Ứng dụng CNTT là một yêu cầu quan trọng của việc đổi mới PPDH. Trường Tiểu học Phan Chu Trinh cũng như các trường học khác cần quan tâm đến việc ứng dụng CNTT vào dạy học tất cả các bộ môn trong đó có môn Toán. Vì các nội dung dạy học môn Toán ở Tiểu học nói chung và môn Toán 3 nói riêng có rất nhiều vấn đề trừu tượng. Ví dụ: các dạng bài về hình học, các dạng bài triển khai hình, các cách sắp xếp hình, sơ đồ,....Để hỗ trợ việc dạy học các nội dung này, SGK cũng có khá nhiều hình ảnh minh họa. Nhiều giáo viên tâm huyết cũng đã sưu tầm và sử dụng thêm các phương tiện bổ trợ như tranh, ảnh, sơ đồ,...Giáo viên hướng dẫn HS quan sát, kèm theo lời mô tả, giải thích, với mục đích giúp cho HS hiểu bài hơn. Tuy nhiên đối với nội dung khó như khi mô tả các dạng bài về “Diện tích hình chữ nhật, Diện tích hình vuông...” mà giáo viên chỉ dùng lời nói và hình ảnh tĩnh để minh họa thì học sinh rất khó hình dung, việc tiếp thu bài của các em vẫn hạn chế. Nhiều học sinh làm được bài nhưng không hiểu được bản chất của bài dẫn đến kĩ năng vận dụng thực tế vẫn chưa tốt. Giải pháp của nhóm 3 là sử dụng phần mềm PowerPoint và một số tệp có định dạng Flash và video clip có nội dung phù hợp vào một số bài học thuộc dạng bài “Diện tích hình chữ nhật, Diện tích hình vuông...” hoặc dùng các hiệu ứng phù hợp thay vì sử dụng các hình ảnh tĩnh trong SGK và coi đó là nguồn cung cấp thông tin giúp các em tìm hiểu bản chất, đặc điểm của các dạng bài đó. Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương quan: Hai lớp 3 trường Tiểu học Phan Chu Trinh. Lớp 3A1 là lớp thực nghiệm và 3A2 là lớp đối chứng. Lớp thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế khi dạy các bài về “Diện tích hình chữ nhật, Diện tích hình vuông...” Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh, lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp đối chứng. Điểm bài đầu ra của lớp thực nghiệm có giá trị trung bình là 8,07; điểm bài đầu ra của lớp đối chứng là 6,73. Kết quả kiểm chứng ttest cho thấy p < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Điều đó chứng minh rằng đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Toán 3 làm nâng cao kết quả học tập các bài học về “Diện tích hình chữ nhật, Diện tích hình vuông...” cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Phan Chu Trinh.
Trang 1****************
Học phầnNghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Đề tài
NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN 3 TRƯỜNG TH PHAN CHU TRINH – TP KON TUM BẰNG VIỆC ÁP DỤNG PHẦN MỀM POWERPOINT
VÀO DẠY HỌC NHÓM BÀI TOÁN TÍNH DIỆN TÍCH MÔN TOÁN 3
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Lý Sinh viên thực hiện: Ngô Thị Ngọc Bích
Trang 2MỤC LỤC
Trang
2.1.2 Nguyên nhân 6
Trang 4I TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Ứng dụng CNTT là một yêu cầu quan trọng của việc đổi mới PPDH Trường Tiểu học Phan Chu Trinh cũng như các trường học khác cần quan tâm đến việc ứng dụng CNTT vào dạy học tất cả các bộ môn trong đó có môn Toán
Vì các nội dung dạy học môn Toán ở Tiểu học nói chung và môn Toán 3 nói riêng có rất nhiều vấn đề trừu tượng Ví dụ: các dạng bài về hình học, các dạng bài triển khai hình, các cách sắp xếp hình, sơ đồ, Để hỗ trợ việc dạy học các nội dung này, SGK cũng có khá nhiều hình ảnh minh họa Nhiều giáo viên tâm huyết cũng đã sưu tầm và sử dụng thêm các phương tiện bổ trợ như tranh, ảnh,
