Hoàn thiện hệ thống biện pháp bảo hộ phi thuế của Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO
Trang 1Phần Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Nhu cầu bảo hộ từ xa tới nay luôn tồn tại trong mỗi quốc gia Có thể nói nhu cầu này
là thiết yếu, bởi vì mỗi quốc gia dù mạnh hay yếu đều muốn xây dựng các ngành sảnxuất trong nớc vững mạnh và phát triển đồng đều Bớc sang thế kỷ 21, khi mà tiến trình toàn cầu hóa và khu vực hóa cũng đã đi đợc một chặng đờng khá dài với sự ra
đời của các tổ chức kinh tế nh WTO, EU, NAFTA, AFTA với những quy tắc thốngnhất nhằm phát triển thơng mại quốc tế, vấn đề bảo hộ lại mang nhiều màu sắc của thời kỳ mới
Trong xu thế đó, Việt Nam đã nỗ lực hết mình để trở thành thành viên của ASEAN (1995), ASEM (1996), APEC (1998) và hiện nay, chúng ta lại đang cố gắng đứng vào hàng ngũ 147 nớc thành viên WTO để có thể hội nhập kinh tế một cách toàn diện Tuy nhiên, với một nền kinh tế mà sức cạnh tranh còn kém, nếu hội nhập, Việt Nam hầu nh không thể bảo hộ đợc nhiều ngành sản xuất trong nớc, do phải áp dụng một biểu thuế quan thống nhất và các quy tắc chung Tất cả các biện pháp bảo hộ phithuế mà Việt Nam đang áp dụng chủ yếu thiên về biện pháp hạn chế số lợng mà hầu
nh sẽ phải xóa bỏ theo yêu cầu của WTO Trong khi đó, những mặt hàng mà chúng
ta có lợi thế cạnh tranh nh hàng nông, thủy hải sản khi xuất khẩu ra nớc ngoài vẫn phải chịu sự o ép của các quốc gia khác, với những điều khoản bảo hộ đợc viện dẫn
là phù hợp với các quy định của WTO (nh trờng hợp bị áp thuế chống bán phá giá cá
ba - sa xuất khẩu sang thị trờng Hoa Kỳ, hạn chế nhập khẩu tôm vào thị trờng EU do
vi phạm quy tắc an toàn thực phẩm )
Trớc thực trạng đó, các biện pháp bảo hộ phi thuế mới, thích hợp trong quá trình đàmphán gia nhập WTO, để làm sao vừa đạt đợc mục tiêu hội nhập vừa có thể đảm bảo lợi ích quốc gia phải đợc nghiên cứu Việc chuẩn bị và xây dựng một khung pháp lý
về các chính sách bảo hộ ngay từ bây giờ cũng không phải là sớm để chuẩn bị cho
một tơng lai xa sắp tới Đó chính là lý do em chọn vấn đề: “Hoàn thiện hệ thống
biện pháp bảo hộ phi thuế của Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO” làm đề
tài khoá luận tốt nghiệp
2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Đề tài khoá luận tốt nghiệp “Hoàn thiện hệ thống biện pháp bảo hộ phi thuế của
Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO” nhằm phân tích và chỉ rõ sự cần thiết
phải áp dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế quan đối với các nớc đang phát triển nh Việt Nam trong tiến trình hội nhập, phân tích và đánh giá quá trình áp dụng hệ thốnghàng rào phi thuế quan của Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra những điểm cha phùhợp trong việc áp dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế của Việt Nam để từ đó đề xuất một số giải pháp khắc phục và hoàn thiện hệ thống phí thuế quan của Việt Nam trong tiến trình Việt Nam gia nhập Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO)
Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, giúp Việt Nam nhận thức rõ việc
áp dụng Hệ thống các biện pháp phi thuế quan nh thế nào, bằng cách nào để phù hợp
Trang 2với quy định của WTO, khi Việt Nam đã tiến gần tới đích trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thơng mại có tính toàn cầu này.
