Đánh giá nguồn thu ngân sách nhà nước từ các khoản viện trợ trong khoản thời gian thừ 2006-2010
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay Việt Nam đang trong quá trình đầy mạnh công cuộc công nghiệp hiện đại hoá đất nước Để có những bước phát triển lớn hơn, chúng ta cần rất nhiềunguồn lực đặc biệt vốn là một yếu tố quan trọng, không thể thiếu.Mặc dù đã trải qua hơnmột thập kỷ đổi mới nhưng Việt Nam vẫn được coi là mới bắt đầu bước vào giai đoạnđầu của tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá Bên cạnh việc khơi dậy và phát huynguồn vốn nội lực,chúng ta cần tranh thủ mọi nguồn vốn bên ngoài đặc biệt là nguồn việntrợ phát triển chính thức.Nguồn vốn này ngày càng có vai trò to lớn, quan trọng trong sựnghiệp đổi mới của chúng ta hiện nay vì đây không chỉ là nguồn vốn có nhiều điều kiện
hoá-ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn, khối lượng, phương thức thanh toán thời gian cho vay
mà nó còn có ý nghĩa trong việc chuyển giao tri thức, công nghệ thích hợp, đào tạo nguồnnhân lực, giúp xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống ở các vùng nông thôn,miền núi, cải thiện môi trường, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Do đó huy động nguồnthu NSNN từ các khoản viện trợ được xem là một chiến lược đặc biệt quan trọng cho việctạo đà phát triển cho nền kinh tế Việt Nam
Việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn viện trợ phát triển chính thức còn cómột ý nghĩa quan trọng trong điều kiện nguồn viện trợ này có xu hướng ngày một khanhiếm Do vậy, làm thế nào để tạo nguồn thu và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốnviện trợ trở nên bức thiết hơn bao giờ hết nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu pháttriển kinh tế-xã hội
Thông qua việc nghiên cứu và đánh giá nguồn thu NSNN từ các khoản viện trợ,đặc biệt là ODA ở Việt Nam hiện nay để thấy được những bất cập trong quá trình quản lýnguồn vốn này Đó là lý do mà nhóm chúng tôi chọn đề tài : “Đánh giá nguồn thu ngânsách nhà nước từ các khoản viện trợ trong khoản thời gian thừ 2006-2010” để nghiên cứu
và báo cáo
Trang 2CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN I.Tổng quan về các khoản viện trợ:
1.Khái niệm:
Viện trợ nước ngoài là một luồng vốn đổ vào hoặc một sự trợ giúp nào đó từ nhữngnước phát triển cho các nước kém và đang phát triển để tạo ra hoặc làm biến đổi một cáchsâu sắc nền kinh tế của nước đó nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung
2.Các dạng viện trợ:
Có bốn dạng viện trợ chính:
Thứ nhất, các khoản cho vay dài hạn phải được thanh toán lại bằng loại ngoại tệ,thường có thể trả trong vòng 10 hoặc 20 năm Lợi thế đói với người nhận là tiền thanhtoán hàng năm ít hơn nhiều so với tiền thanh toán của các khoản cho vay ngắn và trunghạn
Thứ hai là những khoản “vay mềm” có thể được thanh toán lại bằng tiền trong nước.Một số được trả bằng ngoại tệ nhưng trong một thời gian dài chẳng hạn như 99 năm vớilãi suất rất thấp, trong khi đó số nợ được thanh toán bằng tiền trong nước sẽ được cho vaylại để nước nhận tiếp tục các công trình phát triển Đôi khi, trợ cấp trực tiếp được thựchiện
Dạng thứ ba là việc bán các sản phẩm dư thừa cho một nước để đổi lấy việc thanhtoán bằng tiền trong nước của nước này như chương trình PL 480 của Mỹ Điều này cóthể rất có ý nghĩa cho một nước chậm phát triển có rất ít ngoại tệ vì nó sẽ giúp nhữngnước này mua được hàng hóa từ nước ngoài Các nước này thường phải nhập khẩu lươngthực, thực phẩm và các hàng tiêu dùng khác vì khu vực nông nghiệp của họ không thểsản xuất ra đủ để nuôi sống công nhân thành thị trong các ngành xây dựng hoặc các côngtrình đầu tư khác
Dạng thứ tư của viện trợ, không hoàn toàn là một luồng vốn mà là sự trợ giúp về kỹthuật dành cho các nước chậm phát triển
3.Vai trò của viện trợ:
Viện trợ nước ngoài giữ một vai trò quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháttriển kinh tế - xã hội của một quốc gia.Viện trợ nước ngoài có thể góp phần tạo ra hoặc
Trang 3làm biến đổi một cách sâu sắc một ngành kinh tế hoặc thậm chí một nền kinh tế của mộtnước.
Viện trợ nước ngoài đã nhằm hai mục tiêu song song:
Mục tiêu thứ nhất: là thúc đẩy tăng trưởng dài hạn và giảm nghèo ở những nước đangphát triển; động cơ chính của mục tiêu này là sự kết hợp giữa tinh thần vị tha và nhữngquan tâm tính toán mang tính cá nhân các nhà tài trợ hơn là nhằm vào những lợi ích lâudài về an ninh kinh tế chính trị khi các nước nghèo tăng trưởng
Mục tiêu thứ hai: là tăng cường lợi ích chiến lược và chính trị ngắn hạn của các nướctài trợ, hoặc nhằm vào những chế độ là đồng minh chính trị của các cường quốc phươngTây
Tuy vậy viện trợ nước ngoài không phải luôn luôn tạo ra hiệu quả giống nhau mà phụthuộc vào chính sách tiếp nhận viên trợ của từng nước
Có rất nhiều nghiên cứu về lĩnh vực viện trợ nước ngoài Tuy nhiên, có hai lý do quantrọng khiến người ta quan tâm theo dõi, nghiên cứu về vấn đề này Thứ nhất, những thayđổi sâu sắc trong môi trường kinh tế và chính trị toàn cầu trong thời gian vừa qua - nhất
là việc kết thúc chiến tranh lạnh và dòng vốn tư nhân ồ ạt đổ vào các nước đang pháttriển Thứ hai, ngày nay chiến lược phát triển kinh tế của những nước cung cấp viện trợcũng như tiếp nhận viện trợ đã được điều chỉnh, thay đổi và do đó đã đòi hỏi phải có mộtphương thức viện trợ mới
Tóm lại, không thể phủ nhận tác dụng to lớn của viện trợ quốc tế trong quá trình pháttriển kinh tế của một quốc gia, chúng ta tin tuởng rằng, cùng với việc thực hiện đường lốiĐổi mới về kinh tế, Việt nam đã và sẽ tiếp tục nhận được sự tài trợ mạnh mẽ của các nhàtài trợ quốc tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng vănminh
Trong đó, vốn ODA là một phần chủ yếu của nguồn tài chính mà chính phủ các nướcphát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ pháttriển kinh tế và phúc lợi xã hội cho các quốc gia này Hơn 15 năm qua Việt Nam đã cóđược những thành công đáng kể trong lĩnh vực này, nhưng đồng thời cũng nổi lên nhiềubất cập đòi hỏi Chính Phủ và Quốc Hội phải quan tâm đúng mức
Trang 4II.Tổng quan về nguồn viện trợ ODA:
1.Khái niệm về ODA( Official Development Assistance):
Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là viện trợ phát triển chính thức (ODA
-Official Development Assistance) là các khoản viện trợ không hoàn lại, khoản vay với
những điều kiện ưu đãi hoặc hỗn hợp các khoản trên được cung cấp bởi các nhà nước, tổchức kinh tế, tài chính quốc tế và các tổ chức phi chính phủ nhằm hỗ trợ cho phát triểnkinh tế - xã hội ở những nước đang và chậm phát triển được tiếp nhận nguồn vốn này
2 Đặc điểm của nguồn vốn ODA
- Vốn ODA là nguồn vốn có tính ưu đãi của các nước phát triển, các tổ chức quốc
tế đối với các nước đang và chậm phát triển
Với mục tiêu trợ giúp các nước đang và chậm phát triển, vốn ODA mang tính ưuđãi hơn bất cứ nguồn tài trợ nào khác Thể hiện:
+ Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD
+ Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài (chỉtrả lãi, chưa trả nợ gốc) Vốn ODA của WB, ADB, Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản(Japanese Bank for International Cooperation - JBIC) có thời gian hoàn trả là 40 năm vàthời gian ân hạn là 10 năm
+ Thông thường vốn ODA có một phần viện trợ không hoàn lại, phần này dưới25% tổng số vốn vay Ví dụ OECD cho không 20-25% tổng vốn ODA Đây chính làđiểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại
+ Các khoản vay thường có lãi suất thấp, thậm chí không có lãi suất Lãi suất giaođộng từ 0,5% đến 5% /năm (trong khi lãi suất vay trên thị trường tài chính quốc tế là trên7% /năm và hàng năm phải thoả thuận lại lãi suất giữa hai bên) Ví dụ lãi suất của ADB
là 1%/năm; của WB là 0,75% /năm; Nhật thì tuỳ theo từng dự án cụ thể trong năm tàikhoá Ví dụ từ năm 1997-2000 thì lãi suất là 1,8%/năm
Nhìn chung, các nước cung cấp vốn ODA đều có những chính sách và ưu tiênriêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật
và tư vấn (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý) Đồng thời, đối tượng ưu tiên của cácnước cung cấp vốn ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể
Trang 5- Vốn ODA thường kèm theo các điều kiện ràng buộc nhất định:
Tuỳ theo khối lượng vốn ODA và loại hình viện trợ mà vốn ODA có thể kèm theonhững điều kiện ràng buộc nhất định Những điều kiện ràng buộc này có thể là ràng buộcmột phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh tế, xã hội và thậm chí cả ràng buộc
về chính trị Thông thường, các ràng buộc kèm theo thường là các điều kiện về mua sắm,cung cấp thiết bị, hàng hoá và dịch vụ của nước tài trợ đối với nước nhận tài trợ Ví dụ,
Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa và dịch vụ củanước mình… Canada yêu cầu cao nhất, tới 65% Thụy Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%, Hà Lan2,2%, hai nước này được coi là nhữngnước có tỷ lệ ODA yêu cầu phải mua hàng hóa vàdịch vụ của Nhà tài trợ thấp Nhìn chung, 22% viện trợ của DAC phải được sử dụng đểmua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia viện trợ Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cảtính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của nước viện trợ Các nước viện trợ nói chungđều không quên dành được lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiệnxuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ
- ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ:
Vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trongkhi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ Do đó, các nước nhận ODA phải sửdụng sao cho có hiệu quả, tránh lâm vào tình trạng không có khả năng trả nợ
3 Phân loại nguồn vốn ODA
3.1 Theo tính chất:
- ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp vốn ODA mà nước tiếp nhận không phảihoàn trả lại cho các Nhà tài trợ
- ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều kiện ưu đãi
về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” (còn gọi
là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối vớicác khoản vay không ràng buộc;
- ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãiđược cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại có
Trang 6“yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đốivới các khoản vay không ràng buộc.
3.2 Theo nguồn vốn cung cấp:
- ODA song phương: là nguồn vốn ODA của Chính phủ một nước cung cấp cho Chính
phủ nước tiếp nhận Thông thường vốn ODA song phương được tiến hành khi một sốđiều kiện ràng buộc của nước cung cấp vốn ODA được thoả mãn
- ODA đa phương: là nguồn vốn ODA của các tổ chức quốc tế cung cấp cho Chính phủnước tiếp nhận So với vốn ODA song phương thì vốn ODA đa phương ít chịu ảnh hưởngbởi các áp lực thương mại, nhưng đôi khi lại chịu những áp lực mạnh hơn về chính trị
3.3 Theo đối tượng sử dụng:
- ODA hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể Nó cóthể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay ưu đãi
- ODA phi dự án: Bao gồm các loại hình sau:
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ)hoặc hỗ trợ hàng hóa, hỗ trợ nhập khẩu Ngoại tệ hoặc hàng hóa được chuyển qua hìnhthức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách
+ Hỗ trợ trả nợ (hỗ trợ ngân sách)
- ODA hỗ trợ chương trình: là khoản vốn ODA dành cho một mục đích tổng quát với thờigian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thếnào
3.4 Căn cứ theo mục đích
- Hỗ trợ cơ bản: Là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
kinh tế, xã hội và môi trường Đây thường là những khoản cho vay ưu đãi
- Hỗ trợ kỹ thuật: Là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công nghệ, xâydựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư, phát triển thể chế
và nguồn nhân lực… hình thức hỗ trợ này chủ yếu là viện trợ không hoàn lại
3.5 Căn cứ theo điều kiện
- ODA không ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởinguồn sử dụng hay mục đích sử dụng
Trang 7- ODA có ràng buộc nước nhận:
+ Bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là việc mua sắm hàng hóa, trang thiết bị hay dịch vụ bằngnguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát(đối với viện trợ song phương) hoặc các công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ
-Lãi suất thấp (dưới 20%, trung bình từ 0.25%năm)
-Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thờigian ân hạn 8-10 năm)
-Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% củatổng số vốn ODA
Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mởrộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốcphòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vàomột số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổicùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thếgiới).Ví dụ:
- Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộcác ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ.Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho nhữngdanh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tưtrực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năngsinh lời cao
- Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn vớiviệc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không
Trang 8cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự
án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự áncủa họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường laođộng thế giới)
- Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhậpkhẩu tối đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODAphải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất
- Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, cácdanh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù khôngtrực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầuhoặc hỗ trợ chuyên gia
- Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tănglên
Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và
sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệmtrong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chấtlượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếp nhậnODA vào tình trạng nợ nần
Trang 9CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGUỒN THU NSNN TỪ KHOẢN VIỆN TRỢ ODA
TRONG GIAI ĐOẠN TỪ 2006-2010:
Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rất nhiều, sốlượng nhà tài trợ ODA cho Việt Nam ngày càng tăng Hiện nay có 51 nhà tài trợ ODAcho Việt Nam bao gồm 28 nhà tài trợ song phương, 23 nhà tài trợ đa phương và khoảng
600 tổ chức phi chính phủ đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam Ngoài các nước làthành viên của Tổ chức OECD-DAC còn có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn
độ, Hung-ga-ri, Séc,
- Các nhà tài trợ song phương: Ai-xơ-len, Anh, Áo, Ba Lan, Bỉ, Ca-na-đa, Cô-oét,Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Hungari, I-ta-lia, Luc-xem-bua, Mỹ, Na-uy, NhậtBản, Niu-di-lân, Ôt-xtrây-lia, Phần Lan, Pháp, Séc, Tây Ban Nha, Thái Lan, Thuỵ Điển,Thuỵ Sĩ, Trung Quốc, Singapo
- Các nhà tài trợ đa phương:
+ Các định chế tài chính quốc tế và các quỹ: nhóm Ngân hàng Thế giới (WB),Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư Bắc
Âu (NIB), Quỹ Phát triển Bắc Âu (NDF), Quỹ Phát triển quốc tế của các nước xuất khẩudầu mỏ OPEC (OFID - trước đây là Quỹ OPEC), Quỹ Kuwait
+ Các tổ chức quốc tế và liên chính phủ: Ủy ban châu Âu (EC), Quỹ Dân số Liênhợp quốc (UNFPA), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Cơ quan Phòngchống ma tuý và tội phạm Liên hợp quốc (UNODC), Quỹ Đầu tư Phát triển Liên hợpquốc (UNCDF), Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc(UNICEF), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO), Tổchức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO), Tổ chức Y tếthế giới (WHO)
Trang 10Bảng 1: Một số nhà tài trợ lớn và các lĩnh vực ưu tiên:
khai thác mỏ
Phát triển nhân lực, GTVT, thông tinliên lạc
Canada Cơ sở hạ tầng, phát triển khu vực tư
nhân môi trường
Hỗ trợ kinh tế và tài chính, hỗ trợ thiếtchế và quản lý
Thụy Điển Môi trường và biến đổi khí hậu; Dân
chủ và quyền con người
Môi trường và biến đổi khí hậu; Dânchủ và quyền con người; Chống thamnhũng
Thụy Sĩ Hạ tầng kinh tế; môi trường; đào tạo
nguồn nhân lực;
Đào tạo nhân lực; phát triển đô thị; môitrường; xóa đói, giảm nghèo; cải cáchhành chính công
WB Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng
ADB Tạo việc làm, thêm cơ hội cho người
nghèo, người yếu thế
Tạo việc làm, thêm cơ hội cho ngườinghèo, người yếu thế
IMF Cân bằng về mậu dịch quốc tế, ổn định
tỉ giá hối đoái
Hô trợ cán cân thanh toán và điều chỉnh
II Tình hình huy động vốn ODA
1 Quy mô vốn ODA huy động giai đoạn 2006 - 2010
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA) có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội (KT-XH) và có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển bền vững của nước
ta Việt Nam đã đạt được khá nhiều thành tựu trong quá trình thu hút và sử dụng nguồnvốn này qua từng năm, đặc biệt trong những năm gần đây, khi tình hình thế giới có nhiều
Trang 11biến đổi bất lợi cho việc gia tăng viện trợ thì cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế vẫn thểhiện sự cam kết cao và sự ủng hộ mạnh mẽ trong việc hỗ trợ sự nghiệp phát triển KT -
XH và giảm nghèo của Việt Nam
Theo tập quán tài trợ quốc tế, hàng năm các nhà tài trợ tổ chức Hội nghị viện trợquốc tế để vận động tài trợ cho các quốc gia đang phát triển Đối với Việt Nam, các hộinghị viện trợ được gọi là Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt Nam (Hộinghị CG) Đến nay, thông qua 17 Hội nghị CG tổng số vốn ODA cam kết của các nhà tàitrợ cho Việt Nam đã đạt trên 56,416 tỉ USD,mức cam kết ODA năm sau luôn cao hơnnăm trước và đạt kỉ lục 8,063 tỉ USD tại hội nghị CG năm 2009 (cam kết ODA cho năm2010) Tổng vốn ODA cam kết của cộng đồng tài trợ quốc tế cho Việt Nam trong giaiđoạn 2006 – 2010 đạt 26,689 tỉ USD đã vượt xa chỉ tiêu đề ra trong Đề án định hướng thuhút và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA thời kì 2006 – 2010 (từ 19 đến 21
tỷ USD ODA cam kết), chưa kể đến nguồn vốn ODA kí kết từ 5 năm 2001 – 2005chuyển tiếp sang 5 năm 2006 – 2010 khoảng 8 tỷ USD
Biểu đồ 1: Vốn ODA cam kết đối với Việt Nam từ 2006 đến 2010 Đơn vị: Tỉ
USD
2006 2007 2008 2009
2010
3,740 4,445 5,426 5,900 8,0630
5,000 10,000
vốn ODA cam kết cho từng năm