1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề án chuyên ngành thị trường chứng khoán thực trạng và giải pháp

35 279 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 118,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu.Hoặc chính thị trường chứng khoán tạo ra tính thanh khoản để cho công ty có thể bánchứng khoán bất kỳ lúc nào để có tiền.. Trên

Trang 1

ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH Thị trường chứng khoán thực trạng và giải pháp

LỜI MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của đề tài.

Thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời đầu năm 2000 Thuật ngữ “Thịtrường chứng khoán” còn khá mới mẻ đối với công chúng Việt Nam Trong khi đó ởnhiều nước trên thế giới, thị trường chứng khoán đã phát triển rất sôi động Đầu tư vàothị trường chứng khoán đã trở nên quan trọng đối với mọi người

Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương Mại ThếGiới trong năm qua đã đưa ra cơ hội lớn cho Việt Nam, đặt ra yêu cầu và thách thứcmới, đòi hỏi chúng ta phải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu quả cao hơnnữa Muốn vậy chúng ta phải từng bước xây dựng và phát triển đồng bộ các loại thịtrường vốn mà nổi bật là thị trường chứng khoán

Xuất phát từ những chức năng, vai trò quan trọng của thị trường chứng khoán trongviệc góp phần phát triển kinh tế thì việc phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Namhiện nay là thực sự cần thiết, có thể nói là nhu cầu thiết yếu Giúp chúng ta hội nhậpnhanh và tiến kịp với trình độ của các nước trên thế giới Và không chỉ quan trọng đốivới nền kinh tế của một nước mà nó còn quan trọng đối với mỗi người bởi vì khả năngđầu tư sinh lợi của nó Vì vậy, mỗi người tuỳ theo điều kiện, khả năng của mình màcần phải tiếp cận thật nhanh để tham gia đầu tư có hiệu quả vào thị trường chứngkhoán Chính các hoạt động đó sẽ góp phần đưa thị trường chứng khoán Việt Namphát triển

2. Phạm vi và mục đích nghiên cứu

Trang 2

bài viết này cũng chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất đối vớithị trường chứng khoán Việt Nam.

• Mục đích nghiên cứu

Thấy được thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam, vẫn đang là thị trườngnon yếu Nhưng nó là nhân tố quan trọng để thúc đẩy kinh tế Việt Nam đi lên hoà nhậpvới xu hướng chung của Thế giới Và từ đó tìm ra giải pháp thích hợp cho thị trườngchứng khoán nước ta

3. Kết cấu của đề bài.

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận cơ bản về thị trường chứngkhoán, nghiên cứu thống kê, phân tích số liệu, nắm bắt thông tin từ các phương tiệnthông tin đại chúng nhằm tìm ra những thành công và những thất bại của thị trườngchứng khoán Việt Nam

Nội dung của đề tài bao gồm các nội dung sau:

Lời mở đầu

Phần I: Cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán.

Phần II: Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam.

Phần III: Một số giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.

Lời kết luận.

Vì sự hiểu biết và thời gian có hạn cho nên nội dung đề tài của mình không tránhkhỏi những sai xót Do vậy, em mong nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo của thầy cô vàbạn bè để cho đề tài của em thêm hoàn thiện

Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô Bùi Thị Thu Ngân cô đã giúp em hoànthành tốt đề tài này

Trang 3

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Thị trường chứng khoán phi chính thức hay còn gọi là thị trường OTC, là nơimua bán các loại chứng khoán bên ngoài Sở giao dịch, không có ngày giờ nghỉ hay thủtục quyết định mà do thỏa thuận giữa người mua và người bán

b) Căn cứ vào quá trình luân chuyển chứng khoán có thị trường phát hành và thị trường giao dịch.

Thị trường phát hành hay còn gọi là thị trường sơ cấp là nơi các chứng khoánđược phát hành lần đầu bởi các nhà phát hành được bán cho các nhà đầu tư

c) Căn cứ vào phương thức giao dịch có thị trường giao ngay và thị trường tương lai.

Thị trường giao ngay là thị trường mua bán chứng khoán theo giá của ngày giaodịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra tiếp theo sau đó vàingày theo qui định

Thị trường tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo một loạt hợp đồngđịnh sẵn, giá cả được thỏa thuận trong ngày giao dịch nhưng việc thanh toán vàchuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra trong một ngày ký hạn nhất định trong tương lai

d) Căn cứ vào đặc điểm hàng hóa trên thị trường chứng khoán có thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường phát sinh.

 Thị trường trái phiếu là nơi mua bán các trái phiếu

Trang 4

 Thị trường cổ phiếu là nơi mua bán các cổ phiếu

 Thị trường phát sinh là nơi mua bán các công cụ có nguồn gốc chứng khoán

1.1.3 Vai trò của thị trường chứng khoán.

a) Đối với chính phủ.

Thị trường chứng khoán cung cấp các phương tiện để huy động vốn và sử dụng các nguồn vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân Chính phủ huy độngvốn bằng việc bán trái phiếu và dùng số tiền đó để đầu tư vào các dự án cần thiết củamình

Thị trường chứng khoán còn góp phần thực hiện quá trình cổ phần hoá Chínhthị trường chứng khoán có thực mới có thể tuyên truyền sự cần thiết của thị trườngchứng khoán một cách tốt nhất Từ đó khuyến khích việc cổ phần hóa nhanh lên cácdoanh nghiệp quốc doanh

Thị trường chứng khoán là nơi để thực hiện các chính sách tiền tệ Lãi suất thịtrường có thể tăng lên hoặc giảm xuống do việc chính phủ mua hoặc bán trái phiếu.Ngoài ra thị trường chứng khoán là nơi thu hút các nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nướcngoài qua việc nước ngoài mua chứng khoán

b) Đối với doanh nghiệp.

Thị trường chứng khoán giúp các công ty thoát khỏi các khoản vay có chi phícao ở các ngân hàng Các doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu.Hoặc chính thị trường chứng khoán tạo ra tính thanh khoản để cho công ty có thể bánchứng khoán bất kỳ lúc nào để có tiền Như vậy, thị trường chứng khoán giúp cácdoanh nghiệp đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và đầu tư

Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác (kể cả giá trị hữu hình và vô hình) thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường Từ đó tạo ra một môi trường cạnh tranh lànhmạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệmới, cải tiến sản phẩm Thị trường chứng khoán còn là nơi giúp các tập đoàn ra mắt công chúng.Thị trường chứng khoán chính là nơi quảng cáo ít chi phí về bản thân doanh nghiệp

c) Đối với nhà đầu tư.

Thị trường chứng khoán là nơi mà các nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm cơ hội đầu

tư để đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư

Trang 5

1.1.4 Nhược điểm của thị trường chứng khoán.

a) Yếu tố đầu cơ.

Đầu tư là yếu tố có tính toán của người chấp nhận rủi ro Họ có thể mua cổphiếu ngay với hy vọng giá cổ phiếu sẽ tăng trong tương lai và thu hồi được lợi nhuậntrong từng thương vụ Yếu tố này gây ảnh hưởng lan truyền làm cho giá cổ phiếu cóthể tăng giả tạo Tuy nhiên thị trường không cấm yếu tố này

b) Mua bán nội gián

Mua bán nội gián là việc một cá nhân nào đó lợi dụng vị trí công việc của mình,nắm được những thông tin nội bộ của đơn vị phát hành để mua hoặc bán cổ phiếu của đơn vị đó một cách không bình thường nhằm thu lợi nhuận cho mình và làm ảnh hưởng tới giá của cổ phiếu trên thị trường Đây là hành vi phi đạo đức thương mại và

bị cấm ở các nước

c) Phao tin đồn không chính xác hay thông tin lệch lạc

Đây là việc đưa ra các thông tin sai sự thật về tình hình tài chính, tình hình nội b

ộ của công ty hay về môi trường kinh doanh của công ty nhằm tăng hay giảm giá

cổ phiếu để thu lợi nhuận cho cá nhân

d) Mua bán cổ phiếu ngầm

Mua bán cổ phiếu ngầm là việc mua bán không qua thị trường chứng khoán.Điều này có thể gây áp lực cho các nhà đầu tư khác đưa tới việc khống chế hay thaythế lãnh đạo Việc phao tin đồn không chính xác và mua bán cổ phiếu ngầm đều bịcấm ở các nước

1.1.5 Các chỉ số trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

a) Chỉ số chứng khoáng VN index.

Chỉ số VN – index thể hiện biến động giá cổ phiếu giao dịch tại TTGDCK TP

Hồ Chí Minh Công thức tính chỉ số áp dụng đối với toàn bộ các cổ phiếu niêm yết tạiTTGDCK nhằm thể hiện xu hướng giá cổ phiếu hàng ngày Chỉ số VN – Index so sánhgiá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường cơ sở vào ngày gốc 28-7-2000, khi thịtrường chứng khoán chính thức đi vào hoạt động

b) Chỉ số Hastc-Index

Chỉ số HASTC-Index được tính toán bắt đầu từ ngày chính thức mở cửa phiên giao dịch đầu tiên của thị trường (ngày 14-7-2005), được gọi là thời điểm gốc Chỉ số

Trang 6

này tính toán biến động giá của tất cả các cổ phiếu giao dịch trên Trung tâm GDCK HàNội Phương pháp tính chỉ số bằng cách so sánh tổng giá trị thị trường hiện tại với tổng giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết tại thời điểm gốc

1.1.6 Các nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán.

a) Nguyên tắc trung gian.

Trên thị trường chứng khoán, các giao dịch thường được thực hiện thông qua tổchức trung gian và môi giới là các công ty chứng khoán Trên thị trường sơ cấp, cácnhà đầu tư thường không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh.Trên thị trường thứ cấp, thông qua nghiệp vụ môi giới kinh doanh các công ty chứngkhoán mua chứng khoán giúp các nhà đầu tư, hoặc mua chứng khoán của nhà đầu tưnày để mua và bán cho các nhà đầu tư khác

Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là chứng khoánthực và giúp thị trường hoạt động lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư

b) Nguyên tắc định giá

Việc định giá chứng khoán trên thị trường phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà trunggian môi giới Mỗi nhà trung gian môi giới định giá mỗi loại chứng khoán tại một thời điểm tuỳ theo sự xét đoán và tùy vào số cung cầu chứng khoán có trên thị trường Việc định giá chứng khoán được thực hiện thông qua trung gian cuộc thương lượng giữa những người môi giới cần mua và cần bán Gias cả được hai bên thống nhất Tất

cả các thành viên có liên quan trên thị trường và cũng không có ai có quyền định giá chứng khoán một cách độc đoán Vì thế thị trường chứng khoán được coi là thị trường

tự do nhất trong các thị trường

c) Nguyên tắc công khai hoá

Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hoá về các loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, cũng như tình hình tài chính vềkết quả kinh doanh của công ty phát hành và số lượng chứng khoán và giá cả từng loạiđều được công khai trên thị trường và trong báo cáo Khi kết thúc một cuộc giao dịch

số lượng chứng khoán được mua bán, giá cả từng loại đều được lập tức thông báo ngay Nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người mua và người bán chứng khoán không bị hớ trong mua bán chứng khoán và người mua chứng khoán dễ dàng chọn lại chứng khoán theo sở thích của mình

Trang 7

1.2 CHỨNG KHOÁN VÀ VIỆC PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN

1.2.1 Chứng khoán và việc phân loại chứng khoán.

a) Khái niệm.

Chứng khoán là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và nó xác nhậnquyền đòi nợ hay quyền sở hữu về tài sản, bao gồm những điều kiện về thu nhập trongmột khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng

b) Phân loại chứng khoán.

Tuỳ theo cách chọn tiêu thức, người ta có thể phân loại chứng khoán thành nhiềuloại khác nhau Tuy nhiên ở đây, chứng khoán được chia thành ba tiêu thức chủ yếu,

đó là:

 Căn cứ theo tiêu thức pháp lý có chứng khoán vô danh và chứng khoán ký danhChứng khoán vô danh là loại chứng khoán không ghi rõ họ tên chủ sở hữu Việc chuyển nhượng loại này rất dễ dàng, không cần thủ tục đăng ký rườm rà

Chứng khoán ký danh là loại chứng khoán ghi rõ họ tên chủ sở hữu Việc chuyểnnhượng loại này được thực hiện bằng thủ tục đăng ký tại cơ quan phát hành

Căn cứ theo tính chất thu nhập có chứng khoán có thu nhập ổn định, chứng khoán

có thu nhập không ổn định và chứng khoán hỗn hợp

Chứng khoán có thu nhập ổn định là các trái phiếu, thu nhập của nó không phụthuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty

Chứng khoán có thu nhập không ổn định là các cổ phiếu thường, thu nhập của nóphụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty và chính sách trả cổ tức

Chứng khoán hỗn hợp là cổ phiếu ưu đãi, có một phần thu nhập là không phụthuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty

Căn cứ theo chủ thể phát hành có chứng khoán Chính phủ và chứng khoán công

ty

Chứng khoán Chính phủ là các chứng khoán do các cơ quan của Chính phủ trungương hay chính quyền địa phương phát hành như trái phiếu kho bạc, trái phiếu côngtrình, trái phiếu Chính phủ, công trái Nhà nước

Chứng khoán công ty là chứng khoán do các doanh nghiệp, công ty cổ phần phát hành như trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ có nguồn gốc chứng khoán

Trang 8

1.2.2 Phát hành chứng khoán.

a) Chủ thể phát hành.

 Thứ nhất là Chính phủ

Mục đích phát hành của chính phủ là bù đắp sự thiếu hụt của ngân sách và huyđộng vốn để tài trợ cho các công trình, dự án lớn và quan trọng Chính phủ phát hànhcác loại chứng khoán bao gồm: Trái phiếu Chính phủ, Trái phiếu công trình, Tín phiếukho bạc

 Thứ hai là các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp phát hành ra chứng khoán để huy động vốn và tăng vốn chosản xuất kinh doanh bên cạnh nguồn vốn đi vay từ các ngân hàng thương mại Trongnền kinh tế thị trường chỉ có các công ty cổ phần và doanh nghiệp cổ phần hóa là tổchức được phép phát hành cả trái phiếu và cổ phiếu

 Thứ ba là các quỹ đầu tư

Quỹ đầu tư là các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, được hình thành bằng vốn gópcủa các nhà đầu tư để tiến hành đầu tư vào chứng khoán và các loại hình đầu tư khác.Mục đích của thành lập quỹ đầu tư là tập hợp và thu hút những nhà dầu tư nhỏ, lẻ thamgia kinh doanh

b) Phương thức phát hành chứng khoán.

 Thứ nhất: Phân loại theo đợt phát hành

Theo tiêu thức này, người ta phân chia phương thức phát hành thành phát hành chứng khoán lần đầu và phát hành các đợt tiếp theo

 Thứ hai: Phân loại theo đối tượng mua bán chứng khoán

Theo đối tượng mua bán chứng khoán, phương thức phát hành được phân chiathành:

Phát hành riêng lẻ: là việc phát hành trong đó chứng khoán được bán trong phạm

vi một số người nhất định (thông thường là nhà đầu tư có tổ chức), với những điềukiện hạn chế và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định

Phát hành ra công chúng: là hình thứ phát hành trong đó chứng khoán được pháthành rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn các nhà đầu tư nhất định, trong đóphải đảm bảo một tỷ lệ cho cac nhà đầu tư nhỏ Ngoài ra tổng khối lượng phát hànhchứng khoán cũng đạt một tỷ lệ theo quy định

Trang 9

1.2.3 Cách thức đầu tư chứng khoán.

Nhà đầu tư có thể tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán trên hai thị trường

là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp: Nhà đầu tư tham gia đấu giá cổ phần tại cáctrung tâm giao dịch chứng khoán, hoặc công ty chứng khoán làm đại lý nhận lệnh(thường là công ty làm tư vấn phát hành cho công ty cổ phần) Thị trường thứ cấp:Nhà đầu tư không đến trực tiếp các trung tâm giao dịch mà mở tài khoản tại các công

ty chứng khoán để thực hiện giao dịch theo nguyên tắc trung gian đối với chứng khoánniêm yết và đăng ký giao dịch Còn đối với các chứng khoán chưa niêm yết hoặc chưađăng ký giao dịch thì không cần điều kiện này

Trang 10

PHẦN II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN

NAY.

2.1 THỊ TRƯỜNG SƠ CẤP

2.1.1 Đầu tư vào cổ phiếu.

Thực trạng của đầu tư vào cổ phiếu ở Việt Nam được thể hiện thông qua một sốđiểm sau:

Thứ nhất là Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thực hiện cổ phần hóa bán đấu giá

qua các tổ chức trung gian tài chính

Theo quy định tại nghị định số 187/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về chuyển công tynhà nước thành công ty cổ phần, chúng ta đã cổ phần hóa được 2.188 doanh nghiệp,sắp xếp lại 3.450 DNNN trong tổng số 5.655 doanh nghiệp nhà nước vào đầu năm

2001 Kết thúc năm 2005 chúng ta đã cơ bản hoàn thành cơ cấu lại DNNN, tập trunghơn vào các lĩnh vực then chốt Và năm 2005 cũng là năm đầu tiên thực hiện hình thứcbán đấu giá cổ phần của các DNNN thực hiện cổ phần hóa qua các trung tâm giao dịchchứng khoán Hai trung tâm giao dịch chứng khoán là trung tâm giao dịch chứngkhoán thành phố Hồ Chí Minh và trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội trong năm

2005 đã thực hiện 243 đợt đấu giá cổ phần, so với tổng số lượng cổ phần chào bán, và

số lượng cổ phần được bán như sau:

(Nguồn: Tạp chí chứng khoán Việt Nam số 1+2 năm 2006)

Theo bảng trên ta có thể thấy rằng, năm 2005 thị trường sơ cấp từ con số không

đã tạo ra một sự ấn tượng trong thị trường chứng khoán với 243 doanh nghiệp đã thựchiện đấu giá với số lượng cổ phần chào bán là 352 nghìn cổ phần tương đương với

3520 tỷ đồng (tính theo mệnh giá chào bán là 10.000 VNĐ)

Đến năm 2008 việc cổ phần hóa không thành công Có 62 công ty tiến hành cổphần hoá và đấu giá thông qua HOSE và HASTC, nhưng phần lớn không bán được hết

Trang 11

số cổ phần Theo thống kê thì chỉ có 73/272 doanh nghiệp đã cổ phần hoá trong năm

2008, đạt 28% kế hoạch đề ra Giờ đây, những doanh nghiệp như Vinatex, BIDV, Vietnam Airlines sẽ phải chờ đợi đến 2009 để được cổ phần hóa

Cổ phần hóa đã trở thành biện pháp sắp xếp lại, làm thay đổi về chất của khu vựcDNNN Tuy nhiên, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế cho rằng, công tác nàytrong những tháng đầu năm 2013 còn chậm so với kế hoạch Để đảm bảo hiệu quả củanhiệm vụ này trong thời gian còn lại của thời kỳ 2013 - 2015, nhiều chuyên gia tronglĩnh vực kinh tế cho rằng, các bộ, ngành, địa phương cần tăng cường vai trò giám sát,chỉ đạo của các cấp ủy; đổi mới và nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng trongDNNN; thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa, hỗ trợ nhàđầu tư mua cổ phần; đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN theo hướng giảm tỷ lệ sở hữu nhànước tại doanh nghiệp…

Qua đây cho chúng ta có thể thấy rằng việc phần hóa bán đấu giá đã góp phầnlàm sôi động thị trường sơ cấp giúp thị trường chứng khoán Việt Nam có thêm nhữngbước tiến mới trong lĩnh vực thị trường chứng khoán

Thứ hai là tình hình các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường chứng

khoán Việt Nam

Năm 2005 Chính phủ ban hành quyết định 238/2005/QĐ-TTg nới rộng tỷ lệ thamgia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam từ 30% lên 49%, thịtrường đã có những chuyển biến tích cực Toàn bộ giá trị thị trường với chứng khoánniêm yết hiện nay khoảng 5,3 tỷ USD Cuối tháng 12- 2006, có trên 120.000 tài khoảngiao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà đầu tư nướcngoài Ngày 01/01/2007 Luật Chứng khoán mới đi vào hoạt động chính thức đã gópphần thúc đẩy thị trường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tàichính quốc tế Đến năm 2008 giao dịch của NĐTNN có nhiều điều rất đáng quan sát.Tuy nhiên mọi chuyện thay đổi kể từ tháng 8 khi tình hình khủng hoảng kinh tế thếgiới lan tới Việt Nam Nhà đầu tư nước ngoài bán ròng với khối lượng rất lớn, làmgiảm đáng kể tỷ lệ nắm giữ chứng khoán Việt Nam của khối này, giảm gần 4 tỷ USD

so với đầu năm Vào cuối năm 2009 đầu năm 2010 chiến lược của NĐTNN và khốilượng mua ròng mạnh nhất trong thập kỷ, sự bền bỉ mua ròng của khối NĐTNN khithị trường sụt giảm mạnh đã giúp họ bình quân được giá vốn với mức giá cao Ngoài

Trang 12

ra, cũng có thể thấy rằng, với một lượng tiền đầu tư thấp hơn các năm trước, khốiNĐTNN đã sở hữu được một lượng cổ phiếu lớn hơn hẳn Đây phải chăng là mộttrong những chiến lược của NĐTNN, tranh thủ khi thị trường sụt giảm, nâng cao tỷ lệ

sở hữu các doanh nghiệp có thương hiệu tốt với giá rẻ Trong 9 tháng đầu năm 2013vừa qua, có 551 nhà đầu tư nước ngoài được cấp mã giao dịch (208 cá nhân, 344 tổchức), tăng 65,5% so với cùng kỳ năm trước (cá nhân tăng 10,1%, tổ chức tăng138,9%)

Trên thực tế, thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay chủ yếu là sân chơicủa các nhà đầu tư nhỏ lẻ, mua bán trên thị trường thường có những biến động theo

“cảm xúc” và những tin đồn Mặc dù vậy thì thị trường chứng khoán Việt Nam là mộtđiểm sáng để thu hút đầu tư nước ngoài Điều đáng mừng là chính phủ Việt Nam đã vàđang có những chuyển biến tích cực để thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp, như việcđẩy mạnh việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, đưa các doanh nghiệp mạnh lênniêm yết Chúng ta có thể thấy rằng, việc tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vàothị trường chứng khoán Việt Nam chưa nhiều Chúng ta cần cải thiện nhiều hơn nữa vềmôi trường đầu tư cho hợp lý Đặc biệt hơn cả là hệ thống thủ tục pháp lý

2.1.2 Đầu tư vào trái phiếu.

Theo bộ tài chính, đến cuối năm 2005, cả nước đã phát hành 70.000 tỷ đồng tráiphiếu ra thị trường Trong đó, tổng số vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu tráiphiếu chính phủ đạt gần 60.000 tỷ đồng, các tỉnh thành phố phát hành gần 7.000 tỷđồng (gồm thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đồng Nai) và các doanh nghiệp pháthành trên 2000 tỷ đồng Bộ tài chính có kế hoạch sẽ phát hành khoảng 18.000 tỷ đồngtrái phiếu vào năm 2006 với nhiều mục đích khác nhau, nhưng cơ bản là vì xây dựng

cơ sở hạ tầng của Việt Nam đang trong tình trạng xuống cấp như: thuỷ điện Sơn La,đường biên giới, giáo dục đào tạo, các công trình trọng điểm

Bảng giá trị phát hành trái phiếu đã phát hành tính đến năm 2005

Trang 13

phiếu chính phủ là một công cụ an toàn tiện lợi mọi người dân không ưa mạo hiểm thì

có thể cho vay vốn của mình thông qua hình thức này

Tình hình hoạt động của TTCK năm 2006 có nhiều sự thay đổi

Hoạt động đấu thầu trái phiếu chính phủ tai trung tâm giao dịch chứng khoántheo thông tư 21/2004/TT-BTC ngày 24/3/2004 của bộ tài chính hướng dẫn việc đấuthầu trái phiếu chính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyềnđịa phương qua thị trường chứng khoán giao dịch tập trung Theo thông tư 21/BTC,trái phiếu đấu thầu tại trung tâm giao dịch chứng khoán bao gồm: trái phiếu kho bạc,trái phiếu công trình trung ương, trái phiếu công trình địa phương, trái phiếu đầu tư,trái phiếu được chính phủ bảo lãnh Và các loại trái phiếu này sau khi đấu thầu quatrung tâm giao dịch chứng khoán, được niêm yêt/ đăng ký giao dịch trên trung tâmgiao dịch chứng khoán Song hành với việc đấu thầu trái phiếu chính phủ tại trung tâmgiao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, tính đên ngày 30/6/2006, sau hơn mộtnăm chính thức đi vào hoạt động, trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã tổ chứcđược 9 đợt đấu thầu trái phiếu, huy động được 1.115 tỷ đồng Tuy nhiên, với quyếtđịnh 2276/QĐ-BTC của bộ tài chính ban hành ngày 20/6/2006 (Quyết định 2276/QĐ-BTC), từ ngày 1/7/2006 hoạt động đấu thầu trái phiếu chính phủ đã chính thức chuyểngiao cho trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đảm trách Với mốc ngày 1/7 chotới ngày 31/8, trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã tổ chức 5 đợt đấu thầu tráiphiếu chính phủ thành công, huy động được 1.385 tỷ đồng Cụ thể, đợt 1 phát hànhđược 175 tỷ đồng/200 tỷ đồng gọi thầu trái phiếu đô thị cho quỹđầu tư phát triển đôthị thành phố Hồ Chí Minh (Hifu), bao gồm 100 tỷ đồng là loại cổ phiếu có kỳ hạn 5năm và 75 tỷ đồng là loại có kỳ hạn 10 năm; Đợt 2, huy động được 300 tỷ đồng/300 tỷđồng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm gọi thầu của kho bạc nhà nước, với mức lãisuất trúng thầu đạt 8,63%; Đợt 3, phát hành 500 tỷ đồng/500 tỷ đồng trái phiếu chínhphủ kỳ hạn 5 năm của kho bạc nhà nước phát hành, với lãi suất 8,25%; Đợt 4, ngày28/8 tổ chức đấu thầu 500 tỷ đồng trái phiếu chính phủ do kho bạc nhà nước phát hành

có kỳ hạn 5 năm phát hành ngày 30/8/2006, với khối lượng trái phiếu bán được là 200

tỷ đồng, lãi suất trúng thầu vẫn là 8,25%; Và đợt 5, ngày 29/8/2006 tổ chức đấu thầu

260 tỷ đồng trái phiếu đô thị do Quỹ Hifu phát hành, kết quả huy động được 210 tỷ

Trang 14

đồng Trong đó, 110 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 10 năm lãi suất 9,25% và 100 tỷ đồngtrái phiếu kỳ hạn 15 năm lãi suất 9,55%.

Bảng số liệu về tình hình phát hành trái phiếu:

Các đợt Loại trái phiếu Kỳ hạn Lãi suất đạt được (tỷ đồng)

(Nguồn: Tạp chí chứng khoán Việt Nam số 10 năm 2006).

Chỉ nói riêng đến thị trường trái phiếu chính phủ Tính từ ngày 31/7/2006 đếnngày 11/9/2006, trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã tổ chức thành công 4phiên đấu thầu trái phiếu chính phủ Tổng khối lượng trái phiếu gọi thầu là 1.500 tỷđồng Tổng khối lượng trái phiếu đăng ký tham gia đấu thầu là 4.183 tỷ đồng (gấp2,87 lần khối lượng gọi thầu) Kết quả khối lượng trái phiếu trúng thầu đạt 1.200 tỷđồng Tính đến ngày 11/9/2006, số trái phiếu phát hành theo phương thức bảo lãnhphát hành của Kho bạc nhà nước và Ngân hàng phát triển Việt Nam đăng ký giao dịchtrên trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội có 38 loại, với tổng giá trị đạt 7.027 tỷđồng, trong đó có 8 loại của kho bạc nhà nước (3.042 tỷ đồng) và có 30 loại của ngânhàng phát triển Việt Nam (3.985 tỷ đồng)

Năm 2006, Kho bạc nhà nước có nhiệm vụ huy động vốn thông qua phát hành các loại trái phiếu, công trái là 54.500 tỷ đồng, trong đó huy động cho ngân sách nhànước 33.000 tỷ đồng, cho các công trình giao thông thuỷ lợi 15.500 tỷ đồng, công tráigiáo dục 2.500 tỷ đồng và cho các mục đích khác là 3.500 tỷ đồng Tính đến hết ngày15/9/2006, Kho bạc nhà nước đã huy động được gần 40.000 tỷ đồng, trong đó 6.197 tỷđồng được huy động qua 18 phiên đấu thầu qua 2 trung tâm giao dịch chứng khoán HàNội và Thành phố Hồ Chí Minh Dự kiến từ nay đến cuối năm 2006, kho bạc nhà nước

sẽ huy động 2.000 – 3.000 tỷ đồng thông qua đấu thầu tại trung tâm giao dịch chứngkhoán Năm 2007 sẽ huy động 12.000 tỷ đồng qua trung tâm giao dịch chứng khoántrong tổng số 63.500 tỷ đồng huy động cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư pháttriển Đặc biệt, năm 2007 giao dịch trên thị trường trái phiếu Việt Nam đạt tốc độ tăng

Trang 15

trưởng cao nhất trong khu vực Đông Á Cụ thể tăng 98.11% so với mức trung bình21.1% của khu vực Tuy nhiên, theo đánh giá của các tổ chức tài chính chuyên nghiệp,thị trường trái phiếu Việt Nam vẫn được coi là thị trường chưa phát triển, bên cạnh đócùng với sự đi xuống của thị trường chứng khoán, trong năm 2008, thị trường tráiphiếu, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp, cũng trải qua thời kỳ “ảm đạm” Cuối năm

2008, trái phiếu phát triển khá mạnh khi thị thường chứng khoán suy giảm và kênh đầu

tư khác lên ngôi, đó là bất động sản vào đầu năm, USD vào giữa năm Đối với ViệtNam thì trái phiếu chính phủ là một công cụ an toàn tiện lợi mọi người dân không ưamạo hiểm thì có thể cho vay vốn của mình thông qua hình thức này Hoạt động đấuthầu trái phiếu chính phủ tại trung tâm giao dịch chứng khoán theo thông tư21/2004/TT-BTC ngày 24/3/2004 của bộ tài chính hướng dẫn việc đấu thầu trái phiếuchính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương quathị trường chứng khoán giao dịch tập trung Và các loại trái phiếu này sau khi đấu thầuqua trung tâm giao dịch chứng khoán, được niêm yết đăng ký giao dịch trên trung tâmgiao dịch chứng khoán

Việc triển khai Quyết định 2276/BTC hơi chậm, nhưng trên thực tế kết quả thuđược là rất lớn và tạo ra nền tảng phát triển bền vững Và việc tập trung đấu thầu tráiphiếu chính phủ về một nơi tạo tiền đề cho việc tổ chức một thị trường thứ cấp hiệuquả hơn Như vậy chúng ta có thể nói rằng việc đấu thầu trái phiếu chính phủ củachúng ta trong thời gian qua có nhiều bước tiến lớn Đây là thành tựu chúng ta đángghi nhận Việc phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế

Kết luận: Từ đây chúng ta có thể kết luận được rằng, việc đầu tư chứng khoánthông qua việc đấu thầu trái phiếu đã giúp cho chúng ta huy động một lượng vốn lớn.Đặc biệt hơn cả là nó giúp cho chính phủ Việt Nam có một nguồn thu lớn để đầu tưvào cơ sở hạ tầng Và nó là một nhân tố quan trọng giúp cho thị trường chứng khoánViệt Nam lớn mạnh so với thị trường chứng khoán quốc tế

2.2 THỊ TRƯỜNG THỨ CẤP

Sau khi chứng khoán được phát hành ở thị trường sơ cấp, thì các chứng khoánnày trước hết được diễn ra mua bán trên thị trường sơ cấp Đây là lần đầu chứng khoánđược giao dịch do đó chúng ta gọi là thị trường sơ cấp Nhưng công việc mua bánchứng khoán không chỉ dừng lại ở đây Sau quá trình mua bán trao đổi lần thứ nhất thì

Trang 16

chứng khoán tiếp tục được chuyển đổi chủ sở hữu, gọi là lần giao dịch thứ cấp hay còngọi đây là thị trường thứ cấp Không có thị trường sơ cấp hay việc phát hành chứngkhoán ở thị trường sơ cấp thì không có thị trường thứ cấp Nhưng mặt khác, thị trườngthứ cấp tạo tiền đề cho thị trường sơ cấp phát triền mạnh và tạo điều kiện thuận lợi choviệc phát hành chứng khoán ở thị trường thứ cấp lần tiếp theo.

Trước khi nói đến việc đầu tư chứng khoán ở thị trường thứ cấp thì chúng tanên nói tới tình hình niêm yết chứng khoán ở Việt Nam hiện nay Vì nhờ có việc niêmyết chứng khoán mà các nhà đầu tư chứng khoán yên tâm hơn khi mua các chứngkhoán của các đơn vị phát hành chứng khoán

2.2.1 Thực trạng của việc niêm yết chứng khoán ở Việt Nam hiện nay.

Việt Nam có hai trung tâm giao dịch chứng khoán là trung tâm giao dịch chứngkhoán Hà Nội và trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh Trung tâm giaodịch chứng khoán Hà Nội mới đi vào hoạt động được một năm, còn trung tâm giaodịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đã hoạt động được sáu năm

Thứ nhất: Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

TTCK Việt Nam ra đời bằng việc đưa vào vận hành trung tâm giao dịch chứngkhoán TP.HCM (TTGDCK TPHCM) ngày 20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịchđầu tiên vào ngày 28/07/2000 với 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) của hai công ty với

số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch Từ lúcthành lập cho đến 2005, TTCK luôn ở trong trạng thái gà gật, loại trừ cơn sốt vào năm

2001 (khi chỉ số VN-Index cao nhất đạt 571.04 điểm vào 6 tháng đầu năm còn 6 thángcuối năm thì các cổ phiếu niêm yết đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN-Index sụt từ571.04 điểm vào ngày 25/04/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001.Lượng vốn đầu tư vào TTCK cũng giảm theo, do yếu tố tâm lý của các nhà đầu tư.Năm 2006 TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index tại sàngiao dịch TP Hồ Chí Minh (HOSE) tăng 144% Tính đến phiên 29/12/2006,TTGDCK TP.HCM đã có sự góp mặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 tráiphiếu với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là trên 72 nghìn tỷ đồng

Tính đến ngày 28/12/2007, SGDCK TP.HCM đã thực hiện được 248 phiên giaodịch với tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2,3 tỷ chứng khoán tương đương với tổnggiá trị giao dịch toàn thị trường đạt 224.000 tỷ đồng, gấp 2 lần khối lượng và 2,8 lần

Trang 17

giá trị giao dịch so với năm 2006 Bình quân mỗi phiên giao dịch có 9,2 triệu chứngkhoán được chuyển nhượng tương đương với 980 tỷ đồng

Ngày 25/03/2008 VN-Index đóng cửa tại 496.64 điểm, chính thức phá đáy 500.Điều này đã khiến cho UBCKNN quyết định điều chỉnh biên độ dao động giá CP vàCCQ tại HOSE từ +-5% xuống +-1% Việc thu hẹp biên độ giao dịch bắt đầu thực hiện

từ ngày 27/03/2008 Ngày 03/04 UBCKNN quyết định cho điều chỉnh biên độ giaodịch lên +- 2% tại HOSE sau khi thị trường đã có những dấu hiệu ổn định Sức muatoàn thị trường trong tháng 5 và tháng 6 chỉ đạt trung bình 140 tỷ đồng/ngày Đếntháng 8 UBCKNN đã nâng biên độ giao dịch tại HOSE từ +-3% lên +-5%

Trong năm 2009, giá trị giao dịch toàn thị trường trên HOSE là 423.299 tỷ đồngvới 10.432 triệu cổ phiếu được chuyển giao tính trung bình một cổ phần được giaodịch ở mức giá 40.577 đồng (năm 2008 là 41.832 đồng)

Trong nhiều giai đoạn của năm 2010, chỉ số VN-Index đã không còn phản ánhchính xác tình hình chung trên sàn HOSE khi chỉ cần một vài bluechip tăng điểm làgiữ được màu xanh của chỉ số, gây ra hiện tương ảo của VN-Index Khối lượng giaodịch trên HSX bắt đầu nhích dần lên 60.70 triệu đơn vị, thậm chí đã xuất hiện cácphiên giao dịch sôi động lên tới trên 100 triệu đơn vị/phiên, những con số thường thấytrong một xu hướng tăng trưởng của thị trường

Năm 2011, giá trị và khối lượng giao dịch bình quân 1 phiên tính chung cả HNX

và HSX (theo phương thức khớp lệnh) trong năm 2011 là 790,72 tỷ đồng và 53,25triệu cổ phiếu giảm 65% và 30% so với năm trước Đến 31/12/2011, có 699 mã cổphiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết trên hai sàn HSX và HNX (301 mã cổ phiếu, 5 chứngchỉ quỹ trên HSX; 393 mã cổ phiếu trên HNX)

Năm 2012, giá trị giao dịch bình quân/ngày trên HOSE đạt 881,5 tỷ đồng/phiên,cao hơn 36% so với năm 2011 Tuy nhiên, so với năm 2010 thì giá trị giao dịch chỉbằng 58% Trong khi đó, khối lượng giao dịch bình quân/ngày đạt 56,4 triệu cổ phiếu

và chứng chỉ quỹ Thanh khoản cải thiện rất lớn so với mức bình quân 33,7 triệucổ/ngày năm 2011 và hệ số Nợ vay/Vốn chủ sở hữu của HOSE là 1.37 lần

Thứ hai: Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội

Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN) chính

Ngày đăng: 06/01/2015, 11:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu về tình hình phát hành trái phiếu: - đề án chuyên ngành thị trường chứng khoán thực trạng và giải pháp
Bảng s ố liệu về tình hình phát hành trái phiếu: (Trang 14)
Hình 1: Giao dịch mua bán cổ phiếu OTC tại sàn giao dịch VN Direct. - đề án chuyên ngành thị trường chứng khoán thực trạng và giải pháp
Hình 1 Giao dịch mua bán cổ phiếu OTC tại sàn giao dịch VN Direct (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w