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của đề tài này là các quy định về bảo hộ phi thuế quan củaWTO, thực tiễn áp dụng các biện pháp bảo hộ này của Việt Nam, trên cơ sở tham khảo quá trình áp dụng hàng rào phi thuế quan của Trung Quốc, Mỹ, ấn Độ
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận chỉ tập trung phân tích các biện pháp phi thuế quan Biện pháp thuế quan có nêu ra chỉ để so sánh
4 Phơng pháp nghiên cứu
Khóa luận này kết hợp chặt chẽ các phơng pháp nghiên cứu:
- Phơng pháp kết hợp lý luận và thực tiễn để phân tích nền tảng lý luận của các biện pháp bảo hộ phi thuế quan, cũng nh những quy định thực tiễn của WTO về vấn đề này, làm cơ sở cho phân tích quá trình áp dụng hệ thống hàng rào phi thuế quan của Việt Nam trong thời gian qua
- Phơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để phân tích quá trình áp dụng hệ thống hàng rào phi thuế quan của Việt Nam trong tiến trình vận động và phát triển của nền kinh tế, cũng nh trong quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách thơng mại củaViệt Nam
- Phơng pháp thống kê, phân tích tổng hợp và so sánh để nêu bật những u nhợc điểm của việc sử dụng hàng rào phi thuế quan của Việt Nam cũng nh những kinh nghiệm
áp dụng của một số nớc trong khu vực và thế giới để làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp hoàn thiện hệ thống các biện pháp bảo hộ phi thuế quan của Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO
5 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận bao gồm 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát về hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
Chơng 2: Thực trạng áp dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế quan của Việt Nam
trong tiến trình hội nhập
Chơng 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống các biện pháp bảo hộ phi thuế quan của
Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO
Trang 3Chơng I
Khái quát về hàng rào phi thuế quan
trong thơng mại quốc tế
1.1 Khái niệm và sự cần thiết của hàng rào phi thuế quan trong thơng mại quốc tế
Chính sách thơng mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, biện pháp và cáccông cụ mà các quốc gia sử dụng nhằm điều chỉnh các hoạt động ngoại thơng phùhợp với các lợi thế quốc gia nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho nớc mình Khi thamgia thơng mại quốc tế, mỗi nớc vừa phát huy đợc những thế mạnh của mình vừa tậndụng những lợi ích mà hoạt động ngoại thơng đem lại Nhng mặt khác cũng sẽ bộc
lộ những mặt yếu kém của nền kinh tế quốc gia đó Do vậy, các quốc gia phải sửdụng một hệ thống các công cụ để điều chỉnh hoạt động ngoại thơng Trong đó phải
kể đến việc sử dụng hàng rào phi thuế quan – một công cụ đợc coi là linh hoạt cótác động nhanh, mạnh trớc những tình thế khẩn cấp Sử dụng hàng rào phi thuế quansao cho hợp lý và hiệu quả sẽ bảo vệ thị trờng nội địa mỗi nớc tránh đợc tác độngtiêu cực của hàng hoá ngoại nhập
1.1.1 Khái niệm và phân loại hàng rào phi thuế quan
a Khái niệm
Hiện nay, trên thế giới cha có một khái niệm thống nhất nào về hàng rào phithuế quan (Non-Tariff Trade Barriers- NTBs) Mỗi một tổ chức, quốc gia lại có quanniệm khác nhau về hàng rào phi thuế quan
Tổ chức Thơng mại Thế giới - WTO quan niệm rằng: “Hàng rào phi thuế quan
là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thơng mại mà không dựatrên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng”[16, tr - 13] Theo đó, WTO đã đa ra
định nghĩa biện pháp phi thuế quan nh sau: “Biện pháp phi thuế quan là những biệnpháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc ảnh hởng đến sự luân chuyển hàng hoá giữacác nớc”[16, tr 13]
Trong khi đó, Phòng Thơng Mại Mỹ (USTR) lại quan niệm: Bảo hộ phi thuếquan là tất cả những quy định đợc ban hành dới dạng văn bản luật hoặc những quy
định, chính sách hoặc các biện pháp khác của nhà nớc, ngoài các biện pháp thuếquan với mục đích bảo vệ hàng sản xuất trong nớc khỏi sự cạnh tranh của hàng ngoạinhập và thúc đẩy phát triển sản xuất một số ngành kinh tế trọng điểm và kích thíchxuất khẩu hoặc vì các mục tiêu kinh tế xã hội khác.[ 15, 19, 21]
Năm 1995, theo nghiên cứu của Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dơng(PECC) đã nhận xét: “ Hàng rào phi thuế quan là mọi công cụ phi thuế quan canthiệp vào thơng mại, bằng cách này làm biến dạng sản xuất trong nớc” [ 16, tr 11]
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OEDC) năm 1997 cũng đa ra một địnhnghĩa khác: “ Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp biên giới nằm ngoài phạm
vi thuế quan có thể đợc các quốc gia sử dụng, thông thờng dựa trên cơ sở lựa chọn,nhằm hạn chế nhập khẩu” [ 16, tr 11]
Trang 4ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu, các nhà kinh tế thờng sử dụng kháiniệm về hàng rào phi thuế quan của Bộ Thơng Mại: “Ngoài thuế quan ra, tất cả cácbiện pháp khác, dù là theo quy định pháp lý hay tồn tại trên thực tế, ảnh hởng đếnmức độ và phơng hớng nhập khẩu đợc gọi là các hàng rào phi thuế quan” [4,tr 293]Tóm lại, khái niệm hàng rào phi thuế quan rất phong phú, tuỳ thuộc vào góc độnghiên cứu hay mục đích áp dụng mà ngời ta sử dụng khái niệm cho phù hợp.
Nhóm 3: Hàng rào có tính chất kỹ thuật đối với thơng mại
Nhóm 4: Hạn chế đặc thù, nh hạn chế cấp phép nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu,quy chế về giá trong nớc
Nhóm 5: Lệ phí nhập khẩu, nh tiền ký quỹ, thuế điều tiết nhập khẩu, hạn chếcho vay có tính chất phân biệt đối xử
Hoặc trong cuốn sách “Thơng mại quốc tế và an ninh lơng thực” của Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia năm 2001, hàng rào phi thuế quan đợc phân loại nh sau:
- Hạn ngạch (quota) tức hạn chế số lợng một mặt hàng nhất định có thể chophép nhập (có khi chỉ quy định đối với một nớc nào đó, chẳng hạn xe ô tô của Nhậtbán sang Mỹ)
- Quy định tiêu chuẩn hoặc dán nhãn trên mặt hàng mà nhà sản xuất nớc ngoàikhông có tập quán làm nh vậy
- Các chính sách yêu cầu công chức phải mua sắm hàng nội
- Các chiến dịch vận động dân chúng tiêu dùng hàng trong nớc
Bên cạng đó, Bộ Thơng mại Việt Nam cũng đã phân loại hàng rào phi thuếquan bằng cách liệt kê một số các nhóm hàng rào phi thuế quan chính nh sau:
- Các biện pháp hạn chế định lợng (nh cấm, hạn ngạch, giấy phép);
- Các biện pháp quản lý giá (nh trị giá tính thuế quan tối thiểu, giá nhập khẩutối đa, phí thay đổi, phụ thu);
- Các biện pháp quản lý đầu mối (nh đầu mối xuất khẩu, nhập khẩu);
- Các biện pháp kỹ thuật (nh quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn, thủ tục xác định sựphù hợp, yêu cầu về nhãn mác, kiểm dịch động thực vật);
- Các biện pháp bảo vệ thơng mại tạm thời (tự vệ, trợ cấp và các biện pháp đốikháng, biện pháp chống bán phá giá);
- Các biện pháp liên quan tới đầu t (thuế suất thuế nhập khẩu phụ thuộc tỷ lệnội địa hóa, hạn chế tiếp cận ngoại tệ, yêu cầu xuất khẩu, u đãi gắn với thành tíchxuất khẩu);
Trang 5- Các biện pháp khác (tem thuế, biểu thuế nhập khẩu hay thay đổi, yêu cầu đảmbảo thanh toán, yêu cầu kết hối, thủ tục hành chính, thủ tục hải quan, mua sắm chínhphủ, quy tắc xuất xứ).
