1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông

190 5,1K 41
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 4,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình này được biên soạn nhằm cung cấp cho sinh viên, học viên cao học và những người sử dụng các kiến thức chủ yếu về quản lý tổng hợp tài nguyên nước và quản lý tổng hợp lưu vực s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI Nguyễn Văn Thắng, Phạm Thị Ngọc Lan

Giáo trình QUẢN LÝ TỔNG HỢP LƯU VỰC SÔNG

Hà Nội, 2010

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay vấn đề quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước và môi trường các lưu vực sông là yêu cầu rất cấp thiết đang được sự quan tâm rất lớn trên thế giới và cả ở nước ta Để thực hiện chúng ta phải từng bước chuyển đổi từ quản lý TNN truyền thống sang quản lý TNN theo phương thức tổng hợp và việc quản lý TNN phải theo lưu vực sông

Quản lý tổng hợp lưu vực sông là một môn học mới được xây dựng để giảng dạy cho sinh viên một số chuyên ngành của Trường Đại học Thuỷ lợi trong khuôn khổ dự án

Hỗ trợ tăng cường năng lực cho Trường Đại học Thuỷ lợi do chính phủ Đan Mạch tài trợ

Giáo trình này được biên soạn nhằm cung cấp cho sinh viên, học viên cao học và những người sử dụng các kiến thức chủ yếu về quản lý tổng hợp tài nguyên nước và quản

lý tổng hợp lưu vực sông, trong đó ngoài khía cạnh kỹ thuật, giáo trình còn đề cập đến khía cạnh quản lý cũng như cải tiến và phát triển thể chế chính sách trong quản lý TNN

và quản lý lưu vực sông

Quản lý lưu vực sông là môt lĩnh vực đang phát triển rất mạnh trên thế giới trong mấy thập kỷ gần đây Trên thế giới có rất nhiều kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm ứng dụng được trình bày trong các hội thảo khoa học và các tạp chí chuyên ngành, tuy nhiên chưa có một giáo trình hoàn chỉnh nào của môn học này được xuất bản chính thức Cũng

vì thế, chúng tôi đã dựa trên tổng hợp các tài liệu tham khảo hiện có, tiếp cận các kiến thức mới của thế giới về quản lý lưu vực sông, kết quả của các đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước cũng như kinh nghiệm thực tế để biên soạn giáo trình này

Giáo trình gồm 6 chương do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng biên soạn, trong đó có sự tham gia của Thạc sĩ Phạm Thị Ngọc Lan viết mục 4.2 chương 4

Quản lý tổng hợp lưu vực sông là môn học mới, hơn nữa đây là lần viết đầu nên giáo trình không thể tránh khỏi còn có các sai sót Chúng tôi mong muốn nhận được các ý kiến đóng góp của những người sử dụng để tiếp tục hoàn thiện giáo trình này đáp ứng yêu cầu giảng dạy môn học trong nhà trường cũng như các yêu cầu của thực tế sản xuất

Trang 4

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBN Cân bằng nước CTTL Công trình thuỷ lợi ĐTM Đánh giá tác động môi trường ĐTM CL Đánh giá tác động môi trường chiến lược KTKT Kinh tế kỹ thuật

KTTV Khí tượng thuỷ văn KTXH Kinh tế xã hội PTBV Phát triển bền vững

PTTNN Phát triển tài nguyên nước

QLTH Quản lý tổng hợp QHTL Quy hoạch Thuỷ Lợi QLLV S Quản lý lưu vực sông

QLKTCTTL Quản lý khai thác công trình thuỷ lợi

TNN Tài nguyên nước TCLVS Tổ chức lưu vực sông UBND Uỷ ban nhân dân VBMT Ven biển Miền Trung

Trang 5

VIẾT TẮT TÊN CÁC TỔ CHỨC CƠ QUAN

ADB Ngân hàng Châu á CSD Hội đồng Liên Hiệp quốc về phát triển bền vững

ĐHTL Đại học Thuỷ Lợi

ESCAP Tổ chức Kinh tế văn hoá khu vực Thái Bình dương

FAO Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới

GIS Hệ thông tin địa lý

GWB Cộng tác vì nước toàn cầu

IWWI Viện quản lý tài nguyên nước quốc tế

IUCN Hiệp hội thế giới bảo vệ tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên KHCN&MT Khoa học Công nghệ và Môi trường

KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

LHQ Liên Hợp quốc

TNMT Tài nguyên môi trường

UNDP Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc

UNEP Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc

YRCC Uỷ ban bảo vệ sông Hoàng Hà

WB Ngân hàng thế giới

WCED Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển

WWC Hội đồng nước thế giới

WCD Hội đồng thế giới về đập

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 4-1 Một số mô hình mô phỏng hệ thống sông

Bảng 4-2 Các chất ô nhiễm chủ yếu và nguồn gốc của chúng

Bảng 4-3 Các phần tử chất lượng nước tính toán được bằng mô hình

QUAL2E Bảng 6-1 Chức năng quản lý có liên quan đến tài nguyên nước của

một số Bộ

DANH MỤC HỘP

Hộp 1-1 Tầm nhìn an ninh về nước thế kỷ 21 của Việt Nam

Hộp 1-2 Khái niệm tổng hợp trong hệ thống tự nhiên và hệ thống nhân văn Hộp 2-1 Hạn hán ở Ninh Thuận

Hộp 1-3 Tóm tắt về Quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Hộp 1-4 Thí dụ về tạo cơ chế tham gia trong quản lý TNN ở Mehico

Hộp 1-5 Khái niệm Phát triển bền vững

Hộp 1-6 Tóm tắt về Phát triển bền vững

Hộp 3-1 Những việc cần làm để quản lý hoạt động các đập và hồ chứa nước Hộp 3-2 Tóm tắt về lập quy hoạch lưu vực sông

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1-1 Các lưu vực sông chính của Việt nam

Hình 1.2 Các thành phần và mối liên hệ của QLTH tài nguyên nước

Hình 1-3 Khái niệm tổng hợp xuyên ngành của QLTH tài nguyên nước Hình 1-4 Khuôn khổ chung của QLTH-TNN

Hình 1-5 Tiếp cận các khía cạnh kinh tế, xã hội và sinh thái trong phát triển

bền vữngHình 2-1 Các ngưỡng nguồn nước của lưu vực sông và phạm vi có thể khai

thác sử dụngHình 2-2 Sơ đồ quá trình thực hiện chính sách quản lý lũ lụt

Hình 2.3 Tổng hợp các loại thiệt hại do lũ lụt

Hình 2.4 Các nguyên tắc cho việc xác định giá trị của nước

Hình 2-5 Nguyên tắc chung để tính giá nước cung cấp

Hình 3-1 Các thành phần của quản lý tổng hợp lưu vực sông

Hình 3-2 Sơ đồ phân tích lập quy hoạch quản lý tổng hợp Tài nguyên nước

lưu vực sôngHình 4-1 Sơ đồ khối mô hình quản lý TNN của lưu vực sông

Hình 4-2 Cách nhìn hệ thống trong mô hình lưu vực sông

Hình 6-1 Mối liên hệ giữa các thành phần thể chế quản lý TNN lưu vực

sôngHình 6-2 Môi trường thể chế quản lý tài nguyên nước lưu vực sông

Hình 6-3 Sơ đồ lồng ghép về thể chế thực thi quản lý TNN

Hình 6-4 Sơ đồ phân tích phát triển thể chế quản lý tài nguyên nước

Hình 6-5 Sơ đồ tổ chức các cơ quan liên quan đến quản lý tài nguyên nước

Trang 8

Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA VỀ QUẢN LÝ LƯU VỰC SÔNG

1.1 KHÁI NIỆM QUẢN LÝ LƯU VỰC SÔNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

1.1.1 Lưu vực sông

Nước trên bề mặt đất theo quy luật chung đều chảy từ nơi cao xuống nơi thấp, lâu ngày các đường chảy tạo thành sông suối Mỗi một dòng sông đều có phần diện tích hứng và tập trung nước gọi là lưu vực sông

Một lưu vực sông có thể xem như một vùng địa lý được giới hạn bởi đường chia nước trên mặt và dưới đất Đường chia nước trên mặt là đường nối các đỉnh cao của địa hình Nước từ đỉnh cao đó chuyển động theo hướng dốc của địa hình để xuống chân dốc

đó là các suối nhỏ rồi tập trung xuống các nhánh sông lớn hơn để chảy về biển Cứ thế chúng tạo thành mạng lưới sông Trên lưu vực sông, ngoài các diện tích đất trên cạn còn có các phần đất chứa nước thuộc lòng chảy sông, hồ và các vùng đất ngập nước theo từng thời kỳ Tất cả phần bề mặt lưu vực cả trên cạn và dưới nước đều là môi trường và nơi ở cho các loài sinh sống [Nancy D and et al, 1996]

Về mặt hình thái, một con sông có thể chia thành các vùng thượng lưu, trung lưu

và hạ lưu

- Vùng thượng lưu của sông thường là các vùng núi cao với địa hình dốc, chia cắt phức tạp Đây là nơi khởi nguồn của các dòng sông và bề mặt thường bao phủ bằng những cánh rừng thượng nguồn như những “kho nước xanh” có vai trò điều hòa dòng chảy, làm giảm dòng chảy đỉnh lũ và tăng lượng dòng chảy mùa cạn cho khu vực hạ lưu

- Trung lưu các sông thường là vùng đồi núi hoặc cao nguyên có địa hình thấp và thoải hơn, là vùng trung gian chuyển nước xuống vùng hạ lưu Tại vùng trung lưu, các con sông thường có độ dốc nhỏ hơn, lòng sông bắt đầu mở ra rộng hơn và bắt đầu có bãi, đáy sông có nhiều cát mịn Các bãi ven sông thường có nguy cơ bị ngập nước tạo thành các bãi chứa lũ tạm thời

- Hạ lưu sông là vùng thấp nhất của lưu vực sông, phần lớn là đất bồi tụ lâu năm

có thể tạo nên các vùng đồng bằng rộng Nói chung các sông khi chảy đến hạ lưu thì mặt cắt sông mở rộng, sông thường phân thành nhiều nhánh đổ ra biển Sông ở hạ lưu thường có độ dốc nhỏ, dòng bùn cát chủ yếu ở đáy sông là cát mịn và bùn Do mặt cắt sông mở rất rộng nên tốc độ nước giảm nhỏ khiến cho quá trình bồi lắng là chủ yếu, còn xói lở chỉ xảy ra trong mùa lũ tại một số điểm nhất định Tại hạ lưu gần biển các sông thường dễ bị phân nhánh, lòng sông biến dạng uốn khúc theo hình sin và thường

có sự biến đổi về hình thái dưới tác động của các quá trình bồi xói liên tục, như vùng hạ

lưu gần cửa của các sông Hồng và sông Cửu Long

Lưu vực sông là một hệ thống mở và luôn tương tác với tầng khí quyển bên trên thông qua hoạt động của hoàn lưu khí quyển và chu trình thủy văn, nhờ đó hàng năm lưu vực sông đều nhận được một lượng nước đến từ mưa để sử dụng cho các nhu cầu của con người và duy trì hệ sinh thái

1.1.2 Chức năng của sông và lưu vực sông

Sông, lưu vực hứng nước và hệ sinh thái thủy sinh có vai trò và vị trí vô cùng quan trọng đối với con người, có thể ví như một cỗ xe sinh học của hành tinh cung cấp

Trang 9

nguồn sống và nuôi dưỡng sự sống của con người và các cộng đồng sinh học trên lưu vực sông [WDC, 2002]

Đối với tự nhiên, sông có chức năng chủ yếu là chuyển tải nước và các loại vật chất từ nguồn tới vùng cửa sông, thường là biển cả Đối với con người và hệ sinh thái, sông còn có các chức năng khác như là:

- Sông cung cấp nơi ở cho cá và các sinh vật của hệ sinh thái nước, nơi diễn ra các hoạt động sinh sống, nghỉ ngơi và giải trí của người dân sống ven sông

- Sông cung cấp nước cho các nhu cầu sử dụng của con người và cho duy trì hệ sinh thái nước và các hệ sinh thái ven sông

- Sông có khả năng chuyển hóa các chất ô nhiễm thông qua sự tự làm sạch của nước sông

Lưu vực sông là nơi cư trú của con người và thế giới sinh vật, cung cấp các tài nguyên đồng thời là nơi chứa đựng và đồng hóa các chất thải do quá trình sống của con người và các sinh vật thải ra tạo dựng sự cân bằng của các quá trình sinh thái

1.1.3 Tài nguyên của lưu vực sông

Trên lưu vực sông đều có các nguồn tài nguyên tự nhiên bao gồm tài nguyên nước, đất và các tài nguyên sinh thái (như rừng và các hệ động thực vật trên cạn và dưới nước) Trong lưu vực sông cũng chứa đựng các nguồn khoáng sản, các nguồn năng lượng rất cần thiết cho cuộc sống và phát triển kinh tế xã hội của con người Tất

cả các tài nguyên tự nhiên của lưu vực sông đều có mối liên quan với nhau trong quá trình thành tạo cũng như biến đổi dưới tác động của các quy luật tự nhiên cũng như các hoạt động của con người

Tiềm năng về tài nguyên của lưu vực sông là cơ sở quan trọng tạo nên sự phát triển cũng như sự thịnh vượng về vật chất và văn hóa tinh thần của các cộng đồng dân

cư sinh sống trên lưu vực sông

Trong các nguồn tài nguyên, nước là tài nguyên quan trọng và thiết yếu nhất của con người và hệ sinh thái Các tài nguyên khác đều tồn tại và biến đổi cũng trong mối liên quan đến nước Sự phát triển kinh tế, xã hội và cuộc sống của muôn loài trên lưu vực sông không thể bền vững nếu không có đủ lượng nước cần thiết với chất lượng đảm bảo Nước cũng có khả năng tạo nên “hình dáng” cho môi trường của con người thông qua năng lực xói mòn đất trên các sườn núi dốc, sự vận chuyển bùn cát và tạo nên đồng bằng ở vùng hạ lưu, gây nên lũ lụt và hạn hán Nó mang lại cho con người và các sinh vật sinh sống trên đó cả niềm vui lẫn sự lo âu Ngoài tài nguyên nước, đất cũng là một tài nguyên quan trọng khác của lưu vực sông, luôn gắn chặt với nước trong quá trình quản lý và sử dụng Các thay đổi trong sử dụng đất đều ảnh hưởng đến biến đổi của nước cả về số lượng và chất lượng

