự báo nhu cầu về sử dụng các nguồn tài nguyên trong tương lai
Trang 7- Lập kế hoạch khai thác các nguồn tài nguyên này
- Kiểm soát việc sử dụng các nguồn tài nguyên này
Quản lý vùng ven bờ là cả một quá trình Nó bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội Thành công của quản lý vùng ven bờ phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của cộng đồng về các vấn đề liên quan đến sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và thiện chí chính trị để giải quyết chúng Trong quá trình này, nhiều giai đoạn khác nhau cần được tiến hành như sau:
Giai đoạn 1: xác định vấn đề - các dấu hiệu mang tính xã hội (chẳng hạn như khi
các nhóm bị ảnh hưởng lên tiếng) chỉ ra khả năng có một vấn đề Trong một giai đoạn nào đó, có thể có mâu thuẫn về quan điểm về các nhóm khác nhau trong xã hội về phạm vi, nguyên nhân và ảnh hưởng của vấn đề đó Sự nhất trí về tính cần thiết có sự can thiệp của chính quyền (trong hoạch định chính sách) là mục tiêu cuối cùng kết thúc giai đoạn này
Giai đoạn 2: Lập chính sách - mặc dù đã có sự thống nhất về vấn đề cần giải quyết,
vẫn còn những quan điểm khác nhau về cách giải quyết vấn đề đặt ra Phát triển công nghệ được lưu ý để giải quyết vấn đề này Giai đoạn 2 kết thúc khi chính quyền đưa ra một chính sách đầy đủ cùng với các biện pháp tương ứng Phân tích chính sách là một phần trong giai đoạn này Nhiệm vụ của tổ chức quản lý vùng ven
bờ được đề cập đến trong giai đoạn này
Giai đoạn 3: Thực thi chính sách – cuối cùng, kế hoạch được phê duyệt sẽ đưa vào
thực hiện Sự đầu tư được triển khai; các dự án được thiết kế, thực hiện và sự phản ứng liên quan đến một số vấn đề của chính trị, xã hội cũng lắng xuống
Giai đoạn 4: Quản lý và kiểm soát – kiểm soát là vấn đề trọng tâm của giai đoạn
này Những công việc thường xuyên như giám sát có thể dẫn đến yêu cầu đổi mới công nghệ và tăng đầu tư Điều chỉnh pháp lý trở nên quan trọng Cần thận trọng bởi vì những phát triển mới cũng như kiến thức và sự hiểu biết về tình hình liên quan có thể đòi hỏi các biện pháp bổ sung Đây là quá trình có tính tuần hoàn rất đặc trưng
Rõ ràng, việc quản lý vùng vùng ven bờ rất khó khăn và phức tạp, nó đòi hỏi phải có kiến thức rất rộng Sự gia tăng các hoạt động ở vùng ven bờ làm nảy sinh các vấn đề ngày càng nhiều hơn Những vấn đề này có thể rất đa dạng về phạm vi không gian và thời gian như:
- Xói lở bờ biển do xây dựng cảng, kè trên sông và khai thác cát
- Suy thoái hệ sinh thái do phát triển đô thị, nuôi trồng thuỷ sản và ô nhiễm nước
- Giảm sút hoạt động du lịch do các bãi biển bị ô nhiễm bởi rong, rêu phát triển khi có nhiều chất dinh dưỡng từ đất liền đưa ra biển
- Ô nhiễm do sự cố tràn dầu
Ở nhiều nước, những vấn đề như đã đề cập ở trên được giải quyết mà không thể dự tính trước Trong khi đó, các vấn đề không thể tách biệt nhau và là một phần
Trang 8của sự phát triển tổng thể kinh tế - xã hội Cách giải quyết một vấn đề cụ thể được lồng ghép trong bài toán tổng thể
Các thách thức đối với công tác quản lý vùng ven bờ rất đa dạng, chẳng hạn như sự thay đổi các điều kiện ngoại cảnh (mực nước biển dâng lên, xói lở trên diện rộng, sụt lún đất), sự thay đổi mô hình kinh tế xã hội (gia tăng sự chuyển dịch các hoạt động kinh tế xã hội về các vùng ven bờ) và các hoạt động từ nguồn nước thải, khai thác cát đá v.v
Để nghiên cứu mức độ dễ bị tổn thương của vùng ven bờ do những thay đổi nói trên, không chỉ có các tác động riêng lẻ mà cả sự tương tác giữa chúng cũng cần phải xem xét Nói chung, tính dễ bị tổn thương của vùng ven bờ có thể được xem xét
trong bối cảnh của sự phát triển bền vững, một khái niệm dùng để chỉ khả năng của
một quốc gia trong việc giải quyết một cách lâu bền tất cả những áp lực, vấn đề và thiệt hại về môi trường ở vùng ven bờ của mình
Giá trị sinh thái và kinh tế phải được xem xét cân đối để đưa ra các chiến lược cho sự phát triển bền vững như vậy Đây là một vấn đề phức tạp bởi vì suy thoái môi trường là một quá trình diễn ra chậm nhưng khó có thể đảo ngược được Các hành động ngăn ngừa phải được tiến hành trước khi những dấu hiệu của sự suy thoái trở nên rõ ràng
Quy hoạch các nguồn tài nguyên vùng ven bờ chứa đựng các khía cạnh về kỹ thuật, xã hội, kinh tế và môi trường Nó đòi hỏi sự đóng góp của rất nhiều ngành, lĩnh vực Một số ví dụ về lĩnh vực chuyên môn trong nhóm nghiên cứu lập kế hoạch được đưa ra dưới đây:
Kỹ thuật: Kỹ thuật biển, địa hình ven bờ, hình thái bờ biển, thuỷ động lực học, khí
tượng biển, địa chất;
Kinh tế- xã hội : Kinh tế vĩ mô, kinh tế kỹ thuật, nhân khẩu học, quy hoạch vùng, xã
hội học và các chuyên môn khác của đối tượng sử dụng như nghề cá, khai khoáng, giao thông và du lịch
Môi trường: sinh học, sinh thái học, hoá học
Bên cạnh sự đóng góp của các ngành chuyên môn, phải cần đến năng lực của các nhà phân tích hệ thống và chính sách, những người có thể tổng hợp các đóng góp của các chuyên gia theo hệ thống phân tích chặt chẽ và có thể đưa ra các chiến lược trình các nhà ra quyết định
1.2 Quan điểm hệ thống về vùng ven bờ
1.2.1 Khái quát về hệ thống đa dạng vùng ven bờ
Vùng ven bờ là một vùng điển hình, nơi các vấn đề tương tác với nhau có thể được xem xét bằng phương pháp phân tích hệ thống Như minh hoạ một cách trìu tượng ở hình 1.3, vùng ven bờ trước hết được kiểm soát bởi hai nguồn hoạt động: Các điều kiện tự nhiên (tồn tại ngoài sự kiểm soát của con người) và cơ sở hạ tầng tổ chức hay các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, hình thái có tổ chức và được phê
Trang 9chuẩn, mà trong đó có sự hoạt động tích cực của con người Tiếp theo cũng trên hình 1.3, ba hệ thống cơ bản trong vùng ven bờ được phân biệt:
Hình 1.3: Nguyên tắc hệ thống của các yếu tố chính trong vùng ven bờ
- Hệ tự nhiên: bao gồm tất cả những gì không do con người tạo ra (khí quyển,
thạch quyển, thuỷ quyển) kể cả sự tương tác giữa chúng thông qua các quá trình sinh học, phi sinh học và hoá học Đây là hệ các nguồn tài nguyên tồn tại khá bền
vững, nếu không có sự tác động của con người
- Các chức năng sử dụng thể hiện toàn bộ các lợi ích của con người trong việc “sử dụng” theo một nghĩa rộng nhất các nguồn tài nguyên đó
- Cơ sở hạ tầng: bao gồm cơ sở hạ tầng về tổ chức và kỹ thuật Những cơ sở hạ
tầng này cần phải có sẵn và như vậy có thể vật chất hoá những chức năng sử dụng dự định Trong nhiều trường hợp, các cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng vô ý cũng như hữu ý đến hệ tự nhiên, và đôi khi ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
đến các chức năng sử dụng khác, gây ra áp lực và mâu thuẫn
Ba hệ thống: hệ tự nhiên, các chức năng sử dụng và cơ sở hạ tầng tương tác
với nhau về: Nguyên tắc rất nhạy cảm đối với các phân tích khoa học và định lượng
Tất cả các hoạt động của con người, theo như định nghĩa, diễn ra trong mối tương tác với hệ tự nhiên, một phần chỉ đơn thuần do sự có mặt của con người, phần khác qua các ảnh hưởng trực tiếp của việc khai thác, cơ sở vật chất hạ tầng và sự ô nhiễm của các chất thải
Tam giác cong nhỏ ở giữa với vị trí chiến lược là giao của ba hệ thống trên, thể hiện vai trò quan trọng của công tác quản lý vùng ven bờ Đây là nơi có tất cả các thông tin liên quan và các chiến lược cho phát triển bền vững được xây dựng trên cơ sở các kiến thức tổng hợp, hệ thống thông tin và phân tích chính sách
Trang 10- Sự sống trên đất liền và dưới biển được đặc trưng bởi số lượng các loài khác nhau với số cá thể khác nhau
Nhìn chung, các tính chất của các yếu tố cơ bản trên có thể sử dụng làm tài liệu đầu vào cho các mô tả mang tính định lượng về các quá trình tự nhiên đang diễn
ra ở vùng ven bờ Chúng là cơ sở quan trọng phục vụ cho việc giám sát các điều kiện sinh thái ở vùng ven bờ
Hệ thống vùng ven bờ thực chất là phần giao nhau giữa khí quyển, thuỷ quyển và thạch quyển Việc mô tả chi tiết hơn về hệ thống có thể sử dụng mô hình
số trị Việc mô tả này bao gồm đánh giá các yếu tố quan trọng của hệ thống, các mối tương tác vật lý giữa chúng và sau đó xây dựng hệ phương trình cơ bản biểu diễn các quá trình tương tác giữa những yếu tố này
Một điều quan trọng khác nữa là xác định ranh giới hệ thống của vùng nghiên cứu Chưa có một định nghĩa chung nào về vùng ven bờ được công nhận Năm
1982, hội nghị Liên Hợp Quốc về Luật biển đã đưa định nghĩa đối với các vùng khác nhau theo chủ quyền và tính pháp lý Trong bối cảnh đó, các hoạt động khoa học tại vùng ven bờ bị giới hạn trong hải phận quốc gia Để áp dụng được vào thực
tế, cần có sự hoàn thiện hơn về khía cạnh luật pháp, trên cơ sở xem xét tổng thể các điều kiện sinh thái và vật lý Phạm vi nghiên cứu phải xác định cho một đối tượng
cụ thể, bởi vì các nghiên cứu có thể được tiến hành với quy mô khác nhau cả về thời gian lẫn không gian Biên giới của hệ thống nghiên cứu và việc mô tả các quá trình liên quan đến nó sẽ được lựa chọn tương ứng Không gian theo chiều dọc bờ biển của hệ thống được xác định khi các các hoạt động trong đó được xem xét trong khoảng thời gian xác định Điều này có thể dẫn tới phạm vi của hệ thống lên đến hàng 100 km và cần được xem xét trong một khoảng dài Các kỹ sư chuyên về vùng ven bờ hoặc các nhà địa mạo học vùng ven bờ thường tham gia nghiên cứu các hệ thống với quy mô nhỏ hơn có kích thước vài chục ki lô mét
