Ngoài phần mở đầu và kết luận, bản luận văn bao gồm 3 chơng với những nội dung cơ bản sau: Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài này, chúng tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ tận tình th
Trang 1Đây cũng là mối quan tâm lớn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, nhất là từ khi thị trờng bảo hiểm đã chuyển từ "thị trờng của ngời bán" thành "thị trờng của ngời mua" Vấn đề nghiên cứu, cải tiến,
áp dụng và triển khai các loại hình bảo hiểm mới đang trở thành một trong những chiến lợc quan trọng mà các công ty bảo hiểm sử dụng để cạnh tranh trên thị trờng
Đối với những cán bộ bảo hiểm cũng nh những ai đang nghiên cứu, học tập trên lĩnh vực này, nghiệp vụ Bảo hiểm Hoả hoạn đã không còn
xa lạ Tuy nhiên, làm thế nào để hiểu thấu đáo, tờng tận cơ sở lý luận
và thực tế triển khai loại hình này cho phù hợp với điều kiện Việt Nam
mà vẫn đáp ứng đợc với nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của các doanh nghiệp đang là câu hỏi lớn đặt ra với tất cả các công ty bảo hiểm hoạt động tại Việt nam Chính vì vậy, em đã chọn đề tài Bảo hiểm hoả“
hoạn thực trạng- giải pháp đối với Tổng Công ty Bảo Việt “ làm nội dung nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm tập hợp, hệ thống hoá các nguyên tắc lý luận đợc áp dụng chung trong loại hình Bảo hiểm Hoả hoạn, các đặc
điểm riêng biệt của loại hình, cũng nh những công tác cần thiết trong
Trang 2việc triển khai nghiệp vụ Ngoài ra, đề tài cũng dành một phần đề cập
đến thực tế tình hình triển khai nghiệp vụ tại Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam - công ty bảo hiểm đầu tiên tiến hành loại hình bảo hiểm mới
mẻ này trong những năm vừa qua
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bản luận văn bao gồm 3 chơng với những nội dung cơ bản sau:
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài này, chúng tôi đã nhận
đợc sự giúp đỡ tận tình thiết thực của Thầy giáo hớng dẫn Thân Danh Phúc và một số cán bộ công tác tại Phòng Bảo hiểm Hoả hoạn và Kỹ Thuật thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm Hà Nội Xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó
Bản chuyên đề này chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những khiếm khuyết trong biên tập và trình bày Rất mong đợc sự góp ý và phê bình của thày giáo và các bạn đồng nghiệp
Sinh viên thực hiện Tạ Quang Tuấn
Trang 3
Chơng I Một số cơ sở lý luận về bảo hiểm hoả hoạn
trong nền kinh tế thị trờng
I Vài nét về lịnh sử bảo hiểm hoả hoạn
Hiệp hội bảo hiểm hoả hoạn lần đầu tiên ra đời trên thế giới là ở Đức năm 1591 mang tên Feuer Casse Một thời gian ngắn sau đó xuất hiên thêm vài Công ty nữa nhng không để lại dấu ấn gì lớn cho tới giữa thế kỷ 17 Năm 1666 đẫ xẩy ra một vụ Hoả hoạn khủng khiếp ở Lôn Đôn Vụ Hoả hoạn kéo dài năm ngày Thiêu huỷ gần nh toàn bộ thành phố đã kích thích
sự ra đời của bảo hiểm hoả hoạn Một nhà vật lý ngời Anh tên là NICHOLAS BARBEN chuyển nghạch sang lĩnh vực xây dựng trong thời gian xây dựng lại thành phố đã đồng thời cũng bắt đầu bảo hiểm hoả hoạn cho các ngôi nhà mới xây dựng Ban đâu ông điều khiển Công ty theo kiểu Công ty t nhât nhng sau đó năm 1680 ông đổi thành Công ty cổ phần mang tên là “ The Fire Office “ Một số Công ty khác cũng theo đó ra đời trong
đó có Hand in Hand năm 1696 và Sun Fire Office năm 1710
Công ty bảo hiểm đầu tiên thành công ở Mỹ là Công ty bảo hiểm tơng hỗ,
do Benfamir Franklin và một số thành viên khác sáng lập năm 1752, mang tên là The Philadenphia Contributionship chuyên bảo hiểm Hoả hoạn cho nhà cửa Công ty bảo hiểm cổ phần đầu tiên ở Mỹ mang tên là The insurance company of Noth America đợc thành lập năm 1792
Xuất phát từ nhu cầu thực tế Bảo hiểm hoả hoạn đã phát triển mạnh mẽ và trở thành nghiệp vụ truền thống với phí thu hàng năm rất cao ở Nhật, số phí bảo hiểm hoả hoạn thu hàng năm 1993 là 1.017.008 triệu yên ( trên 10 tỷ
đô la) chiếm 15,5% doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm phí nhân thọ
II Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm hảo hoạn
Hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển thì nhu cầu tập trung vật t, hàng hoá rất lớn, quy trình công nghệ ngày càng phức tạp và những
Trang 4loại máy móc hiện đại sẽ đợc phổ biến hơn Trong khi đó, khoa học kỹ thuật an toàn thờng đi sau, nguồn vốn sử dụng cho các biện pháp an toàn th-ờng rất thấp so với vốn đầu t phát triển sản xuất thêm vào đó điều kiện tự nhiên ngày càng khắc nghiệt và đã khiến cho khả năng xảy ra rủi ro tai nạn nhiều hơn so với mức độ thiệt hại về ngời và của nghiêm trong hơn.