Trong mỗi lưu vực sông luôn tồn tại các mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành phần tài nguyên, thí dụ như giữa đất và nước, giữa đất, nước và hệ sinh thái Mối quan

hệ này biểu hiện và diễn biến theo không gian và thời gian, đặc biệt là trong khai thác

sử dụng tài nguyên của các vùng thượng lưu, trung lưu tới vùng hạ lưu Chính nhờ các mối quan hệ này khiến cho lưu vực sông từ một vùng địa lý đã trở thành một hệ thống luôn kết dính với nhau [Bryan Bruns, D.J, 2001]

Tài nguyên sinh thái cũng có vai trò và vị trí rất quan trọng, là một phần đáng kể các giá trị môi trường của sông và lưu vực sông Tài nguyên sinh thái chứa đựng trong

Trang 10

các giống, loài của các hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, trong các vùng đất ngập nước ven sông và rừng ngập mặn ở vùng cửa sông Nguồn lợi sinh thái đáng kể nhất trong sông là nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là nguồn lợi về cá, nhiều khi là nguồn sống và thu nhập chủ yếu của cộng đồng dân cư sống ven sông

Thí dụ trên sông Mê Kông, thành phần của nước sông đã nuôi dưỡng một hệ sinh vật thủy sinh rất phong phú và đa dạng ước tính có khoảng 1.300 loài cá phân bố ở khắp các môi trường sống đa dạng ở trên lưu vực sông [Jensen, 2000] Các dạng nơi cư trú cho các loài cá khác nhau đó là:

− Khu vực cửa sông ở châu thổ sông Mê Kông là nơi sinh sống của nhiều loài cá sông và cá nước lợ theo mùa di cư ngược dòng để đẻ trứng ở môi trường nước lợ hay nước ngọt;

− Vùng thượng lưu của sông Mê Kông là nơi có rất nhiều loài nước ngọt (ví

dụ Cyprinidae, Siluridae, Claridae);

− Các nhánh sông Mê Kông nằm sâu trong lục địa ở vùng Đông Bắc Thái Lan, Lào và vùng đất ngập nước ở Campuchia, đóng vai trò là môi trường sống để các loài động vật sinh sản và nuôi dưỡng cá con, trong đó có các loài có giá trị cả về mặt kinh tế và sinh thái

Người ta tìm thấy loài tôm lớn nước ngọt (Macrobrachium rosenvergii) ở sông

Mê Kông di cư từ nước ngọt đến vùng nước mặn và từ vùng cửa sông để đẻ trứng Các loài khác cũng đẻ trứng ở vùng cửa sông Mê Kông trong khoảng thời gian từ tháng III đến tháng VIII Thu hoạch tôm là hoạt động kinh tế ngày càng quan trọng ở lưu vực sông Mê Kông, đặc biệt đối với thị trường xuất khẩu

Vùng Đồng Tháp Mười ở hạ lưu sông Mê Kông có diện tích xấp xỉ 700.000 ha thuộc Việt Nam và 300.000 ha thuộc Campuchia Khu vực này có địa hình chủ yếu là những vùng đất thấp bằng phẳng ngập lũ theo mùa với một diện tích lớn bị ngập từ tháng VII đến tháng I năm sau Trong suốt mùa khô, vùng Đồng Tháp Mười hoàn toàn khô cạn trừ các ao đầm nằm rải rác Hệ thống này đã tạo ra nguồn lợi lớn về nông nghiệp, rừng và thủy sản ở dưới nước, trên cạn Thí dụ vùng Đồng Tháp Mười có các

Trang 11

hệ thực vật phức tạp bao gồm các loài thực vật của rừng ngập mặn như tràm, đước và các khu rừng gỗ Đa dạng sinh học là điểm nổi bật về môi trường sống của vùng này, là nơi trú ngụ của rất nhiều loài cá và chim và đồng thời cung cấp một số lượng lớn các sản phẩm có giá trị thương mại như gỗ xây dựng, gỗ nhiên liệu, tinh dầu, và mật ong cho con người

Trong mùa lũ, vùng Đồng Tháp Mười là nơi sinh sống của một số lượng lớn các loài cá di cư từ thượng lưu xuống để sinh sản và cư trú Một số loài như tôm Macrobrachium là nguồn thủy sản quan trọng được thu hoạch với số lượng lớn vào cuối mùa mưa Vùng Đồng Tháp Mười cũng hỗ trợ rất nhiều loài chim nước trong đó có các loài di cư vào mùa đông bị đe dọa tuyệt chủng như loài sếu đầu đỏ, bởi đó là nơi có nguồn thức ăn phong phú hấp dẫn

Vùng đất nhiễm chua phèn cao tìm thấy ở vùng Đồng Tháp Mười gây khó khăn cho các vấn đề bảo tồn và phát triển Các hoạt động phát triển quan trọng như xử lý đất nhiễm chua phèn và dẫn nước từ sông Mê Kông đến để thau chua khi nước lũ rút kết hợp với việc đánh luống trồng hoa màu đã giúp cho tăng nhanh sản xuất lúa gạo ở diện tích vùng Đồng Tháp Mười thuộc Việt Nam Tuy nhiên, cần phải cân bằng việc duy trì đất nhiễm chua phèn nặng và chế độ lũ lụt tự nhiên nhằm duy trì mức độ bao phủ của rừng để bảo tồn tính đa dạng sinh học [MRC, 2001]

Thí dụ trên cho thấy việc bảo vệ tính đa dạng sinh học và các tài nguyên sinh thái của sông và các khu vực trên lưu vực sông là vô cùng quan trọng nhằm duy trì các giá trị môi trường cho chính con người

1.1.4 Quản lý tổng hợp lưu vực sông

Khái niệm

Lưu vực sông có thể xem như một vùng địa lý được giới hạn bởi đường chia nước trên mặt và dưới đất mà trong phạm vi đó nước trên mặt và dưới đất đều chảy một cách tự nhiên vào lưu vực sông Trong lưu vực sông tồn tại các mối quan hệ chặt chẽ giữa nước mặt và nước ngầm, giữa số lượng và chất lượng nước, giữa đất và nước và giữa vùng thượng lưu và hạ lưu Các mối quan hệ này đã khiến cho lưu vực sông từ một vùng địa lý đã trở thành một hệ thống luôn kết dính với nhau [Bryan Bruns, D.J, 2001]

Lưu vực sông là một hệ thống mở và luôn tương tác với tầng khí quyển bên trên thông qua hoạt động của hoàn lưu khí quyển và chu trình thủy văn để nhận được một lượng nước đến hàng năm sử dụng cho các nhu cầu của con người và cho hệ sinh thái Lưu vực sông là một hệ thống vô cùng quan trọng của tự nhiên với các chức năng cũng rất quan trọng đối với con người, thí dụ như cung cấp không gian sống cho con người

và các sinh vật, cung cấp các tài nguyên tự nhiên cho con người, đặc biệt là nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, thủy sản, nghỉ ngơi giải trí,

Trong lưu vực sông, nước là một yếu tố môi trường thiết yếu, luôn liên quan tới đất và các yếu tố môi trường tự nhiên khác Sự phát triển kinh tế, xã hội và cuộc sống của muôn loài trên lưu vực sông không thể bền vững nếu không được cung cấp đúng và

đủ nước theo thời gian và không gian, đảm bảo cả số lượng và chất lượng Nước cũng

là một tài nguyên có khả năng tạo nên ”hình dáng” cho môi trường của con người đang sống thông qua năng lực xói mòn đất trên các sườn núi dốc, sự vận chuyển bùn cát và tạo nên đồng bằng ở vùng hạ lưu, gây nên lũ lụt và hạn hán Nó mang lại cho con người

và các sinh vật cả niềm vui lẫn sự lo âu

Trang 12

Theo ranh giới “thủy văn” của lưu vực sông thì trên một lưu vực sông, nhất là lưu vực sông lớn xuyên quốc gia, có thể tồn tại nhiều ngôn ngữ, tộc người, các hình thái kinh tế, chính trị xã hội khác nhau Trong một quốc gia thì một lưu vực sông có thể gồm ranh giới hành chính của nhiều tỉnh có trình độ phát triển khác nhau, trên đó tồn tại các điều kiện tự nhiên, các dạng tài nguyên, các hệ sinh thái, các điều kiện kinh tế xã hội không giống nhau

Quản lý lưu vực sông (QLLVS) là quản lý tất cả những gì đã nêu ở trên, nó rộng hơn nhiều quản lý nước truyền thống và bao gồm cả những phần vô cùng quan trọng của quy hoạch sử dụng đất, các chính sách nông nghiệp và kiểm soát xói mòn, quản lý môi trường và nhiều chính sách khác nữa [Van Beek E., 2000]

QLLVS bao trùm tất cả các hoạt động của con người cần phải sử dụng nước và tác động tới hệ thống tài nguyên nước mặt Nó là quản lý các hệ sinh thái nước như là một phần của môi trường tự nhiên rộng lớn và trong mối quan hệ với môi trường kinh

tế xã hội của chúng

Quản lý tổng hợp lưu vực sông khác với cách quản lý theo địa giới hành chính thông thường ở chỗ:

- Phạm vi không gian của quản lý là bao quát trên toàn bộ lưu vực sông

- Cách quản lý dựa trên nguyên tắc của quản lý tổng hợp các nguồn tài nguyên

và bảo vệ môi trường lưu vực nhằm đạt đến mục tiêu bền vững, trong đó trọng tâm là quản lý tổng hợp tài nguyên nước trong mối liên quan tới tài nguyên đất và các tài nguyên liên quan khác

Vì thế, quản lý tổng hợp lưu vực sông cần phải:

− Chú ý quản lý các dạng khác nhau của nước: nước mặt và nước ngầm

− Chú ý quản lý cả số lượng và chất lượng nước trên lưu vực sông

− Chú ý các mối liên quan giữa các nguồn tài nguyên, đặc biệt là giữa tài nguyên đất và tài nguyên nước

− Tổng hợp các giới hạn tự nhiên, các nhu cầu kinh tế xã hội

− Tổng hợp về luật pháp, chính sách và thể chế

Trong nhịp độ phát triển ngày nay, các lưu vực sông ở hầu hết các khu vực trên thế giới đều phải chịu áp lực rất lớn của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, nhất là các tác động lên bề mặt lưu vực do gia tăng tốc độ khai thác sử dụng tài nguyên tự nhiên, đặc biệt là sự phá rừng lấy gỗ, lấy đất canh tác, sự gia tăng các chất thải làm suy giảm chất lượng nước do gia tăng tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hoá Một số lưu vực sông đã và đang bị suy thoái trầm trọng và ngày càng xa với các điều kiện bền vững khiến cho năng lực của dòng sông ngày càng giảm sút, gia tăng các mâu thuẫn trong sử dụng nước giữa các ngành dùng nước khác nhau cũng như giữa thượng lưu và hạ lưu

Có thể thấy rõ một thực tế là các lưu vực sông ngày nay đáp ứng ngày càng khó khăn hơn các nhu cầu xã hội khác nhau, bao gồm nhu cầu cơ bản của con người như nước dùng cho sinh hoạt, nước cho các hoạt động sản xuất,… và cũng vì thế ngày nay càng cần phải tăng cường hoạt động quản lý lưu vực sông Sử dụng lưu vực như là đơn

vị không gian phân tích tổng hợp và xác định quan hệ qua lại giữa các thành phần của

hệ thống thủy văn, từ đó xác định các chính sách quản lý nước một cách phù hợp là một khuynh hướng ngày nay đã được thế giới thừa nhận và ngày càng trở nên rất thông

Trang 13

dụng trên thế giới Điều đó lý giải tại sao ngày nay quản lý lưu vực sông được coi là một mục tiêu và sự quan tâm đặc biệt của hầu hết các nước trên thế giới trong một hai thập kỷ gần đây

Việc tiếp cận quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông để xây dựng các chính sách, chiến lược quản lý và bảo vệ tài nguyên nước đã khiến cho tài nguyên nước được xem xét một cách hệ thống, tránh được thói quen sử dụng nước một cách riêng rẽ và chỉ dựa chủ yếu vào nguồn nước mặt đã có lâu đời ở nước ta Cách tiếp cận này cũng khuyến khích áp dụng phương pháp tự quản lý các nguồn tài nguyên khiến cho những người sử dụng nước hiểu biết tốt hơn về các vấn đề thủy văn có liên quan [IWMI, 2000]

Theo J Buston thì “Quản lý tổng hợp lưu vực sông bao hàm việc các nhà hoạch định chính sách xem xét tất cả các khía cạnh về các nguồn tài nguyên có trên lưu vực, nhu cầu sử dụng các nguồn tài nguyên đó theo cách tiếp cận hệ sinh thái nhằm đảm bảo những sự lựa chọn phương án phát triển kinh tế xã hội có hiệu quả lâu dài thông qua sự phát triển các mối quan hệ hài hòa giữa các hộ sử dụng tài nguyên và giữa cộng đồng dân cư sống trên lưu vực”

Tất cả các định nghĩa trên đều nhấn mạnh những khía cạnh nổi bật của quản lý tổng hợp lưu vực sông và cho thấy quản lý tổng hợp lưu vực sông là sự hợp tác trong quản lý và khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên có trên toàn bộ lưu vực một cách hợp lý, hiệu quả và công bằng để đạt được lợi ích kinh tế và xã hội mà không làm tổn hại đến sự bền vững của hệ sinh thái

Mục đích của quản lý lưu vực sông

Theo quan điểm của phát triển bền vững thì quản lý lưu vực sông có ba mục đích chủ yếu sau:

− Bảo vệ các các chức năng của sông và lưu vực sông;

− Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước trong mối quan hệ với đất

và các tài nguyên sinh thái khác;

− Hạn chế suy thoái và duy trì môi trường của sông và lưu vực sông bền vững cho các thế hệ hiện tại và tương lai

Thực vậy, việc thực hiện quản lý lưu vực sông sẽ giúp cho con người có thể quản

lý bảo vệ các chức năng của hệ sinh thái trên cạn và dưới nước, bảo vệ toàn bộ năng suất của các nguồn tài nguyên trong một thời gian lâu dài, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường của lưu vực sông không cho nó suy thoái Đồng thời, trong quản lý lưu vực sông ngoài quản lý tài nguyên nước, các hoạt động quản lý còn phải vươn rộng hơn sang các tài nguyên liên quan khác như tài nguyên đất, rừng, quản lý và bảo vệ các

hệ sinh thái lưu vực, quản lý các hoạt động của con người trên lưu vực có ảnh hưởng

