Vì vậy mỗi thầy, cô giáo cần phải nhiệt tình trong công tác giảng dạy, rèn cho học sinh viết đúng chính tả ngay từ đầu, dần dần các em ham thích trong mỗi giờ học chính tả như các môn họ
Trang 1I/ Phần mở đầu:
1 Lý do chọn đề tài:
Phân môn chính tả có một vị trí rất quan trọng ở bậc tiểu học vì giai đoạn tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả cho học sinh Chính tả được bố trí thành một phân môn độc lập, có tiết dạy riêng trong khi bậc trung học cơ sở không có
Phân môn chính tả ở chương trình tiểu học có hai kiểu bài là chính tả đoạn bài và chính tả âm vần Nội dung các bài chính tả âm vần là luyện viết đúng chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ viết sai chính tả Thời gian dành cho bài tập chính tả âm vần dù là rất ngắn so với chính tả đoạn bài song việc rèn kĩ năng qua bài tập đó có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh Qua các bài tập chính tả âm, vần các em được rèn luyện để tránh việc viết sai chính tả các chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ lẫn nhằm đạt mục tiêu môn học
Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm Do đó việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở của viết đúng Tuy nhiên do yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi mỗi khác Mặc dù những quy tắc, quy ước về chính tả được thống nhất theo ngữ pháp chung Nhưng việc “viết đúng chính tả” cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp tôi nói riêng còn nhiều khó khăn, tồn tại mà mỗi giáo viên và học sinh cần phải nỗ lực để khắc phục tồn tại trên
Người giáo viên muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng phải thông qua năng lực viết đúng chính tả của các em Vì vậy mỗi thầy, cô giáo cần phải nhiệt tình trong công tác giảng dạy, rèn cho học sinh viết đúng chính tả ngay từ đầu, dần dần các em ham thích trong mỗi giờ học chính tả như các môn học khác
Tính chất nổi bật của phân môn chính tả là thực hành, bởi vì chỉ có thể hình thành các kĩ năng kĩ xảo cho học sinh thông qua thực hành, luyện tập
Căn cứ vào mục tiêu dạy môn Tiếng Việt nói chung và nhiệm vụ chủ yếu nói riêng của phân môn Chính tả lớp Ba Ngoài kĩ năng rèn học sinh đọc thông chúng ta còn rèn cho học sinh viết thạo, viết đúng chính tả, rèn cho học sinh một
Trang 2số phẩm chất như tính cẩn thận, tính thẩm mĩ Ngoài việc nắm vững vị trí, nhiệm
vụ, tính chất, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy phù hợp, giáo viên còn phải nắm vững các nguyên tắc dạy chính tả Tiếng Việt
Dạy chính tả là một quá trình rèn luyện lâu dài, không chỉ ở giờ chính tả
mà có thể rèn luyện phân tích từ phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn
Ví dụ một học sinh làm một bài văn rất hay nhưng mắc nhiều lỗi chính tả thì bài văn đó không đạt điểm cao Ví dụ cụ thể hơn nữa là học sinh dự thi viết chữ đẹp cấp huyện dù chữ có đẹp bao nhiêu nhưng mắc một vài lỗi chính tả thì cũng không đem lại kết quả Nếu một em viết sai nhiều lỗi chính tả (từ 5 lỗi trở lên) thì không thể học tốt các môn học khác
Chính tả có tầm quan trọng như vậy nên môn học này cần phải được coi trọng ở các trường Tiểu học Chính vì những lí do nêu trên mà tôi đã chọn sáng
kiến kinh nghiệm:“Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn chính tả ở lớp 3A trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đại Dực."
3 Thời gian và địa điểm:
- Thời gian nghiên cứu đề tài từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014
- Đề tài được nghiên cứu, thực nghiệm tại lớp 3A và lớp 3C - Trường Tiểu học và trung học cơ sở Đại Dực
4 Đóng góp mới về mặt lí luận thực tiễn:
Biện pháp để nâng cao chất lượng trong phân môn chính tả cho học sinh lớp 3 là một vấn đề được rất nhiều các đồng chí giáo viên dạy lớp 3 quan tâm và nghiên cứu Đã có rất nhiều các biện pháp được đưa ra như:
+ Yêu cầu học sinh rèn viết bài nhiều ở nhà
Trang 3+ Giáo viên hướng dẫn học sinh cách viết chuẩn, cách viết đẹp, cách viết đúng chính tả
+ Phân công những em viết tốt giúp những em viết chưa tốt