Nếu nghiên cứu tác động của hệ thống đến chất lượng nước và hệ sinh thái thì khái niệm hệ thống vùng ven bờ cần được xem xét và phân tích với quy mô lớn hơn Trong trường hợp đó, nghiên cứu thường phải mở rộng ra cả ngoài hải phận quốc gia, mà đôi khi nó đòi hỏi phải có một phương thức tiếp cận mang tính quốc tế
Ranh giới về phía biển, ví dụ như ranh giới của hệ thống động lực, địa mạo
Trang 11thường được chọn ở nơi đủ sâu, nơi sự đóng góp cho quỹ bùn cát sát bờ là nhỏ Quá trình này thường xảy ra tại độ sâu nằm trong khoảng từ 25 đến 30m Nếu có hẻm núi
ở vùng nước sâu ngoài khơi, ảnh hưởng của chúng cần được tính đến như một điểm hút bùn cát Rõ ràng, các điều kiện biên thuỷ lực ở phía biển cần phải xác định một cách hợp lý nhằm phân tích được ảnh hưởng của sóng và dòng chảy từ một hệ thống vùng ven bờ lớn hơn
Ranh giới phía đất liền thường được chọn là ranh giới giữa biển và đất liền tại mức thuỷ triều cao Ở những vùng mà đồng bằng ven biển và những đụn cát có đóng góp đáng kể vào nguồn trầm tích, ảnh hưởng của chúng phải được thể hiện trong điều kiện biên Tương tự như vậy, vận chuyển bùn cát từ các con sông ra biển cũng phải được tính đến như một nguồn bùn cát Những vùng có chất lượng nước kém, cũng cần được đưa vào hệ thống xem xét một cách đầy đủ
Các quá trình vật lý ở vùng ven bờ rất phức tạp Các tương tác thường xuyên giữa hai hay nhiều quá trình cần được tính đến Nói chung, có thể phân chia ra các loại quá trình dưới đây:
- Các quá trình động lực học chẳng hạn như tương tác khí quyển - biển hoặc sự vận chuyển bùn cát do gió
- Các quá trình thuỷ động lực học như sóng, triều, mực nước và dòng chảy
- Các quá trình hình thái động lực học như tương tác giữa vận chuyển bùn cát và các thay đổi địa hình đáy biển và hình thái đường bờ
- Các quá trình địa động lực học do sự mất ổn định về địa chất như sụt lún, nâng lên của mặt đất, động đất, hoá lỏng và trượt lở
- Các quá trình sinh thái động lực học mô tả những thay đổi xảy ra trong hệ sinh thái do các quá trình /yếu tố nêu trên
Trang 12Hình 1.4: Các quá trình vật lý vùng ven bờ
1.2.3 Phân hệ kinh tế – xã hội
Theo quan niệm truyền thống, vùng ven bờ là vùng có hoạt động kinh tế xã hội mạnh nhất và cũng là vùng sản xuất lượng thực phẩm chính Nhìn chung, ranh giới của hệ thống kinh tế xã hội không đồng nhất với ranh giới của hệ tự nhiên Các hoạt động trong một vùng rộng hơn vùng ven bờ, có thể bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi trong phạm vi vùng ven bờ Việc gia tăng xâm nhập mặn do xói lở bờ biển có thể ảnh hưởng tới những vùng nông nghiệp thấp trũng rộng lớn trong nội địa Việc mất đi các bãi biển có ảnh hưởng đến các hoạt động liên quan ở những khu vực lân cận
Chưa có một hướng dẫn chung cho việc xác định ranh giới của hệ thống kinh
tế xã hội Các ranh giới này phải dựa trên cơ sở phân tích các hoạt động kinh tế xã hội hiện tại và trong tương lai ở vùng ven bờ và vùng nội địa liên quan đến nó, như trình bày trong các kế hoạch phát triển vùng và quốc gia
Trên cơ sở chức năng sử dụng khác nhau của vùng ven bờ, có thể phân ra các nhóm sau:
- Các chức năng cơ bản: sản xuất lương thực, cung cấp nước và năng lượng
- Các chức năng xã hội: Xây dựng nhà ở và giải trí
- Các chức năng kinh tế: Giao thông vận tải, phát triển công nghiệp và khai thác cát
- Các chức năng công cộng: Bảo vệ và xử lý nước, rác thải
Trang 13Hình 1.5: Ảnh hưởng các hoạt động KTXH đến hệ sinh thái biển Hiện tại và tương lai của vùng ven biển được nghiên cứu theo không gian sử dụng của các hoạt động khác nhau, hàng hoá và dịch vụ do chúng cung cấp và những giá trị kinh tế xã hội vốn có của chúng Hiện nay, nhiều nước xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu để có thể sử dụng một cách hiệu quả trong việc thể hiện các hoạt động trong hệ thống
Kết quả của nghiên cứu phân tích chính sách phải xác định được các tác động
từ chính sách đã lựa chọn lên các chức năng sử dụng Ví dụ điển hình là vùng nghiên cứu nằm ở phía Tây Nam Hà Lan, trên một vùng đồng bằng ven biển, điểm hội tụ của 3 cửa sông chính trước đây Những mâu thuẫn gay gắt nảy sinh giữa chức năng giải trí, phát triển thuỷ sản và bảo tồn sinh thái (đặc biệt là sự sống của các loài chim và hải cẩu) Chính sách ưu tiên ở đây là bảo tồn sự phát triển hệ sinh thái, trong khi hoạt động của ngành thuỷ sản và hoạt động giải trí có thể được lồng ghép vào sự phát triển đó Vấn đề này được thực hiện dựa vào các giới hạn sử dụng và việc phân vùng các chức năng sử dụng chính
1.2.4 Cơ sở hạ tầng và thể chế
Khái niệm cơ sở hạ tầng có nhiều nghĩa Nó đề cập đến các yếu tố vật chất
Trang 14như đường xá, cầu, đê chắn sóng, đê chắn cát ngoài biển v.v và cả những yếu tố liên quan đến thể chế
Phần lớn các hoạt động ở vùng ven bờ đều nhờ vào cơ sở hạ tầng và vấn đề này được xem xét trước tiên Do ảnh hưởng của các công trình vùng ven bờ đến hệ thống tự nhiên và chi phí xây dựng chúng, các công trình này là yếu tố quan trọng trong các nghiên cứu quản lý vùng ven bờ Tuỳ thuộc vào ảnh hưởng của chúng tới
hệ thống ven bờ, có thể phân chúng theo 3 nhóm sau:
- Công trình chống đỡ: bao gồm vật chất tự nhiên như cát, sỏi Chúng là tấm bình phong để chống xói lở các vùng ven bờ Các cồn cát, bãi bồi nhân tạo ảnh hưởng
ít nhất đến các quá trình tự nhiên
- Công trình bảo vệ: được làm từ vật chất có khả năng chịu lực như đất sét, đá hoặc các sản phẩm nhân tạo như bê tông Các công trình như đê, kè, tường biển được xây dựng để bảo vệ bờ biển khi gặp sóng mạnh và thuỷ triều cao Khi các công trình làm chức năng bảo vệ thì chúng cũng tác động vào các quá trình vùng ven bờ
- Công trình tác động: được thiết kế để tác động một cách tích cực đến các quá trình tự nhiên nhằm cải thiện các điều kiện cho một vài hoặc tất cả các hoạt động ven bờ Bởi thế các công trình này được xây dựng từ những vật chất nhân tạo có thể chịu được áp lực tự nhiên Ví dụ như các đê chắn sóng, đê bảo vệ bờ biển Rõ ràng kiểu công trình này có tác động mạnh đến hệ sinh thái ven biển
Cơ sở hạ tầng ở bên ngoài vùng ven bờ cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến động lực học vùng ven bờ Chẳng hạn việc xây dựng đập ngăn sông giữ lại một phần lượng nước và bùn cát vận chuyển tới vùng ven bờ Kết quả là theo thời gian, một phần bãi trước sẽ bị xói do thiếu hụt bùn cát và sau một thời gian nào đó, quá trình xói lở sẽ diễn ra
Vấn đề cần xem xét tiếp theo là những nội dung liên quan đến thể chế Quản
lý vùng ven bờ một cách hiệu quả cần đến một hệ thống kiểm soát, trong đó đưa ra các mục tiêu quản lý vùng ven bờ, giám sát quá trình thực hiện và các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn thích hợp Liên quan đến nội dung này có thể xác định được 4 hệ thống sau:
- Hệ thống chính sách: xác định các mục tiêu lâu dài quản lý vùng ven bờ và tiêu chuẩn áp dụng cho phân tích các kịch bản;
- Hệ thống luật pháp: bao gồm các công ước quốc tế, tính hiệu lực đối với việc thực thi chính sách nói trên
- Hệ thống tài chính: cung cấp nguồn tài chính cần thiết
- Hệ thống thực thi: xác định phạm vi trách nhiệm đối với tất cả các hoạt động liên quan đến quản lý vùng ven bờ
Trang 15Hình 1.6: Ảnh hưởng các hoạt động kinh tế xã hội tới vùng ven biển
Do các điều kiện lịch sử, văn hoá, hành chính, xã hội và tài chính khác nhau, mỗi nước xây dựng các hệ thống kiểm soát khác nhau Bởi vì hệ thống kiểm soát có
ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của quản lý vùng ven bờ, cho nên các đặc điểm của nó và trách nhiệm của các bên liên quan phải được nhận thức bởi chính các nhà quản lý vùng ven bờ đó
1.3 Quản lý vùng ven bờ: phân tích chính sách và hệ thống
1.3.1 Phân tích hệ thống trong giải quyết các vấn đề vùng ven bờ
Quản lý vùng ven bờ thực chất là một quá trình ra quyết định liên tục, nhằm mục đích thu hẹp khoảng cách giữa thực tế và điều mong muốn trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên biển và ven bờ Nói chung, điều này có thể đạt được nhờ một
hệ thống các quyết định/ biện pháp Việc hình thành vấn đề, xác định mục tiêu quản
lý và xây dựng các chính sách phù hợp để đạt được các mục tiêu quản lý đó, cần được tiến hành theo một quy trình hệ thống, trong đó có việc đề xuất, phân tích và đánh giá các chiến lược thông qua phương pháp phân tích hệ thống
Phân tích chính sách có thể được mô tả như một quá trình hệ thống, giúp những người lãnh đạo đưa ra quyết định xác đáng, đánh giá và lựa chọn một hành động tối ưu trong số các chiến lược khả thi khác nhau để đạt được những mục tiêu quản lý đề ra Đó là một cách tiếp cận có hệ thống và logíc với các giả thuyết, mục tiêu và tiêu chí được xác định và chỉ ra một cách rõ ràng Nó có thể hỗ trợ đắc lực người ra quyết định đưa ra quyết định đúng đắn hơn thông qua việc mở rộng cơ sở thông tin, nâng cao sự hiểu biết về hệ thống vùng ven bờ và dự đoán kết quả của một
Trang 16số phương án hành động khác nhau Cốt lõi của phân tích chính sách (phương pháp xây dựng vấn đề) chính là phân tích hệ thống Phân tích chính sách là một hoạt động giải quyết vấn đề liên quan đến các kiến thức và phương pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến, các khái niệm về các mục tiêu và công bằng xã hội, các yếu tố đánh giá và xem xét đối tượng trong bối cảnh rộng hơn và cả những điều không chắc chắn vốn có Trong quá trình ra quyết định, có thể kể ra 3 giai đoạn chính sau:
