Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí MinhKhoa Xã Hội Học – Công Tác Xã Hội – Đông Nam Á Ngành Xã Hội Học Môn: Những Nguyên Lý Chủ Nghĩa Marx – Lê Nin Phần 2 Tiểu luận: Quan điểm của chủ ng
Trang 1Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Khoa Xã Hội Học – Công Tác Xã Hội – Đông Nam Á
Ngành Xã Hội Học
Môn: Những Nguyên Lý Chủ Nghĩa Marx – Lê Nin Phần 2
Tiểu luận: Quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lê Nin
về các chức năng của tôn giáo
Giáo diên giảng dạy:
Lớp: ĐH12XH01
Thành phố hồ Chí minh, ngày 28 tháng 08 năm 2013
Trang 2M c L c ục Lục ục Lục
I CÁC KHÁI NIỆM: 2
I.1 Triết học: 3
1.1 Ở phương Đông: 3
1.2 Ở phương Tây: 3
1.3 Theo quan điểm của Triết học Marx – Lê Nin: 3
I.2 Tôn giáo: 3
2.1 Quan điểm về tôn giáo trong các hệ tư tưởng ngoài chủ nghĩa Marx – Lê Nin: 3
2.2 Tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lê Nin: 4
II CHỨC NĂNG CỦA TÔN GIÁO THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MARX – LÊ NIN: 4
II.1 Chức năng “đền bù hư ảo”: 5
1.1 Chức năng đền bù hư ảo: 5
1.2 Chức năng đền bù hư ảo thể hiện trong hai Tôn Giáo điển hình - Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo về sự chết 5
1.3 Mặt trái của chức năng đền bù hư ảo trong tôn giáo: 6
II.2 Chức năng thế giới quan: 6
2.1 Chức năng thế giới quan: 6
2.2 Quan niệm về thế giới ở hai tôn giáo điển hình - Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo 7
2.3 Mặt trái của chức năng thế giới quan tôn giáo: 8
II.3 Chức năng điều chỉnh hành vi: 8
3.1 Chức năng điều chỉnh hành vi 8
3.2 Các ví dụ về việc điều chỉnh hành vi của hai tôn giáo điển hình Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo 9
3.3 Mặt trái của chức năng điều chỉnh hành vi trong tôn giáo: 11
II.4 Chức năng liên kết: 11
4.1 Chức năng liên kết 11
4.2 Tính liên kết được thể hiện trong hai tôn giáo đại diện - Phật Giáo và Công Giáo: 11
4.3 Mặt trái của vai trò liên kết trong tôn giáo: 12
II.5 Các chức năng khác của Tôn Giáo: 13
III TÔN GIÁO TỒN TẠI NHƯ MỘT PHẦN KHÔNG THỂ THIẾU CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI 14
IV CÁC TRANG WEB VÀ TÀI LIỆU ĐÃ THAM KHẢO HOẶC TRÍCH DẪN: 15
IV.1 Trang web 15
IV.2 Tài liệu: 15
Trang 3I CÁC KHÁI NIỆM:
I.1 Triết học:
1.1 Ở phương Đông:
Theo Trung Quốc thì triết học học chỉ sự hiểu biết, nhận thức sâu sắc của con người về thế giới và về đạo lý làm người Theo người Ấn Độ thì Triết học
có nghĩa là chiêm ngưỡng nhưng với hàm ý là sự hiểu biết dựa trên lý trí, là con đường suy nhẫm để dẫn dắt con người đến lẽ phải
1.2 Ở phương Tây:
Triết học có nghĩa là yêu mến sự thông thái, không chỉ nói tới sự hiểu biết sâu sắc về nhiều lĩnh vực tri thức ở tầm cao nhất của Triết học mà còn thể hiện khát vọng vươn tới tầm cao nhận thức Hay nói cách khác thì triết học là hình thái cao nhất của tri thức
1.3 Theo quan điểm của Triết học Marx – Lê Nin:
Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới,
về vị trí và vai trò của con người trong thế giới
I.2 Tôn giáo:
2.1 Quan điểm về tôn giáo trong các hệ tư tưởng ngoài chủ nghĩa Marx – Lê Nin:
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống
xã hội Theo dòng lịch sử, các tôn giáo lần lượt ra đời với các loại hình tôn giáo khác nhau Các đề tài nghiên cứu về tôn giáo của các chủ nghĩa khác nhau cho ta những cái nhìn thật khác biệt và đa dạng về tôn giáo Theo Chủ Nghĩa Duy Tâm Khách Quan thì tôn giáo là một sức mạnh kỳ bí thuộc “tinh thần” tồn tại vĩnh hằng và đem lại sinh khí cho con người Chủ Nghĩa Duy Tâm Chủ Quan thì lại cho rằng tôn giáo là thuộc tính vốn có trong ý thức của con người, tồn tại không
lệ thuộc vào hiện thực khách quan Một số nhà thần học khác lại cho rằng tôn giáo chính là niềm tin vào cái thiêng liêng, huyền bí, ở đó ẩn chứa sức mạnh siêu
Trang 4nhiên có thể giúp con người thoát khỏi khổ đau và có được hạnh phúc Niềm tin vào cái thiêng liêng, cái siêu nhiên ấy chính là niềm tin vào Thượng đế Như vậy niềm tin vào sự “tối thượng” hay Thượng đế chính là tôn giáo Ngoài các khái niệm trên còn có những khái niệm của các nhà triết học duy vật trước Marx, của các nhà xã hội học tư sản, của E.Durkheim, của M.Weber, của quan điểm phân tâm học, của nhân loại học , văn hóa học
2.2 Tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lê Nin:
Tôn giáo là một hiện tượng thuộc đời sống tinh thần của xã hội ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại và chịu sự quy định của đời sống vật chất Tôn giáo tồn tại phổ biến trong hầu hết các cộng đồng người trong lịch sử, Trong các tác phẩm của mình, C.Marx và Ph.Ăng ghen đều xem sản xuất vật chất là cơ sở của
sự hình thành và phát triển của các hiện tượng mang tính lịch sử xã hội, trong đó
có tôn giáo từ đó ta có thể suy ra ở đâu có sản xuất vật chất thì ở đó tôn giáo Bất
cứ tôn giáo nào, với hình thái phát triển đầy đủ của nó cũng bao gồm: ý thức tôn giáo, hệ thống tổ chức tôn giáo và những hoạt động mang tính chất nghi thức tín ngưỡng
Tôn giáo là một sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện tự nhiên và lịch sử cụ thể, xác định Bản chất của tôn giáo là sự phản ánh sự bế tắc, bất lực của con người trước tự nhiên, xã hội Tôn giáo ra đời khi con người không thể giải thích được các hiện tượng tự nhiên vd: việc tôn thờ thần sấm, thần rừng, thần mưa
Tôn giáo ngày càng biến đổi và có sự phát triển không ngừng cùng với sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, chính trị của lịch sử Trước đây khi chưa giải thích được các hiện tượng tự nhiên thì người ta thường dùng tôn giáo để giải thích, sau này khi khoa học kỹ thuật phát triển đã có khả năng giải thích các hiện tượng tự nhiên thì Tôn Giáo lại góp phần bù đắp những hụt hẫng trong cuộc sống, xoa dịu những nỗi đau tâm hồn trong con người thời đại
Trang 5II CHỨC NĂNG CỦA TÔN GIÁO THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MARX – LÊ NIN:
II.1 Chức năng “đền bù hư ảo”:
1.1 Chức năng đền bù hư ảo:
Những nỗi đau quá sức chịu đựng của con người nhỏ bé, yếu đuối vẫn xẩy ra trong sống thường nhật Một người vợ mất chồng, một người mẹ mất con, một người bị thương nặng khi mắc tai nạn giao thông, Họ sẽ làm gì nếu không hướng về thế giới tâm linh để được tiếp thêm nguồn sức mạnh tinh thần,
để được an ủi, vỗ về Niềm tin về một tôn giáo cho chúng ta một cái nhìn khách quan hơn về những đau khổ, mất mát chúng ta gặp phải trong cuộc sống Luận điểm nổi tiếng của C Marx: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” đã làm nổi bật chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo
1.2 Chức năng đền bù hư ảo thể hiện trong hai Tôn Giáo điển hình - Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo về sự chết.
Với Kitô giáo thì sự chết chỉ là sự kết thúc tạm thời trên cuộc sống trần gian để dẫn sang một cuộc sống mới “Ngay khi còn sống, con người đã mang trong mình sự chết, vì thế mà con người sẽ phải chết Chết là một kết thúc của ta trong cuộc sống này, và mọi cái ta sở hữu cũng đều chấm dứt Thật là một tư tưởng cay đắng cho những ai chỉ biết vui hưởng của cải trần gian, nhưng lại là một viễn tượng đáng khát vọng cho những người sống cơ cực (x Hc 41, 1) Sự chết nhắc nhở ta về bản chất thật ngắn ngủi, thật mong manh phù du của đời sống con người trên dương thế Đứng trước định mệnh khắt khe đó, người ta dễ
có một nhận định sầu thảm đôi khi sinh ra một thất vọng chán chường (x Sm 12, 23) Tuy nhiên sự khôn ngoan chân thực thì vượt xa nhận định ấy khi nhận biết thân phận mình nằm trong vòng tay Thiên Chúa Điều đó giúp ta khám phá ý nghĩa sự sống đích thực qua sự chết.” (trích:
http://www.simonhoadalat.com/giaoducgd/tuduc/84SuyGamVeSuChet.htm)
Trang 6Với Phật giáo thì sự chết chỉ là sự gián đoạn tạm thời của một hình thái.
Nó không phải là sự tiêu diệt toàn bộ một cá nhân mà nó là biểu hiện của một
sự chuyển đổi sang một sự hiện hữu khác "Thực thế, đời sống của con người đi
là ngắn ngủi, giới hạn, phù du, đầy khổ đau và ưu phiền, nó như một hạt sương tan biến khi mặt trời mọc, như bọt nước, như đường rãnh xẻ trong nước, như dòng thác chảy cuốn tất cả không bao giờ dừng lại, như một con vật nuôi để làm thịt lúc nào cũng đối đầu với cái chết" (An, III, 70).(trích:
http://www.daophatngaynay.com/vn/phat-phap/giao-phap/vo-thuong-kho-vo-nga/5662-Su-Song-va-Su-Chet-trong-Phat-Giao.html)
Từ cái nhìn về quan niệm của hai tôn giáo trên, ta thấy rằng nếu chúng ta
đi theo quan niệm nào thì cái chết cũng nhẹ nhàng, thanh thản và cái chết như một sự giải thoát con người khỏi bể khổ, từ đógiúp vơi nhẹ nỗi đau của những người còn sống
Chức năng đền bù hư ảo không chỉ là chức năng chủ yếu, đặc thù mà còn
là chức năng phổ biến của tôn giáo Ở đâu có tôn giáo ở đó có chức năng đền bù
hư ảo Vì bất cứ nơi đâu, dù bạn là ai thuộc tầng lớp nào trong xã hội thì cũng đều phải đối mặt với những khó khăn, sinh, lão, bệnh, tử, thất bại, vất vả trong của cuộc sống
1.3 Mặt trái của chức năng đền bù hư ảo trong tôn giáo:
Như đã trình bày ở trên, chức năng đền bù hư ảo tạo cho con người một chỗ dựa để vượt qua những nỗi đau để vươn lên trong cuộc sống nhưng đồng thời nó cũng sẽ ru ngủ tất cả những ai quá cậy dựa vào tôn giáo làm cho con người thiếu sự cố gắng vượt khó nơi bản thân, để rồi từ đó cậy dựa vào những sức mạnh siêu nhiên làm mất đi tính năng động, sáng tạo của con người
II.2 Chức năng thế giới quan:
2.1 Chức năng thế giới quan:
Thế giới quan hay quan điểm của con người về thế giới Con người từ xa xưa đã có khao khát khám phá về thế giới, họ muốn hiểu rõ nguồn gốc của thế
Trang 7giới, thế giới này do ai sinh ra, nó sẽ kết thúc thế nào, tại sao con người lại hiện diện trong cuộc sống và đâu là vai trò tối hậu của con người trên thế giới Những khao khát thật chính đáng nhưng do những hạn chế của khoa học kỹ thuật chưa giúp con người có câu trả lời thỏa đáng vì lẽ đó con người đã tự đặt ra câu trả lời với quan điểm riêng của mỗi tôn giáo Từ đó đưa ra những cái nhìn khác nhau về thế giới và con người
2.2 Quan niệm về thế giới ở hai tôn giáo điển hình - Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo.
Thiên Chúa Giáo
Với người Công giáo thì Thiên Chúa chính là người đã tạo nên tất cả, Chúa là người điều hành mọi việc trong toàn thể vũ trụ bao la, Thiên chúa đã tạo
ra thế giới trong 6 ngày:
“ Ngày thứ 1: Thiên chúa tạo ra sự sáng và sự tối (sáng là ngày, tối là đêm) Ngày thứ 2: Thiên chúa tạo ra không gian- mà ta vẫn gọi là bầu trời
Ngày thứ 3: Thiên chúa tạo ra đất, nước, cây cỏ
Ngày thứ 4: Thiên chúa tạo ra muôn vì tinh tú để làm cơ sở phân chia thời tiết, tháng, năm Trong đó có 2 vì tinh tú lớn là Mặt trời cai trị ban ngày và Mặt trăng cai trị ban đêm
Ngày thứ 5: Thiên chúa tạo ra muôn loài Đó là muông thú ở trong rừng, chim trên trời và cá dưới nước
Ngày thứ 6: Thiên chúa theo hình hài, khuôn mẫu của mình đã tạo ra thủy tổ của loài người là Ađam và Êva
(trích: http://lichsudang.forumvi.com/t13-topic)”
Phật Giáo
Phật giáo lại cho ta một lời giải thích khác về nguồn gốc của thế giới và con người: “nguồn gốc loài người trên trái đất này được xuất phát từ một thế giới khác, thế giới đó có tên là Quang Âm Thiên và đồng thời có những ưu điểm
Trang 8vượt trội hơn so với thế giới của chúng ta các chúng sanh ở Quang Âm thiên sau khi thác sinh sẽ được chuyển sinh vào thế giới mà chúng ta đang sống Buổi đầu hình thành thế giới, chưa có sự phân biệt giữa ngày và đêm, chưa có sự phân biệt giữa nam và nữ Đất đai lúc đó có màu sắc và hương vị rất ngon ngọt Khi ấy,
“những chúng sanh này, do ý sanh, nuôi sống bằng tự hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không” (Kinh Khởi Thế Nhân Bổn) Sau đó, có một số chúng sanh nổi lên ý tưởng thử nếm vị ngọt của đất Sau khi nếm, trong họ khởi dậy lòng tham ái thì ngay lúc đó, ánh sáng trên thân thể của họ biến mất Lòng tham
ái đã khiến cho các chúng sanh ấy trở nên thô xấu, họ không còn được tự tại, thanh thản như lúc đầu Đồng thời, ý thức về giới tính xuất hiện, các chấp thủ phát sanh, điều kiện sống thay đổi…họ phải lao động cực nhọc để tồn tại và phải tranh đấu với nhiều điều kiện sống khắc nghiệt khác để khẳng định sự hiện
http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-75_4-17914/quan-diem-cua-phat-giao-ve-nguon-goc-loai-nguoi.html)
2.3 Mặt trái của chức năng thế giới quan tôn giáo:
Trong một luận điểm Marx khẳng định “con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, một thế giới quan đảo ngược, vì bản thân chúng là thế giới đảo ngược” vì vậy theo cái nhìn của Marx – Lê Nin thì cái nhìn của tôn giáo là cái nhìn dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy tâm là sản phẩm tinh thần do con người tạo ra, xa lạ với thế giới quan khoa học và phi thực tại điều này dẫn đến việc người dân xây dựng một thế giới ảo mộng, thiếu thực tế
II.3 Chức năng điều chỉnh hành vi:
3.1 Chức năng điều chỉnh hành vi
Các tôn giáo khác nhau đều có những hệ thống chuẩn mực giá trị nhằm điều chỉnh hành vi con người tới điều thiện, và sự hoàn thiện nhân cách Các hành vi này tùy mức độ mà bị bắt buộc hay tự giác Mức độc thực hiện tùy thuộc vào nhận thức của các tín đồ vào tôn giáo đó
Trang 9Để có được sự bênh vực, nâng đỡ của các thần linh thì con người phải tuân theo những chuẩn mực mà tôn giáo đó đặt ra, từ đó con người có xu hướng điều chỉnh hành vi trong các mối quan hệ xã hội tạo nên mối liên kết tốt đẹp, cách ứng xử nhân văn giữa các cá nhân và cộng đồng Dựa trên tính chất thước
đo về phẩm giá của những chuẩn mực tôn giáo, con người sẽ biết đánh giá những hành vi bảo vệ con người khỏi những sai lệch trong tư tưởng và hành vi, phục hồi lại những giá trị đã mất
3.2 Các ví dụ về việc điều chỉnh hành vi của hai tôn giáo điển hình Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo.
Một số chuẩn mực của đạo Công Giáo:
“ Ðức Giêsu nói với các môn đệ rằng: Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn Ðây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em Không ai
có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em Ðiều Thầy truyền dạy
“Ðức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em” (3,16)
Trang 102.“Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng
ta trước” (4,19)
3 “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (3,18)
http://conglyvahoabinh.org/thien-chua-la-tinh-yeu-yeu-thuong-la-gioi-luat-cua-ngai/2013/05/)
Một số giáo lý của Đạo Phật: ( Trích trong 66 điều Phật Dạy)
Sở dĩ người ta đau khổ chính vì mãi đeo đuổi những thứ sai lầm
Nếu anh không muốn rước phiền não vào mình, thì người khác cũng không cách nào gây phiền não cho bạn Vì chính tâm bạn không buông xuống nổi
Bạn phải luôn mở lòng khoan dung lượng thứ cho chúng sanh, cho dù họ xấu bao nhiêu, thậm chí họ đã làm tổn thương bạn, bạn phải buông bỏ, mới có được niềm vui đích thực
Người cuồng vọng còn cứu được, người tự ti thì vô phương, chỉ khi nhận thức được mình, hàng phục chính mình, sửa đổi mình, mới có thể thay đổi người khác
Bạn đừng có thái độ bất mãn người ta hoài, bạn phải quay về kiểm điểm chính mình mới đúng
Bất mãn người khác là chuốc khổ cho chính bạn
Một người nếu tự đáy lòng không thể tha thứ cho kẻ khác, thì lòng họ sẽ không bao giờ được thanh thản
Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác
Hủy diệt người chỉ cần một câu, xây dựng người lại mất ngàn lời, xin bạn “Đa khẩu hạ lưu tình”