Nghiên cứu, việc triển khai kiểm toán nội bộ đối, các doanh nghiệp Nhà nước
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Có thể nói doanh nghiệp là “tế bào” trong “cơ thể” nền kinh tế quốc dân
ở đó hàng ngày, hàng giờ luôn diễn ra các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo racủa cải vật chất làm thoả mãn nhu cầu của mỗi cá nhân cũng như của toàn bộ xãhội Với tư cách là thành viên chính trong nền kinh tế quốc doanh, các doanhnghiệp Nhà nước (DNNN) đã và đang có vai trò rất quan trọng trong việc điềutiết và phát triển kinh tế
Để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình một trong nhữngyếu tố để các doanh nghiệp nhà nước sử dụng là xây dựng và phát triển hệ thốngkiểm toán nội bộ Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, hoạt động kiểm toán nội bộtạo các doanh nghiệp nhà nước diễn ra không đồng bộ và chưa có hiệu qủa dotrong công tác triển khai còn gặp một số khó khăn nhất định Chính vì lý do trên,
em đã chọn đề tài: “Nghiên cứu việc triển khai kiểm toán nội bộ đối với các doanh nghiệp Nhà nước” để làm đề án môn học của mình.
Với đề tài này, em xin chỉ ra những tác dụng, lợi ích mà hệ thống kiểmtoán nội bộ đem lại cho các doanh nghiệp nhà nước đồng thời tìm hiểu và phântích những thuận lợi cũng như những khó khăn trong việc triển khai kiểm toánnội bộ đối với các doanh nghiệp nhà nước hiện nay
Đề tài của em được chia làm ba phần với các nội dung sau:
Phần I: Triển khai kiểm toán nội bộ – Một phương pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước.
Phần II: Những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai kiểm toán nội bộ tạo các doanh nghiệp nhà nước.
Phần III: Một số kiến nghị và giải pháp khắc phục.
Trang 2PHẦN I TRIỂN KHAI KIỂM TOÁN NỘI BỘ – MỘT PHƯƠNG PHÁP HỮU HIỆU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1 Sự cần thiết của việc triển khai kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp Nhà nước
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp nhà nước giữvai trò độc tôn nhưng hoạt động thiếu hiệu quả thậm chí còn gây ra những tácđộng xấu đến nền kinh tế Khi nhận thức được rằng phát triển nền kinh tế thịtrường là nhân tố để đưa nền kinh tế phát triển, các nhà lãnh đạo nước ta đã thựchiện một cuộc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tếthị trường với sự có mặt của nhiều thành phần kinh tế theo định hướng XHCN.Mặc dù có mặt của nhiều thành phần kinh tế nhưng thành phần kinh tế quốcdoanh mà thành viên chính là các doanh nghiệp nhà nước vẫn được Đảng vàNhà nước ta coi trọng Sự thành lập của các tổng công ty 90, 91 một lần nữa đãkhẳng định vị thế to lớn của các doanh nghiệp nhà nước trong tiến trình pháttriển kinh tế của đất nước ta
Với vai trò quan trọng như vậy, các doanh nghiệp nhà nước luôn được sựquan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước Các cơ quan này đòi hỏi các doanhnghiệp phải cung cấp những thông tin chính xác về tình hình tài chính, về hiệuquả và hiệu năng quản lý hoạt động kinh doanh trong đó hiệu năng dùng để chỉviệc hoàn thành các mục tiêu đề ra còn hiệu quả đề cập đến việc tối thiểu hoánhững chi phí để thực hiện các mục tiêu đó
Thi hành nghị định số 59/CP ngày 03 tháng 10 năm 1996 của Chính phủban hành “Quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với các doanhnghiệp nhà nước” ngày 12 tháng 11 năm 1996 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã banhành thông tư số 73 TC/TCDN quy định và hướng dẫn công tác báo cáo tàichính, công khai báo cáo tài chính và kiểm tra công tác kế toán hàng năm tại các
Trang 3doanh nghiệp nhà nước Theo văn bản này thì kể từ ngày 01/01/1997, nhà nước
sẽ không thực hiện xét duyệt quyết toán hàng năm của các doanh nghiệp Giámđốc doanh nghiệp có nhiệm vụ lập báo cáo tài chính chính xác, kịp thời, đầy đủtheo đúng quy định của Nhà nước và phải tự chịu trách nhiệm về sự trung thực,chính xác của báo cáo đó Báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhà nước phảiđược kiểm toán của kiểm toán viên nội bộ hoặc kiểm toán viên độc lập và chỉđược coi là hợp pháp, hợp lệ khi có đủ chữ ký của người lập, người kiểm toán,
kế toán trưởng, giám đốc và đóng dấu củadoanh nghiệp Nếu các báo cáo tàichính không đúng sự thật, không đủ các chứng cứ hợp pháp hoặc không kịp thờithì người lập và những người ký báo cáo tài chính phải chịu trách nhiệm trướcpháp luật
Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, mỗi cá nhân, mỗi thành viên trongdoanh nghiệp luôn đặt lợi ích của bản thân mình lên đầu, họ luôn tìm cách đạtđược những lợi ích lớn nhất cho dù để đạt được lợi ích này họ sẽ có những hành
vi sai trái đi ngược lại với những chế độ, quy định của nhà nước cũng như củadoanh nghiệp Ngoài ra, do những nguyên nhân khác nhau như tính chất phứctạp của công việc, trình độ năng lực của bản thân mà các thành viên trong doanhnghiệp có thể những sai sót trong công việc của mình Tất cả những điều trên sẽgây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Để ngănngừa những hành vi sai trái và phát hiện một cách nhanh chóng kịp thời nhữngsai sót trên thì mỗi doanh nghiệp phải có một hệ chuyên thực hiện công tác kiểmtra, giám sát hoạt động của toàn bộ doanh nghiệp
Như vậy một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu trong môi trường kiểmsoát nội bộ mạnh là điều kiện cần thiết để ban giám đốc điều khiển, quản lý kinhdoanh một cách có hiệu quả cũng như mang lại sự đảm bảo chắc chắn, đáng tincậy cho các quyết định và chế độ quản lý Kiểm toán nội bộ là một bộ phận cơbản và quan trọng trong hệ thống kiểm soát nội bộ, nó cung cấp những thông tin
Trang 4Do vậy hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay cũng nhưtrong tương lai phải luôn gắn liền với hoạt động kiểm toán nội bộ Kiểm toánnội bộ có ý nghĩa rất quan trọng và tồn tại một cách tất yếu trong các doanhnghiệp đặc biệt là trong điều kiện môi trường, đối tác kinh doanh được mở rộng
và quy luật cạnh tranh khắt khe của thị trường Trong điều kiện các báo cáo tàichính của doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa công khai đối với các đối tượng bênngoài doanh nghiệp khi có xác nhận của kiểm toán độc lập thì kiểm toán nội bộcũng rất có ý nghĩa và cần thiết đối với người quản lý và điều hành doanhnghiệp cũng như đối với tổ chức kiểm toán độc lập khi xem xét và kiểm toánbáo cáo tài chính doanh
2 Tiêu chuẩn để tổ chức kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp Nhà nước
Như ở trên đã phân tích, các doanh nghiệp nhà nước cần thiết phải triểnkhai kiểm toán nội bộ để thực hiện công tác kiểm toán trong nội bộ doanhnghiệp mình Khôn có những tiêu chuẩn tuyệt đối để quyết định việc thành lập
bộ phận kiểm toán nội bộ nhưng theo em việc thiết lập bộ phận kiểm toán nội bộcần xem xét một số yếu tố đó là:
2.1 Quy mô của doanh nghiệp
Quy mô của doanh nghiệp là tiêu chuẩn tiên quyết để một doanh nghiệptiến hành triển khai kiểm toán nội bộ trong đơn vị mình Trong thực tế hiện nay,rất ít doanh nghiệp nhỏ có bộ phận kiểm toán nội bộ và bộ phận này chỉ có cáctổng công ty với tổng giá trị tài sản và số vốn hoạt động lớn Nguyên nhân là docác tổng công ty thường có nhiều đơn vị thành viên vì vậy sẽ có một khoảngcách giữa tổng giám đốc với các nhà quản lý ở các đơn vị thành viên Khoảngcách này có thể gây ra sự biến dạng, sai lệch của những quy định chỉ thị đượctruyền từ ban giám đốc tổng công ty Do vậy một bộ phận kiểm toán nội bộ xuấthiện sẽ giải quyết được vấn đề này trong các đơn vị lớn
2.2 Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp.
Trang 5Phạm vi hoạt động hay sự phân tán về mặt địa lý của các bộ phận cũng làmột tiêu chuẩn để một doanh nghiệp tiến hành tổ chức bộ phận kiểm toán nội
bộ Nhiều doanh nghiệp nhà nước có thể có trụ sở chính ở 2 thành phố lớn là HàNội và TP Hồ Chí Minh nhưng lại có nhiều đơn vị trực thuộc tại các tỉnh, thànhphố khác trong cả nước Khiến cho đôi khi việc nắm bắt tình hình hoạt động tạicác đơn vị thành viên gặp khó khăn do sự xa cách về mặt địa lý Do vậy cácdoanh nghiệp này cần có kiểm toán nội bộ để đánh giá tình hình hiệu quả, hiệunăng của các đơn vị thành viên để những nhà quản lý doanh nghiệp có thể nắmbắt và ra những quyết định kịp thời
2.3 Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.
Ở những doanh nghiệp có nhiều lĩnh vực hoạt động kinh doanh thường cónhững sai sót, rủi ro trong quá trình hoạt động bởi vì các nhà quản lý thường chỉ
ra những thủ tục, quy tắc thống nhất cho tất cả các lĩnh vực hoạt động trong khi
đó có thể những quy tắc thủ tục này là chặt chẽ với lĩnh vực hoạt động nàynhưng lại lỏng lẻo, thiếu hiệu quả với lĩnh vực hoạt động khác, và tại những lĩnhvực hoạt động trên thường tồn tại những sai sót, gian lận mà các nhà quản lýkhông phát hiện được Một bộ phận kiểm toán nội bộ được thành lập sẽ giúp cácnhà quản lý đưa ra các thủ tục quy trình kiểm soát riêng cho từng lĩnh vực hoạtđộng để hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót và gian lận có thể có
2.4 Năng lực, trình độ của nhân viên.
Ngay ở những doanh nghiệp có quy mô, phạm vi hoạt động lớn và cónhiều lĩnh vực hoạt động thì tất cả các thông tin đều có thể tin cậy nếu nhưdoanh nghiệp có một đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn cao, tưcách đạo đức tốt Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có đội ngũ cán
bộ nhân viên có đủ những điều kiện trên
Đối với các doanh nghiệp này thì các thông tin về quá trình hoạt độngluôn ẩn chứa những sai sót rủi ro do trình độ năng lực cũng như đạo đức nghề
Trang 6trình hoạt động có thể phát hiện ra các sai sót và rủi ro này và có những kiếnnghị, giải pháp nhằm ngăn ngừa những sai phạm trên.
3 Chức năng và nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ
Chức năng của kiểm toán nội bộ là kiểm tra đánh giá tính liên tục, tínhhiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như chất lượngthực thi của các hoạt động trong doanh nghiệp
Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ là:
- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ, tài liệu, số liệu kế toán,việc chấp hành chế độ, thể lệ kế toán tài chính của nhà nước
- Kiểm tra và xác nhận mức độ trung thực, hợp lý của báo cáo quyết toán
do kế toán và các bộ phận khác trong doanh nghiệp lập ra
- Kiểm tra và xác nhận giá trị vốn góp của doanh nghiệp và các đối táctham gia liên doanh với doanh nghiệp Kiểm tra xác nhận tính trung thực hợp lýđầy đủ của số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của đơn vị liên doanh
- Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lý của hệ thống kiểm soát nội bộtrong đó có hệ thống kế toán, giám sát sự hoạt động và tham gia hoàn thiệnchúng
- Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lý của các quy chế kiểm soát nội bộđồng thời có kiến nghị hoàn thiện các quy chế này
- Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ trên, kiểm toán nội bộ có tráchnhiệm hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ kế toán và các cán bộ nghiệp vụ khác cóliên quan, đề xuất các quyết định quản lý, xử lý về tài chính kế toán và các nộidung khác
Như vậy lĩnh vực chủ yếu của kiểm toán nội bộ là kiểm toán hoạt động vàkiểm toán tuân thủ chứ không phải là kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp.Kiểm toán nội bộ chỉ soát xét, kiểm tra các thông tin tài chính giúp chủ doanhnghiệp ký duyệt báo cáo tài chính mà không thực hiện kiểm toán báo cáo tàichính theo đúng nghĩa của từ này (gồm kiểm tra và xác nhận báo cáo tài chính).Kiểm toán nội bộ về nguyên tắc chỉ chịu trách nhiệm đối với chủ doanh nghiệp
Trang 7mà không có trách nhiệm đối với các đối tượng sử dụng thông tin ở bên ngoàidoanh nghiệp Vì vậy đối với doanh nghiệp nhà nước với chủ sở hữu là nhànước, kiểm toán nội bộ chịu trách nhiệm trước giám đốc cũng có nghĩa là chịutrách nhiệm với nhà nước Vì lẽ này các kiểm toán viên nội bộ tiến hành kiểmtra báo cáo tài chính giúp ban giám đốc tự chịu trách nhiệm về tính trung thực,hợp lý của báo cáo tài chính đối với nhà nước như quy định trong Nghị định 59/
CP và thông tư 73/TC/TCDN là hoàn toàn hợp lý
Ngoài ra khi xem xét chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ, các đặctrưng sau đây của kiểm toán nội bộ cần được quán triệt sâu sắc để hướng dẫncác hành động trong thực tiễn
Một là: Kiểm toán nội bộ có tính chất bắt buộc và cưỡng chế theo yêu cầu
của ban giám đốc đối với các đơn vị, các hoạt động thuộc quyền Kiểm toán nội
bộ có thẩm quyền kiểm tra đối với các hoạt động của đơn vị chính cũng như đơn
vị phụ thuộc Thẩm quyền này không chỉ đối với lĩnh vực kế toán – tài chính màbao gồm mọi lĩnh vực trong hoạt động của doanh nghiệp Đây là tiêu chí cơ bản
để nói rằng kiểm toán nội bộ khác với kiểm tra kế toán nội bộ hay nói cách kháckiểm toán nội bộ có phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều so với kiểm tra kế toán nộibộ
Hai là: Theo yêu cầu quản lý của ban giám đốc, kiểm toán nội bộ là hoạt
động không thu phí đối với các đơn vị, bộ phận trực thuộc được kiểm toán
Ba là: Cũng giống như kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ có mục đích
lớn là thông qua kiểm toán để cải tiến và hoàn thiện các hoạt động ở doanhnghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu quả sử dụng vốn và hiệuquả sản xuất kinh doanh, khắc phục những khâu yếu, giúp ban giám đốc pháthiện, ngăn chặn và xử lý các gian lận, sai sót trong hoạt động của doanh nghiệp
Bốn là: Tuy kiểm toán nội bộ được tổ chức độc lập với những bộ phận
được kiểm tra nhưng kiểm toán nội bộ là một bộ phận của đơn vị, không thể độc
Trang 8dù được ban giám đốc doanh nghiệp tin tưởng nhưng không có hoặc ít có giá trịhợp lý ở bên ngoài.
4 Cơ cấu của bộ phận kiểm toán nội bộ.
Bộ máy kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp có quy mô lớn (thường làtổng công ty) được xây dựng bao gồm:
- Trưởng phòng kiểm toán
- Phó trưởng phòng kiểm toán (có thể có hoặc không)
- Nhóm trưởng kiểm toán
- Các kiểm toán viên nội bộ
4.1 Trưởng phòng kiểm toán nội bộ.
Trưởng phòng kiểm toán nội bộ là người đứng đầu phòng kiểm toán nội
bộ doanh nghiệp ở các doanh nghiệp nhà nước, trưởng phòng kiểm toán nội bộ
do tổng giám đốc bổ nhiệm sau khi có ý kiến bằng văn bản của bộ chủ quảndoanh nghiệp
Nhiệm vụ và quyền hạn của trưởng phòng kiểm toán nội bộ:
- Chủ động xây dựng kế hoạch và lập chương trình kiểm toán hàng năm
- Tổ chức các cuộc kiểm toán trong nội bộ doanh nghiệp theo nhiệm vụ,
kế hoạch và chương trình dự án đã được tổng giám đốc phê duyệt
- Quản lý, bố trí phân công công việc cho kiểm toán viên và thực hiện cácbiện pháp đào tạo, huấn luyện kiểm toán viên, đảm bảo không ngừng nâng caotrình độ và năng lực của các kiểm toán viên cũng như bộ máy kiểm toán nội bộ
- Đề xuất với tổng giám đốc về việc đề bạt, bổ nhiệm, khen thưởng kỷluật đối với kiểm toán viên nội bộ
- Kiến nghị các thay đổi về chính sách, đường lối nhằm nâng cao hiệu quảtrong công tác quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp
- Khi phát hiện có hiện tượng vi phạm pháp luật hoặc những quyết địnhtrái với chủ trương, chính sách chế độ của doanh nghiệp phải có trách nhiệm báocáo các cấp có thẩm quyền đồng thời nghiên cứu đưa ra các giải pháp để giảiquyết kịp thời
Trang 94.2 Nhóm trưởng kiểm toán
Nhóm trưởng kiểm toán là cấp trên của các kiểm toán viên thường cónhiệm vụ trợ lý, giám sát quá trình tiến hành các cuộc kiểm toán, lãnh đạo mộtnhóm các nhân viên kiểm toán, xem xét lại công việc của các thành viên trongnhóm, là người giữ liên lạc giữa bộ phận được kiểm toán và bộ phận kiểm toán,giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm toán
4.3 Kiểm toán viên nội bộ.
Các kiểm toán viên nội bộ là những thành viên không thể thiếu trong bộphận kiểm toán Theo quy định tại QĐ 832/TC/CĐKT ngày 28 tháng 10 năm
1997 của Bộ tài chính, người được bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ làm kiểm toánviên nội bộ tại các doanh nghiệp nhà nước phải có đủ các tiêu chuẩn sau:
Một là: có phẩm chất trung thực, khách quan chưa có tiền án tiền sự, chưa
bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên do có các sai phạm trong quản lý kinh tế, tàichính, kế toán
Hai là: Đã tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế, tài chính kế toán hoặc quản
trị kinh doanh
Ba là: Đã công tác thực tế trong lĩnh vực quản lý tài chính kế toán từ năm
năm trở lên trong đó có ít nhất ba năm làm việc tại doanh nghiệp nơi được giaonhiệm vụ kiểm toán viên
Ban giám đốc có quyền đánh giá và lựa chọn kiểm toán viên nội bộ chodoanh nghiệp dựa trên phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn của kiểmtoán viên
Trách nhiệm của kiểm toán viên nội bộ:
- Kiểm toán viên nội bộ thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch kiểm toán đãđược tổng giám đốc phê duyệt và chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc về chấtlượng, về tính trung thực hợp lý của báo cáo kiểm toán và những thông tin tàichính kế toán đã được kiểm toán
Trang 10- Trong quá trình thực hiện công việc, kiểm toán viên nội bộ phải tuân thủluật pháp, tuân thủ các nguyên tắc chuẩn mực nghề nghiệp và kiểm toán và cácchính sách chế độ của nhà nước.
- Kiểm toán viên nội bộ phải đảm bảo tính khách quan, đề cao tính độclập trong hoạt động kiểm toán, không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn,cập nhật kiến thức, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp
- Tuân thủ nguyên tắc bảo mật số liệu, tài liệu đã được kiểm toán
Quyền hạn của kiểm toán viên nội bộ:
- Được độc lập về chuyên môn nghiệp vụ, không bị chi phí hoặc can thiệpkhi thực hiện hoạt động kiểm toán và trình bày ý kiến trong báo cáo kiểm toán
- Có quyền yêu cầu các bộ phận cá nhân được kiểm toán và các bộ phậnliên quan cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho công tác kiểm toán
- Được ký xác nhận trên báo cáo kiểm toán nội bộ do cá nhân tiến hànhhoặc chịu trách nhiệm thực hiện theo nhiệm vụ kiểm toán được giao
- Nêu các ý kiến đề xuất, các giải pháp, kiến nghị cho việc cải tiến, hoànthiện công tác quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngăn ngừa cácsai sót, gian lận và các việc làm sai trái trong doanh nghiệp
- Được bảo lưu ý kiến đã trình bày trong báo cáo kiểm toán nội bộ, đượcquyền đề nghị cơ quan chức năng của nhà nước xem xét lại quyết định của tổnggiám đốc về việc bãi nhiễm kiểm toán viên
5 Mô hình tổ chức của kiểm toán nội bộ.
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách hữu hiệu, bộ phận kiểm toánnội bộ phải trực thuộc cấp cao nhất trong doanh nghiệp ở các doanh nghiệpkhông có hội đồng quản trị, bộ phận kiểm toán nội bộ thường được tổ chức trựcthuộc ban giám đốc ở các nước Châu âu trong các công ty lớn, bộ phận kiểmtoán nội bộ trực thuộc uỷ ban kiểm toán hội đồng quản trị Uỷ ban này gồm một
số thành viên của hội đồng quản trị nhưng không giữ chức vụ hay đảm nhận mộtcông việc nào trong công ty Tính chất độc lập giúp cho uỷ ban kiểm toán thựchiện tốt chức năng giám sát của mình đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp
Trang 11Mô hình hoạt động ở các tổng công ty được thành lập theo nghị định90/CP và 91/CP của nước ta khác so với các nước trên Trong mỗi tổng công tycòn có ban kiểm soát trực thuộc hội đồng quản trị Ngoài các thành viên chuyêntrách, hội đồng quản trị còn có một số thành viên kiêm nhiệm, trong bàn soátngoài trưởng ban kiểm soát thì phần lớn các uỷ viên là thành viên kiêm nhiệmtrong đó có thành viên không thuộc tổng công ty Với bộ máy như vậy ban kiểmsoát khó lòng thực hiện tốt các nhiệm vụ và trách nhiệm theo quy định của nhànước được ban hành theo điều lệ mẫu của tổng công ty nhà nước Vì vậy theo
em ở các tổng công ty được thành lập theo nghị định 90/CP và 91/CP, bộ phậnkiểm toán nội bộ phải trực thuộc hội đồng quản trị mà trực tiếp là ban kiểm soát
Dưới đây em xin đưa ra mô hình bộ phận kiểm toán nội bộ tại các doanhnghiệp nhà nước
Trang 12Ngoài ra để thực hiện một cuộc kiểm toán đạt hiệu quả cao nhất thì việcxác định số lượng các nhân viên kiểm toán là rất quan trọng, số lượng nhân viênkiểm toán có thể được xác định qua công thức sau đây:
= ai x t + b
+ ai: Thời gian cần thiết để tiến hành kiểm toán một hoạt động hoặc một bộphận của doanh nghiệp bao gồm cả thời gian kiểm toán dự tính, thời gian đi lại(nếu có)
+ t: Tần suất kiểm toán các bộ phận hoặc hoạt động tương ứng/năm
+ b: Thời gian dự kiến phát sinh cho các hoạt động đào tạo, nghỉ ốm, nghỉphép, hội họp
+ k: Thời gian làm việc trung bình của một kiểm toán viên/năm
+ n: Tổng số bộ phận hoặc hoạt động cần kiểm toán
Trưởng nhóm kiểm toán
Kiểm toán
viên nội bộ
Kiểm toán viên nội bộ
Kiểm toán viên nội bộ