- Xác định và phân tích vấn đề
- Xây dựng các giải pháp lựa chọn
- Đánh giá và lựa chọn giải pháp tối ưu
Trong thực tế, quá trình này thường có tính chất tuần hoàn Nhiều nhà quản lý
đề xuất nhiều hoặc ít hơn các bước trong quá trình phân tích chính sách, đó là:
1 Xác định vấn đề;
2 Xác định các mục tiêu;
3 Xác định các tiêu chuẩn;
4 Xác định các giới hạn, cản trở; toàn bộ giai đoạn hình thành;
5 Xác định, xây dựng và sàng lọc phương án - một phần của giai đoạn nghiên cứu
6 Đánh giá các phương án
7 So sánh và xếp loại các phương án chính sách khác nhau và
8 Đưa ra các kết quả toàn bộ giai đoạn đánh giá và trình bày
Quá trình phân tích chính sách nói chung không phải là công việc có thể làm được ngay, mà thường phải trải qua nhiều chu trình khác nhau Do đó, mục tiêu không phải đưa ra những mô hình phân tích cứng nhắc mà phải chỉ ra, trong một phạm vi nào đó, những giai đoạn cơ bản của việc phân tích Thông qua việc làm rõ những giai đoạn này trong quá trình phân tích, có thể nhận được một hướng dẫn ban đầu về cấu trúc của việc phân tích Tuy nhiên, vấn đề cụ thể đặt ra và cản trở đối với việc nghiên cứu, cuối cùng sẽ quyết định cách tiếp cận cho việc phân tích
Mô hình phân tích định lượng thường bao gồm 4 giai đoạn cơ bản (DELFT HYDTAULIC: Hoozemans, 1991)
1 Giai đoạn khởi xướng
2 Giai đoạn thu thập và phân tích dữ liệu
3 Giai đoạn mô hình hoá
4 Giai đoạn lập kế hoạch
Sự tham vấn ý kiến của những người ra quyết định là hết sức quan trọng trong giai đoạn 1 và giai đoạn 4 Trong giai đoạn 1- giai đoạn khởi xướng, các mục tiêu và thủ tục phân tích phải được xác định Giai đoạn này sẽ đưa ra một kế hoạch công việc cho giai đoạn tiếp theo Giai đoạn 2, giai đoạn thu thập và phân tích dữ liệu và giai đoạn 3, giai đoạn mô hình hoá, yêu cầu nhà phân tích đưa ra được các thông tin chính.Giai đoạn 2 có một đặc điểm là việc sử dụng các kiến thức chuyên ngành Điều này rất cần thiết cho việc thiết kế hệ thống hỗ trợ ra quyết định Một hệ thống như vậy sẽ được áp dụng trong giai đoạn 3, với điều kiện phải có các công cụ
Trang 17tính toán đủ dùng Trong giai đoạn cuối, các phương án về chính sách được đưa ra nhằm đánh giá và sắp xếp ưu tiên Kết quả của giai đoạn này có thể là việc hình thành một hoặc nhiều chính sách hoặc chiến lược mong muốn Mặc dù có sự chuyển giao từ từ giữa các giai đoạn trên, nhưng việc tách riêng chúng là cần thiết để có thể kiểm soát được quá trình phân tích
Đối với việc thiết kế các giai đoạn liên tiếp của kế hoạch quản lý vùng ven
bờ, cần đến một số công cụ và kỹ thuật sau:
- Các bước xây dựng các kịch bản
- Kỹ thuật thu thập và xử lý dữ liệu
- Các bước xây dựng và sàng lọc các chiến lược
Kỹ thuật tiên tiến về GIS và cơ sở dữ liệu, có thể hỗ trợ công việc mô hình hoá cũng như các hoạt động xử lý sơ bộ và xử lý chi tiết Việc tổng hợp các thành phần này vào hệ thống hỗ trợ việc ra quyết định là rất có ích
1.3.2 Các loại dự án quản lý vùng ven bờ
Có nhiều loại dự án quản lý vùng ven bờ Các dự án này có thể phân biệt với nhau theo độ liên kết giữa hệ tự nhiên, các chức năng và cơ sở hạ tầng (CSHT) Chẳng hạn như:
Các hệ thống thông tin vùng ven bờ: các dự án chủ yếu được thực hiện để xây
dựng cơ sở dữ liệu và phân tích nhờ GIS
Quản lý thiên tai: Các dự án chủ yếu tập trung vào kiểm soát xói lở bờ biển
và các giải pháp bảo vệ
Quản lý chất lượng nước: Các dự án chủ yếu tập liên quan đến chất lượng
nước, hiệu ứng phân tán vật chất trong nước v.v…
Đánh giá và quy hoạch môi trường: các dự án chủ yếu liên quan đến việc xác
định các vùng nhạy cảm về môi trường, trong đó có quản lý đất ngập nước
Phát triển du lịch và kinh tế: Các dự án chủ yếu nhằm xây dựng các lợi ích và
chiến lược du lịch
Quy hoạch và quản lý tổng hợp vùng ven bờ: Các dự án chủ yếu tập trung vào
việc phân vùng sử dụng đất và các văn bản pháp quy cho vùng ven bờ
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG I
1 Hãy cho biết lịch sử ra đời ngành khoa học quản lý vùng ven bờ?
Trang 182 Thế nào là quản lý vùng ven bờ? Mục tiêu của quá trình quản lý vùng ven bờ là gì?
3 Thành công của quá trình quản lý vùng ven bờ phụ thuộc vào những yếu tố nào? Hãy phân tích các yếu tố đó
4 Hãy phân tích các giai đoạn của quá trình quản lý vùng ven bờ? Tại sao nói quản
lý vùng ven bờ là một quá trình?
5 Các thách thức trong quá trình quản lý vùng ven bờ là gì? Hãy cho ví dụ và phân tích các thách thức đó
6 Hãy cho biết một số dạng công trình vùng ven bờ?
7 Thế nào là thể chế? Thế chế vùng ven bờ gồm những hệ thống nào?
8 Vì sao cần áp dụng cận hệ thống trong quản lý vùng ven bờ? Hãy phân tích các bước ra quyết định trong quản lý vùng bờ theo tiếp cận hệ thống
9 Tại sao nói quá trình quản lý vùng bờ là quá trình phân tích chính sách và phân tích hệ thống?
10 Hãy cho biết một số loại dự án quản lý vùng bờ?
Trang 19CHƯƠNG 2 PHÂN HỆ PHI SINH VẬT: MÔI TRƯỜNG VẬT LÝ, CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN PHI SINH VẬT 2.1 Mở đầu
Chương này đề cập đến hệ tự nhiên ven bờ, nhấn mạnh vào sự mô tả các quá trình vật lý có ảnh hưởng đến hình thái vùng ven bờ Ngoài ra, các vấn đề về động học hình thái cũng được đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, các biểu diễn toán học của các quá trình thuỷ động lực học, vận chuyển bùn cát và địa động lực sẽ không được
đề cập tới
Phần giới thiệu các hệ phi sinh vật gồm 3 phần:
- Giới thiệu thống nhất các thuật ngữ về các quá trình ven biển cho các nhà vật lý hải dương, địa mạo và các kỹ sư chuyên ngành liên quan đến vùng ven bờ
Phần 2.3 tóm tắt các quá trình vật lý quan trọng nhất chi phối của các tác động hình thái động lực của bờ cát Phần lớn nội dung của phần này được tham khảo
từ cuốn Hướng dẫn nuôi bãi nhân tạo của DELFT HYDRAULICS và Trung tâm
nghiên cứu công trình dân dụng (Hà Lan) đưa ra
Phần 2.4 đề cập đến hình thái học vùng ven bờ, tập trung vào các bờ biển thẳng không bị chia cắt bởi các sông, lạch
Chương 4 giới thiệu sơ bộ về các biện pháp có thể áp dụng nhằm bảo vệ và khôi phục các đoạn bờ biển Một số công cụ mô hình hóa trình bày trong phần này
có thể dùng để nghiên cứu ảnh hưởng của các tác động tự nhiên, nhân sinh đối với hình thái vùng ven biển
2.2 Phân loại và định nghĩa về bờ biển
Hình dáng đường bờ biển hiện nay chủ yếu được quyết định bởi mực nước biển dâng do băng tan Mực nước biển sau khi băng tan không được quan trắc một cách đồng bộ dọc theo tất cả các bờ biển trên thế giới
Nhìn chung, mực nước biển hiện nay cao hơn mực nước biển cách đây 20.000 năm khoảng 130 m Tốc độ tăng mực nước biển khá lớn khoảng 8 mm/năm cho đến khoảng 7.000 năm trước đây và sau đó giảm khoảng 1,4 mm/năm đến thời điểm cách đây 4.000 năm và mực nước hầu như giữ nguyên cho đến nay
Có nhiều cách phân loại vùng bờ, song có thể chia thành hai nhóm chính như sau:
- Bờ bùn
Trang 20- Bờ cát (thạch anh, cát san hô);
2.2.1 Phân loại theo nguồn gốc tự nhiên
Trong cách phân loại theo nguồn gốc tự nhiên, 3 yếu tố quan trọng nhất được đề cập là hình dáng vùng đất, sự dịch chuyển tương đối theo phương thẳng đứng giữa đất và biển và sự thay đổi của đường bờ do các quá trình địa mạo biển
Công trình phân loại theo nguồn gốc tự nhiên được biết đến nhiều nhất là công trình nghiên cứu của Johnson năm 1925 Theo kiểu phân loại này, bờ biển có thể chia ra bốn loại:
và nổi
Nhược điểm của kiểu phân loại này là phần lớn các bờ biển đều thuộc loại bờ chìm Valentin (1952) đã đề xuất một cách phân loại khác dựa trên sự phân biệt giữa các bờ biển tiến và thoái Bờ biển tiến có thể do sự nổi lên của nó hoặc là do sự bồi lắng của bùn cát Các bờ biển thoái có thể do bị ngập hoặc bị xói lở
Shepard (1952, 1963) đã đề xuất một cách phân loại trên cơ sở kết hợp các yếu tố cơ bản nhất:
- Các bờ biển sơ cấp được hình thành do các quá trình không do biển
- Các bờ biển thứ cấp được hình thành do các quá trình của biển
Các ví dụ về bờ biển sơ cấp như bờ biển có dạng tảng băng (như vịnh Fjords
ở Na uy), các bờ biển dạng đụn cát do gió tạo nên và các bờ biển do núi lửa hình
Trang 21thành (đá) Các ví dụ về bờ biển thứ cấp như các bờ đá bị sóng cắt, bờ biển có đảo chắn và bờ biển có rừng ngập mặn
Thuật ngữ bờ biển sơ cấp dễ bị nhầm lẫn: tất cả những bờ biển đều là thứ cấp bởi vì biển tác động lên bờ sơ cấp ngay sau khi các điều kiện hình thành bờ đã
ổn định Tuy nhiên, nếu năng lượng sóng nhỏ và bờ biển có khả năng chịu đựng cao đối với tác động của biển (chẳng hạn như bờ đá gốc) thì xói lở sẽ diễn ra chậm Phần lớn các đoạn bờ biển là dạng hỗn hợp của bờ biển thứ cấp và sơ cấp Trong các phần tiếp theo, phân loại theo nguồn gốc tự nhiên của Shepard (1963) và Snead(1982) được sử dụng
2.2.2 Bờ biển sơ cấp và thứ cấp
2.2.2.1 Bờ biển sơ cấp
Nhiều bờ biển về cơ bản vẫn còn giữ được hiện trạng như lúc nó hình thành Hình dạng của bờ biển loại này không bị thay đổi do tác động của biển, mà phụ thuộc vào những gì đã xảy ra trước đây Bờ biển sơ cấp có thể chia nhỏ thành 9 nhóm:
a) Các bờ biển mà phần ngập nước bị xói mòn
Các hẻm núi ngầm dưới biển là một dạng xói mòn chính kiểu này Ví dụ về kiểu bờ biển này là hẻm núi Bahama
