TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………...trang 3 PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………….trang 4 1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI………………………………………………trang 4 2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU………………………………………….trang 6 3.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU…………………………………………trang 7 PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………….trang 8 1.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHÙA GIÁC LÂM……………………………………………………………………trang 8 2.GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA CỦA CHÙA GIÁC LÂM………...trang 11 2.1.KIẾN TRÚC………………………………………………………..trang 11 2.1.1.KIẾN TRÚC XUNG QUANH VƯỜN CHÙA…………………..trang 11 2.1.1.1.CỔNG NHỊ QUAN…………………………………………….trang 11 2.1.1.2.CỔNG TAM QUAN…………………………………………...trang 14 2.1.2.KIẾN TRÚC CHÙA CHÍNH…………………………………….trang 15 2.1.2.1.CHÍNH ĐIỆN…………………………………………………..trang 16 2.1.2.2.NHÀ TRAI……………………………………………………..trang 20 2.1.2.3.NHÀ GIẢNG…………………………………………………...trang 23 2.2.TƯỢNG THỜ………………………………………………………trang 24 2.2.1.BÀN THỜ CHÍNH……………………………………………….trang 25 2.2.2.BỘ TƯỢNG THẬP BÁT LA HÁN……………………………...trang 28 2.2.3.BỘ TƯỢNG THẬP ĐIỆN DIÊM VƯƠNG……………………..trang 33 2.2.4.CÁC TƯỢNG KHÁC……………………………………………trang 35 2.3.TÁC PHẨM MỸ THUẬT PHẬT GIÁO KHÁC.…………………trang 38 2.3.1.HOÀNH PHI……………………………………………………..trang 39 2.3.2.BAO LAM………………………………………………………..trang 40 2.3.3.LIỄN ĐỐI………………………………………………………...trang 41 2.3.4.PHÁP KHÍ………………………………………………………..trang 42 2.3.5.LƯ HƯƠNG……………………………………………………...trang 43 2.3.6.BÀN THỜ………………………………………………………..trang 44 3.NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA CỦA CHÙA GIÁC LÂM…………………………………trang 46 3.1.THỰC TRẠNG CHÙA GIÁC LÂM………………………………trang 46 3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA CỦA CHÙA GIÁC LÂM…………………………………trang 49 PHẦN KẾT LUẬN…………………………………………………….trang 51 LỜI CẢM ƠN………………………………………………………….trang 52
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN.
BỘ MÔN LƯU TRỮ HỌC VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG Tiểu luận môn: Bảo tồn và phát huy di sản trong sự nghiệp xây
dựng nền văn hóa mới Việt Nam.
Đề tài:
CHÙA GIÁC LÂM.
Giáo viên hướng dẫn: Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Tú Khâm (1356130020).
Nguyễn Thị Ngà (1356130029).
Lê Thị Thanh Nguyên (1356130035).
Đặng Thị Quí (1356130042).
Phan Vũ Phương Quỳnh (1356130044).
Huỳnh Thị Kim Thoa (1356130052).
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014.
Trang 2MỤC LỤC.
MỤC
LỤC……… trang 1
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… trang 3PHẦN MỞ ĐẦU……….trang 4
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI………trang 4
2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……….trang 6
3.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU………trang 7
PHẦN NỘI DUNG……….trang 8
1.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHÙA GIÁC LÂM………trang 82.GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA CHÙA GIÁC LÂM……… trang
11
Trang 32.1.1.1.CỔNG NHỊ QUAN……….trang11
2.1.1.2.CỔNG TAM QUAN……… trang14
2.1.2.KIẾN TRÚC CHÙA CHÍNH……….trang15
2.1.2.1.CHÍNH ĐIỆN……… trang16
2.1.2.2.NHÀ TRAI……… trang20
2.1.2.3.NHÀ GIẢNG……… trang23
2.2.TƯỢNG THỜ………trang24
2.2.1.BÀN THỜ CHÍNH……….trang25
2.3.TÁC PHẨM MỸ THUẬT PHẬT GIÁO KHÁC.………trang 38
Trang 42.3.1.HOÀNH PHI……… trang 39
2.3.2.BAO LAM……… trang 40
2.3.3.LIỄN ĐỐI……… trang 41
2.3.4.PHÁP KHÍ……… trang 42
2.3.5.LƯ
HƯƠNG……… trang 43
2.3.6.BÀN THỜ……… trang 44
3.NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA CHÙA GIÁC LÂM………trang 46
3.1.THỰC TRẠNG CHÙA GIÁC LÂM………trang 46
3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ
- VĂN HÓA CỦA CHÙA GIÁC LÂM………trang 49
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1.Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp – Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiệp, “Đình, chùa,
lăng, miếu, di sản văn hóa vật thể của người Việt tại Thành phố
Hồ Chí Minh”.
