Thực tế các nước đã và đang phát triển đều cho thấy, giáo dục tiểu học là một bộ phận quan trọng trong nền giáo dục quốc dân, làm nền tảng cho sự phát triển giáo dục của đất nước. Giáo dục tiểu học là bậc học nền móng, có vai trò và vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông. Luật Giáo dục ban hành năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009) đã xác định: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học THCS”. Trong bậc giáo dục tiểu học, lớp 1 có vai trò đặc biệt quan trọng, nếu coi bậc tiểu học là nền, lớp 1 là móng thì bậc giáo dục phổ thông là một tòa cao ốc, nền móng có tốt thì tòa cao ốc xây dựng nên mới vững chắc. Đây là hình ảnh trực quan về vị trí và tầm quan trọng của giáo dục tiểu học trong nền giáo dục quốc dân. Từ mẫu giáo lên lớp 1 là một bước ngoặt có vị trí vô cùng quan trọng đồi với mỗi học sinh. Nếu như ở mẫu giáo, hoạt động vui chơi là hoạt đọng chủ đạo thì vào lớp 1 hoạt động HỌC TẬP là hoạt động chủ đạo. Quá trình này sẽ gây cho trẻ rất nhiều khó khăn. Ví dụ: khó khăn về mặt sinh học, khó khăn về các mặt xã hội, khó khăn về sự thay đổi môi trường sống... và trong đó có cả những khó khăn về tâm lí. Hoạt động chủ đạo là yếu tố quyết định những nét đặc trưng tâm lý của lứa tuổi học sinh tiểu học. Nếu hoạt động này diễn ra tốt đẹp thì sự phát triển tâm lý của trẻ sẽ đúng hướng và ngược lại. Vì vậy, nếu chúng ta hiểu được những khó khăn tâm lí của trẻ và có nhũng biện pháp khắc phục thì trẻ sẽ thích nghi với hoạt động học tập tốt hơn, tiếp thu sự giáo dục một cách dễ dàng nhất. Từ đó giúp trẻ đạt kết quả cao trong học tập cũng như trong sự phát triển tâm lí và hình thành nhân cách. Trên thực tế, mỗi năm nước ta có hơn một triệu học sinh bắt đầu vào lớp 1 và rất nhiều phụ huynh (nhất là ở những thành phố lớn) đã cho con đi luyện chữ, luyện toán trước khi vào lớp 1, gây áp lực học tập cho con, khiến cho trẻ mất hứng thú đi học. Như vậy, áp lực từ phía phụ huynh và nhà trường tới học sinh lớp 1 trên thực tế vẫn đang diễn ra.
Trang 1TÌM HIỀU KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH ĐẦU LỚP 1
TRƯỜNG TH NGÔ QUYỀN – TP KON TUM
TỪ ĐÓ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÙ HỢP
Giáo viên hướng dẫn: Th.s Võ Đại Nam Anh
Sinh viên thực hiện: Ngô Thị Ngọc Bích
Nguyễn Thị Ngọc Ánh B Lớp: K18 GDTH
Kon Tum, tháng 5 năm 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài “Tìm hiểu khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp 1 trường TH Ngô Quyền (TP Kon Tum) từ đó đề xuất phương pháp dạy học phù
hợp” chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Chủ nhiệm Khoa Tiểu học – Mầm non trường CĐSP Kon Tum
Quý thầy cô cùng toàn thể các bạn sinh viên lớp K18 GDTH trường CĐSP Kon Tum
Ban quản lý thư viện trường CĐSP Kon Tum
Đặc biệt, chúng tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Võ Đại Nam Anh giảng viên phụ trách học phần “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm” đã tận tình giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành
đề tài này
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình ngiên cứu riêng của chúng tôi, không sao chép của tác giả khác và chưa từng công bố trong bất kỳ tác phẩm nào
Họ và tên tác giả
Ngô Thị Ngọc Bích Nguyễn Thị Ngọc Ánh B
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 3
CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
A MỞ ĐẦU 5
I Lý do chọn đề tài 5
II Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
VI Phương pháp nghiên cứu 6
V Cấu trúc đề tài 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: 7
TÌM HIỂU CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ 7
CỦA HỌC SINH ĐẦU LỚP 1 7
1.1 KHÁI NIỆM KHÓ KHĂN TÂM LÝ 7
1.2 KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH ĐẦU LỚP 1 7
1.2.1 Quan niệm về học sinh đầu lớp 1 8
1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh đầu lớp 1 8
1.2.3 Đặc diểm hoạt động học tập của học sinh đầu lớp 1 9
1.2.4.Đặc điểm sinh hoạt trong nhà trường của HS đầu lớp 1 11
1.3 MỘT SỐ BIỂU HIỆN VÀ NHÂN TỐ DẪN ĐẾN KHÓ KHĂN TÂM LÝ ĐẦU LỚP 1 11
1.3.1 Một số biểu hiện dẫn đến khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp 1 11
1.3.2 Một số nhân tố dẫn đến KKTL của học sinh đầu lớp 1 15
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 18
Chương 2 19
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÙ HỢP 19
2.1 Biện pháp tác động từ phía GV 19
2.2 Biện pháp tác động từ phía gia đình 21
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 23
C KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 24
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 5CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6A MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Thực tế các nước đã và đang phát triển đều cho thấy, giáo dục tiểu học là một
bộ phận quan trọng trong nền giáo dục quốc dân, làm nền tảng cho sự phát triển giáo
dục của đất nước Giáo dục tiểu học là bậc học nền móng, có vai trò và vị trí quan
trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông Luật Giáo dục ban hành năm 2005 (sửa đổi
bổ sung năm 2009) đã xác định: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thànhnhững cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học THCS”
Trong bậc giáo dục tiểu học, lớp 1 có vai trò đặc biệt quan trọng, nếu coi bậctiểu học là nền, lớp 1 là móng thì bậc giáo dục phổ thông là một tòa cao ốc, nền móng
có tốt thì tòa cao ốc xây dựng nên mới vững chắc Đây là hình ảnh trực quan về vị trí
và tầm quan trọng của giáo dục tiểu học trong nền giáo dục quốc dân
Từ mẫu giáo lên lớp 1 là một bước ngoặt có vị trí vô cùng quan trọng đồi vớimỗi học sinh Nếu như ở mẫu giáo, hoạt động vui chơi là hoạt đọng chủ đạo thì vàolớp 1 hoạt động HỌC TẬP là hoạt động chủ đạo Quá trình này sẽ gây cho trẻ rấtnhiều khó khăn
Ví dụ: khó khăn về mặt sinh học, khó khăn về các mặt xã hội, khó khăn về sựthay đổi môi trường sống và trong đó có cả những khó khăn về tâm lí
Hoạt động chủ đạo là yếu tố quyết định những nét đặc trưng tâm lý của lứa tuổihọc sinh tiểu học Nếu hoạt động này diễn ra tốt đẹp thì sự phát triển tâm lý của trẻ sẽđúng hướng và ngược lại Vì vậy, nếu chúng ta hiểu được những khó khăn tâm lí củatrẻ và có nhũng biện pháp khắc phục thì trẻ sẽ thích nghi với hoạt động học tập tốthơn, tiếp thu sự giáo dục một cách dễ dàng nhất Từ đó giúp trẻ đạt kết quả cao tronghọc tập cũng như trong sự phát triển tâm lí và hình thành nhân cách
Trên thực tế, mỗi năm nước ta có hơn một triệu học sinh bắt đầu vào lớp 1 vàrất nhiều phụ huynh (nhất là ở những thành phố lớn) đã cho con đi luyện chữ, luyệntoán trước khi vào lớp 1, gây áp lực học tập cho con, khiến cho trẻ mất hứng thú đihọc Như vậy, áp lực từ phía phụ huynh và nhà trường tới học sinh lớp 1 trên thực tếvẫn đang diễn ra
Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu khó khăn tâm lý của học sinh lớp 1trường tiểu học Ngô Quyền (TP Kon Tum) từ đó đề xuất phương pháp dạy học phùhợp” làm đề tài nghiên cứu khoa học cho học phần “Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học
sư phạm” trong quá trình học tập môn học này trong nhà trường
II Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng: những khó khăn tâm lí của học sinh khối lớp 1
- Phạm vi nghiên cứu: Học sinh khối lớp 1 trường tiểu học Ngô Quyền (TPKon Tum)
Trang 7III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích: Làm rõ những khó khăn tâm lí của học sinh lớp 1 và từ đó đề xuấtphương pháp dạy học phù hợp
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, các đặc điểm tâm lý về những khó khăn khi đi họccủa học sinh đầu lớp 1
- Đề xuất một số phương pháp giảng dạy phù hợp nhằm nâng cao chất lượnggiáo dục ở đối tượng này
VI Phương pháp nghiên cứu.
Vận dụng, phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để đạt kết quả tốt nhất như:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp nghiên cứu bản chất các hiện tượng tâm lý của học sinh lớp 1
- Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý đó
- Phương pháp vai trò, chức năng của tâm lý đối với hoạt động của con người
Chương 1: Tìm hiểu cơ sở lý luận về khó khăn tâm lý của học sinh lớp 1
1.1: Khái niệm khó khăn tâm lý
1.2: Khó khăn tâm lý của học sinh lớp 1
1.3: Nguyên nhân và biểu hiện dẫn đến khó khăn tâm lý của học sinh lớp 1 Chương 2: Một số phương pháp dạy học phù hợp
2.1: Biện pháp tác động từ phía giáo viên
2.2: Biện pháp tác động từ phía gia đình
Trang 8NỘI DUNG
Chương 1:
TÌM HIỂU CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ
CỦA HỌC SINH ĐẦU LỚP 1
1.1 KHÁI NIỆM KHÓ KHĂN TÂM LÝ
Một số từ điển tiếng Việt hiện nay cho rằng, khó khăn có nghĩa là có nhiều trởngại, thiếu thốn, đòi hỏi nhiều nỗ lực (từ điển tiếng Việt/201)
Như vậy, có thể hiểu “khó khăn là những trở ngại cản trở hoạt động, đòi hỏi conngười phải nỗ lực vượt qua để không đi chệch hướng mục tiêu đã đề ra”
Trong cuộc sống hàng ngày, khái niệm “khó khăn” thường sử dụng với ý nghĩanêu trên, vậy nội hàm của khái niệm “khó khăn” có liên quan gì tới khái niệm “khókhăn tâm lý” không?
Trong tâm lý học, một số tác giả dùng thuật ngữ “hàng rào tâm lý, cản trở tâm
lý, ngăn cản tâm lý ” cùng để chỉ khó khăn tâm lý
Theo Từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên, “hàng rào tâm lý được hiểu làtrạng thái tâm lý ở tính thụ động quá mức của chủ thể, gây cản trở trong việc thực hiênhành động
Theo PGS.TS Trần Trọng Thủy cho rằng, “KKTL” (khó khăn tâm lý) là mộtkhái niệm rộng chỉ tất cả các nhân tố tâm lý gây khó khăn cho việc thực hiện một hànhđộng nào đó Theo ông, khái niệm này rộng hơn khái niệm “rào chắn tâm lý” vốn chỉ
là một loại của khó khăn tâm lý mà thôi Đó là những trạng thái tâm lý, được thể hiện
là sự thụ động không phù hợp, gây trở ngại cho việc thực hiện một hành động nào đó.Còn “khó khăn tâm lý” không chỉ là những trạng thái tâm lý, mà còn có thể là nhữngquá trình hoặc thuộc tính tâm lý nữa, nó không chỉ tăng cường các trải nghiệm đó vàcản trở trực tiếp hành động
Như vậy, khó khăn tâm lý là sự thiếu hụt phẩm chất tâm lý cần thiết cho sự hoạt động của cá nhân gây cản trở cho hoạt động của cá nhân và làm cho hoạt động kém hiệu quả.
Sự “thiếu hụt” phẩm chất tâm lý của cá nhân thể hiện ở chỗ cá nhân đã có nhữngphẩm chất tâm lý cần thiết cho hoạt động nhưng những phẩm chất tâm lý này chưa phùhợp hoặc mức độ của các phẩm chất tâm lý, chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạtđộng Do đó, cá nhân gặp khó khăn khi tiến hành hành động
1.2 KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH ĐẦU LỚP 1.
Để tìm hiểu rõ hơn khái niệm khó khăn tâm lý của HS (học sinh) đầu lớp 1,trước hết phải xem xét khái niệm HS đầu lớp 1 và một số đặc điểm tâm sinh lý, đặcđiểm hoạt động học tập và đặc điểm sinh hoạt trong nhà trường của các em
Trang 91.2.1 Quan niệm về học sinh đầu lớp 1.
Trong luận án tiến sĩ “hình thành kỹ năng đọc và viết tiếng Việt cho học sinhđầu lớp 1” của tác giả Dương Thị Diệu Hoa, tác giả có nhấn mạnh “có thể hình thành
kỹ năng đọc, viết tiếng Việt cho học sinh đầu lớp 1 trong khoảng thời gian 12 tuần ( 1) thực học (tính từ ngày khai giảng)” Cụ thể, ở nội dung của chương trình sau 12 bài
+-học tương ứng với 12 tuần có bài kiểm tra chất lượng +-học phần I Nhấn mạnh hơn
nữa đến độ tuổi của HS đầu lớp 1, ở phần Kết quả thực nghiệm thăm dò – phần Mụcđích, tác giả Dương Thị Diệu Hoa viết: “để đảm bảo độ “an toàn” của việc nghiên cứu,chúng tôi kéo dài thời hạn của độ tuổi đầu lớp 1 Trong đó chia làm 2 thời kỳ: Nhữngtháng trước tuổi đi học (cuối lớp mẫu giáo lớn trong thời gian hè chuẩn bị vào lớp 1)
và thời gian đầu lớp 1 (khoảng 3 tháng đầu của năm học tính từ ngày khai giảng)”[28ª, trang 100]
Như vậy qua luận án của tác giả Dương Thị Diệu Hoa, tác giả quan niệm về họcsinh lớp 1 là khoảng thời gian tính từ 3 tháng tính từ ngày khai giảng cho đến khi kiểmtra chất lượng học phần I Ở luận án này, trên cơ sở tham khảo quan niệm của tác giả
Dương Thị Diệu Hoa và căn cứ vào Hướng dẫn thực hiện chương trình các môn học lớp 1 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành [3, 5-26] để quan niệm về học sinh đầu lớp
1 Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chương trình học các môn của HS lớp 1diễn ra trong 35 tuần trong đó có 4 lần kiểm tra định kỳ:
Lần 1 vào tuần 10: Kiểm tra giữa kỳ I
Lần 2 vào tuần 18: Kiểm tra học kỳ I
Lần 3 vào tuần 26: Kiểm tra giữa học kỳ II
Lần 4 vào tuần 35: Kiểm tra học kỳ II
Căn cứ vào phân phối chương trình như trên, khoảng thời gian 3 tháng đầu tính từngày khai giảng (5/9 đến khoảng 5/11) là mốc đầu lớp 1
1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh đầu lớp 1.
Các nhà tâm sinh lý cho rằng, thời kỳ trẻ 6 tuổi đến trường là thời kỳ thuận lợinhất cho việc phát triển trí tuệ Ở giai đoạn này, trẻ đã có những tiền đề cần thiết: sựchín muồi đến trường về các mặt tâm sinh lý, nhận thức, trí tuệ, ngôn ngữ và tâmthế, để có thể thích nghi bước đầu tiên với điều kiện học tập ở lớp 1
Về mặt chú ý của trẻ 6 tuổi chưa đạt đến trình độ bền vững và thường không có
chủ định, dễ bị phân tán Khối lượng chú ý còn hạn chế, trẻ chỉ có thể bao quát được1-2 đối tượng cùng một lúc, trạng thái chú ý này biểu hiện rất rõ ở bề ngoài của trẻqua tư thế, cử chỉ,
Về ghi nhớ trẻ 6 tuổi ghi nhớ máy móc rất tốt Ghi nhớ có chủ định của trẻ đã
phát triển nhưng ghi nhớ máy móc vẫn chiếm ưu thế
Cùng với sự phát triển trí nhớ, trí tưởng tượng của trẻ 6 tuổi cũng phát triển
mạnh và có sắc thái mới so với trí tưởng tượng của trẻ em 4-5 tuổi Trên cơ sở vốnkinh nghiệm tích lũy được, trí tưởng tượng của trẻ 6 tuổi trở nên hiện thực hơn, cótính sáng tạo hơn
Trang 10Tư duy của trẻ 6 tuổi mang nặng màu sắc cảm tính, kinh nghiệm chủ nghĩa mà
đặc trương của nó là kiểu tư duy chủ quan – hình ảnh tương ứng với cuộc sống vàhoạt động của trẻ 5-6 tuổi Đó là kiểu tư duy hình thành trong cuộc sống, trong hoạtđộng vui chơi của các em, tạo tiền đề cho việc hình thành tư duy kiểu mới – tu duytrìu tượng
Ngôn ngữ của trẻ 6 tuổi đã phát triển khá tốt, các em biết sử dụng đúng những
câu đơn giản để giao tiếp với bạn và người lớn Điều cần chú ý là ngôn ngữ tự kỉ củatrẻ em 6 tuổi, đó là ngôn ngữ hướng vào chính bản thân của đứa trẻ, ít phục vụ choviệc giao tiếp, nhưng là phương tiện tư duy của các trẻ em
Về phương diện tình cảm HS lớp 1 vẫn phản ứng mãnh liệt đối với những hiện
tượng riêng lẻ làm trẻ bực mình Tuy nhiên, trẻ bắt đầu kiềm chế cảm xúc của mìnhhơn, nhưng kiềm chế thái độ không bằng lòng, sự bực tức, tính tỵ nạnh khi ở trongtập thể lớp HS lớp 1 còn “là người theo chủ nghĩa cực đoan nhất” sở phát triểnnhững chức năng tâm lý và trí tuệ, nhân cách của trẻ cũng được phát triển Trẻ em 6tuổi có sự phát triển bình thường về mặt sinh lý và tâm lý đều có thể đến trường vàđáp ứng yêu cầu của hoạt động học tập cũng như sinh hoạt trong nhà trường tiểuhọc
1.2.3 Đặc diểm hoạt động học tập của học sinh đầu lớp 1
Sự hình thành những đặc điểm, cấu trúc và hoạt động học tập ở học sinh tiểuhọc là biệt so với trẻ mẫu giáo
Trước tuổi học, sự lĩnh hội tri thức, kỹ năng và kỹ xảo của trẻ em diễn ra dướicác hình thức: giao tiếp với người lớn, trực tiếp quan hệ với đồ vật thông qua các tròchơi, dưới các hình thức này, sự lĩnh hội biểu hiện như là những sản phẩm phụ củacác hoạt động khác, với tư cách là những điều kiện, phương tiện cần có của chúng Vậy tình huống học tập là gì? Tình huống học tập là những hoàn cảnh mà giáoviên đặt ra đòi hỏi học sinh đứng trước nhũng hoàn cảnh đó cần phải tìm ra phươngthúc chung để giải quyết Thông qua việc giải quyết nó, học sinh sẽ lĩnh hội được mộtphương thức hành động mới hoặc vận dụng phương thức hành động chung đã có vàoviệc giải quyết những vấn đề cụ thể có cùng bản chất
Việc giải quyết các tình huống học tập của trẻ được tiến hành từ những hànhđộng thuộc kiể khác nhau Trong những hành động này, hành động học tập giữ vai tròchủ đạo Nhờ có hoạt động học tập mà học sinh có thể tái tạo, lĩnh hội hoặc tìm ranhững phương thức chung để giải quyết tình huống
Để hình thành hoạt động học tập của trẻ lớp 1 cần chú ý đến vấn đề sau:
- Trước hết, toàn bộ quá trình dạy học phải được xây dưng trên cơ sở làm cho trẻ cónhững biểu tượng đầy đủ về các nhân tố chủ yếu của hoạt động học tập (hành độngmẫu) và lôi cuốn các em tích cực thực hiện các hành động này Cần vạch ra những chitiết, những tiền đề của tình huống học tập và chỉ cho tre một cách rõ ràng, đầy đủ vềcác trình tự của các cử động, thao tác của mỗi hành động, ứng xử và logic của mỗihành động, đặc biệt là hành động vật chất
Trang 11- Cần có sự chỉ bảo trực tiếp, sự kiểm tra và đánh giá đúng và chi tiết hành động, ứng
xử của trẻ Dần dần hình thành ở trẻ khả năng tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnhhành vi bằng cách đối chiếu hành vi ứng xử, hành động của bản thân trẻ với hành độngmẫu của giáo viên
- Khơi dậy ở trẻ nhu cầu, hứng thú với nội dung bên trong của các môn học, biếnthái độ tích, trừu tượng đối với nhận thức nói chung thành thái độ với tùng môn học cụthể
Có thể nói rằng thông qua hoạt động học tập – hoạt động chủ đạo của học sinhlớp 1, là cơ sở cho sự phát triển tâm lý của các em Việc tuân thủ thực hiện những yêucầu của hoạt động đòi hỏi ở trẻ những cấu tạo tâm lý mới mà trẻ chưa có, đồng thờinhững cấu tạo tâm lý này lại được hình thành trong chính quá trình học tập của trẻ
Những cấu tạo tâm lý mới ở học sinh lớp 1 được hình thành trong quá trình họctập bao gồm: Những chuẩn mực và nguyên tắc hành vi, tính chủ định, bình diện bêntrong của hành động và sự phản tỉnh Nhờ có những cấu tạo tâm lý mới hình thànhtrong quá trình hoạt động học, đảm bảo cho trẻ hoạt động học tập ở lớp 1 và nhữngnăm sau này
Tóm lại, hoạt động học tập ở lớp 1 có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
- Hoạt động học trở thành hoạt động chủ đạo của trẻ học lớp 1 Trong giai đoạnphát triển tâm lý của mình, trẻ có một hoạt động thể hiện quan hệ nổi bật, chiếm hữu
ưu thế giữa các em với một đối tượng trong hiện thực Là hoạt động lần đầu tiên xuấthiện nhưng đóng vai trò quyết định sự hình thành những cấu tạo tâm lý mới cho trẻ vàtạo điều kiện cho sự phát triển trong những giai đoạn tiếp theo
Vào lớp 1, trẻ bắt đầu thực hiện “bước quá độ” vĩ đại nhất trong toàn bộ cuộcđời Nó chuyển từ hoạt động vui chơi - hoạt dộng chủ đạo trong giai đoạn trước dã lỗthời sang hoạt động chủ đạo mới – hoạt động học với đối tượng mới xuất hiện lần đầutiên trong đời Sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo này kéo theo một loạt những thay dổikhác trong cuộc sống, đặt trẻ vào một tình huống mới chưa từng gặp, dễ gây ra cuộc
“khủng hoảng” trong sự phát triển hiện tại và ảnh hưởng lâu dài với trẻ
- Hoạt động học có đối tượng (nội dung) là tri thức khoa học được phán ánhthông qua các môn học Trước tuổi học, ở gia đình và lớp mẫu giáo, trẻ lĩnh hội nhữngtri thức kinh nghiệm thông qua các trò chơi Còn với hoạt động học tập, nội dung lĩnhhội của trẻ lớp 1 là các khái niệm khoa học, phổ thông, chính xác và hiện đại được tổchức dưới hình thức các môn học Để tiến hành có hiệu quả quan hệ với đối tượng này,trẻ buộc phải có những phẩm chất, năng lực và hành vi mới mà trước đó trẻ chưa có
- Hoạt động học còn hướng vào lĩnh hội cách học Với trẻ lớp 1, hoạt động họcđược tiến hành theo một quy trình mới Để thực hiện hoạt động này có hiêu quả và đểhình thành được những phương tiện học tập, một trong những nhiệm vụ quan trọngcủa hoạt động học ở trẻ lớp 1 là phải hình thành chính hoạt động học mà bản chất làlĩnh hội được cách học, cách làm việc trí óc như một phương thức mới
Những đặc điểm cơ bản nêu trên của hoạt động học đòi hỏi trẻ phải có những thayđổi căn bản về cách thức sống, cách thức hoạt động để có thể đáp ứng được những yêu
Trang 12cầu của việc học Tuy nhiên, không phải trẻ lớp 1 nào cũng có thể đáp ứng đượcnhững yêu cầu của hoạt động học tập ngay từ những ngày đầu đi học, chính vì vậy đã
có nhứng KKTL trong hoạt động học tập ở trẻ lớp 1
1.2.4.Đặc điểm sinh hoạt trong nhà trường của HS đầu lớp 1
Đi học lớp 1 là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ Có thể nói rằng,năm học lớp 1 là năm diễn ra những biến đổi quan trọng trong các điều kiện sống vàhoạt động của trẻ, và từ đó kéo theo sự thay đổi tâm lý của trẻ
Ở giai đoạn lứa tuổi mẫu giáo, hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo, thì vào lớp
1, việc học tập và tích lũy tri thức đã trở thành hoạt động chủ đạo của trẻ Chính trongquá trình chuyển hoạt động chủ đạo từ vui chơi sang học tập khiến trẻ gặp phải một sốKKTL nhất định Bởi lẽ, bước vào lớp 1, học tập trở thành bổn phận hàng đầu và quantrọng nhất của trẻ Đến trường, HS bước vào các quan hệ mới và phức tạp hơn đối vớicác em Đó là mối quan hệ với thầy cô và bạn bè cùng tuổi Trong quan hệ với giáoviên (GV) của trẻ lớp 1 khác với quan hệ với GV ở thời mẫu giáo Nếu như ở giaiđoạn mẫu giáo, trẻ dược cô cưng chiều hơn, dỗ dành nhiều hơn thì ở giai đoạn này,việc nhà trường và GV đề ra một loạt yêu cầu mới (nội quy, nề nếp sinh hoạt học tập)khá nghiêm túc bắt buộc trẻ phải tuân thủ để cho việc học tập tiến hành một cách bìnhthường, và điều này ít nhiều làm xáo trộn tâm lý của trẻ Ngoài ra, đây còn là giai đoạnchuyển tiếp của trẻ khi kết hợp những nét tâm lý đã hình thành ở tuổi mẫu giáo vớinhững phẩm chất của một HS đang được hình thành Quá trình chuyển đổi này đòi hỏihọc sinh lớp 1 phải có những cấu tạo tâm lý mới để giúp trẻ thích nghi với quá trìnhhọc tập ở nhà trường
Như vậy, trong giai đoạn đầu lớp 1, trẻ phải tuân thủ những yêu cầu của nhà trường,hình thành những hành vi, hứng thú học tập Tuy nhiên, trẻ không có ngay những điều
đó Để hình thành được những hứng thú học tập trẻ phải trải qua những khó khăn nhấtđịnh ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào mỗi trẻ
1.3 MỘT SỐ BIỂU HIỆN VÀ NHÂN TỐ DẪN ĐẾN KHÓ KHĂN TÂM LÝ ĐẦU LỚP 1.
1.3.1 Một số biểu hiện dẫn đến khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp 1
1.3.1.1 KKTL trong hành vi thực hiện nội quy học tập
Nội quy học tập là những quy định do nhà trường đề ra áp dụng trong nhà trường,đòi hỏi mọi HS phải tuân thủ và nghiêm chỉnh thực hiện
Có người cho rằng hành vi là tất cả các phản ứng của con người (vô thức, ý thức,máy móc) Trong khi đó lại có người cho rằng, hành vi là những phản ứng có ý thức,được điều khiển bởi ý thức Một số khác lại cho rằng hành vi là cách ứng xử của mộtngười trong một hoàn cảnh cụ thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉnhất định
Như vậy, hành vi thực hiện nội quy học tập thể hiện cách ứng xử của HS đối với những quy định do nhà trường đề ra.
Trang 13KKTL trong hành vi thực hiện nội quy học tập được biểu hiện qua 9 mặt sau:
1 Không tập trung (quay ngang, quay ngửa, nhìn ra ngoài )
2 Ngủ gật trong giờ học
3 Nói chuyện riêng
4 Làm việc riêng trong giờ học
Nề nếp học tập là những quy đinh thói quen chung để duy trì sự ổn định, trật tự tronghọc tập và làm cho quá trình học tập của học sinh thu được kết quả tốt
Như vậy, hành vi thực hiện nề nếp sinh hoạt và học tập thể hiện cách ứng xử của HSđối với những quy định và thói quen chung trong sinh hoạt và học tập tại trường.Căn cứ vào thực hiện nề nếp sinh hoạt và học tập trong nhà trường tiểu học, KKTLtrong hành vi thực hiện nề nếp sinh hoạt và học tập được nghiên cứu và thể hiện vào 8biểu hiện sau:
1 Quên làm bài tập về nhà
2 Quên học bài trước khi đến lớp
3 Quên chép bài trong giờ học
4 Quên mang sách vở, đồ dùng học tập
5 Mang nhầm sách vở, đồ dừng học tập
6 Nhìn bài của bạn
7 Nhắc bài cho bạn khi không được phép của cô giáo
8 Không giơ tay xin phép cô khi phát biểu ý kiến.
1.3.1.3 KKTL trong hành động đọc, viết, làm toán
Đối với HS đầu lớp 1, nội dung học tập dành cho HS lớp 1 không nhiều nhưngkhó thành công Nội dung học tập dành cho lớp 1 chỉ cần đủ để tiếp cận với việc họcnhư học nghe, học nói, học đọc, học viết; học làm tính cộng, làm tính trừ với những sốnhỏ trong phạm vi 10, 20; học về một số phép ứng xử trong mối quan hệ của trẻ nhỏ,