1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG THỜI ĐIỂM (JIT) ỨNG DỤNG TẠI CÔNG TY TOYOTA

35 1,7K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 807,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG THỜI ĐIỂM (JIT) ỨNG DỤNG TẠI CÔNG TY TOYOTA Trong nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là một yếu tố tất yếu không thể tránh khỏi. Để có thể tồn tại và phát triển, mỗi doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình về mọi mặt, trong đó, yếu tố giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm được xem là quan trọng nhất.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

CAO HỌC KINH TẾ K20 - NĂM 2010

Môn học: Quản trị sản xuất

THỜI ĐIỂM (JIT) & ỨNG DỤNG

TẠI CÔNG TY TOYOTA



GVHD: PGS.TS Hồ Tiến Dũng

Lớp: Cao học – Ngày 2 – K20 – Quản trị kinh doanh

Nhóm SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh – Nhóm trưởng nhóm 4B

Võ Thị Như Quỳnh Dương Như Quỳnh

Nguyễn Tấn Tài Hồ Văn Sơn

Lê Nhật Tân Nguyễn Thị Ngọc Thảo

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG THỜI ĐIỂM(JIT) 4

1 Giới thiệu chung 4 1.1

Hệ thống sản xuất truyền thống 4 1.2

Hệ thống sản xuất chuyên môn hóa 4

2 Hệ thống sản xuất “đúng thời điểm” JIT 6 2.1

Lịch sử hình thành 6 2.2

Khái niệm 7 2.3

Triết lý, bản chất và đặc trưng của JIT 8 2.4

Ưu & nhược điểm 16 CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG CỦA JIT 17

1

Giới thiệu về công ty Toyota 17

2 Ứng dụng JIT trong hệ thống sản xuất 20

2.1 Giới thiệu ngôi nhà sản xuất chung của Toyota 202.2 Quá trình phát triển của hệ thống sản xuất Toyota (Toyota Production System – TPS) 212.3 Các quy tắc Toyota sử dụng để phát triển phương thức quản lý JIT 23KẾT LUẬN 3 4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là một yếu tố tất yếu không thể tránh khỏi Để có thể tồn tại và phát triển, mỗi doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình về mọi mặt, trong đó, yếu tố giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm được xem là quan trọng nhất Các nhà quản trị cấp cao ngày nay đã chú trọng nhiều đến quá trình quản trị trong sản xuất, xem đó như là một vũ khí cạnh tranh sắc bén Sự thành công chiến lược của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào sự đánh giá, tạo dựng, phát triển các nguồn lực từ chức năng sản xuất sao cho tạo được hệ thống sản xuất cũng như các quy trình làm việc của mình hiệu quả nhất

Bên cạnh đó, khi khách hàng cũng đã trở thành nền tảng của sự thành công của doanh nghiệp thì việc đáp ứng đúng nguyện vọng, nhu cầu, tạo được niềm tin,

sự tin tưởng của khách hàng về sản phẩm, về chất lượng sản phẩm cũng như dịch vụ chăm sóc khách hàng của doanh nghiệp là một yếu tố không kém phần quan trọng

Hiện nay, một hệ thống được nhiều doanh nghiệp áp dụng để nâng cao hiệu quả quản lý và kinh doanh là hệ thống sản xuất đúng thời điểm - Just In Time (JIT)

Hệ thống này nhằm loại bỏ ra khỏi dây chuyền sản xuất những công đoạn không hợp lý, giúp giảm chi phí sản xuất, giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình sản xuất

Với mong muốn có được một góc nhìn thấu đáo hơn về hệ thống JIT và việc các doanh nghiệp trên thế giới đã ứng dụng hệ thống vào quy trình sản xuất như thế nào, nhóm 4B quyết định lựa chọn chủ đề “Hệ thống sản xuất đúng thời điểm JIT

và ứng dụng” làm tiểu luận của nhóm

Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm 4B xin chân thành cảm ơn PGS.TS

Hồ Tiến Dũng đã hỗ trợ và hướng dẫn nhóm hoàn thành tiểu luận này Nhóm chúng

Trang 4

tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn cũng như của Thầy để hoàn thiện đề tài tốt hơn.