b) Các bờ biển mà phần đất nổi bị xói mòn
Bờ biển loại này là kết quả của sự chìm xuống của thung lũng sông hoặc do mực nước biển dâng lên hoặc do đất bị lún xuống Các thung lũng sông, được hình thành do sự xói mòn lớp mặt, bi hạ dần xuống Bờ biển thung lũng sông bị nhấn
chìm gọi là bờ biển Ria Ví dụ điển hình của kiểu bờ này là Vịnh Chesapeake Bờ
biển thung lũng băng tan bị nhấn chìm gọi là bờ biển Fjord
c) Bờ biển bồi tích vùng đất thấp do băng tan
Kiểu bờ biển sơ cấp này có hai kiểu phụ (i) Bờ biển nổi nơi vùng đất sau khi băng tan được tiếp tục nâng lên do hoạt động kiến tạo và (ii) Bờ biển chìm do ảnh hưởng của các tảng bang tan Cả hai kiểu này khá phổ biến ở Thụy Điển
d) Bờ biển vùng đất thấp có băng bao phủ
Là những vùng ở Nam Cực và Bắc Cực bị ảnh hưởng bởi những khối băng lớn, núi băng và những vùng đất bị đóng băng vĩnh cửu
e) Bờ biển bồi tích
Kiểu bờ biển này có hai loại:
- Bờ biển châu thổ được hình thành do bồi tích sông Nguồn trầm tích do sông tải ra vượt quá lượng xói lở do sóng và dòng chảy Các dạng điển hình được hình thành do tác động tương đối của dòng chảy sông và dòng ven bờ bao gồm:
¾ Dạng chân chim với nhiều nhánh như sông Misssissippi, bờ biển châu thổ Bắc Bộ và Mê Kông (Việt Nam)
¾ Dạng hình cung như sông Nile (Ai Cập)
Trang 22¾ Dạng nhọn với một dòng chính như sông Tiber
¾ Dạng phân thùy với hai lá rõ ràng như sông Rhone và sông Ebro
- Bờ biển đồng bằng bồi tích: Loại bờ biển dốc thoai thoải và thẳng với nguồn cung cấp trầm tích từ các dòng suối cận kề Hầu hết các bờ biển loại này nằm dọc các sa mạc
f) Bờ biển được bồi tích do gió
Kiểu bờ biển này bao gồm các bãi và cồn cát trong đó quá trình bồi tích do gió luôn lớn hơn xói lở do sóng.Các loại cồn cát chính là:
- Cồn cát nghiêng ra biển: là những cồn cát nhỏ liền kề và song song với bãi biển
- Cồn cát hình Parabol là những luống cát cong có mặt lõm hướng về phía bờ
- Cồn cát nhọn là những dải cát cong mà mặt hướng ra biển có độ nghiêng lớn Loại này phổ biến khi gió chỉ thổi theo một hướng
- Cồn cát ngang hướng gió là những cồn cát dài mà mặt khuất có độ nghiêng lớn, nằm song song hoặc hơi chếch so với bờ (vuông góc với hướng gió chính)
- Cồn cát dọc hướng gió là những cồn cát dài song song với hướng gió và vuông góc (hơi chếch) với bờ biển
- Cồn cát hoá thạch với cát đá vôi chỉ có ở vùng nhiệt đới
Bãi cát phẳng có thể được hình thành phía trước các cồn cát, nơi có năng lượng sóng thấp (do bị che chắn) và gió mạnh
g) Bờ biển được hình thành do đất trượt
Bờ biển kiểu này được hình thành do điều kiện ngoại lực như sóng gió, dòng chảy hoặc do các hoạt động kiến tạo làm sạt trượt các khối đất gần kề với biển
h) Bờ biển hình thành do núi lửa
Bờ biển loại này được đặc trưng bởi dòng dung nham kết thúc bất ngờ khi gặp biển hoặc dòng dung nham đổ vào biển trước khi nguội và đông cứng lại Đặc điểm điển hình loại này là có độ dốc lớn và dạng hình nón chẳng hạn như bờ biển Hawai
Bờ biển loại này là kết quả tương tác giữa các điều kiện ngoại lực với bờ biển
sơ cấp và tác động của con người Có thể phân ra 5 dạng bờ biển thứ cấp sau:
a) Bờ biển bị xói
Dạng bờ này cấu tạo từ đá mềm hoặc cát, chẳng hạn như đá cát hoặc đá vôi
bị sóng ăn mòn Quá trình ăn mòn diễn ra trên diện rộng Kiểu bờ này còn được biết
Trang 23đến như kiểu bờ có vách đá nhô ra biển
Nếu các vách đá nhô ra biển được cấu tạo từ vật chất giống nhau thì sóng có thể gây ra xói mòn theo những đường thẳng, nhưng nếu độ rắn của chúng khác nhau, thì sóng và dòng chảy sẽ tạo thành đoạn bờ lồi lõm và các phần cứng hơn sẽ nhô ra biển thành các mỏm nhọn(như ở bờ biển Costa Brava ở Tây Ban Nha) Một số bờ biển có cấu trúc phay kiến tạo bị sóng mạnh cắt dần thành những đường gần như thẳng tắp (như ở bờ biển Molakai, Hawaii)
Thông thường, các bờ biển được hình thành không theo quy luật với một số đặc điểm như vách đá, mũi đá, đôi khi có các hõm ở giữa, các thềm phẳng, động, cung, hoặc núi (các khối đá cao tách khỏi lục địa)
- Bãi biển có đầu và hông liền kề với vịnh: bùn cát bị xói từ các mũi đất lắng đọng
ở đầu phía trong và hai bên của các vịnh cạnh đó
- Bãi biển khép kín kiểu túi: được hình thành dọc các bờ đá gần cửa sông (bãi tích
tụ do sông) hoặc gần các khu vực có đá mềm bị xói mòn và bùn cát được đưa vào các vũng, vịnh nhỏ (bãi biển bồi tích)
- Bãi thẳng: được hình thành ở các khu vực có nhiều bùn cát và không có vật cản
trở quá trình vận chuyển bùn cát dọc bờ
- Cồn cát: hình thành do sóng vỗ bờ và các dòng suối nhỏ song song với bờ Mỗi
cồn cát đánh dấu vị trí đường bờ trước đó và cấu tạo từ vật chất tương đối thô (cát, sỏi, vỏ ngao, sò,…) được các cơn bão tấp vào
- Bãi phẳng: bãi rộng, phẳng được hình thành do bồi tích liên tục trong điều kiện
năng lượng thấp
Căn cứ vào điều kiện hình thành, người ta chia ra các kiểu bờ biển bồi như sau:
- Cồn cát trong vùng sóng vỡ: hình thành do bồi tích dọc bờ trong phần ngập nước
khu vực sóng vỡ (cồn cát do sóng vỡ) nằm song song, chéo, ngang hoặc uốn
cong so với bờ, đôi khi lộ ra lúc thuỷ triều xuống
- Cồn cát ngoài vùng sóng vỡ: một phần bị ngập khi thuỷ triều lên, có nguồn gốc
từ các bãi ngầm, từ từ nổi lên do các quá trình bồi tích biển Các cồn cát loại này được được gọi là các đảo chắn khi các đụn cát được tạo thành, nơi sóng và dòng chảy vận chuyển bùn cát qua thường xuyên, liên tục Cồn chắn ở đầu vịnh có thể được hình thành ở những nơi có bùn cát tải từ sông ra và được phân bố lại bởi
Trang 24dòng chảy
- Mũi đất nhô ra biển: cồn cát mà một đầu nối với đất liền và đầu kia bị ngập bởi
nước biển Các mũi đất cong nhô ra biển được hình thành do tác động của dòng
chảy chuyển hướng
- Bãi trước hình nhọn: được hình thành do sự tiến nhanh ra biển của bờ chính ở
những vùng mà sóng và dòng chảy đưa bùn cát từ hai hướng chính hoặc ở những
vùng ven bờ bị che chắn bởi các cồn hoặc đảo ngoài khơi
- Bãi nối: cồn cát nối một hòn đảo với đất liền hoặc với một hòn đảo khác Điển hình như bờ biển ở Ý và Carlifornia
- Đảo thấp: là một cồn cát hay đảo nhỏ ngoài khơi, thường nằm trên nền rạn san
hô (như ở Flirida, Australia) Trầm tích là các mảnh san hô vỡ và các loài giáp
xác Thực vật dễ phát triển khi lớp trầm tích nổi lên trên mặt nước
- Lạch triều: là kênh nước hẹp ngắn nối liền vịnh hoặc đầm phá với biển và được duy trì bởi dòng triều
- Bãi cồn bùn: là những vùng có kiểu bồi tích điển hình nằm gần cửa sông lớn như
sông Amazon, sông Mississipi Các sông này mang theo một khối lượng lớn trầm tích mịn ra biển Các bãi, cồn bùn bị thay đổi nhanh khi có bão Sóng gây ra vận chuyển bùn liên tục dọc bờ theo hướng sóng chính tạo nên các đoạn bờ bùn (Bờ biển Guyana) Thực vật ngập mặn có thể phát triển ở gần đường biên triều cao
Cồn Vành, Cồn Na, Cồn Ngạn cửa Ba Lạt (Nam Định) là ví dụ điển hình
c) Bờ biển có rạn san hô
Bờ biển kiểu này được hình thành có nguồn gốc từ san hô (chứa canxi cácbonat) sinh sống ở đáy biển và phát triển về phía bờ đến ranh giới triều Khi một cây san hô chết, cây mới phát triển lên trên nó hình thành rạn có cấu trúc là các khung canxi cacbonat cứng Xói mòn do sóng làm các mảnh san hô có thể dạt vào
bờ tạo thành bãi Các rạn san hô chủ yếu được tìm thấy ở những vùng nước ấm Có các loại rạn san hô sau:
- Rạn san hô dạng tua: được hình thành ở các chỗ nước nông gần bờ
- Rạn san hô dạng dải: cấu trúc hình cung ở độ sâu nước từ 20 m đến 50 m
- Rạn san hô chắn: bao quanh 1 đầm phá dạng dài có lạch phân bố ở các vị trí khác nhau
- Rạn san hô vòng: rạn san hô có hình vòng cung bao quanh đầm phá
d) Bờ biển có rừng ngập mặn
Các đầm với cây ngập mặn là những vùng rừng, bụi rậm ngập triều ở hầu hết các đoạn bờ bồi tích vùng nhiệt đới ẩm Phần lớn rừng ngập mặn có các loại cây và bụi rậm chịu nước mặn Rừng ngập mặn hình thành ở vùng nước cạn được bồi tích bởi bùn có nguồn gốc từ sông Ở đó các yếu tố như khí hậu nhiệt đới ẩm, nước cạn, biên
độ triều trung bình, có nhiều bùn cát mịn và năng lượng sóng nhỏ rất thuận lợi cho cây ngập mặn phát triển
Trang 25e) Bờ biển dạng đầm lầy cỏ: các đầm lầy nước mặn được hình thành trong điều kiện
bồi tích từ từ ở các lạch ven biển, cửa sông đầu vịnh nơi có biên độ triều thấp và sóng nhỏ tạo điều kiện thuận lợi cho bùn cát mịn lắng đọng Cỏ và các thực vật nổi
do ảnh hưởng của sóng và dòng chảy, mặc dù trong một số trường hợp nhất định, không thể không nói đến ảnh hưởng của gió
Vận chuyển bùn cát mạnh nhất xảy ra ở vùng gần bờ, nơi sóng bị vỡ khi truyền vào vùng nước nông Khi sóng vỡ, năng lượng sóng bị phân tán và tạo nên chuyển động rối Sóng làm tăng mực nước trung bình tại vùng sóng vỡ, gọi là sóng
vỗ bờ Một phần sóng dồn lên và rút xuống theo độ dốc bờ Khi sóng dồn lên, nước ngấm vào bãi cát và chảy xuống khi sóng rút mang theo bùn cát
Phần đỉnh của sóng vỡ tạo ra sự vận chuyển nước vào bờ Theo số liệu đo đạc, chuyển động của nước vào bờ cân bằng bởi vận chuyển ra biển của lớp nước thấp hơn thường gọi là dòng ngược Về bản chất, dòng chảy từ bờ ra biển có thể xem
là dòng dòng do sóng dồn nước vào bờ gây nên Khi sóng truyền vào bờ với một góc xiên nào đó, hiện tượng sóng vỡ sẽ tạo ra dòng chảy dọc bờ (được gọi là dòng ven bờ)
Vận tốc quỹ đạo của sóng, dòng chảy và đặc biệt là chuyển động rối của nước trong vùng sóng vỡ làm cho bùn cát bị bứt lên khỏi đáy và lơ lửng trong dòng nước Dòng chảy sẽ mang bùn cát theo hướng vuông góc với bờ biển Dòng ngược từ bờ ra biển sẽ mang các hạt bùn cát lơ lửng ra xa hơn Một quá trình vận chuyển vào bờ khác xảy ra ở lớp sát đáy do tính không đối xứng của chuyển động quỹ đạo sóng Phía ngoài vùng sóng vỡ, tính không đối xứng của sóng cũng tạo nên sự vận chuyển bùn cát vào bờ và trọng lực có thể là yếu tố cản trở quá trình đó Hình 2.1 phác hoạ các hiện tượng khác nhau diễn ra ở vùng ven bờ
Vận chuyển dọc bờ ở những vùng gần bờ chủ yếu được thực hiện bởi dòng chảy sóng và gió sinh ra Với các độ cao sóng khác nhau, sóng bị vỡ ở những độ sâu khác nhau, sinh ra dòng ven khá liên tục và tạo ra phân bố bùn cát khác nhau trên hướng vuông góc với bờ trong quá trình vận chuyển dọc bờ Dòng triều kết hợp với chiều chuyển động quỹ đạo do sóng làm cho các hạt bùn cát bứt lên khỏi đáy và sau
đó vận chuyển dọc theo bờ
Trang 26Hình 2.1 Các dạng chuyển động chính của trầm tích trong mặt vuông góc với bờ (Kraus và Horikwa, 1992)
Cân bằng giữa lượng bùn cát đến và lượng bùn cát ra khỏi mặt cắt nào đó phụ thuộc vào độ sâu và hình dáng bờ biển Sự mất cân bằng có thể là nguyên nhân dẫn đến các quá trình thay đổi tự nhiên, chẳng hạn như sự hình thành các cồn cát ngầm hay các mũi đất nhô ra biển, hoặc do tác động của con người Ví dụ khi xây các công trình như kè mỏ hàn, đê chắn sóng thường gây bồi phía trước trên đường vạn chuyển của bùn cát và gây xói lở ở các đoạn bờ phía sau Liên quan đến các quá trình động lực, hình thái học này, cần phân biệt các tác động ngắn hạn và lâu dài Chẳng hạn, do sự thay đổi theo mùa của các điều kiện thuỷ lực, có thể xảy ra dao động của bờ biển trong thời hạn ngắn, mà không nhất thiết áp dụng các biện pháp mang tính lâu dài
Hình 2.2: Mức độ thay đổi của vị trí đường bờ (Terwindt và Kroon, 1993)
Sự ổn định lâu dài của bờ biển mang tính chất ổn định động với tình trạng bất
ổn định ngắn hạn thường xuyên xảy ra Với các đoạn bờ biển thoái, hiện tượng xói xảy ra trong thời gian ngắn và kéo dài liên tục Điều này được minh hoạ trên hình 2.2
Trang 272.3.1 Sóng và các quá trình liên quan đến sóng
2.3.1.1 Đặc trưng của sóng
Luồng không khí thổi ngang mặt nước, truyền năng lượng vào nước, tạo nên
các con sóng (sóng do gió) Những con sóng này sau đó truyền trên mặt biển vào đất
liền hoặc vào khu vực nước nông, tại đây năng lượng sóng bị tán xạ hoặc sóng bị vỡ
Độ lớn của sóng do gió (sau đây được gọi đơn giản là sóng) thay đổi từ mức độ rất nhỏ (gợn sóng) đến những con sóng lớn đại dương cao tới 30 m (ở khu vực nước sâu), phụ thuộc vào thời gian gió thổi, đà gió và tốc độ gió Dưới đây là các đặc tính của sóng:
- Độ cao sóng (H): Khoảng cách theo chiều thẳng đứng từ đỉnh sóng đến bụng sóng
- Bước sóng (L): Khoảng cách theo chiều ngang giữa hai đỉnh (chân) sóng liên tiếp
- Chu kỳ sóng (T): Khoảng thời gian mà hai đỉnh (chân) sóng liên tiếp chuyển động qua một địa điểm nào đó
Sóng được phân ra hai loại là sóng trạng thái biển và sóng lừng Sóng trạng thái biển được hình thành bởi trường gió cục bộ và thường khá dốc với độ dài bước gấp 10-20 lần độ cao sóng Nếu sóng đã truyền xa khỏi nơi khởi nguồn hàng trăm thậm chí hàng nghìn dặm thì độ dốc của nó sẽ giảm Nó trở nên thấp và khá dài (bước sóng lớn gấp 30 – 500 lần độ cao sóng) và được gọi là sóng lừng Càng xa điểm khởi nguồn, độ dốc sóng càng giảm
Một nhóm sóng khác gọi là sóng triều Loại sóng này được tạo bởi lực hút
của mặt trăng và mặt trời Sóng triều thuộc loại sóng rất dài được hình thành từ đại dương và có thể truyền vào vùng biển nông khiến mực nước biển dâng và rút một hoặc hai lần trong ngày Mực triều khác nhau đáng kể ở các nơi khác nhau trên thế giới Tại một số nơi, rất khó nhận ra dao động của thuỷ triều vì độ lớn rất nhỏ (Ví dụ như Địa Trung Hải), trong khi ở một số nơi khác giá trị này có thể lên tới 7-10m (Ví
dụ ở Anchorage, Alaska)
Nhóm sóng cuối cùng là sóng thần được hình thành do động đất hoặc địa chấn dưới đáy biển Những con sóng này khá dài và chứa một năng lượng rất lớn Sóng thần rất nguy hiểm vì rất khó nhận biết khi ở ngoài khơi, nhưng tiến vào bờ với
độ cao rất lớn, thời gian rất nhanh gây thiệt hại rất lớn cho vùng bờ
Sóng do gió ở đại dương và biển nói chung không đều Lý do là gió tạo ra rất nhiều con sóng đơn, với các đặc điểm riêng biệt Các con sóng này truyền với tốc độ
và các hướng khác nhau Điều này lý giải tại sao mặt biển thường trông rất xáo động Tại một điểm nào đó, có thể có các sóng sinh ra từ các nơi khác nhau khiến cho mặt biển càng trở nên xáo động hơn
Độ cao sóng hiệu quả Hsig hoặc H1/3 được định nghĩa là giá trị trung bình độ cao của 1/3 số con sóng cao nhất Một đặc trưng khác của sóng cũng thường hay dùng là căn bậc hai độ cao sóng, Hrms được xác định như sau:
Trang 28=
= N
i i
Ngoài các đặc trưng sóng, cần biết về động học sóng Các phần tử nước dưới tác động của sóng di chuyển theo quy đạo hình tròn hoặc elip với quĩ đạo tròn gần mặt nước và chuyển sang elip khi càng xuống sâu Tốc độ di chuyển (c) của đỉnh một con sóng đơn được định nghĩa theo công thức sau:
=
Trong đó g = 9,8 m/s2 và h là độ sâu nước
Nếu sóng tiến vào bờ theo một góc nào đó với các đường đẳng sâu, nó có xu hướng thay đổi làm giảm góc này Hiện tượng này được gọi là khúc xạ sóng Khúc
xạ sóng được tạo ra bởi một thực tế là gia tốc sóng tại vùng nước nông nhỏ hơn so với vùng nước sâu Hiện tượng khúc xạ sóng không xảy ra ở vùng nước sâu bởi vì tốc độ truyền sóng ở vùng nước sâu không phụ thuộc vào độ sâu nước Khi độ sâu tương đối (độ sâu cột nước h chia cho độ dài bước sóng L) lớn hơn 0.5 được xem là vùng nước sâu Sự khúc xạ sóng mang tính thuận nghịch Sóng truyền qua một cồn cát ngầm vào lại vùng nước sâu sẽ bị khúc xạ ngược với hướng nó truyền đến
Các đặc trưng của sóng như độ cao, chu kỳ cũng thay đổi nếu sóng truyền vào vùng nước nông dưới một góc nào đó Thông thường, độ cao sóng tại điểm nước nông H1 quan hệ với độ cao sóng ở điểm nước sâu H0 như sau:
Trong đó Kr gọi là hệ số khúc xạ và Ksh là hệ số nước nông Hệ số Kr luôn luôn nhỏ hơn 1, trong khi Ksh phụ thuộc vào độ sâu và thường biến đổi từ 0,9 tại điểm nước bắt đầu nông đến 1,1 tại mép nước
Trang 29Một hiện tượng khác khi sóng truyền là nhiễu xạ sóng Hiệu ứng 3 chiều này xuất hiện như là kết quả của hiện tượng “che khuất” bởi vật cản như đê chắn sóng hay bến cảng Nhiễu xạ là hiện tượng truyền năng lượng sóng vào vùng khuất Khi đỉnh sóng vượt qua đầu vật cản, nó có hình vòng cung trong vùng khuất Nhiễu xạ đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra các cồn cát kiểu tombolo
2.3.1.3 Sóng vỡ
a Các dạng sóng vỡ
Sóng tiến vào vùng nước nông sẽ bị vỡ Quá trình này dẫn đến sóng vỡ không hoàn toàn giống nhau Một con sóng có thể phân tán năng lượng nhanh hoặc từ từ Có thể phân thành các dạng sóng vỡ sau: sóng vỡ dâng nước, sóng vỡ đổ, sóng vỡ chìm và
sóng vỡ tràn
Trên cơ sở các thí nghiệm với các bãi biển có độ dốc 1:5; 1:10 và 1:20, Galvin (1968) đã đưa ra những điều kiện sóng vỡ theo “tham số ngoài khơi”
Ho/Lotan 2α ) và “tham số trong bờ”: Hb/(gT2tanα)3
Trong đó, Ho= độ cao sóng tại nước sâu, Lo= độ dài bước sóng tại nước sâu,
Hb= độ cao sóng lúc vỡ và tanα = độ dốc bờ biển Dựa trên công trình nghiên cứu của Galvin, năm 1974 Battjes đã kết luận rằng các dạng sóng vỡ có liên quan chặt chẽ với nhau về số đồng dạng ngoài khơi ξ0:
o o
ξ0 >3: sóng vỡ kiểu dâng hoặc đổ
Người ta thường sử dụng biểu thức sau để xác định sóng vỡ:
γb = Hb/hb (2.8)
Trong đó :
γb = chỉ số sóng vỡ
Hb = độ cao sóng vỡ
hb = độ sâu tại điểm sóng vỡ
Năm 1974, Bạttjes đã sử dụng dữ liệu quan trắc của Boven (1968), Iversen (1952), Goda (1970) và đưa ra các chỉ tiêu sóng vỡ liên quan tới tham số đồng dạng ngoài khơi ξ0 Các giá trị γb quan sát được thay đổi từ 0.7-1,1 Khi ξ0 < 0.2 có thể lấy giá trị trung bình của γb = 0.8 và khi giá trị ξ0 tăng dần thì γb cũng tăng lên
b Sóng nước dâng và sóng leo
Sóng nước dâng là hiện tượng mực nước cao hơn so với trung bình tại khu vực
sóng vỡ trên đường truyền vào bờ của sóng
Trang 30Sóng leo là chiều cao lớn nhất mà sóng có thể trườn lên mái công trình kể từ điểm nước tĩnh Dưới đây sẽ đưa ra một số công thức đơn giản liên quan đến hai đặc trưng nói trên Khi 2 hiện tượng trên kết hợp với thủy triều sẽ làm mực nước thay đổi đáng
kể dãn đến sự thay đổi mặt cắt ngang bờ biển
Sóng nước dâng: Các kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đối với sóng
đều đưa đến kết luận rằng nước dâng do sóng vỡ tỉ lệ thuận với độ dốc bãi
dy
dd K dy
Trong đó: Hb là chiều cao sóng vỡ tại đường sóng vỡ
y là trục pháp tuyến với bờ biển
d là độ sâu nước,tính cả gia số mực nước tại điểm sóng vỡ
K là hằng số (phụ thuộc vào chỉ số sóng vỡ y)
Chiều cao sóng leo:
Năm 1959, Hunt đã đề nghị một công thức đơn giản về chiều cao sóng leo lớn nhất c ho mái dốc nhắn như sau:
R/H b =ξb với 0.1 < ξ <2.3 b (2.12)
Trong đó: R = chiều cao sóng leo
Hb = Độ cao sóng khi vỡ
ξb = Tham số đồng dạng đối với vùng sống vỡ = tanα/ H / b L o
Năm 1974 Battjes đã áp dụng công thức của Hunt đối với sóng ngẫu nhiên
và tìm được sự tương đồng giữa những kết quả tính toán của ông với các đo đạc trong phòng thí nghiệm
2.3.2 Dòng chảy biển và các quá trình liên quan đến dòng chảy
Dòng chảy ven bờ được tạo bởi gió, sóng, thuỷ triều, nước dâng hoặc sự thay đổi của khí hậu Phần này sẽ giới thiệu tóm tắt các quá trình đó, mà không đi sâu vào việc mô phỏng chúng bằng các phương trình toán học
Quĩ đạo chuyển động của sóng tiến không khép kín Đây chính là nguyên nhân tạo ra dòng chảy cục bộ hoặc thậm chí là dòng chảy khá lớn do gió Khi điều này duy trì trong một khoảng thời gian dài, nó có thể là tác nhân quan trọng gây nên vận chuyển bùn cát ra khơi hay vào bờ, đặc biệt là vận chuyển ra khơi, ở gần vùng
Trang 31sóng vỡ Sự tán xạ năng lượng do sóng vỡ sinh
ra chuyển động trong vùng sóng vỡ, tạo ra dòng chảy cục bộ Khi sóng vượt qua sóng vỡ, hướng vận chuyển ngang tương đối đều được duy trì (ngoại trừ ở vùng sóng vỡ, nơi có quá trình rối mạnh xảy ra) Sóng hầu hết thường tiếp cận bờ biển theo một góc nào đó Đó là nguyên nhân sinh ra thành phần dòng chảy dọc bờ Dòng dọc bờ là nguyên nhân chủ yếu gây nên vận chuyển bùn cát dọc bờ Nước từ vùng sóng vỡ tương tác với nước ở phía ngoài biển là nguyên nhân tạo ra các dòng xoáy
Vì vận tốc dòng chảy cục bộ có thể đạt tới giá trị từ 0.5 - 1.5 m/s nên rất nguy hiểm cho những người tấm biển thiếu kinh nghiệm
Dòng chảy ven bờ do thuỷ triều (đôi khi gọi là dòng triều ngang) là dòng
chính ở ngoài vùng sóng vỡ Hướng của chúng thay đổi theo từng pha triều (dòng rút hay dòng dâng) Chỗ nước càng nông thì vận tốc dòng triều tạo ra càng nhỏ do
ma sát đáy Đặc biệt, gần các cửa lạch ven bờ, các dòng chảy do sóng và thuỷ triều tương tác với nhau tạo ra bức tranh dòng chảy phức tạp
Nước dâng do bão là độ dâng mực nước do bão gây ra Do phân bố áp lực gió tăng dần từ tâm bão ra ngoài nên mặt nước biển hình thành mặt nghiêng theo nguyên lý áp lực thuỷ tĩnh theo hướng ngược lại Dọc bờ biển mực nước dâng do bão khác nhau dẫn đến mực nước biển tổng cộng khác nhau Điều đó dẫn đến sự hình thành dòng ven bờ
Gió thổi trên mặt nước tạo ra dòng chảy Điều này thấy khá rõ ở những khu vực độ sâu nước tương đối nhỏ như ở các đầm phá Phân bố theo chiều đứng của dòng chảy do gió cho thấy nó thực sự là dòng mặt vì vận tốc dòng lớn nhất ở sát mặt nước và giảm nhanh khi xuống sâu Dòng mặt thường có hướng trùng hướng gió, vận tốc bằng khoảng 2 - 3% tốc độ gió(CERC,1984) Nếu có một dòng do gió chuyển động nhanh vào bờ (ví dụ như trong giông bão) thì sẽ có một dòng ngược hướng ra biển được hình thành ở gần đáy Vì nồng độ bùn cát cao nhất thường ở gần đáy, cơ chế dòng chảy nói trên sẽ mang một lượng lớn bùn cát từ trong bờ ra biển
2.3.2.1 Phân loại và định nghĩa bờ biển
Goldsmith phân biệt 4 nhóm cồn cát cơ bản:
Cồn cát với thảm thực vật tự phát triển tại chỗ: Sự phát triển của cồn cát có
liên quan chặt chẽ với thảm thực vật Cát ở bãi biển bị giữ lại trong thảm thực vật của cồn cát Những loại thực vật đặc trưng của cồn cát (như cỏ maram) được nuôi dưỡng và phát triển bởi nguồn cát mới Một số loại thực vật có thể chịu được cát vùi sâu đến 1m Độ cao của cồn cát chỉ đến một giới hạn nhất định vì nguyên lý cân bằng giữa lượng cát bị giữ lại và sinh trưởng của thực vật trên nó
Medanos: là dạng cồn cát hình thành trên các bãi biển khô hạn, ở đó vai trò
của thực vật ít quan trọng hơn Medanos có thể dịch chuyển vào sâu trong đất liền theo các cồn ngang Độ cao của chúng lớn hơn nhiều so với cồn cát có thảm thực vật
Cồn cát nhân tạo: là dạng cồn cát tồn tại nhờ việc trồng cỏ hay làm hàng rào
Chúng không đơn thuần là những cồn cát nhân tạo vì chúng lớn lên nhờ sự tích tụ
Trang 32cát do gió thổi một cách tự nhiên cộng với ý tưởng của con người lựa chọn vị trí để giữ cát Ví dụ điển hình là các con đê tại rất nhiều nơi dọc bờ biển Hà Lan và đặc biệt là dọc bờ biển quần đảo Wadden
Cồn cát dạng parabol: thường được hình thành từ những biến cố lớn xảy ra
với bãi ngoài của bờ biển Sự phát triển của chúng có thể liên quan đến cả sự sinh trưởng của thực vật cũng như lượng cát cung cấp
Ngoài 4 nhóm cồn cát nói trên, Goldsmith còn đưa thêm khái niệm “Dải
cát” Dải cát được định nghĩa là vùng cát chủ yếu do gió tải đến, nơi không có các
cồn cát và có bề mặt nhẵn Sự tồn tại của các dải cát liên quan đến nguồn cung cấp nguồn cát, trong điều kiện sinh trưởng của thực vật không đủ sức giữ cát lại Dải cát thường hình thành trong điền kiện khí hậu khô
2.3.2.2 Các quá trình ven bi n do gió
Trong quá trình khí động lực học, gió đóng vai trò trực tiếp bứt và vận chuyển các hạt cát Năng lượng để vận chuyển bùn cát phụ thuộc vào tốc độ gió và tương tác của gió với mặt biển Bề mặt và ma sát bề mặt làm thay đổi bản chất của dòng khí và quyết định tốc độ gió gần lớp mặt
1 Lớp biên
Lớp biên là một phần của tầng đối lưu bị thay đổi bởi quá trình tải Theo định nghĩa của Stull (1988), lớp biên là một phần của tầng đối lưu, trực tiếp chịu ảnh hưởng của bề mặt trái đất chống lại các lực bề mặt với thời gian khoảng 1 tiếng hoặc nhỏ hơn Sự tải (nhiệt, ẩm, động lượng) diễn ra do chuyển động rối Chuyển động rối, gió bão tác động trên nền gió thường có thể hình dung như là các xoáy kích cỡ khác nhau, chồng lên nhau Phần lớn chuyển động rối trong lớp biên sinh ra do các tác động từ mặt đất Ví dụ sự đốt nóng mặt đất của mặt trời tạo ra những luồng khí nóng bốc lên (các xoáy lớn) Ma sát dòng khí thổi qua mặt đất là nguyên nhân hình thành các ứng suất trên bề mặt dưới dạng các chuyển động rối Các vật cản như cây cối, cồn cát làm chuyển hướng luồng gió và sinh rối tại khu vực ngay sau vật cản Khả năng vận chuyển vật chất trong chuyển động rối thường lớn hơn trong các chuyển động khuếch tán phân tử đến vài bậc Tần suất khá cao của sự xuất hiện rối gần mặt đất là một trong những đặc điểm phân biệt lớp biên với phần còn lại của khí quyển
Lớp biên trong
Khi dòng khí bị thay đổi bởi ma sát mặt, nó cần một quãng đường để thích nghi với bề mặt mới Tại vùng chuyển tiếp do ma sát đó, hình thành lớp biên trong Trong lớp biên trong, dòng gió thích ứng được với bề mặt mới Chiều cao của lớp biên trong tăng dần từ điểm có sự chuyển tiếp ma sát bề mặt Phía trên độ cao này, luồng gió vẫn thích nghi với bề mặt trước khi có sự chuyển tiếp Ở vùng đất có địa hình phức tạp, mặt cắt gió chứa một vài lớp biên trong chồng lên nhau Tốc đô gió theo chiều thẳng đứng sẽ khác nhau khi gặp địa hình này và nếu bỏ qua ảnh hưởng
Trang 33của địa hình thì sẽ rất khó phân tích qui luật của gió và dẫn đến sai số lớn do không xem xét đến ma sát bề mặt
2 Mặt cắt gió
Gió trung bình đóng vai trò chính trong sự vận chuyển ngang (hay chuyển động đối lưu) Ma sát làm tốc độ gió trung bình giảm đáng kể ở gần mặt đất Trên một bề mặt đồng nhất, vô hạn và ở điều kiện bình thường, mối quan hệ giữa tốc độ gió theo độ cao tuân theo quy luật có tên gọi là “Luật tường chắn” Vì tốc độ gió tăng theo logarit của độ cao nên mối quan hệ này còn được gọi phân bố dạnglogarit
o z
z
z K
z
z K
U
Trong đó Ψm là tham số ổn định không thứ nguyên, phụ thuộc vào độ cao và
độ dài Obukhov L, một hàm của sự biến thiên nhiệt độ gần bề mặt Trong trường hợp mặt cắt gió dạng logarit, mối quan hệ giữa tốc độ gió và logarit của độ cao là tuyến tính và phụ thuộc vào vận tốc ma sát U*, độ cao nơi tốc độ gió bằng 0 và độ dài nhám zo Thường trên bãi biển rộng, mặt cắt gió được xem là có phân bố dạng logarit Khi tốc độ gió được ghi lại ở một vài độ cao, các tham số mặt cắt gió như U*
và zo, thường nhận được nhờ các tính toán hồi qui tuyến tính giữa tốc độ gió và logarit của độ cao Trong trường hợp các điều kiện ổn định (nhiệt độ tại bề mặt < nhiệt độ tại độ cao z, chuyển động không khí theo chiều thẳng đứng bỏ qua) hoặc không ổn định (nhiệt độ tại bề mặt > nhiệt độ tại độ cao z, chuyển động theo chiều thẳng đứng là đáng kể) Các tính toán này sẽ dẫn đến kết quả sai
3 Dòng khí
Thường trên mặt đất, mặt cắt gió không có dạng chuẩn logarit và sự sai khác này phụ thuộc vào địa hình và độ nhám bề mặt Khi dòng khí đi ngang qua các cồn cát, phân bố tốc độ gió từ chỗ ổn định khi ở trên bãi biển sẽ bị xáo trộn khi đi qua cồn cát Các thay đổi của địa hình làm tăng tốc độ gió trên đỉnh và mặt phía biển của các cồn cát và làm giảm tốc độ đó ở dưới chân cồn cát và mặt khuất gió của cồn cát
Sự tăng độ nhám về phía đất liền do mật độ thực vật tăng cũng làm giảm tốc độ gió
Vì vậy, tốc độ gió dọc theo một mặt cắt sẽ rất khác nhau, phụ thuộc vào mức độ tăng hay giảm của nó Sự thay đổi này có vai trò quan trọng đối với vận chuyển trầm tích
do gió Sự tăng hay giảm tốc độ gió còn phụ thuộc cả vào hướng gió Nếu gió vuông góc với cồn cát thì tác động của địa hình lên dòng khí đạt giá trị cực đại, nếu gió xiên độ dốc cồn cát giảm và vì vậy ảnh hưởng cuả nó đến dòng khí sẽ nhỏ hơn Những cồn cát cao thậm chí có thể làm cho dòng khí bị chuyển hướng tạo ra gió ở gần chân cồn cát và song song với nó Trường hợp này, vận chuyển cát vào phía đất liền bị giảm đáng kể
Trang 342.3.3 Vận chuyển trầm tích do gió
Có hai tham số cơ bản kiểm soát lượng vận chuyển trầm tích do gió Tham
số thứ nhất là năng lượng làm cho trầm tích chuyển động, nó có quan hệ với vận tốc
ma sát gần măt đất Tham số thứ hai là lực dính kết giữa các hạt trầm tích, quyết định lượng năng lượng cần thiết để bắt đầu hay duy trì chuyển động của hạt
2.3.3.1 Sự bứt lên của hạt cát