Trang 14

đến các tài nguyên như là việc định cư dân số, phát triển đô thị, công nghiệp, nông nghiệp…

Nước là một tài nguyên có thể tái tạo, sự hình thành và quy luật biến đổi của nước phụ thuộc chặt chẽ vào chu trình thủy văn trên lưu vực sông Việc khai thác và sử dụng nước giữa các vùng khác nhau trên lưu vực đều tác động đến nhau Thí dụ như lấy quá mức nguồn nước ở thượng lưu sẽ ảnh hưởng rõ rệt làm suy giảm dòng chảy tại hạ lưu Vì thế, lấy toàn bộ lưu vực sông làm đơn vị quản lý sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi và cơ sở tốt xem xét các mối quan hệ trên và hướng tới quản lý tài nguyên nước lưu vực một cách tổng hợp và bền vững

Với một lưu vực sông bao gồm nhiều tỉnh thì quản lý thống nhất theo lưu vực sông sẽ tạo cơ sở thuận lợi để giải quyết tốt công việc quản lý, nhất là khi cần giải quyết các mối quan hệ hay các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình sử dụng hay quản lý tài nguyên giữa các vùng khác nhau trên lưu vực như là giữa thượng lưu, trung lưu và khu vực hạ lưu của sông Thông qua hoạt động của một cơ quan quản lý lưu vực sông, tất cả các hoạt động quản lý bảo vệ tài nguyên được xem xét và xử lý một cách thống nhất và nhanh chóng không phải thông qua bất cứ một cơ chế phối hợp phức tạp nào mà cơ chế quản lý theo địa giới hành chính thường phải gặp

Quản lý theo lưu vực sông sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện việc lập kế hoạch, bảo tồn, phát triển và quản lý nước, đất, rừng và các nguồn lực dưới nước trong phạm vi lưu vực sông, nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không làm tổn hại đến tính bền vững của hệ thống môi trường trọng yếu của lưu vực sông

Xem xét một cách chi tiết thì quản lý lưu vực sông cần đạt được những yêu cầu chủ yếu sau đây:

− Phối hợp các chính sách, chương trình và các hoạt động trong mối quan

hệ của quản lý tổng hợp lưu vực sông

− Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tổng hợp lưu vực

− Khuyến khích sử dụng bền vững các tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên nước trong mối quan hệ với đất và các tài nguyên tự nhiên khác

− Xác định và phục hồi những nguồn tài nguyên thiên nhiên bị suy giảm và xuống cấp

− Cung cấp đất canh tác ổn định, cung cấp đủ nước với chất lượng đảm bảo, bảo vệ lớp phủ thực vật trong lưu vực

Trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên tự nhiên trên lưu vực sông từ thời xa xưa cho đến ngày nay, con người thường chú trọng đến việc khai thác các nguồn lợi sẵn có của tự nhiên để sử dụng cho cuộc sống của mình, điều đó không thể tránh khỏi các sự tổn thương đối với tài nguyên và hệ sinh thái Làm thế nào vừa khai thác sử dụng mà vẫn quản lý bảo vệ và duy trì được các nguồn tài nguyên tự nhiên của lưu vực sông? Để đạt được mục tiêu trên, quản lý lưu vực phải hướng vào các hoạt động chủ yếu sau:

- Ngăn ngừa và chặn đứng sự xuống cấp của các tài nguyên hiện có của lưu vực sông, trong đó chú trọng những tài nguyên thiên nhiên đã bị xuống cấp (thí dụ như tài nguyên nước và đất), và tìm cách bảo tồn chúng cho sử dụng lâu dài của con người

Trang 15

- Tạo các phương thức phù hợp để sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khả năng của chúng

- Các biện pháp để giảm thiểu các tác động tiêu cực gây ra từ việc gia tăng sử dụng tài nguyên của con người trong các thập kỷ gần đây

Đây là một vấn đề rất phức tạp liên quan không những về mặt kỹ thuật mà còn cả việc tổ chức thể chế cần có một cách nhìn chiến lược theo hướng tổng hợp, toàn diện và lâu dài thì mới có thể giải quyết nổi

1.2 VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ LƯU VỰC SÔNG TRONG BỐ́I CẢNH PHÁT TRIỂN CỦA QUỐC GIA

Mỗi quốc gia tùy theo diện tích và điều kiện tự nhiên thường có một hoặc vài hệ thống sông lớn, các lưu vực sông này với nguồn tài nguyên nước, đất và các nguồn tài nguyên sinh thái luôn là cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế của các vùng và nền kinh

tế chung của đất nước

Ở nước ta, ngoài hai lưu vực sông quốc tế là lưu vực sông Hồng - Thái Bình và lưu vực sông Mê Kông, còn có nhiều lưu vực sông lớn khác nằm trong một tỉnh hay nhiều tỉnh như các lưu vực sông Cả, sông Mã, sông Quảng Trị, sông Hương, sông Thu Bồn, Trà Khúc, sông Cái - Nha Trang, sông Kôn - Hà Thanh, sông Ba, sông Cái - Phan Rang và sông Đồng Nai (xem hình 1-1 là bản đồ các lưu vực sông chính của Việt Nam)

Trên các lưu vực sông, tài nguyên nước là đầu vào quan trọng tạo nên các của cải vật chất khác nuôi dưỡng toàn bộ cư dân sống trên lưu vực sông và duy trì chức năng của các hệ sinh thái Tài nguyên đất và nước là cơ sở cho các hoạt động phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp Các nguồn khoáng sản, năng lượng được khai thác và sử dụng phục vụ công nghiệp Ngoài ra tài nguyên của lưu vực sông còn là cơ sở để phát triển thủy sản, du lịch và các ngành dịch vụ,

Nói chung với các sông quốc tế, việc phát triển kinh tế của các nước ven sông luôn phụ thuộc rất lớn vào nguồn tài nguyên thiên nhiên của lưu vực sông, các hoạt động đó lại tác động trở lại đến tài nguyên và môi trường của lưu vực sông Mặt tiêu cực của tăng trưởng kinh tế hiện nay trên các lưu vực sông là đã làm tăng tốc độ khai thác và sử dụng tài nguyên của lưu vực sông, dẫn đến tăng sức ép đối với những hệ sinh thái tự nhiên nhạy cảm và chất lượng môi trường sống của con người

Các thách thức trong quản lý đối với nhà nước là phải đảm bảo lợi ích của tăng trưởng kinh tế được phân bổ đều cho tất cả các vùng (nghĩa là xóa bỏ đói nghèo ở các khu vực nông thôn) và đảm bảo được việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khi hạn chế tối đa mức suy thoái môi trường

Việc khai thác tài nguyên môi trường trên lưu vực sông Mê Kông có thể lấy làm

ví dụ, trong đó nông nghiệp là thành phần kinh tế cơ bản của tất cả các nước Với những nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu như Lào, Campuchia và Việt Nam, hơn ba phần tư số dân làm nghề nông đóng góp quan trọng tới tổng sản phẩm quốc dân Việc

mở rộng đất trồng trọt cho mục đích nông nghiệp dẫn đến hủy hoại ngày càng nhiều đất rừng

Tăng cường sản xuất nông nghiệp cũng dẫn đến việc sử dụng ngày càng nhiều chất hóa học trong nông nghiệp - việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Thái Lan tăng gần sáu lần từ năm 1976 đến 1989 với gần một nửa triệu tấn chất hóa học được sử

Trang 16

dụng Việc sử dụng rộng rãi phân bón và thuốc bảo vệ thực vật có thể có tác động không tốt tới chất lượng nước ở bề mặt và nước ngầm, và Sức khỏe của người và động vật Trong đó vấn đề lo ngại nhất là việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật bền như DDT, những chất như vậy là mối đe dọa lâu dài tới Sức khỏe và môi trường sống của con người

Việc thay đổi tập quán du canh nhằm kiểm soát việc làm thoái hóa rừng và xói mòn đất Tập quán du canh hay bán du canh truyền thống được chấp nhận khi đất có khoảng thời gian bỏ hoang đủ dài để khôi phục lại một cách tự nhiên Vấn đề ở chỗ, với mật độ dân số tăng lên, chu kỳ canh tác trở nên quá ngắn, đất kém màu mỡ hơn, và các hoạt động du canh trở nên không bền vững Tác động của các tập quán canh tác không bền vững có xu hướng làm trầm trọng hơn mức độ xói mòn và các vấn đề về đất do phá rừng, đặc biệt ở những nơi có độ dốc cao Mở rộng đất nông nghiệp thường đi theo sau đốn rừng, dẫn đến việc mở đường vào những vùng trước đó không thể đến được Mặc

dù những vùng đất mới được khai phá ban đầu cho năng suất thu hoạch khá cao (do độ dinh dưỡng cao trong đất), sản lượng thường giảm mạnh sau một số chu kỳ canh tác dẫn đến việc xâm lấn canh tác nông nghiệp ngày càng rộng tới những vùng đất mới Đó

là tình trạng hiện nay của nhiều lưu vực sông ở các nước đang phát triển gặp phải trong quá trình đẩy mạnh khai thác tài nguyên môi trường lưu vực

Người dân ở các vùng nông thôn hiện nay trên các lưu vực sông còn bị phụ thuộc phần lớn vào gỗ củi để làm nhiên liệu phục vụ nhu cầu nấu nướng và sưởi ấm, thí

dụ Campuchia 95%; Lào 80%; Thái Lan 52%; Việt Nam 98% Chính điều này đã tác động đến môi trường và quản lý thảm phủ rừng càng khó khăn

Các hoạt động khai thác gỗ thương mại hiện cũng đe dọa nghiêm trọng tới hệ sinh thái rừng của lưu vực sông Bất chấp các lệnh cấm và tạm ngừng khai thác gỗ được ban hành của nhà nước, nhiều hoạt động khai thác gỗ phi pháp vẫn không kiểm soát được càng đe dọa thảm phủ rừng ngay cả ở khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn

Bản đồ lưu vực sông

Trang 17

Hình 1-1 Các lưu vực sông có diện tích lớn hơn 2500 km2 của nước ta

Hiện nay, nhà nước rất chú trọng phát triển chương trình trồng rừng nhưng một

số vùng trên các lưu vực sông diện tích rừng vẫn bị giảm do các hoạt động khai thác gỗ Rừng trồng thường bao gồm các loài cây tăng trưởng nhanh để cung cấp gỗ xây dựng, nguyên liệu thô cho sản xuất bột gỗ và bột giấy, cung cấp gỗ nhiên liệu và phủ xanh những vùng đất trọc Cho dù với những nỗ lực lớn trồng cây gây rừng nhưng cũng phải thừa nhận rằng các cánh rừng được trồng rất nghèo về đa dạng sinh học so với các cánh rừng nguyên sinh Thêm vào đó, nếu không nỗ lực tạo ra các vùng đệm xung quanh các con suối và sông ngay khi các hoạt động khai thác bắt đầu xảy ra thì việc trồng rừng không thể giải quyết được các ảnh hưởng tiêu cực lên nguồn nước ngọt trên bề mặt và các nguồn tài nguyên trên cạn Rừng trồng đơn loài thường không phải là một môi

Trang 18

trường thuận lợi cho các hệ động vật dưới nước và trên cạn nên việc trồng rừng không thể làm giảm các tác động lâu dài tới nơi cư trú của chúng Vấn đề khai thác và bảo vệ tài nguyên rừng vẫn là một vấn đề rất gay cấn trong quản lý và phát triển các lưu vực sông hiện nay

Việc khai thác các nguồn lợi thủy sản của các sông cũng rất quan trọng đối với phát triển kinh tế của các nước, thêm vào đó còn nguồn lợi thủy sản do nuôi trồng của người dân sống ven sông và các vùng cửa sông Thí dụ trên lưu vực sông Mê Kông trong 120 loài thủy sản dưới nước có giá trị thương mại, thì có khoảng 30-50 loài được xem là có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế Cá và các loài động vật thủy sinh khác là nguồn cung cấp protein rẻ nhưng có giá trị dinh dưỡng cao đối với người dân ở lưu vực cũng như tạo ra nguồn thu cho xuất khẩu Các sản phẩm thủy sản như tôm nước mặn đóng góp đến 10% thu nhập ngoại hối của Việt Nam và là nguồn protein quan trọng cho cuộc sống của người dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long của nước ta

Trên sông Mê Kông đánh bắt thủy sản góp đến 90% tổng sản lượng thủy sản thu hoạch ở các vùng, còn nuôi trồng thủy sản chiếm 10% còn lại trong tổng sản lượng thủy sản Việc nuôi trồng thủy sản thường dưới các hình thức:

− Nuôi trồng ở ao theo phương pháp truyền thống với quy mô nhỏ ở hộ gia đình và các làng mạc;

− Mô hình nuôi và nuôi trồng trong lồng chủ yếu ở trong sông vùng hạ lưu, trong một số các hồ chứa nước;

− Canh tác các mô hình tôm - lúa và cá - lúa không thâm canh trong các vùng đồng bằng ngập nước trong mùa mưa lũ;

− Nuôi trồng bán thâm canh hoặc thâm canh với mục đích thương mại tại một số khu vực nuôi tôm cá tập trung ở khu vực của sông ven biển

Hiện nay nhiều hoạt động của con người gây ảnh hưởng lớn tới số lượng cá của các quần thể cá tự nhiên, như việc đánh bắt một cách rộng rãi hai loài cá da trơn (catfish) ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng trung và hạ lưu các sông ven biển miền Trung, trong đó phải kể đến hình thức đánh bắt cá có tính hủy diệt bằng xung điện đang phổ biến và khó ngăn chặn trong thập kỷ gần đây Điều này đã làm cho nguồn cá của nhiều lưu vực sông đang bị suy kiệt và tổn thất nặng nề Khi việc đánh bắt các loài thủy sản trong các thủy vực sông hồ đã bị suy giảm thì việc mở rộng hoạt động nuôi trồng thủy sản là tất yếu như tình hình thực tế ở nước ta trong những năm gần đây Mặc

dù việc nuôi trồng thủy sản có thể bù đắp phần suy giảm sản lượng đánh bắt nhưng cũng có một số vấn đề liên quan đến nuôi trồng thủy sản cũng cần phải xem xét và điều chỉnh, thí dụ như là:

− Mô hình nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ truyền thống trong những năm gần đây cũng đã phát sinh các vấn đề về vệ sinh và Sức khỏe, làm tăng ô nhiễm nước Thí dụ thói quen sử dụng các chất thải của con người làm thức ăn cho cá tại một số nơi của người dân đã làm lan truyền các bệnh trong môi trường nước