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG THỜI ĐIỂM (JIT)

1 Giới thiệu chung

1.1 Hệ thống sản xuất truyền thống:

Hệ thống sản xuất truyền thống là một mô hình sản xuất đơn lẻ và phân tán, còn được gọi là mô hình “đại công trường thủ công” Hệ thống sản xuất truyền thống có những đặc điểm, ưu và nhược điểm cụ thể như sau:

Đặc điểm:

• Nhiều người tập trung tại một địa điểm

• Cùng sản xuất một loại sản phẩm

• Mỗi người thực hiện từ khâu đầu đến khâu cuối

• Loại sản xuất nhỏ, đơn chiếc, chu kỳ sản xuất ngắn

Ưu điểm:

• Tạo không khí làm việc

• Có sự quan sát học hỏi lẫn nhau

• Phần nào có thống nhất sự kiểm soát chất lượng

Nhược điểm:

• Tay nghề, kỹ thuật không đồng nhất nên chất lượng không ổn định

• Khó ứng dụng máy móc, nhất là máy chuyên dùng

• Yêu cầu công nhân đa năng nên khó đào tạo

• Năng suất và chất lượng không cao , giá thành cao

• Tính láp lần kém

1.2 Hệ thống sản xuất chuyên môn hóa

Tình hình kinh tế hiện nay ngày càng phát triển cần phải biết và áp dụng công nghệ và phương pháp chính thức để quản lý hoạt động sản xuất, để cạnh tranh thành công tại các thị trường khác nhau đối với hàng hóa và dịch vụ Ngày nay, sự

Trang 5

chuyên môn hóa trong sản xuất đã ngày càng trở nên phổ biến trong tổ chức sản xuất Hệ thống sản xuất chuyên môn hóa có những đặc điểm, ưu và nhược điểm như sau:

Đặc điểm:

• Chia công việc phức tạp thành nhiều công đoạn đơn giản

• Một/một số nhóm người thực hiện một /một số công việc đơn giản

• Một sản phẩm được hoàn thành cần phải qua nhiều người/ nhóm người thực hiện

• Loại sản phẩm lớn, chu kỳ sản xuất dài

Ưu điểm:

• Thao tác đơn giản, dễ thành thạo, năng suất cao chất lượng ổn định

• Dễ đầu tư, sử dụng máy móc chuyên dùng

• Đào tạo công nhân sản xuất dễ

• Dễ xảy ra sai hỏng hàng loạt mà không kịp phát hiện

• Chu kỳ sản xuất dài, xử lý không linh hoạt

Ngày nay, quy trình sản xuất hiện đại ra đời với những đặc điểm phù hợp hơn với

xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường nhiều cạnh tranh:

•Sản xuất hiện đại yêu cầu phải có kế hoạch hợp lý khoa học, có đội ngũ kỹ

sư giỏi, công nhân được đào tạo tốt và thiết bị hiện đại

•Quan tâm ngày càng nhiều đến thương hiệu và chất lượng sản phẩm Đây

là một tất yếu khách quan khi mà tiến bộ kỹ thuật ngày càng phát triển với mức độ cao và yêu cầu của cuộc sống ngày càng nâng cao

•Nhận thức rõ con người là tài sản quí nhất của công ty Yêu cầu ngày càng cao của quá trình sản xuất, cùng với sự phát triển của máy móc thiết bị, vai trò năng

Trang 6

động của con người trở nên chiếm vị trí quyết định cho sự thành công trong các hệ thống sản xuất.

• Sản xuất hiện đại ngày càng quan tâm đến vấn đề kiểm soát chi phí Việc kiểm soát chi phí được quan tâm thường xuyên hơn trong từng chức năng, trong mỗi giai đoạn quản lý

• Sản xuất hiện đại dựa trên nền tảng tập trung và chuyên môn hóa cao

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã làm cho các công ty thấy rằng không thể tham gia vào mọi lĩnh vực, mà cần phải tập trung vào lĩnh vực nào mình

có thế mạnh để giành vị thế cạnh tranh

• Sản xuất hiện đại cũng thừa nhận yêu cầu về tính mềm dẻo của hệ thống sản xuất Sản xuất hàng loạt, qui mô lớn đã từng chiếm ưu thế làm giảm chi phí sản xuất Nhưng khi nhu cầu ngày càng đa dạng, biến đổi càng nhanh thì các đơn vị vừa, nhỏ, độc lập mềm dẻo có vị trí thích đáng

• Sự phát triển của cơ khí hoá trong sản xuất từ chỗ thay thế cho lao động nặng nhọc, đến nay đã ứng dụng nhiều hệ thống sản xuất tự động điều khiển bằng chương trình

• Sản xuất hiện đại ngày càng ứng dụng nhiều thành tựu của công nghệ tin học, máy tính trợ giúp đắc lực cho các công việc quản lý hệ thống sản xuất

• Mô phỏng các mô hình toán học được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ cho việc ra quyết định sản xuất – kinh doanh

Do đó một nguyên lý sản xuất mới ra đời: nguyên lý Just In Time (viết tắt là JIT) là sự kết hợp của hai phương thức sản xuất truyền thống và sản xuất chuyên môn hóa, đáp ứng những yêu cầu của nền sản xuất hiện đại

2 Hệ thống sản xuất đúng thời điểm (JIT)

2.1 Lịch sử hình thành

Suốt nhiều thập kỷ qua, phương pháp mới – sản xuất đúng thời điểm (Just In Time) cho việc sản xuất lặp lại đã xuất hiện và gây ra sự chú ý trên toàn thế giới Hệ thống Just In Time (viết tắt là JIT) nhấn mạnh việc nổ lực liên tục để loại bỏ sự lãng

Trang 7

phí và kém hiệu quả khỏi quá trình sản xuất thông qua những kích thước lô hàng nhỏ, chất lượng cao và làm việc theo nhóm

JIT đã được sử dụng trong dây chuyền lắp ráp của hãng Ford ở các thập niên

30, tuy nhiên, phương pháp sản xuất này chưa được hoàn thiện Tuy nhiên, phải đến những năm 1970, quy trình sản xuất theo mô hình JIT mới được hoàn thiện và được Phó Tổng Giám Đốc sản xuất Taiichi Ohno và nhiều đồng nghiệp triển khai ở Toyota Motor Eiji Toyoda và Taiichi Ohno đã phát triển một khái niệm hệ thống sản xuất mới, mà ngày nay được gọi là Hệ thống sản xuất Toyota Sự phát triển của JIT ở Nhật có thể là do đặc điểm nước Nhật là một quốc gia đông dân, ít tài nguyên,

vì vậy người Nhật đã trở nên nhạy cảm với việc lãng phí và kém hiệu quả Họ xem việc phá hỏng và làm lại sản phẩm là lãng phí, và họ xem tồn kho như một khuyết điểm lớn vì nó chiếm chỗ và hao phí nguồn tài nguyên

Cái tên Just In Time đề cập đến một hệ thống sản xuất mà trong đó các hoạt động (quá trình sản xuất, quá trình di chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa…) chỉ xảy ra khi cần thiết và được yêu cầu Kết quả là rất ít hàng tồn kho, sản xuất thì là một loại hoạt động rất cập nhật

2.2 Khái niệm

JIT viết tắt từ thành ngữ “Just In Time” là một khái niệm trong sản xuất hiện đại Just In Time (JIT) là một hình thức quản lý dựa trên sự cải tiến không ngừng và giảm thiểu tối đa sự lãng phí trong tất cả các bộ phận của công ty Hay nói cách khác, Just In Time có thể được gói gọn trong một câu: “đúng sản phẩm với đúng số lượng tại đúng nơi vào đúng thời điểm”

Mục đích của JIT là chỉ sản xuất ra những mặt hàng cần thiết trong số lượng cần thiết tại thời điểm nhất thiết nào

đó Đạt được mục đích này sẽ giúp cho công ty đáp ứng được

Trang 8

nhu cầu của khách hàng và giúp công ty có thể đủ khả năng để cạnh tranh với các đối thủ khác về mặt giá cả, chất lượng, độ tin cậy, sự linh hoạt và thời gian.

2.3 Triết lý, bản chất và đặc trưng của JIT

JIT là một hình thức dựa trên sự cải tiến không ngừng và giảm thiểu tối đa sự lãng phí trong tất cả các bộ phận của công ty

- Triết lý căn bản của JIT: dư thừa là lãng phí

- Bản chất của hệ thống JIT là: một dòng sản phẩm đều đặn đi qua hệ

thống với lượng tồn kho nhỏ nhất

- Hệ thống JIT có những đặc trưng chủ yếu sau đây:

 Mức độ sản xuất đều và cố định

Một hệ thống sản xuất JIT đòi hỏi một dòng sản phẩm đồng nhất khi đi qua một hệ thống thì các hoạt động khác nhau sẽ thích ứng với nhau và để nguyên vât liệu và sản phẩm có thể chuyển từ nhà cung cấp đến đầu ra cuối cùng Mỗi thao tác phải được phối hợp cẩn thận bởi các hệ thống này rất chặt chẽ Do đó, các lịch trình sản xuất phải được cố định trong một khoảng thời gian để có thể thiết lập các lịch mua hàng và sản xuất Rõ ràng là luôn có áp lực lớn để có được những dự báo tốt và phải xây dựng được lịch trình thực tế bởi vì không có nhiều tồn kho để bù đắp những thiếu hụt hàng trong hệ thống

và không gian nơi làm việc) và tiết kiệm do không phải ứ đọng vốn trong các bộ phận còn tồn đọng trong kho Lợi ích thứ hai thì khó thấy hơn nhưng lại là một khía cạnh then chốt của triết lý JIT Đó là tồn kho là những cái đệm dự trữ để giúp công

ty tránh gặp nguy hiểm, vì khi máy móc hư, hệ thống sẽ không dừng nếu có sẵn lượng tồn kho đưa đến trạm làm việc kế tiếp Tuy nhiên, giải quyết bằng sử dụng

Trang 9

hàng tồn kho sẽ dẫn đến hàng tồn kho càng nhiều khi số lần hỏng hóc gia tăng Các giải quyết tốt hơn là phải kiểm tra xem những nguyên nhân làm hư máy và cố loại

bỏ chúng Những vấn đề tương tự như: chất lượng hàng hóa, người bán hàng không tin cậy và lịch trình sản xuất có thể cũng giải quyết bằng cách dùng hàng tồn kho nhưng sẽ làm tăng chi phí và khoảng không gian chứa