Các hạt cát sẽ chuyển động dưới tác động của gió, khi các lực nâng, kéo, mô men vượt quá trọng lượng bản thân các hạt rời rạc hoặc nhóm hạt dính kết với nhau Khi các lực nâng kéo tăng sẽ xuất hiện vận tốc ma sát tới hạn U* (Bagnold, 1941) Khi các hạt đã chuyển động, vận tốc cần thiết để duy trì chuyển động sẽ thấp hơn với vận tốc tới hạn nói trên do sự truyền động lượng của chính các hạt chuyển động này Vận tốc ma sát cần thiết để duy trì sự vận chuyển cát được gọi là ngưỡng động lực
2.3.3.2 Mô hình vận chuyển trầm tích
Các hạt cát có thể chuyển động theo kiểu lăn, trượt, nhảy hay bay lơ lửng (Anderson và những người khác năm 1991) Trường hợp lăn, hạt cát vẫn tiếp xúc với bề mặt Nhảy là hình thức vận chuyển mà hạt cát được nâng lên khỏi bề mặt di chuyển lên phía trước rồi lại rơi xuống bề mặt Trong trường hợp các hạt bị bứt ra khỏi bề mặt, nhưng nhận được quá ít động lượng thì chúng di chuyển theo kiểu trượt Trong hình thức vận chuyển theo kiểu nhảy (theo Jensen và Sorensen năm 1983), quỹ đạo của các hạt cát được xác định qua mặt cắt gió trung bình, trong khi vận chuyển theo kiểu nhảy biến dạng (theo Nalpanis năm 1985), các quỹ đạo bị biến đổi do các đặc trưng rối của gió Tuy nhiên, hầu hết động lượng nâng hạt đều nhận được từ tác động thường xuyên lên đáy cát Chuyển động lơ lửng là dạng chuyển động của các hạt cát nhỏ hơn được nâng lên khỏi mặt đáy bởi các cơn gió mạnh thổi theo chiều thẳng đứng và được vận chuyển đi một khoảng cách khá xa mà không có bất kỳ một tương tác nào với bề mặt
Khi cát chuyển động đến cồn cát trên bãi, các thay đổi về độ nhám và địa hình sẽ tạo ra dòng rối và vì vậy sẽ làm thay đổi quỹ đạo chuyển động của hạt cát Mặt khác, sự hiện diện của cồn cát buộc dòng khí chuyển động lên cao và một lượng cát nhỏ được bốc lên theo luồng gió và di chuyển theo hướng quỹ đạo hạt lớn hơn thông thường Không tiếp xúc với mặt đất, lượng cát này vượt qua một khoảng cách khoảng vài chục mét tính từ đỉnh cồn cát Trên đỉnh cồn cát, ảnh hưởng của sự thay đổi địa hình không còn nữa và các hạt cát dần dần sẽ rơi xuống tại một khoảng cách nhất định nào đó phụ thuộc vào tốc độ gió
2.3.3.3 Các tham số giới hạn
Sự bứt lên của các hạt cát phụ thuộc vào các tính chất vật lý của chúng Ở đây, ta chỉ đề cập đến những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến các tính chất của các hạt, tức là ảnh hưởng trực tiếp đến vận tốc tới hạn của hạt Thứ nhất là các đặc trưng như kích cỡ hạt, mật độ, hình dạng, sự sắp xếp của chúng và thành phần khoáng chất
Trang 35của cát Thứ hai là các điều kiện môi trường và khí tượng ảnh hưởng đến các lực dính kết giữa các hạt Các yếu tố môi trường bao gồm độ ẩm đất (liên quan đến nước ngầm) và các tác nhân liên kết như chất hữu cơ, tảo hoặc muối Các yếu tố thời tiết như lượng mưa, độ ẩm không khí và sự bốc hơi Do sự tương tác của các yếu tố trên rất mạnh và phức tạp nên việc tiến hành nghiên cứu định lượng là rất khó
Các phương trình vận chuyển
Nói chung vận chuyển cát do gió liên quan đến sức gió Hầu hết các phương trình vận chuyển được biểu thị qua vận tốc ma sát Trong một số phương trình, vận tốc ma sát được thay thế bằng vận tốc gió theo luật logarit
a Phương trình Bagnold
Phương trình vận chuyển nổi tiếng nhất do Bagnold xây dựng năm 1941 Phương trình này có thể dự báo được dòng cát vận chuyển dưới hình thức lăn và nhảy với các tham số như kích cỡ hạt, mật độ, trọng lực, vận tốc ma sát và một số tham số lựa chọn khác Phương trình này không cho độ chính xác cao khi tốc độ gió thấp hơn tốc độ ma sát tới hạn, nên kết quả tính toán vận chuyển cát trong vùng ven
bờ thường lớn hơn lượng vận chuyển thực tế
sự kiện diễn ra ngắn hạn, khoảng vài tiếng hoặc vài ngày, nhưng thường là rất nhỏ hoặc thậm chí bằng 0 Kết hợp phương trình vận chuyển với phân bố tần suất gió tại một vùng cụ thể, có thể tính được vectơ chuyển động tiềm năng (PDV) Đối với môi trường ven bờ, trong điều kiện khí hậu ôn hoà, giá tri của PDV nói chung nhỏ và chỉ nói lên tầm quan trọng tương đối của các khu vực gió khác nhau đối với sự sinh ra tổng lượng trầm tích
Sự hình thành cồn cát
Nói chung, sự phát triển của các cồn cát ven biển bị chi phối bởi nguồn năng lượng, nguồn bùn cát và các công trình ngăn, chắn cát Năng lượng sinh ra do chế độ gió hiện hành và hướng của đường bờ, cả hai quyết định loại gió và vận tốc gió tác động vào bờ Các công trình ngăn giữ cát phụ thuộc vào sự có mặt của lớp phủ thực vật trong hệ thống khí hậu vùng ven biển Sự tiến triển địa mạo cụ thể của các cồn cát liên quan đến cả sự cung cấp nguồn cát và khả năng giữ cát của thực vật
Trang 36Tại vùng ven biển, cồn cát được xem là điểm tích lũy cát Tuy nhiên, trong quá trình biển tiến, các cồn cát lại là nguồn để biển lấy cát đi Dọc theo bờ biển Hà Lan, quỹ bùn cát nói chung cân bằng Ở một số nơi, các cồn cát nhận được thêm cát, trong khi ở một só nơi khác, chúng lại bị lấy bớt đi Hầu hết các cồn cát ở Hà Lan khá ổn định, việc mất cát do biển tiến nói chung không xảy ra Ở các nước mà độ cao mặt đất thấp hơn mực nước biển như Hà Lan, các cồn cát đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển
Kiểu hình thành cồn cát
Có thể phân biệt hai cách thức hình thành cồn cát, một liên quan đến nguồn cát và một liên quan đến động lực ven bờ Khi cát mới được vận chuyển đến bãi biển và tích tụ trên các cồn, chúng hình thành cồn cát sơ cấp (chưa có trước đây) Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết lượng cát này được tách ra từ những cồn cát bị xói mòn ở những nơi khác Sự suy tàn của các cồn cát do lớp phủ thực vật bị tiêu diệt,
do xói lở hay ảnh hưởng của khí hậu làm cho cát tiến sâu vào đất liền tạo nên các cồn mới ở bãi trong Các cồn cát mới hình thành kiểu này được gọi là cồn cát thứ cấp
Khi giá trị trung bình của quĩ trầm tích của cồn cát là dương, thì bờ biển có
xu hướng tiến ra phía biển hay các cồn cát mới hình thành bên ngoài các cồn cũ Đây là hình thức hình thành cồn cát luỹ tiến Ngược lại, nếu quĩ trầm tích có gía trị
âm hay các cồn cát bị thu hẹp lại do biển lấy mất cát Trong trường hợp này, bề mặt của cồn cát luôn bị phơi ra trước gió sẽ là nguồn cung cấp cát để di chuyển sâu vào phía đất liền Chân cồn cát sẽ bị đẩy lùi và đó là sự thoái hóa của các cồn cát
2.3.3.4 Vận chuyển bùn cát do sóng và dòng chảy
a Công thức CERC
Những ý tưởng của Watts(1954), Inman và Bagnold(1963) là tiền đề của việc ra đời công thức nổi tiếng CERC Cách tiếp cận ở đây dựa trên cơ sở bảo toàn năng lượng và mối quan hệ của vận chuyển bùn cát với năng lượng được giải phóng khi sóng vỡ Theo quan điểm của Bagnold, bùn cát chuyển động do sự tương tác giữa các hạt với nhau (vận chuyển đáy) và do dòng chảy thông qua cơ chế khuyến tán rối (vận chuyển lơ lửng) Về mặt nguyên tắc, Bagnold xác định phần năng lượng của dòng chảy gây nên vận chuyển đáy và lơ lửng dưới dạng các tham số hiệu suất
áp dụng cho dòng dao động, Bagnold lý luận rằng tốc độ tán xạ năng luợng cục bộ là nguyên nhân chính khuấy bùn cát lên và nó bị đưa đi bởi dòng chảy, chẳng hạn như dòng ven bờ là dòng bùn cát được vận chuyển dọc bờ biển
Một số mô hình vận chuyển trầm tích dọc bờ được xây dựng dựa trên quan điểm nêu trên và công thức CERC được áp dụng rộng rãi nhất Trên thực tế, công thức CERC giả định mối quan hệ tuyến tính giữa dòng năng lượng sóng dọc bờ do sóng vỡ và sự vận chuyển bùn cát dọc bờ
S = AH02c0Krb2 sinΦb cosΦb (2.15) Trong đó :
Trang 37S = Lượng vận chuyển dọc bờ do sóng vỡ
A = Hằng số thay đổi theo đơn vị của S
H0 = Độ cao sóng ngoài vùng nước sâu
C0 = Vận tốc sóng ngoài vùng nước sâu
Krb = hệ số khúc xạ tại đường sóng vỡ
ϕb = Góc hợp bởi đường đỉnh sóng và đường bờ
Nhiều giá trị khác nhau được đề nghị đối với hằng số A và thường phụ thuộc vào việc chọn tham số độ cao sóng hữu hiệu H0 Nếu H0 nơi nước sâu được áp dụng thì giá trị của A thường được lấy là 0.025, mặc dù đôi khi không tìm được giá tri thực của A Lý do là do sự thiếu chính xác của các dữ liệu liên quan đến sóng cũng như vận chuyển cát dọc bờ dùng trong mô hình Hơn nữa,công thức CERC không tính đến sự khác nhau về kích cỡ của hạt bùn cát
Có thể thấy rằng công thức CREC chỉ có hiệu lực đối với các bờ biển dài và thẳng vì ở những nơi này sự khác nhau của độ cao sóng lúc vỡ rất nhỏ Hơn nữa công thức không tính đến các dòng chảy sinh ra không phải do sóng vỡ, ví dụ như dòng triều Nếu các dòng c nhảy ngoài sóng là đáng kể thì cần sử dụng các công thức khác tính toán sự vận chuyển bùn cát ven bờ
b Công thức Bijker
Để xây dựng mô hình vận chuyển bùn cát dọc bờ có tính đến ảnh hưởng của dòng triều và các loại dòng khác, phải kết hợp công thức vận chuyển với mô hình dòng chảy dọc bờ Năm 1967, Bijker đưa ra một công thức vận chuyển đáy do sóng
và dòng chảy dựa trên công thức vận chuyển đáy chỉ do dòng chảy của Balinske - Frịlink Một công thức liên quan đến sự gia tăng của ứng suất đáy do sóng đã được xây dựng Sau đó vào năm 1986, Bijker đã bổ sung vào công thức vận chuyển đáy
sự phân bố của các hạt lơ lửng trên cơ sở sử dụng phân bố bùn cát theo chiều thẳng đứng của Eintein - Rouse