Chỉ tính riêng hoả hoạn mỗi năm nớc ta xẩy ra hàng nghìn vụ Hoả hoạn nổ, làm chết hoặc bị thơng hàng trăm ngời, thiệt hại về tài sản hàng chục tỷ
đồng Có những vụ Hoả hoạn làm thiêu huỷ hàng trăm nóc nhà, toàn bộ khu chợ lớn hoặc cả một cơ sở sản xuất kinh doanh hàng chục tỷ đồng, làm cho hàng nghìn ngời không còn nhà ở hàng nghìn hộ kinh doanh phải điêu đứng
vi mất hết toàn bộ hàng hoá, tiền của , không còn chỗ kinh doanh làm cho hàng trăm công nhân không còn nơi làm việc Số liệu thống kê về hoả hoạn
ở Việt Nam của cục cảnh sát phòng Hoả hoạn chữa Hoả hoạn trong 5 năm 1998-2003 nh sau:
Bảng 1_ Hoả hoạn ở Việt Nam trong năm 1998-2002
Nhà nớc
Tập thể
T nhân
Liên doanh
Chết Thơng
tật
Tài sản(tỷ
đây chúng ta có một vài Công ty bảo hiểm hoả hoạn tại miền Nam trong thời kỳ Pháp thuộc song sang năm 1975 do cơ chế bao cấp, nhà nớc đứng ra
bù đắp mọi thiệt hại, bảo đảm tài chính cho các doanh nghiệp khi không
Trang 5may gặp rủi ro nên bảo hiểm nói chung và bảo hiểm hoả hoạn nói riêng không có mảnh đất phát triển Trong điều kiên nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trờng hiên nay các doanh nghiệp phải tự chủ về nguồn tài chính, tham gia bảo hiểm tài sản mà cụ thể là bảo hiểm Hoả hoạn vẫn là phơng án tối đa.
Theo quy tắc bảo hiểm Hoả hoạn hiện nay vẫn sử dụng ở các Công ty bảo hiểm trong nớc, ngời tham gia bảo hiểm có thể tham gia đăng ký bảo hiểm cho những tài sản nh nhà của trang thiết bị hàng hoá, nguyên vật liệu của mình Ngoài Hoả hoạn là rủi ro chính họ còn đăng ký cho các rủi ro phụ nh nổ, giông bão, động đất nớc chảy hay rò rỉ tràn từ bể chứa đờng ống hoặc thiết bị chữa Hoả hoạn, xe cộ hay súc vật đâm vào Trong trơng hợp xẩy ra tổn thất, các Công ty bảo hiểm bồi thờng cho những thiệt hại trực tiếp từ các nguyên nhân kể trên và cả những chi tiết cần thiết hợp lý nhằm hạn chế tổn thất tài sản đợc bảo hiểm trong và ngay khi chấy
Tuy nhiên Hoả hoạn không chỉ gây thiệt hại trực tiếp đến cho con ngời
và tài sản mà nó còn để lại những thiệt hại và tổn thât khổng lồ cho các doanh nghiệp Trên thực tế sau khi Hoả hoạn hoạt động sản xuất không thể phát triển theo kế hoạch kinh doanh đặt ra, các doanh nghiệp sẽ mất khoản lợi nhuận do nhà xởng, máy móc bị h hại Để tránh bị phá sản họ phải tiến hành các biện pháp khôi phục lại sản xuất Bên cạch việc duy trì chi trả tiền lơng cho nhân công và thanh toán các chi phí cố định nh tiền thuê nhà x-ởng, khấu hao, điện nớc lãi xuất ngân hàng các doanh nghiệp còn phải thuê thêm nhân viên làm việc thêm giờ để hoàn tất đơn đặt hàng tồn đọng Rõ ràng những khám phá này không đợc bồi thờng theo đơn bảo hiểm Hoả hoạn
Để đáp ứng đợc các khoản chi phí trên, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng các quỹ dự trữ, hoặc vay vốn từ ngân hàng và các tổ chức cho vay khác, song các phơng pháp này hoàn toàn thụ động Một biện pháp hiện nay
đang khẳng định tính u việt với các nhà đầu t nớc ngoài đó là tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh Với loại hình này, các doanh nghiệp không
Trang 6những đợc bồi thờng tài chính cho các khoản chi phí nói trên mà còn đợc bù
đắp phần lợi nhuận ròng bị mất mát mà lẽ ra họ đợc mà không bị tổn thơng
Nh vậy có thể nói rằng bảo hiểm hoả hoạn đã hạn chế tối thiểu mức ảnh ởng của các rủi ro tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Bằng việc đóng góp một khoản phí nhỏ ( thờng là một phần ngàn giá trị của tài sản) ngời đợc bảo hiểm có thể đầu t tối đa và triệt để nguồn vốn nhàn rỗi cho phát triển hoạt động sản xuất, bởi họ không phải trích lập quỹ
h-dự phòng trờng hợp xẩy ra rủi ro và quan trọng hơn, bên cạnh việc đợc bồi thờng khi xẩy ra tổn thất họ có một tâm lý an tâm khi tiến hành công việc kinh doanh của mình
Tham gia bảo hiểm các doanh nghiệp còn đợc các Công ty t vấn về các biện pháp phòng trách tổn thất, tăng cờng biện pháp phòng Hoả hoạn chữa Hoả hoạn và thực hiện chính sách quản lý rủi ro nhằm đảm bảo sự an toàn cao nhất