2.Tiến sĩ Trần Hồng Liên, “Chùa Giác Lâm, Di tích Lịch sử - Văn
hóa”.
3.Tiến sĩ Phan Anh Tú, ’’Góp thêm ý kiến về hướng bảo tồn di
tích kiến trúc nghệ thuật Chùa Giác Lâm’’.
4.Giáo sư – Nhà giáo nhân dân Phan Huy Lê, “Truyền thống dân
tộc trong công cuộc đổi mới hiện đại hoá đất nước Việt Nam”.
5.“Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 62”.
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU.
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Di sản văn hóa, di tích lịch sử Việt Nam ta mang những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc được lưu giữ qua bao thời kỳ,
có ý nghĩa và vai trò to lớn, quan trọng trong quá trình xây
dựng nền văn hóa mới Theo thời gian và sự vận động phát triển không ngừng trong công cuộc xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến di sản văn hóa, đặc biệt là các di sảnvăn hóa vật thể như đình, chùa, lăng, miếu - là nơi luôn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần mỗi người dân Việt Nam, đây không chỉ là không gian văn hóa tôn giáo, nơi phục vụ các hoạt động thờ cúng tâm linh mà còn là nơi sinh hoạt công đồng, in dấu những hương ước, lệ làng, những thiết chế lâu đời - thì liệu
Trang 7của chúng ta ngày xưa, và ngày nay, ở các thành phố lớn,
chúng ta vẫn thấy sự hiện diện của các ngôi chùa cổ giữa đô thịnhộn nhịp Bởi vì, chùa luôn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của mỗi người dân chúng ta, nó không chỉ có vị trí đặc biệtquan trọng trong nền văn hóa truyền thống của nước ta mà còntác động sâu sắc toàn diện đến nhiều mặt của xã hội Việt Nam Chùa với người Việt không chỉ là không gian văn hóa tôn giáo, nơi phục vụ các hoạt động thờ cúng tâm linh mà còn là nơi sinh hoạt cộng đồng, nơi in dấu những thiết chế lâu đời của xã hội xưa Hồ Chí Minh – một thành phố đầy năng động, một trung tâm kinh tế trọng điểm ở phía Nam của nước ta Nhưng chúng
ta cũng không khó để thấy được các ngôi chùa cổ trong lòng thành phố Giác Lâm là một trong những ngôi chùa cổ nhất của Thành phố Hồ Chí Minh, đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa Quốc gia của Việt Nam theo quyết định số 1288- Vh/QĐ ngày 16 tháng 11 năm 1988
Chùa thu hút hàng triệu lượt khách trong và ngoài nước đếntham quan, chiêm bái, lễ phật, và sự quan tâm, nghiên cứu của các học giả khoa học trên các lĩnh vực Đến với chùa Giác Lâm, mọi người đều mang trong lòng sự hiếu kỳ, khám phá về vẻ đẹpcủa lối kiến trúc cổ xưa, tìm hiểu nền văn hóa Phật giáo và
cũng như là tìm về cội nguồn và bản sắc văn hóa của người dânNam Bộ Ngoài những vẻ đẹp về mặt hình thức, chùa Giác Lâm còn mang trong mình những vẻ đẹp có giá trị nhân văn sâu sắc,
là nơi lưu giữ những dấu ấn về lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng của dân tộc Nhưng bên cạnh đó, chùa Giác Lâm còn phải đối mặt với những thực trạng về việc bảo tồn các cổ vật, di vật, và những yếu tố tác động khách quan, chùa được trùng tu lại
Trang 8nhiều lần nên kiến trúc chùa lại mang thêm những đặc điểm mới Đây cũng chính là lý do mà nhóm chọn đề tài nghiên cứu
về chùa Giác Lâm nhằm hiểu rõ về những giá trị di sản văn hóa chùa, cũng như là phương thức bảo tồn và phát huy di sản
2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.