sơ đồ, Giáo viên hướng dẫn HS quan sát, kèm theo lời mô tả, giải thích, với mục đích giúp cho HS hiểu bài hơn Tuy nhiên đối với nội dung khó như khi
mô tả các dạng bài về “Diện tích hình chữ nhật, Diện tích hình vuông ” mà giáo viên chỉ dùng lời nói và hình ảnh tĩnh để minh họa thì học sinh rất khó hình dung, việc tiếp thu bài của các em vẫn hạn chế Nhiều học sinh làm được bài nhưng không hiểu được bản chất của bài dẫn đến kĩ năng vận dụng thực tế vẫn chưa tốt
Giải pháp của nhóm 3 là sử dụng phần mềm PowerPoint và một số tệp
có định dạng Flash và video clip có nội dung phù hợp vào một số bài học thuộc dạng bài “Diện tích hình chữ nhật, Diện tích hình vuông ” hoặc dùng các hiệu ứng phù hợp thay vì sử dụng các hình ảnh tĩnh trong SGK và coi đó là nguồn cung cấp thông tin giúp các em tìm hiểu bản chất, đặc điểm của các dạng bài
đó Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương quan: Hai lớp 3 trường Tiểu học Phan Chu Trinh Lớp 3A1 là lớp thực nghiệm và 3A2 là lớp đối chứng Lớp thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế khi dạy các bài về
“Diện tích hình chữ nhật, Diện tích hình vuông ” Kết quả cho thấy tác động đã
có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh, lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp đối chứng Điểm bài đầu ra của lớp thực nghiệm có giá trị trung bình là 8,07; điểm bài đầu ra của lớp đối chứng là 6,73
Trang 5Kết quả kiểm chứng t-test cho thấy p < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Điều đó chứng minh rằng đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Toán 3 làm nâng cao kết quả học tập các bài học về “Diện tích hình chữ nhật, Diện tích hình vuông ” cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Phan Chu Trinh.
II GIỚI THIỆU
2 1 Hiện trạng và nguyên nhân
Tại trường Tiểu học Phan Chu Trinh, giáo viên mới chỉ sử dụng máy tính
để soạn giáo án Giáo viên biết sử dụng thành thạo phần mềm PowerPoint chưa nhiều, chủ yếu mới dừng lại ở việc biết trình chiếu kênh chữ đơn giản chứ chưa biết khai thác các hình ảnh động phục vụ cho bài học
Qua việc thăm lớp dự giờ khảo sát trước tác động, nhóm 3 thấy giáo viên chỉ sử dụng các phiên bản tranh ảnh trong SGK treo lên bảng lớp cho học sinh quan sát, mô tả xuông bằng lời nói Giáo viên cố gắng đưa ra hệ thống câu hỏi gợi mở dẫn dắt học sinh tìm hiểu vấn đề Học sinh tích cực suy nghĩ, trả lời câu hỏi của giáo viên, phát hiện và giải quyết vấn đề Kết quả là học sinh làm được bài nhưng hiểu chưa sâu sắc về bài, kĩ năng vận dụng vào thực tế chưa cao
Để thay đổi hiện trạng trên, đề tài nghiên cứu này đã sử dụng các tệp có định dạng Flash và Video clip và các hiệu ứng thay cho tranh ảnh và mô tả xuông bằng lời nói và khai thác nó như là một nguồn dẫn đến kiến thức
Trang 62.1.2 Nguyên nhân
Việc ứng dụng phần mềm PowerPoint vào dạy học ở bậc tiểu học nói chung
đã được đẩy mạnh trong những năm gần đây, tuy nhiên thực tế vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế nhất là ứng dụng phần mềm PowerPoint vào dạy học các bài thuộc nhóm bài Toán tính diện tích môn Toán 3 tại trường Tiểu học Phan Chu Trinh -
TP Kon Tum là do những nguyên nhân cơ bản sau:
2.1.2.1 Nguyên nhân khách quan
- Cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học bằng phần mềm PowerPoint cũng như công cụ trình chiếu các bài báo cáo của học sinh còn thiếu thốn, trường chưa có phòng học đa năng
- Giáo viên chưa quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phần mềm PowerPoint để nâng cao chất lượng học tập cho học sinh
2.1.2.2 Nguyên nhân chủ quan
- GV chưa có kế hoạch ứng dụng phần mềm PowerPoint vào việc dạy học, hoặc nếu có thì việc lập kế hoạch giao việc chưa thật sự chu đáo, cụ thể; bước hướng dẫn cho các em cách làm việc chưa được kĩ càng do đó khi thực hiện , nhiều em học sinh còn lúng túng
- Cũng có GV còn chưa thật sự tin tưởng vào khả năng của HS nên khi giao nhiệm vụ hoặc tổ chức cho học sinh học tập đôi khi cũng chưa đạt kết quả như mong muốn
=> Từ những nguyên nhân trên nhóm 3 chọn nguyên nhân : “GV chưa có
kế hoạch ứng dụng phần mềm PowerPoint vào việc dạy học, hoặc nếu có thì việc lập kế hoạch giao việc chưa thật sự chu đáo, cụ thể; bước hướng dẫn cho các em cách làm việc chưa được kĩ càng do đó khi thực hiện , nhiều em học sinh còn lúng túng” làm nguyên nhân để tác động, giải quyết
2.2 Giải pháp thay thế
Đưa các tệp có định dạng Flash miêu tả sự tách, ghép các hình, giáo viên chiếu hình ảnh cho học sinh quan sát, nêu hệ thống câu hỏi dẫn dắt giúp học
Trang 7sinh phát hiện kiến thức Giáo viên chuẩn bị giáo án các bài toán tính diện tích trước khi đến lớp, học sinh nghiên cứu chuẩn bị bài học Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm là 4 tiết với 4 bài: Diện tích hình chữ nhật, Luyện tập: Diện tích hình chữ nhật, Diện tích hình vuông và Luyện tập: Diện tích hình vuông Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan
2.3 Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề đổi mới PPDH trong đó có ứng dụng CNTT trong dạy học đã có nhiều bài viết được trình bày trong các hội thảo liên quan Ví dụ:
- Bài những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng CNTT đối với người giáo viên của tác giả Đào Thái Lai, viện khoa học giáo dục Việt Nam
- Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng CNTT trong dạy học của cô giáo Trần Hồng Vân, trường Tiểu học Cát Linh, Hà Nội
+ Ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán của Lê Minh Cương –MS 720+ Sử dụng CNTT trong dạy học ở Tiểu học của Vũ Văn Đức – MS 756
Các đề tài này đều đề cập đến định hướng, tác dụng, kết quả của việc đưa ứng dụng CNTT vào dạy và học
Nhiều báo cáo kinh nghiệm và đề tài khoa học của các thầy cô giáo trường Đại học, Cao đẳng cũng đã đề cập đến vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học
Các đề tài, tài liệu trên chủ yếu bàn về sử dụng CNTT như thế nào trong dạy học nói chung mà chưa có tài liệu, đề tài đi sâu vào việc sử dụng các tệp có định dạng Flash và Video clip hay tạo các hiệu ứng có hiệu quả cao trong dạy học
Nhóm 3 muốn có một nghiên cứu cụ thể hơn và đánh giá được hiệu quả của việc đổi mới PPDH thông qua việc sử dụng các Flash và Video clip cũng
Trang 8như các hiệu ứng, phần mềm có hiệu quả cao hỗ trợ giáo viên khi dạy loại kiến thức trừu tượng như các bài học về “Diện tích hình chữ nhật, Diện tích hình vuông ”.Qua nguồn cung cấp thông tin sinh động đó, học sinh tự khám phá ra kiến thức Từ đó, truyền cho các em lòng tin vào Toán học, say mê tìm hiểu Toán học cùng các ứng dụng của nó trong đời sống.