Phương pháp JIT làm giảm lượng tồn kho một cách dần dần Hàng tồn kho càng giảm thì người ta càng dễ tìm thấy và giải quyết các vấn đề phát sinh

Khía cạnh thứ ba của việc ít tồn kho phản ánh yêu cầu cơ bản của hệ thống JIT: Để có khả năng hoạt động khi ít tồn kho thì những vấn đề chính cần phải được giải quyết Vì vậy, ít tồn kho là kết quả của quá trình giải quyết thành công những vấn đề gặp phải Hơn nữa, những vấn đề tìm thấy và giải quyết thường không giống nhau, vì vậy cần phải liên tục xác định và giải quyết vấn đề phát sinh trong khoảng thời gian ngắn để dòng công việc được tiến hành liên tục

 Kích thước lô hàng nhỏ

Đặc điểm của hệ thống JIT là kích thước lô hàng nhỏ trong cả hai quá trình sản xuất và phân phối từ nhà cung ứng Kích thước lô hàng nhỏ sẽ tạo ra một

số lợi ích cho hệ thống JIT hoạt động một cách có hiệu quả như sau:

+ Với lô hàng có kích thước nhỏ, lượng hàng tồn kho sản phẩm dở dang

sẽ ít hơn so với lô hàng có kích thước lớn Điều này sẽ giảm chi phí lưu kho và yêu cầu không gian chứa

+ Lô sản phẩm có kích thước cở nhỏ ít bị cản trở hơn tại nơi làm việc+ Khi nói đến chất lượng thì kích thước lô hàng nhỏ sẽ có chi phí kiểm tra và sửa lại nhỏ vì có ít sản phẩm trong một lô hàng bị kiểm tra và sửa lại

+ Kích thước lô hàng nhỏ cho phép có nhiều linh động hơn trong việc hoạch định

 Lắp đặt nhanh với chi phí thấp

Hỗn hợp sản phẩm thay đổi và những lô hàng nhỏ cần xây dựng thường xuyên Thường thì thời gian lâu và chi phí lắp đặt rất cao Những công nhân thường được huấn luyện làm việc lắp đặt cho riêng họ Hơn nữa người ta chỉ sử dụng những chương trình làm giảm thời gian và chi phí lắp đặt để đạt được những kết quả mong muốn, và đòi hỏi phải tập trung cố gắng và những công nhân thường là những

bộ phận quan trọng trong quá trình

Trang 10

Công cụ và thiết bị cũng như quá trình lắp đặt phải đơn gian và đạt được tiêu chuẩn hóa Thiết bị hay đồ gá đa năng có thể giúp làm giảm thời gian lắp đặt Ví dụ một cái máy với các trục đa năng có thể dễ dàng xoay đến những vị trí theo các yêu cầu công việc khác nhau giúp làm giảm thời gian thay đổi công việc Hơn nữa người ta có thể sử dụng nhóm công nghệ để làm giảm chi phí và thời gian lắp đặt nhờ tận dụng sự giống nhau trong những thao tác có tính lặp lại Ví dụ các

bộ phận giống nhau (về hình dáng, vật liệu,…) có thể đòi hỏi việc lắp đặt rất giống nhau Quá trình xử lý các chi tiết theo một chuỗi trên những thiết bị giống nhau có thể làm giảm yêu cầu thay đổi việc lắp đặt, sự tinh chỉnh có thể là cần thiết hơn hết

 Bố trí mặt bằng hợp lý

Theo lý thuyết sản xuất cổ điển, mặt bằng của các phân xưởng thường được bố trí theo công nghệ, dựa trên nhu cầu xử lý gia công Trong khi đó, hệ thống JIT thường sử dụng bố trí mặt bằng theo đối tượng, dựa trên nhu cầu sản phẩm Thiết bị được sắp xếp để điều khiển những dòng sản phẩm giống nhau có nhu cầu lắp ráp hay xử lý giống nhau Để tránh di chuyển một lượng lớn chi tiết trong khu vực làm việc thì người ta đưa những lô chi tiết nhỏ này từ trung tâm làm việc này đến trung tâm làm việc kế tiếp Như vậy, sẽ có ít hoặc không có thời gian chờ và thực chất là ít cần tồn kho sản phẩm dở dang Hơn nữa chi phí vận chuyển nguyên vật liệu sẽ giảm đáng kể và không gian cần cho đầu ra cũng giảm Các nhà máy có khuynh hướng nhỏ lại nhưng có hiệu quả hơn và máy móc thiết bị có thể sắp xếp gần nhau hơn

 Sữa chữa và bảo trì định kì

Do hệ thống JIT có rất ít hàng tồn kho nên khi thiết bị hư hỏng có thể gây ra nhiều rắc rối Để giảm thiểu việc hỏng hóc, doanh nghiệp sử dụng các chương trình bảo trì định kỳ, trong đó nhấn mạnh vào việc duy trì thiết bị trong điều kiện hoạt động tốt nhất và vào việc thay thế những cụm chi tiết có dấu hiệu hỏng trước khi sự cố xảy ra Những công nhân thường có trách nhiệm bảo trì thiết bị máy móc của mình

Mặc dù có bảo trì định kỳ, đôi khi thiết bị cũng hư hỏng Vì vậy, cần thiết phải chuẩn bị cho điều này và phải có khả năng sửa chữa cũng như đưa thiết bị

Trang 11

vào sản xuất một các nhanh chóng Muốn vậy, doanh nghiệp cần có những chi tiết

dự phòng và duy trì lực lượng sửa chữa nhỏ hoặc huấn luyện công nhân tự mình sửa chữa những hư hỏng đột xuất có thể xảy ra

Cũng chú ý rằng khi công việc xảy ra thì đó là dấu hiệu cho thấy lãnh vực cần cải tiến Như vậy giảm hỏng hóc trở thành một cơ hội được khai thác trong

hệ thống JIT

 Những công nhân đa năng

Trong hệ thống cổ điển, công nhân thường được đào tạo trong phạm vi hẹp mà thôi Hệ thống JIT dành vai trò nổi bật cho công nhân đa năng được huấn luyện để điều khiển tất cả những công việc từ việc điều khiển quy trình sản xuất, vận hành máy đến việc bảo trì, sửa chữa…Người ta mong muốn công nhân có thể điều chỉnh và sửa chữa nhỏ cũng như thực hiện việc lắp đặt Hãy nhớ rằng trong hệ thống JIT người ta đẩy mạnh đơn giản hóa việc lắp đặt, làm thuận lợi cho người vận hạnh Trong hệ thống JIT, công nhân không chuyên môn hóa mà được huấn luyện

để thực hiện nhiều thao tác, do vậy họ có thể giúp những công nhân không theo kịp tiến độ

Người công nhân không những có trách nhiệm trong việc kiểm tra chất lượng công việc của mình mà còn quan sát kiểm tra chất lượng công việc của những công nhân ở khâu trước họ

Sử dụng công nhân năng động không phải là không có mặt hạn chế Một mặt hạn chế đó là chi phí và thời gian huấn luyện có thể đòi hỏi cao hơn cho những công nhân có kỹ năng chuyên môn cao Mặt khác là công nhân có thể chống đói khả năng linh hoạt với nhiều lý do như công việc không an toàn và khó khăn trong việc tiếp thu những kỹ năng mới

 Sản xuất với mức chất lượng cao

Những hệ thống JIT đòi hỏi về đảm bảo chất lượng Những hệ thống này được gài vào một dòng công việc liên tục, nên sự xuất hiện của những trục trặc

do chất lượng kém sẽ tạo sự phá vỡ trên dòng công việc này Thực tế, do kích thước các lô hàng nhỏ, lượng hàng tồn kho để đề phòng mọi bất trắc thấp, nên khi sự cố xảy ra, việc sản xuất phải ngừng lại cho đến khi sự cố được khắc phục Vì vậy, phải tránh bất cứ sự ngừng việc nào hoặc nhanh chóng giải quyết trục trặc khi chúng xuất hiện

Trang 12

Hệ thống JIT dùng ba giải pháp mũi nhọn để xử lý vấn đề chất lượng:+ Một là, thiết kế chất lượng cho sản phẩm và quá trình sản xuất Thực

tế cho thấy hệ thống JIT sản xuất sản phẩm được tiêu chuẩn hóa sẽ dẫn đến tiêu chuẩn hóa các phương pháp làm việc, các công nhân rất quen thuộc với công việc của họ và sử dụng các thiết bị tiêu chuẩn hóa, tất cả những vấn đề trên sẽ đóng góp làm tăng chất lượng sản phẩm ở các khâu của quá trình sản xuất

+ Hai là, yêu cầu các nhà cung cấp giao nguyên liệu và các bộ phận sản phẩm có chất lượng cao để giảm thiểu trục trặc do hàng hóa đem tới Nếu đạt được yêu cầu này, thời gian và chi phí kiểm tra hàng hóa có thể được loại bỏ

+ Ba là, làm cho công nhân có trách nhiệm sản xuất những hàng hóa có chất lượng cao Điều này đòi hỏi phải cung cấp thiết bị và công cụ làm việc phù hợp, huấn luyện phương thức làm việc thích hợp cho công nhân, huấn luyện trong

đo lường chất lượng và phát hiện lỗi, động viên công nhân cải tiến chất lượng sản phẩm và khi có sự cố xảy ra thì tranh thủ sự cộng tác của công nhân trong nổ lực giải quyết vấn đề

 Tinh thần hợp tác

Ngoài ra, hệ thống JIT đòi hỏi tinh thần hợp tác giữa các công nhân, quản lý và người cung cấp Nếu không đạt được điều này thì khó có thể có một hệ thống JIT thật sự hiệu quả Người Nhận đã rất thành công trong phương diện này, bởi vì trong văn hóa Nhật Bản, sự tôn trọng và hợp tác của người Nhật đã ăn sâu vấn đề này Trong văn hóa phương Tây, công nhân, người quản lý và người bán về lịch sử từng có xung đột mạnh lẫn nhau Hậu quả là khi vận hành dưới hệ thống JIT vấn đề xem xét chủ yếu là phải đạt được và duy trì một tinh thần tôn trọng và hợp tác qua lại lẫn nhau Điều này đòi hỏi một sự đánh giá đúng về tầm quan trọng của hợp tác và sự nổ lực chặt chẽ để thấm nhuần và duy trì tinh thần đó

 Người bán tin cậy

Hầu hết hệ thống JIT mở rộng về phía người bán, người bán được yêu cầu giao hàng hóa có chất lượng cao, các lô hàng nhỏ và thời điểm giao hàng tương đối chính xác

Theo truyền thống, người mua đóng vai trò kiểm tra chất lượng và số lượng hàng mang đến, và khi hàng hóa kém phẩm chất thì trả cho người bán để sản xuất lại Trong hệ thống JIT, hàng hóa kém phẩm chất sẽ đình trệ sự liên tục của

Trang 13

dòng công việc Việc kiểm tra chất lượng hàng hóa đưa đến được xem là không hiệu quả vì nó không được tính vào giá trị sản phẩm Do đó việc đảm bảo chất lượng được chuyển sang người bán Người mua sẽ làm việc với người bán để giúp

họ đạt được chất lượng hàng hóa mong muốn Mục tiêu cơ bản của người mua là có thể công nhận người bán như một nhà sản xuất hàng hóa chất lương cao, do vậy không cần có sự kiểm tra của người mua

 Thay thế hệ thống “Đẩy” bằng hệ thống “Kéo”

Thuật ngữ “đẩy” và “kéo” dùng để mô tả hai hệ thống khác nhau nhằm chuyển dịch công việc thông qua quá trình sản xuất

Trong hệ thống đẩy, khi công việc kết thúc tại một khâu, sản phẩm đầu

ra được đẩy tới khâu kế tiếp, ở khâu cuối cùng, sản phẩm được đẩy vào kho thành phẩm

Ngược lại, trong hệ thống kéo, việc kiểm soát sự chuyển dời của công việc tùy thuộc vào hoạt động đi kèm theo, mỗi khâu công việc sẽ kéo sản phẩm từ khâu phía trước nếu cần Đầu ra của hoạt động sau cùng được kéo bởi nhu cầu khách hàng hoặc bởi lịch trình sản xuất chính

Như vậy, trong hệ thống kéo, công việc được luân chuyển để đáp ứng yêu cầu của công đoạn kế tiếp theo của quá trình sản xuất Trái lại, trong hệ thống

Trang 14

đẩy, công việc được đẩy ra khi nó hoàn thành mà không cần quan tâm đến khâu kế tiếp theo đã sẳn sàng chuẩn bị cho công việc hay chưa Vì vậy công việc có thể bị chất đống tại khâu chậm tiến độ do thiết bị hỏng hóc hoặc phát hiện có vấn đề về chất lượng.

Hệ thống JIT dùng phương pháp kéo để kiểm soát dòng công việc, mỗi công việc sẽ gắn đầu ra với nhu cầu ở khâu kế tiếp Trong hệ thông JIT có thông tin ngược từ khâu này sang khâu khác, do đó công việc được di chuyển “ đúng lúc” tới khâu kế tiếp, theo đó dòng công việc được kết nối với nhau, và sự tích lũy thừa tồn kho giữa các công đoạn sẽ được tránh khỏi Dĩ nhiên, phải có vài chỗ tồn kho bởi vì các hoạt động không được làm ngay Nghĩa là nếu một trạm kế tiếp và bắt đầu làm việc thì trạm kế tiếp này phải chờ trạm trước nó thực hiện công việc của nó Do đó, thông qua thiết kế, mỗi trạm sẽ sản xuất đúng lượng sản phẩm thỏa mãn yêu cầu (được dự đoán trước) của trạm tiếp sau Điều này thể hiện bằng việc các trạm theo sau có thông tin về nhu cầu đầu vào thích đáng của nó trước thời gian để cho phép trạm trước nó làm việc, hoặc có thể có một kho đệm giữa các trạm, tồn kho trong kho đệm giảm đến một mức nào đó, là dấu hiệu cho trạm trước sản xuất một lượng sản phẩm vừa đủ bổ sung cho kho đệm, kích thước kho đệm phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất của trạm trước: nếu chu kỳ ngắn, chỉ cần ít hoặc không cần kho đệm, nếu chu kỳ dài thì cần nhiều Tuy nhiên chú ý việc sản xuất này diễn ra chỉ để đáp ứng nhu cầu của trạm theo sau, công việc được kéo bởi nhu cầu phát sinh từ trạm theo sau