Tìm hiểu di sản văn hóa vật thể chùa Giác Lâm nhằm hiểu
rõ hơn những giá trị mà tiền nhân đã hun đúc và lưu truyền lại cho chúng ta
Hy vọng đóng góp vào nguồn tài liệu nghiên cứu về chùa
Trang 93.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
Thông qua nghiên cứu khảo sát, tiếp cận thực tế đã dặt ra những nhiệm vụ cần thiết là phải nắm rõ tình hình các cổ vật, divật văn hóa, kiến trúc, cảnh quan trong khuôn viên chùa cũng như là những thực trạng về việc bảo tồn các loại di sản trong chùa và những yếu tố tác động bên ngoài
Từ đó đưa ra các giải pháp thực tiễn để bảo tồn và phát huy
di sản văn hóa
Trang 10PHẦN NỘI DUNG.
Trang 11khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà có nhã thú Mùa xuân năm Giáp Tý (1744), đời vua Thế Tôn thứ bảy, người xã Minh Hương là Lý Thụy Long quyên của xây dựng nhà chùa trang nghiêm, cửa thiền u tịch”(Nguồn: Tiến sĩ Trần Hồng Liên,
“Chùa Giác Lâm, Di tích Lịch sử - Văn hóa”) Đó là cảnh quan
thơ mộng và thanh tịnh, nơi đã được chọn để xây dựng một ngôi chùa mang tên Cẩm Sơn, Sơn Can hoặc Cẩm Đệm, là tiền thân của ngôi chùa Giác Lâm sau này Vị trí này hiện nay là số
565 (số cũ 118) đường Lạc Long Quân, phường 10, quận Tân Bình
Từ năm 1774, khi Thiền sư Viên Quang về trụ trì chùa Cẩm Đệm, đã đổi tên thành chùa Giác Lâm Chùa Giác Lâm từ đó đến nay đã trải qua gần 300 năm Đó là một khoảng thời gian
khá dài, ngôi chùa được trùng tu và được 11 đời Thiền sư kế thế
trụ trì: Tổ sư, Tổ tông (Viên Quang) đời thứ 36, Tiên Giác (Hải Tịnh), Minh Vi, Minh Khiêm, Như Lợi, Như Phòng, Hồng Hưng, Nhựt Dần, Lệ Sành(Nguồn: Bảng tóm tắt của chùa Giác Lâm).
Vào những năm 1799 – 1804, sau hơn nửa thế kỷ trôi qua từngày dựng chùa, Thiền sư Viên Quang đứng ra tiến hành cuộc đại trùng tu lần thứ nhất ngôi chùa Giác Lâm Những năm 1906 – 1909, Thiền sư Hồng Hưng Thạnh Đạo, thuộc đời thứ 40, đã đứng ra trùng tu lần thứ hai ngôi chùa Giác Lâm
Chùa Giác Lâm được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là
Di tích Lịch sử - Văn hóa Quốc gia theo Quyết định số 1288 – VH/QĐ ngày 16 – 11 – 1988
Trang 12Chùa Giác Lâm (Ảnh: tự chụp)
Trang 13Bảng chứng nhận Di tích Lịch sử - Văn hóa của chùa Giác
Lâm (Ảnh: tự chụp)
Trang 142.GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA CHÙA GIÁC LÂM.
2.1.KIẾN TRÚC.
2.1.1.KIẾN TRÚC XUNG QUANG VƯỜN CHÙA.
2.1.1.1.CỔNG NHỊ QUAN.