2.4 Vấn đề nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu
2.4.1 Vấn đề nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, nhóm 3 tìm câu trả lời cho vấn đề sau đây:
Việc đưa ứng dụng bài giảng giáo án điện tử Power Point vào dạy môn Toán lớp 3 có nâng cao kết quả học tập của học sinh lớp 3 trường TH Phan Chu Trinh không?
2.4.1 Giả thiết nghiên cứu
Có Đưa ứng dụng bài giảng giáo án điện tử Power Point vào dạy môn Toán 3 sẽ nâng cao kết quả học tập cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Phan Chu Trinh
III PHƯƠNG PHÁP
3.1 Khách thể nghiên cứu
Nhóm 3 lựa chọn Trường Tiểu học Phan Chu Trinh - TP Kon Tum vì trường này có những điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu của tôi Cụ thể như sau:
* Đối với Trường: Ban giám hiệu có trách nhiệm, nhiệt tình trong việc
triển khai và áp dụng các đề tài nghiên cứu khoa học; có đầy đủ trang thiết bị phục vụ quá trình giảng dạy
* Đối với GV: Cô Nguyễn Tôn Thúy Vy - giáo viên dạy lớp 3A1 (lớp
thực nghiệm) và cô Đỗ Thị Nhuận - giáo viên dạy lớp 3A2 (lớp đối chứng) là
GV giỏi trong nhiều năm, có nhiều năm kinh nghiệm, có lòng nhiệt tình và trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy và giáo dục HS
Trang 9* Đối với HS:
- Lớp 3A1 (lớp thực nghiệm)
- Lớp 3A2 (lớp đối chứng)
Hai lớp được chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau
về số lượng, tỉ lệ giới tính, dân tộc
Bảng 1 Giới tính và thành phần dân tộc, nơi cư trú:
- Về ý thức học tập: hầu hết HS ở hai lớp này đều ngoan và tích cực, chủ động trong học tập
- Về thành tích học tập của học kì I năm học 2013-2014 của hai lớp tương đương nhau về điểm số của tất cả các môn học
3.2 Thiết kế
- Chọn hai lớp nguyên vẹn: lớp 3A1 là nhóm thực nghiệm và 3A2 là nhóm đối chứng Nhóm 3 dùng bài kiểm tra học kì I môn Toán làm bài kiểm tra trước tác động Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau,
do đó nhóm 3 dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai nhóm trước khi tác động
Trang 10Sử dụng thiết kế hai: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương
đương (được mô tả ở bảng 2):
Bảng 3: Thiết kế nghiên cứu đối với HS lớp 3:
Nhóm Kiểm tra trước
Kiểm tra sau tác độngThực
3.3 Quy trình nghiên cứu
* Chuẩn bị bài của giáo viên
- Cô Nhuận dạy lớp đối chứng: Thiết kế kế hoạch bài học không sử dụng giáo
án điện tử, quy trình chuẩn bị bài như bình thường
- Cô Vy dạy lớp thực nghiệm: Thiết kế kế hoạch bài học có sử dụng giáo án điện tử, sưu tầm, lựa chọn thông tin tại các Website baigiangdientubachkim.com; giaovien.net… và tham khảo các bài giảng của đồng nghiệp (Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Kết, Đặng Thị Thanh Vân – Trường Tiểu học THSP Kon Tum)
* Tiến hành dạy thực nghiệm:
Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan Cụ thể như sau:
Bảng 4: Thời gian thực nghiệm:
Thứ ngày Môn/
lớp
Trang 11Thứ 2
24/3/2014 Toán 3 69
Luyện tập: Tính diện tích hình chữ nhật
3.4 Đo lường và thu thập dữ liệu
Bài kiểm tra trước tác động là bài thi học kì I môn khoa học, do phòng Giáo dục TP Kon Tum ra đề thi chung cho các trường
Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra sau khi học xong các bài có nội dung “Diện tích hình chữ nhật, Diện tích hình vuông”; do hai giáo viên dạy lớp 3A1, 3A2 và nhóm 3 tham gia thiết kế (xem phần phụ lục) Bài kiểm tra sau tác động gồm có 7 câu hỏi trong đó có 4 câu hỏi trắc nghiệm dạng nhiều lựa chọn, chọn đáp án đúng và 3 câu hỏi tự luận
* Tiến hành kiểm tra và chấm bài:
Sau khi thực hiện dạy xong các bài học trên, nhóm 3 tiến hành kiểm tra một tiết (nội dung kiểm tra ở phần phụ lục)
Sau đó nhóm 3 cùng hai giáo viên tiến hành chấm bài theo đáp án đã xây dựng
IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ
Bảng 5: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Trang 12Như trên đã chứng minh rằng kết quả 2 nhóm trước tác động là tương đương.
Sau tác động:
- Giá trị Mốt của nhóm đối chứng là 7, nhóm thực nghiệm là 8, như vậy giá trị điểm có tần suất xuất hiện nhiều nhất trong bài kiểm tra STĐ của nhóm thực nghiệm là điểm 8 cao hơn hẳn nhóm đối chứng là điểm 7
- Giá trị Trung vị : điểm nằm ở vị trí giữa trong tập hợp điểm số xếp theo thứ tự của bài kiểm tra STĐ nhóm thực nghiệm (8) lớn hơn nhóm đối chứng(7)
- Trung bình điểm số bài kiểm tra STĐ của nhóm thực nghiệm (8,07) cao hơn nhóm đối chứng (7,21)
- Kiểm chứng chênh lệch ĐTB bằng T-Test cho kết quả P = 0,04<0,05, điều này cho thấy: sự chênh lệch giữa ĐTB nhóm thực nghiệm và nhóm đối
chứng có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả ĐTB nhóm thực nghiệm cao hơn
ĐTB nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do tác động
- Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0,72, cho thấy tác động có ảnh hưởng ở mức trung bình
Giả thiết của đề tài: “Đưa ứng dụng CNTT vào dạy môn Toán 3 sẽ nâng cao kết quả học tập cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Phan Chu Trinh” đã được kiểm chứng
Trang 13Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động
và sau tác động của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
V BÀN LUẬN:
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là điểm trung bình = 8,07, kết quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là điểm trung bình = 6,73 Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 0,88; điều đó cho thấy điểm trung bình của hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt
rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,72 Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn
Phép kiểm chứng T-Test điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động của hai lớp
là p = 0.04<0.05 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động, nghiêng về nhóm thực nghiệm
* Bài học kinh nghiệm: Qua nghiên cứu đề tài, nhóm 3 nhận thấy để việc nâng
cao kết quả học tập môn Toán 3 trường TH Phan Chu Trinh – TP Kon Tum bằng việc áp dụng phần mềm PowerPoint vào dạy học nhóm bài toán tính diện tích môn Toán 3 có chất lượng và hiệu quả cần chú ý một số vấn đề sau:
Đối với giáo viên: cần phải có kiến thức, kĩ năng nhất định, có kế hoạch
cụ thể, chu đáo khi áp dụng phần mềm PowerPoint vào dạy học nhóm bài toán tính diện tích môn Toán vào việc dạy học, hướng dẫn cho các em cách làm việc phải thật kĩ càng để tránh trường hợp học sinh còn lúng túng, làm lan man không
đi vào nội dung bài học Ngoài ra, giáo viên cần phải trau dồi kĩ năng khai thác
và sử dụng các nguồn thông tin trên mạng Internet và kĩ năng soạn giáo án trên phần mềm PowerPoint, biết tổ chức kế hoạch bài học trên lớp một cách khoa học, hợp lí nhằm kích thích tư duy, sáng tạo, tạo sự hứng thú, niềm vui trong học tập của học sinh Để đạt được một tiết dạy có chất lượng, giáo viên phải mất nhiều công sức, trí tuệ và thời gian nhưng sẽ mang lại nhiều tác dụng, ý nghĩa và niềm vui trong dạy học cho cả thầy và trò