Một tính chất quan trọng của hệ thống kéo là dòng công việc chịu tác động bởi nhu cầu bước kế tiếp Có nhiều phương cách để truyền tin giữa các công đoạn như la hét hay vẫy tay ra hiệu, nhưng cách thông thường nhất là dùng công cụ gọi là Kanban Kanban là một thuật ngũ của Nhật nghĩa là dấu hiệu Khi một công nhân cần nguyên vật liệu hoặc công việc từ trạm trước đó, họ dùng một thẻ kanban

để thông tin điều này Trong thực tế, thẻ kanban là sự ủy quyền di chuyển hoặc làm việc trên các bộ phận Trong hệ thống kanban, không bộ phận nào hay lô nào được

di chuyển hay làm việc mà không có một trong những thẻ này

 Giải quyết vấn đề nhanh chóng

Trang 15

Giải quyết sự cố là nền tảng cho bất kỳ một hệ thống JIT nào Mối quan tâm là những trục trặc cản trở hay có khả năng cản trở vào dòng công việc qua hệ thống Khi những sự cố như vậy xuất hiện thì cần phải giải quyết một cách nhanh chóng Điều này có thể buộc phải gia tăng tạm thời lượng tồn kho, tuy nhiên mục tiêu của hệ thống JIT là loại bỏ càng nhiều sự cố thì hiệu quả càng cao.

Để xử lý nhanh những trục trặc trong quá trình sản xuất, nhiều doanh nghiệp đã dùng hệ thống đèn để báo hiệu Ở Nhật, 1 hệ thống như vậy được gọi là ANDON Mỗi một khâu công việc được trang bị một bộ ba bóng đèn, đèn xanh biểu hiện cho mọi việc đều trôi chảy, đèn vàng biểu hiện có công nhân sa sút cần chấn chỉnh, đèn đỏ báo hiệu có sự cố nghiêm trọng cần nhanh chóng khắc phục Điểm mấu chốt của hệ thống đèn là cho những người khác trong hệ thống phát hiện được

sự cố và cho phép công nhân và quản đốc sửa chữa kịp thời sự cố xảy ra

 Sự cải tiến liên tục

Một trong những vấn đề cơ bản của phương pháp JIT là hướng về sự cải tiến liên tục trong hệ thống như: giảm lượng tồn kho, giảm chi phí lắp đặt, giảm thời gian sản xuất, cải tiến chất lượng, tăng năng suất, cắt giảm lãng phí và nâng cao hiệu quả sản xuất Sự cải tiến liên tục này trở thành mục tiêu phấn đấu của tất cả thành viên trong doanh nghiệp nhằm hoàn thiện hệ thống

2.4 Ưu & nhược điểm

Hệ thống JIT có một số lợi ích quan trọng thu hút sự quan tâm của các công

ty đang sản xuất bằng nhiều phương pháp truyền thống Những ưu điểm chính là:

 Ưu điểm:

• Giảm lượng tồn kho ở tất cả các khâu: cung ứng nguyên vật liệu, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

• Giảm nhu cầu về mặt bằng

• Tăng chất lượng sản phẩm, giảm phế phẩm và lượng sản phẩm làm lại

• Giảm thời gian phân phối trong sản xuất

• Có tính linh động cao trong phối hợp sản xuất

• Dòng sản xuất nhịp nhàng và ít gián đoạn, chu kỳ sản xuất ngắn, do các công nhân có nhiều kỹ năng nên họ có thể giúp đở lẫn nhau và thay thế trong trường hợp vắng mặt

Trang 16

• Tăng mức độ sản xuất và tận dụng thiết bị.

• Có sự tham gia của công nhân trong việc khắc phục các sự cố của quá trình sản xuất, từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm của công nhân

• Tạo áp lực để xây dựng mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp

• Giảm nhu cầu lao động gián tiếp, tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm

Tuy nhiên, hệ thống JIT cũng bộc lộ một số thiếu sót và nhược điểm nhất định, cụ thể như sau:

 Nhược điểm:

• Lịch tiếp nhận và phân phối nguyên liệu, thành phẩm rất phức tạp

• Hệ thống kiểm soát và điều hành hoạt động khó khăn

• Chi phí huấn luyện nhân công cao

CHƯƠNG II ỨNG DỤNG CỦA JIT VÀO THỰC TIỄN

Ngày nay hệ thống JIT đang được ứng dụng ngày càng phổ biến ở các công ty, tập đoàn sản xuất lớn như Toyota, Ford, Nidec.v.v… và đem lại nhiều hiệu quả trong quản trị sản xuất Đồng thòi Toyota cũng là tập đoàn tiên phong và ứng dụng thành công mô hình và nguyên lý JIT vào việc quản lý và điều hành sản xuất hiệu quả