Nét đặc sắc trong kiến trúc chùa, từ ngoài nhìn vào là cổng
nhị quan, được dựng lên vào năm 1939(Nguồn: Tiến sĩ Trần Hồng Liên, “Chùa Giác Lâm, Di tích Lịch sử - Văn hóa”) Từ
trước, chùa không có cổng tam quan, do đó cổng nhị quan đượcxem như cổng chính của chùa Cổng được dựng lên theo phong cách đặc biệt, độc đáo, có lẽ là cổng đặc biệt nhất so với các chùa ở Nam Bộ, cũng như cả nước
Hai cổng sắt hai bên được ngăn cách bởi hai hàng rào và
một tấm bình phong bằng gạch cao khoảng gần sáu
mét(Nguồn: Tiến sĩ Trần Hồng Liên, “Chùa Giác Lâm, Di tích Lịch sử - Văn hóa”) Bình phong có chân đế trang trí dạng chân
quỳ tiếp nối với bức chắn bằng gạch trơn không có hoa văn Đầu tiên là dòng chữ Hán khắc theo chiều ngang: “Bảo trụ thần
phan”(Nguồn: Tiến sĩ Trần Hồng Liên, “Chùa Giác Lâm, Di tích
Lịch sử - Văn hóa”)ở mặt trước Nối với phần này là dạng kiến
trúc tựa mái che, hai bên có hai sư tử ngồi dạng chầu hầu Tầngtrên là một bức bình phong có kích thước nhỏ hơn, trang trí đầu
Trang 15Để thấy hết giá trị và ý nghĩa lịch sử - văn hóa của cổng nhị quan, chúng ta cần tìm hiểu về những hàng chữ Hán, cũng như chức năng của cổng này Tam quan là cổng vào của phần lớn các ngôi chùa Cổng nhị quan tại chùa Giác Lâm được xây dựng,
bỏ đi phần cửa ở giữa Thông thường, đây là lối vào chính Nay thiết kế cổng vào hai bên, chắn lại phần cửa chính, điều đó thể hiện một sự phản kháng đặc biệt Đó là sự phản kháng lại ách
áp bức, nô dịch dân tộc dưới thời Pháp, mà cụ thể là những quan Tây đã đến chùa, không có cổng chính để vào, bắt buộc phải đi bằng lối nhỏ hẹp hai bên Sự phản kháng còn thâm thúy hơn khi tìm hiểu hang loạt chữ Hán được chạm khắc trên bức bình phong “Ô Quang thái tử” và “Ô Minh thái tử” đều đồng nghĩa như con trời, ý nói cả con trời cũng không được đi bằng
lối giữa này, còn lâu mới tới lượt quan Tây!(Tham khảo: Tiến sĩ
Trần Hồng Liên, “Chùa Giác Lâm, Di tích Lịch sử - Văn hóa”).
Cổng nhị quan của chùa Giác Lâm (Ảnh: tự chụp)
Trang 16Mặt trước bức bình phong của cổng nhị quan ở chùa Giác Lâm.
(Ảnh: tự chụp)
Trang 17Mặt sau bức bình phong của cổng nhị quan ở chùa Giác Lâm.
(Ảnh: tự chụp)
2.1.1.2.CỔNG TAM QUAN.
Cổng tam quan chùa Giác Lâm được xây dựng vào năm
1955, gồm ba lối vào, tượng trưng cho “không quan, giả quan, trung quan” và còn có ý nghĩa của “tam giải thoát ấn”, “tam pháp ấn” (không, vô tướng, vô nguyện) Mỗi cổng đều có mai che, lợp ngói, các đầu đao gắn hoa văn trang trí, diềm mái lá đềmàu xanh thẫm nổi bật bên cạnh hàng ngói đỏ Trên cổng giữa
khắc ba chữ Hán: “Giác Lâm tự”(Nguồn: Tiến sĩ Trần Hồng Liên,
“Chùa Giác Lâm, Di tích Lịch sử - Văn hóa”), hai bên chạm hai
câu đối có chữ đầu và chữ cuối hợp lại là “TỔ ĐÌNH GIÁC LÂM”:
“GIÁC ngộ quảng khai từ thiện đồng lai qui hướng TỔ,
LÂM tuyền phổ nhuận ngộ mê cộng hưởng tuệ vi ĐÌNH.”