− Việc phát triển nuôi trồng thủy sản nếu không được quy hoạch đầy đủ sẽ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và sẽ không bền vững, không thể tránh khỏi đến việc phá hủy hệ thực vật trên cạn Thí dụ, phát triển quá mức nuôi tôm ở một số vùng cửa sông ven biển của nước ta trong những năm gần đây cũng đã làm phá hủy môi trường

Trang 19

sống tại các vùng ngập mặn và giảm chất lượng nguồn nước vùng ven biển Thí dụ khác cũng có hậu quả tượng tự là việc phát triển quá mức nuôi tôm trên cát đang làm ô nhiễm, suy thoái và nhiễm mặn nguồn nước ngầm nhiều khu vực cồn cát ven biển

Ngoài các hoạt động phát triển nông lâm ngư nghiệp, trên lưu vực sông còn chứa đựng nhiều nguồn khoáng sản quý giá và quan trọng cho phát triển kinh tế của đất nước Việc khai thác các mỏ khoáng sản đã tạo ra nhiều nguồn nguyên liệu, năng lượng thiết yếu cho các hoạt động phát triển kinh tế của con người, tuy nhiên hoạt động này cũng tiềm ẩn không ít nhũng nguy cơ và rủi ro môi trường nếu hoạt động đó không được quy hoạch và quản lý chặt chẽ Hiện nay, do hạn chế về nguồn tài chính cũng như trình độ kỹ thuật mà việc khai thác các mỏ khoáng sản ở những nước chưa phát triển còn ở mức độ thấp, nhưng theo dự đoán hoạt động này sẽ được đẩy mạnh nhanh hơn trong tương lai Thí dụ như Lào có nguồn khoáng sản lớn (như đá quý, thiếc) và công nghiệp khai mỏ dự đoán sẽ tăng lên đáng kể trong thời gian tới Việt Nam cũng có nhiều mỏ khoáng sản quý như than (Quảng Ninh), Apatit (Lào Cai), thiếc (Cao Bằng), các mỏ cao lanh và bôxit ở khu vực Tây Nguyên Tại Campuchia có các mỏ đá quý, mỏ vàng, bôxit và măng gan

Các tài nguyên khoáng sản trên là nguồn động lực rất lớn cho phát triển kinh tế các vùng trên các lưu vực sông Tuy nhiên, hoạt động khai mỏ và xử lý quặng có thể gây ra các tác động nghiêm trọng tới môi trường nếu chúng không được kiểm soát một cách đúng đắn Một số tác động tiêu cực có thể làm suy giảm chất lượng môi trường sống của hoạt động khai thác mỏ như là:

− Gây lắng đọng bồi lấp trong sông vùng hạ lưu khu mỏ

− Gây hủy hoại hệ thực vật của khu vực

− Làm biến đổi xấu cảnh quan khu vực, nhất là về mặt thẩm mỹ

− Làm ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm (như nước chảy từ các mỏ axit ảnh hưởng đến chất lượng nước uống và nước cung cấp cho tưới tiêu và thủy sản)

− Làm tăng ô nhiễm không khí, như có thể góp phần tăng mưa axit

− Có các tác động thứ cấp khác như tác động tới giao thông, và nguồn năng lượng thủy điện phục vụ công nghiệp luyện quặng

Ngoài các tác động kể trên, việc sử dụng tài nguyên nước trên lưu vực sông có vai trò đặc biệt to lớn đối với phát triển kinh tế của các tỉnh trên lưu vực và đóng góp cho phát triển kinh tế chung của đất nước

Một lưu vực sông có tiềm năng nguồn nước lớn là tiền đề rất thuận lợi cho phát triển kinh tế của khu vực hơn rất nhiều so với lưu vực sông có tiềm năng nguồn nước hạn chế hoặc đang bị đe dọa của sự thiếu nước

Trong bối cảnh nước ta hiện vẫn là một nước nông nghiệp nên tài nguyên nước của lưu vực sông ở nước ta hiện nay được sử dụng chủ yếu cho tưới Tuy nhiên các nhu cầu dùng nước khác như cho sinh hoạt, công nghiệp, du lịch, dịch vụ, sẽ tăng lên theo thời gian trong khi nước ta cố gắng trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 Cho mục tiêu phát triển này, nước vẫn là một tài nguyên thiết yếu và điều kiện không thể thiếu, cần phải quản lý và bảo vệ một cách bền vững

Trang 20

Ngoài sử dụng nước cho các nhu cầu trên, nước của sông còn có vai trò tạo nguồn điện năng cho đất nước thông qua năng lực thủy điện của sông Thí dụ trong các sông của nước ta, nhiều lưu vực sông có tiềm năng thủy điện rất lớn và đang trong quá trình khai thác như sông Đà, sông Lô ở khu vực phía Bắc, sông Đồng Nai, sông Ba ở vùng ven biển miền Trung, sông Sê San, Serepok ở Tây Nguyên

Động lực chủ yếu của phát triển thủy điện ở các lưu vực sông hiện nay là do nhu cầu ngày càng tăng về điện trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của các nước Thí

dụ như ở nước ta hiện nay việc đầu tư cho khai thác nguồn thủy năng các lưu vực sông

là để đáp ứng yêu cầu năng lượng cho phát triển công nghiệp hiện tại và các giai đoạn tới Việc nhà nước đầu tư xây dựng công trình thủy điện Sơn La, Tuyên Quang và hàng loạt các công trình thủy điện bậc thang trên sông Sê San như Yaly, Sê San 3, Sê San 3A, Pleikrông, Sê San 4 cho thấy tính cấp thiết cần khai thác của nguồn năng lượng này đối với phát triển của đất nước hiện nay

Dự án thủy điện nhất là dự án thủy điện lớn có khả năng gây ra nhiều ảnh hưởng tới môi trường và xã hội Mặc dù các dự án ngăn đập làm thủy điện có những hệ quả tích cực về năng lượng, kiểm soát lũ và bổ sung dòng chảy thấp vào mùa khô, tuy nhiên cũng cần xem xét cẩn thận các tác động tiêu cực như:

− Sản lượng nông nghiệp giảm ở các khu vực hạ nguồn do giảm quá trình bồi tích phù sa do giảm mức độ ngập nước hay do sự giảm khối lượng bùn cát lắng đọng;

− Giảm diện tích ở bờ sông hay diện tích các đảo phù hợp cho trồng trọt do

sự thay đổi dòng chảy ở hạ nguồn;

− Ngập mất đất, rừng trong khu vực lòng hồ;

− Làm giảm sản lượng thủy sản ở sông trong vùng hạ lưu;

Trang 21

− Các tác động tiêu cực tới môi trường xã hội như phải di dời dân tới khu tái định cư, hay làm gián đoạn các hoạt động nông nghiệp

Thủy sản là đối tượng bị tác động nặng nề nhất do sự phát triển của thủy điện Các tác động tiềm ẩn tới thủy sản là do các nguyên nhân:

− Sự biến đổi khác thường của mực nước sông ở hạ lưu không phù hợp với đời sống của cá;

− Các nguồn dinh dưỡng bị giữ lại trong hồ nên thủy sản ở hạ lưu bị ảnh hưởng;

− Nơi cư trú và môi trường sinh sản của cá bị tác động xấu do nhiều vùng đất ngập nước ven sông không còn được duy trì như trước do chế độ lũ của sông bị biến đổi;

− Sự di chuyển của cá lên thượng nguồn đẻ trứng bị ngăn cản do đập ngăn nước ngang sông

Từ các phân tích trên có thể thấy các lưu vực sông và tài nguyên của lưu vực và trong sông luôn có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của quốc gia Việc khai thác và sử dụng tài nguyên tự nhiên của sông là rất cần thiết nhưng cũng phải đúng cách, không phá vỡ hoặc mất đi tình trạng tự nhiên, đồng thời cũng phải luôn xem xét đánh giá tác động tiêu cực tới môi trường Tài nguyên của lưu vực sông cần phải quản

lý sử dụng một cách tổng hợp theo chương trình hay kế hoạch quản lý lưu vực sông Cũng vì lẽ đó, vấn đề quản lý bảo vệ lưu vực cũng là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, luôn được nhà nước rất quan tâm

1.3 QÚA TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA QLLVS

Từ xa xưa khi con người bắt đầu sinh sống, khai thác tài nguyên môi trường trên lưu vực, thì cũng đã có ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường trên các lưu vực sông Tuy nhiên các hoạt động đó thường đơn lẻ tự phát và chưa được tổ chức cụ thể

Vấn đề quản lý lưu vực sông chỉ được nêu lên và được Chính phủ các nước quan tâm và coi đó là yêu cầu cần thiết phải thực hiện khi mà các tác động tiêu cực của các hoạt động phát triển của con người để lại những hậu quả xấu tới môi trường, nhất là làm gia tăng tình trạng suy thoái tài nguyên và môi trường các lưu vực sông, làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Có thể nói rằng hầu hết các lưu vực sông trên thế giới đều trải qua một thời gian dài được quản lý một cách riêng rẽ do nhiều ngành và nhiều người sử dụng tài nguyên trong suốt quá trình phát triển của lưu vực sông Đó là thực tế của việc quản lý và sử dụng tài nguyên môi trường lưu vực sông trong nhiều thế kỷ trước đây, khi mà khái niệm quản lý tổng hợp chưa ra đời và được coi trọng Thực trạng này vẫn còn đang diễn

ra trên nhiều sông trên thế giới cũng như ở nước ta khi mà việc quản lý lưu vực sông chưa được quan tâm hay mới chỉ bắt đầu tiếp cận nên chưa có được thể chế và chính sách phù hợp

Do yêu cầu cấp thiết của vấn đề quản lý lưu vực đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế xã hội, nhất là phát triển công nghiệp ở các nước phát triển trong thời đại công nghiệp hoá, vấn đề quản lý lưu vực sông đã được đặt ra và được các nước quan tâm

Trang 22

ngay từ đầu thế kỷ 19 với sự ra đời của một số tổ chức lưu vực sông ở các nước công nghiệp như Mỹ, Anh, Pháp Trong thực tế vấn đề quản lý lưu vực sông thực sự được thế giới quan tâm và thực hiện kể từ giai đoạn phát triển mạnh của kinh tế thế giới sau chiến tranh thế giới thứ 2

Hiện nay trên thế giới đã có hàng trăm tổ chức quản lý lưu vực sông được thành lập và hoạt động nhất là trên các con sông quốc tế Tình hình này đặc biệt phát triển mạnh nhất là trong khoảng 30 năm trở lại đây

Tại khu vực Đông Nam á, ủy ban quốc tế sông Mê Kông được thành lập năm

1957 với bốn nước thành viên là Thái Lan, Lào, Việt Nam và Campuchia

Tại Trung Quốc, kế hoạch quản lý lưu vực sông đã được nhà nước thông qua và hiện tại các lưu vực sông lớn như lưu vực sông Trường Giang, Hoàng Hà, đều đã thành lập các ban quản lý lưu vực các sông và hoạt động có hiệu quả

Tại Inđônêxia (Indonesia), Nhà nước cũng đưa ra chính sách mới về quản lý nước và quản lý lưu vực sông, trong đó quản lý nước được lấy trung tâm ở cấp lưu vực

và tập trung trách nhiệm quản lý nước thông qua sự tham gia và hợp tác hiệu quả của các đối tượng hưởng lợi trên lưu vực Một số ban quản lý lưu vực sông tại Indonesia đã được thành lập Các nước khác trong khu vực cũng đều bắt đầu tiếp cận thực hiện quản

lý lưu vực sông trong một hai thập kỷ qua

Việc áp dụng cách tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông

để soạn ra các chính sách và chiến lược phát triển, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước

đã giúp cho tài nguyên nước ngày nay được xem xét trên cơ sở hệ thống Cách tiếp cận này cho phép những người sử dụng nước hiểu biết tốt hơn về các vấn đề thủy văn có liên quan [IWMI, 2000]

Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1960 quản lý lưu vực sông đã được Nhà nước quan tâm với việc thành lập ủy ban trị thủy sông Hồng, một tổ chức có trách nhiệm quy hoạch và quản lý tài nguyên nước cấp lưu vực đầu tiên ở nước ta nhưng hoạt động của

ủy ban này cũng còn nhiều hạn chế

Quản lý tài nguyên nước ở nước ta cho đến nay vẫn chủ yếu là quản lý theo địa giới hành chính và riêng rẽ do từng ngành sử dụng nước tự đảm nhiệm Tình trạng đó kéo dài cho đến năm 1998 khi Luật Tài nguyên nước ra đời đã nêu định hướng cho việc thực hiện quản lý lưu vực sông

Thực hiện Luật Tài nguyên nước, năm 2002 nhà nước đã thành lập 3 Ban quản

lý quy hoạch lưu vực của ba lưu vực sông lớn là lưu vực sông Hồng - Thái Bình, lưu vực sông Đồng Nai và lưu vực sông Cửu Long

Nhiều đề tài và dự án nghiên cứu về quản lý lưu vực sông đã được thực hiện do các cơ quan trong nước và các tổ chức quốc tế như dự án của ADB cho lưu vực sông Hồng, dự án Danida của chính phủ Đan Mạch cho lưu vực sông Serepok và lưu vực sông Cả, dự án của Nhật quy hoạch quản lý lưu vực sông cho 12 lưu vực sông lớn của nước ta, Các đề tài và dự án này đã chuẩn bị tiền đề tốt cho việc tìm một mô hình phù hợp cho thực hiện việc quản lý lưu vực sông ở nước ta Vấn đề này sẽ được nêu rõ hơn trong chương 6

Trang 23

1.4 QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC, KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC

1.4.1 Khái quát

Nước là một tài nguyên thiết yếu nhất đối với tất cả các khía cạnh liên quan đến

sự phát triển của con người và hệ sinh thái trên lưu vực sông Các tài nguyên khác như đất và các tài nguyên sinh thái cũng phụ thuộc và có mối liên quan mật thiết với tài nguyên nước trong quá trình sử dụng cũng như bảo tồn Vì thế quản lý sử dụng nước là một thành phần quan trọng của quản lý lưu vực sông và cần được quản lý theo đơn vị lưu vực