Năm 1981, Bailand phát triển ý tưởng của Bagnold và đưa ra một mô hình tổng vận chuyển bùn cát đáy và lơ lửng đối với dòng chảy biến đổi theo thời gian trên đáy dốc phẳng Cũng giống như mô hình của Bailand và Inman,vận chuyển bùn cát sát đáy liên quan đến vận tốc dòng chảy sát đáy Lớp sát đáy là nơi mà phân bố vận tốc được coi là có dạng logarit Hơn nữa, mô hình này dựa trên lý thuyết vận chuyển tổng thể bởi dòng chảy của Bagnold để mô tả tổng vận chuyển trung bình theo thời gian Bailand đã phát triển mô hình này cho vùng sóng vỡ với giả thiết dòng ven bờ ổn định và cân bằng trong hệ thống bờ và ngoài khơi Công thức vận chuyển bùn cát dọc bờ được xây dựng với giả thiết rằng bờ biển ở trạng thái cân bằng cục bộ theo hướng giao bờ Kết hợp với mô hình của Ostendonf và Madsen đối với dòng dừng dọc bờ được xác định là hàm của các đặc trưng sóng tới
Năm 1985,Van Rijn đã xây dựng công thức tính toán vận chuyển trầm tích bởi sóng và dòng chảy dựa trên một khối lượng lớn số liệu đo đạc nồng độ bùn cát
lơ lửng cả trong phòng thí nghiệm cũng như trên hiện trường.Các công thức tính
Trang 38toán tiếp theo về vận chuyển bùn cát lơ lửng được giải bằng phương pháp số trị bởi
vì chúng là nhưng phương trình mô tả sự khuyếch tán bùn cát theo chiều thẳng đứng Tiếp theo công thức tính toán vận chuyển trầm tích lơ lửng, một công thức tính toán vận chuyển bùn cát đáy cũng được đưa ra
Các công vận chuyển nêu trên (CERC, Bijker, Bailand và Van Rijn) chỉ là một số công thức được lựa chọn trong số rất nhiều công thức đã được xây dựng Không một công thức nào đưa ra kết quả chính xác về vận chuyển bùn cát Thông thường, tính toán và thực đo về bùn cát có thể sai khác nhau đến hai, ba lần
2.3.3.5 Vận chuyển bùn cát ngang bờ (vuông góc với bờ)
Năm 1968, Bakke đưa ra một mô hình tính toán sự tiến triển bờ biển, trong
đó ông mô tả bờ biển bằng 2 đường, gọi là ”bờ ngoài” và “bờ trong” Sau đó, ông giả định rằng sự vận chuyển ngang bờ giữa hai đường này, tại bất kỳ thời điểm nào cũng tỉ lệ thuận với sự chênh lệch giữa dạng mặt cắt bờ cân bằng và dạng mặt cắt thực tế
Phương trình vận chuyển ngang bờ có thể viết như sau:
Sy= sy (y1-y2+w) (2.16) Trong đó :
Sy:lượng vận chuyển ngang bờ
sy: hằng số vận chuyển ngang bờ
W:khoảng cách cân bằng giữa bờ ngoài và bờ trong
y1, y2: toạ độ nằm ngang dọc bờ và vuông góc với bờ
Xuất phát từ công thức trên, Swart (1974) đã tiến hành phân tích kỹ lưỡng các số liệu đo đạc về sự tiến triển mặt cắt bãi Trên cơ sở đó, ông rút ra được các công thức cho Sy và W như là các hàm của độ cao sóng, chu kì sóng, kích cỡ hạt cát
và vị trí của chúng trong mặt cắt Hầu hết, các dữ liệu của ông liên quan đến đo đạc trong mô hình tỉ lệ nhỏ với sóng đều và như vậy sóng thứ cấp chắc chắn sẽ tác động đến sự tiến triển của mặt cắt Hơn nữa, các mặt cắt liên tục bị xói, nghĩa là công thức thực nghiệm của Swart chỉ áp dụng được đối với vận chuyển theo hướng ra khơi
Năm 1948, Stive và Battjes cũng đã xây dựng một mô hình vận chuyển bùn cát ra khơi Trong mô hình này, các công thưc được thiết lập đối với dòng chảy từ
bờ ra khơi, nồng độ bùn cát, vận chuyển cát ra khơi và sự thay đổi địa hình đáy biển Đồng thời mô hình này cũng được mở rộng bằng việc đưa các công thức vận chuyển vào bờ do tính không đối xứng của chuyển động quỹ đạo sóng Với mục đích này,
mô hình do Bailard xây dựng (1981) được sử dụng Như vậy mô hình mới bao gồm vận chuyển vào bờ và ra khơi do tính không đối xứng của sóng và ảnh hưởng của sóng và ảnh hưởng của độ dốc đáy đối với vận chuyển trầm tích ngang bờ
2.4 Địa mạo bờ biển
2.4.1 Phạm vi không gian và thời gian trong nghiên cứu địa mạo bờ biển
Trang 39Sự tiến triển của địa mạo là kết quả tất yếu của những thay đổi của vận chuyển bùn cát theo không gian và thời gian (Steetrel, 1993) Khi sự vận chuyển bùn cát giảm thì đáy biển sẽ nâng lên và ngược lại khi vận chuyển trầm tích tăng thì nó
sẽ bị xói Ở khu vưc bờ biển, sự tiến triển địa mạo thường được phản ánh bằng sự thay đổi vị trí đường bờ mà là yếu tố quyết định cho việc tiến hành các biện pháp chống xói lở bờ biển
Như đã đề cập ở trên, sự tiến triển địa mạo có thể phân thành hai loại - dài hạn và ngắn hạn Sự phân biệt rõ ràng giữa hai loại tiến triển này theo quan niệm thời gian là không tồn tại Tuy nhiên, khi nghiên cứu sự xói lở bờ biển và những biện pháp bảo vệ tương ứng, người ta thường nghĩ đến khoảng thời gian (vài năm) Phạm vi thời gian đối với sự tiến triển ngắn hạn có thể rất khác nhau Đôi khi, sự thay đổi về địa mạo trong một cơn bão lại rất đáng kể, trong khi thay đổi điều kiện sóng hàng năm lại chỉ có thể dẫn đến những thay đổi điạ mạo mang tính ngắn hạn (thay đổi theo mùa)
Để đưa ra được quyết định liên quan đến các biện pháp bảo vệ bờ biển, việc xem xét những diễn biến dài hạn rất quan trọng, mặc dù quyết định đó được thực hiện đối với sự tiến triển ngắn hạn Ví dụ, bờ biển về lâu dài có thể bị xói lở, nhưng
vị trí của đường bờ vẫn còn ổn định trong những điiêù kiện bình thường Tuy nhiên một cơn bão có thể gây ra những ảnh hưởng tức thời, thu hẹp bãi biển hay gây xói lở các đụn cát ở mức không chấp nhận được; vì vậy cần có ngay các biện pháp bảo vệ
bờ biển Điều này có nghĩa là xói lở bờ biển dài hạn sẽ làm cho bờ biển không còn khả năng duy trì được sự thay đổi ngắn hạn
Rõ ràng, tổ hợp của sự xói lở gây ra bởi cả các hình thức vận chuyển dọc bờ
và giao bờ hoàn toàn có thể xảy ra
Nói chung, những diễn biến bất lợi dài hạn diễn ra từ từ, nhưng liên tục (từng năm) gây ra tình trạng xói lở không thể phục hồi của bãi biển và các cồn cát Ngược lại với xói lở dài hạn, xói lở ngắn hạn diễn ra không thường xuyên do
sự kiện nguy hiểm ít xảy ra (như nước dâng do bão và các trận bão biển) Hơn nữa, những thay đổi đáng kể của mặt cắt bờ biển trong trường hợp đó chỉ giới hạn ở những phần trên cao của mặt cắt như bãi và cồn cát và chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian rất ngắn (giờ,ngày)
Trong trường hợp không có sự thay đổi vận chuyển bùn cát dọc bờ hay tổng khối lượng bùn cát nằm giữa hai mặt cắt sẽ không đổi, mặc dù có sự biến đổi mặt cắt sau bão do xói lở cục bộ trên bề mặt cồn cát
Trong hầu hết các trường hợp, sự xói lở này chỉ tạm thời và mặt cắt bãi biển
sẽ dần đần được phục hồi sau bão mà về nguyên tắc ít nhiều ở dạng cân bằng
Các vấn đề liên quan đến xói ngắn hạn
Ngay cả bờ biển ổn định (không có sự xói lở dài hạn) sự biến đổi động lực mặt cắt ngang bờ do các thay đổi ngắn hạn có thể dẫn đến các vấn đề về an toàn, thậm chí là sự phá huỷ các cồn cát và ngập lụt các vùng đất ngay sau chúng Điều
Trang 40này ảnh hưởng đến các hoạt động khác trong khu vực đụn cát, ví dụ như các điểm vui chơi, các toà nhà, khu vực đỗ xe, các nguồn nước uống v.v…
Như đã nói ở trên, sự di chuyển ngang bờ dẫn tới sự thay đổi mặt cắt bờ là nguyên nhân chủ yếu gây ra những thay đổi ngắn hạn ở vùng bờ, trong khi sự tiến triển dài hạn của vùng bờ chủ yếu chi phối bởi sự chênh lệch lượng vận chuyển dọc
bờ Vì vậy, cần phải chú ý trước hết đến sự thay đổi của mặt cắt bờ Sau đó sự tiến triển địa mạo dài hạn sẽ được nghiên cứu và xử lý
2.4.2 Mặt cắt bờ biển và sự tiến triển địa mạo ngắn hạn
Dạng mặt cắt bờ biển và những thay đổi trong thời đoạn ngắn chủ yếu bị chi phối bởi vận chuyển bùn cát ngang bờ Vận chuyển bùn cát ngang bờ và mặt cắt bờ biển có liên quan chặt chẽ với chuyển động của sóng, sự thay đổi trạng thái sóng Sự thay đổi này phổ biến nhất ở khu vực gần bờ, nơi mà vận chuyển ngang bờ là lớn nhất
Loại mặt cắt bờ biển
Trong những thập kỷ qua, đã có rất nhiều nghiên cứu về sự tiến triển mặt cắt
bờ biển dưới tác động của sóng Các nghiên cứu này tập trung vào các mặt cắt cân bằng với một số đặc điểm liên quan đến chế độ sóng và tính chất của bùn cát Loại mặt cắt đã phát triển được quan tâm rất nhiều và sự khác nhau giữa mặt cắt dạng cồn
và dạng bậc thang đã được nghiên cứu khá tỉ mỉ
Mặt cắt dạng cồn được định nghĩa là mặt cắt xói và mặt cắt dạng bậc thang
là mặt cắt bồi Trong các tài liệu, mặt cắt dạng cồn còn được gọi là mặt cắt mùa đông hay mặt cắt do bão, trong khi mặt cắt dạng bậc thang – gọi là mặt cắt mùa hè hay mặt cắt thông thường Điều đó có nghĩa là, mặt cắt dạng cồn cao có thể tìm thấy trong khi hoặc ngay sau bão do vận chuyển ra khơi sinh ra, trong khi đó, mặt cắt dạng bậc thang được tạo thành trong các thời kỳ sóng trung bình và do vận chuyển vào bờ sinh ra
Năm 1973, Dean đã phát hiện ra rằng độ dốc của sóng, nguyên nhân gây nên
sự khác nhau của mặt cắt dạng cồn và mặt cắt dạng bậc thang thay đổi phụ thuộc vào tỉ lệ vận tốc lắng của bùn cát (w) trên tham số nước sâu Co = Lo/T, như vậy
Ho/L0 = C.w/C0 Có thể viết lại công thức đó như sau: H0(wT), trong đó w là tốc độ lắng chìm của hạt kích cỡ trung bình D50 Dean kết luận rằng C = 0.85 và được Allen khẳng định vào năm 1985
Theo tài liệu hướng dẫn bảo vệ bờ biển (1984) có thể giả định rằng xói lở thường xảy ra với C >1, còn bồi lắng C <1 Trong mối liên hệ này, có thể thấy cuốn tài liệu nói trên đã tách nó khỏi quan điểm cho rằng sự hiện diện của các gờ, hào đặc trưng cho mặt cắt bồi và sự hiện diện của cồn cát đặc trưng cho mặt cắt xói Trên một bãi biển bồi, có thể không thấy gờ và hào, trong khi các còn cát gần bờ lại không trực tiếp thể hiện đó là bờ xói Battjes(1974) đã chỉ ra rằng các cồn cát có mối quan hệ phức tạp với quá trình sóng vỡ
Hình dáng của mặt cắt bờ biển