1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

biển đông. t.1, khái quát về biển đông

316 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 316
Dung lượng 30,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, trong thời gian từ năm 2000 tới nay, nhiều hoạt động điều tra nghiên cứu biển nước ta và khu vực Biển Đông đã được bổ sung, làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề về điều kiện tự nhiên

Trang 2

LỜI TỰA CHO LẦN XUẤT BẢN THỨ HAI

Bộ sách Chuyên khảo “Biển Đông” (4 tập) được xuất bản lần thứ

nhất vào năm 2003, do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành Tuy nhiên, do điều kiện hạn chế lúc đó, sách đã không thể xuất bản với số lượng đủ lớn để có thể đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng vào thời gian đó Mặt khác, trong thời gian từ năm

2000 tới nay, nhiều hoạt động điều tra nghiên cứu biển nước ta và khu vực Biển Đông đã được bổ sung, làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề

về điều kiện tự nhiên của vùng biển Việt Nam và kế cận, đặc biệt là các vấn đề về địa chất, địa vật lý, khoáng sản biển, về nguồn lợi hải sản vùng biển khơi xa bờ, các vấn đề về sinh thái, môi trường biển

Để đáp ứng yêu cầu về tư liệu biển, góp phần thực hiện Chiến lược biển của Nhà nước ta trong giai đoạn mới, Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho xuất bản lần thứ hai bộ Chuyên khảo “Biển Đông” Sách được xuất bản lần này, về cơ bản vẫn giữ nguyên cấu trúc nội dung như lần xuất bản thứ nhất, nhưng có sự sửa chữa những sai sót về

kỹ thuật và nội dung của sách trong lần xuất bản trước, đồng thời, chú trọng cập nhật các tư liệu mới đã có được từ sau khi sách được xuất bản năm 2003

Chúng tôi hy vọng lần xuất bản thứ hai này sẽ đáp ứng được đầy đủ hơn nhu cầu sử dụng hiện nay, cũng như phần nào nâng cao thêm chất lượng sách, đáp ứng với tình hình mới

Các tác giả

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Hoạt động điều tra khảo sát biển ở nước ta thực sự được tiến hành từ những năm 20 của thế k ỷ XX, với sự thành lập Viện Hải dương học ở Nha Trang vào năm 1922 Trải qua nhiều giai đoạn của tình hình đất nước, công cuộc điều tra nghiên cứu biển vẫn được tiếp tục thực hiện và phát triển với quy mô ngày càng mở rộng, trình

độ ngày càng được nâng cao, với sự tham gia của các ngành, các địa phương trong cả nước và cả với sự hợp tác của nước ngoài và các tổ chức quốc tế, nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động phát triển kinh tế biển, quản lý và bảo vệ chủ quyền, tài nguyên môi trường biển trong từng giai đoạn

Trong các hoạt động khoa học công nghệ về biển trong thế kỷ vừa qua, đặc biệt là từ năm 1975 sau khi chiến tranh kết thúc, đất nước đã được thống nhất, bên cạnh các hoạt động điều tra khảo sát nghiên cứu ở các ngành, đáng chú ý là các hoạt động của các chương trình điều tra nghiên cứu biển cấp Nhà nước được tổ chức thực hiện theo từng kế hoạch 5 năm từ 1977 đến 2000, với nhiệm vụ

tổ chức thực hiện các vấn đề khoa học công nghệ biển trọng điểm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng biển trong từng giai đoạn và lâu dài của nước ta Khối lượng tư liệu kết quả điều tra nghiên cứu biển qua hơn 20 năm của các chương trình này là rất lớn, cùng với các nguồn tư liệu khác của các ngành trong giai đoạn này, đã cho ta những hiểu biết rất cơ bản về các vấn đề điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên biển chủ yếu của biển nước ta

Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển, quản lý biển, bảo vệ chủ quyền, tài nguyên môi trường biển nước ta ngày càng cao, Ban Chỉ đạo Chương trình điều tra nghiên cứu biển cấp Nhà nước KHCN - 06 giai đoạn 1996-2000, đã tổ chức biên soạn bộ chuyên

khảo "BIỂN ĐÔNG" nhằm tập hợp, chỉnh lý và công bố các kết

quả điều tra nghiên cứu biển ở nước ta trong các giai đoạn vừa qua cho tới năm 2000 để đưa vào sử dụng Trước hết, là kết quả của các chương trình điều tra nghiên cứu biển cấp Nhà nước từ 1977 đến

2000, trong đó bao gồm Chương trình Thuận Hải - Minh Hải 1980), Chương trình biển 48 - 06 (1981-1985), Chương trình biển

Trang 4

(1977-48 - B (1986-1990), Chương trình biển KHCN - 06 (1996-2000), có khảo sát, bổ sung thêm các tư liệu kết quả điều tra nghiên cứu khác

đã được công bố ở các ngành, các cơ quan, với mong muốn bộ

chuyên khảo "BIỂN ĐÔNG" phản ánh được đầy đủ các kết quả chủ

yếu của hoạt động điều tra nghiên cứu biển nước ta trong các giai đoạn vừa qua cho tới năm 2000

Phù hợp với tính chất của các quá trình biển, các vấn đề về điều kiện tự nhiên biển, đặc biệt là về khí tượng, thủy văn, động lực biển, địa chất - địa vật lý biển… được trình bày trong chuyên khảo này trên phạm vi toàn biển Đông, trong khi các vấn đề khác, đặc biệt là các vấn đề sinh học, sinh thái, tài nguyên biển… chủ yếu được trình bày trong phạm vi vùng biển Việt Nam, tới nay đã được điều tra khảo sát nhiều hơn

Bộ chuyên khảo "BIỂN ĐÔNG" gồm 4 tập:

Tập I: Khái quát về Biển Đông

(Chủ biên: GS TS Lê Đức Tố) Tập II: Khí tượng, thủy văn, động lực biển

(Chủ biên: GS TSKH Phạm Văn Ninh) Tập III: Địa chất - địa vật lý biển

(Chủ biên: PGS TSKH Mai Thanh Tân) Tập IV: Sinh vật và Sinh thái biển

(Chủ biên: GS TSKH Đặng Ngọc Thanh) Tổng biên tập: GS TSKH Đặng Ngọc Thanh

Việc biên soạn do Ban Chỉ đạo Chương trình biển KHCN - 06 chủ trì đã được sự hưởng ứng và tham gia nhiệt tình của đông đảo cán bộ khoa học biển ở nước ta, cố gắng tập hợp được đầy đủ nhất, đạt được độ tin cậy cao nhất có được hiện nay về các vấn đề chủ yếu về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên biển nước ta, vận dụng các phương pháp lý thuyết hiện đại trong xử lý, phân tích

tư liệu, nhằm đảm bảo chất lượng cao của tài liệu, đáp ứng yêu cầu

sử dụng hiện nay

Với quy mô, nội dung và yêu cầu về chất lượng của tài liệu nói

trên, bộ chuyên khảo "BIỂN ĐÔNG" có thể coi như tài liệu tổng

Trang 5

kết lại, đánh dấu một giai đoạn của công cuộc điều tra nghiên cứu biển, phát triển khoa học công nghệ biển nước ta trong thế kỷ XX vừa qua và sẽ được tiếp tục bổ sung, hiệu chỉnh, mở rộng trong giai đoạn tới

BAN CHỈ ĐẠO

Chương trình biển KHCN - 06

MỞ ĐẦU

"Khái quát về Biển Đông" là tập I trong bộ chuyên khảo "BIỂN

ĐÔNG" (4 tập) do Ban Chỉ đạo Chương trình điều tra nghiên cứu

biển cấp Nhà nước KHCN - 6 (1996-2000) tổ chức biên soạn

Tập I giới thiệu những thông tin chung về Biển Đông, đề cập một cách khái quát tới các vấn đề cơ bản, nêu lên những đặc trưng chủ yếu của điều kiện tự nhiên, tài nguyên môi trường của Biển Đông và vùng biển Việt Nam Tham gia biên soạn từng phần có các tác giả GS TS Lê Đức Tố, TS Hoàng Trọng Lập (Giới thiệu về Biển Đông) GS TSKH Lê Như Lai, GS TSHK Lê Đức An, TSKH Nguyễn Biểu (Địa chất - Địa mạo), GS TSKH Đặng Ngọc Thanh (Đời sống sinh vật), GS TS Lê Đức Tố, GS TSKH Nguyễn Ngọc Thụy (Khí tượng - Thủy văn) Tái bản lần này các tác giả bổ sung một số thông tin tối cần thiết đảm bảo tính hệ thống của vấn đề

và hoàn thiện nội dung xuất bản theo sự góp ý của độc giả

Tập thể tác giả hi vọng tập sách này sẽ cung cấp cho người đọc những hiểu biết khái quát về Biển Đông và vùng biển Việt Nam tốt hơn đáp ứng phần nào yêu cầu học tập, nghiên cứu hiện nay Nội dung chuyên sâu của từng vấn đề trên đây sẽ được trình bày trong

các tập II, III, IV của bộ chuyên khảo "BIỂN ĐÔNG" này

Với những điều kiện còn hạn chế về tư liệu cũng như công việc biên soạn, tài liệu không tránh khỏi những khiếm khuyết trong nội dung và trình bày, rất mong được sự góp ý của người sử dụng

Các tác giả

Trang 6

GIỚI THIỆU VỀ BIỂN ĐÔNG

1 Điều kiện tự nhiên

Biển Đông nằm ở phía tây của Thái Bình Dương, là một biển tương đối kín được bao bọc bởi đảo Đài Loan, quần đảo Philippin ở phía đông, các đảo Indonesia (Borneo, Sumatra) và bán đảo Malaysia ở phía nam và đông nam, bán đảo Đông Dương ở phía tây

và lục địa nam Trung Hoa ở phía bắc Theo định nghĩa của Ủy ban Thủy văn quốc tế, đường ranh giới cực bắc của Biển Đông là đường nối điểm cực bắc của đảo Đài Loan đến Thanh Đảo lục địa Trung Hoa, gần vị trí vĩ độ 25010'N, ranh giới phía cực nam của biển là vùng địa hình đáy bị nâng lên giữa đảo Sumatra và Borneo (Kalimantan) gần vĩ độ 3000'S (hình 1) Diện tích Biển Đông khoảng 3.400.000km2∗, độ sâu trung bình khoảng 1.140m và độ sâu cực đại khoảng 5.016m

Tên quốc tế của Biển Đông là “the South China Sea” được đặt theo nguyên tắc quốc tế, dựa vào vị trí địa lý tương đối gần nhất của một lục địa tiếp giáp lớn nhất Biển Đông nằm phía nam lục địa Trung Hoa không thuộc quyền sở hữu riêng của một quốc gia nào Các vùng biển chủ quyền của các quốc gia ven biển được quy định theo Công ước của LHQ về luật biển năm 1982 và tập quán quốc gia, quốc tế Nhân dân Việt Nam vẫn gọi Biển Đông theo tên truyền thống, gắn liền với lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và đấu tranh giữ nước, với huyền thoại và văn hoá dân tộc Biển Nam Trung Hoa hay Biển Đông đã được ghi trong cuốn "Dư địa chí" Nguyễn Trãi, năm 1435 [2] thời vua Lê Thánh Tông Ngày nay địa danh Biển Đông được viết hoa trang trọng trong các văn bản chính thức của Nhà nước Việt Nam Biển Đông có 9 quốc gia ven biển là Việt

Biển Địa Trung Hải S = 2.965.500 km 2 , h TB = 1.500m; h max = 5.092m

Biển Hắc Hải S = 423.000 km 2

Biển Caribbean S = 2.640.000 km 2 ; h max = 7.100 m

Nguồn: the Encyclopedia of oceanography Edit by Rhodes W, 1966

Trang 7

Nam, Trung Quốc, Philippin, Indonesia, Brunây, Malaysia, Singapor, Thái Lan và Campuchia