Để quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước, tài nguyên nước nhất thiết phải được quản lý và sử dụng theo nguyên tắc tổng hợp, gọi tắt là quản lý tổng hợp tài nguyên nước Điều này được nêu lên trong chương 18 của Chương trình nghị sự 21 được các nguyên thủ quốc gia của 172 nước thông qua tại Hội nghị quốc tế về Môi trường và Phát triển lần thứ nhất họp tại Rio de Janeiro (Braxin,1992) và là một trong bảy chương trình lớn của “Chương trình hành động tổng hợp toàn cầu cho phát triển bền vững” của Liên hợp quốc nêu lên trong hội nghị trên

Thực hiện QLTHTNN là một bước đột phá của thế giới trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20, bước vào thế kỷ 21 trong lĩnh vực khai thác sử dụng và quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam, thực hiện QLTHTNN là một trong những hoạt động mang tính chiến lược để PTBV tài nguyên nước đã quy định trong Luật Tài nguyên nước Tháng 3/2000, tại diễn đàn nước thế giới lần thứ hai họp tại Hague (Hà Lan), tầm nhìn

về nước thế giới thế kỷ 21 đã được thảo luận rộng rãi và một tuyên bố về “Tầm nhìn về nước, cuộc sống và môi trường ” với tiêu đề tổng quát là “tiến tới một thế giới an ninh

về nước trong thế kỷ 21” đã được thông qua, trong đó có 6 chỉ tiêu thế giới cần thực hiện từ nay đến năm 2015, trong đó QLTHTNN được nêu đầu tiên

Thực hiện QLTHTNN các lưu vực sông là một vấn đề rất phức tạp và phải thực hiện trong một quá trình lâu dài Đó cũng là mục tiêu mà nước ta cũng phải từng bước thực hiện trong các giai đoạn tới Trải qua gần mười năm, nhiều nước trên thế giới, nhất

là các nước phát triển đã có nhiều chương trình và hoạt động tích cực để thực hiện QLTHTNN ở nước mình và đã thu được những kết quả ban đầu rất khả quan

Trang 24

Hộp 1-1: Tầm nhìn an ninh về nước thế kỷ 21 của Việt Nam

Trong "Tầm nhìn an ninh nước thế kỷ 21 của Việt Nam" thông qua năm 2000 với tiêu chí "Sử dụng tổng hợp, bảo vệ tài nguyên nước vững

bền và phòng chống có hiệu quả các tác hại về nước" đã đưa ra bảy thông

điệp trong đó có ba thông điệp liên quan đến quản lý sử dụng bền vững

tài nguyên nước đó là:

Đủ nước cho an ninh lương thực và phát triển kinh tế xã hội

Bảo đảm dịch vụ nước hoạt động hiệu quả

1.4.2 Khái niệm quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Quản lý tài nguyên nước

Quản lý tài nguyên nước theo Savanije [1997] là “tập hợp tất cả các hoạt động thuộc về kỹ thuật, tổ chức, quản lý và vận hành cần thiết để quy hoạch, xây dựng các công trình sử dụng nguồn nước cũng như thực hiện quản lý nguồn nước của lưu vực sông”

Như vậy, quản lý tài nguyên nước bao gồm tất cả các hoạt động từ quy hoạch, thiết kế, xây dựng, và vận hành khai thác các hệ thống nguồn nước và là hoạt động gồm nhiều thành phần, nhiều mục tiêu và có nhiều ràng buộc

Quản lý tổng hợp tài nguyên nước

QLTHTNN ra đời thay thế cho khái niệm quản lý nguồn nước truyền thống Khái niệm này đang tiếp tục được bổ sung và phát triển, hiện vẫn đang còn những ý kiến tranh luận Trong Chương 18 của Chương trình nghị sự 21 có nêu rõ "Quản lý tổng hợp tài nguyên nước dựa trên nhận thức nước là một bộ phận nội tại của hệ sinh thái, một nguồn tài nguyên thiên nhiên và một loại hàng hóa kinh tế và xã hội, mà số lượng

và chất lượng quyết định bản chất của việc sử dụng Vì mục đích này, tài nguyên nước cần phải được bảo vệ, có tính đến chức năng của các hệ sinh thái nước và tính tồn tại mãi mãi của tài nguyên, để có thể thỏa mãn và dung hòa các nhu cầu về nước cho các hoạt động của con người" Sau đây là một số định nghĩa cụ thể của QLTHTNN

Mitchell [1990] đã đưa ra định nghĩa “QLTHTNN là một quá trình giải quyết vấn đề quản lý sử dụng nước cắt ngang tất cả các thành phần của chu trình thủy văn,

Trang 25

vượt trên biên giới giữa nước, đất và môi trường, tạo lập mối liên hệ nội tại của nước với các chính sách rộng lớn hơn phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế và quản lý môi trường khu vực”

Grig [1999] thì cho rằng “QLTHTNN là một khuôn khổ được tạo nên cho việc quy hoạch, tổ chức và kiểm soát hệ thống nước nhằm làm cân bằng tất cả những quan điểm và mục tiêu của những người bị ảnh hưởng”

Mạng lưới cộng tác vì nước toàn cầu [GWP, 2000] với mục đích đưa ra một khuôn khổ chung trong quản lý tài nguyên nước đã nêu lên định nghĩa “QLTHTNN là một quá trình đẩy mạnh sự phối hợp phát triển và quản lý tài nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan khác để tối ưu hóa lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không tổn hại đến sự bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu ”

Định nghĩa trên đã nhấn mạnh QLTHTNN là một quá trình, và trong đó khái niệm “quản lý ” phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả “phát triển và quản lý ” nhằm đạt tới ba mục tiêu cơ bản về kinh tế, xã hội và môi trường

Trong QLTHTNN, hệ thống nguồn nước được coi như một hệ thống hở, biểu thị như hình 1-2, trong đó quản lý nước phải xem xét các mối liên hệ với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, môi trường và với tất cả những người dùng nước

Trong QLTHTNN có một từ then chốt đó là từ “tổng hợp”, vậy khái niệm tổng hợp ở đây là gì và cần hiểu như thế nào? Điều này chúng ta cũng cần làm rõ và từ đó sẽ hiểu các nội dung của quản lý tổng hợp đối với tài nguyên nước

Hình 1-2: Các thành phần và mối liên hệ của Quản lý tổng hợp tài nguyên nước

(Nguồn: Koudstaal, Rijsberman, Savenije)

Theo [TAC, 2000] thì khái niệm tổng hợp trong cụm từ quản lý tổng hợp tài nguyên nước phải xem xét trong hai hệ thống chủ yếu, đó là trong hệ thống tự nhiên và

hệ thống nhân văn Hệ thống tự nhiên (natural system) với đặc trưng chủ yếu là số

Trang 26

lượng và chất lượng của các tài nguyên tự nhiên như nước, đất, không khí và các tài nguyên sinh học, là đầu vào quan trọng cho hệ thống nhân văn (human system) khai thác và sử dụng

Hình thức khai thác và cách thức sử dụng các tài nguyên, đặc biệt là sử dụng nước của con người cũng tạo ra các chất thải làm ô nhiễm và suy giảm chất lượng của

hệ thống tự nhiên Quản lý hệ thống tự nhiên là quản lý nguồn cung cấp tài nguyên, còn quản lý hệ con người là quản lý việc sử dụng của nguồn tài nguyên tự nhiên, với tài nguyên nước là quản lý việc sử dụng nước

Hộp 1-2: Khái niệm tổng hợp trong hệ thống tự nhiên và hệ thống nhân văn

Tổng hợp trong hệ

thống tự nhiên

Tổng hợp trong hệ thống nhân văn

Tổng hợp quản lý nước và đất

Tổng hợp quản lý nước xanh lá cây

và nước xanh da trời

Tổng hợp quản lý nước mặt và nước

Tổng hợp giữa quy hoạch PTTNN với xóa đói giảm nghèo Tổng hợp xuyên ngành trong phát triển chính sách quốc gia Tổng hợp quản lý nước tại tất cảngầm

Quản lý Tổng hợp trong hệ thống tự nhiên bao gồm:

(1) Quản lý tổng hợp nước và đất: Nước và đất là hai thành phần của môi trường

tự nhiên, chúng có mối liên quan và tác động với nhau trong quá trình diễn ra của tự nhiên Trong chu trình thủy văn, nước được vận chuyển giữa các thành phần của khí quyển, đất, lớp phủ thực vật và các nguồn nước mặt, nước ngầm Các kiểu khác nhau của sử dụng đất và lớp phủ thực vật sẽ có các ảnh hưởng khác nhau đến khả năng giữ nước trong đất và trên các tán lá cây và ảnh hưởng đáng kể tới sự biến đổi của số lượng

và chất lượng nước để sử dụng Vì thế, việc quản lý sử dụng nước không thể tách rời với quản lý sử dụng đất và các biện pháp canh tác trên đất nông nghiệp, nhất là quản lý

các lưu vực nhỏ để bảo vệ đất chống xói mòn

(2) Quản lý tổng hợp các thành phần nước xanh lá cây và nước xanh da trời:

Có hai thành phần liên quan đến việc quản lý nước, đó là:

− Nước liên quan đến sử dụng của hệ sinh thái như nước mưa và bốc thoát hơi (còn gọi là nước xanh lá cây)

− Nước sử dụng trực tiếp của con người như nước trong sông, hồ và nước ngầm (còn gọi là nước xanh da trời)

Quản lý truyền thống thường chỉ quan tâm quản lý nước xanh da trời trong các sông hồ, nhưng quản lý tổng hợp cần chú trọng thêm cả nước mưa và nước trong tầng

Trang 27

đất ẩm bởi vì thông qua các biện pháp canh tác có thể đem lại tiềm năng đáng kể đối với tiết kiệm nước, nâng cao hiệu quả sử dụng nước và bảo vệ các hệ sinh thái

(3) Quản lý tổng hợp nước mặt và nước ngầm: Tài nguyên nước của lưu vực bao gồm cả nước mặt và nước ngầm, giữa nước mặt và nước ngầm lại có mối liên hệ thủy lực với nhau nên việc khai thác quá mức một thành phần nào cũng ảnh hưởng đến thành phần kia Vì thế đề sử dụng hiệu quả và bền vững, cần phải quản lý tổng hợp cả về số lượng và chất lượng của nước mặt và nước ngầm, trong đó phải chú ý các biện pháp quản lý và kiểm soát các nguồn ô nhiễm nước

(4) Quản lý tổng hợp số lượng và chất lượng nước: Ô nhiễm nước có thể làm suy giảm nhanh chóng nguồn nước sạch mà con người có thể sử dụng Vì thế trong QLTHTNN không chỉ chú ý quản lý số lượng nước mà phải chú trọng cả quản lý và bảo vệ chất lượng nước

(5) Quản lý tổng hợp các lợi ích sử dụng nước vùng thượng lưu và hạ lưu: Lợi ích về sử dụng nước tại vùng hạ lưu các sông thường bị ảnh hưởng do sử dụng nước tại thượng lưu Thí dụ như lấy nước quá mức để sử dụng ở thượng lưu sẽ dễ làm cạn kiệt dòng chảy ở hạ lưu, xả nước thải ở thượng lưu thường làm suy giảm chất lượng nước khu vực hạ lưu, việc thay đổi sử dụng đất tại thượng lưu sẽ ảnh hưởng tới nước ngầm chảy vào sông và làm biến đổi dòng chảy của sông trong các tháng kiệt ở hạ lưu Vì thế các mâu thuẫn về lợi ích trong sử dụng nước giữa thượng lưu và hạ lưu thường là không thể tránh khỏi và phải được xem xét và giải quyết dựa trên các nguyên tắc của quản lý tổng hợp

Quản lý tổng hợp trong hệ thống nhân văn bao gồm quản lý tất cả các hoạt động quản lý và sử dụng tài nguyên nước của con người như là:

(1) Tổng hợp xuyên ngành trong quy hoạch và quản lý nguồn nước: Xem xét các điều kiện kinh tế xã hội và môi trường tác động lên tất cả các ngành sử dụng nước trong quá trình xây dựng các phương án quy hoạch PTTNN cũng như xác định các biện pháp quản lý nguồn nước đáp ứng yêu cầu phát triển của con người Hình 1-3 biểu thị QLTHTNN và mối liên hệ xuyên ngành

Tổng hợp xuyên ngành

Môi trường chính sách

luật pháp Các quy định về thể chê

Các công cụ quản lý

Nứớc dùng cho con người Nước cho sản xuất lương thực

Nước cho môi trường tự nhiên

Nước cho công nghiệp

và các sử dụng khác

Hình 1-3: Khái niệm tổng hợp xuyên ngành của QLTH-TNN

Trang 28

(2) Tổng hợp các chính sách về nước vào trong chính sách phát triển KTXH

quốc gia: Nước là đầu vào quan trọng của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, vì thế

chính sách nước phải được tổng hợp trong các chính sách kinh tế của quốc gia cũng như

trong chính sách của ngành ở cấp quốc gia Ngược lại, các chính sách KTXH cũng phải

xem xét mối liên quan đến nước, chẳng hạn chính sách phát triển năng lượng hay lương

thực đều có ảnh hưởng rất lớn tới tài nguyên nước và ngược lại

(3) Tổng hợp tất cả những thành phần liên quan trong quy hoạch và quá trình ra

quyết định: Sự tham gia của tất cả các thành phần có liên quan trong quy hoạch và quản

lý TNN là một yếu tố chủ yếu để sử dụng cân bằng và bền vững TNN Việc quản lý

tổng hợp cả nước và nước thải sẽ giúp cho duy trì chất lượng nước trong sông cũng như

khiến cho các dòng nước thải có thể là dòng bổ sung có ích đối với dòng sông và sử

dụng của con người Trong cấp nước sinh hoạt và công nghiệp, nếu không phối hợp

quản lý cả nước thải thì dòng nước thải sẽ làm giảm lượng nước cấp hữu ích do nó làm

giảm chất lượng nước và tăng chi phí cấp nước tương lai

(4) Tổng hợp các chính sách, luật pháp và thể chế trong phát triển TNN: Thực

hiện QLTHTNN rất phức tạp đòi hỏi phải có những thay đổi kể cả trong chính sách,

luật pháp nếu có những điểm không phù hợp Thí dụ như những chính sách làm tăng

yêu cầu nước, chính sách ảnh hưởng tới phân chia nguồn nước cho các mục tiêu sử

dụng nước là những chính sách thường phải cải tiến hay xây dựng mới cho phù hợp với