Trang 18Dịch là:
“Giác ngộ thênh thang đón khách thiện từ về hướng Tổ,Lâm tuyền tĩnh tịch đưa người mê ngộ tới vi Đình.” (Tín Phủ dịch)
Cổng tam quan của chùa Giác Lâm (Ảnh: tự chụp)
Trang 19Mặt bằng hình chữ tam của chùa Giác Lâm (Ảnh: tự chụp)
Sườn nhà đâm trính cột kê của chùa Giác Lâm (Ảnh: tự
chụp)
2.1.2.1.CHÍNH ĐIỆN.
Mái hình bánh ít Phía trên mái chính điện có tượng ’’Lưỡng long tranh châu’’ Mỗi đầu kèo đều tạc đầu rồng Sau lưng bàn thờ chính trong chính điện là bàn thờ Tổ, treo ảnh các vị Tổ từ
thế hệ 33 đến 41(Nguồn: Tiến sĩ Trần Hồng Liên, “Chùa Giác Lâm, Di tích Lịch sử - Văn hóa”), các bài vị được đặt rất trang
trọng
Trang 20Chính điện của chùa Giác Lâm (Ảnh: tự chụp)
Trang 21Mái lợp ngói âm dương và tượng “Lưỡng long tranh châu” ở
chính điện của chùa Giác Lâm.
Kèo tạc đầu rồng ở chính điện của chùa Giác Lâm (Ảnh: tự
chụp)
Trang 22Bàn thờ Tổ ở chính điện của chùa Giác Lâm (Ảnh: tự chụp)
Bàn thờ Tổ ở chính điện của chùa Giác Lâm (Ảnh: tự chụp)
Trang 23Bàn thờ Tổ ở chính điện của chùa Giác Lâm (Ảnh: tự chụp)
Trang 242.1.2.2.NHÀ TRAI.
Nơi đây đặt hai dãy bàn theo chiều dọc thờ Phật tử quá vãng, có ảnh và bài vị Ngoài ra, tại đây còn đặt ba dãy bàn dài dùng tiếp khách, đãi ăn vào các ngày lễ lớn, bàn cho chư Tăng dùng cơm mỗi ngày Đầu bàn chư Tăng thọ thực là bàn thờ Chuẩn Đề
Dãy bàn thờ Phật tử quá vãng ở nhà trai của chùa Giác
Lâm (Ảnh: tự chụp)
Trang 25Dãy bàn thờ Phật tử quá vãng ở nhà trai của chùa Giác
Lâm (Ảnh: tự chụp)
Trang 26Ba dãy bàn dài ở nhà trai của chùa Giác Lâm (Ảnh: tự
chụp)
Trang 272.1.2.3.NHÀ GIẢNG.
Tiếp nối nhà trai, cách một sân Thiên Tĩnh, là nơi học tập của các Tăng sĩ
Sân Thiên Tĩnh có hòn non bộ, phía sau là nhà giảng của
chùa Giác Lâm (Ảnh: tự chụp)
Trang 282.2.TƯỢNG THỜ.
Được xây dựng cách đây gần 300 năm, trải qua hai lần
trùng tu lớn vào năm 1799 – 1804 và 1906 – 1909(Nguồn: Bảng
tóm tắt của chùa Giác Lâm), số lượng tượng của chùa Giác Lâm
khá nhiều Do diện tích được mở rộng, một số tượng nhỏ tỏ ra không cân xứng, chùa đã cho tạo tác nhựng tượng to lớn hơn
Hiện còn lưu giữ tại chùa là 113 pho tượng cổ, trong đó có bảy
tượng đồng(Nguồn: Bảng tóm tắt của chùa Giác Lâm).
Trang 292.2.1.BÀN THỜ CHÍNH.
Ở bậc cao nhất trên bàn thờ trong chính điện chùa Giác Lâm là bức tượng Phật A Di Đà, bên trái (nằm ngoài bàn thờ chính điện) là tượng Bồ tát Quán Thế Âm, bên phải là tượng Bồ
tát Đại Thế Chí, đây chính là bộ tượng Di Đà Tam Tôn “Phật A
Di Đà là pho tượng lớn nhất trong chùa, cao hai mét và cũng là pho tượng duy nhất được tạo tác theo phong cách tạc miền Bắc Tượng bằng gỗ, đắp đất sét và giấy bản bên ngoài một lớp mỏng, sau đó mới sơn son thếp vàng.”(Nguồn: Tiến sĩ Trần Hồng Liên, “Chùa Giác Lâm, Di tích Lịch sử - Văn hóa”)
Ở hàng dưới tượng Phật A Di Đà là tượng Phật Thích Ca ở chính giữa, bên trái là tượng Ca Diếp, bên phải là tượng A Nan Dưới bức tượng này là tượng Cửu Long, thể hiện lúc Đức Phật Thích Ca mới chào đời có chín con rồng tới phun nước để tắm cho Người Nằm trong số bảy pho tượng bằng đồng hiếm hoi, Cửu Long là một pho tượng quý
Bên dưới tượng Cửu Long là tượng Phật Thích Ca đản sinh, bên trái là tượng ông Ác, bên phải là tượng ông Thiện Phía dướicùng của bàn thờ chính là bộ tượng Ngũ Hiền Thượng Kỳ Thú gồm tượng Thích Ca ở giữa, ngồi trên tòa sen nên cao hơn các tượng khác, hai bên là Bồ tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù và Phổ Hiền Bốn tượng Bồ Tát đều ngồi trên lưng một con
Trang 30vật: Phổ Hiền Bồ Tát ngồi trên mình voi, tay cầm nhánh sen; Đại Thế Chí Bồ Tát và Quán Thế Âm Bồ Tát cưỡi sư tử, tay cầm cuốn thư; Văn Thù Bồ Tát cũng cưỡi sư tử nhưng tây cầm nhànhnhư ý Các con vật đều nằm trong tư thế phủ phục Các tượng này, tay đều trong thế bắt ấn, thể hiện tư thế đang hoằng hóa
chúng sinh Bộ tượng này được tạc bằng gỗ mít nài, thếp vàng,
cao 0,08cm(Nguồn: Tiến sĩ Trần Hồng Liên, “Chùa Giác Lâm, Di tích Lịch sử - Văn hóa”).
Trang 31Tượng Bồ Tát Quán Thế Âm (Ảnh: tự chụp)
Trang 332.2.2.BỘ TƯỢNG THẬP BÁT LA HÁN.
18 vị La Hán chùa Giác Lâm được đặt dọc hai bên hành langchính điện Bộ lớn đặt trên, bộ nhỏ đặt dưới, trên bàn thờ nhị cấp (hai tầng) Mỗi bên hành lang đặt chín vị lớn và chín vị nhỏ
“Bộ nhỏ cao 50cm, ngang giữa hai gối 32cm, đặt trên bệ cao bảy cm, được tạo tác vào giữa thế kỷ XVIII, từ khi lập chùa Bộ lớn cao 80cm, ngang giữa hai gối 45cm, bệ cao 15cm, được tạo tác vào đầu thế kỷ XIX, trong lần trung tu lần thứ nhất của
chùa Cả hai bộ tượng đều được tạc bằng gỗ mít nài.”(Nguồn: Tiến sĩ Trần Hồng Liên, “Chùa Giác Lâm, Di tích Lịch sử - Văn hóa”) Bộ tượng La Hán nhỏ, nhiều đường nét tạo tác thể hiện
sự ảnh hưởng của mỹ thuật Phật giáo Trung Quốc Bộ tượng La Hán lớn, những đặc điểm ảnh hưởng của mỹ thuật Phật giáo Trung Quốc đã giảm hẳn Tượng La Hán chùa Giác Lâm, mỗi vị một tư thế: có vị tay cầm cây như ý, có vị nâng tháp bốn tầng,
có vị cầm bình hồ lô, có vị ngồi ngoáy tai, có vị ngồi tư thế “tay
xé ngực chỉ Phật tại tâm”,
Bộ tượng La Hán chùa Giác Lâm có một giá trị lịch sử lớn Làhiện vật trong ngôi cổ tự lâu đời nhất thành phố nên tượng La Hán chùa Giác Lâm cũng cao tuổi hơn so với các tượng La Hán khác Bộ tượng còn chứng minh cho quá trình phát triển của Phật giáo ở Nam Bộ, từ những ảnh hưởng nặng nề của Phật giáo Trung Quốc, đã dần dần xác lập được một dòng mới, mangđặc điểm dân tộc và hoàn toàn của người Việt