Bên cạnh việc mang lại lợi ích trên cho các doanh nghiệp bảo hiểm hoả hoạn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định và phát triển nền kinh
tế Bời vì thông qua việc hớng dẫn các doangh nghiệp thực hiện những biện pháp an toàn, các Công ty bảo hiểm góp phần hạn chế tổn thất tai nạn giúp khách hàng của họ có điều kiện thúc đẩy mở rộng sản xuất nh mong muốn Mặt khác, một phần không nhỏ khoản phí thu đợc từ loại hình này đợc Công ty bảo hiểm đóng góp vào ngân sách nhà nớc để chính phủ sử dụng các mục đích xã hội
III Việc thực hiện bảo hiểm hoả hoạn ở Việt Nam
ở Việt Nam bảo hiểm hoả hoạn bắt đầu đợc thực hiện từ năm 1989 sau khi có quyết định số 06/TCQĐ ngày 17/1/1989 của bộ trởng bộ tài chính ban hành quy tắc về bảo hiểm hoả hoạn Sau một thời gian thực hiện để phù hợp hơn với tình hình thực tế, Bộ tài chính lại có quyết định số 142/TCQĐ ban hành quy tắc và biểu phí mới và quyết định số 212/TCQĐ ngày 12/4/1993 ban hành biểu phí và bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt với các mức phí tối đa thay cho biểu phí bảo hiểm hoả hoạn theo quyết định
Trang 7số 142/TCQĐ.
Đến nay bảo hiểm hoả hoạn đã đợc thực hiện trong khắp cả nớc Nếu
nh năm 1991 số đơn vị hoả hoạn cấp ra mới chỉ có 413 thì tới năm 1994 con
số này đã lên tới 2000 giá trị tài sản năm 1991 là 1000 tỷ đồng thì năm
1992 trên 4000 tỷ, năm 1993 là 7000 và năm 1994 trên 14000 tỷ đồ
ng Số tiền bảo hiểm phí tơng ứng của các năm đó là 4,5 tỷ, 10,2 tỷ, 21,3 tỷ
và 3902 tỷ Bảo việt cũng phải chi bồi thờng thiệt hại nhiều vụ Hoả hoạn lớn nh Công ty giầy Hiệp Hng trên 10 tỷ, Công ty dợc Đồng Tháp 4,5 tỷ
đồng, chợ đồng xuân trên 8 tỷ đồng, Công ty sản xuất và xuất khẩu sông Bé gần 18 tỷ đồng Có thể nói rằng bảo hiểm hoả hoạn đã dần dần đi vào tiềm thức của con ngời Việt Nam, đáp ứng đòi hỏi tất yếu của xã hội và ngày càng củng cố vững chắc vị trí quan trọng của mình trong cơ cấu chung của nghành bảo hiểm Việt Nam
Từ khi bắt đầu bảo hiểm hoả hoạn tới nay Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam đã tổ chức nhiều đợt tập huấn nghiệp vụ, đã làm nhiều văn bản tài liệu hỡng dẫn Tuy nhiên số ngời trực tiếp tham gia tập huấn không phải là nhiều, tài liệu hớng dẫn cũng rải rác, không tập trung hơn nữa theo thời gian bản thân những tài liệu đã ban hành trở nên lại lạc hậu đòi hỏi phải hoàn thiện bổ xụng thêm
Ngay cả quan điểm biện pháp thực hiên nghiệp vụ cũng có sự thay đổi căn bản Nếu nh trớc đây chúng ta tiến hành bảo hiểm trong điều kiên độc quyền thì nay hoàn toàn ngợc lại chúng ta phải cạnh tranh với nhiều đối thủ trong và ngoài nớc, hiệu quả kinh doanh đã trở thành thớc đo quan trọng cho hoạt động của Công ty Điều đó phải đòi hỏi các cán bộ nghiệp vụ, ngoài các phẩm chất khác của ngời bán hàng, phải hết sức nhanh nhậy trong việc đa ra các tỷ lệ phí có sức cạnh tranh nhng phải đáp ứng đúng chuẩn mực quy định để đảm bảo kinh doanh có lãi và đáp ứng yêu cầu của nhà nhận tái bảo hiểm Đông thời cùng với việc mở rộng kinh doanh, chúng
ta cũng phải chú ý đến việc kiểm soát sự tích tụ rủi ro, nhất là các rủi ro thiên tai nh bão, lũ lụt để tránh các trờng hợp tồn thất hàng loạt Trong việc
Trang 8giải quyết bồi thờng cũng phải đảm bảo chính xác, đúng điều kiện của đơn bảo hiểm và nhanh chóng hơn Mặt khác ngời bảo hiểm cũng phải tăng c-ờng công tác quản lý rui ro, cùng với khách hàng làm tốt công tác hạn chế tổn thất
Xuất phát từ thực tế đó Công ty Bảo Việt đã khai thác tốt thị trờng bảo hiểm trong nớc về lĩnh vực bảo hiểm hoả hoạn Do đó những năm gần đây doanh số của phòng bảo hiểm hảo hoạn tăng từ đó làm tăng doanh thu của Công ty Bảo Việt
IV Một số khái niệm cơ bản
1 Rủi ro có thể lựa chọn để bảo hiểm
Mỗi rủi ro có thể đợc nêu thành tên riêng Hầu hết các Công ty trên thế giới đều chấp nhận áp dụng các phơng pháp tiêu chuẩn khi cấp đơn bảo hiểm và lu trữ, sử dụng số liệu các rủi ro này đợc đa vào phụ lục của “ Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt”
Dùng áp dụng mẫu đơn bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tiêu chuẩn của thị trờng bảo hiểm Lôn Đôn ( standard Fire and Special Perils Policy) hay ( Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt” của Việt Nam thì rủi ro chính đợc bảo hiểm thì cũng là bảo hiểm hoả hoạn Rủi ro A còn có rủi ro B- nổ, C- máy bay và rơi vào, E- nổi loạn bạo động dân sự
đợc coi là các rủi ro phụ Các rủi ro phụ đó không đợc bảo hiểm riêng mà chỉ có thể bảo hiểm cùng với rủi ro hoả hoạn Các rủi ro phụ đó cũng không
đợc bảo hiểm một cách tự động mà chỉ đợc bảo hiểm khi khách hàng yêu cầu với điều kiện phải đóng thêm phí và phải đợc ghi rõ trong giấy yêu cầu
và giấy chứng nhận bảo hiểm
Dới đây chúng ta sẽ xem xét một số rủi ro cơ bản dễ gây hiểu lầm còn các rủi ro khác thì hiểu theo tên gọi của chúng
Hoả hoạn
Rủi ro này thực chất bao gồm 3 phần: Hoả hoạn , sét và nổ
• Hoả hoạn : Trong đơn bảo hiểm Hoả hoạn tiêu chuẩn không định nghĩa rõ thế nào là hoả hoạn vì ngời ta hiểu nó theo nghĩa thông dụng
Trang 9nghĩa là sẽ đợc coi là hoả hoạn nếu có đủ 3 yếu tố sau đây
- Phải thực sự có phát lửa
- Lửa đó không phải là lửa chuyên dùng
- Về vật chất đám lửa phải bất ngờ ngẫu nhiên với ngời đợc bảo hiểm chứ không phải là cố ý có chủ định của họ hoặc đồng loã của họ Tuy nhiên hoả hoạn đợc xẩy ra do bất cẩn của ngời đợc bảo hiểm vẫn thuộc phạm vi đợc bồi thờng
Khi có đầy đủ 3 yếu tố trên và co thiệt hại về vật chất do những nguyên nhân đợc coi là hợp lý gây ra những thiệt hại đó đợc bồi thờng dù cho là bị Hoả hoạn
Mặc dù không đợc nêu rõ trong đơn bảo hiểm nhng thiệt hại do hoả hoạn ở đây bao gồm có:
- Thiệt hại do khói mà nguồn lửa gây ra thuộc phạm vi thuộc trách nhiệm bảo hiểm
- Thiệt hại do nớc dùng để chứa Hoả hoạn
- Thiệt hại do phá rỡ để ngăn chặn Hoả hoạn lan
- Thiệt hại do việc thực hiện nhiệm vụ chữâ Hoả hoạn
- Thiệt hại mà ngời đợc bảo hiểm phải gánh chịu do việc bảo vệ tài sản và kiểm soát sự phát triển của ngọn lửa
Tuy vậy hoả hoạn ở đây loại trừ:
- Nổ ro ảnh hởng của hoạ hoạn
- Động đất ngầm
- Tài sản bị phá huỷ hay h hỏng do
+ Do bị lên men hoặc toả nhiệt
+Quá trình sử lý bằng nhiệt
Việc loại trừ này nhằm thống nhất khái niệm hoả hoạn đợc dùng trong toàn bộ đợn vị bảo hiểm bằng những rủi ro phụ riêng biệt
• Nổ : Theo rủi ro hoả hoạn, phạm vi bảo hiểm bao gồm:
Các trơng hợp hoả hoạn do nổ ngẫu nhiên đợc bảo hiểm nh vậy ở đây chỉ có những thiệt hại do nổ mà không gây Hoả hoạn vấn đề còn lại là:
Trang 10- Tổn thất và thiệt hại do nổ nhng không gây chay thì không đợc bồi thờng trừ trơng hợp nổ nồi khơi khí phục vụ cho sinh hoạt, với điều kiện vụ nổ đó không phải do các nguyên nhân bị loại trừ
- Tổn thất do chay xuất phát từ nổ thì đợc bồi thờng với điều kiện là sự
nổ không phải do các nguyên nhân bị loại trừ
- Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ xuất phát từ Hoả hoạn: Thiệt hại ban
đầu do Hoả hoạn đợc bồi thờng nhng những tổn thất do hậu quả của
ở đây cần lu ý trừ khi trừ khi tia sét phá huỷ trực tiếp các thiết bị điện
đ-ợc bồi thờng, còn tia sét làm thay đổi dòng điện dẫn tới thiệt hại cho thiết bị điện thì không đợc bồi thờng
2 Cụm rủi ro
Một nhóm những ngôi nhà hoặc kho tàng ngoài trời ở liền kề nhau trong một khu vực, tách biệt với những ngôi nhà kho tàng ngoài trời khác về không gian
Các ngôi nhà hoặc kho tàng ngoài tời đợc coi là tách biệt nhau về không gian nếu khoảng cách giữa chúng là khoảng cách tối thiểu Khoảng cách tối thiểu là khoảng cách tính bằng chiều cao của ngôi nhà cao nhất hoặc vợt quá 20m nếu tài sản là loại dễ Hoả hoạn và qua 10m nếu tài sản là loại không Hoả hoạn hoặc khó Hoả hoạn Khoảng cách trên 20m đợc coi
là tách biệt về không gian
3 Đơn vị rủi ro
Một số ngôi nhà, bộ phận của nhà kho ngoài trời liền nhau nhng tách biệt với các ngôi nhà, bộ phận nhà kho ngoài trời khác về không gian hoặc cấu trúc
Trang 11Đơn vị rủi ro đợc coi là tách biệt về không gian khi khoảng cách giữa các ngôi nhà hoặc kho ngoài trời bằng vật liệu không Hoả hoạn đảm bảo 10m.
Đối với kho ngoài trời bằng vật liệu dễ Hoả hoạn, khoản cách đó phải
- Đợc ngăn cắt bằng tờng chông Hoả hoạn
- Trần làm bằng vật liệu không Hoả hoạn
4.Tơng ngăn Hoả hoạn.
Là tờng ngăn Hoả hoạn để chia ngôi nhà hoặc kho ngoài trời thành nhiều đơn vị rủi ro
Đặc điểm xây dựng của tờng ngăn Hoả hoạn:
- tờng ngăn Hoả hoạn phải có giới hạn chiu lửa ít nhất 90 độ
- Phải đợc xây kín các tầng và không đợc so le nhau
- Nếu mái nhà là loại khó Hoả hoạn thì tờng ngăn Hoả hoạn phải cách mái nhà ít nhất là 30m
- Nếu có các cấu kiện khác nằm trong tờng ngăn Hoả hoạn phân độ dầy còn lại cũng phải đảm bảo giới hạn chịu lửa tối thiếu
- Không đợc để vật liệu cấu kiện dễ Hoả hoạn vắt nganh qua tờng ngăn Hoả hoạn
- Tờng ngăn Hoả hoạn phải xây cách những lỗ hở trên mái ít nhất 5m
Trang 12trong hồ sơ về khách hàng, nó cũng là tài liệu để báo cáo cho các nhà nhận bảo hiểm và cũng là cơ sở đối chiếu khi giải quyết bồi thờng.
Nếu việc điều tra đánh giá rủi ro đợc thực hịên một cách đầy đủ, kỹ ỡng, kết hợp với bảng hỡng dẫn tính phí hoặc sử dụng chơng trình tính phí bảo hiểm trên máy vi tính, cán bộ khai thác hoàn toàn có thể tính toán ngay
l-đợc một cách chính xác tỷ lệ phí Điều này giúp cho việc chủ động, nhanh chóng trong khai thác, trách đợc tình trạng phải tham khảo, hỏi han, tốn kém mất thời giờ
Trang 13
Chơng II Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm
Hoả hoạn tại Bảo Việt
I Thị trờng bảo hiểm Việt Nam - Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn
Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam ( gọi tắt là Bảo Việt ) đợc thành lập từ ngày 15.1.1965 theo Quyết định số 179/CP ngày 17.12.1964 của Thủ tớng Chính phủ, là doanh nghiệp nhà nớc duy nhất hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo hiểm Bảo Việt có nhiệm vụ thành lập quỹ dự trữ bảo hiểm từ
sự đóng góp, tham gia bảo hiểm của các đơn vị sản xuất kinh doanh
Từ năm 1981, Bảo Việt đã thành lập các công ty chi nhánh ở các tỉnh, địa phơng để tiến hành các dịnh vụ bảo hiểm Hoạt động của các chi nhánh không những giúp Bảo Việt triển khai bảo hiểm trên phạm vi cả nớc
mà còn hình thành một mạnh lới đảm bảo an toàn tài chính cho toàn bộ
ng-ời đợc bảo hiểm
Trong hơn 30 năm qua, ở Việt nam từ "bảo hiểm " đồng nghĩa với
"Bảo Việt " và ngợc lại lúc nào ngời ta cũng nghĩ rằng chỉ duy nhất có một công ty bảo hiểm hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Điều đó có lý do của
nó Ngoài sự hiện diện và đóng góp của Bảo Việt đối với nền kinh tế, xã hội
và với mỗi gia đình, trong suốt thời gian qua không thấy nói đến một tên công ty bảo hiểm nào khác.Với đờng lối mở của của nhà nớc, trong cơ chế thị trờngthì việc Nhà nớc dộc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm ( kể cả trên danh nghĩa) là điều khó có thể chấp nhận Chính vì thế nên ngày 18-12-
1993 Nghị định 100/CP của Chính Phủ đã ra đời cho phép các doanh nghiệp trong nớc cũng nh nớc ngoài đợc thành lập các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, mở chi nhánh công ty nớc ngoài tại Việt Nam
Tại Bảo Việt, các nghiệp vụ bảo hiểm nh bảo hiểm thân tàu, bảo
Trang 14hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu đã
đợc tiến hành từ lâu và đã trở thành những nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống Song đến năm 1989, Bảo Việt mới chính thức triển khai bảo hiểm Hoả hoạn theo Quyết định 06/TCQĐ của Bộ Tài chính
Năm 1990, trên cả nớc đã có 16 công ty bảo hiểm tiến hành nghiệp
vụ này Tuy nhiên nhìn chung mới chỉ bảo hiểm cho các nghành xăng, dầu còn lại phần lớn các tài sản, các nhà máy, xí nghiệp, công xởng, hệ thống khách sạn từ Nam ra Bắc trị giá nhiều tỷ đồng vẫn cha đợc bảo hiểm Có nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan dẫn đến việc ngành bảo hiểm cha triển khai đợc toàn diện Nguyên nhân cơ bản là chúng ta đã quá quen với cơ chế bao cấp, Hoả hoạn và rủi ro xảy ra đã có Nhà nớc bù đắp thiệt hại còn các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác thì cha có thói quen tham gia bảo hiểm tài sản Bên cạnh đó về chủ quan, công tác tuyên truyền, vận động thu hút khách hành của nghành bảo hiểm còn nhiều hạn chế
Sau một năm thực hiện, một yêu cầu cấp bách đợc đặt ra là phải có quy định chung hớng dẫn về bảo hiểm Hoả hoạn Vì vậy ngày 2 5.1991, Bảo Việt đã ban hành Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt áp dụng trên cả nớc Nghiệp vụ này ngày càng khẳng định đợc vị trí quan trọng của nó đặc biệt là sau khi Hội đồng bộ trởng ra quyết định số 332/ HĐBT ngày 23 10 1991 về việc bảo toàn, phát triển vốn kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nớc Bên cạnh đó, thông t số 82/TC/CN hớng dẫn cụ thể việc thực hiện quyết định trên của HĐBT : " Để tránh các trờng hợp không bảo toàn đợc vốn do nguyên nhân khách quan nh thiên tai, rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh tránh các trờng hợp phải xử lý giảm vốn và đa lỗ vào doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần phải mua bảo hiểm tài sản để tạo nguồn bù đắp cho các thiệt hại đó tại các công ty bảo hiểm Việt nam Khoản chi về bảo hiểm đợc hạch vào giá thành hoặc chi phí lu thông của doanh nghiệp Nhà nớc sẽ không cho ghi giảm vốn trong trờng hợp tài sản bị tổn thất vì những rủi ro mà công ty bảo hiểm trong nớc triển khai loại
Trang 15hình bảo hiểm tơng ứng ".
II Các hoạt động trong bảo hiểm hoả hoạn
Cũng giống nh bất cứ một nghiệp vụ bảo hiểm nào, nghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn gồm các bớc cơ bản sau :
1 Công tác khai thác bảo hiểm
Đây là bớc đầu tiên và không thể thiêú trong nghiệp vụ bảo hiểm Công tác khai thác đóng một vai trò quyết định trong sự phát triển một công
ty Khách hàng sẽ không mua bảo hiểm nếu họ không biết rằng mua bảo hiểm họ sẽ đợc lợi gì Do đó mà công việc tuyên truyền, quảng cáo trong b-
ớc này là cần thiết và nó càng trở nên đặc biệt quan trọng đồi với nghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn - nghiệp vụ mà cha có tập quán ở nớc ta
1.1 Tuyên truyền, quảng cáo, chủ động tiếp cận khách hàng
Hàng năm Bảo Việt kết hợp với các cơ quan, ban ngành có liên quan
nh : cảnh sát PCCC, đài truyền thanh, truyền hình, báo chí, các Bộ, nghành
để tuyên truyền về ý nghĩa, tác dụng của bảo hiểm Hoả hoạn Qua đó mới
có thể thuyết phục đợc khách hàng mua bảo hiểm
Mặt khác, công ty cử cán bộ xuống từng xí nghiệp, đơn vị kinh doanh
để giải thích, vận động mua bảo hiểm chứ không thụ động ngồi chờ khách hàng hoặc chỉ gửi các công văn, quy tắc cho họ trả lời vì khách hàng rất ngại đọc Một phần vì khó hiểu, một phần vì không nhận thức đợc hết ý nghĩa, tác dụng của bảo hiểm
Cán bộ bảo hiểm cần chủ động đến gặp khách hàng, cùng họ đi thăm cơ sở sản xuất, nghiên cứu quy trình sản xuất của họ , chỉ cho họ thấy
Trang 16những rủi ro mà họ có thể gặp phải và những hậu quả của nó Cán bộ bảo hiểm giải thích rõ cho khách hàng khi tham gia bảo hiểm họ đợc gì và mất gì, ớc tính số phí mà họ phải trả, giải đáp những vấn đề mà họ còn thắc mắc, cha hiểu rõ, gây cho họ lòng tin và nhu cầu tham gia bảo hiểm Kinh nghiệm cho thấy rằng, hớng tuyên truyền vận động nên tập trung vào những đối tợng "ăn nên làm ra ", có của ăn của để Vì thế, Bảo Việt đã chú
ý đến các đơn vị, doanh nghiệp lớn có khả năng tài chính khai thác nh : Công ty liên doanh về các thiết bị viễn thông COMVIK đã mua bảo hiểm với số tiến bảo hiểm là 19000000 $, mức phí là 47500 $ ; công ty liên doanh INDOCHINA CERAMIC sản xuất vật liệu xây dựng, trang thiết bị nội thất đã mua với số tiền bảo hiểm là 12250000 $, mức phí là 20825 $
Để tìm ra các doanh nghiệp "ăn nên làm ra" không phải là khó, cán
bộ khai thác nên chú ý theo dõi quảng cáo trên các phơng tiện thông tin đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình ) đồng thời phải có sự phối hợp với các ngân hàng, cơ quan khác để nắm bắt đợc đối tợng
1.2 Đánh giá rủi ro
Công tác đánh giá rủi ro đợc tiến hành sau khi khách hàng gửi giấy yêu cầu bảo hiểm với mục đích giá chính xác các rủi ro có thể xảy ra với các đối tợng bảo hiểm Qua đó xác định tỷ lệ phí bảo hiểm thích hợp tơng ứng với các rủi ro mà công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm
Để có cơ sở đáng giá đúng rủi ro, thông thờng công ty bảo hiểm sẽ gửi cho khách hàng bản phiếu điều tra các rủi ro (bảng câu hỏi) Qua phần trả lời khách hàng trong phiếu điều tra, các công ty bảo hiểm sẽ xác định đ-
ợc bậc chịu lửa của công trình, loại PCCC (các thiết bị PCCC đợc trang bị,
đội cứu hoả, bảo vệ ), hạng sản xuất (với đơn vị sản xuất), loại kinh doanh dịch vụ ( với đơn vị kinh doanh dịch vụ ), mức độ nguy hiểm với các tài sản
để trong kho, cửa hàng, từ đó xác định mức phí thích hợp
Tuy nhiên trên thực tế, để đảm bảo sự chính xác, trung thực khi đánh giá rủi ro, ngoài việc gửi phiếu điều tra rủi ro, các cán bộ khai thác bảo hiểm sẽ đến làm việc trực tiếp với khách hàng, nghiên cứu và khảo sát thực
Trang 17tế kỹ hơn, hớng dẫn khách hàng trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra, cùng cộng tác với cảnh sát PCCC đánh giá thực tế về công tác PCCC, phơng tiện chuyên môn (khách hàng cần những phơng tiện PCCC nào, bố trí ở
đâu, với số lợng là bao nhiêu ) Cuối cùng trên cơ sở đánh giá rủi ro, cán
bộ khai thác sẽ thoả thuân với khách hàng về tỷ lệ phí sẽ áp dụng
Nh vậy công tác đánh giá rủi ro có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nó yêu cầu cán bộ bảo hiểm không những phải giỏi chuyên môn mà còn phải
có sự năng động, tận tình và cẩn thận.Trong bảo hiểm Hoả hoạn, khâu đánh giá rủi ro là khâu quyết định trong việc cấp đơn bảo hiểm cũng nh việc đa
ra mức phí phù hợp
1.3 Cấp giấy chứng nhận bảo hiểm (đơn bảo hiểm)
Đối với nghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn, công ty bảo hiẻm sẽ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho khách hàng sau khi họ đã chấp nhận mức phí Giấy chứng nhận bảo hiểm Hoả hoạn bao gồm :
- Số đơn bảo hiểm
- Tên, địa chỉ ngời đợc bảo hiểm
- Ngành sản xuất kinh doanh
- Những rủi ro đợc bảo hiểm
- Tài sản dợc bảo hiểm
- Tổng giá trị tài sản
- Số tiền bảo hiểm
- Chi phí dọn dẹp hiện trờng
nh một bộ phận của Giấy chứng nhận bảo hiểm và có giá trị pháp lý, nó thể hiện từng hạng mục tài sản, số lợng, đơn giá, giá trị, số tiền bảo hiểm của
Trang 18từng loại đó :
Giấy chứng nhận bảo hiểm cần đợc lập thành bốn bản : Một bản trao cho khách hàng, một bản cho tài vụ, một bản lu và một bản cho Tổng công ty.Hiện nay Bảo Việt cũng quy định phạm vi mức phân cấp khai thác cho từng công ty Nếu đối tợng bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trong phạm vi đó thì công ty chỉ cần gửi một bản giấy chứng nhận Nếu vợt quá mức phân cấp, trớc khi cấp giấy chứng nhận cho khách hàng, các công ty cần gửi hồ sơ cho Tổng công ty xem xét và quyết định
1.4 Bổ sung tài sản đợc bảo hiểm và theo dõi tình hình thu phí
Trên thực tế, có nhiều khách hàng yêu cầu sửa đổi, bổ sung tài sản
đ-ợc bảo hiểm sau khi đã đđ-ợc cấp giấy chứng nhận bảo hiểm Các công ty cần xem xét kỹ yêu cầu thay đổi nh : giá trị bảo hiểm, các yếu tố ảnh hởng đến
tỷ lệ phí để từ đó tính toán, điều chỉnh lại tỷ lệ phí, phí bảo hiểm cho thích hợp Bản bổ sung sửa đổi cũng đợc lập thành bốn bản trao cho các bộ phận nói trên
Ngoài ra các cán bộ khai thác cũng cần định kỳ xuống thăm các đối tợng bảo hiểm, kiểm tra các công tác PCCC, nêu ra các đề xuất để tăng c-ờng công tác này Đồng thời phải phối hợp với các bộ phận tài vụ để theo dõi việc đóng phí của khách hàng, nhắc nhở họ tái tục bảo hiểm khi thời hạn bảo hiểm sắp hết
1.5 Hoa hồng
Trong công tác khai thác không thể không nói đến vấn đề hoa hồng
Đây là một khoản chi đợc tính theo tỷ lệ phần trăm so với số phí bảo hiểm Khoản hoa hồng này, công ty trả cho ngời trực tiếp đứng ra tham gia bảo hiểm hoặc trả cho ngời môi giới nhằm động viên khuyến khích họ nhiệt tình công tác, thu hút thêm nhiều khách hàng tham gia bảo hiểm Đây cũng
là một hình thức tạo dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng.Từ năm
1995, để tạo tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động, khoản chi hoa hồng
đợc tính vào chi quản lý nghiệp vụ
Có thể nói công tác khai thác có một vai trò quan trọng trong hoạt
Trang 19động kinh doanh bảo hiểm Thực hiện tốt khâu này sẽ tạo tiền đề cho các công ty bảo hiểm mở rộng và chiếm lĩnh thị trờng
2.1 Điều tra tai nạn
Nhận đợc thông báo tai nạn, giám định viên bảo hiểm sẽ xuống ngay hiện trờng để nắm tình hình và điều tra tai nạn Mục đích của việc điều tra tai nạn là thu nhập các bằng chứng và sự kiện Trên cơ sở đó giải đáp các câu hỏi : tai nạn đã xảy ra nh thế nào, ở đâu, khi nào, vì sao Muốn vậy trong quá trình điêù tra, giám định viên phải thu thập hai loại thông tin : các tang vật và lời khai của nhân chứng
- Tang vật : Là bất cứ một việc gì có liên quan giúp cho việc xác định những sự việc liên quan đến tai nạn Hầu hết các tang vật đều có thể tìm thấy ở hiện trờng hay cũng có thể tìm thấy ở nơi sửa chữa bị h hại
- Lời khai của nhân chứng : Là những lời kể, những câu trả lời của các nhân chứng thờng là những ngời có mặt ở nơi hiện trờng khi xảy ra tai nạn Lời khai của nhân chứng cũng giúp cho việc xác định những vấn đề có liên quan đến tai nạn Ngời bảo hiểm cần có những khả năng phân tích tìm ra những lời khai xác thực vì các lời khai của nhân chứng thờng khác nhau và
có khi mâu thuẫn với nhau
Ngoài việc tiếp xúc, trao đổi, hỏi chuyện với các nhân chứng, giám
định viên cần gặp gỡ, trao đổi với ngời đợc bảo hiểm, với công an PCCC Qua đó, nguyên nhân Hoả hoạn, đánh giá sơ bộ và khái quát mức độ thiệt hại
2.2 Đề xuất các biện pháp hạn chế tổn thất
Thông thờng sau khi gặp hoả hoạn, ngời đợc bảo hiểm rất hoang mang và lúng túng không biết phải làm gì Vì vậy trên cơ sở xem xét hiện
Trang 20trờng và song song với việc điều tra tai nạn, giám định viên bảo hiểm phải góp ý kiến với ngời đợc bảo hiểm các biện pháp hạn chế tổn thất nh sau:
- Cách ly khu vực và tài sản bị thiệt hại
- Rào kín những nơi mà ngời ngoài có thể đột nhập vào
- Bơm rút nớc cứu hoả còn đọng lại ra khỏi những nơi chứa tài sản để tránh tài sản h hỏng thêm
- Di chuyển các mảnh đổ vỡ, tro than để cứu tài sản,
Qua quá trình điều tra, các giám định viên phải tìm ra đợc nguyên nhân gây Hoả hoạn Chú ý rằng đó phải là những nguyên nhân trực tiấp dẫn
đến hoả hoạn Cuối cùng các giám định viên bảo hiểm sẽ xác định mức độ thiệt hại và lập biên bản giám định Biên bản giám định sẽ đợc trình lên công ty một bản và Tổng công ty một bản
3 Công tác bồi thờng
Một trong những yêu cầu và cũng là một trong những phẩm chất quan trọng đối với ngời làm công tác bảo hiểm là phải quan tâm và cảm thông sâu sắc tới các nhu cầu và nguyện vọng của khách hàng Phẩm chất
đó phải đợc thể hiện đặc biệt rõ nét trong khâu trong khâu giải quyết bồi ờng Giải quyết bồi thờng tốt có nghĩa là giải quyết nhanh và đúng - đây là nhiệm vụ số một của ngời làm công tác bồi thờng và là một trong những biện pháp tuyên truyền có hiệu quả nhất, làm tăng uy tín của công ty và có
th-ảnh hởng tích cực tới khâu khai thác bảo hiểm
Đảm bảo đợc mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ của công tác bồi thờng, cán bộ công ty cần thực hiện tốt những bớc sau :
3.1 Kiểm tra hồ sơ khiếu nại và xác định trách nhiệm bảo hiểm
Nhận đợc hồ sơ đòi bồi thờng, ngời bảo hiểm phải kiểm tra, xem xét
hồ sơ có đầy đủ và hợp lệ không Trờng hợp hồ sơ thuộc trách nhiệm bảo hiểm nhng cha đầy đủ thì phải yêu cầu khách hàng bổ sung kịp thời và ngày trả lời khách hàng Sau đó, cán bộ bồi thờng xem xét đối chiếu với quy tắc bảo hiểm và văn bằng hớng dẫn của Tổng công ty để xác định trách nhiệm bảo hiểm Cụ thể : khiếu nại có nằm trong phạm vi thoả thuận bảo hiểm