Tính cấp thiết Tài nguyên di truyền thực vật có thể được bảo tồn in situ nội vi hay tại chỗ, trong điều kiện tự nhiên nơi phát sinh nguồn gen và ex situ ngoại vi hay chuyển chỗ, tại nơ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết
Tài nguyên di truyền thực vật có thể được bảo tồn in situ (nội vi hay tại chỗ, trong điều kiện tự nhiên nơi phát sinh nguồn gen) và ex situ (ngoại vi hay
chuyển chỗ, tại nơi khác với nơi xuất sứ của nguồn gen) Đối với các cây hoang
dại, việc bảo tồn insitu có thể là trong các vườn quốc gia (natural parks), các khu
bảo tồn thiên nhiên (nature reserves), khu đặc dụng (strict reserves) Đối với cây
trồng, bảo tồn in situ được tiến hành tại nơi mà các giống cây trồng đó hình
thành nên đặc tính của nó Như vậy, bảo tồn ins itu quỹ gen cây trồng gắn liền
với bảo tồn hệ thống canh tác, hệ sinh thái nông nghiệp và được thực hiện trên đồng đất của nông dân (vì thế còn được gọi bảo tồn on-farm) Đối với những cây
bản địa sinh sản bằng con đường vô tính, thì in situ lại là hình thức bảo tồn hữu
hiệu hơn cả Hơn nữa, để tăng cường khai thác sử dụng nguồn gen và hướng tới công bằng, bình đẳng trong việc phân chia lợi ích thu được từ việc sử dụng quỹ
gen cây trồng thì bảo tồn in situ là giải pháp thực thi hơn bất kỳ một cơ chế chia
sẻ lợi ích nào khác
Một trong những cơ sở quan trọng để đưa ra các định hướng cũng như các giải pháp trong bảo tồn các nguồn gen di truyền thực vật là dựa trên những kiến nghị rút ra từ việc đánh giá thường kỳ hiệu quả bảo tồn các nguồn gen
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi phía Bắc nơi không chỉ phong phú về tài nguyên thực vật mà còn là nơi có nhiều loài cây đặc sản có giá trị, trong đó
có một số loài như bưởi Sửu (Đoan Hùng), Vải chín sớm Hùng Long (Đoan Hùng), Hồng Hạc Trì (Việt Trì) Trong đó, bưởi Đoan Hùng đã được công nhận chỉ dẫn địa lý quốc gia gồm hai giống bưởi Sửu và giống bưởi Bằng Luân Trước đây, dân sở tại chỉ gây trồng bưởi với quy mô nhỏ, manh mún, kỹ thuật chăm sóc kém, giá trị hàng hóa thấp Chính vì vậy, chính quyền và nhân dân địa phương đã mở rộng gây trồng, thực chất là áp dụng bảo tồn insitu nhằm nâng
cao giá trị kinh tế của các giống bưởi này Đã có nhiều chương trình bảo tồn in
situ nguồn gen của 2 giống này được thực hiện tại nhiều xã tại Đoan Hùng bởi
Bộ Khoa học và Công nghệ và UBND tỉnh Phú Thọ, tuy nhiên hiệu quả đến nay vẫn bộc lộ nhiều vấn đề trong quá trình thực hiện mà một trong những nguyên nhân chính là do cung cấp giống không chuẩn của cơ quan thực hiện chương trình bảo tồn Đối với các loài cây đặc sản khác tuy đã được tiến hành bảo tồn
nguồn gen, nhưng chủ yếu là bảo tồn exsitu tại vườn thực vật phục vụ cho thí
Trang 2nghiệm, nghiên cứu là chính Chính vì vậy, ý nghĩa cộng đồng của những chương trình bảo tồn exsitu này còn hạn chế
gen một số loài cây đặc sản tại tỉnh Phú Thọ” nhằm đề xuất một số giải pháp
tăng cường công tác bảo tồn, đồng thời đảm bảo lợi ích cho cộng đồng địa phương
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng bảo tồn in situ nguồn gen một số loài cây đặc sản
- Đề xuất những giải pháp phù hợp phục vụ việc bảo tồn các loài cây đặc sản tỉnh Phú Thọ
4 Những đóng góp mới của đề tài
- Lần đầu tiên có sự đánh giá hiệu quả công tác bảo tồn một số loài cây ăn quả đặc sản có gía trị kinh tế cao tại tỉnh Phú Thọ
- Cung cấp nhiều số liệu phân tích tình hình quản lý công tác bảo tồn tại tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất cơ sở khoa học và thực tiễn cho tổ chức quản lý bảo tồn, phát triển bền vững tài nguyên di truyền thực thực vật tỉnh Phú Thọ
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm về bảo tồn đa dạng sinh học
1.1.1 Khái niệm về đa dạng sinh học
Năm 1989, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế (WWF) đã định nghĩa: “Đa dạng sinh học (ĐDSH) là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường’’ ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: Đa dạng nguồn gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái (HST) Trong đó, đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên Trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực vật và các loài nấm Ở mức độ vi mô hơn, ĐDSH bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, và cả sự khác biệt của mối tương tác giữa chúng với nhau
Theo Công ước đa dạng sinh học thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vật sống gồm các hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái biển, các hệ sinh thái nước ngọt,
và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là một bộ phận ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong một loài (đa dạng gen) hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa dạng giữa các loài (đa dạng loài) và sự đa dạng hệ sinh thái Nói cách khác ĐDSH là sự đa dạng của sự sống ở các cấp độ và các tổ hợp
Theo luật ĐDSH năm 2008, ĐDSH là sự phong phú về nguồn gen, các loài sinh vật và HST trong tự nhiên ĐDSH là sự phong phú của tất cả các sinh vật sống trong tự nhiên trên trái đất, từ các sinh vật nhỏ bé nhất đến những sinh vật lớn nhất, từ Vi sinh vật, Nấm, Thực vật, Động vật, các HST và môi trường chúng sinh sống
ĐDSH trực tiếp phục vụ đời sống của con người trong phát triển kinh tế, góp phần xóa đói, giảm nghèo… Những giá trị trực tiếp đó là giá trị sử dụng, tiêu thụ, và sản xuất ra các mặt hàng phục vụ nhu cầu của con người ĐDSH và cảnh quan là nền tảng cho sự phát triển các dịch vụ hệ sinh thái, điều tiết nguồn nước, bảo vệ môi trường đặc biệt trong giảm nhẹ các tác động bất lợi do biến đổi khí hậu hiện nay ,
1.1.2 Khái niệm về tài nguyên di truyền thực vật
Tài nguyên di truyền cây nông nghiệp tức là quỹ gen cây nông nghiệp,
Trang 4được FAO gọi là tài nguyên di truyền thực vật vì mục tiêu lương thực và nông nghiệp, lại là phần có trọng số lớn nhất của toàn bộ tài nguyên di truyền thực vật
Sự xói mòn nguồn gen cây trồng trong nông nghiệp gây ra bởi nhiều nguyên nhân hiện nay đang là vấn đề nghiêm trọng Để có thể bảo tồn và sử dụng hiệu quả đa dạng sinh học nông, lâm nghiệp trong đó tài nguyên di truyền thực vật là hạt nhân, Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ nhất về môi trường họp tại Stockholme, Thụy Điển năm 1972 đã kêu gọi khẩn cấp nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật Hai mươi năm sau, Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ hai họp tại Río de Janero, Brazin năm 1992 đã thoả thuận Công ước đa dạng sinh học Hội nghị Kỹ thuật quốc tế lần thứ tư về tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu lương nông do FAO triệu tập năm 1996 tại Cộng hòa liên bang Đức đã thống nhất Kế hoạch hành động toàn cầu (Global Plant of Action, GPA) về bảo tồn quỹ gen cây nông nghiệp Gần đây, tháng 11 năm 2001 Đại hội đồng FAO đã thông qua Hiệp ước về Tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu lương nông (ITPGRFA) nhằm thiết lập một hệ thống tiếp cận tài nguyên cây trồng và chia sẻ lợi ích đa phương phục vụ lương thực và nông nghiệp
1.1.3 Bảo tồn đa dạng sinh học
Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các HST nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau
Có nhiều phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH Một số phương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, các dòng di truyền hay các sinh cảnh Một số khác được sử dụng để sản xuất một cách bền vững các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật,… , Có thể phân chia các phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau:
Bảo tồn tại chỗ (in situ conservation):
Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo
vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên Tùy theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi Thông thường bảo tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp
Bảo tồn chuyển chỗ (ex situ conservation):
Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (1)
Trang 5nơi sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, các ngân hàng giống…
Với mục đích có một cái nhìn khái quát về tình hình bảo tồn TNDTTVLN, trên cơ sở phân tích một cách hệ thống các thông tin từ các nghiên cứu chuyên đề, các kỷ yếu hội thảo, các tạp chí, các sách chuyên khảo và từ các website, các dữ liệu từ các đề tài dự án trong và ngoài nước, tác giả đã tổng quan lại những vấn đề liên quan bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật trên thế giới và ở Việt Nam
1.2 Bảo tồn in situ tài nguyên di truyền thực vật trên thế giới
Nhận thức được tầm quan trọng của tài nguyên di truyền thực vật (TNDTTV), nhiều nước trên thế giới và nhiều tổ chức quốc tế đã tập trung cho
bảo tồn ex situ, cho đến những năm 90 thì bắt đầu quan tâm nhiều đến bảo tồn in
situ Hiện nay Chiến lược bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật là kết hợp hài
hoà hai phương pháp ex situ và in situ Các nước kinh tế phát triển đã hình thành đầy đủ cơ sở vật chất của bảo tồn ex situ nên đang quan tâm nhiều đề bảo tồn in
situ Ngược lại, các nước đang phát triển chưa tạo lập được ngân hàng gen thích
hợp để giữ cho không mất nguồn gen của mình nên phải ưu tiên đến bảo tồn ex
situ, đồng thời xúc tiến bảo tồn in situ để hỗ trợ cho bảo tồn ex situ.
1.3 Bảo tồn in situ tài nguyên thực vật tại Việt Nam
1.3.1 Vai trò của bảo tồn in situ
Bảo tồn sự đa dạng và di truyền là điều vô cùng quan trọng để giữ vững
và cải thiện năng suất, phẩm chất các sản phẩm của hầu hết các cây trồng trọt vật chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp Theo báo cáo của tổ chức FAO và môi trường cho thấy: “Các đặc tính ưu tú về di truyền của các giống cây trồng, cây làm thuốc, các loài gia súc, gia cầm, các loài thủy sinh và các vi sinh vật kể cả ở dạng đã được thuần chủng và dạng hoang dại vô cùng cần thiết đối với các chương trình chọn giống để tăng năng suất, cải thiện phẩm chất, tạo tính kháng sâu bệnh, tạo sự thích nghi với các điều kiện môi trường khác nhau và nhiều đặc tính tốt”
Đa dạng sinh học cần được bảo tồn bằng một loạt các biện pháp nhằm đảm bảo an toàn cho các loài và các kho dự trữ gen như xây dựng và duy trì những khu vực bảo vệ, những chiến lược tổng thể kết hợp được các hoạt động kinh tế với hoạt động bảo vệ trên toàn khu vực Các chính phủ thường quy
Trang 6hoạch những vùng có tầm quan trọng đặc biệt về tính đa dạng sinh học thành những khu bảo tồn đa dạng sinh học Bảo tồn đa dạng sinh học ở tất cả các mức
độ là duy trì một cách cơ bản các quần thể của các loài có thể thực hiện được
hoặc các quần thể xác định được Như vậy có thể hoặc là bảo vệ nguyên vị (in
situ) hoặc bảo vệ chuyển vị (ex situ) Một số chương trình quản lý kết hợp cả hai
tiếp cận này
Bảo tồn in situ nguồn gen cây trồng là duy trì các loài cây trồng tại vùng
xuất xứ, hay nói cách khác là bảo vệ trong tự nhiên hoang dại của chúng Bảo tồn in situ liên quan nhiều đến địa điểm hơn là đến từng loài, cho nên đối tượng
bảo tồn gồm cả các loài đã được xác định và chưa được xác định Bảo tồn in situ
quỹ gen cây trồng là bảo tồn dựa vào cộng đồng (community-based conservation), đặc biệt là sự tham gia của nông dân và các cấp chính quyền, đoàn thể địa phương là yếu tố quyết định Vì vậy, bảo tồn in situ cần một đội ngũ cán bộ giỏi về chuyên môn, có kỹ năng giao tiếp và làm việc với cộng đồng tốt, để có thể huy động sự tham gia tích cực của nông dân và chính quyền địa phương trên đồng đất của nông dân, của địa phương (bảo tồn on farm)
Bảo tồn in situ đòi hỏi cách tiệp cận hệ thống bao gồm các lĩnh vực kinh
tế, xã hội, văn hóa, sinh thái và môi trường Để thực hiện hiệu quả bảo tồn in situ đối với các loài cây trồng bản địa của Việt Nam, rất cần một chiến lược bảo tồn dựa trên các giải pháp tổng hợp về chính sách, kỹ thuật, tổ chức và đặc biệt cần xác định cụ thể các chương trình hoạt động trong từng giai đoạn bảo tồn
Bảo tồn in situ cây trồng là một lĩnh vực không mới, đã có nhiều đề tài dự
án liên quan được tiến hành, nhưng thực tế triển khai đầy đủ các nội dung của
bảo tồn in situ hiện còn gặp nhiều khóa khăn và ít được quan tâm tại Việt Nam
Theo Vũ Mạnh Hải, nội dung chính của bảo tồn in situ gồm những hoạt động chính như: nghiên cứu cơ bản làm cơ sở khoa học cho việc thiết lập điểm/vùng
bảo tồn; quy hoạch vùng bảo tồn in situ và phát triển nguồn gen cho bảo tồn ;
thành lập nhóm (hội nông dân) cùng sở thích tham gia bảo tồn; xây dựng kế hoạch bảo tồn từng giai đoạn; và thực hiện các hoạt động duy trì hệ thống bảo tồn
Nếu thực hiện một cách hiệu quả các nội dung của bảo tồn in situ, chương
trình bảo tồn sẽ mang lại nhiều lợi ích: bảo tồn quá trình thích nghi của các giống địa phương với môi trường sống của chúng; bảo tồn đa dạng sinh học ở mọi mức độ; cải thiện sinh kế của nông dân; duy trì hoặc gia tăng sự tiếp cận và quản lý của nông dân đối với tài nguyên di truyền thực vật của họ; gắn kết nông
Trang 7dân với mạng lưới tài nguyên di truyền thực vật quốc gia và cuốn hút trực tiếp nông dân tham gia vào quá trình bổ sung giá trị nguồn gen
Như vậy, bảo tồn in situ đem lại nhiều lợi ích trực tiếp cho cá nhân và
cộng đồng các điều kiện về kinh tế, xã hội, sinh thái và di truyền Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nước nào trên thế giới hoàn toàn thành công với phương pháp bảo tồn in situ đối với cây trồng quan trọng Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở Châu Á tham gia vào một số dự án nghiên cứu cơ sở khoa học
và xây dựng mô hình bảo tồn in situ ở mức toàn cầu, và vùng từ những năm 90 của thế kỷ XX Tuy nhiên đến nay, bảo tồn in situ quỹ gen cây trồng ở nước ta vẫn chưa được quan tâm đúng mức và chưa có vùng/điểm bảo tồn on farm nào được duy trì và hoạt động bền vững
Qua nghiên cứu thực tiễn, có thể thấy rõ rằng để tiến hành nhiệm vụ bảo tồn TNDTTVcó kết quả, bản thân một mình khoa học không thể làm được mà cần đến công cụ chính sách và kế hoạch của Nhà nước, nhất là trong các lĩnh vực khuyến nông và phát triển nông nghiệp bền vững Các vấn đề nghiên cứu
khoa học liên quan đến bảo tồn in situ như sinh thái, di truyền, kinh tế, xã hội
học đòi hỏi thời gian dài mới có được kết quả cụ thể Xã hội hoá công tác bảo tồn có thể là hướng đi đúng đắn khi nhà nước có chính sách đầu tư phù hợp với
1.3.2 Thực trạng bảo tồn in situ quỹ gen cây trồng ở nước ta
Sự đa dạng, giàu có về tài nguyên di truyền thực vật là tiền đề để nước ta phát triển nông nghiệp nói riêng và các nhiệm vụ kinh tế xã hội nói chung Tuy nhiên do sức ép gia tăng dân số và sự thâm canh nông nghiệp không hợp lý, nguồn gen cây nông nghiệp đã và đang bị xói mòn, mất mát với tốc độ rất nhanh Nhiều giống cây trồng đặc sản bị các giống mới năng suất cao nhưng nền
di truyền hẹp thay thế, dẫn tới việc mất đi các giống địa phương tuy năng suất thấp nhưng phẩm chất lại cao và có tính thích nghi bền vững do nền di truyền rộng Nạn phá rừng, việc thay đổi phương thức sử dụng đất, mở mang đô thị, giao thông và các công trình công cộng đã và đang đe dọa nghiêm trọng tài nguyên di truyền thực vật cổ truyền quý giá của nước ta Vì vậy tìm biện pháp tổ chức và quản lý hợp lý nhiệm vụ bảo tồn để phục vụ cho khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên cây nông nghiệp là nhiệm vụ khoa học cấp bách của nước ta hiện nay Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, nước ta đã ưu tiên đầu tư cho bảo tồn ex situ để lưu giữ an toàn và ngăn chặn mất mát nguồn gen đang diễn ra rất nhanh, đồng thời từ năm 2001 đã xúc tiến bảo tồn in situ để hỗ trợ
Trang 8cho bảo tồn ex situ trong việc duy trì quá trình tiến hóa tự nhiên của cây nông nghiệp Có thể thấy những năm gần đây cả 4 nhóm hoạt động của công tác bảo tồn quỹ gen cây trồng là: Điều tra, kiểm kê thu thập và nhập nội nguồn gen; Lưu giữ nguồn gen (ex situ và in situ); Mô tả, thông tin và tư liệu hoá; và Khai thác
sử dụng bền vững nguồn gen đã được tăng cường
Tuy nhiên, các nỗ lực quốc gia trong công tác bảo tồn mới chỉ tập trung
cho bảo tồn ex situ Ngay cả nhiều nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học làm công tác tài nguyên di truyền thực vật cũng coi bảo tồn in situ là biện pháp
khó thực hiện, kém hiệu quả và thậm chí là không cần thiết đối với cây trồng
Đây là nguyên nhân chính dẫn đến các hoạt động bảo tồn in situ vừa ít về số
lượng vừa không hiệu quả lại kém bền vững Hầu hết các hoạt động bảo tồn in situ từ trước tới nay là do nước ngoài tài trợ trong khuôn khổ một số dự án phát triển cộng đồng hoặc một số ít về bảo tồn đa dạng sinh học Tuy nhiên, sự bền
vững của các điểm được thiết lập bảo tồn in situ này thường không được duy trì
và quan tâm đúng mức
Bảng 1.1 Một số dự án bảo tồn được thực hiện tại Việt NamStt Tên dự án, chương trình Đối tượng/ nội dung
Địa điểm thực hiện dự án/ đơn vị thực hiện
Đơn vị tài trợ
1
Tăng cường cơ sở khoa
học cho bảo tồn in situ
đa dạng sinh học trong
nông nghiệp đồng ruộng
của nông dân
Cây lúa, thảo quả và khoai môn
Viện Khoa học
KT Nông nghiệp Việt Nam
Quỹ phát triển Nauy; năm
và phát triển đa dạng các giống lúa trồng tại một số địa phương
10 tình (Hòa bình, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Bắc Kạn, Quảng Nam, Yên Bái, Nghệ An, Quảng Bình, Kiên Giang
và Đồng Tháp
Quỹ phát triển Nauy (2000 – 2004)
cây lúa
Bảo tồn một số
IRRI (1995 – 1999)
Trang 9Hải Dương, Hưng
Quang, Hà Tây, Cao Bằng, Hà Giang, và Lạng Sơn
Chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP)
2006)
5
Đánh giá vai trò của
vườn gia đình đối với
bảo tồn tài nguyên di
truyền thực vật
Xác định vai trò của vườn gia đình trong việc bảo tồn đa dạng cây trồng
Trung tâm Tài
6
Thử nghiệm hợp tác
Italia – Việt Nam về
quản lý tài nguyên di
truyền nông nghiệp tại
cộng đồng
Xoài Yên Châu, lúa Tám xoan Nghĩa Hưng, Hồng Nho Quang (các hoạt động không được tiếp túc khi dự án kết thúc)
VASI
Bộ Ngoại giao
Ý (2001 – 2005)
3 loài)
Giang
Chè Shan (Hà Giang)
Viện nghiên cứu chè
9
Điều tra, đánh giá vai
trò vườn gia đình trong
bảo tồn in situ tài
nguyên di truyền thực
vật
Thiết lập các điểm bảo tồn trong vườn gia đình
Huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Trung tâm Tài nguyên thực vật
Hòa Bình, Nam Định, Ninh Bình
Trung tâm Tài nguyên thực vật
Trang 10Ngoài ra còn một số dự án bảo tồn và phát triển nguồn gen cây trồng bản địa tại cộng đồng do tổ chức UNDP tài trợ như bảo tồn cây chuối Ngự Đại Hoàng, Quýt, Hồng Lý Nhân (Hà Nam), Trám đen Hoàng Văn (Bắc Giang), bưởi đường Hương Sơn (Hà Tĩnh), Nếp Nàng Hương (An Giang) Đặc điểm chung của các dự án là các hoạt động bảo tồn không được duy trì chỉ thời gian ngắn sau khi dự án kết thúc
Như vậy, có nhiều kinh nghiệm khác nhau cũng được phát triển tại Việt Nam nhằm bảo tồn in situ quỹ gen cây trồng trên đồng đất của nông dân Tuy nhiên, hầu hết là nhằm xác định rõ cơ sở khoa học, quy trình bảo tồn và do hạn chế chính sách, chưa đạt đến mức có thể xây dựng hoàn chỉnh cách quản lý tài nguyên di truyền thực vật có hiệu quả
1.3.3 Bảo tồn in situ các loài cây đặc sản tại tỉnh Phú Thọ
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật, phục vụ cho mục tiêu phát triển nông nghiệp, nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm, thời gian gần đã có nhiều chương trình, dự án được thực hiện tại tỉnh Phú Thọ
Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc là một trong những cơ sở nghiên cứu có nhiều hoạt động nhằm bảo tồn các loài cây đặc sản tại Tỉnh Các hoạt động bảo tồn từ thu thập nguồn quĩ gen, đến điều tra tuyển chọn, khảo nghiệm và so sánh giống, trong những năm qua đã tuyển chọn được
20 giống cây ăn quả được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật Trong đó, có 3 giống dứa, 3 giống chuối, 4 giống hồng, 3 giống vải, 3 giống bưởi, 1 giống xoài
và 1 giống lạc tiên
Nhiều qui trình kỹ thuật thâm canh cây ăn quả được công nhận là tiến bộ
kỹ thuật như: kỹ thuật thâm canh bưởi, hồng, dứa, chuối, nhãn, vải, xoài, các biện pháp kỹ thuật tổng hợp phòng trừ bệnh thối nõn và sâu hại rễ dứa, sâu gặm
vỏ quả chuối, bệnh sùi cành, bệnh thối rễ cây hồng và cây bưởi con ở vườn ươm Ngoài ra, hàng năm Viện còn tổ chức nhiều lớp tập huấn, đào tạo phát triển cây ăn quả cho cán bộ Khuyến nông cơ sở và nông dân chủ chốt trong Vùng
Trong các cây trồng đặc sản của tỉnh Phú Thọ, cây Bưởi Đoan Hùng và Hồng Gia Thanh được quan tâm chú trọng và có nhiều chương trình, dự án được thực hiện nhằm bảo tồn và phát triển giống cây ăn quả này Được xác định là
“cây xoá đói giảm nghèo của huyện Đoan Hùng, bởi vậy trong thời gian qua các
Trang 11bộ ngành, tỉnh và huyện tập trung nhiều chính sách tập trung vào vấn đề khôi phục và mở rộng diện tích bưởi thông qua trồng mới, tập trung vào xây dựng và
tổ chức các hoạt động khuyến nông hướng dẫn người dân trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại bưởi
Bảng 1.2 Một số Dự án nhằm bảo tồn và phát triển cây bưởi đặc sản
huyện Đoan Hùng Stt Tên dự án, chương trình Cơ quan chủ trì Đối tượng hưởng lợi
1
Dự án phát triển cây bưởi đặc sản
huyện Đoan Hùng giai đoạn 2003
Hộ gia đình, tổ chức có liên quan
4
Dự án xác lập và quản lý quyền
đối với tên gọi xuất xứ Đoan
Hùng cho sản phẩm Bưởi của tỉnh
Phú Thọ
Cục Sở hữu trí tuệ, Chương trình SPC,
Sở KH&CN tỉnh Phú Thọ
Hộ gia đình, các tổ chức, cá nhân kinh doanh bưởi
5
Dự án quản lý và phát triển chỉ
dẫn địa lý Đoan Hùng cho sản
phẩm bưởi quả của tỉnh Phú Thọ
Bộ khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ
Hộ gia đình, Hiệp hội sản xuất và kinh doanh bưởi,
Hộ gia đình, tổ chức có liên quan
7
Nghiên cứu, ứng dụng biện pháp
phòng trừ sâu bệnh hại chính trên
giống bưởi đặc sản Đoan Hùng
Chi cục BVTV, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ
Hộ gia đình, tổ chức có liên quan
8
Nghiên cứu, tuyển chọn và nhân
giống cây Hồng Gia Thanh và
Hồng Hạc trì
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ
Hộ gia đình, tổ chức có liên quan
Việc phát triển sản xuất các loài cây đặc sản dựa trên việc bảo tồn nguồn gen quý, được lựa chọn, thông qua kiểm nghiệm giống là công việc cần thiết Tuy nhiên, để công tác bảo tồn được thực hiện một cách có qui củ, có mục tiêu
Trang 12rõ ràng, nội dung, sản phẩm rõ ràng kể cả trong lĩnh vực tổ chức thực hiện, đỏi hỏi công tác đánh giá hiệu quả bảo tồn cần được thực hiện thường xuyên và có
kế hoạch
1.4 Đánh giá hiệu quả bảo tồn
Đánh giá hiệu quả bảo tồn là việc làm cần thiết nhằm bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền thực vật Việc đánh giá hiệu quả bảo tồn thường được tiến hành định kỳ (2-5 năm/lần) Kết quả của việc đánh giá là cơ sở để đề xuất, kiến nghị đối với các cấp quản lý, để điều chỉnh một cách phù hợp phương thức quản lý, cũng như điều chỉnh các mối quan hệ của các bên liên quan đến bảo tồn
Tại Việt Nam, đánh giá hiệu quả bảo tồn được hiện chủ yếu tại các vườn quốc gia nới có giá trị tài nguyên di truyền thực vật cao và thường gặp nhiều khó khăn trong quá tình quản lý Đối tượng của đánh giá hiệu quả thường trên quy
mô hệ sinh thái, hoặc đối tượng bảo tồn cụ thể như các loài cây có giá trị kinh tế cao, có nguy cơ bị đe dọa
Phú Thọ là địa phương có nhiều cây đặc sản có giá trị kinh tế cao Trong
đó, các giống Bưởi Đoan Hùng, Hồng Gia Thanh thông qua nỗ lực bảo tồn gen nguồn gen di truyền và phát triển bền vừng của các cấp ngành, địa phương và người dân, sản phẩm của chúng đã có thường hiệu trên thị trường và mang lại hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, đây cũng có thể là nguyên nhân gây ra tính không
ổn định của đặc tính di truyền và giá trị thương hiệu sản phẩm Chính vì vậy, đánh giá hiện trạng phát triển và quản lý bảo tồn các loài cây trên được nhóm tác giả chọn lựa thực hiện
Trang 13CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cây đặc sản có giá trị kinh tế tại tỉnh Phú Thọ Phạm vi nghiên cứu: một số loài cây ăn quả có giá trị kinh tế cao và có tiềm năng phát triển sản xuất (lựa chọn 02 - 03 loài cây để nghiên cứu hiệu quả bảo tồn)
Địa điểm nghiên cứu: số liệu thu thập tại một số địa phương tại tỉnh Phú Thọ, những nơi hiện nay có các hoạt động bảo tồn các loài cây đặc sản
Thời gian nghiên cứu: từ năm 1/2013 – 12/2013
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Xác định danh mục các loài cây đặc sản tại tỉnh Phú Thọ
- Xác định một số loài cây đặc sản đang được bảo tồn và phát triển tại tỉnh Phú Thọ
- Xác định một số đặc điểm nhận thực vật học và sinh thái học của các loài cây trên
- Xác định, lựa chọn một số loài cây ưu tiên cho công tác bảo tồn
2.2.2 Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác bảo tồn các loài cây ưu tiên tại khu vực nghiên cứu
Trong khuôn khổ và giới hạn của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Hệ thống tổ chức quản lý, nguồn lực và các chương trình, dự án chính sách áp dụng trong bảo tồn;
- Ảnh hưởng của các cơ sở nghiên cứu (trường đại học, viện nghiên cứu) trong các hoạt động bảo tồn
- Ảnh hưởng của các yếu tố thị trường, xã hội, môi trường đến quyết định của nông dân trong bảo tồn các loài cây trên
2.2.3 Đánh giá hệ thống kiến thức bản địa đã áp dụng trong các hoạt động bảo tồn.
kiến thức nào có ích những chưa được sử dụng
- Vai trò của đối tượng tham gia bảo tồn nguồn gen (nam, nữ, già, trẻ hoặc dân tộc thiểu số)
Trang 142.2.4 Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn tài nguyên di truyền của các loài cây đặc sản
2.3 Phương pháp nghiên cứu
tự nhiên Cách tiếp cận hệ thống cho thấy cần phải lồng ghép các giải pháp quản
lý và bảo tồn vào các chương trình quy hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương với mục tiêu phát triển bền vững
b) Quan điểm bảo tồn – phát triển
Quan điểm bảo tồn và phát triển tạo ra sự liên kết việc bảo tồn tài nguyên
và đáp ứng những nhu cầu phát triển địa phương, bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận sau):
- Thứ nhất là nếu nhu cầu phát triển tại địa phương đó có thể được đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên sẽ được giảm
bớt và tài nguyên được bảo tồn: “Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế”.
- Thứ hai là nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến việc bảo tồn vì những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng vẫn còn chưa được đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền kinh tế - xã hội
của họ đủ tốt để họ có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên: “Cách tiếp
một cách hợp lí và bền vững: “Cách tiếp cận tham gia quy hoạch”.
Trong nghiên cứu này, cả 3 cách tiếp cận trên được vận dụng một cách linh hoạt để đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn các loài cây đặc sản tại tỉnh
Trang 15Phú Thọ
c) Tiếp cận có sự tham gia
Sự tham gia được định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định Điều quan trọng là người dân địa phương tham gia vào việc tư vấn cho hoạt động điều tra khảo sát, có khả năng trao đổi các triển vọng của họ về tài nguyên rừng với các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý và ngược lại, các cơ quan này
có thể hiểu và đáp ứng các triển vọng được nêu ra Điều này được thể hiện thông qua việc thiết kế các bảng hỏi, nội dung phỏng vấn trực tiếp và họp nhóm nhằm thu được các thông tin thực tiễn, nguồn kiến thức bản địa một cách cụ thể và nhanh chóng nhất
Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận có sự tham gia được áp dụng Các phương pháp đánh giá nông thôn (PRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) sẽ được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu Các phương pháp này giúp thu thập được các thông tin và phân tích của chính người dân địa phương, nên thông tin có thể được sử dụng cho nhiều nhu cầu của địa phương như sự ủng hộ về quyền sử dụng tài nguyên di truyền thực vật, các giải pháp quản lí và bảo tồn
2.3.2 Thu thập và kế thừa thông tin, số liệu có chọn lọc
Thu thập, tổng hợp các thông tin, số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của xã Chi Đám, huyện Đoan và xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Tham khảo những số liệu về hiện trạng sử dụng tài nguyên di truyền thực vật và những khó khăn, thuận lợi trong phát triển kinh tế và công tác bảo tồn tại các xã trong khu vực nghiên cứu Kế thừa cơ sở dữ liệu trong và ngoài nước đã triển khai dự án trên khu vực
2.3.3 Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA)
Trong phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân có rất nhiều công cụ thực hiện, tuy nhiên để phục vụ cho mục tiêu và nội dung nghiên cứu chúng tôi chỉ sử dụng một số công cụ sau đây:
- Phương pháp phỏng vấn, bảng hỏi:
+ Phỏng vấn trực tiếp với nhóm mục tiêu, nội dung phỏng vấn được ghi chép lại Câu hỏi phỏng vấn là những câu hỏi nửa cấu trúc bao gồm những câu hỏi mở
+ Chọn lựa đối tượng được phỏng vấn: Cùng với việc phỏng vấn hộ bằng các bộ câu hỏi, sử dụng các bảng hỏi để tiến hành phỏng vấn chính quyền và
Trang 16người dân ở 2 xã (Chí Đám – Đoan Hùng và Gia Thanh – Phù Ninh), phỏng vấn
15 – 30 hộ gia đình (bao gồm những hộ trực tiếp tham gia hoạt động bảo tồn và
cả những hộ không tham gia trực tiếp các hoạt động bảo tồn nhưng sống trong khu vực nghiên cứu) về tình hình sử dụng và bảo tồn các loài cây đối tượng nghiên cứu Trao đổi mở với các cán bộ lãnh đạo của UBND các cấp ở địa phương, cán bộ phụ trách các vấn đề nông nghiệp, kinh tế xã hội, cán bộ phụ trách công tác thống kê, cán bộ Sở khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ Ngoài
ra, Tổng số có 15 cuộc phỏng vấn và trao đổi đã được thực hiện ở mỗi xã
2.3.4 Phân tích và tổng hợp dự liệu thu thập
- Tài liệu, dữ liệu được thu thập và phân tích dựa trên các mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, từ các bài báo chuyên đề liên quan, các kỷ yếu hội thảo, sách chuyên khảo trong và ngoài nước
- Việc tổng hợp tài liệu, phân tích thông tin, thiết kế phiếu phỏng vấn được dựa trên sự tham khảo Khung đánh giá hiệu quả quản lý của Ủy ban thế giới về các khu vực bảo tồn (World Commission on Protected Areas – WCPA)
và bộ công cụ Đánh giá hiệu quả quản lý các di sản của thế giới (Enhancing our Heritage Toolkit: Assessing management effectiveness of natural World Heritage sites) (Phụ lục)
Trang 17CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thực trạng công tác bảo tồn một số loài cây đặc sản tại tỉnh Phú Thọ
3.1.1 Đặc điểm đa dạng cây đặc sản tại khu vực nghiên cứu
* Bưởi Sửu
Nguồn gốc từ xã Chí Đám, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, đây cũng là một trong hai loại sản phẩm bưởi quả của huyện được Nhà nước bảo hộ chỉ dẫn địa lý Mô tả chi tiết về bưởi Sửu được ghi trong đăng bạ sản phẩm bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Qua tìm hiểu thông tin từ phía các hộ trồng bưởi quanh khu vực xã Chí Đám được biết, quả bưởi Sửu có hai loại là Sửu vàng và Sửu xanh với một số các đặc điểm đặc trưng dễ nhận biết như:
Bảng 3.1 Đặc điểm khác nhau giữa bưởi Sửu vàng và bưởi Sửu xanh
Bưởi Sửu vàng có vỏ nhẵn, màu vàng
sáng
Thành cao và núm nhọn, vỏ nhẵn mịn
màu vàng rơm, múi dài màu hồng, tôm
vàng, vỏ có nhiều chấm đen nhỏ li ti,
mùi tinh dầu gần giống mùi tinh dầu
của bưởi Diễn
Hạt màu trắng
Bưởi Sửu xanh có vỏ xanh, khi chín
có màu xanh vàng (không chuyển hoàn toàn sang màu vàng rơm)
Thành quả không cao, múi quả đều,
vỏ quả sần sùi hơn so với Sửu vàng.Hạt màu tía đỏ
Hiện tại, do diện tích cho thu hoạch rất nhỏ nên thị phần của bưởi Sửu là rất ít Người tiêu dùng thường tự tìm đến hộ trồng bưởi để mua được những trái bưởi đúng giống, họ không quan tâm nhiều đến giá cả
* Bưởi Bằng Luân
Trang 18Là một trong hai giống bưởi của huyện Đoan Hùng được Nhà nước bảo
hộ chỉ dẫn địa lý Mô tả chi tiết về bưởi Bằng Luân được ghi trong đăng bạ sản phẩm bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Trên thị trường xuất hiện 2 giống bưởi Bằng luân là loại lá to và loại lá nhỏ Bằng luân lá nhỏ có đặc điểm lá nhỏ, dầy lá, lá màu xanh đậm; với các ưu điểm như ngọt và thơm ngon hơn so với loại Bằng luân lá to, do vậy giá bán cũng cao hơn Tuy nhiên, bưởi Bằng luân lá to lại có một ưu điểm mà bưởi Bằng luân lá nhỏ không có được là ít bị khô quả và năng suất quả/cây cũng ổn định hơn
Bảng 3.2 Đặc điểm khác nhau giữa bưởi Bằng luân lá nhỏ và bưởi
Màu xanh đậm, dày lá, mật độ lá
mau hơn so với bưởi Bằng Luân lá
to
Màu xanh vàng (ở gân lá), lá mỏng và thưa lá Gân lá lồi
Quả
Túi tinh dầu nhỏ và vỏ quả nhẵn,
quả có hương thơm và chất
lượng ngon hơn so với giống
bưởi lá to Tuy nhiên hiện tượng
mất mùa xảy ra nặng hơn và tỷ lệ
quả bị khô cao hơn so với giống
lá bưởi lá to Thường thu hoạch
quả muộn hơn, giá bán thường
cao hơn so với giống lá to
Túi tinh dầu to, vỏ quả thô, ít bị khô hơn so với giống lá nhỏ nhưng chất lượng quả ăn kém hơn so với giống Bằng Luân lá nhỏ, và giá bán cũng thấp hơn Thường thu hoạch quả sớm hơn
so với giống bưởi lá nhỏ, ít xảy
ra hiện tượng mất mùa, tỷ lệ bị khô thấp;
Bưởi Bằng Luân có tính thích nghi rộng, thời gian thu hoạch quả dài nên đến nay phát triển hầu khắp ở các xã Đây là giống bưởi được buôn bán chính trên thị trường, giá cả phải chăng và chất lượng ngon ngọt nên được người tiêu dùng ưa chuộng
Ngoài hai giống bưởi trên, thị trường Đoan Hùng còn có một số loại bưởi khác như: Bưởi Kinh (khu vực xã Chi Đám); Bưởi Hột (cây sinh trưởng tốt hơn nhưng chất lượng quả kém so với các giống bưởi khác); bưởi chua Bằng Luân (cây sinh trường ổn địn, ít sâu bệnh)
b Các giống hồng