Trang 136 Mối quan hệ giữa kiểm toán nội bộ với các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước
Khác với các loại hình doanh nghiệp khác, ở các doanh nghiệp nhà nước
bộ phận kiểm toán nội bộ sẽ có quan hệ mật thiết với các cơ quan tài chính củanhà nước ở Vương quốc Anh, hoạt động của kiểm toán viên nội bộ tại các đơn
vị tài chính sử dụng chi tiêu vốn và kinh phí cuả ngân sách nhà nước do Bộ tàichính quản lý Bộ tài chính của Vương quốc Anh còn biên soạn cả các tài liệuhướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn cho kiểm toán viên nội bộ thuộc lĩnh vực nhànước quản lý Tương tự như vậy, Bộ tài chính Việt Nam cũng có vai trò tráchnhiệm rất lớn đối với việc tổ chức và hoạt động của kiểm toán nội bộ trong cácdoanh nghiệp nhà nước, có thể coi kiểm toán nội bộ là “chân rết” của Bộ tàichính để quản lý hệ thống ngay tại các đơn vị cơ sở
Trang 14PHẦN II NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN MÀ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC GẶP PHẢI KHI TIẾN HÀNH TRIỂN KHAI
KIỂM TOÁN NỘI BỘ
So với hai loại hình kiểm toán nhà nước và kiểm toán độc lập thì kiểmtoán nội bộ ra đời muộn hơn Tuy mới ra đời nhưng hoạt động kiểm toán nội bộ
đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận, đóng góp rất lớn vào sự tồntại và phát triển của các doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường
Tác dụng đầu tiên phải kể đến đó là sự ra đời của kiểm toán nội bộ đã gópphần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống kế toán về hệ thống kiểm soátnội bộ doanh nghiệp Trong điều kiện nước ta hiện nay, số cán bộ làm việc với
tư cách là các kế toán viên có bằng đại học chính quy còn thấp và chưa đượcchuẩn hoá, hơn nữa do nước ta có sự chuyển đổi cơ chế kinh tế khiến cho cácmối quan hệ kinh tế, chế độ kế toán thay đổi nhiều lần cụ thể là vào tháng12/1995 nhà nước ta ban hành hệ thống kế toán – tài chính doanh nghiệp mới,đảm bảo yêu cầu quản lý vĩ mô của nhà nước, hoà nhập với thông lệ kế toán phổbiến trên thế giới trong đó có tính đến điều kiện cụ thể của Việt Nam, trong khi
đó hoạt động kiểm tra kiểm soát chưa chuyển hướng kịp thời dẫn đến tình trạnghoạt động kế toán trong các doanh nghiệp nhà nước còn nhiều lộn xộn Chính sự
ra đời của kiểm toán mà trực tiếp là kiểm toán nội bộ đã góp phần đưa công tác
kế toán tài chính của các doanh nghiệp nhà nước vào nề nếp, hướng dẫn nghiệp
vụ cho các cán bộ làm công tác này
Ngoài ra, kiểm toán nội bộ ra đời với mục đích đánh giá tính trung thựccủa các thông tin kinh tế tài chính đã giúp cho giám đốc doanh nghiệp có nhữngnhận định đúng đắn về tình hình hoạt động của đơn vị mình Các thông tin đókhông chỉ bao gồm các thông tin trên bảng khai tài chính mà còn là các thông tintrong mọi hoạt động của doanh nghiệp từ việc tiếp nhận vốn đến những thôngtin trong hoạt động kinh doanh và hoạt động quản lý Điển hình tại tổng công ty
Trang 15xây dựng Sông Đà, bộ phận kiểm toán nội bộ qua các cuộc kiểm toán đã giúpcho ban giám đốc khắc phục được những thiếu sót nhằm nâng cao hiệu quảtrong công tác quản lý nói chung và công tác quản lý tài chính nói riêng làm chovốn của công ty không những bị thất thoát mà còn không ngừng tăng trưởng.Qua các cuộc kiểm toán, bộ phận kiểm toán nội bộ đã phát hiện thấy một sốthành viên chi sai nguyên tắc, dùng tiền của khoản này chi cho khoản kia làmthất thoát ngân sách gần 1 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, bộ phận kiểm toán nội bộ ra đời đã làm hạn chế rất nhiềunhững gian lận và sai sót của các cán bộ công nhân viên khiến cho hiệu quả hoạtđộng của các doanh nghiệp tăng đáng kể
Tuy có nhiều tác dụng tích cực như vậy nhưng cho đến nay việc triển khaikiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp nhà nước còn rất chậm Ngoại trừ cáctổng công ty 90, 91 đã chính thức đưa kiểm toán nội bộ vào hoạt động còn tạicác doanh nghiệp khác hoạt động kiểm toán nội bộ chưa có hoặc có thể cũng chỉ
là hình thức chứ hoạt động chưa hiệu quả Nguyên nhân của tình trạng này thì cónhiều bởi vì như ở phần I đã phân tích, tiêu chuẩn để thiết lập kiểm toán nội bộphụ thuộc vào quy mô phạm vi hoạt động, lĩnh vực hoạt động và trình độ nănglực của nhân viên Trong khuôn khổ nhỏ bé của bài đề án môn học này em chỉxin đưa ra và phân tích thực trạng một số nhân tố mà theo suy nghĩ của emnhững vấn đề còn tồn tại trong các nhân tố này là nguyên nhân cản trở việc tổchức triển khai kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp nhà nước
1 Về mặt cơ sở pháp lý
Bộ phận kiểm toán nội bộ đã phát triển cực nhanh ở Mỹ cũng như ở Châu
Âu từ những năm 60 Sự phát triển này đã được khuyến khích bởi sự thành lậpcủa tổ chức kiểm toán nội bộ (IIA) năm 1941 tại New York, tổ chức này đã xácđịnh bản chất, mục tiêu và phạm vi hoạt động của bộ phận kiểm toán nội bộ Tổchức kiểm toán nội bộ là thành viên của liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) và
Trang 16Tại Việt Nam thì phải đến năm 1996, thuật ngữ kiểm toán nội bộ mới xuấthiện trong các văn bản của nhà nước Sau nghị định số 59/CP ngày 03/10/1996của chính phủ ban hành “quy định quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đốivới các doanh nghiệp nhà nước” ngày 12tháng 11 năm 1996, Bộ tài chính đã rathông tư số 73/TC/TCDN nhằm hướng dẫn lập, công bố công khai báo cáo tàichính và kiểm tra báo cáo tài chính hàng năm ở thông tư này quy định bắt buộccác doanh nghiệp nhà nước phải thường xuyên tự tổ chức kiểm toán nội bộ trongdoanh nghiệp Báo cáo tài chính của doanh nghiệp phải được kiểm toán và cóxác nhận đã được kiểm toán của kiểm toán nội bộ hoặc kiểm toán độc lập.
Tuy nhiên phải đến gần một năm sau, văn bản chính thức đầu tiên củaViệt nam quy định đầy đủ về kiểm toán nội bộ mới ra đời Đó là quyết định 832TC/QĐ/CĐKT ngày 28/10/1997 của Bộ tài chính về “Quy chế kiểm toán nộibộ” áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Quy chế này gồm 5 chương vớinội dung những quy định chung; Những quy định về nội dung, trình tự, phươngpháp của kiểm toán nội bộ; kiểm toán viên nội bộ; Tổ chức kiểm toán nội bộ; Tổchức thực hiện
Như vậy với quyết định này, các doanh nghiệp nhà nước đã có một hànhlang pháp lý để tiến hành việc thành lập và triển khai kiểm toán nội bộ Tại điều
3 trong văn bản này quy định các doanh nghiệp nhà nước phải thường xuyên tổchức kiểm toán nội bộ nhằm đánh giá về chất lượng và độ tin cậy của các thôngtin kinh tế tài chính, về bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, về việc chấp hành luậtpháp, chính sách chế độ của nhà nước cũng như các nghị quyết, quyết định củahội đồng quản trị và ban giám đốc doanh nghiệp
Tiếp đó vào ngày 16/4/1998, Bộ tài chính đã ra thông tư số 52/1998 TT –BTC về “Hướng dẫn tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp nhànước” Tuy nhiên trong quá trình thực thi nhiều quy định về bộ máy kiểm toánnội bộ, cơ cấu bộ máy kiểm toán nội bộ và kiểm toán viên nội bộ đã gặp nhữngvướng mắc
1.1 Về bộ máy kiểm toán nội bộ.