Biển Đông có khả năng trao đổi nước với các biển và các đại dương lân cận qua các eo biển Phía tây nam Biển Đông giao lưu với Ấn Độ Dương qua eo biển Karimatan và eo biển Malaca Phía bắc và phía đông Biển Đông trao đổi nước thuận lợi với Thái Bình Dương qua các eo biển sâu và rộng như eo biển Đài Loan rộng 100 hải lý, độ sâu nhỏ nhất là 70m và eo biển Bashi rất sâu, độ sâu nhỏ nhất là 1.800m tạo nên vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực Biển Đông giàu tài nguyên, đa dạng về sinh học và quan trọng

về vị trí chiến lược Trên bản đồ giao thông vận tải thế giới tất cả các tuyến đường hàng không và hàng hải quốc tế chủ yếu giữa khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều đi qua Biển Đông Tuyến đường hàng hải quốc tế có tính huyết mạch nối liền Tây Âu, qua Trung Đông - Ấn Độ Dương, đến Đông Nam Á qua Biển Đông

và đi Đông Bắc Á, với hai hải cảng lớn của thế giới án ngữ hai đầu

là cảng Hồng Công ở phía bắc và cảng Singapor ở phía nam Khối lượng hàng hoá vận chuyển qua tuyến đường này cực lớn, chỉ tính riêng dầu lửa đã có hơn 90% nhu cầu của Nhật Bản, hơn 50% lượng hàng xuất nhập khẩu của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vận chuyển qua Biển Đông

Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, tính trung bình cứ 100km2đất liền thì có 1km bờ biển, là nước có tỷ lệ chiều dài bờ biển so với đất liền vào loại cao nhất thế giới trong khi đó trên thế giới trung bình cứ 600km2 diện tích đất liền mới có 1km bờ biển Việt Nam có 28/61 tỉnh thành tiếp giáp với vùng biển chủ quyền rộng hơn một triệu kilomét vuông, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền là điều kiện quan trọng giao lưu kinh tế với thế giới

Biển Đông có hai vịnh lớn vịnh Thái Lan và vịnh Bắc Bộ Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía tây của biển, rộng từ 105036’E đến 109055’E trải dài từ vĩ tuyến 170N đến vĩ tuyến 210N, diện tích khoảng 160.000km2, chu vi khoảng 1.950km, trong đó phía bờ Việt Nam là 740km, chiều dài vịnh là 496km, nơi rộng nhất là 314km, được bao bọc bởi bờ biển miền bắc Việt Nam ở phía tây, bờ biển nam Trung Hoa ở phía bắc trong đó có bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam Bờ biển khúc khuỷu với khoảng hơn 2.300 hòn đảo lớn nhỏ, tập trung chủ yếu ở phía ven bờ Việt Nam Đặc biệt đảo Bạch Long Vĩ của

Trang 8

Việt Nam nằm khoảng giữa vịnh với diện tích 2,5km2 cách bờ biển Việt Nam khoảng 110km

Khối nước của vịnh Bắc Bộ chủ yếu giao lưu với Biển Đông qua cửa phía nam của vịnh rộng chừng 230km và sâu hơn 100m Một phần nhỏ nước được trao đổi qua eo biển hẹp (18km) Quỳnh Châu và không sâu (20m) Chế độ khí tượng thủy văn của vịnh chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ gió mùa đông bắc và địa hình nông ven bờ Việt Nam

Vịnh Thái Lan nằm sâu vào phía bờ tây nam của Biển Đông là kết quả miền địa động học tách giãn, cắt trượt tạo địa hào, dọc kinh tuyến Bốn quốc gia Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malaysia

có bờ biển chung với vịnh Thái Lan dài khoảng 2.300km và diện tích 293.000km2 Vịnh có chiều dài lớn nhất là 628km và là một vịnh nông, nơi sâu nhất là 80m, trung bình là 60m, không có nhiều đảo như vịnh Bắc Bộ, bên phía vùng biển ven bờ Việt Nam có khoảng 165 đảo với 613km2, nhưng lại có nhiều đảo lớn, như đảo Phú Quốc rộng hơn 568km2 là đảo lớn nhất ven bờ Việt Nam

Hai quần đảo ngoài khơi Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam

là Hoàng Sa và Trường Sa Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII các nhà hàng hải phương Tây đều quan niệm hai quần đảo này là một, dưới một cái tên Pacel hay Paracels Tên Paracels theo giáo sư Piere Yves Manguin, xuất xứ từ tiếng Bồ Đào Nha Ithas de Parcel có nghĩa là đá ngầm Theo thời gian sự hiểu biết về hai quần đảo này

càng rõ hơn Trong “Đại Nam thống nhất toàn đồ” đời nhà Nguyễn

vẽ năm 1838 đã đề phía bắc là Hoàng Sa và phía nam là Vạn Lý Trường Sa, sau đó khoa học bản đồ đã phân biệt rõ Hoàng Sa (Paracel) và Trường Sa (Spratly) thuộc chủ quyền nhà nước Việt Nam Không rõ nguồn gốc, đến đầu thế kỷ XX xuất hiện cái tên

“Tây Sa quần đảo” người Trung Quốc dùng để gọi Hoàng Sa của Việt Nam Khoảng giữa những năm ba mươi, lại xuất hiện cái tên

“Nam Sa” để gọi quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Quần đảo Hoàng Sa gồm 30 đảo và bãi đá cạn nằm trong một vùng rộng khoảng 14.000km2 (15045’N - 17015’N và 1100E -

1130E) cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý (315km) về phía đông, cách Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) 120 hải lý (222km), cách Hải Nam Trung Quốc ở điểm gần nhất khoảng 140 hải lý (259km) Quần đảo Hoàng Sa có hai nhóm đảo Nhóm phía đông Việt Nam gọi là An

Trang 9

Vinh, còn người phương Tây gọi là Amphitrite để kỷ niệm tên một con tàu của Pháp lần đầu tiên sang Biển Đông bị bão đánh dạt vào vùng này Nhóm phía tây các đảo xếp thành hình cong như trăng lưỡi liềm nên Việt Nam đặt cho cái tên nhóm đảo Lưỡi Liềm, còn người phương Tây dịch ra là Croissant Trong quần đảo này có một đảo mang tên Hoàng Sa, nhưng không phải là đảo lớn nhất, mà đảo Phú Lâm và Linh Côn mới có diện tích lớn 1,6km2

Hình 1: Bản đồ Biển Đông ở tây bắc Thái Bình Dương

(tỉ lệ 1:12.000.000)

Trang 10

Cách quần đảo Hoàng Sa về phía đông nam 300 hải lý (555km)

là quần đảo Trường Sa với cái tên quốc tế Spratly do người Anh đặt năm 1867 khi tàu của họ đến Trường Sa ngộ nhận là vùng đất mới Quần đảo Trường Sa gồm 100 đảo, bãi đá và rạn san hô… phân bố trên một diện tích rộng 160.000-180.000km2 Đảo có tên Trường Sa gần đất liền nhất, cách Cam Ranh 250 hải lý (462km) Tổng diện tích các đảo ở đây khoảng 10km2 gần bằng diện tích các đảo của Hoàng Sa, nhưng vùng biển phân bố của Trường Sa lớn gấp 10 lần Hoàng Sa Việt Nam hiện đang có mặt bảo vệ 21 đảo và bãi ngầm của quần đảo Trường Sa Một số nước lợi dụng tình hình Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong những năm 80 đã chiếm giữ một số đảo của Việt Nam Philippin chiếm giữ 8 đảo, Malaysia 3 đảo, Đài Loan

1 đảo, Trung Quốc 8 bãi ngầm Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa thuộc chủ quyền của Nhà nước Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay Nhân dân Việt Nam luôn luôn ý thức được rằng hai quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam, kiên quyết bảo

vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

Biển Đông giầu về tài nguyên, đa dạng về sinh học, thuận lợi

về giao thông hàng hải, cùng với hàng nghìn đảo ven bờ, và hai quần đảo ngoài khơi có một vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam Việt Nam trở thành một quốc gia biển mạnh, vừa là điều kiện vừa là thách thức

Công tác điều tra nghiên cứu nhằm tăng cường hiểu biết và làm chủ vùng biển Việt Nam là cấp thiết, là nhiệm vụ quan trọng của các nhà khoa học biển Việt Nam Từ những ngày đầu dựng nước của các vua Hùng và các đời sau đã quan tâm đến Biển Đông

2 Lịch sử điều tra nghiên cứu vùng biển Việt Nam

Sự nghiệp điều tra nghiên cứu vùng biển Việt Nam thực sự được tiến hành một cách hệ thống từ năm 1930, sau khi thành lập Viện Hải dương học Đông Dương năm 1922, sau đó là Hải học viện Nha Trang, ngày nay là Viện Hải dương học tại thành phố Nha Trang và từ năm 1960 khi một loạt các cơ quan nghiên cứu biển miền Bắc ra đời như Trạm Nghiên cứu biển Hải Phòng (ngày nay là Viện Tài Nguyên và Môi Trường biển tại thành phố Hải Phòng), Trạm Nghiên cứu Thủy sản Hải Phòng (nay là Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng), Phòng Hải văn, Nha Khí tượng Hà Nội (nay là

Trang 11

Trung tâm Hải văn) Nếu lấy mốc lịch sử 1930-2005 thì trong suốt chặng đường phát triển của mình, ngành khoa học Biển Việt Nam

đã trải qua biết bao thăng trầm, khó khăn và thách thức

Từ khi thành lập dưới sự chỉ đạo của nhiều nhà khoa học có tên tuổi như A Kremp, P Chevey, E Saurin, R Serene Viện Hải dương học Đông Dương đã thực hiện một khối lượng công tác điều tra, nghiên cứu Biển Đông về nhiều mặt, đã để lại một bộ tư liệu rất lớn và có giá trị khoa học Trước hết phải nói đến Bảo tàng các mẫu sinh vật Biển Đông, và những kết quả nghiên cứu về quy luật phân

bố và biến động của sinh vật dưới tác động của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa Từ năm 1939, khi đại chiến thế giới thứ II bùng nổ và tiếp theo là cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc của Việt Nam kéo dài cho đến năm 1954, công tác điều tra nghiên cứu Biển Đông bị ngừng trệ Mãi đến năm 1960 công tác nghiên cứu vùng biển Việt Nam mới lại được phục hồi, nhưng diễn ra trong một bối cảnh lịch

sử đất nước phức tạp, nước nhà bị chia cắt thành hai miền Bắc và Nam với hai chế độ chính trị khác nhau

Ở miền Bắc, từ sau năm 1954, công tác điều tra nghiên cứu đã được tiếp tục với sự giúp đỡ từ phía Liên Xô và Trung Quốc Các chương trình hợp tác điều tra nghiên cứu vịnh Bắc Bộ Việt - Trung, Việt - Xô được thực hiện trong những năm 1959-1962 Theo thoả thuận giữa chính phủ hai nước, Trung Quốc đã đảm bảo mọi phương tiện và thiết bị phối hợp với các nhà khoa học biển Việt Nam tiến hành hai chương trình hợp tác điều tra nghiên cứu vịnh Bắc Bộ Chương trình thứ nhất “Hợp tác Việt - Trung điều tra tổng hợp vịnh Bắc Bộ 1959-1962” do UBKHKT Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc chủ trì Chương trình hợp tác Việt -

Trung thứ hai là “Điều tra nguồn lợi cá đáy vịnh Bắc Bộ 1962)”

(1959-Trong 3 năm các nhà Hải dương học Việt Nam và Trung Quốc

đã thực hiện một khối lượng rất lớn các nội dung điều tra nghiên cứu vịnh Bắc Bộ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc đã điều động nhiều lượt tàu nghiên cứu Hải Điều 01, 02, 03, Nam Ngư 228,

402 và Hồng Kông 1 để thực hiện 88 trạm hải dương học trên 16 mặt cắt đáp ứng mục tiêu điều tra cơ bản Đồng thời cũng trong thời gian đó Trung Quốc đã điều các tàu nghiên cứu Tuệ Ngư 219, 220,

306 và phối hợp với các tàu Tiền Phong và Việt - Trung 102 của Việt Nam trong suốt 3 năm đã luân phiên kéo lưới trên 98 khu vực

Trang 12

với cự ly 15-30 hải lý trong thời gian từ 9/1959 đến 12/1960 và trên

41 khu vực trong thời gian từ 12/1961 đến 11/1962

Cũng trong những năm 1960-1961 theo thoả thuận giữa hai Chính phủ Việt Nam và Liên Xô, Viện Hải dương học và Nghề cá Thái Bình Dương (TINRO) đã hợp tác với Tổng cục Thủy sản Việt Nam thực hiện 5 chuyến điều tra trong năm 1960 và 4 chuyến trong năm 1961 tại 105 trạm ở vịnh Bắc Bộ và một số chuyến tại 51 trạm thuộc vùng nước phía tây Biển Đông Trên cơ sở các kết quả thu được đã rút ra những kết luận ở vịnh Bắc Bộ có 960 loài cá, thuộc