1 Giới thiệu về công ty Toyota

Nói đến Nhật Bản, người ta nghĩ ngay đến hàng điện tử và ôtô, hai ngành công nghiệp chủ đạo góp phần tạo nên thương hiệu made in Japan nổi tiếng Và tập đoàn sản xuất ôtô số 1 của Nhật Bản là tập đoàn Toyota

Năm 2005, với doanh thu gần 180 tỷ USD, Toyota là tập đoàn duy nhất của Nhật Bản và cũng là duy nhất của châu Á nằm trong “Top ten” của những hãng có quy

mô lớn nhất Sự hiệu quả trong kinh doanh của Toyota được thấy rõ nhất ở con

số lợi nhuận khổng lồ lên tới 11 tỷ USDtrong năm 2005

Năm 1936, sau khi tiếp quản công ty của Sakichi Toyoda, người con trai Kiichiro

đã đặt ra cái tên Toyota bằng cách thay chữ cái “d” bằng chữ cái “t” trong tên gọi Toyoda Kể từ đó, thương hiệu Toyota xuất hiện và trở thành một trong những biểu tượng vĩ đại, là niềm tự hào của mỗi người dân Nhật Bản Thương hiệu Toyota hiện luôn là một trong những thương hiệu hàng đầu thế giới, có giá trị hàng chục tỷ USD

Trang 17

Ông tổ của Tập đoàn Toyota là Sakichi Toyoda, một người thợ mộc tài hoa của

xứ sở hoa anh đào Sakichi Toyoda được biết đến trước hết bởi ông là một trong những người phát minh ra chiếc máy dệt hiện đại đầu tiên cho Nhật Bản

Trong một lần sang Mỹ để tìm hiểu thông tin cho dự án máy dệt tự động mà ông đang nghiên cứu, như tình cờ, Sakichi Toyoda nhận thấy ôtô đã xuất hiện ở Mỹ khá nhiều mà Nhật Bản chưa có Rồi đến khi có thông tin Nhà nước Nhật Bản phải nhập một lúc 800 xe ôtô của hãng Ford thì một lần nữa lòng tự ái dân tộc của Sakichi Toyoda lại nổi lên

Sakichi Toyoda đã đồng ý dành rất nhiều tiền để cho con trai lập một trung tâm nghiên cứu về ôtô do chính ông điều hành Rút kinh nghiệm từ tuổi trẻ khi phải tự mày mò sáng chế chiếc máy dệt đầu tiên, Sakichi Toyoda đã khuyên con trai phải sang Mỹ và châu Âu để tìm hiểu và nắm bắt công nghệ sản xuất ôtô Quan điểm của Sakichi Toyoda là phải biết họ làm ôtô như thế nào rồi mình sẽ tìm cách để làm tốt hơn

Không phụ lòng cha, Kichiro Toyoda đã tìm mọi cách để tìm hiểu công nghệ sản xuất xe hơi Hàng chục động cơ xe ôtô được cha con Sakichi Toyoda và Kichiro Toyoda mua về để mổ xẻ tìm hiểu từng chi tiết

Với một quyết tâm và sự cần mẫn hiếm có, đúng phẩm chất đặc thù của người Nhật Bản, cha con Toyoda vừa duy trì sản xuất máy dệt vừa âm thầm chuẩn bị cho dây chuyền sản xuất ôtô đầu tiên của Nhật Bản Bắt đầu năm 1930, lần lượt từng dây chuyền sản xuất vỏ xe, gầm xe rồi động cơ xe ôtô được gia đình Toyoda hoàn thiện

Năm 1934, Kichiro Toyoda, lúc này đã thay cha điều hành công ty Toyoda đã công bố chiếc xe ôtô đầu tiên, mở đường cho kỷ nguyên huy hoàng của tập đoàn Toyota sau này

Toyota (tên đầy đủ Toyota Motor Corporation) là một công ty nổi tiếng thế giới

về sản xuất ô tô của Nhật Bản, được sáng lập vào năm 1937 bởi Kiichiro Toyoda Toyota có trụ sở chính đặt ở Toyota, Aichi và Bunkyo Tokyo, Nhật Bản

Ngày đăng: 06/01/2015, 01:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH 2: PTSX TOYOTA VÀ NGƯỜI QUẢN LÝ - HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG THỜI ĐIỂM (JIT)  ỨNG DỤNG TẠI CÔNG TY TOYOTA
HÌNH 2 PTSX TOYOTA VÀ NGƯỜI QUẢN LÝ (Trang 33)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w