Trang 14Đối với nhà trường và mỗi GV: cần chuẩn bị thật chu đáo về cơ sở vật
chất, phương tiện và xử lí kĩ thuật máy vi tính, máy chiếu Projector, âm thanh hoặc tivi (màn hình rộng) phục vụ cho việc dạy học bằng phần mềm PowerPoint
Đối với SV ngành sư phạm: cần chú trọng hơn trong học tập và nghiên
cứu học phần PP NCKHSPƯD ở chuyên ngành của mình, đặc biệt là áp dụng phần mềm PowerPoint trong dạy học một số nội dung cụ thể Đây là một trong những năng lực rất quan trọng và cần thiết của người giáo viên nói chung và giáo viên tiểu học nói riêng hiện nay và trong tương lai
VI KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ:
* Kết luận:
Việc ứng dụng phần mềm Power point vào giảng dạy nội dung Toán 3
“Diện tích hình chữ nhật, Diện tích hình vuông ” ở trường Tiểu học Phan Chu Trinh thay thế cho các tranh ảnh tĩnh có trong SGK đã nâng cao kết quả học tập của học sinh
* Khuyến nghị: Đối với các cấp lãnh đạo: Cần quan tâm về cơ sở vật chất
như trang thiết bị máy tính, máy chiếu Projector hoặc màn hình ti vi màn hình rộng có bộ kết nối cho trường Mở lớp bồi dưỡng ứng dụng CNTT, khuyến khích và động viên giáo viên áp dụng CNTT vào dạy học
Đối với giáo viên: Không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để hiểu biết về CNTT, biết khai thác thông tin trên mạng Internet, có kĩ năng sử dụng thành thạo các trang thiết bị dạy học hiện đại
Với kết quả của đề tài này, nhóm 3 K18-GDTH mong rằng các bạn đồng nghiệp quan tâm, chia sẻ và đặc biệt là đối với giáo viên cấp Tiểu học có thể ứng dụng đề tài này vào việc dạy học môn Toán để tạo hứng thú, niềm say mê và nâng cao kết quả học tập cho học sinh Đồng thời tiết kiệm được rất nhiều thời gian, giảm được nhiều áp lực trong công việc
Trang 15VII.TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Giáo trình Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, NXB GD
- Toán 3 NXB GD, 2006
- Phần mềm Macromedia Flash 8; Ulead VideoStudio 11
- Mạng Internet: http://Flash.vionet.vn; thuvientailieu.bachkim.com;
thuvienbaigiangdientu.bachkim.com; giaovien.net;
Trang 16PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI
Đề kiểm tra trước tác động
PHÒNG GD&ĐT TP KON TUM
TRƯỜNG TH PHAN CHU TRINH
ĐỀ KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG HỌC KÌ I
MÔN: TOÁN 3 Thời gian: 40 phút
Bài 1:(2 điểm)Khoanh vào chữ cái đặt trước câu trả lời đúng:
a Chữ số 9 trong số 893 có giá trị là:
A 900 B 90 C 93 D 9
b Bố 32 tuổi, con 8 tuổi Vậy tuổi con bằng một phần mấy tuổi bố?
A 1/4 B 1/5 C 1/6 D 1/8
c Một hình chữ nhật có chiều dài 5cm, chiều rộng 4cm Chu vi hình chữ
nhật đó là:
A 8cm B 18cm C 9cm D 10cm
d 9 gấp lên 7 lần rồi bớt đi 35 thì được:
A 25 B 26 C 27 D 28
Bài 2:(3 điểm) Đặt tính rồi tính:
a 573 + 295 b 638 – 147 c 246 x 2 d 603 : 9 ………
………
………
………
…………