QLTHTNN Người lập chính sách phải biết cân bằng giữa lợi ích trước mắt và cái giá

lâu dài phải trả của việc không mạnh dạn đổi mới các chính sách không phù hợp, từ đó

có quyết định đổi mới chính sách

So sánh quản lý tổng hợp TNN với quản lý nước truyền thống

Khái niệm quản lý tổng hợp tài nguyên nước là một khái niệm mới Khái niệm

này đầy đủ và toàn diện và nó ra đời để thay thế dần khái niệm quản lý tài nguyên nước

truyền thống mà các thế hệ cha ông chúng ta để lại

Quản lý tài nguyên nước truyền thống

Quản lý tài nguyên thiên nhiên theo phương thức truyền thống có những hạn chế

về mặt môi trường Các tài nguyên được nhìn dưới góc độ riêng rẽ hoặc theo ngành

kinh tế, các thành phần của môi trường hầu như được xem xét trong sự cô lập với nhau

Nước, rừng, và nguồn cá của sông thường được quản lý riêng rẽ và ít quan tâm đến hiệu

quả và mối liên quan giữa chúng Những thiếu sót trong quản lý tài nguyên theo

phương thức truyền thống là:

- Tập trung vào quản lý các thành phần sinh học riêng rẽ, như đất và nước, hơn là

cho một quá trình của hệ sinh thái, như chu kỳ thủy văn hoặc là chu trình dinh dưỡng

- Mục tiêu chỉ là những loài sinh vật cụ thể, đặc biệt là các loài có giá trị thương mại

- Bỏ qua mối quan hệ hữu cơ trong hệ sinh thái Quyết định quản lý đối với một

loài có thể gây vấn đề cho các loài khác

- Bỏ qua các thành phần khó xác định và kiểm soát, thí dụ như quản lý việc sử

dụng nước ngầm

- Sự mâu thuẫn về luật pháp Chính sách của một nước có thể khác với nước

khác, và còn nhiều tài nguyên không nằm gọn trong vùng địa lý hay địa giới hành chính

thì không xét đến

- Ảnh hưởng lũy tích từ nhiều ngành không trọng tâm thường bị bỏ qua

Trang 29

Quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Quản lý tổng hợp TNN giải quyết một cách tổng thể các yếu tố kinh tế xã hội và môi trường xung quanh các vấn đề quản lý tài nguyên Nó dựa trên quan điểm bảo vệ

hệ sinh thái tự nhiên, tập trung vào mối quan hệ giữa các yếu tố khác nhau của hệ cũng như ghi nhận động thái, sự thay đổi của các hệ sinh thái tự nhiên Có sự khác nhau lớn giữa quản lý theo tập quán truyền thống và quản lý tổng hợp ở chỗ quản lý tổng hợp thiên về phòng chống hơn là chữa, trong khi đó quản lý theo tập quán truyền thống mang tính phản ứng lại, có nghĩa là các quyết định được đưa ra để ứng phó với sự cố Quản lý tổng hợp mang tính đón đầu và các quyết định được đưa ra để ngăn chặn sự cố

Các ích lợi của quản lý tổng hợp bao gồm trong các khía cạnh:

− Bảo vệ dài hạn tài nguyên nước và môi trường

− Tăng cường khả năng không xuống cấp tài nguyên do sử dụng tổng hợp với nhiều mục đích

− Giảm chi phí về năng lượng và tài chính vào giải quyết các mâu thuẫn do

có sự cạnh tranh trong sử dụng tài nguyên

− Khôi phục nhanh chóng và hiệu quả các hệ sinh thái bị hư hại do luôn coi trọng bảo vệ môi trường

Quản lý tổng hợp không phải là việc chỉ sửa chữa những thiếu sót mà phải xác định sớm các vấn đề và kiểm soát những vấn đề đó trước khi nó trở nên trầm trọng, thí

dụ như phòng ngừa không để làm ô nhiễm nước của dòng sông trở nên trầm trọng ngay

từ khi nước sông mới có dấu hiệu bị ô nhiễm

Trang 30

Hộp 1-3: Tóm tắt về Quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Đối với nước và các nhân tố môi trường liên quan đến nước

1 Quản lý tổng hợp tất cả các thành phần nguồn nước (như nước

mặt, nước ngầm, và nước vùng cửa sông ven biển)

2 Quản lý tổng hợp tất cả các ngành sử dụng nước như tưới, phát điện, cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp, nước cho giao thông thủy, phát triển thủy sản, nghỉ ngơi, giải trí cũng như sự biến đổi của chúng

theo thời gian và không gian

3 Quản lý tổng hợp cả số lượng và chất lượng nước, trong đó chú trọng quản lý và kiểm soát các nguồn nước thải để hạn chế ô nhiễm

nước

4 Quản lý cả cung cấp nước và nhu cầu nước Ngoài quản lý cung cấp nước như hiện tại, QLTHTNN còn quản lý cả nhu cầu nước với phương châm đáp ứng nước theo nhu cầu của người dùng, nhằm sử dụng

nước tiết kiệm và hiệu quả

5 Quản lý sử dụng nước trong mối liên quan với sử dụng đất và các nhân tố sinh thái khác trên lưu vực sông

6 Quản lý tổng hợp việc khai thác sử dụng nước cả thượng lưu

và hạ lưu, hạn chế các mâu thuẫn trong sử dụng nước của các vùng này

Về phương diện quản lý

7 Xem xét tổng hợp cả kinh tế, xã hội và môi trường trong quản

lý nước, điều đó có nghĩa là khi ra quyết định về quản lý nước phải dựa trên các chi phí và các lợi ích về cả kinh tế cũng như xã hội và môi trường

8 Quản lý thống nhất theo địa giới hành chính, trong đó đẩy mạnh sự phối hợp trách nhiệm quản lý nước và các hoạt động ở mọi cấp, bao gồm cấp trung ương, tỉnh, địa phương, cộng đồng Đồng thời xây dựng một cơ cấu tổ chức và pháp lý rõ ràng đối với quản lý tài nguyên nước

9 Quản lý tổng hợp về mặt địa lý, lấy ranh giới thủy văn làm đơn vị cơ sở của quản lý nước hay gọi là quản lý nước theo lưu vực sông Cùng với khai thác sử dụng nước phải chú trọng quản lý bảo vệ tổng hợp các tài nguyên và môi trường lưu vực để duy trì khả năng tái tạo của nguồn nước

10 Quản lý theo phương thức từ dưới lên bắt đầu từ cộng đồng dân cư và những người hưởng lợi

11 Đảm bảo lợi ích cho tất cả các thành phần tham gia đặc biệt là người dùng nước, thông qua đảm bảo quyền dùng nước, sự công bằng trong dùng nước

12 Quản lý nước có sự tham gia của tất cả những thành phần liên quan, đặc biệt là cộng đồng dân cư trong tất cả các lĩnh vực, kể cả trong quy hoạch và ra quyết định Qua đó nâng cao sự tham gia của cộng đồng đặc

biệt là của phụ nữ trong quản lý sử dụng và bảo vệ nguồn nước

Trang 31

1.4.3 Các nguyên tắc của quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Hiện nay, có thể coi 4 nguyên tắc được thảo luận và thống nhất trong Hội nghị

về Nước và Môi trường năm 1992 tại Dublin (gọi tắt là nguyên tắc Dublin) là những nguyên tắc nền tảng của QLTHTNN Những nguyên tắc này đã phản ảnh sự thay đổi những nhận thức về tài nguyên nước, một số trong đó đã được nêu ở trên Tuy nhiên để

hệ thống lại ở đây giới thiệu ngắn gọn về 4 nguyên tắc đó

Nguyên tắc 1: Nước ngọt là tài nguyên hữu hạn không tài nguyên nào có thể thay thế được, rất thiết yếu để duy trì cuộc sống, phát triển và môi trường

Nguyên tắc 1 mở ra một phương pháp tiếp cận mới trong quản lý nước, đó là phải xem xét tất cả các đặc tính của chu trình thủy văn, cũng như các tương tác của nước với các tài nguyên khác và hệ sinh thái Nguyên tắc cũng chỉ rõ nước cần thiết cho nhiều mục đích và việc quản lý phải xem xét các nhu cầu sử dụng và các nguy cơ đe dọa nguồn nước

Nhận thức nước là một tài nguyên hữu hạn không phải là vô hạn như trước đây nhiều người lầm tưởng đặt ra trong quản lý và sử dụng nước phải hạn chế các sự thất thoát và phải coi nước là một tài sản tự nhiên chính yếu cần phải được duy trì đem lại những lợi ích mong muốn và bền vững

Con người bằng các hoạt động của mình có thể gây nên các tác động tiêu cực làm suy giảm khả năng tái tạo của nguồn nước cũng như làm suy giảm số lượng và chất lượng nước, đồng thời cũng có thể có tác động tích cực tới nguồn nước của sông như điều tiết lại dòng chảy để tăng khả năng sử dụng nước cũng như lợi ích mang lại Các vấn đề này cần phải chú trọng trong quản lý sử dụng nước

Nguyên tắc 2: Phát triển và bảo vệ tài nguyên nước phải dựa trên phương pháp tiếp cận có sự tham gia của tất cả các thành phần bao gồm những người dùng nước,

người lập quy hoạch và người xây dựng chính sách ở tất cả các cấp

Quản lý nước truyền thống không chú trọng đến sự tham gia của các thành phần, nhất là của người dùng nước Nguyên tắc 2 đưa ra một cách tiếp cận mới về mặt quản

lý có tính quyết định để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng nguồn nước, trong đó vai trò của người dùng nước cũng phải coi trọng như của các người lập quy hoạch cũng như xây dựng chính sách về nước

Nguyên tắc này nhấn mạnh cần có sự tham gia thật sự của các thành phần liên quan là một phần của quá trình ra quyết định Có sự tham gia thể hiện ở các khía cạnh như cộng đồng dân cư tập hợp nhau lại để chọn cách sử dụng cũng như quản lý cung cấp nước, hoặc việc bầu một cách dân chủ các cơ quan quản lý phân phối nước Sự tham gia thật sự yêu cầu những người có liên quan ở mọi cấp của xã hội đều phải có tác động trong việc ra quyết định tại tất cả các cấp của quá trình quản lý nước, không chỉ

dừng ở việc hỏi ý kiến đơn thuần

Phương pháp tiếp cận có sự tham gia là cách duy nhất để đạt tới các sự thỏa thuận chung có tính lâu dài trong quản lý và sử dụng nước Để đạt được điều đó, các thành phần liên quan và các cán bộ của cơ quan quản lý nước cần phải nhận thức được

sự bền vững của nguồn nước là vấn đề chung nhất và tất cả các bên cần phải biết hy sinh một số mong muốn nào đó cho kết quả chung tốt đẹp Tham gia nghĩa là nhận các trách nhiệm, là sự ghi nhận những ảnh hưởng các hoạt động của mỗi ngành đến người dùng nước và hệ sinh thái nước, là chấp nhận các sự thay đổi để nâng cao hiệu quả của

Trang 32

sử dụng nước và phát triển bền vững tài nguyên nước Tham gia không có nghĩa là luôn luôn thống nhất mà cũng có lúc nảy sinh mâu thuẫn và phải có cơ chế để giải quyết các mâu thuẫn đó

Thực hiện quản lý theo cách tiếp cận có sự tham gia thì chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương cần phải tạo các cơ chế thuận lợi cho sự tham gia của các bên, đặc biệt là của cộng đồng dân cư những người trực tiếp được hưởng lợi hay bị thiệt hại Thí dụ như xây dựng các cơ chế cho tư vấn của các thành phần liên quan tham gia trên mọi quy mô, như là quốc gia, lưu vực, tiểu lưu vực hoặc cộng đồng Các cấp chính quyền cũng cần hỗ trợ để nâng cao năng lực tham gia của cộng đồng, nhất là của phụ

nữ và những tầng lớp dân cư có trình độ thấp trong xã hội Sự tham gia còn là một phương tiện để cân đối giữa phương pháp quản lý từ trên xuống và phương pháp từ dưới lên

Hộp 1-4: Thí dụ về tạo cơ chế tham gia trong quản lý nước ở Mehico

Tại Bang Guanajato đã thành lập ban thư ký kỹ thuật nước ngầm để tạo diễn đàn cho người dùng nước và các viên chức quản lý nước của nhà nước cùng thảo luận để tìm kiếm giải pháp hợp lý cho sử dụng và phân phối nước Diễn đàn này là nước mà các người dùng nước và các cấp thẩm quyền

có thể trực tiếp trao đổi với nhau từ trên xuống và ngược lại Nhờ đó mà đã

có những thành công và sự thống nhất trong quá trình điều hành phân phối nước trong thực tế

Nguyên tắc 3: Phụ nữ có vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lý và bảo vệ nguồn nước

Có một thực tế là trong một số cộng đồng, do đặc điểm của nền văn hóa mà vị trí người phụ nữ thường bị xem nhẹ, điều đó dẫn tới sự tham gia của phụ nữ trong quản lý nước thường bị bỏ qua hoặc gây khó khăn Trong thực tế, người phụ nữ có vai trò chủ yếu trong việc lấy và bảo vệ nguồn nước dùng cho sinh hoạt của gia đình và cho sản xuất nông nghiệp, nhưng vai trò của họ lại rất hạn chế trong vấn đề quản lý cũng như ra quyết định liên quan đến tài nguyên nước Từ thực tế nêu trên nguyên tắc 3 đã nhấn mạnh lại vai trò của phụ nữ và chỉ rõ cần phải có những cơ chế thích hợp để nâng cao khả năng tiếp cận của phụ nữ tới quá trình ra quyết định, mở rộng những phạm vi mà qua đó người phụ nữ có thể tham gia vào QLTHTNN Nguyên tắc này cũng chỉ rõ trong QLTHTNN cần phải có nhận thức đầy đủ về giới, cụ thể là phải xem xét cách thức của các xã hội khác nhau ấn định vai trò xã hội, kinh tế, văn hóa của nam giới và phụ nữ để

từ đó xây dựng phương thức tham gia đầy đủ và hiệu quả của phụ nữ ở mọi cấp vào việc ra quyết định trong quản lý và bảo vệ nguồn nước

Nguyên tắc 4: Nước có giá trị kinh tế trong mọi hình thức sử dụng và cần phải được xem như một loại hàng hóa có giá trị kinh tế

Một sai lầm kéo dài hàng nhiều thế kỷ trước đây là đã không nhận biết được giá trị kinh tế của tài nguyên nước và coi nước như là một nguồn lợi của tự nhiên có thể sử