Song tất cả những biện pháp đó không phải lúc nào áp dụng cũng phát huy được tính hiệu quả Theo tôi, tùy theo thực tế của từng lớp, chất lượng chữ viết của từng học sinh để giáo viên có thể thêm, bớt, vận dụng một cách linh hoạt các biện pháp mà các đồng nghiệp đi trước đã sử dụng Bản thân mỗi giáo viên bao giờ cũng có cách làm riêng của mình, phù hợp với thực tế của lớp mình đang dạy
Thực tế ở lớp 3A của tôi chủ nhiệm vẫn còn nhiều học sinh viết sai lỗi chính tả, viết chữ chưa đúng độ cao, độ rộng, viết hoa tuỳ tiện
Tính mới của đề tài này nhằm mục đích giúp học sinh biết phân biệt về
âm, vần, dấu thanh qua các bài thực hành luyện tập để học tốt phân môn chính
tả, cải thiện chất lượng học tập môn Tiếng Việt góp phần nâng cao chất lượng học tập cho các em, tạo niềm tin cho các em vững bước lên những lớp trên
Trang 4II Phần nội dung:
Dạy học chính tả ở Tiểu học là một trong những vấn đề đang được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng
Để dạy học phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh là một vấn đề
đã được khẳng định và là một yêu cầu bức thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói riêng chất lượng toàn ngành nói chung hiện nay Có thể nói chừng nào người dạy chưa phát huy tính chủ động, tính tích cực của người học thì chừng ấy chất lượng giáo dục đào tạo còn hạn chế Dạy học phân môn chính tả ở lớp 3 cũng không nằm ngoài yêu cầu đó Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa khoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước
và cả thế hệ đương thời phần lớn đã ghi lại bằng chữ viết Nếu không biết đọc – viết thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của nhân loại, không thể sống được cuộc sống bình thường Đọc - viết giúp con người có khả năng chế ngự một phương tiện văn hoá cơ bản
Việc dạy chính tả đúng phải được coi trọng ngay đối với học sinh các lớp của trường Tiểu học Dạy chính tả được hiểu như rèn luyện việc thực hiện những chuẩn mực của ngôn ngữ viết Ở các lớp tiểu học, chính tả sẽ tạo điều kiện ban đầu trong hành trang ngôn ngữ cả một đời người trong các em
Trang 5Qua được học chính tả, các em nắm bắt được các quy tắc chính tả và hình thành kỹ năng, kỹ xảo chính tả Từ đó có thói quen viết đúng chính tả, giúp cho sự hoàn thiện nhân cách của học sinh Nó bắt đầu từ việc thuận tiện trong tiếp thu tri thức qua các môn học ở tiểu học đến việc xây dựng các văn bản trong quá trình giao tiếp trong học tập.
Chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học bao gồm nhiều phân môn Phân môn chính tả có nhiệm vụ chủ yếu rèn cho học sinh nắm các quy tắc và các thói quen viết đúng với chuẩn chính tả Tiếng Việt Cùng với các phân môn khác, chính tả giúp cho học sinh chiếm lĩnh văn hoá, là công cụ để giao tiếp, tư duy để học tập, trau dồi kiến thức và nhân cách làm người Ngay từ đầu ở bậc Tiểu học trẻ cần phải được học môn chính tả một cách khoa học, cẩn thận để có thể sử dụng công cụ này suốt những năm tháng trong thời kỳ học tập ở nhà trường cũng như trong suốt cả cuộc đời
1.2 Cơ sở thực tiễn
Là trường thuộc vùng sâu vùng xa nên nhiều phụ huynh học sinh còn thiếu hiểu biết về sự nghiệp giáo dục mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang thực hiện nên dẫn đến tình trạng cha mẹ học sinh chưa thật sự quan tâm nhắc nhở con em mình học ở nhà
Mặt khác 100% học sinh trên địa bàn xã Đại Dực là con em dân tộc, do đặc điểm của phương ngữ các em học sinh phát thường phát âm sai lẫn lộn giữa phụ âm đầu (s/x, r/d/gi), thanh sắc/ thanh ngã/ thanh hỏi, dẫn đến các em viết sai
Ngoài ra các em còn mắc nhiều lỗi chính tả vì chưa biết phân biệt hoặc phân biệt lẫn lộn giữa các phụ âm đầu, âm cuối, vần, viết hoa còn tùy tiện nên đành hạ bút ứng phó theo đối sách “ Đọc sao viết vậy ” một cách từng in đậm trong kí ức học sinh
Bên cạnh đó ở lứa tuổi của các em, ý thức tự giác học chưa cao, khả năng ghi nhớ chưa sâu Vì thế qua giờ chính tả tôi nhận thấy những học sinh đọc yếu thường đi kèm với viết sai Tôi chấm bài thấy các em không phân biệt được nghĩa của từ nên dẫn đến viết sai chính tả
Trang 6Thực tế cho thấy việc dạy – học tập đọc trên cả hai đối tượng giáo viên
và học sinh nói chung hiệu quả chưa cao, nhất là kĩ năng viết đúng chính tả, viết đẹp
Trình độ nhận thức và chuyên môn của giáo viên trong trường không đồng đều
Giáo viên chưa thật nhiệt tình đến việc quan tâm và giúp đỡ đến những học sinh viết sai nhiều lỗi chính tả trong một bài viết
Giáo viên phân chia thời gian trong tiết chính tả chưa phù hợp, còn xem nhẹ phần làm bài tập nên dẫn đến học sinh chưa biết phân biệt hoặc phân biệt lẫn lộn giữa các phụ âm đầu, âm cuối, vần, viết hoa còn bừa bãi Còn một số giáo viên phát âm chưa chuẩn xác, còn nặng về tiếng địa phương
Thời gian giáo viên đầu tư nghiên cứu bài dạy còn hạn chế
Khi nghiên cứu vấn đề này tôi tiến hành dự giờ một số tiết chính tả ở các lớp Tôi thấy nhìn chung các đồng chí thực hiện đúng, đầy đủ quy trình lên lớp Song một thói quen của giáo viên là đọc cho học sinh viết bảng con một số từ học sinh dễ viết sai chính tả, mà chưa giúp học sinh hiểu nghĩa của từ
Trong các giờ chính tả giáo viên cần rèn cho học sinh ngoài việc viết đẹp
ra còn cần phải nghe chuẩn, viết chuẩn chính tả
Trang 72 Chương 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu
2.1 Thực trạng
2.1.1 Khảo sát:
Để xây dựng được kế hoạch thực hiện nghiên cứu biện pháp: “Rèn học sinh viết đúng chính tả” cho học sinh của lớp, tôi đã tiến hành khảo sát tình hình thực tế việc viết chính tả của học sinh ngay từ đầu năm học Qua khảo sát đầu năm tôi thống kê học sinh còn mắc lỗi chính tả rất nhiều, có một số học sinh viết sai trên 10 lỗi trong một bài chính tả Cụ thể khảo sát chất lượng môn Tiếng Việt đầu năm trong đó có bài viết chính tả tôi thống kê chất lượng môn chính tả Ở lớp 3A tôi chủ nhiệm như sau:
Trang 8Số lỗi học sinh sai qua bài:
Sau khi có kết quả khảo sát, tôi đã ghi chép lại thật tỉ mỉ, cụ thể tên từng
em học sinh mắc lỗi gì vào sổ theo dõi lớp và lập kế hoạch để đề ra biện pháp rèn cho các em học sinh trong cả năm học
Học sinh viết sai chính tả chủ yếu do các em bị hổng kiến thức căn bản
từ lớp dưới, chưa nắm vững âm, vần, chưa phân biệt được cách phát âm của giáo viên, chưa hiểu rõ nghĩa của từ, chưa có ý thức tự học, tự rèn ở nhà, chưa chú ý khi viết chính tả
Học sinh viết sai chính tả do một số lỗi sau:
+ Lỗi do vô ý, chưa cẩn thận (như thiếu dấu phụ, thiếu dấu thanh)
+ Lỗi về các vần khó (uya, uyu, uênh, oang, oeo, ươu, uyên, uyêt, uêch, oac, oach…)
+ Lỗi do phát âm sai (at/ac, et/ec, an/ang, iu/iêu, iêc/iêt, ươc/ươt, …).+ Lỗi do không hiểu nghĩa của từ (để dành/tranh giành, dở dang/giang sơn, …)
+ Lỗi do không nắm được quy tắc chính tả (g chỉ được ghép với a, ă, â,
o, ô, ơ, u, ư và gh, ngh chỉ ghép với e, ê, i )
Qua thống kê các loại lỗi, tôi thấy học sinh thường mắc các loại lỗi sau:2.1.2.1 Về thanh điệu:
Học sinh chưa phân biệt được thanh điệu: thanh hỏi và thanh ngã; thanh ngã và thanh sắc; thanh huyền và thanh sắc
Trang 9Ví dụ: nghĩ hè (từ đúng: nghỉ hè ); suy nghỉ (từ đúng: suy nghĩ ); sửa lối (từ đúng: sửa lỗi ), buổi chiếu (từ đúng: buổi chiều)…
2.1.2.2 Về âm đầu:
- Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ g/ gh: đua ge, gi bài
+ ng/ ngh: ngỉ nghơi
+ c/ k: céo cờ, cẹp tóc
+ s/ x : sẻ gỗ, chim xẻ.
+ d/ gi: dữ gìn, da vị
Qua thực tế giảng dạy trong một số năm tôi nhận thấy lỗi về phụ âm đầu
s/x ; g/gh; ng/ngh; r/d/gi là phổ biến hơn cả.
2.1.2.3.Về âm chính:
Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:
+ ai/ay/ây: máy bai (máy bay)
+ ao/au/âu: lao bàn ghế (lau bàn ghế)
+ oe/eo: sức khẻo (sức khỏe)
+ ăm/âm: đỏ thấm (đỏ thắm); tối tâm (tối tăm)
+ an/ang: cái bàng (cái bàn)
+ ăt/ăc: mặt quần áo (mặc quần áo)
+ ăn/ăng: khăng quàng (khăn quàng)
+ ât/âc: gậc đầu (gật đầu)
+ ân/âng: vân lời (vâng lời)
+ êt/êch: lệch bệt (lệt bệt)
+ ên/ênh: bện tật (bệnh tật)
Trang 10+ iêt/iêc: thiếc tha (thiết tha).
+ in/inh: nhình ( nhìn)
+ uôn/uông: mong muống (mong muốn)
+ uôt/uôc: suốc đời (suốt đời)
+ ươn/ương: vường rau (vườn rau)
2.1.2.5 Lỗi viết hoa:
Đây là loại lỗi phổ biến và trầm trọng nhất trong các bài viết của các em, trong tất cả bài viết của học sinh trong lớp thì chỉ có một em duy nhất không sai lỗi nào đó là em: Chíu Thị Năm
Lỗi viết hoa của các em thường gặp ở 2 dạng:
• Không viết hoa đầu câu, danh từ riêng (tên riêng), tên địa danh:
Ví dụ: Dạy Chính tả (Nghe - viết): Chiếc áo len - Viết đoạn 4 (TV3-T1, tr.20)
Câu: Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá Học sinh
viết: “Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, lan ân hận quá”
• Viết hoa tùy tiện: có 2/8 em
Ví dụ: Nghe – viết: Người mẹ (TV3 - Tập 1), tr.30
- Câu: Thần không hiểu rằng: vì con người mẹ có thể làm được tất cả
Học sinh lại viết: “Thần không hiểu rằng: Vì con, Người Mẹ có thể làm được tất
cả”
Ngoài ra ở một số bài viết, học sinh trong lớp còn mắc các lỗi khác như:
Trình bày chưa sạch, chữ viết còn thiếu nét, thừa nét (ví dụ: “mềm” lại viết là
“mền”; “miền Nam” lại viết “miềm Nam”).
Qua khảo sát thống kê tôi thấy hầu hết các loại lỗi chính tả các em đều mắc (kể cả học sinh khá, giỏi) số lỗi mà các em mắc nhiều nhất là lỗi viết hoa, lỗi phụ âm đầu, lỗi do ngọng dấu thanh và lỗi âm chính So với yêu cầu về kĩ năng viết chính tả (không quá 5 lỗi trong một bài) thì trình độ kĩ năng viết chính
tả của học sinh còn quá thấp (số bài có từ 6 lỗi trở lên chiếm 50 %: khảo sát chính tả đầu năm)
Thực trạng trên đây là rất đáng lo ngại đòi hỏi mỗi chúng ta cần phải nghiên cứu và tìm ra nhiều giải pháp giúp đỡ các em khắc phục lỗi chính tả
Trang 112.2 Các giải pháp:
2.2.1 Bồi dưỡng nâng cao nhận thức:
Qua kinh nghiêm một số năm giảng dạy, tôi thấy rõ: đặc điểm của học sinh tiểu học là hay bắt chước giọng đọc của cô các em nhất mực đọc theo cô, bởi các em nghĩ: cô giáo là người rất giỏi, cái gì cô cũng biết, lúc nào cô cũng nói đúng, vì vậy cô đã nói, đã viết là chuẩn Nhưng thực tế lại không phải như vậy: một số giáo viên còn bị ảnh hưởng nhiều của tiếng địa phương, còn hay ngọng dấu thanh ~ \ /
Nếu giáo viên không để ý rèn luyện bản thân mình thường xuyên thì khi đọc trong tiết tập đọc sẽ không chuẩn, mà như vậy thì sẽ dẫn đến học sinh đọc sai rồi viết cũng sai
Việc viết mẫu của cô giáo cũng chính là hình mẫu về kĩ năng viết mà học sinh cần đạt được Vì vậy muốn viết mẫu thật chuẩn để học sinh có thể học được cách viết của cô giáo thì người giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài đọc, luyện viết chữ thật chuẩn, gây hứng thú, lôi cuốn các em Nếu giáo viên viết mẫu tốt thì học sinh sẽ háo hức, thích thú học các giờ chính tả Đó cũng là tiền đề để khuyến khích học sinh viết chuẩn chính tả, viết đẹp hơn
Để việc dạy học chính tả đạt hiệu quả ngay từ khi các em mới bắt đầu làm quen với Tiếng Việt, giáo viên cần hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các qui tắc chính tả, qui tắc kết hợp từ, qui tắc ghi âm chữ quốc ngữ và cung cấp cho các
em một số mẹo luật chính tả,…
Để dạy tốt người giáo viên cần phải không ngừng học hỏi, tham khảo ở sách, báo và kinh nghiệm của anh chị đồng nghiệp; tự tìm hiểu, nghiên cứu để nâng cao trình độ tay nghề, cần phải có kiến thức về ngữ âm học, từ vựng học, ngữ nghĩa học, tra “từ điển” các tài liệu có liên quan đến chính tả Nắm vững phương pháp đặc trưng của phân môn Chính tả, kết hợp linh hoạt các phương pháp giảng dạy sao cho sát hợp với từng đối tượng học sinh của lớp mình
2.2.2 Luyện kĩ năng thực hành:
Khi tổ chức các hoạt động thực hành luyện tập, giáo viên lựa chọn hình thức luyện tập phù hợp với từng đối tượng học sinh và phù hợp với từng nội
Trang 12dung bài tập nhằm tạo hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học.
Trong quá trình học sinh làm bài, giáo viên quan sát cá nhân học sinh, nhóm học sinh để đôn đốc hướng dẫn và biết được những bài làm sai để tổ chức cho học sinh nhận xét và sửa chữa Đối với các dạng bài tập khó, giáo viên nên
tổ chức cho học sinh luyện tập dưới hình thức trò chơi hoặc thảo luận nhóm thì hiệu quả và việc sửa chữa tối ưu hơn cả
Qua kinh nghiệm thực tế giảng dạy của tôi, tôi xin mạnh dạn đưa ra một vài giải pháp cụ thể để giúp học sinh luyện kĩ năng thực hành như sau:
Giải pháp 1: Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập có âm đầu:
*âm đầu s/ x:
Vào thời gian tuần 1, tôi phát hiện những em phát âm chưa rõ, chưa chính xác, tôi kịp thời luyện tập và uốn nắn ngay:
Ví dụ: Dạy bài tập đọc: “Cậu bé thông minh” – ( Tuần 1)
Tôi luyện cho các em đọc câu ở đoạn đầu: “Ngày xưa có một ông vua muốn tìm người tài ra giúp nước”
Có em đọc: “Ngày sưa có một ông vua muốn tìm người tài ra giúp
nước” (Đọc sai âm đầu: xưa/ sưa).
Nếu các em đọc sai âm đầu nghĩa của nó sẽ khác đi Đọc như vậy khi viết chính tả sẽ viết sai
Sau đó tôi phân tích cho các em hiểu nghĩa xưa và sưa:
Xưa: đã quá lâu (ngày xưa, thuở xưa, đời xưa, …)
Sưa: thưa (răng thưa) Hiểu nghĩa khác: say sưa
Ví dụ: Dạy bài chính tả: “Cô giáo tí hon” ( Tuần 2)
Sau bài viết tôi cho học sinh thực hiện bài tập 2a):
+ Tìm những tiếng có thể ghép với mỗi tiếng sau:
- xét, sét
- xào, sào
- xinh, sinh
Trang 13Đa số học sinh còn nhầm lẫn giữa s và x Tôi cho học sinh tìm tiếng ghép với tiếng đã cho:
xét: xét xử, xem xét, xét đơn, xét việc, xét nhà, lục xét, khám xét, …
sét: sấm sét, tiếng sét, đất sét, rỉ sét
xào: rau xào, xào xáo, …
sào: sào phơi áo, một sào đất, …
xinh: xinh đẹp, xinh tươi, xinh xẻo, xinh xắn, xinh xinh, …
sinh: ngày sinh, sinh sống, sinh sản, sinh dưỡng, sinh hoạt, …
Sau đó cho các em hiểu nghĩa của từng từ đã ghép được
Ví dụ: Dạy bài: “Trên đường mòn Hồ Chí Minh” – (Tuần 20) có bài tập sau:
+ Điền vào chỗ trống s hay x ?
Ví dụ: Dạy bài: Ai có lỗi (Tuần 2)
- Khi đọc cho các em viết câu: Cơn giận lắng xuống
Có nhiều em viết : Cơn giận nắng xuống
Tôi đã giúp các em hiểu nghĩa của từ
- Lắng 1: Chìm cặn, bã xuống đáy
- Lắng 2: để tai nghe rõ
- Nắng : ánh sáng mặt trời
Trang 14+ Bài tập: Điền vào chỗ trống n hay l
Hoa …ựu …ở đầy một vườn đỏ ắng
…ũ bướm vàng …ơ đãng …ướt bay qua
Giúp các em hiểu được nghĩa của từ cần điền ( Hoa lựu, nở, nắng,lũ bướm,
lơ đãng, lướt bay)
- Lơ 1: Người phụ xế xe hơi
- Lơ 2: làm bộ không để ý tới
- Nơ: vật trang sức thắt nút hình con bướm
* có âm đầu tr/ ch:
Ví dụ: Dạy bài: Về quê ngoại ( TV 3 T1/ 133 - tuần 16)
Trong bài có chữ: “trăng” học sinh viết là “chăng”; “tre” học sinh viết là
“che”
Giúp các em hiểu nghĩa của từ chăng/ trăng
+ Chăng 1: kéo lớn dài ra
+ Chăng 2: sao, thế nào
+ Trăng: vệ tinh xoay quanh quả đất
+ Trăng: gông làm bằng hai tấm gỗ ghép lại với nhau có lỗi khoét lỗ để đút cổ tội nhân vào
+ Trăng: Trăng hoa,trăng mật, trăng non,trăng trắng,trăng trói
+ Tre: loại cây nhỏ cao, ruột rỗng có nhiều đốt
+ Che: làm cho khuất, cho kín
+ Tre : Tre gai, tre già, tre pheo,…
+ Che: che chở, che đậy,che mắt ,che phủ
* Có âm đầu d/ r/gi:
Ví dụ: Dạy bài: Tiếng ru ( TV 3/ T1 - tuần 7 - 68)
Bài tập 2a: Tìm từ chứa tiếng bắt đầu bằng d/r/gi
- Làm chín vàng thức ăn trong dầu, mỡ sôi
+ Dán: gắn với nhau bằng một chất dính
+ Rán: để thức ăn vào chảo vào soong có mỡ mà chiên
+ Gián: loại côn trùng
Trang 15+ Gián: lấy lời phải trái mà khuyên can
+ Gián: cách biệt, do thám, cãi lại, …
+ Gián: gián cách, gián điệp, gián thu,…
Giải pháp 2: Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập có vần dễ nhầm lẫn: eo/ oeo; ui/ uôi; iêc/ iêt.
Ví dụ: Dạy bài: “Nhớ lại buổi đầu đi học” – ( Tuần 6)
Bài tập: Điền vào chỗ trống eo hay oeo?
- nhà ngh `, đường ngoằn ng…, cười ngặt ngh…~, ng… đầu
Cho học sinh hiểu nghĩa của các từ trên giúp học sinh điền đúng (nhà
nghèo, đường ngoằn ngoèo, cười ngặt nghẽo, ngoẹo đầu).
Giúp học sinh nhớ lại qui tắc chính tả đã được học ở lớp dưới
ngh: được ghép với các âm nào? (e, ê, i) và không được ghép với các âm nào? ( a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư)
Từ đó các em điền được (nhà nghèo, cười ngặt nghẽo) Nếu các em điền: nhà ngèo, cười ngặt nghoẽo (sai qui tắc chính tả)
ng: được ghép với các âm nào? (a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư) và không được ghép với các âm nào? (e, ê, i)
Các em nắm được qui tắc và điền đúng (ngoằn ngoèo, ngoẹo đầu) chứ không thể điền: ngoằn ngèo, ngẹo đầu (sai qui tắc chính tả)
Có thể cho học sinh thi đua tìm thêm các từ:
Có vần eo: (lẻo khoẻo, tí tẹo, dẻo dai, nẻo đường… )
Có vần oeo: khoèo chân, ngoéo tay, ngoắt ngoéo, ngoặt ngoẹo, …
Ví dụ: Dạy bài: “Hũ bạc của người cha” – ( Tuần 15)
Bài tập: Điền vào chỗ trống ui hay uôi ?
Trang 16- Giúp học sinh hiểu nghĩa và điền đúng (mũi dao, con muỗi, hạt muối, múi bưởi;
- núi lửa, nuôi nấng, tuổi trẻ, tủi thân).
Cho học sinh tìm thêm từ mới khác với từ đã cho:
+ mũi: mũi thuyền, mũi súng, mũi kiếm, mũi tên, mũi đất, …; nghĩa khác:
lỗ mũi, mũi dãi, mũi miệng, …
+ muỗi: muỗi mòng, xông muỗi, …
+ muối: sương muối, muối tiêu, vựa muối, …
+ múi: múi giờ, múi tỏi, …
+ núi: núi non, núi cao, …
+ nuối: nuối tiếc, tiếc nuối, …
+ nuôi: nuôi con, con nuôi, …( không có tiếng nui )
+ tuổi: tuổi tác, tuổi đời, sống trăm tuổi, …
+ tủi: buồn tuỉ, tủi phận, tức tủi, …
Ví dụ: Dạy bài: “Hai Bà Trưng” ( Tuần 19 - Giáo án tiết dạy thực nghiệm)
Bài tập: Điền vào chỗ trống iêt hay iêc?
- Học sinh thi đua tìm các từ ngoài bài học:
+ biệt: biệt tích, biệt tăm, biệt dạng, biệt hiệu, …
+ tiếc: tiếc nuối, tiếc thương, …
+ biếc: xanh biếc, nước biếc, …
Qua suốt quá trình dạy học chính tả ở HKI, bản thân tôi luôn cho học sinh làm quen với cách học tìm các từ có âm, vần dễ nhầm lẫn có liên quan đến bài viết, học sinh có thói quen tự tìm ra các từ mới để dần dần viết đúng chính tả hơn trong các bài tập chính tả
Trang 17Giải pháp 3: Giúp học sinh viết đúng chính tả thông qua các bài tập sử dụng trò chơi học tập
Trò chơi học tập là một hoạt động nhằm thu hút học sinh hứng thú học tập sau một giờ học căng thẳng Vì vậy tôi thường tổ chức trò chơi học tập cuối giờ học chính tả, thường có nội dung sát với chủ đề bài tập tránh sự nhàm chán cho các em
Ví dụ: Tự tìm tiếng, từ có âm đầu s/x
Thi tìm nhanh những tiếng, từ có âm đầu s/x hoặc các tiếng, từ có vần khó như uêch, uya, en/oen, oai/oay, … cho các đội chơi cùng trình độ thi tiếp sức, viết các từ có vần khó do giáo viên yêu cầu Có thể cho các em đặt câu với
từ vừa tìm được để hiểu nghĩa của từ nhằm khắc sâu kiến thức đã học
Ví dụ: Em bé nhoẻn miệng cười.
Bác Tư cứ loay hoay bên chiếc máy tuốt lúa.
Thi tìm cặp từ có thanh hỏi, thanh ngã
Ví dụ: năm chữ cái: trong, ngoài, khuỷu, khuya, …
Sáu chữ cái: khuyên, truyện, chuyển, thưởng, trường, …
Bảy chữ cái: nghiêng
Trò chơi: Điền Đ hoặc S vào ô trống
Trang 18Giải pháp 4: Luyện phát âm
Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho mình và cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính,
âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau Nếu giáo viên chưa phát âm chuẩn, do ảnh hưởng của cách phát âm ở địa phương, sinh ra và lớn lên trong môi trường phát âm như vậy nên các em cũng có thói quen phát âm sai dẫn đến hiện tượng viết sai chính tả
Ví dụ: lá cây - đá cây; cái vung - cái bung, mắc lỗi - lối… Giáo viên phải phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng chính tả
Giải pháp 5: Phân tích so sánh
Song song với việc luyện phát âm cho học sinh, khâu phân tích so sánh tiếng, từ cũng rất quan trọng trong giờ học chính tả: với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh Với những tiếng dễ lẫn lộn, giáo viên cần nhấn mạnh những điểm khác để học sinh ghi nhớ
Ví dụ : Dạy bài Chính tả (Tập chép): Cậu bé thông minh – Tiếng Việt 3
- Tập 1, trang 4
Cho học sinh nhìn bảng viết đoạn 3: từ “Hôm sau …đến xẻ thịt chim” Trước khi viết bài, giáo viên phân tích cho học sinh hiểu nghĩa một số tiếng dễ lẫn lộn như:
+ rèn ≠ rằn Giúp học sinh hiểu nghĩa rèn trong câu là làm cho con dao sắc bén còn rằn là rằn ri Nếu học sinh khó hiểu có thể cho học sinh đặt câu để hiểu rõ hơn (Mẹ tôi rèn chiếc dao này thật bén – Cu Tuấn mặc bộ đồ rằn đỏ).
+ sắc ≠ sắt: sắc là sắc bén còn sắt là thanh sắt (vật kim loại).
+ xẻ (thịt chim) ≠ sẻ: xẻ là mổ xẻ, bổ ra còn sẻ là chim sẻ, san sẻ.
Qua phần bài tập: Điền vào chỗ trống vần an hay ang?
Trang 19- đàng hoàng ≠ đàn (tiếng đàn)
- đàn ông ≠ đàng (đường)
- sáng loáng ≠ sán (sán: giun, lãi) nghĩa khác là tiến đến gần
Dạy bài: Nghe - viết: Ông ngoại - (Tiếng Việt 3 - Tập 1, tr.34) - Chép
đoạn 3 Trong đoạn viết có câu: “Trong cái vắng lặng của ngôi trường cuối hè,
…trong đời đi học của tôi sau này”
Khi viết tiếng “lặng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “lặn”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- Lặng = L + ăng + thanh nặng
- Lặn = L + ăn + thanh nặng
So sánh để thấy sự khác nhau, tiếng “lặng” có âm cuối là “ng” còn tiếng
“lặn” có âm cuối là “n” Học sinh ghi nhớ cách phát âm và cách viết sẽ không viết sai
Giải pháp 6: Giải nghĩa từ:
Do phương ngữ của từng vùng miền khác nhau, cách phát âm đôi khi chưa thống nhất với chữ viết nên học sinh cần nắm rõ nghĩa của từ để viết cho đúng
Ví dụ: Dạy Chính tả (Tập chép): Chị em - (Tiếng Việt 3 - Tập 1, tr.27)
Học sinh viết: Để chị trải chiếu, buông màn cho em
Học sinh đọc “buôn màn” nhưng viết “buông màn”, do đó học sinh cần hiểu
“buông” có nghĩa là thả màn xuống, còn “buôn” là buôn bán vì vậy phải viết là
“buông màn”
Dạy Chính tả (Nghe – viết): Người mẹ (Tiếng Việt 3 – Tập 1, tr.30)
Nội dung viết: Nhờ Thần Đêm Tối chỉ đường, bà vượt qua bao nhiêu khó khăn,
hi sinh cả đôi mắt của mình để giành lại đứa con đã mất
Học sinh đọc “dành” nhưng viết “giành” Giáo viên giúp học sinh hiểu
nghĩa: giành là tranh giành, giành phần hơn về mình còn dành là để dành (dành
dụm, dỗ dành)
Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết chính tả khi
Trang 20mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh Giáo viên chú giải từ mới ở phân môn Tập đọc kết hợp đặt câu Nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ; tìm từ cùng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh,… Với những từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa từ.
Giải pháp 7: Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả:
Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như các âm đầu: k, gh, ngh chỉ kết hợp với âm i, e, ê và âm g chỉ kết hợp với : a, ă, â,
o, ô, ơ, u, ư Giáo viên còn có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như sau:
- Phân biệt âm đầu s/x : Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt
đầu bằng s (sắn, sung, sầu riêng, sứ, sả, sim, sậy, …; sáo, sên, sâu, sán, sóc, sói,
sư tử,…)
- Phân biệt âm đầu tr/ch : Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch (chổi, chum, chén, chảo, chai, chày, chăn, chiếu,…; chó, chuột, châu chấu, chuồn chuồn, chào mào, chiền chiện,…)
- Luật trầm – bổng (luật hỏi – ngã trong từ láy) :
Có thể cho học sinh học thuộc hai câu thơ sau:
Chị Huyền mang Nặng Ngã đau
Anh Ngang, Sắc thuốc Hỏi đau chỗ nào.
Nghĩa là: Thanh Huyền, Nặng, Ngã kết hợp với dấu Ngã
Thanh Ngang, Sắc, Hỏi kết hợp với dấu Hỏi
+ Huyền – Hỏi: vui vẻ, nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo,…
+ Sắc – Hỏi: vắng vẻ, mát mẻ, nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vất vả,…
Trang 21+ Hỏi – Hỏi: hổn hển, lỏng lẻo, thỏ thẻ, thủ thỉ, rủ rỉ,…
Cũng có thể cung cấp thêm cho học sinh mẹo luật sau:
Từ có âm đầu là M, N, Nh, V, L, D, Ng thì viết là dấu ngã (Mình Nên Nhớ Viết Là Dấu Ngã)
Ví dụ: M: mĩ mãn, mã lực, từ mẫu, cần mẫn,…
+ N: nỗ lực, trí não, truy nã, nữ giới,…
+ Nh: nhẫn nại, nhẵn bóng, quấy nhiễu, nhõng nhẽo,…
+ V: vĩnh viễn, vỗ về, vũ trang, võ nghệ, vũ trụ,…
+ L: lễ phép, lữ hành, kết liễu, thành lũy, lạnh lẽo, …
+ D: dã man, dã tràng, dũng cảm, dỗ dành, hướng dẫn, diễm lệ,…
+ Ng: ngưỡng mộ, hàng ngũ, ngữ nghĩa, ngôn ngữ, ngỡ ngàng, ngã (té),
Ngoài 7 âm đầu trên các từ Hán Việt đều viết dấu hỏi:
Ví dụ: ảm đạm, ẩm thực, ủy ban, quỷ quyệt, xả thân, kỉ niệm, tỉ mỉ, Ngoại lệ: quỹ đạo, thủ quỹ, xã hội, kĩ thuật, mĩ thuật,…
Giải pháp 8: Giúp học sinh viết đúng chính tả qua việc làm nhiều dạng bài tập
Các dạng bài tập chính tả thường gặp ở lớp 3 trong học kì I là các dạng bài: Bài tập điền vào chỗ trống (Bài tập điền khuyết); Bài tập tìm từ; Bài tập tìm tiếng; Bài tập giải câu đố; Bài tập lựa chọn Sang học kì II có thêm dạng Bài tập đặt câu (Bài tập phân biệt hai từ trong từng cặp từ)
Mỗi bài viết chính tả giáo viên cần luyện học sinh phát âm từ khó, phân tích so sánh tiếng, từ khó, giải nghĩa từ, ghi nhớ mẹo luật chính tả Ngoài nhiệm
vụ trên giáo viên còn hướng dẫn học sinh làm các bài tập khác nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp các em rút ra các qui tắc chính tả để ghi nhớ
a Bài tập điền vào chỗ trống: Với dạng bài tập này thường giúp học sinh điền đúng âm đầu, vần vào chỗ chấm:
Ví dụ: Bài tập 2 a) - Tiếng Việt 3, Tập 1, tr 22
Điền vào chỗ trống tr hay ch ?
Trang 22Cuộn …òn, …ân thật, chậm …ễ
Bài tập 3a) - Tiếng Việt 3, Tập 1, tr.48
Điền vào chỗ trống s hay x ?
Giàu đôi con mắt, đôi tay
Tay …iêng làm lụng, mắt hay kiếm tìm
Hai con mắt mở, ta nhìn
Cho sâu, cho …áng mà tin cuộc đời
Ví dụ: Dạy Chính tả (Nghe - viết): Ông ngoại (đoạn 3) - Tiếng Việt 3,
Tập 1, tr 35
Nội dung viết: Ông còn nhấc bổng tôi trên tay, cho gõ thử vào mặt da loang lổ của chiếc trống trường
Một số học sinh viết sai lỗi “da” viết là “gia”, cũng có em viết là “ra”
Tôi phân biệt cho các em biết nghĩa của hai từ da và gia: da viết là d – với các nghĩa có liên quan tới “da thịt”, trong “da diết”; còn gia viết là gi trong các
trường hợp còn lại, với các nghĩa là “nhà” (ví dụ: gia đình), chỉ người có học vấn, chuyên môn (ví dụ: chuyên gia), nghĩa khác (gia vị, gia súc,…) Sau phần bài viết tôi tự ra bài tập để các em hiểu thêm Nội dung bài tập như sau:
Điền vào chỗ trống r, d hay gi ?
- …a vào; …a dẻ;…a đình
- …a rả; …a thịt, tham …a
Điền vào chỗ trống en hay eng ? (BT 2b - Tiếng Việt 3, tập 1, tr 41)
Điền vào chỗ trông iên hay iêng ? (Bài tập 2b – TV3, Tập 1, tr 56)
Trên trời có g… nước trong
Con k… chẳng lọt, con ong chẳng vào
Điền vào chỗ trống en hay oen ? (Bài tập 2 – TV3, Tập 1, tr 60)
Trang 23- nhanh nh ., nh… miệng cười, sắt h….gỉ, h nhát.
b Bài tập tìm từ:
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi
ý từ cùng nghĩa, trái nghĩa:
Bài tập 3a) - Tiếng Việt 3, Tập 1, tr 52
Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng s hoặc x có nghĩa như sau:
- Cùng nghĩa với chăm chỉ : …
- Trái nghĩa với gần : …
- (Nước) chảy rất mạnh và nhanh : …
Bài tập 3b) - Tiếng Việt 3, Tập 1 tr 31
Tìm các từ chứa tiếng có vần ân hoặc âng có nghĩa như sau:
- Cơ thể của người: …
- Cùng nghĩa với nghe lời: …
- Dụng cụ đo trọng lượng (sức nặng): …
c Bài tập tìm tiếng:
Bài tập 2b) - Tiếng Việt 3,Tập 1, tr 18
Tìm những tiếng có thể ghép với mỗi tiếng sau:
- khăn: khăn tay, khăn quàng, cái khăn,…
- khăng: khăng khăng, khăng khít,…
d Bài tập giải câu đố:
Bài tập 2b) - Tiếng Việt 3, Tập 1, tr 22
Đặt trên chữ in đậm dấu hỏi hay dấu ngã ? Giải câu đố sau: