Luận văn nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt nam trên thị trường mỹ nghiên cứu về các nội dung cụ thể: Lý luận chung về cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng cao cạnh tranh, vai trò của cạnh tranh nông sản trong nền kinh tế thị trường,.....
Trang 1
LUẬN VĂN:
Nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông
sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
Trang 2
CHƯƠNG I:
Lý luận chung về cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
I.cạnh tranh:
Hiện nay, trong xu thế hội nhập - quá trình quốc tế hoá, khu vực hoá đang diễn ra nhanh chóng, các doanh nghiệp không còn muốn bó hẹp hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình trong phạm vi một quốc gia, mà họ luôn tìm cách hướng ra thị trường nước ngoài vì những lợi ích do hoạt động xuất khẩu mang lại Có nhiều mục đích và động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia mạnh mẽ vào hoạt động xuất khẩu như mở rộng khả năng tiêu thụ hàng hoá, đa dạng hoá hoạt động kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận hoặc ổn định lợi nhuận Vì vậy, sự thành công hay thất bại của các nhà kinh doanh quốc tế phụ thuộc cơ bản vào các nguồn lực ở nước ngoài, vào mức tiêu thụ hàng hoá, vào giá cả hàng hoá và quan
trọng là khả năng cạnh tranh đối với các đối tác quốc tế trên thị trường
1 Khái niệm
Khái niêm cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau trong các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế xã hội Cạnh tranh đặc biệt phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất Tư bản chủ nghĩa Theo C.Mác: "Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch" (Chiến lược cạnh tranh của M.E.Porter, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật - 1995)
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là môi trường và động lực của sự phát triển mà còn là một yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, tạo động lực cho sự phát triển Do đó quan điểm đầy đủ về
cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất,
kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được
Trang 3là lợi nhuận Lợi nhuận sẽ đưa các nhà kinh doanh đến lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mà xã hội cần nhiều hàng hoá hơn và từ bỏ những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mà xã hội cần ít hàng hoá
2 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh thể hiện một số vai trò chủ yếu sau:
- Cạnh tranh cho phép sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối ưu và khuyến khích
áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Mục tiêu trước nhất của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận Mà lợi nhuận chỉ có được khi bán được hàng hoá sản phẩm của doanh nghiệp Điều này lại phụ thuộc vào người tiêu dùng Người tiêu dùng luôn lựa chọn sản phẩm
mà họ thích nhất, họ cho là có chất lượng tốt nhất, có kiểu dáng đẹp nhất, có giá trị phù hợp nhất Do đó, buộc các nhà sản xuất phải luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch
vụ, đáp ứng ngày một tốt hơn các yêu cầu của khách hàng, của thị trường Đồng thời, các nhà sản xuất phải luôn tìm cách bán sản phẩm của mình với giá thấp nhất có thể Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng cũng như hạ thấp giá thành sản phẩm, các nhà sản xuất cũng không ngừng phải đổi mới công nghệ, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tạo
ra sản phẩm có chất lượng tốt hơn, giá thành thấp hơn Như vậy, cạnh tranh sẽ dẫn đến kết quả là làm cho giá cả có xu hướng ngày càng giảm, lượng hàng hoá trên thị trường ngày càng tăng, phù hợp với mong muốn của người tiêu dùng
- Cạnh tranh làm cho nhu cầu của người tiêu dùng luôn được thoả mãn Trong môi trường cạnh tranh, người tiêu dùng được coi là "thượng đế", các nhà sản xuất sẽ luôn tìm cách làm ra những sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn Chính vì vậy mà bất cứ ý muốn nào
Trang 4của người tiêu dùng cũng đều được các nhà sản xuất quan tâm và thoả mãn miễn là người tiêu dùng sẵn sàng trả tiền để có được sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mình
- Có thể nói cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích của các doanh nghiệp, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của xã hội ở nước ta trong cơ chế tập trung bao cấp trước đây, cạnh tranh ở thị trường được hiểu theo nghĩa tiêu cực Suốt một thời gian dài, chúng ta cạnh tranh thị trường là không tốt, là “cá lớn nuốt cá bé” Thực ra, cạnh tranh trên thị trường là cơ chế hai đầu Một mặt, cạnh tranh sẽ loại bỏ khỏi thị trường các doanh nghiệp yếu kém, có chi phí sản xuất cao, mặt khác khuyến khích các doanh nghiệp có chi phí thấp và tạo môi trường tốt cho các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả phát triển Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế, thay thế những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí các nguồn lực của xã hội bằng các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả Điều này đã tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải giảm chi phí tối ưu hoá đầu vào trong sản xuất kinh doanh Cạnh tranh như là một "vũ đài" mà ở đó chỉ tồn tại người chiến thắng Do đó, cạnh tranh sẽ tạo ra sự tăng trưởng kinh tế, bởi lẽ, các doanh nghiệp nếu muốn tiếp tục tồn tại và phát triển thì phải không ngừng phấn đấu vươn lên
Có thể nói rằng cạnh tranh là điều kiện quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, tiến
bộ kỹ thuật, là động lực cho nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, cạnh tranh không chỉ có toàn các ưu điểm, nó còn có những khuyết tật cố hữu mang đặc trưng của cơ chế thị trường Cơ chế thị trường bắt buộc các doanh nghiệp phải thực sự tham gia vào cạnh tranh để tồn tại và phát triển Trong quá trình cạnh tranh, hiển nhiên là các doanh nghiệp phải quan tâm trước tiên đến quyền lợi của bản thân mình, không chú ý đến việc giải quyết các vấn đề xã hội Từ
đó, dẫn đến những vấn đề xã hội như nạn thất nghiệp, tiền công rẻ mạt, môi trường sinh thái
bị hủy hoại Cạnh tranh, một mặt sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, mặt khác nó cũng dẫn tới tình trạng phân hoá ghê gớm, kẻ thắng người bại, dễ dàng đưa tới tình trạng cạnh tranh không lành mạnh hay độc quyền trên thị trường Do đó, cần phải có sự quản lý của Nhà nước, đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể tự do cạnh tranh một cách lành mạnh, có hiệu quả
3 Các loại hình cạnh tranh:
Trang 5
Dựa trên các tiêu thức phân loại khác nhau, người ta có thể chia cạnh tranh thành các loại hình khác nhau sau:
3.1 Dựa vào chủ thể thị trường
Cạnh tranh được chia làm 3 loại:
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua
- Cạnh tranh giữa người mua với nhau
- Cạnh tranh giữa người bán với nhau
3.1.1 Cạnh tranh giữa người bán và người mua:
Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ - bán đắt Trên thị trường người bán luôn luôn mong muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất nhưng người mua lại muốn mua hàng hoá với giá thấp nhất Sự cạnh tranh được thực hiện trong quá trình “mặc cả” với giá chấp nhận là giá thống nhất giữa người bán và người mua
3.1.2 Cạnh tranh giữa người mua với nhau:
Là sự cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu Khi cung của một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó mà nhỏ hơn mức cầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt hơn và giá cả của các loại hàng hoá, dịch vụ sẽ tăng lên Do hàng hoá trên thị trường khan hiếm nên người mua sẵn sàng chấp nhận giá cao để mua được những hàng hoá mà họ cần và những người bán tiếp tục nâng giá hàng lên Kết quả cuối cùng là người bán thu được lợi nhuận cao còn người mua phải mất
thêm một số tiền Đây là cuộc cạnh tranh mà những người mua tự làm hại chính họ
3.1.3 Cạnh tranh giữa những người bán với nhau:
Là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, thôn tính lẫn nhau để tranh giành khách hàng và thị trường Đây là cuộc cạnh tranh có ý nghĩa quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Tất cả các doanh nghiệp đều mong muốn giành giật lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần của đối thủ Kết quả để đánh giá doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranh là việc tăng doanh số tiêu thụ và tăng tỷ lệ thị phần Cùng với nó là tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất Để có thể đứng vững và
Trang 6phát triển, các doanh nghiệp phải sử dụng mọi biện pháp khác nhau tạo thế mạnh cho mình vượt lện trên đối thủ
3.2 Dựa vào mức độ cạnh tranh trên thị trường (trạng thái thị trường)
Cạnh tranh được chia làm 3 loại:
- Cạnh tranh hoàn hảo
- Cạnh tranh không hoàn hảo
- Cạnh tranh độc quyền
3.2.1 Cạnh tranh hoàn hảo:
Là trạng thái cạnh tranh khi có nhiều đối thủ đưa ra bán những hàng hoá tương tự nhau, trong đó không có một người bán hay một người mua nào có vai trò lớn trong toàn bộ thị trường Khi đó trên thị trường có rất nhiều người mua và người bán với những hiểu biết đầy đủ về thị trường Mỗi người mua hay người bán đều có mối liên hệ rất nhỏ với toàn thể thị trường, hành động của họ không có khả năng tác động đến giá cả cũng như cung cầu trên thị trường Hay nói cách khác, cả người mua và người bán đều là những người chấp nhận giá, giá cả tự do thay đổi theo điều kiện thay đổi của cung và cầu, không bị hạn chế bởi các biện pháp hành chính Nhà nước Vì vậy, trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá cả thị trường sẽ tiến dần đến mức chi phí sản xuất
3.2.2 Cạnh tranh không hoàn hảo:
Là trạng thái cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn sản phẩm không đồng nhất với nhau Mỗi loại sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau Mỗi nhãn hiệu đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau mặc dù sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể Trong môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, mức độ cạnh tranh rất khốc liệt và các hình thức cạnh tranh cũng rất đa dạng Người bán tranh giành khách hàng với nhau bằng uy tín, quảng cáo, khuyến mãi, dịch vụ sau bán hàng, phương thức bán hàng và cuối cùng thường dẫn đến cuộc chiến về giá cả Đây là hình thức cạnh tranh rất phổ biến trong giai đoạn hiện nay
3.2.3 Cạnh tranh độc quyền:
Trang 7
Là trạng thái cạnh tranh trên thị trường mà ở đó chỉ có một hay một số ít người bán một loại sản phẩm đồng nhất hoặc một hay một số ít người mua một loại sản phẩm Họ có thể kiểm soát hầu như toàn bộ số lượng sản phẩm bán ra hay mua vào Thị trường này có sự pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh nên được gọi là thị trường cạnh tranh độc quyền Tại đây, chỉ xảy ra sự cạnh tranh giữa các nhà độc quyền Điều kiện để ra nhập hoặc rút khỏi thị trường cạnh tranh độc quyền có nhiều trở ngại do vốn đầu tư lớn hoặc do độc quyền về bí quyết công nghệ Thị trường này không có sự cạnh tranh về giá cả mà các nhà độc quyền có toàn quyền quyết định giá cả Họ có thể định giá cao hơn hoặc thấp hơn tuỳ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất Những doanh nghiệp nhỏ tham gia thị trường này phải chấp nhận bán hàng theo giá cả của nhà độc quyền
Trong thực tế có thể có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào thay thế sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau Độc quyền gây trở ngại cho phát triển sản xuất và làm hại cho người tiêu dùng Vì vậy một số nước có luật chống độc quyền nhằm chống lại sự liên minh độc quyền giữa các nhà kinh doanh
Ngoài ra cạnh tranh còn được phân chia thành nhiều loại khác nhau với các tiêu thức khác nhau như cạnh tranh trong ngành; cạnh tranh trong nội bộ ngành; dựa vào sức cạnh tranh của doanh nghiệp mà chia thành mạnh, trung bình hay yếu trong mối quan hệ so sánh với các doanh nghiệp khác; dựa vào mức độ cạnh tranh trên thị trường mà chia thành cạnh tranh mức
độ cao, trung bình, thấp
4 Các công cụ cạnh tranh chủ yếu:
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không thể lẩn tránh được sự cạnh tranh
vì như vậy là cầm chắc sự phá sản Thay vào đó doanh nghiệp cần sẵn sàng chấp nhận sự cạnh tranh, chủ động đón trước cạnh tranh và sử dụng các công cụ cạnh tranh một cách linh hoạt, hữu hiệu
Các công cụ cạnh tranh là tập hợp các yếu tố, các chính sách, các kế hoạch, các chiến lược, các hành động mà doanh nghiệp sử dụng nhằm tạo ưu thế so với đối thủ cạnh tranh Mỗi
Trang 8công cụ cạnh tranh không nên sử dụng độc lập mà nên có sự kết hợp hay hỗ trợ các công cụ khác Có như vậy hiệu quả của công cụ mới phát huy tối đa sức mạnh của nó
Một số công cụ cạnh tranh chủ yếu:
4.1 Cạnh tranh bằng sản phẩm
Nếu doanh nghiệp lựa chọn sản phẩm là công cụ cạnh tranh thì phải tập trung toàn bộ chiến lược về sản phẩm làm cho sản phẩm thích ứng nhanh chóng với thị trường Nghiên cứu sản phẩm về thực chất là tìm hiểu thái độ chấp nhận của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp Mỗi sản phẩm được coi là lời giải đáp của doanh nghiệp cho một nhu cầu đã được tìm thấy trên thị trường và là một lời hứu hẹn đối với người mua, người mua thường quan niệm: sản phẩm hàng hoá là của cải vật chất hay dịch vụ mà họ mua để thoả mãn nhu cầu của mình
Như vậy để đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng biến động nhanh chóng theo hướng
đa dạng hơn, phong phú hơn, cao cấp hơn và độc đáo hơn, doanh nghiệp có thể chọn theo các hướng:
Đa dạng hoá sản phẩm:
Đa dạng hoá sản phẩm thực chất là mở rộng hợp lý danh mục sản phẩm tạo nên một cơ cấu có hiệu quả của doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm theo hai hướng sau
- Đa dạng hoá đồng tâm: Là hướng phát triển đa dạng hoá sản phẩm trên nền của sản phẩm chuyên môn hoá, xoay quanh sản phẩm chuyên môn hoá Doanh nghiệp có thể dựa vào năng lực sản xuất hiện có như vốn, công nghệ, con người và nhu cầu thị trường để thực hiện chiến lược đa dạng hoá đồng tâm
- Đa dạng hoá kết khối: Là hình thức phát triển đa dạng các lĩnh vực kinh doanh có các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật khác nhau trong một doanh nghiệp Chiến lược này phù hợp với các công ty có quy mô lớn, các tập đoàn đa quốc gia
Khác biệt hoá sản phẩm:
Trang 9Khác biệt hoá sản phẩm là tạo ra các đặc điểm riêng độc đáo được thừa nhận trong toàn ngành có thể là các đặc tính riêng của sản phẩm, sự điển hình về thiết kế hay danh tiếng sản phẩm hay sự khác biệt về công nghệ sản xuất
Cạnh tranh bằng sản phẩm có hai yếu tố cạnh tranh quan trọng là chất lượng và giá cả:
4.1.1 Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
Chữ tín của sản phẩm quyết định chữ tín của doanh nghiệp và tạo lợi thế có tính quyết định trong cạnh tranh Do đó để tồn tại và chiến thắng trong cạnh tranh các doanh nghiệp luôn phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm
Nói tới chất lượng là phải xem xét sản phẩm thoả mãn đến mức độ nào nhu cầu của khách hàng Để lấy chất lượng làm công cụ cạnh tranh thì mức độ thoả mãn của người tiêu dùng sau khi tiêu dùng ngày càng tăng lên
Theo quan điểm triết học của C.Mác: “Chất lượng sản phẩm là mức độ, là thước đo biểu thị giá trị sử dụng của nó” Theo tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (ISO): “Chất lượng sản phẩm là tổng thể những chỉ tiêu, những đặc trưng kinh tế kỹ thuật của nó, thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định phù hợp với công dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn”
Trên thực tế, cạnh tranh bằng giá là "biện pháp nghèo nàn nhất" vì nó làm giảm lợi nhuận thu được Trong khi đó, cùng một loại sản phẩm như nhau nhưng sản phẩm nào có chất lượng tốt hơn lại được người tiêu dùng sẵn sàng chấp nhận, đôi khi cả với giá cao hơn
Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống được nâng cao, các tiến bộ khoa học kỹ thuật không ngừng được áp dụng vào đời sống thì chất lượng sản phẩm đã trở thành vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp Một khi chất lượng không đảm bảo, doanh nghiệp sẽ bị khách hàng từ bỏ, mất thị trường và nhanh chóng đi tới chỗ suy yếu và phá sản
Nếu một doanh nghiệp tạo ra được các sản phẩm có chất lượng cao thì sẽ đem lại những thiết thực như sau:
Trang 10
Một là: Do chất lượng sản phẩm cao nên tốc độ tiêu thụ nhanh, tạo được ấn tượng tốt
về nhãn hiệu sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp và tạo được sự tín nhiệm của khách hàng, kích thích người tiêu dùng
Hai là: Sản phẩm có chất lượng cao sẽ tạo khả năng sinh lời do giảm được phế phẩm,
tốc độ tiêu thụ nhanh, giảm thiểu thời gian kiểm tra
Ba là: Chất lượng sản phẩm cao góp phần cải thiện tình hình tài chính của doanh
nghiệp
Bốn là: Do việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm nên đã tạo điều kiện thuận
lợi cho việc kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, bảo đảm sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp, bảo đảm giành thắng lợi trong cạnh tranh và thu hút thêm ngày càng nhiều khách hàng, góp phần phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trong điều kiện hiện nay khi mà thu nhập của mỗi người dân được tăng lên thì chất lượng sản phẩm trở thành một công cụ cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp trên thị trường
Chất lượng sản phẩm còn thể hiện ở đặc tính của sản phẩm về nhãn hiệu, mẫu mã, bao
bì và tính hữu dụng Trong sự cạnh tranh gay gắt thì các yếu tố này càng trở nên quan trọng
và có thể coi là một bộ phận công cụ cạnh tranh không kém phần lợi hại Đối với mỗi doanh nghiệp, việc lựa chọn nhãn hiệu, ký hiệu phù hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi nhãn hiệu, ký hiệu được coi là dấu vết của sản phẩm, gắn bó chặt chẽ với cuộc đời của doanh nghiệp Nó thực sự mang lại cho doanh nghiệp một tư thế riêng và ngày càng đóng một vai rò quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường
Từ thực tế cho thấy tất cả các doanh nghiệp thành đạt trong sản xuất kinh doanh, khống chế trong cạnh tranh thì đều là các doanh nghiệp có thái độ tích cực như nhau đối với chất lượng sản phẩm Nguyên tắc chung của họ là chất lượng sản phẩm tuyệt đối với độ tin cậy cao khi sử dụng và lòng trung thực trong quan hệ mua bán, đặc biệt là các doanh nghiệp luôn coi trọng việc nâng cao là một chiến lược cạnh tranh trên thị trường có phạm vi toàn cầu
4.1.2 Cạnh tranh bằng giá cả sản phẩm
Trang 11Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà người bán hay doanh nghiệp
dự tính có thể nhận được từ người mua thông qua việc trao đổi sản phẩm trên thị trường Hay nói cách khác, giá cả là số tiền người mua trả cho người bán về việc cung ứng một hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó Giá cả có vai trò rất quan trọng, đối với doanh nghiệp nó là khâu cuối cùng, với người tiêu dùng nó là một yếu tố quyết định đến việc mua hay không mua hàng Giá
cả là dấu hiệu tin cậy phản ánh tình hình biến động của thị trường Thông qua giá cả, doanh nghiệp có thể nắm bắt được sự tồn tại, sức chịu đựng cũng như khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường
Theo lý thuyết kinh tế thì giá cả được hình thành do sự gặp gỡ giữa cung và cầu Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì mỗi người tham gia thị trường đều là những người chấp nhận giá Tuy nhiên, thông thường để giành phần thắng trong trận chiến thì các đối thủ cạnh tranh thường cố gắng đưa ra các mức giá thấp hơn so với đối phương nhằm tiêu thụ được nhiều hàng hoá dịch vụ
Trong cạnh tranh, giá cả được sử dụng làm một trong những công cụ cạnh tranh hữu hiệu thông qua chính sách định giá bán, và khi đưa một chính sách ra thị trường doanh nghiệp cần căn cứ vào các mặt sau:
Lượng cầu đối với sản phẩm: Doanh nghiệp cần tính toán nhiều phương án giá, ứng với mỗi loại giá là một lượng cầu, từ đó chọn ra các phương án có nhiều lợi nhuận nhất dựa trên tính quy luật: giá cao thì ít người mua và ngược lại Tuy nhiên điều này chỉ đúng với loại hàng hoá có nhu cầu bền
Chi phí sản xuất và giá thành đơn vị sản phẩm: Giá bán là tổng hợp giá thành và lợi nhuận mục tiêu Tuy nhiên, không phải bao giờ giá bán cũng cao hơn giá thành, nhất là trong điều kiện cạnh tranh thị trường
Phải nhận dạng đúng thị trường cạnh tranh và từ đó có cách định giá cho mỗi loại thị trường
Cạnh tranh về giá cả thể hiện qua các chính sách định giá Doanh nghiệp có thể có 3 chính sách định giá sau:
Trang 12
- Chính sách định giá thấp: Là chính sách định giá thấp hơn giá thị trường để thu hút
người tiêu dùng về phía mình Từ đó tăng được sản lượng tiêu thụ và do đó tăng lợi nhuận Mặt khác, với giá như vậy, doanh nghiệp sẽ có khả năng chiếm lĩnh thị trường cũ và xâm nhập vào các thị trường mới
- Chính sách định giá ngang giá thị trường: Là định ra mức giá bán sản phẩm xoay
quanh mức giá thống trị trên thị trường, giúp doanh nghiệp giữ được khách hàng, đồng thời, nếu doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm hoặc đẩy mạnh công tác tiêu thụ thì vẫn thu được nhiều lợi nhuận hơn nhờ tiết kiệm được chi phí hoặc tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ
- Chính sách định giá cao: Là chính sách định giá sản phẩm cao hơn giá thống trị trên
thị trường, cao hơn giá trị của sản phẩm Chính sách này chỉ áp dụng với doanh nghiệp có sản phẩm độc quyền hoặc các doanh nghiệp có chất lượng vượt trội so với sản phẩm cùng loại trên thị trường Với mức giá cao hơn giá thị trường doanh nghiệp sẽ thu được khoản lợi nhuận siêu ngạch
- Chính sách giá phân biệt: Chính sách này được biểu hiện là cùng với một sản phẩm
song lại bán ra với những mức giá khác nhau như:
+, Phân biệt theo lượng mua: Người mua nhiều phải được ưu đãi hơn so với người mua
ít
+, Phân biệt theo chất lượng sản phẩm: Giá bán sẽ phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm
là loại nào (loại 1, loại 2, ) Nếu sản phẩm loại 1 tốt hơn loại 2 thì giá bán loại 1 sẽ cao hơn +, Phân biệt theo phương thức thanh toán: Với những khách hàng trả tiền ngay được
ưu đãi hơn so với nhưng khách hàng trả chậm
+, Phân biệt theo thời gian: Giá tại thời điểm này khác so với giá tại thời điểm khác +, Phân biệt theo mùa: Giá bán áp dụng cho mùa nay không giống so với giá áp dụng cho các mùa khác
- Chính sách bán phá giá: Giá bán ra thấp hơn hẳn so với giá thị trường, thậm chí có
thể thấp hơn giá thành sản phẩm nhằm đánh bại đối thủ, loại đối thủ ra khỏi thị trường Chính
Trang 13sách này đòi hỏi doanh nghiệp phải có thế mạnh về uy tín, tài chính Chỉ nên áp dụng chính sách này trong một thời gian nhất định và có kết quả là có thể loại bỏ được một số đối thủ nhỏ nhưng khó đánh bại được đối thủ lớn Tuy nhiên để cạnh tranh trên thị trường Hoa Kỳ thì chúng ta không thể sử dụng chính sách này bởi Chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra luật chống bán phá giá
Cạnh tranh về giá cả thường được sử dụng khi doanh nghiệp tung một sản phẩm mới ra thị trường hay khi muốn xâm nhập vào thị trường mới, hoặc khi muốn thủ tiêu một đối thủ cạnh tranh khác Cạnh tranh bằng giá cả sẽ đem lại ưu thế cho các doanh nghiệp có vốn và sản lượng lớn hơn nhiều so với các đối thủ khác
Như vậy, qua các giai đoạn phát triển khác nhau của nền sản xuất hàng hoá thì tầm quan trọng của các công cụ cạnh tranh cũng thay đổi Khi nhu cầu của người tiêu dùng chưa được thoả mãn và thu nhập thấp thì giá cả sản phẩm được coi là công cụ cạnh tranh quan trọng, nhưng sau đó khi đã được thoả mãn về giá cả thì lại xuất hiện ngững nhu cầu về chất lượng, phương thức cung ứng Cạnh tranh bằng giá cả là một biện pháp quan trọng, nhưng không phải là quan trọng nhất
4.2 Cạnh tranh bằng các biện pháp tiếp thị (marketing):
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, đây cũng là giai đoạn thực hiện bù đắp chi phí và thu lợi nhuận
Để tiêu thụ sản phẩm, công việc đầu tiên của doanh nghiệp là lựa chọn kênh phân phối sản phẩm một cách hợp lý, có hiệu quả nhằm mục đích đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của khách hàng, nhanh chóng giải phóng nguồn hàng, để bù đắp chi phí sản xuất, thu hồi vốn Xây dựng một hệ thống mạng lưới tiêu thụ sản phẩm tốt có nghĩa là xây dựng một nền móng vững chắc để phát triển thị trường, bảo vệ thị phần của doanh nghiệp
Như vậy, tổ chức tiêu thụ sản phẩm ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Tổ chức tiêu thụ tốt có tác dụng giúp doanh nghiệp: tăng sản lượng tiêu thụ, từ
đó tăng doanh thu và lợi nhuận, thu hồi vốn nhanh; tạo uy tín của sản phẩm trên thị trường làm cho nhiều khách hàng biết đến và hiểu rõ tính năng, công dụng của nó; giúp doanh nghiệp
Trang 14tìm được nhiều bạn hàng mới, khai thác được nhiều thị trường; kích thích sản xuất, kinh doanh phát triển
Bên cạnh việc tổ chức mạng lưới bán hàng, doanh nghiệp cũng cần đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ bán hàng như quảng cáo, khuyến mãi, các dịch vụ sau bán hàng đây là một hình thức cạnh tranh phi giá, gây sự chú ý và thu hút khách hàng
II Sức cạnh tranh của hàng hoá:
1 Khái niệm
Sức cạnh tranh của hàng hoá được hiểu là tất cả đặc điểm, yếu tố, tiềm năng mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thương trường cạnh tranh một cách lâu dài và có ý nghĩa
Sức cạnh tranh của hàng hoá đó là khả năng chiếm lĩnh thị trường của một mặt hàng, là khả năng mà doanh nghiệp có thể đạt được những điều kiện thuận lợi trong tiêu thụ hàng hoá của mình
Sức cạnh tranh của hàng hoá còn được thể hiện ở vị trí của mặt hàng đó trên thị trường, hay nói cách khác đó là sức mua đối với hàng hoá đó trên thị trường, là mức độ chấp nhận của người tiêu dùng
2 Các chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá
2.1 Sản lượng, doanh thu:
Có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá, trong
đó sản lượng và doanh thu của sản phẩm là một chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường Nếu sản lượng tiêu thụ hàng hoá tăng cao qua các năm tức
là hàng hoá duy trì và giữ vững được thị phần Cũng như doanh thu hàng năm cao với tốc độ tăng qua các năm tốt chứng tỏ giá cả hàng hoá được duy trì ổn định, hàng hoá đó đứng vững trong cạnh tranh, có sức cạnh tranh cao và được thị trường chấp nhận Còn nếu khối lượng
Trang 15tiêu thụ lớn mà doanh thu không cao chứng tỏ giá cả hàng hoá có sự giảm sút và sức cạnh
tranh của hàng hoá phần nào bị giảm đi
2.2 Thị phần:
Thị phần cũng là một trong những chỉ tiêu hay được dùng nhất để đánh giá cức cạnh
tranh của hàng hoá trên thị trường Thị phần của doanh nghiệp trong một thời kỳ (thường
được tính trong một năm) là tỷ lệ phần trăm thị trường mà doanh nghiệp đã chiếm được trong
thời kỳ đó, và nó được tính theo công thức sau:
Doanh thu của doanh nghiệp Thị phần của doanh nghiệp = - * 100% trong một thời kỳ Tổng doanh thu trên thị trường
(cùng trong thời kỳ đó) Hay:
Lượng bán của doanh nghiệp
Thị phần của doanh nghiệp = - * 100%
(trong một thời kỳ) Lượng tiêu thụ trên thị trường
(cùng trong thời kỳ đó)
Trên thị trường, nói chung thường thường có rất nhiều các doanh nghiệp cùng sản xuất
và kinh doanh một mặt hàng Những hãng lớn thường có thị phần lớn và ngược lại
Độ lớn của chỉ tiêu này nói lên vai trò, vị trí của doanh nghiệp trên thị trường Cũng
như cho ta biết khả năng chấp nhận của thị trường đối với mặt hàng doanh nghiệp đang sản
xuất kinh doanh như thế nào Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này ta có thể đánh giá
mức độ hoạt động có hiệu quả hay không của doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp có
được mở rộng ra trên thị trường hay không Thị phần của doanh nghiệp lớn hơn chứng tỏ sản
phẩm hàng hoá của doanh nghiệp được khách hàng ưa chuộng và đánh giá cao hơn, điều đó
có nghĩa là nó có khả năng đáp ứng những nhu cầu của khách hàng cao hơn so với các đối
Trang 16thủ cạnh tranh Những doanh nghiệp có thị phần lớn ở mặt hàng nào đó thường là những doanh nghiệp có công nghệ tiên tiến để sản xuất mặt hàng đó nhằm đảm bảo sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả lại phù hợp, đáp ứng được những đòi hỏi của khách hàng Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường mà lớn chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp có sức cạnh tranh lớn, có khả năng đánh bại đối thủ cạnh tranh và phục vụ tốt các nhu cầu khách hàng Bên cạnh đó tốc độ tăng qua các năm cũng cho thấy khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng
Chỉ tiêu này khi sử dụng có một nhược điểm là khi tính toán chỉ tiêu khó đảm bảo tính chính xác, nhất là khi thị trường quá rộng lớn, không thể tính toán được doanh thu thực tế của các doanh nghiệp khác, nếu có thì cũng mất rất nhiều thời gian và chi phí Do đó để đánh giá chính xác hơn, doanh nghiệp có thể tính theo chỉ tiêu thị phần so với các đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
2.3 Thi phần so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất:
Doanh thu của doanh nghiệp Thị phần so với đối thủ = - * 100%
cạnh tranh mạnh nhất Doanh thu của đối thủ cạnh tranh
Trang 17Phương pháp này cũng có nhược điểm là chưa thật chính xác do khó lựa chọn được những đối thủ cạnh tranh mạnh nhất, đặc biệt là khi kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác nhau Để đảm bảo cần chia ra nhiều lĩnh vực nhỏ để lựa chọn
2.4 Nhãn hiệu thương mại
Ngày nay, uy tín của thương hiệu sản xuất càng trở nên quan trọng Cùng một mức chất lượng, giá cả và mẫu mã như nhau, nhưng sản phẩm có thương hiệu uy tín được nhiều người biết đến có thể bán với giá cao hơn hàng chục lần Không những thế nhãn hiệu thương mại của công ty càng có uy tín thì sẽ tạo cho người tiêu dùng lòng tin, độ tin cậy đối với hàng hoá Khi tiêu dùng sản phẩm của công ty, người tiêu dùng sẽ không còn phải băn khoăn nhiều cũng như phải mất nhiều thời gian hơn để tìm hiểu về sản phẩm mình muốn mua Như vậy, nhãn hiệu thương mại có thể coi như là một tài sản vô hình mà công ty đã tạo dựng được trong một thời gian nhất định
2.5 Hình ảnh của hàng hoá và quốc gia
Yếu tố hình ảnh quốc gia tạo nên sự tin tưởng của người tiêu dùng đối với hàng hoá mà
họ mua Quốc gia nào tạo cho mình được một hình ảnh tốt đẹp, tạo được vị trí cao trên trường quốc tế (trong khu vực và trên thế giới) thì quốc gia đó sẽ có lợi thế hơn rất nhiều, hàng hoá của quốc gia đó bán ra không những dễ được thị trường chấp nhận hơn mà còn bán được với mức giá cao hơn Đối với Việt Nam, đây là một hạn chế rất lớn, do Việt Nam chưa tạo dựng được cho mình một "hình ảnh" cao trong khu vực và cả trên thế giới, do đó mà một số mặt hàng của Việt Nam muốn đem bán tại một thị trường nước ngoài nào đó thì phải qua các bước trung gian, tức là phải nhờ đến "hình ảnh quốc gia" của một nước thứ ba (mà nước này có vị thế cao hơn Việt Nam trên trường quốc tế) Điều này làm cho lợi nhuận bán hàng bị chia sẻ rất nhiều, đưa đến thua thiệt cho phía Việt Nam
3 Một số nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá:
Trên thị trường, sức cạnh tranh của hàng hoá bị ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố, trong
đó bao gồm cả các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp:
Trang 18
3.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Theo mô hình 5 khả năng của M.E.Porter có 5 nhân tố tác động chính đến sức cạnh tranh của hàng hoá trong cùng một ngành, bao gồm:
3.1.1 Sức ép của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành
Cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ hiện có trong ngành là một trong những yếu tố phản ánh bản chất của môi trường này Cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại diễn ra do một hoặc nhiều đối thủ cảm thấy bị chèn ép hoặc cảm thấy có cơ hội để cải thiện vị trí Trong cuộc cạnh tranh đó các đối thủ sử dụng các chiến thuật như cạnh tranh về giá, các cuộc chiến về
quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và tăng cường phục vụ khách hàng hoặc bảo hành
3.1.2 Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn ra nhập thị trường
Những người mới bước vào kinh doanh ở một lĩnh vực, một ngành hoặc một thị trường
sẽ mang theo năng lực sản xuất mới với mong muốn chiếm lĩnh một phần thị trường; sự xuất hiện của họ làm cho giá bán bị kéo xuống và kết quả là làm giảm mức lợi nhuận Từ đó mà nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện đang kinh doanh trên thị trường Hơn nữa những người mới sẽ có những cách tiếp cận mới có hiệu quả hơn đối với khách hàng Tuy nhiên để bước vào kinh doanh ở thị trường mới, các công ty phải đủ khả năng vượt qua những cản trở nhất định Theo quan điểm của M Porter, các rào chắn ngăn cản
sự xâm nhập của một công ty bao gồm :
1 Hiệu quả kinh tế do quy mô
2 Sự khác biệt hay ấn tượng về sản phẩm
3 Yêu cầu về vốn
4 Chi phí chuyển đổi
5 Kênh phân phối
6 Chính sách của Chính phủ
7 Sự phản ứng của các nhà cạnh tranh
3.1.3 Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế
Trang 19Xét theo nghĩa rộng thì các hãng trong một ngành phải cạnh tranh với các ngành sản xuất các sản phẩm thay thế, nó bao gồm cả ở hiện tại và tương lai Các sản phẩm thay thế hạn chế mức lợi nhuận tiềm năng của một ngành bằng cách đặt ngưỡng tối đa cho mức giá mà các hãng trong ngành có thể kinh doanh có lãi Khi hai sản phẩm có công dụng gần tương tự nhau thì đương nhiên người tiêu dùng sẽ lựa chọn sản phẩm nào có mức giá thấp hơn, tức là khi giá của sản phẩm tăng quá cao khách hàng sẽ chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế Khả năng lựa chọn về giá cả của các sản phẩm thay thế càng hấp dẫn thì ngưỡng chặn trên đối với lợi nhuận của ngành càng vững chắc hơn Sự sẵn có của sản phẩm thay thế trên thị trường là một mối đe doạ trực tiếp đến khả năng phát triển, khả năng cạnh tranh và mức độ lợi nhuận của doanh nghiệp
3.1.4 Sức ép của khách hàng:
Sức mạnh của khách hàng thể hiện ở chỗ họ có thể buộc các nhà sản xuất phải giảm giá bán sản phẩm thông qua việc tiêu dùng ít sản phẩm hơn hoặc đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao hơn Người mua tranh đua với ngành bằng cách bắt ép giá giảm xuống, mặc cả để có chất lượng tốt hơn, được dịch vụ nhiều hơn và còn làm cho các đối thủ cạnh trạnh chống lại nhau - tất cả đều làm tổn hao mức lợi nhuận của ngành Quyền lực của mỗi một nhóm khách hàng quan trọng của ngành phụ thuộc vào một loạt các đặc điểm về tình hình thị trường của nhóm
và vào tầm quan trọng của các hàng hoá mua của ngành xét trong mỗi tương quan của toàn bộ hoạt động kinh doanh chung của nhóm
3.1.5 Sức ép của người cung ứng:
Những người cung ứng có sức mạnh thoả thuận rất lớn Họ có thể khẳng định quyền lực của mình bằng cách đe doạ tăng hoặc giảm giá, chất lượng hàng hoá hay dịch vụ đã mua Những người cung cấp có thế lực bằng cách đó chèn ép lợi nhuận của một ngành khi ngành
đó không có khả năng bù đắp lại chi phí tăng lên trong mức giá của ngành Các nhà cung cấp
có thể gây ra những khó khăn làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong những trường hợp sau:
Trang 203.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
3.2.1 Nguồn nhân lực:
Đây là yếu tố quyết định của sản xuất kinh doanh bao gồm:
- Ban giám đốc doanh nghiệp
- Cán bộ quản trị ở cấp doanh nghiệp
- Cán bộ quản trị ở cấp trung gian, đốc công và công nhân
Ban giám đốc doanh nghiệp: Là những cán bộ quản trị cấp cao nhất trong doanh nghiệp,
những người vạch ra chiến lược trực tiếp điều hành, tổ chức thực hiện công việc kinh doanh của doanh nghiệp Những công ty cổ phần, những tổng công ty lớn ngoài Ban giám đốc còn
có hội đồng quản trị là đại diện cho các chủ sở hữu của doanh nghiệp
Các thành viên Ban giám đốc ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nếu các thành viên có trình độ, kinh nghiệm, khả năng đánh giá, năng động, có mối quan hệ tốt với bên ngoài thì họ đem lại cho doanh nghiệp không những lợi ích trước mắt, như tăng doanh thu, lợi nhuận,mà còn cả uy tín - lợi ích lâu dài của doanh nghiệp đó mới là yếu tố quan trọng tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Đội ngũ cán bộ quản trị cấp trung gian, đốc công và công nhân: Nguồn cán bộ của một
doanh nghiệp phải đồng bộ Sự đồng bộ này không chỉ xuất phát từ thực tiễn là đội ngũ lao động của doanh nghiệp mà còn xuất phát từ yêu cầu kết hợp nguồn nhân lực với các nguồn nhân lực tổ chức và vật chất
Trình độ tay nghề của công nhân và lòng hăng say làm việc của họ là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi vì khi tay nghề cao, lại cộng
Trang 21thêm lòng hăng say nhiệt tình lao động thì tăng năng suất lao động là tất yếu Đây là tiền đề
để doanh nghiệp có thể tham gia và đứng vững trong cạnh tranh
3.2.2 Nguồn lực vật chất và tài chính
Bao gồm:
Máy móc thiết bị và công nghệ: Có ảnh hưởng một cách sâu sắc tới khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp Nó là một yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của một doanh nghiệp và tác động trực tiếp tới chất lượng sản phẩm Ngoài ra, công nghệ sản xuất, máy móc thiết bị cũng ảnh hưởng đến giá thành và giá bán sản phẩm Một doanh nghiệp
có trang bị máy móc hiện đại thì sản phẩm của họ nhất định có chất lượng cao Ngược lại không có một doanh nghiệp nào có thể nói là có khả năng cạnh tranh cao khi mà trong tay họ
là cả hệ thống máy móc cũ kỹ với công nghệ sản xuất lạc hậu
Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp: Bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân
phối nào cũng đều phải xem xét, tính toán trên tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có tiềm năng lớn về tài chính sẽ có nhiều thuận lợi trong việc đổi mới công nghệ, đầu tư mua sắm trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành để nâng cao sức cạnh tranh, cung cấp tín dụng thương mại, khuyến khích việc tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, lợi nhuận và củng cố vị trí của mình trên thương trường
Nói tóm lại, khi xem xét khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp và thậm chí kể cả khả năng cạnh tranh của đối thủ, doanh nghiệp đều phải xem xét đầy đủ các yếu tố tác động,
từ đó tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
III: sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường Mỹ:
1 Sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá nói chung
Trang 22Hoạt động xuất khẩu có vai trò vô cùng to lớn đối với nền kinh tế quốc dân cũng như
sự phát triển nói chung của một quốc gia Mà để duy trì và phát triển tốt hoạt động xuất khẩu thì vấn đề sức cạnh tranh của sản phẩm được quan tâm hàng đầu Nếu sức cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu cao, hoạt động xuất khẩu tiến triển tốt, khi đó sẽ tạo điều kiện cho ta có ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị, phục vụ sản xuất trong nước, thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia sẽ nhận biết được lợi thế so sánh của mình so với các nước khác, và họ sẽ tập trung vào những lĩnh vực thuộc lợi thế của họ để tối
đa hoá lợi ích thu được Vì vậy, khi tham gia xuất khẩu hàng hoá, các quốc gia sẽ phát huy tối
đa lợi thế của mình để phát triển sản xuất Việc mở rộng thị trường ra nước ngoài còn giúp đa dạng hoá ngành nghề ở các nước xuất khẩu, từ đó mà nhiều công việc được tạo ra, thu nhập của người dân tăng và đời sống nhân dân được cải thiện Điều này càng khẳng định tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu, mà muốn hoạt động xuất khẩu phát triển, tức là ta có thể bán được nhiều hàng cho nước ngoài, điều đó đồng nghĩa với việc ta sẽ phải phục vụ khách hàng tốt hơn đối thủ cạnh tranh, có nghĩa là sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu của ta phải cao hơn, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, các hàng rào mậu dịch được
rỡ bỏ dần, thay vào đó là chế độ tự do mậu dịch Khi đó, quốc gia nào, doanh nghiệp nào có hàng hoá có chất lượng cao hơn, giá cả rẻ hơn sẽ được khách hàng chấp nhận, những hàng hoá chất lượng thấp trong khi giá cả cao sẽ bị thải loại dần Như vậy, công cụ để tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay của các doanh nghiệp chính là sức cạnh tranh của hàng hoá, là khả năng doanh nghiệp có thể đáp ứng được khách hàng tốt hơn đối thủ cạnh tranh như thế nào
Bên cạnh đó, quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi mới, vươn lên để có thể trụ vững trong cạnh tranh Theo quy luật, khi tham gia thị trường, cả người bán và người mua đều muốn tối đa hoá lợi ích của mình Người mua thì luôn muốn nhận được hàng hoá có chất lượng tốt với giá cả thấp nhất trong khi người bán lại luôn muốn định giá ở mức cao nhất có thể nhằm tối đa hoá lợi nhuận Do đó trên thị trường,
Trang 23người thắng cuộc sẽ là người cung cấp những hàng hoá mà người mua thích nhất, có nghĩa là nhà sản xuất phải cho ra nnhững sản phẩm được coi là có chất lượng cao nhất xong giá thành phải thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh, điều đó đồng nghĩa với việc gia tăng sức cạnh tranh của hàng hoá
2 Sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
2.1 Vai trò của xuất khẩu nông sản đối Việt Nam
Trước đây, trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế mang tính chất tự cung tự cấp, sản xuất bị kìm hãm, nông nghiệp được quan tâm phát triển song còn yếu kém, khả năng tiềm tàng chưa được khai thác, nhiều lợi thế chưa được phát huy, trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ lạc hậu
Qua 10 năm đổi mới, từ khi thực hiện chính sách “mở” cả trong lẫn ngoài, nước ta đã đạt nhịp độ tăng trưởng ổn định và bền vững Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, Việt Nam đang phải đứng trước một thực trạng là so với các nước khác trên thế giới và trong khu vực, nền kinh tế nước ta còn kém phát triển Vì vậy, không thể có sự nhảy vọt về chất nếu không nhanh chóng thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu, mà một trong những nhân tố góp phần thực hiện thành công chiến lược này là đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nông sản, điều này cũng đồng nghĩa với việc phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản của Việt Nam Đối với Việt Nam, xuất khẩu nông sản vẫn là xương sống của sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung
Là một nước có 80% dân số và trên 70% lao động xã hội đang hoạt động và sinh sống dựa vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, Việt Nam đã biết cách tận dụng và phát huy được nhiều lợi thế và tiềm năng về đất đai, lao động và điều kiện sinh thái, cho phép phát triển sản xuất nhiều loại nông sản xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn như: Lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng; Cà phê vùng Tây Nguyên; Cao su vùng duyên hải miền Trung,
và một số vùng cây ăn quả đặc sản khác Điều đó đã góp phần đưa đất nước lên một bước
Trang 24phát triển mới Có thể nói lựa chọn xuất khẩu hàng nông sản để thực hiện chất lượng xuất khẩu ở Việt Nam là một hướng đi đúng đắn và có hiệu quả, phù hợp với chủ trương của Đảng
và Nhà nước ta Do vậy, việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản nước ta là rất cần thiết
Thực tế cho thấy trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, xuất khẩu nông sản đã có vai trò rất quan trọng, cụ thể:
- Xuất khẩu nông sản tạo nguồn vốn tích luỹ ban đầu cho quốc gia: Cho đến nay, kim
ngạch xuất khẩu nông sản nước ta chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
và là một trong những nguồn thu ngoại tệ chủ yếu ở nước ta Là một nước nghèo, thiếu ngoại
tệ và một khi đồng tiền chưa có khả năng chuyển đổi như đồng Việt Nam, thì xuất khẩu nông sản càng có ý nghĩa quan trọng “hàng đầu” tạo ra nguồn thu ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ và vật tư cần thiết cho sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước
- Tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân: Xuất khẩu nông sản tăng đã góp phần
thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển Đồng thời, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH - HĐH, tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ
từ nền kinh tế thuần nông, tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá với tỷ suất hàng hoá ngày càng cao Bên cạnh đó, xuất khẩu nông sản còn tạo điều kiện để nền kinh tế phát triển theo chiều rộng Như khi các thị trường nông sản xuất khẩu phát triển thì đó là phương cách giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và tăng đội ngũ công nhân làng nghề, dẫn đến tăng quy mô sản xuất của nền kinh tế Như vậy, có thể nói sự gia tăng của xuất khẩu nông sản
đã tạo nên mức tăng trưởng GDP cao, góp phần cải thiện được cán cân thanh toán thương mại đồng thời thu nhập và đời sống của người dân được nâng cao rõ rệt
- Thúc đẩy các mối liên kết kinh tế: Do nông sản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản
phẩm xuất khẩu của Việt Nam hiện nay nên nó đã thúc đẩy sự phát triển công nghiệp chế biến tạo ra các sản phẩm sơ chế như gạo, cà phê, cao su Sự phát triển của công nghiệp chế biến tạo cơ hội cho việc gia tăng xuất khẩu nông sản, nó lại có tác động ngược lại với các ngành cung ứng nguyên liệu, tạo ra “mối liên hệ ngược”, mà tác động của nó đặc biệt có hiệu quả nhờ vào quy mô sản xuất lớn làm giảm chi phí sản xuất và tăng cạnh tranh trên thị trường
Trang 25quốc tế Sự phát triển của các ngành có liên quan còn được thể hiện qua “mối liên hệ gián tiếp” thông qua nhu cầu hàng tiêu dùng của phần lớn lực lượng lao động có mức thu nhập ngày càng tăng Ngoài ra, thực hiện chất lượng xuất khẩu nông sản còn là cơ sở gắn thị trường trong nước và thị trường quốc tế Nền kinh tế quốc gia với tư cách một đơn vị kinh tế độc lập,
tự chủ tham gia vào từng bước hoà nhập với nền kinh tế thế giới, thúc đẩy liên kết và mở rộng giao lưu kinh tế - thương mại giữa các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cùng nhau phát triển
Như vậy, thực tế cho thấy xuất khẩu hàng nông sản đã phần nào đáp ứng được mục tiêu phát huy lợi thế so sánh của nông nghiệp nước ta trên thị trường quốc tế Xuất khẩu nông sản chẳng những góp phần đáng kể vào việc tích luỹ vốn cho công nghiệp hoá mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá cho nhân dân, tăng thu nhập cho bà con, từ đó tăng sức mua của dân cư trong thị trường nông thôn rộng lớn, giảm bớt nhập siêu, giảm bớt căng thẳng trong cán cân thanh toán cũng như cầu ngoại tệ
2.2 Việt nam là một nước có tiềm năng lớn về sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản
Việt nam có tiềm năng khá lớn trong việc sản xuất hàng nông sản, nếu như được đầu tư một cách đồng bộ, lâu dài, khắc phục những yếu kém trong khâu thu mua, chế biến thì Việt Nam có thể trở thành một trung tâm sản xuất hàng nông sản lớn Tiềm năng sản xuất hàng nông sản của Việt Nam thể hiện ở một số điểm sau:
Về đất đai: Việt nam có diện tích 330.363 km2, tiềm năng đất nông nghiệp của nước ta là
10 - 11, 157 triệu ha, với 8 triệu ha cây trồng hàng năm (bao gồm đất trồng lúa khoảng 5,4 triệu ha và 2,3 triệu ha trồng cây lâu năm) Hiện nay nước ta mới chỉ sử dụng được khoảng 65% quỹ đất nông nghiệp, trong đó 6,5 triệu ha cho cây trồng hàng năm, 0,86 triệu ha cho cây lâu năm, 0,33 triệu ha là đồng cỏ tự nhiên và 17 triệu ha mặt nước Ngoài ra chúng ta còn có một diện tích lớn đất bị xói mòn, thoái hoá Cụ thể là vùng Bắc Bộ 5% tổng diện tích, khu 4
cũ 35% và đồng bằng Nam Bộ 34% tổng diện tích Nếu chúng ta đầu tư cải tạo diện tích này
sẽ rất thuận tiện cho việc phát triển cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, hạt tiêu
Trang 26Đất Việt Nam có tầng dầy tơi xốp với chất dinh dưỡng cao kết hợp với sự đa dạng và phong phú về chủng loại (có 64 loại thuộc 14 nhóm), đây là một điều kiện rất tốt cho nhiều loại cây trồng phát triển
Về khí hậu: Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa do ảnh hưởng sâu sắc của chế độ gió
mùa Châu á Khí hậu Việt Nam rất đa dạng, phân biệt rõ rệt từ miền Bắc vào miền Nam, miền Bắc có mùa Đông lạnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long có khí hậu kiểu Nam á Đây là điều kiện khí hậu thụân lợi để đa dạng hoá các loại cây trồng Ngoài ra tiềm năng nhiệt độ, độ ẩm và gió dồi dào phân bổ khá đồng đều trên phạm vi cả nước Tiềm năng nhiệt của nước ta được xếp vào dạng giàu có với số giờ nắng cao, cường độ bức xạ lớn,
độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, khoảng hơn 80%, lượng mưa khoảng 1.800 - 2.000 mm/năm là điều kiện lý tưởng cho nhiều loại cây trồng sinh trưởng và phát triển
Vị trí địa lý và các cảng khẩu: Từ trước đến nay, một khối lượng lớn hàng nông sản xuất
khẩu của Việt Nam được vận chuyển bằng đường biển So với các phương thức vận tải quốc
tế bằng đường sắt, đường hàng không và đường ống thì phương thức vận tải này có nhiều thuận lợi hơn, thông dụng hơn và có mức cước phí rẻ hơn, phù hợp với điều kiện của Việt Nam
Trong thực tiễn chuyên chở bằng đường biển, các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều thuận lợi nổi bật Nước ta có đường biển dài, hệ thống cảng biển nói chung đều nằm sát đường hàng hải quốc tế trải dọc từ Bắc, Trung, Nam, có thể hành trình theo tất cả các chuyến
đi Đông Bắc á, Đông Nam á, Thái Bình Dương, Châu Phi, Châu Mỹ Một số cảng có khả năng bốc xếp hàng xuống tàu lớn, có hệ thống kho bảo quản tốt Và gần đường hàng hải quốc
tế
Về nguồn nhân lực: Nước ta có dân số gần 80 triệu người, cơ cấu dân số trẻ với trên 80%
sống bằng nghề nông Đây là một lực lượng lao động hùng hậu cung cấp cho khu vực nông nghiệp Mặc dù chất lượng lao động của Việt Nam còn thấp hơn so với nhiều quốc gia khác trên thế giới nhưng con người Việt Nam với bản chất chịu thương chịu khó, cần cù, sáng tạo, ham học hỏi là tiềm năng lớn góp phần vào chất lượng lao động ngành nông nghiệp Việt Nam
Trang 27
Tình hình kinh tế Việt Nam với các chính sách nông nghiệp: Với mục đích hoà nhập
vào đời sống kinh tế thế giới và tiến tới việc mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hoá xuất khẩu, Việt Nam đã tích cực tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực Hơn nữa với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu nên việc sản xuất, chế biến, xuất khẩu hàng nông sản rất được quan tâm Việc ưu đãi đầu tư trong và ngoài nước vào lực lượng sản xuất nông sản đã và đang tạo được động lực mới cho sự phát triển của ngành này Việc đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất cũng tạo được những bước đột phá
Tóm lại, với những lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động kết hợp với đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong những năm tới chắc chắn sẽ đạt được những bước lớn góp phần quan trọng của sự phát triển đất nước
2.3 Mỹ là một thị trường rất hấp dẫn
Mỹ là một thị trường lớn tương đối dễ tính, xã hội Mỹ là xã hội tiêu dùng (người dân
Mỹ dùng 21%thu nhập của mình cho nhập khẩu hàng tiêu dùng), hơn nữa hàng năm, Mỹ nhập khẩu một lượng hàng trị giá 1.100 tỷ đô la, trong đó hàng nông sản là khoảng 88 tỷ đô la, chiếm 8% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Mỹ Chính vì vậy, Mỹ được coi là thị trường lớn nhất thế giới mà nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam mong muốn hàng hoá của mình thâm nhập được vào Với mức tăng trưởng kinh tế 7-9% trong những năm gần đây, chỉ cần giành 1%thị phần Mỹ thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ cũng đạt trên 10 tỷ
đô la Với chiến lược hướng tới xuất khẩu để phục vụ mục tiêu CNH - HĐH đất nước thì thị trường Mỹ là một thị trường không thể bỏ qua
Mặt khác, Mỹ là thị trường có nhu cầu rất lớn về các sản phẩm nông sản như: Cà phê, chè, hạt tiêu, hạt điều, gạo Đây đều là những mặt hàng Việt Nam có lợi thế, và tiềm năng này của thị trường Mỹ sẽ còn có thể giúp ngành nông sản của Việt Nam tăng cao hơn nữa khả năng xuất khẩu của mình trong những năm tới, đặc biệt là khi hiệp định thương mại giữa hai nước đã được ký kết
Trang 28
Từ các lý do trên, có thể thấy rõ rằng việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường Mỹ là rất cần thiết và cũng rất có triển vọng nếu như các doanh nghiệp cũng như Chính phủ Việt Nam có được các chiến lược, các giải pháp tốt để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá của mình trên thị trường này Điều này đồng nghĩa với việc họ phải thâm nhập được vào thị trường Mỹ, phải thu hút được người tiêu dùng mua sản phẩm của mình, cũng như phải vượt qua được các đối thủ cạnh tranh cả ở hiện tại và trong lương lai trên thị trường Mỹ
Trang 29
Kết luận chương I
Hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng như giải quyết công ăn việc làm, cải thiện mức sống người lao động, tạo nguồn vốn cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cải thiện cán cân thanh toán, phát huy lợi thế của một quốc gia Hơn nữa, hiện nay hoạt động xuất khẩu trên thế giới đang diễn ra vô cùng sôi động, do
đó vấn đề cạnh tranh để giành giật thị trường xuất khẩu là rất gay gắt Đặc biệt Mỹ là một thị trường rất hấp dẫn đối với hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Chính vì thế hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ đang và
sẽ gặp rất nhiều khó khăn do phải cạnh tranh với các đối thủ cùng xuất khẩu hàng nông sản sang thị trường này, đặc biệt là các đối thủ lớn và truyền thống như Thái Lan, Braxin, Indonesia , Pakistan, Colombia Do đó để thành công trong cạnh tranh thì các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm hàng hoá của mình
Để đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ, trước tiên ta phải hiểu được những kiến thức cơ bản
về cạnh tranh và sức cạnh tranh của hàng hoá, trong chương I “Lý luận chung về cạnh tranh
và sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường
Mỹ ” , đã nói lên được diều đó
Trang 30
CHươNG II:
thực trạng sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
i: khái quát về thị trường mỹ:
Mỹ là một cường quốc kinh tế, khoa học, công nghệ và quân sự hàng đầu thế giới, đồng thời cũng là một trong ba trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất thế giới Với diện tích 9,3 triệu km2, dân số khoảng 285 triệu người, chiếm 5% dân số thế giới Mỹ là một thị trường riêng lẻ lớn nhất và là nước tham gia giữ vai trò chi phối hầu hết các tổ chức kinh tế quan trọng trên thế giới như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) , là đầu tầu của khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ Cùng với thu nhập quốc dân cao nên Mỹ là thị trường có sức mua lớn và nhu cầu cũng rất đa dạng Đây là một thị trường đầy tiềm năng, hấp dẫn và khá lý tưởng đối với tất cả các nước trên thế giới, trong
đó có Việt Nam Vì vậy để xuất khẩu được nhiều hàng hoá sang thị trường này, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam không những phải thu hút được người tiêu dùng Mỹ mà còn phải cạnh tranh với rất nhiều các đối thủ cạnh tranh lớn trên thế giới cùng xuất khẩu hàng hoá sang
Mỹ
Đối với Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng, muốn giành được thành công trên một thị trường như vậy, thì trước hết cần phải tìm hiểu môi trường kinh doanh của Mỹ để có cách tiếp cận thích hợp, đồng thời đưa ra các chiến lược và giải pháp phù hợp nhất với tiềm năng vốn có của mình Dưới đây là một số đặc điểm của thị trường Mỹ
1 Đặc điểm về kinh tế
Nền kinh tế Hoa Kỳ là một nền kinh tế thị trường, hoạt động theo cơ chế thị trường cạnh tranh có lịch sử phát triển hàng trăm năm nay Hiện nay nó được coi là nền kinh tế lớn nhất thế giới với giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 1999 đạt 9.256 tỷ USD năm 2000 đạt 9.500 tỷ USD Thông thường GDP của Mỹ chiếm trên 20% GDP toàn cầu, thương mại chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch Thương mại quốc tế GDP bình quân đầu người năm 1999
Trang 31
là hơn 34.000 USD cho thấy sức mua của gần 285 triệu dân Mỹ là rất lớn Với một thị trường hấp dẫn như vậy cho nên tất cả các nước trên thế giới đều mong muốn tiêu thụ được hàng hoá sản phẩm của mình trên thị trường này, điều đó làm tăng nguy cơ giảm sức cạnh tranh của hàng hoá do khó giữ được thị phần, cũng như để chiếm thêm thị phần lại càng khó hơn
Mỹ là nước đi đầu trong quá trình quốc tế hoá kinh tế toàn cầu và thúc đẩy tự do hoá thương mại phát triển bởi vì việc mở rộng sản xuất hàng hoá và dịch vụ để xuất khẩu ra thị trường toàn cầu là một trong những yếu tố cơ bản cho sự tăng trưởng kinh tế Mỹ Mức độ phụ thuộc của nền kinh tế Mỹ vào mậu dịch quốc tế ngày càng tăng Kim ngạch xuất nhâp khẩu đã nâng từ 14% GDP năm 1986 lên 25% năm vào năm 1998 Tuy vậy, Mỹ cũng là nước hay dùng tự do hoá thương mại để yêu cầu các quốc gia khác mở cửa thị trường của họ cho các công ty của mình nhưng lại tìm mọi cách để bảo vệ nền sản xuất trong nước
Đồng USD có vai trò thống trị trên thế giới với hơn 24 nước gắn trực tiếp các đồng tiền của họ vào đồng USD, 55 nước neo giá vào đồng USD, các nước còn lại ở nhiều mức độ khác nhau vẫn sử dụng các hệ thống dựa vào chỉ tiêu biến động của đồng USD để tính toán giá trị đồng tiền của mình Thị trường chứng khoán của Mỹ hàng năm chi phối khoảng 8.000 tỷ USD, trong đó các thị trường chứng khoán Nhật Bản chỉ vào khoảng 3.800 tỷ USD Mọi sự biến động của đồng USD và hệ thống tài chính Mỹ đều có ảnh hưởng đến sự biến động của nền tài chính quốc tế
Hàng năm tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ vào khoảng 3-4%/năm và xuất khẩu tăng trưởng trong khoảng 5-10%/năm Những năm gần đây nền kinh tế Mỹ đạt sự phục hồi và tăng trưởng vững chắc, đạt đỉnh cao nhất năm 1999 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 4,5% Sự tăng trưởng bình quân của Mỹ từ 1992-1996 vượt hẳn Châu Âu (1,5%) và Nhật Bản (1,3%) Trong năm 2000, kinh tế Mỹ tuy có nguội đi song vẫn đạt tỷ lệ tăng trưởng khoảng 3,2% Và theo dự báo của Liên hợp quốc về “tình hình thế giới và triển vọng năm 2002” dự tính tổng sản lượng của nền kinh tế Mỹ năm 2002 tăng 1,25% (so với 1,5% của nền kinh tế thế giới)
Sức mua lớn và đa dạng về chủng loại hàng hoá, Mỹ là một thị trường lý tưởng cho tất
cả các nước trên thế giới, chính vì vậy mà môi trường cạnh tranh ở Mỹ rất gay gắt, khốc liệt cho các doanh nghiệp Đó là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đến từ các nền kinh tế
Trang 32lớn, phát triển như Tây Âu, Nhật Bản, các nước NIC cho đến các nước đang phát triển như
ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan và các nước nghèo như Campuchia, Bangladet đều có thể xuất khẩu được hàng hoá vào Mỹ Như vậy Việt Nam muốn bán được sản phẩm hàng hoá của mình trên thị trường này thì đòi hỏi phải cạnh tranh được với một số lượng không nhỏ các đối thủ trên thị trường đó Theo báo cáo của thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ, hiện tại Việt Nam đang đứng thứ 76 về tổng kim ngạch buôn bán với Hoa Kỳ và đứng thứ 71 trong số 229 nước xuất khẩu vào Hoa Kỳ Tuy nhiên, tỷ trọng hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ mới chỉ chiếm khoảng 0,05% tổng giá trị nhập khẩu của Koa Kỳ Đây là một con số rất nhỏ
bé, chưa tương xứng với tiềm năng của cả hai nước
2 Đặc điểm về chính trị
Hệ thống chính trị của Mỹ hoạt động theo nguyên tắc tam quyền phân lập Quyền lập pháp tối cao ở Mỹ được quốc hội thực hiện thông qua hai viện: thượng nghị viện và hạ nghị viện Chủ tịch hạ nghị viện sẽ do các hạ nghị sỹ bầu ra còn chủ tịch thượng nghị viện sẽ do phó tổng thống đảm nhiệm mặc dù không tham gia trực tiếp vào các cuộc thảo luận của cơ quan này Công việc của hai viện phần lớn được tiến hành tại các uỷ ban Hệ thống uỷ ban của hai viện được phát triển khá rộng rãi và các uỷ ban này đều chịu sự kiểm soát của đảng có nhiều đại Bảng hơn tại viện đó Nói chung quyền lãnh đạo ở cả hai viện đều nằm trong tay các thành viên thuộc đảng có ưu thế
Hệ thống hành pháp của Mỹ được phân chia thành hai cấp Chính phủ: các Bang và trung ương Do đó, trên lãnh thổ mỗi bang tại Mỹ đều có hai chính phủ hoạt động: Chính phủ của bang với các tổ chức chính quyền và toà án nhằm thực hiện luật pháp của bang và chính quyền trung ương với các tổ chức chính quyền và toà án thi hành luật pháp của liên bang Nhà nước liên bang có quyền đặt ra tiêu chuẩn đo lường, cấp chứng nhận bản quyền, bằng phát minh, điều chỉnh thương mại giữa các bang với các nước đồng thời cùng với chính quyền các Bang đưa ra các quy định về thuế, thành lập ngân hàng Với hệ thống chính trị như vậy, hàng hoá của Việt Nam muốn xâm nhập được vào thị trường Mỹ thì nó phải qua hai vòng kiểm soát ngặt nghèo, bao gồm luật pháp của từng Bang và luật pháp của trung ương, hơn nữa luật pháp của mỗi Bang lại không giống nhau, mỗi Bang có một quy định riêng, do đó để cạnh
Trang 33tranh được trên thị trường Hoa Kỳ đòi hỏi các doanh nghiệp cũng như Chính phủ Việt Nam phải hiểu biết về luật pháp của cả nước Mỹ và của từng Bang để từ đó có các biện pháp, chính sách thích hợp nhằm chiếm lĩnh thêm thị phần cũng như để duy trì phần thị trường mà doanh nghiệp đã chiếm lĩnh được
Để hiến pháp có hiệu lực, quốc hội đã tạo ra một hệ thống toà án hoàn chỉnh Một hệ thống nguyên tắc đã được thiết lập nhằm để hệ thống toà án liên bang và toà án bang thực hiện tốt quyền phán quyết trên cùng một lãnh thổ Theo đó những vấn đề thuộc hiến pháp, luật pháp của liên bang sẽ được toà án tối cao Mỹ xem xét cuối cùng, việc vi phạm luật lệ của bang sẽ do toà án của bang xét xử Quyết định của toà án tối cao có tầm quan trọng hàng đầu đối với hệ thống luật của Mỹ
Một đặc điểm lớn về chính trị của Mỹ trong chính sách đối ngoại nói chung và chính sách kinh tế đối ngoại nói riêng là Mỹ hay sử dụng chính sách cấm vận và trừng phạt kinh tế
để đạt được các mục đích của mình Theo một thống kê thì từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến năm 1998 Mỹ đã áp đặt 115 lệnh trừng phạt, trong đó hơn một nửa được ban hành trong 4 năm cuối và 2/3 dân số thế giới đang phải chịu một hình thức trừng phạt nào đó do
Mỹ áp đặt Các lệnh trừng phạt, cấm vận này đã vi phạm những nguyên tắc cơ bản về tự do hoá thương mại của tổ chức thương mại thế giới (WTO) Qua đó, ta thấy rằng kinh doanh trên thị trường Mỹ là phải rất thận trọng, chỉ một sơ suất rất nhỏ sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường
3 Đặc điểm về pháp luật
Mỹ có một hệ thống luật pháp chặt chẽ, chi tiết và phức tạp hàng đầu thế giới Luật pháp được xem là một vũ khí thương mại lợi hại của Mỹ Người ta nói rằng có hiểu biết về luật pháp Mỹ xem như bạn đã đặt được một chân vào thị trường Mỹ Tuy nhiên, Mỹ là một nước có chế độ thương mại và đầu tư vào loại tự do nhất thế giới Nhìn chung hệ thống luật pháp của Mỹ liên quan đến thương mại và đầu tư khá phức tạp nhưng lại minh bạch, Chính phủ Mỹ luôn cố gắng công bố công khai hệ thống luật pháp cho các nhà kinh doanh quốc tế
Luật quản lý hoạt động thương mại của Mỹ rất toàn diện và chi tiết, bao gồm nhiều đạo luật và những quy định quan trọng liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực xuất nhập khẩu, ngăn
Trang 34chặn những hoạt động gian lận, quản lý các hoạt động kinh tế khác nhằm phục vụ lợi ích của
Mỹ Luật pháp của Mỹ tuy phức tạp nhưng lại nghiêm ngặt và minh bạch, điều này làm cho hoạt động Thương mại với Mỹ được rõ ràng và cạnh tranh trên thị trường Mỹ là cạnh tranh tương đối lành mạnh Đứng trên góc độ xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp vào thị trường Mỹ, hệ thống luật pháp về kinh doanh của Mỹ có một số điểm đáng chú ý sau:
Khung luật pháp cơ bản cho việc xuất khẩu sang Mỹ gồm luật thuế suất năm 1930, luật buôn bán năm 1974, hiệp định buôn bán 1979, luật tổng hợp về buôn bán và cạnh tranh năm
1988 Các luật này đặt ra nhằm điều tiết hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ; bảo vệ người tiêu dùng
và nhà sản xuất khỏi hàng giả, hàng kém chất lượng; định hướng cho các hoạt động buôn bán; quy định về sự bảo trợ của Chính phủ với các chướng ngại kỹ thuật, các hình thức bán phá giá, trợ giá và các biện pháp trừng phạt thương mại
Về luật thuế, đáng chú ý là danh bạ thuế quan thống nhất HTS, quy chế quan hệ thương mại bình thường NTR (hay còn gọi là quy chế tối huệ quốc MFN) và chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập GSP Trong đó, MFN là chính sách thương mại truyền thống của Mỹ cho phép hàng hoá của bạn hàng nhập vào Mỹ được hưởng tỷ lệ thuế thấp hơn so với mức thuế bình thường Còn GSP là chế độ ưu đãi mà Mỹ dành cho các nước đang phát triển, nếu được hưởng thì sẽ có quyền lợi hơn cả quyền được hưởng MFN Nội dung chính GSP là miễn thuế hoàn toàn hoặc ưu đãi mức thuế thấp cho những mặt hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển được Mỹ chấp thuận cho hưởng GSP Đây là hệ thống ưu đãi về thuế đơn phương, không ràng buộc điều kiện có đi có lại GSP rất quan trọng với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam
Về hải quan, hàng hoá nhập khẩu vào mỹ được áp dụng thuế suất theo Bảng thuế quan
Mỹ gồm 2 cột: cột 1 quy định thuế suất tối huệ quốc, cột 2 quy định thuế suất đầy đủ hoặc thuế suất pháp định áp dụng cho các nước không được hưởng quy chế tối huệ quốc Sự khác biệt giữa 2 cột thuế suất này thông thường là từ 2-5 lần Cách xác định giá trị hàng hoá để thu thuế của hải quan Mỹ hiện nay chủ yếu căn cứ theo Hiệp định về cách tính trị giá tính thuế của hải quan trong hiệp định Tokyo của GATT (nay là WTO) và Luật về các hiệp định thương mại năm 1979 Phí thủ tục hải quan được quy định trong Luật hải quan và thương mại
Trang 35năm 1990 Ngoài ra, còn cần phải chú ý các quy định khác của hải quan như mác, mã phải ghi
rõ nước xuất xứ và chế độ hoàn thuế
Một vấn đề nữa mà các doanh nghiệp cần lưu ý về môi trường luật pháp của Mỹ là luật điều tiết xuất khẩu và luật trách nhiệm sản phẩm Trong luật điều tiết xuất khẩu quy định rõ các mức phí và hạn ngạch nhập khẩu một số mặt hàng nhập khẩu vào Mỹ như hàng nông sản, đường, hàng dệt, sắt thép; các trường hợp hạn chế nhập khẩu, các quy định về tiêu chuẩn chất lượng Còn luật trách nhiệm sản phẩm bắt buộc các nhà sản xuất và doanh nghiệp không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm và do đó gây thiệt hại phải bồi thường người tiêu dùng cho các thiệt hại đã gây ra Như vậy dể cạnh tranh trên thị trường Mỹ, các doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng sản phẩm, hơn nữa đối với mặt hàng nông sản thì vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm phải được đảm bảo hàng đầu
4 Đặc điểm về văn hoá - xã hội
Nước Mỹ có thành phần xã hội đa dạng, gồm nhiều cộng đồng riêng biệt Hầu hết người Mỹ có nguồn gốc từ châu Âu, các dân tộc thiểu số gồm người Mỹ bản xứ, Mỹ gốc Phi,
Mỹ la tinh, châu á và người từ các đảo Thái Bình Dương Các dân tộc này đã đem vào nước
Mỹ những phong tục tập quán, ngôn ngữ, đức tin riêng của họ tạo nên một môi trường văn hoá phong phú và đa dạng Điều này làm cho nhu cầu tiêu dùng trên thị trường Mỹ trở nên đa dạng và phong phú
Chủ nghĩa thực dụng là triết học Mỹ tiêu Bảng cho văn hoá Mỹ, lối sống Mỹ Một số học giả nước ngoài đã nhận xét: cái gắn bó người Mỹ với nhau là quyền lợi chứ không phải là
tư tưởng Điều này thể hiện trong cách tính toán sòng phẳng đến chi li cho mọi việc bất kể đối với ai, từ người thân trong gia đình tới bạn hữu Người Mỹ coi trọng sự chính xác, cách làm việc cẩn thận, tỉ mỉ, khoa học và rất quý trọng thời gian
Khi kinh doanh trên thị trường Mỹ, các doanh nghiệp ít khi (nếu như không muốn nói
là không) gặp phải trởi ngại do yếu tố tín ngưỡng và tôn giáo, bởi vì tuy đa số dân chúng theo đạo nhưng tín ngưỡng ở Mỹ không được coi trọng bằng chủ nghĩa cá nhân (Người Mỹ rất coi trọng tự do cá nhân Họ chỉ quan tâm đến những gì có liên quan đến đời sống hàng ngày của
Trang 36họ), cho dù theo đạo nhưng đôi khi họ vẫn tán thành những đức tín trái ngược hoàn toàn với tôn giáo mà họ đang theo
Xã hội Mỹ là một xã hội công nghiệp, phát triển cao với 75% dân số là thành thị Điều này cũng ảnh hưởng đến nhu cầu người dân Mỹ Bên cạnh đó sự phân hoá giàu nghèo trong
xã hội Mỹ tạo nên một đặc điểm đa dạng về nhu cầu của thị trường này Nền kinh tế thị trường phát triển cao đã làm cho khoảng cách giàu nghèo ở Mỹ ngày càng gia tăng Trong khi
có những nhà tỷ phú hàng đầu thế giới thì cũng có không ít người vô gia cư sống trong những căn nhà ổ chuột Điều này vô hình chung tạo nên nhu cầu về sản phẩm ở Mỹ rất đa dạng
Tóm lại, để cạnh tranh trên thị trường Mỹ, trước tiên đòi hỏi các doanh nghiệp phải
hiểu biết sâu, rộng về thị trường này, bao gồm đặc điểm về kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hoá và con người để từ đó có cách tiếp cận cho phù hợp, cũng như để đưa ra các chính sách, biện pháp thích hợp nhằm cạnh tranh được trên thị trường Mỹ Đặc biệt là phải nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng mới có thể thành công trong cạnh tranh bởi Mỹ là thị trường có nhu cầu rất phong phú và đa dạng
ii: tình hình xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam nói chung và xuất khẩu sang mỹ nói
riêng:
1 Khái quát chung về hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
1.1 Đặc điểm của mặt hàng nông sản
Hàng nông sản chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố khí hậu, thời tiết Nếu năm nào, khu vực nào có “mưa thuận, gió hoà”, thì cây cối phát triển, cho năng suất cao, hàng nông sản sẽ tràn ngập trên thị trường và giá rẻ Ngược lại, nếu năm nào, khu vực nào có khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, hạn hán, lũ lụt xảy ra thường xuyên thì hàng nông sản sẽ khan hiếm và mặc dù có chất lượng không cao nhưng giá cao Căn cứ vào đặc tính này các doanh nghiệp có thể tìm ra
cơ hội kinh doanh cho mình Chẳng hạn: khu vực thị trường nào có các doanh nghiệp xuất khẩu cùng một mặt hàng với doanh nghiệp, là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp có thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, hạn hán, lũ lụt xảy ra thường xuyên thì khu vực ấy sẽ bị mất mùa
Trang 37hàng nông sản Doanh nghiệp phải tận dụng ngay cơ hội này để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Cũng như khu vực của doanh nghiệp có thời tiết, khí hậu thuận lợi, khu vực ấy sẽ “được mùa”, hàng hoá nhiều, giá rẻ Doanh nghiệp cũng phải tìm cơ hội để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nhằm không những tiêu thụ được hàng hoá mà còn bán được với giá cao hơn
Quá trình sản xuất, thu hoạch, buôn bán hàng nông sản mang tính thời vụ Vào những lúc chính vụ, hàng nông sản dồi dào, phong phú về chủng loại, chất lượng khá đồng đều và giá bán rẻ Ngược lại, vào những lúc trái vụ hàng nông sản khan hiếm, chất lượng không đồng đều và bán thường cao Chính vì vậy, đối với mỗi doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hàng nông sản, việc nghiên cứu thị trường (cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài) nhằm đưa ra những dự báo phục vụ cho quá trình thu mua dự trữ để đáp ứng những đơn đặt hàng vào lúc trái vụ là thực sự cần thiết Nếu doanh nghiệp đáp ứng được đơn đặt hàng vào lúc trái vụ thì lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được so với lúc chính vụ sẽ lớn hơn rất nhiều Ngoài ra do đặc tính thu hoạch theo thời vụ nên hoạt động thu hoạch hàng nông sản thường chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn Với đặc tính này buộc doanh nghiệp phải có mạng lưới thu mua rộng khắp và phải chuẩn bị đủ vốn để thực hiện công tác thu mua có hiệu quả
Chất lượng hàng nông sản sẽ tác động trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng của người tiêu dùng Chính vì vậy nó luôn là yếu tố đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm Tại các quốc gia phát triển, nhập khẩu hàng nông sản ngày càng có nhiều yêu cầu được đặt ra đối với hàng nhập khẩu về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm, kiểm dịch, xuất xứ Vì vậy để xâm nhập vào các thị trường khó tính này buộc các doanh nghiệp phải đáp ứng được những yêu cầu mà họ đặt ra
Đối với hàng nông sản, khâu bảo quản và chế biến rất quan trọng vì: Giá cả hàng nông sản xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào chất lượng Chất lượng hàng nông sản không những phụ thuộc nhiều vào khâu sản xuất mà còn phụ thuộc rất nhiều vào khâu bảo quản và chế biến Chính vì vậy, để nâng cao giá hàng nông sản xuất khẩu thì khâu bảo quản và chế biến phải được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm Ngoài ra, với tính chất dễ ẩm, mốc, biến chất của hàng nông sản buộc các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải quan tâm tới điều khoản thời