457 giống, 28 bộ, trong đó có 30 loài cho sản lượng khai thác cao, khả năng khai thác cá nói chung là 300.000-400.000 tấn/năm Đã xác định các quy luật biến động theo mùa của các trường khí tượng thủy văn khu vực nghiên cứu, trong đó có các cấu trúc nhiệt muối

và hoàn lưu vịnh Bắc Bộ Các chương trình hợp tác Việt - Trung, Việt - Xô đã cho ta có được một cơ sở dữ liệu lớn quý giá về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi sinh vật biển vịnh Bắc Bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và quốc phòng trong những năm 1960-1975 Thời kỳ 1964-1975 chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc diễn ra ác liệt, các vùng biển Việt Nam bị phong tỏa, công tác điều tra nghiên cứu biển ở miền Bắc gặp nhiều khó khăn Các cơ quan nghiên cứu biển lúc này chỉ duy trì công tác điều tra nghiên cứu của mình ở vùng nước sát bờ vịnh Bắc Bộ Các nội dung nghiên cứu tập trung vào điều tra cơ bản và đánh giá nguồn lợi sinh vật bãi triều Đồng thời với công tác điều tra nghiên cứu, Nhà nước Việt Nam đã sớm quan tâm đến công tác xây dựng tiềm năng khoa học biển Từ năm 1960 nhiều cán bộ, học sinh xuất sắc đã được gửi sang Liên Xô, Trung Quốc và Ba Lan để đào tạo về khoa học biển Đến năm 2000 chúng ta đã có hàng trăm chuyên gia hải dương học

có trình độ giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ và cử nhân cùng một hệ thống các viện nghiên cứu biển và các trường đại học đào tạo cán bộ Khoa học biển đã được hình thành, đủ năng lực thực hiện các nhiệm vụ thực tiễn Việt Nam đặt ra

2.1 Hoạt động điều tra nghiên cứu biển ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ 1954-1975

Ở miền Nam từ năm 1954-1975, Hải học viện Nha Trang do có nhiều khó khăn về tổ chức, tài chính và phương tiện kỹ thuật nên

Trang 13

chủ yếu tập trung vào nghiên cứu sinh vật biển, sử dụng các tư liệu

đã có, tham gia thực hiện một số chuyến khảo sát nhỏ Trong thời gian này, Hải học viện Nha Trang là thành viên của tổ chức IOC, nên có cơ hội tham gia một số chương trình nghiên cứu biển và hải dương học như NAGA (1959-1961), CSK (1965-1977)

Hoạt động điều tra nghiên cứu biển quan trọng ở vùng biển phía nam Biển Đông là chương trình hợp tác điều tra Biển Đông giữa Viện Hải dương Scripps California Hoa Kỳ, chính quyền miền Nam Việt nam cùng với Sở Nghề cá và Hải quân Thái Lan, nhằm tìm hiểu những vấn đề cơ bản về hoàn lưu nước, thủy hoá, địa hình đáy biển, năng suất sinh học và đánh giá nguồn lợi sinh vật ở vùng biển phía đông nam Việt Nam và vịnh Thái Lan Tàu điều tra Stranger của Mỹ và một số xuồng máy của Hải quân và Hải học viện Nha Trang từ tháng 6/1959 tới tháng 6/1961 đã thực hiện 5 chuyến khảo sát vùng biển phía nam Việt Nam và 6 chuyến ở vịnh Thái Lan Các chuyến điều tra gồm mặt cắt ở vịnh Thái Lan và 6 mặt cắt ở vùng Biển Đông nam Việt Nam từ Đà Nẵng tới Cà Mau Các trạm khảo sát cách xa nhau 30-40 hải lý, tới độ sâu 1.000m, một số trạm tới 4.000m, trong đó có các trạm khảo sát thủy văn liên tục ngày đêm và các trạm đặc biệt khảo sát địa hình và chụp ảnh các hiện tượng ở đáy biển (xem phụ lục)

Kết quả nghiên cứu của chương trình NAGA đã được công bố trong những năm 1960-1973 trong 17 báo cáo khoa học về các vấn

đề vật lý thủy văn (Wyrtki., 1961; Robinson, 1974), cấu trúc rìa lục địa (Rarke, Emery, Szymankiawics, Reynolds, 1971) sinh vật (Alvarino, 1967; Brinton, 1961; Imbach, 1967; Shino, 1963; Stephenson, 1967, và các tác giả khác ) Đây là những tư liệu rất

có giá trị, với những số liệu và luận điểm rất cơ bản về các yếu tố điều kiện tự nhiên, đặc biệt là về vật lý thủy văn của vùng biển phía nam Việt Nam và Biển Đông

Chương trình khảo sát nghề cá viễn duyên Nam Việt Nam (1968-1971) được thực hiện với sự tài trợ của tổ chức FAO, Hoa Kỳ

và Hà Lan Mục tiêu của chương trình là tìm thêm ngư trường và đối tượng khai thác ở ngoài khơi Biển Đông Phạm vi điều tra gồm toàn thềm lục địa Nam Việt Nam tới độ sâu 200m, cách xa bờ 20 hải lý, từ

vĩ độ 100N tới vùng biển Malaysia, Indonesia, vịnh Thái Lan với diện tích điều tra khoảng 960.000km2, sử dụng hai tàu điều tra Kyoshin Maru 52 và tàu Hữu Nghị Tàu Kyoshin Maru đã thực hiện 33

Trang 14

chuyến khảo sát kéo lưới thí nghiệm trên 406 ô, mỗi ô kéo lưới 8 lần trong năm Tàu Hữu Nghị đã tiến hành 12 chuyến khảo sát trữ lượng tôm bằng lưới giã trên 45 ô ven bờ và 92 ô ở ngoài 20 hải lý từ vĩ độ

80N tới 110N và đã thực hiện 20 chuyến khảo sát nguồn lợi cá nổi trên vùng biển từ vĩ độ 70N đến 160N, cách xa bờ trên 20 hải lý và sâu trên 50m

Từ năm 1965-1966, cơ quan Hải dương học Hoa Kỳ đã sử dụng các tàu điều tra Rchoboth, Serano, Cable Enterprise tổ chức các chuyến điều tra trên toàn Biển Đông, nhằm đo sâu lập hải đồ, xác định cấu trúc ngang và thẳng đứng của trường tốc độ âm

Hoạt động thăm dò dầu khí trên thềm lục địa Nam Việt Nam, trước hết là địa chất - địa vật lý bắt đầu từ năm 1967, hoạt động khảo sát bằng phương pháp hàng không lập bản đồ tỉ lệ 1:250.000 phủ kín khắp vùng đất liền và đới ven biển của Hải quân Hoa Kỳ

Đã thực hiện hơn 200 điểm đo trọng lực dọc ven biển Nam Việt Nam, 19.510km tuyến địa chấn và lấy mẫu địa chất ở phần phía Nam Biển Đông Năm 1969 Công ty Ray Geophysical Mandrell đã tiến hành đo địa vật lý ở vùng thềm lục địa miền Nam Việt Nam và phía nam Biển Đông với tổng số 3.482km tuyến địa chấn và đầu năm 1970 lại tiến hành đo đợt 2 nhiều tuyến địa vật lý dài 8.639km

ở phía nam Biển Đông và dọc bờ biển Nam Việt Nam kết hợp với các phương pháp địa chấn, trọng lực và từ Vào các năm 1973-1974, các Công ty dầu khí nước ngoài như Mobil, Pecten, Esson Union Texas Marathon, Sunning Dale đã tiến hành khảo sát trên nhiều lô riêng biệt, với khối lượng hàng chục nghìn km tuyến địa vật lý Trên cơ sở các tài liệu đo được đã tiến hành phân tích, liên kết phân chia ranh giới địa chấn, xây dựng một số bản đồ đẳng thời tỉ lệ 1:100.000 các lô riêng biệt và tỉ lệ 1:50.000 cho một số cấu tạo có triển vọng dầu khí như Bạch Hổ, Dừa Mía

2.2 Hoạt động điều tra nghiên cứu biển Việt Nam sau năm 1975

Việc thống nhất đất nước sau năm 1975 đã tạo ra tình hình mới cho hoạt động điều tra nghiên cứu biển ở nước ta, với một vùng biển thống nhất rộng gấp ba lần đất liền, một đường bờ biển dài trên 3.260km Lực lượng cán bộ khoa học về biển ở cả hai miền Nam và Bắc được hợp nhất lại, các cơ sở nghiên cứu khoa học ở các ngành

đã có và mới xây dựng ở hai miền được tổ chức lại, là điều kiện

Trang 15

thuận lợi để tổ chức thực hiện các chương trình nghiên cứu điều tra biển của Nhà nước và các ngành trong phạm vi cả nước Từ 1977, Nhà nước đã xây dựng các chương trình điều tra nghiên cứu biển cấp Quốc gia Trong 25 năm kể từ khi nước nhà thống nhất, các nhà Hải dương học Việt Nam đã thực hiện 5 chương trình điều tra nghiên cứu biển cấp Nhà nước đem lại một khối lượng rất lớn tư liệu cơ bản về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi biển, nâng cao một bước quan trọng sự hiểu biết về Biển Đông, hình thành một đội ngũ khoa học và thiết bị kỹ thuật nghiên cứu biển mạnh có khả năng tiếp cận khoa học biển thế giới

Chương trình điều tra tổng hợp vùng biển ven bờ Thuận Hải - Minh Hải (1977-1980) là một trong bốn chương trình của Nhà nước

đầu tiên về điều tra tổng hợp các vùng lãnh thổ trọng điểm trong kế hoạch 5 năm 1976-1980 Đây là chương trình điều tra nghiên cứu biển ở quy mô trung bình, được tổ chức thực hiện với khả năng phương tiện và lực lượng khoa học hiện có của cả nước Mục tiêu của chương trình là cung cấp các dẫn liệu, số liệu cơ bản về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi của vùng biển nghiên cứu phục vụ các ngành sản xuất, quốc phòng trên biển Chương trình gồm 16 đề tài điều tra nghiên cứu về vật lý thủy văn, địa hình địa mạo, địa chất, nguồn lợi sinh vật và khoáng sản vùng thềm lục địa, ven biển và cửa sông do giáo sư Đặng Ngọc Thanh chủ trì

Phạm vi điều tra bao gồm dải đất ven biển rộng 30-40 km và kéo dài từ Phú Yên tới Cà Mau, với diện tích 25.000km2 Tầu Biển Đông đã thực hiện 12 chuyến khảo sát, đường dò cá tổng cộng dài 34.650 hải lý với 333 lần trạm, tới độ sâu 500m Tàu NCB - 03 đã thực hiện 5 chuyến điều tra tổng hợp theo 18 trạm mặt rộng và 1 trạm liên tục tới độ sâu 125m

Trong 3 năm (1977-1980) chương trình đã thu được một khối lượng lớn tư liệu có giá trị về điều kiện tự nhiên, sinh vật, khoáng sản vùng biển phía nam còn ít biết đến, phát hiện nhiều vấn đề quan trọng của vùng biển nhiệt đới mà trước đây còn chưa rõ và các hệ sinh thái vùng biển cửa sông với hệ thực vật sú vẹt phát triển, đặc tính phân bố di động của cá nổi, sinh vật nổi vùng nhiệt đới và các vấn đề khác

Chương trình Điều tra Nghiên cứu biển 48 - 06 giai đoạn

1981-1985 đã mở rộng không gian nghiên cứu trên toàn vùng biển với nội

dung nghiên cứu khá toàn diện Chương trình gồm 13 đề tài tập

Trang 16

trung chú ý đến các hệ sinh thái tiêu biểu ở dải ven bờ, năng suất sinh học sơ cấp, các quá trình động lực, nước dâng trong bão

Chương trình 48 - B “Điều tra nghiên cứu tổng hợp điều kiện

tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và một số vấn đề kinh tế - xã hội biển, phục vụ phát triển kinh tế biển” được thực hiện trong kế

hoạch 5 năm (1986-1990) trong hoàn cảnh có nhiều đổi mới Ngành kinh tế biển trước hết là dầu khí và hải sản đã có nhiều chuyển biến, đang đặt ra nhiều vấn đề thực tiễn cần giải quyết Với những đặc điểm mới chương trình biển 48 - B có 19 đề tài thuộc 7 vấn đề, trong đó có những vấn đề mới như ô nhiễm môi trường biển, kỹ thuật công trình biển, kinh tế - xã hội biển Phạm vi hoạt động của

chương trình bao quát từ dải ven biển tới các quần đảo Trường Sa Chương trình KT - 03 giai đoạn 1991-1996 có 22 đề tài, đề cập

một cách toàn diện các lĩnh vực khoa học hải dương, tập trung vào các vấn đề cơ bản, đồng thời chú ý nhiều hơn tới các nghiên cứu ứng dụng

Nghiên cứu bài toán động lực thủy triều Biển Đông, các quá trình xói lở bờ biển, bờ đảo, cửa sông, bảo vệ dải ven biển

Nghiên cứu xây dựng các quy trình công nghệ dự báo sóng biển, nước dâng trong bão, dự báo biến động sản lượng khai thác và biến động phân bố nguồn lợi cá khai thác, dự báo lan truyền ô nhiễm do sự cố tràn dầu trên biển

Nghiên cứu những cơ sở khoa học cho việc xây dựng các công trình biển, tăng cường an ninh - quốc phòng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển

Các vấn đề nghiên cứu ứng dụng tập trung này còn được tiếp tục thực hiện trong các Chương trình biển KHCN - 06, KC - 09 giai đoạn 1996 - 2010

Song song với các chương trình điều tra nghiên cứu biển của Nhà nước nói trên, do Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì và GS TS Đặng Ngọc Thanh làm chủ nhiệm còn có các hoạt động nghiên cứu từng vấn đề về biển trong các chương trình cấp Nhà nước khác do các bộ chuyên ngành quản lý như Tìm hiểu thăm

dò, đánh giá tiềm năng tài nguyên dầu khí (chương trình 22 - 01); Nguồn lợi hải sản (chương trình 08 - 02, 08 - A); Môi trường sinh thái ven biển (chương trình 52.02, 52 - D); Xây dựng và bảo vệ các

Trang 17

công trình thủy lợi ven biển (chương trình 06 - 8); Hiện tượng sa bồi, luồng lạch ở các cảng (chương trình 36 - A) và các chương trình khác

Cần phải kể đến những hoạt động hợp tác điều tra nghiên cứu biển với nước ngoài trong thời gian này Chương trình hợp tác nghiên cứu sinh thái biển và các quá trình hải dương học giữa Viện Khoa học Việt Nam và Viện Hàn Lâm Khoa học Liên Xô đã thực hiện nhiều chuyến khảo sát bằng các tàu công suất lớn trên các vùng biển sâu ra tận khu vực Trường Sa thu được số liệu trên 10.000 điểm đo thủy văn, tư liệu điều tra trên các đảo ven bờ và quần đảo Trường Sa Chương trình khảo sát tuyến 1C trong chương trình SEATAR của CCOP - IOC Chương trình hợp tác điều tra đánh giá nguồn lợi cá biển giữa Bộ Thủy sản và Bộ Nghề cá Liên Xô 1979-

1987 đã thực hiện 32 chuyến khảo sát theo ô vuông trên toàn vùng biển với hàng chục tàu lớn nhỏ Chương trình hợp tác giữa Tổng cục Khí tượng Thủy văn với Uỷ ban Khí tượng Thủy văn Nhà nước Liên Xô đã khảo sát có hệ thống theo các trạm trên toàn vùng thềm lục địa từ 70N đến 220N, với trên 200 trạm mặt rộng và 3 hệ thống trạm đo sâu Công tác thăm dò dầu khí trên thềm lục địa trong thời gian này cũng đẩy mạnh hơn với chính sách mở cửa cho các nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Các bể trầm tích Sông Hồng, Malay - Thổ Chu, Cửu Long, Nam Côn Sơn được khảo sát chi tiết hơn, đã phát hiện trên 100 cấu tạo đã thực hiện nhiều lỗ khoan địa chất, đã tìm thấy dầu chứa trong tầng móng ở mỏ Bạch Hổ, hiện đang khai thác

Các hoạt động điều tra khảo sát biển trên đây góp phần quan trọng vào công tác điều tra cơ bản biển và thềm lục địa nước ta, nhất

là trong điều kiện khả năng phương tiện kỹ thuật khảo sát lớn của ta còn hạn chế

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu biển Việt Nam có thể thấy rằng, trong khi vùng cực đông và đông nam Biển Đông đã được điều tra khảo sát từ thế kỷ trước, thì vùng biển Việt Nam chỉ mới được nghiên cứu từ thế kỷ này Những công trình nghiên cứu này tuy còn chưa thật đầy đủ song đã thực sự đóng góp vào sự hiểu biết về vùng biển Việt Nam

Kết quả 70 năm điều tra nghiên cứu biển đã cho ta hiểu biết được những nét cơ bản về điều kiện tự nhiên, nguồn lợi thiên nhiên vùng biển nước ta Đây là cơ sở khoa học cho việc định hướng

Trang 18

nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu chuyên đề, để giải quyết những vấn đề có quan hệ với cơ chế của các quá trình biển trong điều kiện thiên nhiên nhiệt đới, có ý nghĩa to lớn về khoa học và ứng dụng công nghệ Lực lượng cán bộ khoa học về biển nước ta, cơ sở vật chất - kỹ thuật, tổ chức cơ quan nghiên cứu cũng đã có bước phát triển vượt bậc Trình độ cán bộ nghiên cứu biển Việt Nam đang từng bước trưởng thành, đã có thể tiếp cận với các phương pháp kĩ thuật hiện đại, tiến kịp trình độ tiên tiến của thế giới Quan hệ quốc

tế về khoa học biển cũng ngày càng được mở rộng

Trong khu vực đã có chương trình hợp tác khoa học và công nghệ biển giữa Việt Nam và Philippin và đây là lần đầu tiên, các nhà khoa học biển hai nước tổ chức chuyến hợp tác điều tra nghiên cứu Hải dương học xuyên Biển Đông (RP - VN - JOMSRE - 96; Manila - Hồ Chí Minh) do đích thân Tổng thống Fidel V Ramos và Chủ tịch nước Lê Đức Anh đề xuất RP - VN - JOMSRE - 96 đã thu được nhiều tư liệu mới về khoa học biển, bao gồm vật lý, hóa học, khí tượng thủy văn và sinh học, sinh thái ở vùng biển trung tâm Biển Đông mà trước đó các nhà khoa học biển Việt Nam và Philippin chưa có điều kiện tìm hiểu Chương trình hợp tác này được kéo dài tới năm 2000

Trang 19

MỤC LỤC

Lời nói đầu 3

2 Lịch sử điều tra nghiên cứu vùng biển Việt Nam 10

2.1 Hoạt động điều tra nghiên cứu biển ở miền Nam Việt

Nam trong thời kỳ 1954-1975 12

2.2 Hoạt động điều tra nghiên cứu biển Việt Nam sau năm

Chương I ĐỊA CHẤT VÀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG

SẢN BIỂN ĐÔNG VIỆT NAM VÀ KẾ CẬN 23

I Địa tầng 26

1 Các thành tạo đá trước Đệ tứ 26

2 Đặc điểm các đá phun trào và trầm tích phun trào Pliocen - Đệ tứ 39

3 Trầm tích tầng mặt đáy Biển Đông 40

III Cấu trúc - kiến tạo 48

1 Vị trí địa lý và kiến tạo vùng biển Việt Nam và lân cận 48

2 Cấu tạo vỏ và cấu trúc của vùng nghiên cứu 49

3 Phân vùng địa động vùng biển Việt Nam và lân cận 50

5 Đặc điểm địa chất Kainozoi biển việt Nam và lân cận 57

Trang 20

IV Lịch sử tiến hóa địa chất 68

1 Nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt 69

2 Nhóm khoáng sản kim loại cơ bản 75

4 Nhóm khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng 78

8 Khoáng sản rắn vùng biển ven bờ Việt Nam 84

Chương II ĐỊA HÌNH ĐỊA MẠO ĐÁY BIỂN ĐÔNG 101

I Những đặc điểm chính của địa hình đáy biển 101

5 Lịch sử phát triển địa hình đáy Biển Đông 129

6 Phân vùng địa mạo đáy biển Việt Nam và kế cận 135

II Đặc điểm trầm tích đáy vùng biển Việt Nam và các

Trang 21

Chương III ĐẶC ĐIỂN KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN

I Chế độ khí hậu khu vực Biển Đông 147

1 Khái quát về điều kiện hình thành chế độ khí hậu gió

3 Miền khí hậu Biển Đông Việt Nam 152

II Cấu trúc hoàn lưu Biển Đông 158

III Chế độ nhiệt - muối Biển Đông 171

IV Thủy triều Biển Đông 184

1 Chế độ thủy triều ven bờ Việt nam 184

Chương IV ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ NGUỒN LỢI

I Đặc trưng khu hệ sinh vật biển Việt Nam 169

Trang 22

II Đánh giá tiềm năng nguồn lợi sinh vật biển Việt

1 Nguồn lợi cá biển 226

2 Nguồn lợi tôm biển 233

3 Nguồn lợi động vật thân mềm 236

4 Nguồn lợi động vật đặc sản 241

5 Nguồn lợi rong biển 247

III Tiềm nămg nuôi trồng hải sản biển Việt Nam 251

IV Đặc trưng sinh thái vùng biển Việt Nam 252

1 Đặc trưng sinh thái vùng triều 252

2 Đặc trưng sinh thái rừng ngập mặn ven biển 257

3 Đặc trưng sinh thái rạn san hô 261

4 Đặc trưng sinh thái thảm cỏ biển 269

V Đặc trưng sinh thái đầm phá ven biển Việt Nam 277

1 Vị trí và phân loại đầm phá ven biển Việt Nam 277

2 Đặc trưng sinh thái đầm phá Tam Giang - Cầu Hai 279

VI Một số nhận định chung về đa dạng sinh học và

nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam 288

1 Đặc trưng đa dạng sinh học biển Việt Nam 289

2 Tiềm năng nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam 293

3 Phương hướng khai thác, bảo vệ, phát triển bền vững

nguồn lợi sinh vật và môi trường biển Việt Nam 294

Trang 23

Lê Như Lai và nnk, 2000; Trần Nghi và nnk, 2007*; Nguyễn Biểu

và nnk, 2001; Đào Mạnh Tiến và nnk, 2007*, Nguyễn Thế Tiệp, Nguyễn Văn Lương và nnk, 1999*, 2005…) và tìm kiếm thăm dò dầu khí (Nguyễn Hiệp và nnk, 2007…) cũng như bắt đầu nghiên cứu hydrat methan, kết hạch sắt-mangan (Nguyễn Biểu và nnk, 2005-2008; Trần Châu Giang và nnk, 2008*;…)

Trên cơ sở tổng hợp tài liệu địa chất và khoáng sản Biển Đông Việt Nam thu thập từ năm 1980 đến nay và các kết quả điều tra cơ bản biển nông ven bờ 0-30m sâu; kết quả nghiên cứu lập bản đồ Pliocen - Đệ tứ thềm lục địa Việt Nam (Nguyễn Biểu, Mai Thanh Tân, nnk, 2001-2005); kết quả lập bản đồ địa chất Biển Đông và vùng biển kế cận tỷ lệ 1:5.000.000 trong Atlat Quốc gia (Nguyễn Văn Chiển và nnk, 1996, 2005), các tác giả sẽ giới thiệu những nét

cơ bản về địa chất và tài nguyên khoáng sản Biển Đông Việt Nam

và vùng biển kế cận trong giới hạn của chuyên khảo này

Cách tiếp cận nghiên cứu các thành tạo địa chất đáy biển và các đảo là phải dựa chủ yếu vào các tài liệu địa vật lý trong khi tài liệu của các giếng khoan và các mẫu địa chất trầm tích tầng mặt rất hạn

* Các văn liệu không đưa vào danh mục tham khảo chính

Vùng biển Việt Nam và kế cận tỷ lệ 1:1 000 000 (Bản đồ hình 4 được thu nhỏ từ bản đồ này) và tỷ lệ lớn hơn

Trang 24

chế Đó là điều khác với việc nghiên cứu địa chất trên đất liền Đặc biệt hiện nay đã có các thông tin quan trọng về địa hình đáy biển trên cơ sở phân tích tư liệu viễn thám và trọng lực vệ tinh với độ phân giải khác nhau (hình 2), trong đó phần mềm GTOPO - 30 đang được sử dụng rộng rãi với độ phân giải 1 phút Bản đồ trọng lực vệ tinh (hình 3) và bản đồ dị thường từ (hình 4) nhất là các đường từ cho biết nhiều thông tin địa chất Các tài liệu địa chấn sâu 2D, 3D

và địa chấn nông phân giải cao ở vùng thềm lục địa đã có khá nhiều, song còn nhiều hạn chế đối với vùng biển sâu Các tài liệu hiện có trên đây đã được sử dụng để lập bản đồ địa chất khoáng sản Biển Đông Việt Nam và các vùng biển kế cận (hình 6)

Trên bản đồ địa chất khoáng sản Biển Đông và các vùng biển

kế cận tỷ lệ 1:1.000.000 do trầm tích Pliocen - Đệ tứ phủ hầu hết các phân vị địa tầng tuổi cổ hơn nằm dưới nên ranh giới thể hiện trên bản đồ là đường giao tuyến giữa hình chiếu cột địa tầng của trầm tích hoặc đá cổ nhất có tuổi khác nhau với mặt đáy biển

Hình 2: Địa hình đáy Biển Đông Việt Nam và kế cận

(theo GTOPO - 30)

Trang 25

Hình 3: Bản đồ trọng lực vệ tinh V 15.2

Hình 4: Đường dị thường từ tâm Biển Đông

Trang 26

Địa chất và khoáng sản biển Đông Việt Nam và kế cận được trình bày dưới đây bao gồm các nội dung cơ bản về địa tầng, magma, cấu trúc - kiến tạo, lịch sử phát triển địa chất và tài nguyên khoáng sản và dầu khí

I ĐỊA TẦNG

1 Các thành tạo đá trước Đệ tứ

Các đá kết tinh Tiền Cambri lộ ra tại nhiều nơi ở Trung Bộ Việt Nam và đông nam Trung Quốc, tạo thành móng kết tinh của các khối hoặc địa khu lục địa Các thành tạo trước Đệ tứ được chia thành 40 phân vị địa tầng có tuổi từ Arkeirozoi đến Neogen phân bố

ở dưới đáy biển, các đảo và dải ven bờ

Hệ tầng Kim Sơn (Arks) (Nguyễn Xuân Bao, Trần Tất Thắng,

1979*) phân bố dọc ven biển và dưới đáy biển từ Sa Huỳnh đến biển Hoài Nhơn (Bình Định) Gồm 2 phần: phần dưới đá phiến thạch anh - biotit - silimanit, plagiogneis và gneis biotit - granat; phần trên đá phiến thạch anh - biotit - silimanit, đá phiến thạch anh - biotit - silimanit bị mylonit hoá, phiến hoá Tổng chiều dày 1900m

Hệ tầng Nậm Cô (PR3 - ∈1nc) (Dovjikov A E., Bùi Phú Mỹ và

nnk, 1965*) phân bố ở 2 khu vực là: Lạch Trường - Hòn Nẹ và Mũi Chao (Sầm Sơn) Mặt cắt gồm 2 phần: phần dưới là đá phiến thạch anh 2 mica, silimanit có granat, màu sẫm, phân phiến mỏng Dày 300m Phần trên gồm cát kết dạng quarzit màu xám phân lớp dày, xen các tập đá phiến thạch anh mica Trên băng địa chấn nông mặt bào mòn của hệ tầng khá bằng phẳng Dày 200m, tuổi Neoproterozoi - Cambri sớm

Hệ tầng A Vương ( ∈2-O1av) (Nguyễn Xuân Bao và nnk,

1978*) phân bố dưới đáy biển ven bờ từ nam Cửa Đại (Hội An) đến bắc Chu Lai Mặt cắt quan sát được phần trên: đá phiến sericit - thạch anh, đá phiến thạch anh hai mica, đá phiến thạch anh biotit xen lớp mỏng quarzit, đá phiến silic, phiến carbonat - sericit, dày 1.900m Tuổi dựa vào hoá thạch Graptolit ở các vùng lân cận, Cambri giữa - Ordovic sớm

Trang 27

Hệ tầng Tấn Mài (O3-Stm) (Trần Văn Trị và nnk, 1977) phân

bố thành một dải nhỏ hẹp trên đảo Cái Chiên, đảo Vĩnh Thực và đáy biển xung quanh hai đảo này Mặt cắt gồm 2 phần, phần dưới là cát kết, bột kết, đá phiến sericit xen các lớp cát kết tuf, đá phiến sét silic

và sạn kết màu xám, xám đen, xám vàng Chiều dày 200m

Hệ tầng Cô Tô (O3-Sct) (Trần Văn Trị và nnk, 1972*) phân bố

ở quần đảo Cô Tô - Thanh Lâm - Lò Chúc San và dưới đáy biển khu vực này Mặt cắt gồm: phần dưới là cát kết tuf hạt lớn, phân lớp dày, xen thấu kính sạn kết và lớp mỏng sét, bột kết có cấu tạo sọc dải, có tính phân nhịp rõ Dày 100m, phần trên bột kết, sét kết phân lớp và xen kẽ rất nhịp nhàng với đá phiến silic và cát kết tuf Có nhiều băng địa chấn nông quanh đảo Cô Tô cho thấy trầm tích hệ tầng tiếp xúc với trầm tích Đệ tứ qua mặt bào mòn phẳng, có nơi tạo nên các khối nhô Dày 700m Tuổi dựa vào hoá thạch bút đá (Graptolit)

Hệ tầng Sông Cả (O3-S1sc) (Nguyễn Văn Hoành và nnk,1978*)

phân bố ở ven biển Nghệ An - Thanh Hoá Thành phần bao gồm phần dưới là đá phiến thạch anh - sericit màu xám lục, xám tro xen cát kết dạng quarzit và bột kết màu xám; phần giữa cát kết hạt nhỏ màu xám, chuyển lên là phiến sét - sericit và cát kết Phần trên là phiến sét - sericit xen cát kết phân lớp trung bình màu xám tro, phớt lục xen kẽ nhịp nhàng, cấu tạo dạng sọc dải Chiều dày 300m

Hệ tầng Long Đại (O3-S1lđ) (Mareichev A M., Trần Đức

Lương, 1965*, Nguyễn Xuân Dương và nnk, 1975*) phân bố ở ven biển và đáy biển ven bờ từ nam Bố Trạch đến Lệ Thuỷ (Quảng Bình) Mặt cắt được mô tả ở vùng Rào Thượng - Lệ Kỳ bao gồm 3 phân hệ tầng, phân hệ tầng dưới gneis biotit - felspat - silimalit, đá phiến thạch anh hai mica có cordierit, cát kết dạng quarzit có chứa carbonat màu xám sáng, cấu tạo phân dải; phân hệ tầng giữa cuội kết thạch anh - sericit, đá phiến thạch anh sericit, bột sét, phiến sét

bị sericit hoá cấu tạo sọc dải thanh chứa bút đá; phân hệ tầng trên cát sạn tuf, cát kết thạch anh, sét bột kết, sét kết màu xám tro, xám lục có chứa bút đá Tuổi được xác định qua các hoá thạch bút đá và Trilobita Dày tổng cộng 2.000m

Bốn hệ tầng này có tuổi Ordovic muộn - Silur

Trang 28

Loạt Sông Cầu (D1sc) (Trần Văn Trị và nnk, 1964*, Tống Duy

Thanh, 1979*) phân bố ở các đảo Thượng Mai, Ba Mùn, Phượng Hoàng, Sậu Nam, Thoi Xanh, một phần đảo Trà Bản và dưới đáy biển ở khu vực này Mặt cắt gồm 2 phần, phần dưới là cuội kết hỗn tạp, cát kết xen bột kết màu tím, nâu vàng; phần trên là bột kết xen cát bột kết, sạn kết thạch anh - silic, cát kết thạch anh, cát kết dạng quarzit và trên cùng là đá phiến sét vôi màu xám đen Bề mặt bào mòn của hệ tầng trên băng địa chấn nhấp nhô, có nơi tạo nên các gờ cao, tổng chiều dày là 1.200-1.300m, tuổi Devon hạ

Hệ tầng Dưỡng Động (D1-2dđ) (Nguyễn Quang Hạp, 1967*;

Phạm Văn Quang và nnk, 1969*) phân bố thành một dải kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam ở các đảo Trà Bản, Thừa Bóng, Châu Dấp, Lũ Con và ở dưới đáy biển xung quanh khu vực các đảo này Thành phần gồm cát kết dạng quarzit, cát kết xen bột kết màu xám, cát kết thạch anh phân lớp quarzit dày, bột kết màu xám Chiều dày tổng cộng 100-1.300m Tuổi dựa vào hoá thạch tay cuộn

và hoá thạch Atrypa sp, tuổi Devon sớm giữa

Hệ tầng Đồ Sơn (D2đs) (E Saurin, 1956*; Tống Duy Thanh và

nnk, 1986*; Trần Văn Trị và nnk, 1975*; Hoàng Ngọc Kỷ, Đặng Trần Quân, 1978*) phân bố ở bán đảo Đồ Sơn và đáy biển quanh khu vực này Thành phần gồm phần dưới cát kết dạng màu nâu đỏ phân lớp dày, bột kết có thấu kính phiến sét Phần giữa cát kết xám sáng xen bột kết màu nâu đỏ chứa hoá thạch cá cùng thực vật tuổi Giveti - Frasni Phần trên là bột kết màu nâu đỏ xen cát kết và thấu kính đá phiến sét Tổng chiều dày 650m

Hệ tầng Bản Páp (D2bp) (Nguyễn Xuân Bao, 1970*) phân bố

rất hạn chế ở đảo Bàn Sen, đông nam Cái Bầu và đáy biển khu vực này Thành phần gồm phần dưới đá vôi phân lớp mỏng màu xám tái kết tinh, phần giữa đá vôi phân lớp trung bình màu xám tái kết tinh

có chứa san hô, phần trên đá vôi phân lớp trung bình đến dày màu xám nhạt, tái kết tinh yếu Tổng chiều dày 650m Tuổi 2 hệ tầng này

là Devon giữa

Hệ tầng Đông Thọ (D3frđt) (Mareichev A M., Trần Đức

Lương, 1965*) phân bố ở diện hẹp khu vực đèo Lý Hoà và dưới đáy biển vùng này Thành phần gồm cát kết thạch anh hạt vừa phân lớp mỏng xen bột kết, đá phiến sét xen bột kết than, sét than có chứa

Trang 29

nhiều hoá đá tay cuộn, một số nơi phát hiện hoá thạch thực vật và hoá thạch cá Tuổi Devon muộn, Frasni

Hệ tầng Phố Hàn (D3 - C1ph) (Ngô Quang Toàn, 1992*) phân

bố ở đông nam đảo Cát Bà Mặt cắt gồm phần dưới đá vôi phân lớp dày đến dạng khối màu đen, xám đen chứa nhiều hoá đá, phần giữa

đá vôi, vôi silic xen lớp mỏng silic màu xám đen, vôi sét, sét chứa vôi có hoá đá, phần trên silic xen đá phiến có thấu kính đá vôi phân dải, vôi silic chứa hoá đá Băng địa chấn nông cho thấy bề mặt của

đá vôi phản xạ sóng mạnh và cấu tạo dạng nhọn tai mèo Chiều dày 400-600m, tuổi Devon muộn - Carbon sớm

Hệ tầng Hòn Chông (D-C1hc) (Phan Doãn Thích, 1991*) phân

bố chủ yếu ở vùng biển, ven bờ và các đảo vùng biển tây nam gồm đáy biển phía đông quần đảo Nam Du, đáy biển phía nam Hòn Chông (Hà Tiên) Thành phần mặt cắt gồm phần dưới là cát kết thạch anh hạt vừa và nhỏ phân lớp trung bình, xen đá phiến thạch anh - felspat, bột kết và đá phiến sét, đá phiến silic, dày 600m; phần trên là đá vôi màu xám sẫm, xám đen xen ít bột kết vôi màu phớt

đỏ, dày 100m Tổng chiều dày 700m Dựa vào tập hợp hoá thạch phong phú xếp vào tuổi Devon - Carbon sớm

Hệ tầng Cát Bà (C1cb) (Nguyễn Công Lượng và nnk, 1979*)

phân bố chủ yếu ở trên đảo Cát Bà Mặt cắt gồm: phần dưới đá vôi màu xám đen phân lớp dày, đá vôi có chứa silic kẹp lớp mỏng đá phiến cháy, đá vôi xám trắng, đá vôi trứng cá, phần trên đá vôi xám sẫm phân lớp dày đến dạng khối chứa các hoá thạch Các băng địa chấn đi qua vùng biển quanh đảo này cho thấy bề mặt các khối đá vôi dạng răng cưa khá phức tạp và giữa chúng có các hố đào khoét sâu Chiều dày 450m, tuổi Carbon sớm

Hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs) (Nguyễn Công Lượng, 1979*;

Nguyễn Văn Liêm, 1979*) phân bố tập trung chủ yếu ở dưới đáy biển và các đảo thuộc vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và đông nam Cát

Bà, vùng ven biển Thạch Hà (Hà Tĩnh) Mặt cắt gồm 2 phần, phần dưới đá vôi xám sáng, đá vôi trứng cá phân lớp dày đến dạng khối chứa nhiều hoá đá, phần trên đá vôi xám sáng phân lớp dày đến dạng khối xen lớp mỏng đá vôi silic, silic vôi chứa hoá đá Mặt cắt địa chấn đi qua đá của hệ tầng có bề mặt bào mòn bằng phẳng Dày 750m, tuổi Carbon - Permi dựa vào các hoá đá trùng lỗ

Trang 30

Hệ tầng Hà Tiên (Pht) (Nguyễn Xuân Bao, 1978*) phân bố từ

Bãi Ớt đến Chùa Hang (Hà Tiên) Thành phần mặt cắt khá đồng nhất là đá vôi màu xám trắng, tái kết tinh yếu, phân lớp dày, có xen các lớp sét vôi màu xám tro, xám đen, xám hồng, đá phiến vôi xen các lớp đá phiến sét vôi mỏng màu xám đen Dày 300m Tuổi dựa vào tập hợp phong phú các hoá thạch trùng lỗ tuổi Permi và quan hệ không chỉnh hợp lên hệ tầng Hòn Chông

Hệ tầng Bãi Cháy (P2bc) (Nguyễn Văn Liêm, 1967*) phân bố

tập trung thành một dải ở ven biển và biển ven bờ từ Cẩm Phả đến Bãi Cháy Mặt cắt gồm hai phần, phần dưới dăm kết silic xám đen, rắn giòn xen lớp mỏng cát bột kết, phần trên silic xám đen xen các lớp mỏng đá vôi silic có chứa nhiều hoá thạch Chiều dày 250-300m Dựa vào các hoá đá xếp tuổi Permi muộn

Các thành tạo Paleozoi lộ gần biển phía bắc Hồng Kông (Tan Qixin, …, 1988)

Hệ tầng Hòn Ngang (Thng) (Fontaine H., 1969*) phân bố ở

vùng biển và các đảo vịnh Thái Lan Thành phần gồm ryolit porphyr, porphyr thạch anh, felsic porphyr và tuf của chúng Xen trong phun trào có các lớp mỏng bột kết, đá phiến sét và phiến silic tuổi Trias Tài liệu địa chấn nông cho thấy mặt bào mòn của hệ tầng tương đối phẳng, vài nơi có dạng gợn sóng, dày 500m

Hệ tầng Đồng Trầu (T 2 ađt) (A I Jamovda, Mareichev A M.,

1965*) phân bố ở 4 khu vực chính, đảo Hòn Mê (Thanh Hoá) và đáy biển vùng lân cận, ven biển và biển Quỳnh Lưu, Cửa Lò (Nghệ An) và vùng biển Đèo Ngang (Hà Tĩnh - Quảng Bình) Mặt cắt có thể chia làm 2 phần khá rõ: phần dưới trầm tích lục nguyên xen lớp mỏng hoặc thấu kính phun trào andezit gồm bột kết, cát kết, cuội kết tuf, đá phiến sét màu đen chứa nhiều hoá đá; phần trên đá vôi màu xám sáng, xám sẫm, xám tro phân lớp mỏng, trung bình đến dạng khối bị tái kết tinh yếu, sét vôi màu nâu đỏ phân lớp mỏng Tổng chiều dày 1.100-1.600m, tuổi Trias giữa - Anizi

Hệ tầng Minh Hoà (T2amh) phân bố trên một diện tích rất nhỏ

ở phía bắc hòn Minh Hoà (Hòn Nghệ) và đáy biển sát đảo này Thành phần thuần tuý là loại đá vôi dạng khối màu xám tro Dày 200m, tuổi Trias giữa - Anizi

Trang 31

Hệ tầng Hòn Nghệ (T2hn) (Nguyễn Xuân Bao, Bùi Phú Mỹ,

1979*) phân bố trên một diện tích nhỏ ở bờ tây, tây bắc và đáy biển quanh đảo Hòn Nghệ (Minh Hoà) Thành phần chủ yếu là các trầm tích lục nguyên gồm đá phiến sét màu xám đen, bột kết, cát kết và cuội kết, các hạt cuội chủ yếu là cát kết Dày 220m, tuổi Trias giữa

Hệ tầng Đồng Dao (T2đd) (Dovjikov A E và nnk, 1965*) phân

bố tập trung một diện tích rất hạn chế ở biển ven bờ tây nam huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Nga Sơn (Thanh Hoá) Bao gồm các đá: Phần dưới đá vôi màu xám, xám đen Phần trên đá vôi màu xám, xám sáng phân lớp dày hoặc dạng khối Tổng chiều dày 400-600m, tuổi Trias giữa

Hệ tầng Hòn Gai (T3n-rhg) (Pavlov, Dovjikov A E, 1965*)

phân bố tập trung ở khu vực Hòn Gai - Cẩm Phả (thuộc vùng Ia) Dưới đáy biển khu vực này chỉ chiếm một diện tích hạn chế ở ven

bờ đảo Cái Bầu Thành phần bao gồm phân hệ tầng dưới gồm cuội kết, sạn kết thạch anh, đá phiến sét, sét than và các vỉa than đạt hàm lượng công nghiệp, dày 1.500-1.700m Phân hệ tầng trên gồm chủ yếu là các trầm tích hạt thô cuội kết, sạn kết thạch anh màu xám sáng xen bột kết màu xám đen Mặt cắt địa chấn nông ở vịnh Hòn Gai, eo biển Cửa Ông cho thấy mặt bào mòn và cấu trúc các sóng không phân biệt với các hệ tầng Hà Cối và Bãi Cháy, dày 600-700m

Hệ tầng Đồng Đỏ (T3n-rđđ) (Mareichev A M và nnk, 1965*)

phân bố tập trung thành một dải dưới đáy biển ở độ sâu 20m nước vào bờ từ nam cửa Lạch Ghép (Thanh Hoá) đến bắc Cửa Lò (Nghệ An) Mặt cắt gồm 2 phần, phần dưới là cuội kết, sạn kết thạch anh chuyển lên cát kết, dày 700-1.400m Phần trên là cuội kết, sạn kết cát kết màu đỏ, dày 600-1.600m Hai hệ tầng có tuổi Trias muộn, bậc Nori - Ret

Hệ tầng Hà Cối (J1-2hc) (Jamoida A và Phạm Văn Quang,

1965*) phân bố tập trung ở vịnh Hà Cối thuộc vùng biển Quảng Ninh Thành phần gồm phân hệ tầng dưới cuội kết thạch anh, cát kết thạch anh xen cát kết dạng quarzit màu sáng, bột kết nâu, dày 400m Phân hệ tầng trên là bột kết nâu tím, nâu đỏ, xám sáng chứa kết hạch vôi, dày 800m, tuổi Jura sớm - giữa

Trang 32

Hệ tầng Mường Hinh (Jmh) (Lê Duy Bách và nnk, 1969*) phân

bố chủ yếu ở vùng ven biển và biển phía nam tỉnh Hà Tĩnh, gồm phần dưới cuội kết thạch anh xen cát kết, bột kết, lớp mỏng tuf màu nâu đỏ, có các lớp tuf và phun trào ryolit xen kẽ, dày 400m Phần trên chủ yếu là phun trào axit như dacit porphyr thạch anh, ryolit, đacit porphyr xám xanh cấu tạo khối xen vài lớp tuf Mặt bào mòn thấy trên băng địa chấn gồ ghề, dày 500m, tuổi Jura

Hệ tầng La Ngà (J2ln) (Vũ Khúc và nnk, 1983*) phân bố tập

trung ở dải ven bờ và dưới đáy biển vịnh Văn Phong thuộc huyện Vạn Ninh và huyện Ninh Hoà (Khánh Hoà) Thành phần mặt cắt gồm sét kết màu đen phân lớp mỏng, sét kết màu đen xen bột kết màu xám phân dải, cát kết, bột kết xen kẽ dạng nhịp, dày 800m, tuổi Jura giữa

Hệ tầng Đèo Bảo Lộc (J3đbl) (Nguyễn Xuân Bao và nnk, 1981)

chỉ phân bố một diện tích nhỏ hẹp (1km2) ở phần trung tâm Côn Đảo, khu vực dốc Trâu Té Đá gồm andezit pyroxen màu đen có cấu tạo dòng chảy, kiến trúc porphyr với nền kiến trúc andezit pilotatit ngoài ra còn gặp ít loại đá tuf andezit, dày 100m, tuổi Jura muộn

Hệ tầng Phú Quốc (K1pq) (Nguyễn Xuân Bao và nnk, 1978*)

phân bố rộng rãi ở đáy biển và quanh đảo cùng tên, ngoài ra còn thấy ở đáy biển quần đảo An Thới, Thổ Chu và 6 khối nhỏ ở tây nam quần đảo Nam Du Các băng địa chấn nông quanh đảo Phú Quốc, An Thới, Thổ Chu cho thấy bề mặt có nhiều khối nhô, mức

độ cản sóng âm cao Ngoài ra còn gặp trong một số băng ở dạng các khối nhô riêng lẻ ở vùng biển Kiên Giang Thành phần gồm cát kết, cuội kết, bột kết, tuổi Crêta sớm

Hệ tầng Nha Trang (Knt) (Belouxov A P, Nguyễn Đức Thắng

và nnk, 1983*) gặp ở các vùng II, III và IV Mặt cắt chia làm 2 phần, phần dưới andezit, tuf andezit đôi nơi có dăm kết tuf, cấu tạo khối hoặc dòng chảy Phần trên dacit, ryodacit, ryolit, trachyryolit

và tuf của chúng màu xám sáng, xám nâu cấu tạo dòng chảy, dạng khối đặc xít Trên các băng địa chấn biển Bình Thuận, Khánh Hoà chúng tạo nên các khối nhô phản sóng âm dễ nhầm với các khối granit Dày 600m, tuổi Creta

Hệ tầng Yên Châu (Kyc) (Nguyễn Xuân Bao và nnk, 1969*)

phân bố rất hạn chế ở phía bắc Cửa Ghép Dưới đáy biển ở độ sâu

Trang 33

10m nước trở vào bờ bị các trầm tích Đệ tứ phủ lên Thành phần gồm cuội kết, cát kết, bột kết màu đỏ, dày 200m, tuổi Creta

Trầm tích Mesozoi phát triển dọc ven biển Nam Trung Quốc (Tan Q., et al, 1988) Các đá trầm tích, núi lửa, xâm nhập Paleo-Mesozoi đã hình thành qua các quá trình bồi kết, tạo núi hoặc kiến tạo nội mảng, trong đó tổ hợp núi lửa - pluton - trầm tích Jura trung

- Creta hình thành trong bối cảnh rìa lục địa tích cực Đông Á trên đới hút chìm Kula, Thái Bình Dương kéo dài từ phía Bắc qua Đông Nam Trung Quốc, Đông Dương nối liền với Sundaland

Kainozoi Hệ Đệ Tam

Các bể, nhóm bể trầm tích Kainozoi có đặc trưng bất đối xứng

từ rìa nội mảng phân ly ở phần Tây Bắc Biển Đông đến rìa mảng hội tụ ở Đông Nam, và giữa chúng là lòng chảo đại dương tách giãn đáy biển từ Oligocen sớm đến đầu Miocen giữa (32-15,5 triệu năm) tiếp giáp với rìa tích cực dọc đới hút chìm hẻm vực Manila Tại các bồn tích tụ trầm tích Đệ tam có địa tầng khá phức tạp phụ thuộc vào các bể mà chúng được thành tạo Đây là đối tượng tìm kiếm dầu khí nên các tài liệu về địa tầng của chúng khá phong phú (Lê Văn Cự,1978*; Đỗ Bạt và nnk, 2003*) Các cột địa tầng cơ bản đã được nghiên cứu tốt ở thềm lục địa Việt Nam (xem phần cấu trúc kiến tạo các bể Kainozoi ở phần dưới) Đến nay, ở các bể Đệ tam vùng biển trước cửa sông Châu, Trung Quốc đã phát hiện các tầng trầm tích Paleocen (E1) thuộc phần đáy mặt cắt Kainozoi (Trần Văn Trị và nnk, 2005)

Theo tài liệu địa chấn, tuổi C14, thành phần thạch học, vi cổ sinh và đối sánh với các vùng biển Trung Quốc (Xue et al, 1995*), Indonesia (Bambang,1996*) địa tầng Đệ tứ thềm lục địa vùng biển nghiên cứu phân chia cho vùng thềm lục địa, ở các vùng nước sâu hơn 200m Ở hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng có thể chia các phân vị này song do chiều dày mỏng

Trầm tích Đệ tứ thềm lục địa được chia làm 7 hệ tầng tương ứng với 7 chu kỳ dao động mực nước biển và từ dưới lên gồm:

Hệ tầng 1 có ranh giới dưới với trầm tích Neogen với mặt bào mòn và phản xạ R6a khá rõ ở nhiều nơi Trên đó là trầm tích biển tiến (a) với các phân vị sau đây:

Trang 34

Trầm tích sông lũ Pleistocen hạ (apQI ) phân bố ở gần bờ gồm

cuội sạn sỏi, cát màu xám vàng lẫn ít bột sét, màu xám đen khi giàu mùn thực vật, thân gỗ hoá than màu đen, thực vật ngập mặn, lợ

Rhizophora sp, Myrica sp, Lygodium sp, Polypodium sp Chiều dày

là 7,5m Ranh giới giữa Neogen và Đệ tứ được vạch ở 162-166,6m

Ở khu vực biển ven bờ thuộc sông Hậu gồm 2 nhịp trầm tích sạn cát màu xám, xám vàng - cát mịn trung màu xám xanh - bột xen cát đến cát xen bột Phần đáy là cát đa khoáng chuyển lên trên ít khoáng

đến đơn khoáng Gặp phấn hoa của thực vật Pinus sp, Jinglans sp, Rutacene geninđet, Polypodium sp, Lycopodium sp có tuổi

Pleistocen sớm Ra vùng ngoài khơi trầm tích chuyển sang kiểu sông biển (am Q1 ) Chiều dày của tầng là 32,7m đến 50m

Trầm tích biển (mQI ) gồm sạn sỏi lẫn bột sét màu xám, xám

xanh chứa các dạng Nannofosil, Foraminifera như Ammonia aneetens, Pseudorotolia Schroetalia ; sét màu trắng chuyển xuống xám xanh chứa Coscinodiuns sp, Thalassiosien sp, ; cát chứa bột

màu xám lẫn sạn, sét màu xám xanh loang lổ màu vàng, gặp nhiều mảnh felspat sắc cạnh, thuỷ tinh, tro bụi núi lửa Ngoài khơi trầm tích có sự xen kẽ giữa các nhịp bột sét và cát nhỏ, dày 30-70m Tập trầm tích biển lùi (b) gồm cát, bột và sét đồng bằng tiền châu thổ và biển nông gặp ngoài khơi độ sâu trên 90m, ở mép thềm lục địa tạo nêm lấn biển Nghiên cứu chi tiết có thể chia hệ tầng này thành 2 hệ tầng khác nhau với ranh giới giữa chúng là R6b

Hệ tầng 2 thuộc phần dưới của Pleistocen giữa với tập biển tiến

(a) gồm:

Trầm tích sông biển (amQ1 2 ) gồm cuội, sạn sỏi, cát, sét hỗn

hợp dày 10-30m và từ bờ ra khơi độ hạt trầm tích có kích thước giảm dần Từ dưới lên có nhịp cuội - cát - bột và sét, đôi nơi là sét loang lổ

Trầm tích biển (mQ1 2 ) gồm cát hạt trung mịn, sét, sét bột xen

các nhịp ổ cát màu xám xanh chứa kết hạch, gặp được một số loại

Foraminifera kích thước lớn gồm Spiroloculia,Penglaiensis, Pseudorotalia schueteriana, Cellanthus craticulathus, Ammonia anecten ngoài ra còn gặp Ostreacoda vỏ sần, trơn

Trầm tích tập biển lùi (b) có mặt ở ngoài khơi tương tự như hệ tầng VI

Trang 35

Hệ tầng 3 thuộc phần trên của Pleistocen giữa có trầm tích biển

tiến (a):

Trầm tích sông biển (amQ1 2 ) gồm cát trung thô màu xám vàng,

xám sáng ít khoáng tới đơn khoáng, xen nhịp cát lẫn sạn, bột gắn kết yếu và sét bột loang lổ vàng, xanh, đỏ cấu tạo phân nhịp Bề dày chung thay đổi từ 25-35m

Trầm tích biển (mQ1 2 ) gồm cát bùn, cát sét, xen các màu xám

xanh; bột cát, cát bột loang lổ; bột cát màu vàng nghệ, đơn khoáng

đến ít khoáng, gặp Nanoplantonk Helicosphaere cateri (Wol, kamt) Cocolithus peagcus (wallich), Claviger Mur Black, Foraminifera Aderosina ct pulchella, Ammonia annecten, Quingueloculina ct aknerena, Q tonkinesis và ít mảnh vỏ thân mềm Pelecypoda

Tập trầm tích biển lùi (b) khá phát triển ở độ sâu trên 90m nước

gồm cát, bột, sét tướng biển, châu thổ và aluvi, dày trên 50m

Hệ tầng 4 thuộc trầm tích Pleistocen thượng (Q13) trong đó tập (a) gồm:

Trầm tích sông biển (amQ1 3 ) lấp đầy các lòng sông cổ do sự

trầm đọng của cát sạn, sạn sỏi pha bột sét với chiều dày 5-15m

Trầm tích đầm lầy ven biển (mbQ1 3 ) là sét màu xám tới xám

nâu xen các nhịp mùn thực vật màu đen chuyển xuống dưới là cát xám xanh Trong phần đáy của tầng gặp tập hợp bào tử phấn hoa

của Cystopterit sp, Lygodium sp, Sonneratia sp, còn phần trên Foraminifera gồm Asterorotalia pulchulla sp, Ps eudorotalia chrocteriana sp, Ammoria annecton, Amphistegina lessoni Bề dày

10-15m

Trầm tích biển (mQ1 3 ) là cát lẫn sạn màu xám vàng, xám trắng,

cát trung thô lẫn sét màu trắng, xám trắng Cát sạn chứa vật liệu núi lửa màu xanh đến xám trắng, giàu mảnh felspat sắc cạnh màu hồng, sét lẫn sét sạn thạch anh màu xám xanh, sét Cát mịn, cát xen bột, sét màu xám xanh đến xám đen chứa nhiều nhịp mùn thực vật hoá than, gặp tập hợp trùng lỗ sống ở vùng biển ven bờ gần cửa sông thực vật ngập mặn tuổi Pleistocen muộn (Q1) Phần ngoài khơi gặp các trầm tích hố đào có thể dày tới 15m), cát trung - thô và vài nơi

có rạn san hô Các thành tạo biển đang mô tả ở độ sâu dưới 60m và

Trang 36

có một số rạn san hô Chiều dày của tầng theo các mặt cắt địa chấn

nông độ phân giải cao thay đổi khoảng 15-55m

Tập (b) thể hiện khá đẹp trên băng địa chấn gồm cát, bột, sét aluvi, châu thổ và biển

Hệ tầng 5 là các trầm tích Pleistocen muộn, phần muộn với tập

(a) gồm:

Trầm tích sông biển (amQ1 3 ) với các kiểu như trầm tích

carbonat (cuội, sạn, cát kết vôi sinh vật, trong đó cát sạn thạch anh được gắn kết bởi carbonat (vôi màu trắng vỏ sò, có Foraminifera,

trùng tia, san hô, rong tảo) và trầm tích cát đỏ (cát mịn trung, sạn,

cát sạn màu vàng, xám vàng đến đỏ) giàu mảnh vụn sinh vật, gặp

tập hợp Foraminifera gồm Ammonia annectens, Quingneloculina reticulata, Asterorotalia pulchella, Eliphidium advesnum và tảo vôi Cyclothella annla (col) Macintyre, Ceratolithus cristatus kam H

Bề dày 10-40m

Kiểu trầm tích cát màu vàng, xám nâu xen các nhịp sét màu nâu tím cấu tạo phân nhịp mỏng, cát mịn xen bột màu nâu, đỏ nâu, sét loang lổ vàng, xám trắng Gặp phong phú Foraminifera, Nanoplankton, bào tử phấn hoa, tảo Diatome Dày 10-60m

Trầm tích biển (mQ1 3 ) phát triển trên toàn vùng biển gồm xen

kẽ cát, bột và sét trong đó loại hạt mịn chiếm ưu thế, phong phú các

vi cổ sinh nhất là Foraminifera

Tập trầm tích biển lùi thể hiện khá đẹp trên mặt cắt địa chấn nông ở độ sâu trên 90m và gồm cát, bùn với vỏ sinh vật tướng biển

nông và biển sâu, có vi cổ sinh Ammonia annectens, Asterorotalia

ex gr, A pulchella, Amphistefina sp., Cellanthus cnaticulathus, Pseudorotalia indopacifica, P gaimorolii, P papugnensis, Nonion sp., Bigerrina sp

Trong trầm tích sông biển của hệ tầng này có triển vọng tìm kiếm, khai thác cát, sạn làm vật liệu xây dựng (Nguyễn Biểu và nnk, 2003)

Hệ tầng 6 gồm trầm tích Holocen được đặc trưng bởi các kiểu

trầm tích tập biển tiến (a) sau đây:

Trang 37

Trầm tích sông (aQ2 1-2 ) phía dưới là cát sạn, cuội sạn chuyển

lên phía trên là cát, bột sét, bùn sét và chuyển tướng lên kiểu trầm

tích đầm lầy biển trước biển tiến, bề dày thay đổi từ 10-25m

Trầm tích biển đầm lầy (mbQ2 1-2 ) phát triển ở những hố trũng,

đới đào khoét, hoặc các dòng chảy cổ trên bề mặt trầm tích Q12, chủ yếu là bùn, sét, bùn cát màu xám đen giàu mùn thực vật hoá than

màu đen Chiều dày thay đổi từ 1-25m

Các trầm tích sau đây thường lộ trên đáy biển mô tả ở phần

trầm tích tầng mặt, có các kiểu trầm tích biển sông (maQ2 1-2 ), trầm tích biển (mQ2 1-2 ), trầm tích biển gió (mv Q2 1-2 ), và các trầm tích

tập biển lùi

Hệ tầng 7 phân bố dọc ven biển độ sâu 0-20m nước và bao gồm

bùn sét trầm tích biển (mQ2 3 ), cát nhỏ - bùn trầm tích biển sông (maQ2 3 ), bùn - sét giàu mùn cây, trầm tích biển đầm lầy (mabQ2 3 )

Tại vùng biển nông ven bờ cũng như trên thềm lục địa tồn tại bazan Holocen, Pleistocen thượng, Pliocen và Miocen cũng như trầm tích phun trào đi kèm chúng (như kiểu lộ ở đảo Phú Quý) (xem

ở phần dưới)

Các đường bờ biển cổ ở đáy biển gặp tại các đới có độ sâu hiện tại 25-30m, 50-60m, 120-140m và 270-300m

Trầm tích Đệ tứ vùng biển nước sâu trên 200m Các thành tạo

Đệ tứ vùng biển sườn, chân lục địa là phần ngoài và chân của các nêm lấn biển, gồm các tập biển tiến biển sâu xen kẽ biển lùi biển nông và sâu vừa gồm bùn - sét, có nơi là sét vôi, ít bùn silic, bùn, cát Foraminifera, bùn silic, bùn tro bụi núi lửa tạo nên lớp phủ đáy biển hoặc là các nón phóng vật ở các sườn dốc (kiểu turbidit) nằm cuối các canhion (rãnh phân cắt sâu) Theo các mặt bào mòn kéo dài

từ thềm lục địa ra biển khơi có thể chia cột địa tầng làm 3 phần tương ứng với Pleistocen sớm, giữa và muộn có chiều dày tổng 200-300m Trầm tích Holocen chiều dày mỏng 1-3m (Schimansky, 2003) Theo sequen (phân tập) địa tầng trầm tích Pliocen - Đệ tứ vùng biển Miền Trung bao gồm 7 sequen bậc IV (Nguyễn Biểu và nnk, 2008)

Trầm tích Đệ tứ vùng biển quần đảo Trường Sa Theo tài liệu

địa chấn phủ trên các thành tạo bazan phun trào, trầm tích gắn kết

Trang 38

vừa Pliocen, trầm tích Đệ tứ có 6 tập xen kẽ nhau giữa tập giàu vật chất lục nguyên và tập nhiều vụn, thành tạo san hô, vụn sinh vật tương ứng 6 hệ tầng thuộc Pleistocen (Nguyễn Biểu và nnk, 2008) Nghiên cứu chi tiết các nguyên tố đồng vị của Ôxy, Stronxy, C14 địa tầng Đệ tứ quần đảo Trường Sa và lân cận nhất là Pleistocen muộn

và Holocen được các nhà địa chất nước ngoài phân chia khá tỷ mỉ Theo các cột mẫu và khoan trầm tích Đệ tứ chủ yếu là bùn, sét giàu vụn sinh vật và tro bụi núi lửa Ở quanh các đảo có cát, sạn,… san

hô Có thể chia 4 vùng biển có cột địa tầng Đệ tứ khác nhau như cao nguyên ngầm, sườn bờ ngầm san hô, máng biển thuộc chân lục địa (nước sâu 1.000-1.400m) và máng biển sâu (đồng bằng biển thẳm - nước sâu trên 4.000m) Kết quả nghiên cứu đồng vị Oxy18 và Stronxy của cột mẫu sâu 420cm cho phép chia ra 8 giai đoạn bởi 4 lần thay đổi khí hậu lạnh do băng hà và 4 lần khí hậu ấm áp, nóng xen kẽ nhau, trong đó ở độ sâu 410cm thuộc giai đoạn 8 có tuổi C14

là 275 ngàn năm (đáy hệ tầng III) còn ở độ sâu 270cm thuộc giai đoạn 6 là 180 ngàn năm (Pleistocen giữa phần muộn) (Diệp Liên Tuấn, 1993*)

Trầm tích Đệ tứ vùng biển quần đảo Hoàng Sa Theo cổ sinh

và tuổi C14 cột địa tầng Đệ tứ quần đảo này chia làm 6 phân vị Pleistocen hạ gồm bùn, sét chứa Cycloclypeus, Amphistegina, Globigerinoides trilobus Pleistocen trung chứa Calcarina, Amphistegina Pleistocen thượng gồm trầm tích đầm lầy có Amphistegina, Quingueloculina và bùn sét biển với Amphistegina madagascariensis d’Orbigny, Globotalia truncatulinoides d’Orbigny… Holocen chia làm 2 phần có vi cổ sinh khác nhau (Chen Junren, 1978*)

Trầm tích Đệ tứ vùng biển thẳm Theo tài liệu địa chấn tại đây

nằm trên các thành tạo bazan và các loại đá gốc khác có 2 tập trầm tích thuộc Pliocen - Đệ tứ với chiều dày 300-600m (Đệ tứ dày khoảng 50m) và cấu tạo ngang song song Tài liệu trầm tích mặt cho thấy đến độ sâu 0,4m có thể chia ra 5 lớp, lớp một gồm tro núi lửa, cát, bùn, lớp hai gồm sét nâu phớt vàng, lớp ba gồm sét xám nhạt, lục, vàng, lớp bốn gồm sét xám phớt xanh lá cây và lớp năm sét xám dịu phớt xanh Cột mẫu tương tự cột mẫu sét nâu hay sét đỏ

ở tâm các đại dương (Nguyễn Văn Bách, Nguyễn Tiến Hải, 2002*)

Trang 39

2 Đặc điểm các đá phun trào và trầm tích phun trào Pliocen - Đệ tứ

Có nhiều công bố về đá phun trào và trầm tích phun trào ở vùng Biển Đông (Patte,1925*; Parke et al, 1971*; Emery et al, 1972; Nguyễn Kinh Quốc, Lê Ngọc Thước, 1971*; Gorscop, 1981*; Xapornhicop, 1979*; Bondarenco, Nadernưi, 1985*; Phạm Tích Xuân và nnk, 1988*; Heikinian et al, 1989*; Kulinic et al, 1989; Nguyễn Xuân Hãn và nnk, 1991-1996*; Đỗ Minh Tiệp, 1991, 1995, 1996*; Ngô Xuân Vinh, 1998*; Yang Yubiao et al, 1990*; Đặng Văn Bát và nnk, 2002*; La Thế Phúc, Nguyễn Biểu, 2003*;…) Các khối bazan Pliocen - Đệ tứ và tuf của chúng lộ ra ở các đảo Cồn Cỏ,

Lý Sơn, quần đảo Phú Quý phát hiện trên các tuyến địa chấn, khoan

ở một số vùng thuộc thềm lục địa và biển sâu Do đó, đã khoanh được các vùng phát triển bazan ở các vùng biển Cồn Cỏ - Mũi Lai,

Lý Sơn - Ba Làng An, Phú Quý - Hòn Hải,…

Tại biển Cồn Cỏ - Mũi Lai diện phân bố bazan khoảng 500km2với các trường lớn bé khác nhau, có nơi tạo nên tường thành trên đáy biển Theo tài liệu địa chấn nông phân giải cao, so sánh với tuổi các trầm tích Đệ tứ vây quanh cho phép phân chia 5 pha phun trào

N 2 , Q 1 1 , Q 1 2 , Q 1 3 và Q 2 một số pha phụ Đây là các khối bazan có thể có thành phần như các loại lộ ra trên đảo Cồn Cỏ, Mũi Lai gồm bazan olivin kiềm, bazan bọt, tuf và tro núi lửa của chúng (La Thế Phúc, Nguyễn Biểu, 2003*) Tầng trầm tích khá dày lộ ra ở tây nam đảo Cồn Cỏ liên quan với hoạt động núi lửa Bazan và tuf của chúng ở vùng biển Lý Sơn - Ba Làng An có cấu tạo phức tạp với nhiều đợt phun trào Trên các băng địa chấn nông đã phân chia được các đợt phun trào tương tự vùng Cồn Cỏ - Mũi Lai, song ở đây bị tác động mạnh của hoạt động đứt gãy (Nguyễn Biểu và nnk, 2001) Hoạt động núi lửa ở vùng biển Phú Quý - Hòn Hải phức tạp, xẩy ra ở 2 khu vực và một số họng núi lẻ tẻ dọc theo kinh tuyến

1100, biển nông cũng như ven bờ Kê Gà (Bondarenco và nnk, 1985*) Theo tài liệu địa chấn nông phân giải cao do TS Đỗ Văn Bình khảo sát năm 1999 có thể phân chia các giai đoạn phun trào

N 2 2 , Q 1 1 , Q 1 2 , Q 1 3 và Q 2, trong đó bazan Pliocen chiếm diện tích lớn nhất (Nguyễn Biểu và nnk, 2004*)

Theo tài liệu địa vật lý các đá phun trào N 2 -Q còn gặp ở vùng

biển ven bờ Tuy Hoà - Đồng Xuân trên một diện tích đáng kể

Trang 40

Bazan ngoài khơi phân bố ở trũng Manila, núi ngầm tây bắc Scaborough, Đồng Tâm, Đình Trung… gồm các nhóm hawaiit ưa kiềm, toleit có nguồn gốc manti trên và vỏ sial, đơn pha và phân dị phức tạp về tuổi và thành phần từ đông bắc tới tây nam (Đỗ Minh Tiệp, 1996*) Bazan, diabaz và tufogen của chúng tuổi Pliocen - Đệ

tứ lộ ra nhiều nơi khác trên Biển Đông (Hekinian R et al, 1989*) Theo thành phần bazan rìa lục địa chia làm 2 nhóm: bazan

toleit - andezitobazalt có kèm gabronorit, gabrodolerit (tuổi N 2 -Q 1 1)

và bazan, dolerit olivin kiềm và các khối pikrit, meimechit, okeanit,

ankaramit (tuổi Q 1 2 -Q 2) (Nguyễn Kinh Quốc, Lê Ngọc Thước, 1979*) Sản phẩm núi lửa phân tán - bazan kiềm cao thuộc các tổ hợp trakhibazalt và bazalt kiềm; bazan olivin - trakhiandezit Trong

đó có loại bazan olivin manhê, bazan toleit, plato-bazalt phát triển ở vùng riftơ lục địa (Nguyễn Xuân Hãn và nnk, 1996*)

Bazan Đệ tứ lộ thành các trường lớn ở phía nam bán đảo Lôi

Châu và bắc đảo Hải Nam của Trung Quốc (Tan Qixin, 1988)

3 Trầm tích tầng mặt đáy Biển Đông

Mấy năm gần đây tài liệu về trầm tích tầng mặt đáy Biển Đông được bổ sung thêm khá nhiều cho phép hiểu sâu hơn về thành phần

và sự phân bố của chúng Trầm tích tầng mặt gồm hai nhóm chính lục sinh và sinh hoá, các loại khác như vật liệu núi lửa có khối lượng đáng kể và chỉ tập trung ở phần tâm Biển Đông

Nhóm trầm tích lục sinh thuần tuý (hàm lượng carbonat, silic…

dưới 25%) phân bố chủ yếu ở thềm lục địa, kề liền bờ, quanh các đảo và bao gồm:

Tảng, cuội (PG) gặp ở vùng biển Quảng Ninh, Kiên Giang, ven

bờ biển Miền Trung có diện phân bố hẹp và thành phần phụ thuộc vào đá gốc kề bên bị phá huỷ Quanh các đảo Vĩnh Thực, Ba Mùn ở biển Quảng Ninh gặp tảng cuội quarzit, bắc mỏm Đèo Ngang - các bãi cuội thạch anh có ý nghĩa như các loại hình khoáng sản

Cuội, sạn (G), cát, sạn (GS) là các loại trầm tích phổ biến hạn

chế đi liền kề với loại trên mà còn tạo nên các bãi biển nơi có sóng tác động mạnh, dọc ven bờ Miền Trung, quanh các đảo ở Quảng Ninh… và các bãi thềm bờ biển cổ ở độ sâu 110-130m thềm lục địa

Ngày đăng: 05/01/2015, 03:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bản đồ Biển Đông ở tây bắc Thái Bình Dương - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 1 Bản đồ Biển Đông ở tây bắc Thái Bình Dương (Trang 9)
Hình 2: Địa hình đáy Biển Đông Việt Nam và kế cận - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 2 Địa hình đáy Biển Đông Việt Nam và kế cận (Trang 24)
Hình 3: Bản đồ trọng lực vệ tinh. V 15.2 - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 3 Bản đồ trọng lực vệ tinh. V 15.2 (Trang 25)
Hình 5: Bản đồ cấu trúc - kiến tạo vùng biển Việt Nam và kế cận - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 5 Bản đồ cấu trúc - kiến tạo vùng biển Việt Nam và kế cận (Trang 71)
Hình 6: Bản đồ địa chất – khoáng sản Biển Đông và kế cận - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 6 Bản đồ địa chất – khoáng sản Biển Đông và kế cận (Trang 73)
Hình 7: Các vị trí có tiềm năng tìm kiếm Hydrat methan - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 7 Các vị trí có tiềm năng tìm kiếm Hydrat methan (Trang 82)
Hình 8: Sơ đồ phân bố một số khoáng sản rắn ven biển và biển - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 8 Sơ đồ phân bố một số khoáng sản rắn ven biển và biển (Trang 85)
Hình 9: Bản đồ địa mạo vùng biển Việt Nam và kế cận - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 9 Bản đồ địa mạo vùng biển Việt Nam và kế cận (Trang 108)
Hình 10: Bản đồ trầm tích đáy biển Đông - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 10 Bản đồ trầm tích đáy biển Đông (Trang 140)
Hình 16b: Bản đồ dòng chảy tầng 150m mùa hè (Đinh Văn Ưu, 2005) - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 16b Bản đồ dòng chảy tầng 150m mùa hè (Đinh Văn Ưu, 2005) (Trang 165)
Hình 17: Phân bố nhiệt độ tầng mặt Biển Đông vào mùa đông - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 17 Phân bố nhiệt độ tầng mặt Biển Đông vào mùa đông (Trang 173)
Hình 18: Phân bố độ muối tầng mặt Biển Đông vào mùa đông - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 18 Phân bố độ muối tầng mặt Biển Đông vào mùa đông (Trang 174)
Hình 19: Phân bố thẳng đứng của - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 19 Phân bố thẳng đứng của (Trang 175)
Hình 21: Biểu đồ nhiệt độ - độ muối của nước vùng Biển Đông (z) - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 21 Biểu đồ nhiệt độ - độ muối của nước vùng Biển Đông (z) (Trang 178)
Hình 23: Tính chất thủy triều vùng biển Việt Nam - biển đông. t.1, khái quát về biển đông
Hình 23 Tính chất thủy triều vùng biển Việt Nam (Trang 191)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm