1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu cấu trúc kiến tạo và tiềm năng dầu khớ tầng oligoxen mỏ bạch hổ

59 592 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 328 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cấu trúc khoá luận ngoài phần mở đầu và kết luận được chia làm hai phần:Phần I Địa chất khu vực: Bể Cửu Long ChươngI: Đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu ChươngII: Lịch sử nghiên

Trang 1

Mở đầu

Khóa luận tốt nghiệp nằm trong chương trình đào tạo bắt buộc của Khoa Địa Chất Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên-Đai Học Quốc Gia Hà Nội Với chương trình đào tạo của bộ môn địa chất dầu khí, đề tài khóa luận này chọn hướng nghiên cứu trong lĩnh vực dầu khí

Công nghiệp dầu khí nước ta là một nghành công nghiệp non trẻ, nhưng nó

là một ngành công nghiệp mũi nhọn, góp phần quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu Tháng 11 năm 2001 vừa qua, Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro đã khai thác tấn dầu thô thứ 100 triệu trên thềm lục địa Việt Nam Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nền công nghiệp dầu khí nước nhà cũng như trong nền kinh tế quốc dân

Trong suốt hơn 20 năm hoạt động, ngành dầu khí đã đem lại cho nền kinh tế Việt Nam một nguồn ngoại tệ lớn và là ngành công nghiệp trọng điểm được Đảng

và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm phát triển Nhiệm vụ của ngành công nghiệp dầu khí hết sức nặng nề là phải tăng cường hoạt động tìm kiếm thăm dò để gia tăng trữ lượng dầu khí 50 triệu tấn dầu thô/năm trong giai đoạn 2001-2005 Chính vì vậy, công tác thăm dò và nghiên cứu dầu khí không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn

có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn trong việc đẩy mạnh và phát triển công nghiệp dầu khí đạt hiệu quả cao

Tóm lại, cùng với sự phát triển của các ngành trong cả nước, ngành công nghiệp dầu khí đã và đang đóng góp đáng kể trong nền kinh tế quốc dân

từ vai trò thực tế của sản phẩm từ dầu khí, sự thu hút lao động, đầu tư từ nước ngoài, đến việc điều hoà kinh tế các vùng, điều hoà cán cân thương mại và làm tăng GDP của đất nước, vì vậy chúng ta thấy rõ được tầm quan trọng của ngành công nghiệp dầu khí

Nội dung-mục đích ý nghĩa thực tiễn của khoá luận

Trang 2

Cấu trúc khoá luận ngoài phần mở đầu và kết luận được chia làm hai phần:

Phần I Địa chất khu vực: Bể Cửu Long ChươngI: Đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu ChươngII: Lịch sử nghiên cứu địa chất khu vực

Chương III:Đặc điểm địa chất khu vực

Phần II Chuyên đề Cấu trúc-kiến tạo và tiềm năng dầu khí tầng Oligoxen mỏ

Bạch Hổ Chương IV: Hệ các phương pháp nghiên cứu cơ bản

Chương V: Đặc điểm cấu trúc-kiến tạo và tiềm năng dầu khí tầng Oligoxen mỏ Bạch Hổ trên cơ sở phân tích bản đồ đẳng dày sử dụng các phần mềm chuyên dụng GIS và CPS-3

Mục đích của khoá luận nhằm nghiên cứu cấu trúc kiến tạo trên cơ sở

đó đánh giá tiềm năng dầu khí và xây dựng các tiền đề định hướng cho việc tìm kiếm thăm dò và khai thác sản phẩm có hiệu quả.

Việc khai thác nguồn dầu khí thiên nhiên nhờ có phương pháp nghiên cứu hợp lý sẽ là mục đích và thành công của ban lãnh đạo cùng cán bộ công nhân viên ngành dầu khí Công việc khai thác luôn đòi hỏi tính hiệu quả, nên việc nắm vững về cấu trúc kiến tạo của các vùng mỏ là cần thiết Song việc

Trang 3

nghiên cứu về cấu trúc kiến tạo mỏ cần được kết hợp với nghiên cứu tướng đá

cổ địa lý, tiến hoá môi trường trầm tích trên cơ sở đó đánh giá tiềm năng dầu khí thì sẽ đưa ra đuợc phương pháp nghiên cứu hợp lý đảm bảo cho công việc khai thác có hiệu quả cao Khoá luận chưa giải quyết được vấn đề nêu trên do thời gian thực tập và nguồn thu thập tài liệu còn hạn chế, nhưng cũng đã nêu được một số khía cạnh.

Trang 4

1090 kinh độ Đông Phía Tây được bao quanh bởi đường bờ từ Cà Ná-Phan Thiết, vũng Tàu đến Bạc Liêu, Cà Mau Phía Nam và Đông Nam có một đới nâng ngầm Côn Sơn chạy dọc theo các đảo nhô cao hiện đại như Hòn Khoai, Hòn Trứng, Côn Sơn ngăn cách bể Cửu Long với Bể Nam Côn Sơn Phíâ Bắc giáp bể Phú Khánh, phía Tây Nam là bể Malay-Thổ chu.

II Điều kiện địa lý tự nhiên

1 Địa hình địa mạo

Phần viết này sinh viên dựa vào tài liệu của Tổng Công Ty Dầu Khí và tham khảo một số khóa luận tốt nghiệp của các năm trước

Khu vực nghiên cứu thuộc thềm lục địa phía Nam Việt Nam, kéo dài từ bờ biển Phan Thiết đến Hà Tiên, bao gồm một phần của biển Đông và một phần của Vịnh Thái Lan Ở Đông Bắc và phía Đông đảo Phú Quý thì thềm lục địa đặc trưng bởi độ dốc lớn, chiều rộng hẹp, ở phía Tây thềm lục địa có nơi chiều rộng đạt hơn

100 km trên đường đẳng sâu nước 20 m Đặc Biệt ở đới cắt Tuy Hoà, Đông Nam có đới nâng Côn Sơn, phía Tây Nam chặn bởi đới nâng Korat Natuna Trên nền thềm lục địa bằng phẳng, thỉnh thoảng xuất hiện một số đảo nhỏ tạo ra sự phân cắt địa hình mạnh Thềm lục địa Nam Việt Nam hội tụ nhiều con sông, lớn nhất là sông Cửu Long có lưu lượng nước 228.104 m3/phút, cho lượng phù sa 0.25 kg/m3 Mỏ

Trang 5

Bạch Hổ là mỏ dầu lớn đầu tiên được phát hiện và đưa vào khai thác từ năm 1986 đến nay, nằm trong kiểu địa hình này.

Vùng trung tâm thềm lục địa Việt Nam có đáy biển đa dạng nhất, được ngăn cách ở phía Tây Nam bởi đảo Côn Sơn và Đông Bắc bởi đảo Phú Quý, còn phía Đông Nam là vùng chuyển tiếp và vùng thềm ngoài Vùng cửa sông giáp biển, địa hình đáy bồn trũng bao gồm các rãnh sông ngầm, bãi cát ngầm, doi cát và các đảo rải rác Vùng cửa sông giáp biển phía Tây Nam phát triển nhiều khối nhô của đáy biển Còn phía Tây Bắc cửa sông giáp biển bao gồm nhiều rãnh ngầm kéo dài và các đập chắn ngầm, các rãnh lòng sông ngầm thường không được thể hiện do đã bị tác động của thuỷ triều san bằng Trong khi đó các dòng xoáy tiếp tục xoáy sâu tạo nên những lõm không tách biệt kế tiếp nhau tạo thành những lõm hẹp kéo dài dạng thung lũng Ở phía Tây Nam bể Cửu Long, từ độ sâu 40 m đến 600 m đã phát hiện thấy đảo san hô ngầm có chiều dài tới 13 km, rộng 8 km nhô cao cách đáy biển một vài chục mét Phần lớn ám tiêu san hô thể hiện trên địa hình đáy biển tập trung ở phần Đông Nam của cấu tạo đới Trung Tâm Bạch Hổ và Rồng (hình 1.1)

2 Khí hậu

Khí hậu đặc trưng cho vùng xích đạo chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) và mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 9) Nhiệt độ trung bình trên bề mặt vào mùa mưa là 270-280C, mùa khô là 290-300C Tại độ sâu 20 m nước, vào mùa mưa nhiệt độ trung bình là 260-270C và mùa khô là 280-290C Nhìn chung khí hậu khô ráo, độ ẩm trung bình 60%

Bể Cửu Long có hai chế độ gió mùa Chế độ gió mùa Đông đặc trưng bởi gió mùa Đông Bắc từ đầu tháng 11 năm trước đến cuối tháng 3 năm sau với ba hướng gió chính: Đông Bắc, Đông và Đông Đông Bắc Vào tháng 12 và tháng 1, hướng gió Đông Bắc chiếm ưu thế, còn tháng 3 thì hướng gió Đông chiếm ưu thế Đầu mùa tốc độ gió trung bình và cực đại thường nhỏ, sau đó tăng dần lên và lớn nhất vào tháng 1 và tháng 2 Gió mùa hè đặc trưng bởi gió mùa Tây Nam, kéo dài

từ cuối tháng 5 đến giữa tháng 9 với các hướng gió ưu thế là Tây Nam và Tây Tây

Trang 6

Nam Ngoài ra, còn hai thời kỳ chuyển tiếp từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 5 (chuyển

từ chế độ gió mùa Đông Bắc sang chế độ gió mùa Tây Nam) và từ tháng 9 đến đầu tháng 11 và 12 có nhiều khả năng xảy ra bão Bão thường di chuyển về hướng Tây hoặc Tây Nam Tốc độ gió mạnh nhất trong vòng bão đạt tới 50 m/s Trong 80 năm qua chỉ xẩy ra bốn cơn bão (trong đó cơn bão số 5 năm 1997 gần đây nhất)

3 Chế độ hải văn

Chế độ sóng ở khu vực này mang tính chất sóng gió rõ rệt Giữa mùa Đông, hướng sóng Đông Bắc chiếm ưu thế gần tuyệt đối với độ cao sóng đạt giá trị cao nhất trong cả năm Tháng 1 năm 1984, độ cao của sóng đạt cực đại tới 8 m ở khu vực vòm Trung Tâm mỏ Bạch Hổ Mùa Đông hướng sóng ưu thế Đông Bắc, Bắc Đông Bắc và Đông Đông Bắc Mùa hè, hướng sóng chính là Tây Nam, hướng Tây

và Đông Nam cũng xuất hiện với tần xuất tương đối cao

Dòng chảy đựoc hình thành dưới tác động của gió mùa ở vùng biển Đông Hướng và tốc độ dòng chảy xác định được bằng hướng gió và sức gió

Nhìn chung khu vực bể Cửu Long có địa hình phức tạp, khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa Đây là một khu vực tìm kiếm, thăm dò dầu khí quan trọng,

có mật độ dày đặc nhất và hiệu suất cao nhất Ngày nay, bể Cửu Long đã hình thành nên một quần thể khai thác dầu khí lớn nhất Việt Nam bao gồm các mỏ như Bạch

Hổ, Rồng, Rạng Đông, Ruby, với sản lượng khai thác chiếm 96% sản lượng khai thác dầu thô của Việt Nam

Trang 8

Chương II: Lịch sử nghiên cứu địa chất khu vực

Từ những năm sáu mươi đến nay trong số các bể trầm tích ở thềm lục địa Việt Nam, bể Cửu Long là nơi mà công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí được mở đầu sớm nhất và cũng là nơi đánh dấu thành quả lớn nhất của ngành dầu khí Việt Nam Lịch sử nghiên cứ, thăm dò tìm kiếm dầu khí tại mỏ Bạch Hổ nói riêng bể Cửu Long nói chung bị chi phối trực tiếp của công cuộc cách mạng giải phóng miền Nam của dân tộc ta Vì vậy, chúng ta có thể lấy mốc là năm 1975, một mốc son chói lọi nhất của cách mạng Việt Nam, thời điểm thống nhất đất nước, từ đó có thể chia lịch sử nghiên cứu dầu khí bể Cửu Long ra thành 2 giai đoạn, giai đoạn trước năm

1975 và giai đoạn sau năm 1975 (theo tài liệu của Tổng Công Ty Dầu Khí)

Lịch sử nghiên cứu của khu vực có thể chia ra làm 2 thời kỳ:

I Giai đoạn trước năm 1975

Năm 1973 - 1974, bằng phương pháp khảo sát địa chấn phản xạ trên các lô

15, 09, 16 ở thềm lục địa Nam Việt Nam, các Công ty dầu khí của Mỹ là Pecten và Mobil đã phát hiện đới nâng trung tâm trũng Cửu Long trong đó có cấu tạo Bạch

Hổ, Rồng

Năm 1974, công ty Mobil đã phát hiện dòng dầu công nghiệp đầu tiên ở thềm lục địa Việt Nam

Như vậy, từ trước năm 1975, bể Cửu Long mới chỉ được nghiên cứu và thăm

dò trên mặt mà chưa đưa vào khai thác

II Giai đoạn từ 1975 đến nay

Sau khi Miền Nam được giải phóng, ngày 03/09/1975, chính phủ ra nghị định thành lập Tổng Cục Dầu Khí Việt Nam Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước toàn bộ tài nguyên dầu khí cả nước, tổ chức tìm kiếm thăm dò khai thác, chế biến và thực hiện hợp tác với nước ngoài

Trang 9

Năm 1976: công ty địa vật lý CCG (Pháp) đã tiến hành khảo sát nhằm liên kết địa chát từ các lô 09, 16, 17 vào đất liền thuộc đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 1978: công ty địa vật lý GECO (Nauy) đã khảo sát mạng lưới tuyến 8x8km, 4x4km và chi tiết hơn trên các lô 09 và 17 với mạng 2x2km, 1x1km

Năm 1979: công ty DENIMEX đã phủ mạng lưới tuyến 3.5x3.5km và đã khoan kiểm tra trên bốn cấu tạo Trà Tân (15_A_1X), Sông Ba (15_B_1X), Cửu Long (11_6_1X) và Đồng Nai (15_G_1X) Trong giếng khoan 15_A_1X đã phát hiện dầu khí ở độ sâu 2307-2313 m

Ngày 19/06/1981, chính phủ Việt Nam ký hiệp định liên chính phủ với Liên Bang Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết thành lập Xí Nghiệp Liên Doanh Dầu Khí Việt Xô (Vietsovpetro) Sự kiện này đánh dấu một bước phát triển mới của ngành công nghiệp dầu khí còn non trẻ của Việt Nam Vietsovpetro đã thực hiện khảo sát địa chấn trên thềm lục địa Việt Nam, khoan thăm dò và phát hiện dầu ở các cấu tạo: Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Tam Đảo, Ba Vì và Sói

Năm 1986: Mỏ Bạch Hổ bắt đầu đi vào khai thác

Năm 1988 : Vietsovpetro phát hiện dầu nằm trong đá móng nứt nẻ granit, granodiorit ở mỏ Bạch Hổ Cho tới nay, đá móng nứt nẻ trở thành đối tượng chính trong các hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Trữ lượng và tiềm năng dự báo khoảng 700-800 triệu m3 dầu, chủ yếu tập trung trong đá móng

Từ khi có luật đầu tư nước ngoài (1988), công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí được thúc đẩy mạnh mẽ, phạm vi và đối tượng tìm kiếm cũng được mở rộng Tổng Công Ty Dầu Khí đã ký 37 hợp đồng với tổng diện tích các lô ký hợp đồng khoảng 250.000km2 chiếm gần 50% diện tích thềm lục địa Việt Nam tính tới

độ sâu 200m nước, một số nơi tới 1000m tập trung chủ yếu ở bể Cửu Long và Nam Côn Sơn Cho đến nay, bể Cửu Long đã có thêm ba mỏ nữa được đưa vào khai thác:

mỏ Rồng (12/1994), Rạng Đông (1998), Ruby (10/1998) Sản lượng dầu khai thác

Trang 10

của bể Cửu Long chiếm tới 96% sản lượng dầu thô trong cả nước Khoảng 100 giếng khoan khai thác dầu từ móng của mỏ Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Ruby cho lưu lượng giếng hàng trăm tấn/ngày đêm, có giếng đạt tới 1000 tấn/ngày đêm, đã và đang khẳng định móng phong hoá là đối tượng chính cần được quan tâm hơn nữa trong công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí trong tương lai của bể Cửu Long và các vùng kế cận Các bẫy phi cấu tạo trong trầm tích (play2) cũng là đối tượng tìm kiếm quan trọng trong thời gian tới.

Năm 2001, Vietsovpetro đã kỷ niệm khai thác tấn dầu thô thứ 100 triệu Đây

là một dấu ấn quan trọng trong bước tién của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam Trong hơn 20 năm qua, ngành dầu khí đã đạt được những thành tựu to lớn đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên trong thời gian tới nhiệm vụ đặt ra cho ngành hết sức quan trọng là phải đẩy mạnh công tác thăm dò nhằm phát hiện gia tăng trữ lượng làm cơ sở cho việc quy hoạch khai thác dầu khí

Song song với công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí hàng loạt các công trình nghiên cứu bể Cửu Long của các tác giả trong và ngoài nước ra đời Các công trình này đã góp phần đắc lực phục vụ cho công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác, tính toán trữ lượng dầu khí ở Việt Nam

Năm 1997, đề tài nghiên cứu “Điều kiện lắng đọng trầm tích-cổ địa lý các tầng chứa dầu khí trong trầm tích Oligoxen hạ mỏ Bạch Hổ thuộc bồn trũng Cửu Long” của Nguyễn Đình Dỹ và nnk là công trình nghiên cứu hoàn chỉnh đầu tiên về tướng đá cổ địa lý ở vùng mỏ Bạch Hổ

Năm 2001 luận án tiến sĩ địa chất của Hoàng Phước Sơn “Đặc điểm thành tạo, quy luật phân bố và phát triển các tầng trầm tích chứa dầu khí Oligoxen dưới khu vực Đông Nam bồn trũng Cửu Long” đã đề cập đến đặc điểm cổ địa hình, cổ địa mạo, điều kiện lắng đọng trầm tích ở khu vực Đông Nam bể Cửu Long góp phần làm sáng tỏ tướng đá cổ địa lý giai đoạn Oligoxen hạ

Năm 2001-2002, đề tài “Nghiên cứu tướng đá cổ địa lý và chuẩn hoá địa tầng Kainozoi ở mỏ Rồng và Bạch Hổ” của Trần Nghi và nnk đã nghiên cứu một

Trang 11

cách cụ thể về đặc điểm tướng đá cổ địa lý giai đoạn Oligoxen-Mioxen và liên kết

tỷ mỉ các tầng chứa giai đoạn này ở mỏ Rồng và mỏ Bạch Hổ

Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu cấu trúc kiến tạo cũng như nghiên cứu tướng

đá cổ địa lý, tiến hoá môi trường trầm tích trong bể Cửu Long nói riêng và các bể trầm tích Đệ Tam nói chung cần phải được đẩy mạnh hơn nữa để phục vụ cho công tác tìm kiếm, đáng giá trữ lượng dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà nhiệm vụ đặt ra cho ngành dầu khí là phải đẩy mạnh công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí nhằm phát hiện và gia tăng trữ lượng hàng năm bình quân 50-70 triệu m3 quy dầu như định hướng phát triển của ngành đến năm 2020

Cấu tạo Bạch Hổ và Rồng thuộc đới nâng Trung Tâm trũng Cửu Long là một đới trong cấu trúc địa chất phức tạp của thềm lục địa Việt Nam, là mộttrong những cấu trúc có đối tượng chứa dầu khí quan trọng đã được tiến hành tìm kiếm và thăm

dò từ những năm 1960 Hiện nay, đây là một khu vực đã hình thành một quần thể khai thác dầu khí đầu tiên lớn nhất trên thềm lục địa Việt Nam, góp phần quyết định vào thành tích khai thác 100 triệu tấn dầu thô của ngành dầu khí Việt Nam

Trang 13

Chương III: đặc điểm địa chất khu vực

I Địa tầng khu vực nghiên cứu

1 Đặc điểm về địa tầng

Địa tầng của khu vực nghiên cứu được thành lập dựa vào kết quả phân tích mẫu vụn, mẫu lõi, tài liệu carota và tài liệu phân tích cổ sinh từ các giếng khoan trong phạm vi khu vực, với mặt cắt địa chất có từ móng tới Pliocen - Đệ tứ (hình 3.1)

Với một cấu trúc địa chất nằm sâu dưới mực nước biển, các tầng trầm tích hầu như nằm ngang, các thông tin về địa tầng đạt được chủ yếu bằng phương pháp khoan và địa chấn thì về mặt nghiên cứu sinh địa tầng là rất hạn chế Bởi vậy sự liên kết địa tầng ở đây chủ yếu là dựa vào thành phần thạch học Dựa vào tài liệu của Tổng Công Ty Dầu Khí đặc điểm địa tầng bể Cửu Long được khái quát như sau

1.1 Móng trước Kainozoi

Dựa vào kết quả phân tích tài liệu khoan, liên kết với tài liệu địa chất đối với các phức hệ đá móng tìm thấy trên đất liền cho thấy đá móng khu vực nghiên cứu

có thành phần chủ yếu là các thể xâm nhập nhóm granitoid (granitoid, granodiorit

và riolit thạch anh) Granit có màu xám, xám phớt hồng, dạng khối, hạt trung Một

số mẫu chịu ảnh hưởng của quá trình biến đổi thứ sinh và bị vò nát Bề mặt phong hoá của móng granit phân bố không đều, không liên tục trên các mặt địa hình cổ Bề dày lớp phong hoá trung bình 10 - 20m có nơi đạt hơn 40m (giếng khoan 411 mỏ Bạch Hổ) Đá móng có tuổi Jura muộn - Kreta sớm (tuổi tuyệt đối khoảng 97 - 178 triệu năm)

Ở khu vực mỏ Rồng, dưới tác dụng của các hoạt động kiến tạo, hoạt động nhiệt dịch và quá trình phong hoá, đá móng bị nứt nẻ khá mạnh và được lấp đầy hoàn toàn hay một phần bởi ximăng canxit và một phần nhỏ là ximăng zeolit màu trắng Gắn liền với chúng là các hang hốc có hình dạng rất khác nhau kích thước khoảng 2cm Đó là bằng chứng chứng tỏ sự pelit hoá mạnh mẽ của khoáng vật

Trang 14

fenspat và sự tái sắp xếp của các hạt thạch anh đã tạo ra lỗ rỗng và các hang hốc lớn Độ rỗng trong đá móng mỏ Rồng dao động trong phạm vi rất lớn từ 1 - 2 % đến

20 - 25%

Ở khu vực mỏ Bạch Hổ, kết quả nghiên cứu trong không gian đá móng cho

ta thấy độ rỗng nứt nẻ không cao, phân bố không đều, trung bình 3 - 5% Quy luật phân bố độ rỗng hết sức phức tạp Tuy nhiên, đá móng khu vực bể Cửu Long luôn

là đối tượng chứa dầu khí quan trọng

Tập 1: Là một tập trầm tích lục nguyên gồm các lớp cát và sét xen kẽ nhau

và có độ dày tương đối ngang nhau, ngoại trừ khu vực trung tâm mỏ Bạch Hổ và

mỏ Rồng Chiều dày trên hệ tầng Trà Cú thay đổi rất mạnh từ 100 - 400m Sét kết

có màu xám tối đến đen hồng, cứng và giòn, thành phần khoáng vật gồm kaolinit,

Trang 15

hydromica, clorit và zeolit Cát kết chủ yếu hạt trung có màu xám tối, dạng khối với thành phần khoáng vật bao gồm thạch anh, felspat, nhiều mảnh khoáng vật silicat, đôi khi gặp các mảnh đá magma.

Tập 2: Là tập trầm tích hạt mịn bao gồm sét kết và bột kết Tầng trầm tích

này có chiều dày cực đại đạt đến 120m, nhưng ở một số khu vực chúng vắng mặt do

bị bào mòn Thành phần thạch học của tầng trầm tích này là sét kết và bột kết màu lam xám, xám tối và nâu xẫm Chúng có cấu trúc phân lớp Không gặp vi cổ sinh chỉ thị Có các tầng sét giàu vật chất hữu cơ nguồn gốc đầm hồ, đồng bằng ven biển, đây có thể là tầng đá mẹ quan trọng, hơn nữa hệ số cát trung bình khoảng 50%, độ rỗng hiệu dụng thay đổi từ 7 - 16%, nên chúng là đối tượng chứa dầu khí đáng quan tâm

Phụ thống Oligocen trên

Hệ tầng Trà Tân (E 3tt)

Trầm tích thuộc hệ tầng Trà Tân có thể bắt gặp trong hầu hết các giếng khoan của bể Cửu Long với chiều dày thay đổi từ 100 - 900m, bề dày tăng dần từ cánh đến trung tâm Thành phần thạch học bao gồm cát kết và sét kết xen kẽ nhau chủ yếu là argilit màu xám đen, nâu tím chứa nhiều vật chất hữu cơ dạng sapropen Chiều dày tập sét kết thường rất lớn và có chỗ đạt tới hàng trăm mét, có thể gặp một

số tầng đá phun trào xen kẽ các tập trầm tích Có thể chia tập trầm tích hệ tầng Trà Tân ra làm 3 tập:

Tập 1: Cát kết mỏng xen kẽ giữa các tầng sét kết dày Có nơi tập trầm tích

này nằm trực tiếp trên đá móng do trầm tích Oligocen dưới bị bào mòn trước đó

Tập 2: Sét kết là chủ yếu, có xen kẽ một vài tập cát kết mỏng không đáng kể,

gặp phổ biến các vụn đá magma

Tập 3: Sét kết, cát kết xen kẽ với tỷ lệ cát cao hơn so với hai tập dưới

Khoáng vật sét điển hình của hệ tầng gồm: Kaolinit, hyđromica Khoáng vật cát

Trang 16

điển hình là thạch anh, mictit Các dạng bào tử phấn hoa chỉ thị tìm thấy trong hệ tầng bao gồm: Amphistegina sp., Florschuetzia trilobata, Psilotricolpites sp., Cicatricosisporites sp., Quecus sp Là tập trầm tích có thành phần hạt mịn là chủ yếu, đặc biệt các lớp sét bột giàu vật chất hữu cơ với môi trường thành tạo đầm hồ

và biển, do đó trầm tích Oligocen là tầng sinh tốt nhất và đồng thời cũng là tầng chắn trong khu vực Các lớp cát phân bố dưới dạng thấu kính không liên tục có thể đóng vai trò là tầng chứa dầu khí tốt

Tập 1: Trầm tích đầm hồ, cửa sông Chiều dày thay đổi từ 60 - 300m Thành

phần cát kết thạch anh, màu xám sẫm độ hạt thay đổi ở phần dưới của tập thấy cát kết và dăm kết Có gặp các lớp sét chiều dày không quá 5m, chủ yếu là monmoriolit, chiếm khoảng 20% chiều dày của tập

Tập 2: Đặc trưng bởi trầm tích hạt mịn là chủ yếu, thỉnh thoảng gặp một số

lớp cát kết với chiều dày không đáng kể và rất ít cuội kết Tổng chiều dày của tập khoảng 300m

Tập 3: Các tầng mỏng cát, cát kết và đặc biệt có tầng sét dẻo dính dễ trương

nở khi gặp nước - tầng sét Rotalia Đây là tầng chắn quan trọng của bể Cửu Long,

Trang 17

mang tính khu vực, hình thành trong điều kiện nước ấm, nông với sự hoạt động của các yếu tố động học Khoáng vật sét bao gồm: Monmoriolit, hyđromica, cacbonat

Xi măng chủ yếu là sét và cacbonat Vật chất hữu cơ trong các lớp sét chủ yếu có nguồn gốc lục địa được tích luỹ và bảo tồn trong môi trường nước, hàm lượng cacbon hữu cơ không cao, chỉ có khả năng sinh khí kém Nhìn chung, cát kết hệ tầng Bạch Hổ có thành phần thạch anh, acko hạt trung đến thô, đôi khi gặp cuội kết Tuy nhiên với độ rỗng 10 - 12%, độ thấm 5 - 300mD, độ bão hoà dầu 57%, có thể nói đây là tầng chứa tốt

đa dạng, các đặc trưng định tuổi Miocen giữa gồm: Globorotalia fohsi, orbulina univesa, Probalina trilobital Bào tử phấn hoa không có quy luật, các dạng đặc trưng gồm: Florschuezia levipoli, Verrutricolporites sp

Trang 18

Thành phần thạch học đặc trưng chủ yếu là cát thạch anh lẫn sạn sỏi xen bột sét xám, vàng bẩn, gắn kết yếu, phân lớp không đều Đôi khi gặp các tầng sét và sét vôi mỏng Thường xen kẽ các thấu kính than nâu Vi cổ sinh và bào tử phấn hoa phong phú đa dạng, các đặc trưng cho phép định tuổi Miocen muộn gồm: Florschuetzia levipoli, Picea, Carga, Alinus, Globotalia Acostaensis, Globotalia Menardi Môi trường trầm tích là tam giác châu, ven bờ, biển nông Ximăng thường là cacbonat - monmoriolit Các trầm tích sét vôi có màu xám, nâu, trắng và vàng Môi trường thành tạo là cửa sông nên không có triển vọng chứa dầu khí.

Thống Pliocen

Hệ tầng Biển Đông (N 2bđ)

Nằm chỉnh hợp lên trầm tích Miocen muộn là trầm tích hệ tầng Biển Đông

có tuổi Pliocen Trầm tích này gặp trong các giếng khoan ở độ sâu từ 200 - 300m đến 600 - 700m, chiều dày ít thay đổi Thành phần thạch học gồm cát, cát kết màu vàng, xám và xám sáng gắn kết yếu ở đây thường gặp các tầng sét vôi mỏng với nhiều mảnh vỏ vôi sinh vật biển cũng như các lớp sét cacbonat và monmoriolit mỏng Đặc biệt, trong trầm tích của hệ tầng Biển Đông còn gặp các hạt glauconit Hoá thạch vi cổ sinh khá phong phú và đa dạng, phần lớn là các loại bám đáy đặc trưng cho tuổi Pliocen gồm có: Globigerinoides extremus Spharoi - dinella dehiscens, Globoquadrinaaltispira, Globorotalia Margarita, Psedorotalia scherveteriana Bào tử phấn hoa cũng rất phong phú: Stenoshlaena sp., Pudocapus sp., Flor Meridionalis, Rhizophora sp., đặc trưng cho môi trường trầm tích biển Vì thiếu vắng tầng chắn nên trầm tích hệ tầng này hoàn toàn không có triển vọng dầu khí

2 Đặc điểm về magma trong Pliocen - Đệ tứ

Các thành tạo núi lửa trong Pliocen - Đệ tứ là sản phẩm của các quá trình hoạt động magma kiến tạo Kainozoi muộn Các thành tạo phân bố rộng rãi trong khu vực Đông Nam á Trên thềm lục địa Việt Nam có nhiều biểu hiện của các đá núi lửa trẻ được biểu hiện trên các mặt cắt địa vật lý và cũng đã phát hiện được

Trang 19

trong một số giếng khoan dầu khí ngoài khơi Những dấu hiệu gián tiếp của những núi lửa trẻ còn liên quan đến các biểu hiện khí cacbonic (CO2) đã phát hiện được trong nhiều giếng khoan ngoài khơi trên thềm lục địa Trung Bộ Cường độ hoạt động mạnh và biểu hiện rõ ràng chỉ khoảng 3 triệu năm trở lại cho tới nay Có thể chia thành 4 giai đoạn hoạt động núi lửa trên thềm lục địa Việt Nam như sau:

Giai đoạn Miocen muộn

Giai đoạn Pliocen - Pleistocen sớm

Giai đoạn Pleistocen sớm - giữa

Giai đoạn Holocen - hiện đại

Các hoạt động magma trẻ rất ảnh hưởng đến các tích tụ dầu khí đã được hình thành trước đó Vì vậy, cần phải phân tích quy luật phân bố và ảnh hưởng của chúng tới các bẫy dầu khí

II Cấu trúc - kiến tạo khu vực

1 Vị trí kiến tạo bể Cửu Long

Bể Cửu Long nằm ở phía Đông Nam của thềm lục địa phía Nam Việt Nam, phía tây của bể giáp với đường bờ từ Cà Ná - Phan Thiết, Vũng Tàu có xâm nhập và phun trào Mesozoi, phía đông nam được giới hạn bởi đới nâng ngầm Côn Sơn chạy dọc theo các đảo nhô cao hiện tại như Hòn Trứng, Hòn Khoai, Côn Sơn Với hình thái cấu trúc có dạng oval lớn, sụt lún trong Kainozoi, trầm tích bên trong chủ yếu

là thành tạo lục nguyên từ thô đến mịn Chiều dày nhất khoảng 7000m Diện tích của bể không lớn lắm (200.000km2), độ sâu đáy biển hiện tại không quá 50m nước nên rất thuận lợi cho việc tìm kiếm và thăm dò dầu khí Vị trí kiến tạo của bể được

thể hiện trên bản đồ (hình 3.2).

Trang 20

2 Đặc điểm về cấu trúc

2.1 Cấu trúc đứng

Qua phân tích các mặt cắt địa chất, địa chấn- địa vật lý cùng các bình đồ cấu trúc thì sự thành tạo các khối nâng Bạch Hổ, Rồng là do chuyển động nâng lên của móng, đặc điểm cấu trúc của bể Cửu Long thể hiện rõ hai thành phần riêng biệt:

Cấu trúc móng trước Kainozoi

Cấu trúc lớp phủ Kainozoi phát triển bất chỉnh hợp trên mặt móng trước Kainozoi

2.1.1 Cấu trúc móng trước Kainozoi

Theo thành phần vật chất của đá móng trước Kainozoi đã lấy được qua các mẫu lõi giếng khoan gặp đá móng và quan sát được thấy có sự thay đổi đáng kể theo diện tích của khu vực Các mẫu đá bao gồm chủ yếu là các đá granit, granitoid, granodiorit, có nơi thấy có cả riolit thạch anh Tuổi đồng vị xác định là Jura - Kreta Hình dáng hiện nay của mặt móng đã được xác định qua tài liệu địa chấn, từ và được chứng minh bằng tài liệu địa chất Bản đồ cấu tạo móng âm học đã chứng minh cho sự phức tạp đó Móng trước Kainozoi bao gồm các thành tạo tuổi khác nhau, nhưng chủ yếu là Mezozoi

2.1.2 Lớp phủ

Trầm tích Kainozoi phủ chồng lên mặt móng có bề dày đáng kể tuỳ theo từng khu vực và được chia ra làm ba tầng cấu trúc khác nhau:

Tầng cấu trúc dưới (bồn trầm tích Oligocen)

Tầng cấu trúc trên (bồn trầm tích Mioxen)

Tầng cấu trúc lớp phủ thềm lục địa Pliocen - Đệ tứ

Trang 21

Trầm tích Oligocen trên phân bố rộng khắp trên toàn bộ khu vực và có chiều dày thay đổi từ 200 - 300m ở phần trung tâm và ra đến cánh khoảng 1000m Các đứt gãy trong giai đoạn này có cường độ và biên độ giảm hẳn.

2.1.2.2 Tầng cấu trúc trên (bồn trầm tích Miocen)

Tầng cấu trúc này bao gồm các trầm tích lục nguyên Đó là các trầm tích cát, bột, sét xen kẽ có độ hạt từ thô đến mịn Đặc trưng của giai đoạn này là quá trình sụt lún và oằn võng kế tiếp sau thời kỳ tách giãn Oligocen, cường độ và biên độ các đứt gãy giảm dần

2.1.2.3 Ttầng cấu trúc lớp phủ thềm lục địa Pliocen - Đệ Tứ

Các thành tạo trong tầng cấu trúc Pliocen - Đệ Tứ bao gồm cát, cát kết gắn kết yếu, đá acko hạt thô màu xám vàng, xen kẽ các tập sét, sét vôi, điểm đặc trưng

là có thế nằm ngang, phân bố rộng rãi trên toàn thềm lục địa

2.2 Cấu trúc ngang

Cấu trúc bể Cửu Long phụ thuộc cơ bản vào bình đồ cấu trúc bề mặt móng trước Kainozoi Các đới nâng ven rìa của bể từ Phan Rang-Phan Thiết-Vũng Tàu đến Hòn Khoai, Hòn Trứng Côn Sơn bao quanh và tách bể khỏi các trầm tích khác

Trang 22

Hình thái cấu trúc mặt móng gồm các đới trũng địa hào xen các khối địa luỹ và được giới hạn xung quanh bởi các đơn nghiêng:

Đơn nghiêng Tây Bắc của bể thuộc phần lô 15 Các đứt gẫy theo hệ thống Tây Bắc - Đông Nam và Á Vĩ Tuyến đã phân cắt đơn nghiêng thành cấu trúc bậc thang có phân dị chi tiết

Đơn nghiêng Đông Nam ít có sự phân dị hơn Nó được ngăn cách với đới trung tâm qua đứt gẫy Tây Bắc - Đông Nam, gần như dọc theo đới nâng Côn Sơn

Đơn nghiêng phân dị phía Tây: đới này nằm ở phía tây bể ngăn cách với đới nghiêng Tây Bắc theo các đứt gẫy Đông Tây Hệ thống đứt gãy Đông Tây hoạt động mạnh mẽ trong móng và yếu dần trong Oligoxen và Mioxen Một số cấu tạo địa phương như: Tam Đảo, Ba Vì, Đu Đủ được hình thành trong đơn nghiêng này dọc theo các hệ thống đứt gãy

Các trũng quan trọng là các cấu trúc lõm sâu nhất của mặt móng Chúng thường là các địa hào (graben) do quá trình tách giãn trong suất Oligoxen đến Mioxen giữa, sau đó bị oằn võng vào cuối Mioxen Một số cấu trúc lõm có thể kế thừa các trũng Mesozoi muộn

Đới trũng Tây Bạch Hổ: nằm ở rìa Tây của vòm nâng Bạch Hổ Đây là đới trũng sâu vớ bề dày trầm tích Kainozoi tới 7400m Đới này phát triển theo hướng của hệ thống đứt gãy chính Tây Bắc - Đông Nam

Đới trũng Đông Bạch Hổ phát triển kéo dài theo hướng của hệ thống đứt gãy chính Đông Bắc-Tây Nam, ngăn cách với các vòm nâng ở phía Tây Tuy vậy các đứt gãy ngang Á Vĩ Tuyến cũng đã làm phức tạp cấu trúc lõm này Trầm tích Kainozoi của đới này tới trên 6000m

Đới trũng Bắc Bạch Hổ là cấu trúc lớn và sâu nhất của mặt móng, phát triển theo hướng đứt gãy Đông Bắc - Tây Nam, kéo dài 80km và rộng 20km, chiều dày mặt cắt trầm tích đạt tới 8km

Trang 23

Các đới nâng là các cấu trúc dương tương phản với các đới trũng trong bể Cửu Long Chúng thường là các kiến tạo kế thừa các khối nhô móng trước Kainozoi của bể Các đối tượng vòm nâng thường là đối tượng tìm kiếm thăm dò dâu khí, do vậy các mặt cắt cấu trúc thường có giếng khoan kiểm tra.

Đới nâng Trung Tâm (Rồng-Bạch Hổ-Rạng Đông) Đới này hình thành do hoạt động của hai đứt gãy theo phương Đông Bắc-Tây Nam, nối liền các cấu tạo Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Chiều dày của đới là 80km, chiều rộng trung bình từ 16-18km Đới nâng Trung Tâm được ngăn cách với đới trũng phía Đông- Đông Nam và Tây-Tây Bắc bởi hàng loạt các đứt gãy có phương Đông Bắc-Tây Nam Các đứt gãy này hoạt động mạnh mẽ, xuyên cắt nhau phân cắt móng thành những khối riêng biệt xen kẽ nhau Biên độ của các đứt gãy này từ vài trăm mét đến 1000m Trong đới nâng Trung Tâm hình thành và tồn tại các cáu tạo Rồng, Bạch

Hổ, Rạng Đông Ngăn giữa các cấu tạo này là các trũng sâu địa phương

Đới nâng Trà Tân (15-A)-Đồng Nai (15G0theo phương Đông Bắc –Tây Nam

và có xu thế nối với cấu tạo Ba Vì qua sườn dốc của đôn nghiêng Tây- Bắc.Đặc tính cấu trúc chỉ dược thể hiện rõ ở phần bề mặt móng và các thành tạo trước Mioxen Đới nâng được khống chế bởi hệ thống đứt gãy Đông Bắc-Tây Nam, đồng thời bị phức tạp, phân cắt bởi các đứt gãy phương Tây Bắc-Đông Nam và bị chặn ở phía Tây Nam bởi đứt gãy Á Vĩ Tuyến

Đới nâng Tam Đảo-Bà Đen dược phát triển kế thừa trên các khối nhô móng tới sát trước Mioxen.Trong đới này, đứt gãy Đông-Tây phân cắt đới thành các cấu tạo nhỏ hơn và phức tạp như cấu tạo Đu Đủ, Tam Đảo, Ba Vì

Đới nâng Ru by-Agate kéo dài theo hướng Bắc Đông Bắc và phân bố ở Đông Bắc bể Cửu Long

Đặc tính cấu trúc thể hiện trong móng và các thành tạo trong Mioxen sớm Trong đới này có các cấu tạo triển vọng như: Ruby, Diamond, Emerald, Pearl, Topaz, Agate

Trang 24

Bậc I Bậc II

Đới rìa Tây Bắc

Khối nâng Kinh ĐộKhối nâng Tây Nam -GK Ba VìKhối nâng Đông Bắc-GK Ba Vì

Đới Trung Tâm

Khối nâng Trà TânKhối sụt Nam RubyKhối nâng Bắc Bạch HổKhối sụt Bà Đen

Khối sụt Đông Tam Đảo

Đới rìa Tây Nam

Đới nâng Trung TâmRồng-Bạch Hổ-Rạng ĐôngTrũng Đông Bạch Hổ

(Theo Phan Văn Quýnh, 1995)

2.3 Đặc điểm về đứt gãy (bảng 3.1)

Cấu trúc của khu vực nghiên cứu bị phân cắt bởi các hệ thống đứt gãy chính là:

Hệ thống đứt gãy Đông Đông Bắc - Tây Tây Nam

Hệ thống đứt gãy Tây Tây Bắc - Đông Đông Nam

Hệ thống đứt gãy Á Kinh Tuyến

Hệ thống đứt gãy Á Vĩ Tuyến

Các hệ thống đứt gãy này chủ yếu là những đứt gãy thuận đồng trầm tích được hình thành sớm hơn rất nhiều so với hệ thống đứt gãy chờm nghịch Các đứt gãy đồng trầm tích đều được vật liệu lấp đầy và trở thành màn chắn ngăn cản không cho hydrocacbon dịch chuyển từ khối này sang khối khác

Trang 25

Hệ thống đứt gãy Đông Đông Bắc - Tây Tây Nam thể hiện rõ nét ở phía Đông và Tây của mỏ Bạch Hổ, góc cắm của hệ thống này thường từ 650 - 800 vàcó biên độ dịch chuyển từ 500 - 2000m Có một số đứt gãy chờm nghịch ở phía tây mỏ Bạch Hổ Quá trình hoạt động của các đứt gãy này gắn liền với các pha nén ép cục bộ xảy ra vào cuối Oligocen đầu Miocen Những đới phá huỷ sinh ra do hệ thống đứt gãy chờm nghịch trở thành đường dẫn cho hydrocacbon đi từ nơi sinh vào trong đá móng.

Hệ thống đứt gãy Tây Tây Bắc - Đông Đông Nam phát triển chủ yếu ở phần trung tâm khu vực nghiên cứu Chính hệ thống đứt gãy này đã phân chia các khu

mỏ ra các khối khác nhau Sự sinh thành ra chúng vào giai đoạn đầu của thời kỳ tạo rift và tiếp tục hoạt động trong suốt quá trình đó rồi ngưng nghỉ vào Oligocen muộn Biên độ của chúng bé hơn nhiều so với biên độ của hệ thống đứt gãy Đông Đông Bắc - Tây Tây Nam (khoảng 200 - 600m)

Hệ thống đứt gãy Á Kinh Tuyến (theo phương Bắc và Đông Bắc) thể hiện ở phần đông bắc và trung tâm mỏ Rồng có biên độ tương đối lớn (hàng nghìn mét), chiều dài phát triển hàng chục km

Hệ thống đứt gãy Á Vĩ Tuyến (theo phương Đông - Tây) đóng vai trò tạo nên cấu trúc khối, biên độ 200 - 500m, dài khoảng 5 - 15km Nhìn chung, đặc điểm đứt gãy phần Đông Bắc mỏ Bạch Hổ có quan hệ với phần cuối Tây Nam của mỏ Rồng Hoạt động đứt gãy trong bể Cửu Long đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành cấu trúc khối, các đơn vị cấu tạo cũng như không gian rỗng chứa dầu trong đá móng của bể

III Lịch sử phát triển địa chất khu vực (hình 3.3)

Bể Cửu Long phát triển trên thềm lục địa Việt Nam nên lịch sử tiến hoá của

bể gắn liền với lịch sử tiến hoá địa chất của thềm Tiến hoá địa chất của thềm có thể được chia làm các giai đoạn chính sau:

Trang 26

1 Thời kỳ Mesozoi muộn đầu Kainozoi sớm (thời kỳ trước tạo bồn)

Giai đoạn cố kết của móng trước Kainozoi liên quan đến sự hội tụ của các lục địa vào cuối Mesozoi, do sự hội tụ của hai mảng Ấn - Úc và Âu - Á làm cho toàn bộ khu vực thềm Sunda nâng lên cao và làm biến mất đại dương Tethys ở Đông Nam Á, và ở thời kỳ này, tại đây đã xuất hiện dải volcanic - plutonic có tuổi

từ Jura đến Paleoxen

Do sự va chạm mạnh của các mảng làm cho móng cố kết bị dập vỡ và tạo thành các đứt gãy phân cắt, phân dị bề mặt móng cổ trước Kainozoi, tạo nên các khối nâng, sụt khác nhau Sau này chính bể Cửu Long đã được hình thành và phát triển trên móng khối sụt uốn nếp của đai núi lửa plutonic và có phương Đông Bắc - Tây Nam Các kết quả nghiên cứu hình thái và hình hài kiến trúc, các tài liệu địa vật

lý như từ, trọng lực, địa chấn và các tài liệu khoan thu được đã chứng minh điều đó

Tiếp sau đó là thời kỳ ngưng nghỉ trầm tích kéo dài trong khoảng từ 10 đến

12 triệu năm Qua bức tranh địa tầng của bể Cửu Long đã đựơc thiết lập cho đến nay đều không gặp các trầm tích thuộc thời kỳ Paleocen, điều đó cho thấy vào cuối Mesozoi đầu Kainozoi thềm Sunda bị nâng lên và bị bóc mòn một cách mạnh mẽ, tạo nên một mặt bất chỉnh hợp giữa cấu trúc móng trước Kainozoi và lớp phủ trầm tích Kainozoi với kiến trúc hoàn toàn khác Cấu trúc móng bao gồm các thành tạo uốn nếp bị biến vị mạnh của các đá móng Paleozoi và Mesozoi, cấu trúc lớp phủ bao gồm các thành tạo Kainozoi từ Eocen đến Đệ tứ là các trầm tích lục nguyên, lục nguyên vôi

Trang 27

2 Thời kỳ Oligocen (tạo bồn trầm tích)

Đây là thời kỳ tách giãn và tạo thành các địa hào, bán địa hào dọc theo các đứt gãy và tựa vào khối plutonic Lấp đầy các địa hào và bán địa hào là các vật liệu trầm tích lục nguyên được vận chuyển từ các vùng cao đến, đấy là cuội, sạn và cát hạt thô đa khoáng và các trầm tích mịn hơn (bột và bột sét)

Giai đoạn này có thể chia làm hai phụ giai đoạn:

Giai đoạn Oligocen sớm:

Thời kỳ này bể Cửu Long được ngăn cách với biển bởi đới nâng Côn Sơn ở phía Đông và Natura ở phía Nam Vì thế các trầm tích hoàn toàn có tướng lục địa

Nguồn cung cấp chủ yếu về vật liệu trầm tích là các khối granit và granodiorit bị phong hoá Các thành tạo chủ yếu là trầm tích hạt thô deluvi, aluvi như cuội, sỏi, cát kết, bột kết ximăng gắn kết chúng là cacbonat, sét, zeolit giàu mảnh đá núi lửa Xen kẽ các lớp cát kết là các lớp bột kết và sét kết Phía Đông Nam của bể được ngăn bởi đới nâng Côn Sơn và phía Tây Nam bởi đồng bằng Cửu Long

Giai đoạn Oligocen muộn

Các thành tạo thời kỳ này điển hình là delta, prodelta bao gồm các trầm tích thuộc tướng aluvial fan, fluvial xen kẽ các trầm tích đầm hồ, vũng vịnh Càng về cuối giai đoạn Oligocen muộn các trầm tích lowerdelta phát triển chủ yếu các tập hạt mịn dày, giàu vật chất hữu cơ mà sau này chúng trở thành các tầng sinh và chắn dầu khí trong bể Cửu Long Các doi cát aluvial fan và fuvial đã trở thành các bẫy chứa dầu khí mà ngày nay đã được phát hiện tại khu vực mỏ Bạch Hổ đều được các tập sét dày bao phủ mà ta có thể bắt gặp qua các giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí

Vào cuối Oligocen, các địa hào trong bể Cửu Long được lấp đầy và liên kết với nhau trở thành một đầm hồ lớn Nếu như Oligocen sớm - muộn bể gần như hoàn

Trang 28

toàn khép kín thì đến giai đoạn cuối của Oligocen muộn bể trở thành một hồ lớn, có cửa liên thông với Biển Đông qua một kênh hẹp ở phía đông bắc tạo nên hiện tượng khi triều lên nước biển tràn vào hồ, khi nước rút thì nước trong hồ chảy ra biển Điều này được chứng minh qua các mẫu thu được từ những giếng khoan ở phần cuối của mặt cắt địa tầng Oligocen muộn.

3 Thời kỳ Miocen (sụt võng của bồn)

Vào đầu Miocen sớm, bắt đầu một chu kỳ kiến tạo mới của bể Cửu Long, vào cuối thời kỳ này vai trò của các hệ thống đứt gãy không còn vì hầu như toàn bộ các đứt gãy đều ngưng nghỉ cuối giai đoạn đồng tạo rift Biển bắt đầu tiến vào bể Cửu Long khá mạnh mẽ Do ảnh hưởng của quá trình biển tiến mà các trầm tích lục địa được đẩy lùi về phía Nam và Tây Nam gần nguồn cung cấp vật liệu

Môi trường trầm tích với động năng giảm mạnh, các tích tụ mịn được tăng lên, chủ yếu là các trầm tích bột, bột sét và sét là chủ yếu Đặc biệt là sét tạp và sét lục Rotalia, tập sét này được phát triển mạnh cả về không gian và thời gian, chiếm hầu hết diện tích bể Cửu Long và nó đã trở thành một màn chắn dầu khí lý tưởng

Vào thời kỳ Miocen giữa, một chu kỳ biển lùi toàn cục đã xảy ra và bể Cửu Long được nâng lên, các trầm tích biển giảm mạnh và nhường chỗ cho các trầm tích deltaplain với các lớp sét kết, bột kết và than

Đến Miocen muộn, một chu kỳ biển tiến diễn ra mạnh mẽ trên toàn bộ bể Cửu Long do đó phát triển trầm tích biển, biển nông, biển ven bờ

Cuối Miocen muộn, sự tham gia tích cực của sông Mêkông đổ vào bể

đã làm thay đổi hẳn môi trường vật liệu trầm tích Bể Cửu Long được mở rộng về phía đồng bằng châu thổ hiện tại và về phía tây nam Các vật liệu trầm tích châu thổ tăng lên trong đó có nhiều dấu vết thực vật thượng đẳng hay vật chất hữu cơ loại III.

Trang 29

Giai đoạn Miocen là giai đoạn bể Cửu Long nhận được nhiều nhất về vật liệu trầm tích Với khối lượng lớn, cộng với các trầm tích giai đoạn đồng tạo rift trước

đó, làm cho bể trầm tích bị quá tải về trọng lượng nên bể bị oằn võng mạnh

4 Thời kỳ Pliocen - Đệ Tứ

Đây là giai đoạn sau sụt lún và oằn võng, được bắt đầu vào Pliocen và kéo dài trong suốt Pliocen - Đệ tứ Đây là một giai đoạn kiến tạo mới, không những chỉ trung tâm bể Cửu Long sụt lún mà còn cả đới nâng Côn Sơn cũng sụt lún mạnh dần

về phía Đông Đến đây, bể Cửu Long không còn là một cấu trúc riêng biệt nữa mà

nó đã hoà chung cùng các bể Nam Côn Sơn, bể Phú Khánh và bể Sông Hồng tạo thành một cấu trúc chung của toàn thềm lục địa Việt Nam và các vùng kế cận

IV Tiềm năng dầu khí mỏ Bạch Hổ

Qua các tài liệu sinh, chứa, chắn và các dạng bẫy, tiềm năng dầu khí mỏ Bạch Hổ được khái quát như sau:

1 Đá mẹ

Qua kết quả phân tích địa hoá ở các giếng khoan, trầm tích Oligoxen của mỏ Bạch Hổ có hàm lượng cacbon hữu cơ (TOC) từ 0,6% (ở GK-15A-1X) đến 2,4% (GK-BH-1) và trung bình khoảng 2% Đó chính là tầng đá mẹ có khả năng sinh dầu

và khí đốt tốt Phần lớn chất hữu cơ thuộc Kerogen loại I và II nên tạo dầu là chính Cửa sổ tạo dầu ở độ sâu 2950m đến 4200m, pha tạo dầu mạnh nhất xảy ra cách đây khoảng 21 triệu năm, nghĩa là vào thời kỳ Mioxen giữa

Ngày đăng: 05/01/2015, 21:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ các bước tiến hành: - nghiên cứu cấu trúc kiến tạo và tiềm năng dầu khớ tầng oligoxen mỏ bạch hổ
Sơ đồ c ác bước tiến hành: (Trang 46)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w