Trang 33

dụng tự do hoàn toàn miễn phí Điều này khiến cho nước được sử dụng một cách tùy tiện và kém hiệu quả trong các thời gian của quá khứ và người dùng không có ý thức bảo vệ năng lực tái tạo của tài nguyên nước Nguyên tắc 4 chỉ ra giá trị kinh tế của nước

là nhận thức mới nhất của nhân loại tìm ra trong mấy chục năm trở lại đây Điều đó đã đặt ra những yêu cầu đổi mới của con người trong cách thức quản lý, cách thức sử dụng nước theo hướng thực sự tiết kiệm và phải làm sao phát huy được giá trị của nước như bất cứ một loại hàng hóa nào khác Trong QLTHTNN cần phải tính toán đầy đủ giá trị của nước bao gồm giá trị kinh tế và giá trị nội tại của tài nguyên nước, và phải tạo cơ chế cho người dùng nước có đủ khả năng sử dụng nước và trả đủ các chi phí cho “việc mua nước” cũng như làm trách nhiệm của họ trong bảo vệ nguồn nước

Bốn nguyên tắc của Hội nghị Dublin đã chỉ ra những thay đổi trong nhận thức và cách quản lý sử dụng nước cần thiết để tháo gỡ những tồn tại hiện nay Từ những nguyên tắc này, khái niệm và một phương pháp mới quản lý tài nguyên nước trên nguyên tắc tổng hợp đã hình thành, đáp ứng yêu cầu thực tế

1.4.4 Thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Khuôn khổ chung để thực hiện QLTHTNN

Chuyển đổi từ quản lý nước theo phương thức truyền thống sang phương thức tổng hợp cũng tương tự như chúng ta cải tiến hoặc thay đổi một ngôi nhà cũ thành một ngôi nhà mới với những yêu cầu cao hơn về công năng cũng như thẩm mỹ và tiện dụng hơn cho sinh hoạt, ăn ở của con người, chỉ có điểm khác ở chỗ đây là ngôi nhà cho thực hiện các hoạt động khai thác và sử dụng nước Khuôn khổ hay khung của QLTHTNN cũng như bộ khung của ngôi nhà, biểu thị trong hình 1-4 trong đó ghi nhận khuôn khổ chung của QLTHTNN bao gồm ba thành phần chính là:

− Môi trường chính sách và luật pháp (môi trường quyền năng)

− Khung thể chế (các quy định về tổ chức và quản lý)

− Các công cụ quản lý

Ba thành phần trên tạo thành nền tảng của hệ thống tổ chức và thực thi quản lý tài nguyên nước Để thực hiện QLTHTNN chúng ta phải từng bước xây dựng bộ khung này bằng việc cải tiến hoặc xây dựng mới từng bộ phận của ba thành phần trên từ cái nền của khung quản lý truyền thống cũ, sao cho có sự phù hợp, có đủ sức mạnh và độ bền vững để làm nền tảng cho việc thực hiện trên thực tế

Môi trường chính sách thiết lập hệ thống các quy tắc cho quản lý nước để xác định những gì phải quản lý trong thực tế và với mỗi lĩnh vực cần quản lý thì quản lý như thế nào?

Các chính sách và luật pháp của quản lý nước truyền thống nói chung không đủ đảm bảo cho việc thực hiện QLTHTNN Vì thế môi trường chính sách và luật pháp phải được bổ sung, cải tiến hoặc xây dựng mới phù hợp với yêu cầu của QLTHTNN

Nó là thành phần không thể thiếu để đảm bảo quyền của tất cả các thành phần tham gia trong quá trình thực hiện, bao gồm các chính sách và luật pháp của quốc gia, của các tỉnh hay lưu vực sông, tạo điều kiện cho những thành phần tham gia thực hiện được chức trách và phát huy vai trò của họ trong QLTHTNN

Trang 34

Hình 1-4 Khuôn khổ chung của QLTHTNN

Xây dựng môi trường chính sách và luật pháp cho việc thực hiện

Điều cần thiết trong việc phát triển các chính sách là phải có đủ các quy tắc cần thiết và nội dung các quy tắc nêu trong chính sách phải phù hợp và thực thi được trong thực tế

Xây dựng khung thể chế cho việc thực hiện

Khung thể chế xác định rõ các đối tượng nào tham gia thực hiện quản lý nước theo nguyên tắc tổng hợp cũng như chức năng quyền hạn và cơ chế cần thiết cho các đối tượng đó tham gia vào công tác quản lý nước được hiệu quả

Khung thể chế của QLTHTNN phải phát triển cho nhiều cấp và các khu vực khác nhau như là:

− Cho các cấp từ trung ương đến địa phương

− Cho hai khu vực: Nhà nước và tư nhân

− Cho lưu vực sông

Cùng với môi trường chính sách và luật pháp, cần có một khung thể chế với cơ cấu tổ chức đủ mạnh và ổn định cho việc thực hiện các chương trình và chính sách của QLTHTNN

Trong thực tế khi xây dựng khung thể chế, cần phân tích và đưa ra được hình mẫu tổ chức các cơ quan quản lý nước tại các cấp phù hợp với hoàn cảnh địa lý, cơ chế chính trị của mỗi quốc gia và điều kiện kinh tế xã hội của lưu vực sông, xác định rõ chức năng cũng như trách nhiệm của cơ quan quản lý nguồn nước các cấp, của các

Trang 35

thành phần liên quan trong quy hoạch và quản lý nước để làm sao các cơ quan này hoạt động tốt và phối hợp với nhau giải quyết các nảy sinh trong thực tế

Việc xây dựng cơ cấu tổ chức của các cơ quan tham gia quản lý nguồn nước cũng phải thích ứng với các cách tiếp cận mới của QLTHTNN, đặc biệt là cách tiếp cận

từ dưới lên sao cho đem lại hiệu quả cao nhất cho người dùng nước Trong trường hợp này có thể đề xuất việc lập thêm những cơ quan hay tổ chức mới so với trước đây để tham gia vào trong hệ thống quản lý nguồn nước, thí dụ như Hội những người dùng nước tham gia vào phát triển và quản lý các hệ thống cấp nước Đồng thời cũng cần tạo

sự cân bằng giữa những tổ chức của cộng đồng dân cư và các cơ quan của nhà nước tham gia trong quản lý nguồn nước Với phương pháp tiếp cận quản lý nước theo lưu vực sông thì cũng cần đưa ra một cơ cấu tổ chức và xác định chức năng phù hợp cho tổ chức quản lý lưu vực sông hoạt động được hiệu quả

Các công cụ trợ giúp

Ngoài môi trường chính sách, luật pháp và khung thế chế quản lý nguồn nước, trong QLTHTNN cũng cần có các công cụ trợ giúp cho quản lý nguồn nước, như là các công cụ giúp cho việc đánh giá, điều hành phân chia nước trong hệ thống, giúp cho người ra quyết định có thể lựa chọn phương án hợp lý

Các loại hình công cụ quản lý thực tế có thể là các cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước, các mô hình toán để tính toán hoặc dự báo số lượng và chất lượng nước, hệ thống giám sát chất lượng nước, đánh giá tác động môi trường, công cụ đánh giá và quản lý rủi ro

1.5 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Phát triển bền vững (PTBV) là một khái niệm mới về sự phát triển xuất hiện trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây Khái niệm này được đưa ra khi mà mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển đã trở thành sâu sắc ở nhiều nước trên thế giới do con người đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế mà không quan tâm đúng mức tới bảo vệ môi trường Điều đó khiến cho nhiều tài nguyên thiên nhiên bị sử dụng quá mức đang tiến tới nguy cơ bị cạn kiệt, ô nhiễm môi trường gia tăng, đe dọa sự phát triển lâu bền của nhân loại

Thuật ngữ “Phát triển bền vững” lần đầu tiên được sử dụng trong bản báo cáo năm 1980 về “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Hiệp hội quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên

và Tài nguyên thiên nhiên (IUCN), Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) và Quỹ Thiên nhiên Toàn cầu (WWF) cùng công bố Sau đó, thuật ngữ này trở nên nổi tiếng khi bản báo cáo năm 1987 của ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển với tiêu đề “Tương lai chung của chúng ta”, thường gọi là “Báo cáo Brundtland” theo tên của bà Chủ tịch ủy ban Gro Harlem Brundtland, Thủ tướng Na Uy lúc bấy giờ được đưa ra ủy ban này được thành lập để xây dựng “một chương trình nghị sự toàn cầu cho

sự thay đổi” qua việc xem xét những vấn đề thiết yếu về môi trường, kinh tế, và xã hội tại một loạt các diễn đàn công khai tổ chức trên toàn thế giới

1.5.1 Định nghĩa phát triển bền vững

Mặc dù là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, nhưng PTBV là một khái niệm khó

có thể được giải thích một cách thật rõ ràng, cô đọng và cụ thể Có nhiều định nghĩa về PTBV, trong cuốn “Chăm lo cho Trái đất ” thì PTBV được định nghĩa là “sự nâng cao chất lượng đời sống con người trong lúc đang tồn tại, trong khuôn khổ đảm bảo của các

Trang 36

hệ thống sinh thái”, còn tính bền vững là “một đặc điểm đặc trưng của một quá trình hoặc một trạng thái có thể duy trì mãi mãi” Nó cũng được coi là sợi dây gắn kết trong

sự phát triển kinh tế, xóa bỏ đói nghèo, tăng trưởng dân số, dinh dưỡng

ý nghĩa của từ bền vững cũng được nhiều tác giả làm rõ, theo Davit Munro [2000] thì “bền vững không phải là một mục tiêu chính xác mà là một tiêu chuẩn đối với quan điểm và hành động Đó là một quá trình tiếp diễn, có tính lặp đi lặp lại, thông qua đó kinh nghiệm quản lý các hệ thống phức hợp được tích lũy lại, được đánh giá và vận dụng”; còn Stephen Viedrman thì cho rằng “bền vững không phải là vấn đề kỹ thuật cần giải quyết mà là một tầm nhìn vào tương lai, đảm bảo cho chúng ta một lộ trình và giúp sự tập trung chú ý vào một tập hợp các giá trị và những nguyên tắc mang tính luân lý và đạo đức hướng dẫn hành động của chúng ta”

Tuy nhiên, định nghĩa về PTBV được nói đến nhiều nhất là vẫn là định nghĩa của

ủy ban Brundtland:

“Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ mai sau”

Định nghĩa về PTBV nêu trong Báo cáo Brundtland biểu lộ tình cảm và ước vọng của con người trong sự phát triển nhưng chưa thể giúp cho việc hoạch định một chiến lược hoặc thiết lập các mục tiêu, cũng chưa phải là một định nghĩa để dẫn đến một phương thức hành động trong quy hoạch và quản lý các tài nguyên thiên nhiên để đạt tới sự bền vững Cũng vì vậy, trên thực tế còn có những định nghĩa khác về PTBV, nhiều câu hỏi đặt ra cần giải đáp và cả những ý kiến cần được thảo luận Tất cả đều tập trung quanh vấn đề làm thế nào để thực hiện được mục tiêu của PTBV như trong Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất về Môi trường và Phát triển năm 1992 là “cho phép mỗi thành viên của xã hội được sống với sự phát triển đầy đủ các tiềm năng về thể chất, tinh thần và trí tuệ”

Một trong những đặc trưng chủ yếu của PTBV là nó buộc chúng ta phải xem xét nhiều khía cạnh trong toàn bộ khung cảnh và ở tầm nhìn dài hạn Nếu PTBV như trong cuốn “Chăm lo cho Trái đất ” là nâng cao chiến lược cuộc sống con người trong khuôn khổ hạn chế các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thì như Munro đã vạch ra, sự PTBV bao gồm cả ba khía cạnh về xã hội, môi trường cũng như kinh tế như hình 1-5

Trang 37

Bảo vệ môi trường

Xã hộ̣i chấp nhận

KINH TẾ́

Hình 1-5: Tiếp cận các khía cạnh kinh tế, xã hội

và sinh thái trong phát triển bền vững

Để sự phát triển được bền vững thì phát triển phải có tính liên tục mãi mãi, hoặc các lợi ích của phát triển phải được duy trì không hạn định Điều này có nghĩa là quá trình hoặc hoạt động có liên quan, hoặc hoàn cảnh diễn ra phải không được chứa đựng một yếu tố nào có thể hạn chế thời gian tồn tại của nó

Những sợi dây gắn kết trong sự phát triển kinh tế, xóa bỏ đói nghèo, tăng trưởng dân số, dinh dưỡng và Sức khỏe, nhân quyền và bảo vệ môi trường được thể hiện qua những nguyên tắc trong Chương trình nghị sự 21 Không một vấn đề nào trong số này

có thể được giải quyết triệt để trừ khi tất cả những vấn đề đều được chú trọng vì mỗi vấn đề này là một phần không thể tách rời trong hệ thống kinh tế xã hội Đặt con người vào trung tâm của các mối quan tâm cũng là một yêu cầu cốt lõi trong chiến lược thực hiện PTBV Quản lý các tài nguyên trên trái đất và những vấn đề chính khác như nghèo đói, dinh dưỡng và Sức khỏe bằng việc tách chúng ra thành những vấn đề riêng biệt sẽ không nhận thức được sự liên quan giữa chúng

1.5.2 Các tiêu chí, điều kiện của PTBV

Tiêu chí chính của PTBV là xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường

Theo Chương trình Môi trường của Liện hợp quốc, tiêu chí chính cho PTBV là phát triển phải đáp ứng được những nhu cầu tiện nghi ít nhất và nhu cầu của những người dễ bị thương tổn nhất trong xã hội Đó là những người thu nhập thấp, trẻ em, phụ

nữ và người dân bản địa

Những người nghèo chủ yếu quan tâm tới cuộc sống hàng ngày chứ không quan tâm tới việc bảo tồn lâu dài các nguồn tài nguyên Nếu sự phát triển lấy đi những nguồn tài nguyên trực tiếp về thức ăn và chỗ ở của họ mà không đền bù thỏa đáng, đương nhiên người nghèo sẽ phải dùng đến nguồn thức ăn mới sẵn có trong tự nhiên xung quanh họ mà không quan tâm đến tác động tới môi trường do hành động của họ

Trang 38

Người nghèo cũng là người có khuynh hướng bị ảnh hưởng nhiều nhất do sự suy thoái môi trường qua việc các hệ thống cấp nước bị nhiễm bẩn hoặc thiếu những điều kiện vệ sinh, qua việc họ bị buộc phải sống ở nơi những người giàu có hơn không thích sống như ở những khu vực hay xảy ra xói mòn hoặc lũ lụt, trong những nơi quá đông đúc hoặc những nơi bị ảnh hưởng bởi các chất thải độc hại công nghiệp

Do phải sống dựa vào những nguồn thức ăn và nguyên liệu sẵn có ở địa phương nên người nghèo dễ bị thương tổn hơn các đối tượng khác nếu vì sự phát triển mà những nguồn tài nguyên ấy bị mất đi Những người giàu có trong xã hội có thể mua được những sản phẩm nhập khẩu từ các nơi khác nên họ không bị ảnh hưởng xấu như những người nghèo Cứ như vậy, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng do sự phát triển kinh tế và sự thịnh vượng của một số người, sự nghèo hơn của một số khác và môi trường lại bị suy thoái mãi Vì thế vấn đề này phải là tiêu điểm chú ý trong PTBV nhất

là khi xây dựng và cải tiến chính sách luôn phải quan tâm tới lợi ích của người nghèo

và vấn đề xóa đói giảm nghèo

Chìa khóa để sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hạn chế

sự lãng phí tài nguyên là phải đảm bảo sự công bằng, nghĩa là người được hưởng lợi từ việc phát triển phải trả các chi phí và những người bị mất mát quyền lợi (như bị mất đi đất đai hoặc những tập quán của họ) phải được tham gia trong việc đưa ra những quyết định và cùng được hưởng các lợi ích Để phát triển kinh tế bền vững, việc phát triển phải công bằng, nghĩa là tất cả mọi người phải được chia sẻ quyền lợi một cách công bằng

Bảo vệ là sự quản lý sinh quyển một cách chặt chẽ để đảm bảo cho sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo đúng với khả năng của chúng, mang lại lợi ích tối đa, không làm giảm sút khả năng hồi phục và tiềm năng sản xuất của tài nguyên trong tương lai

Nó là hoạt động có ý nghĩa tích cực, bao gồm cả bảo quản, duy trì, sử dụng hợp lý, hồi phục và nâng cao hiệu suất sử dụng các tài nguyên thiên nhiên, nhất là đối với các nguồn tài nguyên tái tạo Vì thế, bảo vệ là một nhân tố không thể thiếu trong PTBV

Điều quan trọng đầu tiên để thực hiện PTBV là nâng cao nhận thức môi trường cho các cơ quan của chính phủ, những người đề xướng phát triển, cho công chúng và những cộng đồng dân cư - đối tượng của việc thực hiện các sáng kiến phát triển cụ thể

để PTBV Việc truyền bá thông tin, giáo dục và sự tham gia của cộng đồng trong các quyết định phát triển là rất quan trọng nhằm lựa chọn được các hành động thỏa mãn yêu cầu đặt ra và đảm bảo sự công bằng

Các điều kiện của phát triển bền vững bao gồm: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về sinh thái

Sự bền vững về kinh tế

Sự bền vững về kinh tế phụ thuộc vào mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí, hay nói chính xác hơn là nó yêu cầu lợi ích thu được của hoạt động phát triển phải lớn hơn hay cân bằng với chi phí phải bỏ ra Mức độ bền vững về kinh tế chủ yếu được xác định bởi tính hữu ích và chi phí đầu vào, chi phí khai thác, chế biến và nhu cầu đối với sản phẩm

Để đảm bảo bền vững về kinh tế, các dự án phát triển phải đem lại lợi ích kinh tế cho con người Các vốn đầu tư cho phát triển phải nhanh chóng được thu hồi và lợi ích

Trang 39

kinh tế của sự phát triển phải làm sao thu được là lớn nhất Sự bền vững về kinh tế phải thể hiện trong sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của nền kinh tế, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống vật chất của nhân dân, tránh được sự suy thoái đình trệ trong tương lai

Sự bền vững về xã hội

Sự bền vững về mặt xã hội phản ánh mối quan hệ giữa phát triển với những tiêu chuẩn xã hội hiện tại Một hoạt động có tính bền vững về mặt xã hội nếu nó phù hợp với những tiêu chuẩn xã hội, hoặc không kéo chúng đi quá sức chịu đựng của cộng đồng Những tiêu chuẩn xã hội dựa vào tôn giáo, truyền thống và phong tục, có thể hoặc không thể hệ thống hóa được bằng pháp luật Chúng phải được thực hiện bằng các quan hệ đạo lý, hệ thống giá trị, ngôn ngữ, giáo dục, gia đình và các mối quan hệ riêng

tư khác, các hệ thống giai cấp và ngôi thứ, thái độ đối với công việc

Bền vững xã hội thể hiện ở chỗ tất cả các sự phát triển đều phải được xã hội chấp nhận và ủng hộ, và phải phục vụ cho mục tiêu phát triển xã hội và đảm bảo sự công bằng xã hội Giáo dục, đào tạo, y tế, phúc lợi xã hội phải được bảo vệ và phát huy

Sự bền vững về sinh thái

Sự bền vững về sinh thái thể hiện ở chỗ các hoạt động phát triển khi thực hiện phải duy trì được năng lực của hệ sinh thái, đảm bảo cho các sinh vật trong hệ duy trì được năng suất, khả năng thích nghi, năng lực tái sinh Điều đó cũng có nghĩa là phải tiết kiệm và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, duy trì và phát triển các hệ sinh thái, tính đa dạng sinh học, bảo vệ chất lượng môi trường sống Các nguồn phế thải từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người phải được quản lý chặt chẽ, xử lý tái chế kịp thời

Phòng ngừa các rủi ro môi trường

Trong tiến trình thực hiện phát triển cần đề phòng những rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động phát triển bằng việc thực hiện nguyên tắc phòng ngừa các rủi ro môi trường Nguyên tắc này cũng đã được đề cập trong Chương trình nghị sự 21: “khi có những mối đe dọa về những thiệt hại nghiêm trọng hoặc các rủi ro không thể tránh khỏi thì không được vì bất kỳ lý do nào khác để trì hoãn việc thực hiện những biện pháp cần thiết và có hiệu quả để ngăn ngừa sự suy thoái môi trường”

Cách cư xử của con người trước nguy cơ trái đất đang bị nóng dần lên là một thí

dụ về việc áp dụng nguyên tắc phòng ngừa Nếu những cảnh báo về hiện tượng này là đúng và có giá trị thì hậu quả của việc không hành động gì cả ngày hôm nay sẽ gây nguy hại hơn rất nhiều so với chi phí phải bỏ ra để có những hành động để giảm bớt hậu quả do rủi ro này gây ra Vì thế, để phát triển bền vững, các cá nhân, cộng đồng và chính phủ các nước cần luôn luôn tỉnh táo để đưa ra những biện pháp hợp lý phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra gây thiệt hại cho chính bản thân mỗi cá nhân và cả cộng đồng

1.5.3 Xu thế tương lai của phát triển bền vững

Nếu xem xét những vấn đề đa dạng, phức tạp đi kèm theo sự phát triển bền vững thì có thể thấy rõ rằng để đạt đến các mục tiêu của PTBV đang là một trong những

Trang 40

thách thức lớn nhất mà loài người đang gặp phải trong thời điểm hiện nay Vượt qua thách thức đó là xu thế tương lai sự phát triển của nhân loại

Phát triển bền vững không phải là một mục tiêu tĩnh, một điểm đến không thay đổi mà đó là một mục tiêu luôn biến chuyển, một tầm nhìn bao quát mà nhân loại đang hướng tới và tất nhiên sẽ phải trải qua một hành trình lâu dài [MRC, 2001]

Đi trên con đường đó con người cần có trí tưởng tượng cùng các kiến thức, sự kiên định, lòng thiện chí, tình yêu thương và sự kiên nhẫn Đồng thời cũng cần có sự hợp tác, sự thích nghi và sự sáng tạo thì mới có thể đạt tới các thành công như ước vọng Những lợi ích của con người trong tương lai đang phụ thuộc tất cả vào ý chí và hành động của con người của thế hệ ngày nay, và cũng vì lẽ đó nhân loại ngày nay đã

tự cam kết sẽ đi theo cuộc hành trình này mãi mãi

Phát triển bền vững không phải là một điểm đến mà là một hành trình không bao giờ kết thúc Giống như bất cứ một hành trình nào khác, phát triển bền vững cũng có một số giai đoạn: chuẩn bị đường đi, quyết định dấu hiệu để tìm kiếm, bắt đầu thực hiện chuyến đi và xem đã đi được bao xa trên đường Đi theo con đường đó con người cần phải mạnh dạn thay đổi, kể cả những thói quen và phương thức truyền thống từ ngàn xưa để lại nếu những thói quen đó không còn thích hợp với tiêu chí của PTBV

Cần có những thay đổi trong thể chế, chính sách, pháp luật

Những phương thức phát triển kinh tế truyền thống đã gây hại tới tài nguyên thiên nhiên và tạo ra sự không công bằng về mặt xã hội Chỉ bằng chuyển đổi một số nguyên tắc cai trị cơ bản và thông qua sự cải cách về thể chế mới, loài người mới có thể chuẩn bị để chuyển sang những phương thức phát triển bền vững hơn, cân đối và đúng đắn

Yêu cầu của việc thay đổi trong những chính sách quốc gia và quốc tế là làm sao

có các chính sách phù hợp với nhận thức mới về giá trị tài nguyên, đó là: “giá trị đầy đủ của tài nguyên thiên nhiên phải được xem xét như là những nguồn vốn đầu tư cần được duy trì ổn định, không được xem đó là nguồn thu nhập có thể được tiêu dùng”

Ngày đăng: 06/01/2015, 13:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ NNPTNT, 2001, Tuyển chọn một số văn bản pháp luật về Tài nguyên nước: Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ Công trình Thủy lợi (số 32/2001/PL), Pháp lệnh Đê điều (số 26/2000/PL), Pháp lệnh Phòng chống lụt bão (số 09/L-CTN) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn một số văn bản pháp luật về Tài nguyên nước
2. Quốc hội, 1998, Luật Tài Nguyên nước và Nghị định hướng dẫn thi hành, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tài Nguyên nước và Nghị định hướng dẫn thi hành
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
3. Caponera, Dante A., 1992, Principles of water Law and Administration: National and International. A.A. Balkema, Rotterdam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles of water Law and Administration: "National and International
4. IWMI, 2000, A framework for Institutional Analysis for Water Resources Management in a basin Contex. Working paper No.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A framework for Institutional Analysis for Water Resources Management in a basin Contex
6. Phuong, T.T.T. 1992, Environmantal Management and Policy making in Vietnam, in Seminar on Environment and Development in Vietnam, Dec 6-7, Australian National University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmantal Management and Policy making in Vietnam
5. Neil S. Grigg, 1976, Water Resources management, Principles, Regulations, and Cases, by, McGraw – Hill, ISBN 0-07-024782-X Khác
7. WB, 1997, User Organization for sustainable water services, Edited by A. Subramanian, N.J. Jagannathan, World Bank Technical paper No. 354 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1-1. Các lưu vực sông có diện tích lớn hơn 2500 km 2  của nước ta  Hiện nay, nhà nước rất chú trọng phát triển chương trình trồng rừng nhưng một  số vùng trên các lưu vực sông diện tích rừng vẫn bị giảm do các hoạt động khai thác gỗ - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 1 1. Các lưu vực sông có diện tích lớn hơn 2500 km 2 của nước ta Hiện nay, nhà nước rất chú trọng phát triển chương trình trồng rừng nhưng một số vùng trên các lưu vực sông diện tích rừng vẫn bị giảm do các hoạt động khai thác gỗ (Trang 17)
Hình 1-2: Các thành phần và mối liên hệ của Quản lý tổng hợp tài nguyên nước - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 1 2: Các thành phần và mối liên hệ của Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (Trang 25)
Hình thức khai thác và cách thức sử  dụng các tài nguyên, đặc biệt là sử  dụng  nước của con người cũng tạo ra các chất thải làm ô nhiễm và suy giảm chất lượng của  hệ thống tự nhiên - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình th ức khai thác và cách thức sử dụng các tài nguyên, đặc biệt là sử dụng nước của con người cũng tạo ra các chất thải làm ô nhiễm và suy giảm chất lượng của hệ thống tự nhiên (Trang 26)
Hình 1-3: Khái niệm tổng hợp xuyên ngành của QLTH-TNN - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 1 3: Khái niệm tổng hợp xuyên ngành của QLTH-TNN (Trang 27)
Hình 1-4. Khuôn khổ chung của QLTHTNN - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 1 4. Khuôn khổ chung của QLTHTNN (Trang 34)
Hình 1-5: Tiếp cận các khía cạnh kinh tế, xã hội   và sinh thái trong phát triển bền vững - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 1 5: Tiếp cận các khía cạnh kinh tế, xã hội và sinh thái trong phát triển bền vững (Trang 37)
Hình 2-1: Các ngưỡng nguồn nước của lưu vực sông - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 2 1: Các ngưỡng nguồn nước của lưu vực sông (Trang 58)
Hình 2-2: Sơ đồ quá trình thực hiện chính sách quản lý lũ lụt - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 2 2: Sơ đồ quá trình thực hiện chính sách quản lý lũ lụt (Trang 68)
Hình 2-3: Tổng hợp các loại thiệt hại do lũ lụt - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 2 3: Tổng hợp các loại thiệt hại do lũ lụt (Trang 72)
Hình 2-4. Các nguyên tắc chung xác định giá trị của nước - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 2 4. Các nguyên tắc chung xác định giá trị của nước (Trang 96)
Hình 2-5. Nguyên tắc chung để tính giá nước cung cấp        (Nguồn: Global Water Partnership) - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 2 5. Nguyên tắc chung để tính giá nước cung cấp (Nguồn: Global Water Partnership) (Trang 97)
Hình 3-1: Các thành phần của quản lý lưu vực sông - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 3 1: Các thành phần của quản lý lưu vực sông (Trang 100)
Hình 3-2: Sơ đồ phân tích lập quy hoạch quản lý tổng hợp - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 3 2: Sơ đồ phân tích lập quy hoạch quản lý tổng hợp (Trang 116)
Hình 4-2: Cách nhìn hệ thống của mô hình lưu vực sông - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Hình 4 2: Cách nhìn hệ thống của mô hình lưu vực sông (Trang 126)
Bảng 4-2: Các chất ô nhiễm chủ yếu và nguồn gốc của chúng - Giáo trình Quản lý tổng hợp lưu vực sông
Bảng 4 2: Các chất ô nhiễm chủ yếu và nguồn gốc của chúng (Trang 133)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w