1.1.2 Sự cần thiết của bảo hộ phi thuế quan trong xu thế toàn cầu hoá
Bảo hộ phi thuế là cần thiết trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
Thực tiễn hoạt động thơng mại quốc tế cho thấy: nhu cầu bảo hộ sản xuất trongnớc là cần thiết trong bất cứ giai đoạn nào, thời kỳ nào, ngay cả với các quốc giahùng mạnh nh Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU Ngay từ thời Chủ nghĩa trọng thơng, vai tròcủa Nhà nớc đã đợc đề cao thông qua việc việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan
nh quản lý lợng vàng, ban hành các quy định nhằm khuyến khích xuất khẩu và hạnchế nhập khẩu Trong suốt những thế kỷ qua, bên cạnh việc áp dụng các biện phápthuế quan tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc, các quốc gia cũng áp dụng nhiềubiện pháp bảo hộ phi thuế nh hạn chế nhập khẩu, quản lý ngoại hối để bảo vệ sảnxuất trong nớc
Bắt đầu từ giữa thế kỷ 20, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa lan nhanh, các quốcgia đều thấy đợc lợi ích và tầm quan trọng của xu thế này và hầu nh đều chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế Hàng loạt các tổ chức kinh tế quốc tế ra đời nh Cộng đồngkinh tế chung Châu Âu (EU), Tổ chức thơng mại thế giới (WTO), Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN Trong đó, WTO là tổ chức có quy mô lớn nhất, có tầm ảnh hởng rộngnhất WTO khuyến khích tự do hóa thơng mại quốc tế và yêu cầu dỡ bỏ các hàng ràophi thuế quan Về căn bản, so với giai đoạn trớc, các biện pháp bảo hộ phi thuế quan
đã đợc cắt giảm rất nhiều, nhng do những ích lợi và hiệu quả của biện pháp này màhiện nay nó vẫn đợc tất cả các quốc gia trên thế giới áp dụng dới hình thức này hayhình thức khác
Do trình độ phát triển giữa các quốc gia trên thế giới không đồng đều, chất lợnghàng hóa, dịch vụ và giá cả giữa nớc này với nớc khác có sự khác biệt lớn Vì vậy,các nớc thờng có xu hớng phân công lao động để tập trung nguồn lực sản xuất nhữngmặt hàng mà mình có lợi thế hơn Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng dễ dàngchấp nhận từ bỏ một mặt hàng đang có u thế hoặc có tiềm năng phát triển để chuyểnsang sản xuất một mặt hàng khác, chính điều này làm phát sinh nhu cầu bảo hộ Vídụ: Trung Quốc duy trì mức bảo hộ rất cao cho ngành công nghiệp ô tô, mặc dù họkhông có lợi thế để sản xuất mặt hàng này nh Hoa Kỳ và Nhật Bản, ngợc lại NhậtBản lại duy trì bảo hộ cao với ngành nông nghiệp Thực tế này có thể do nhiềunguyên nhân:
Thứ nhất, có thị trờng quốc tế tức là có sự trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia.
Giả sử một quốc gia không có lợi thế để sản xuất một mặt hàng nào đó, nếu để nócạnh trạnh tự do thì lẽ dĩ nhiên là sẽ bị đào thải Trong một số trờng hợp, các quốcgia này vẫn duy trì sản xuất mặt hàng đó, do những vấn đề nhạy cảm hay mục đíchkinh tế – xã hội khác, làm phát sinh nhu cầu bảo hộ
Trang 6Thứ hai, về thực tiễn, ở tất cả các quốc gia tăng trởng cao nhờ xuất khẩu, dù đã
gần đạt tới tỷ xuất tự do hoá hoàn toàn, họ vẫn thực hiện một số biện pháp bảo hộ thịtrờng trong nớc Rõ ràng vấn đề bảo hộ thị trờng trong nớc bằng biện pháp phi thuế ởcác quốc gia này vẫn tồn tại, mặc dù họ là ngời khởi xớng và dẫn dắt việc cắt giảmbảo hộ và tiến tới tự do hoá hoàn toàn thơng mại thế giới
Ví dụ: Dù là một nền kinh tế mạnh nhất thế giới, khởi xớng cho xu thế tự dohóa thơng mại và có tầm ảnh hởng lớn trong WTO, Hoa Kỳ vẫn áp dụng các biệnpháp bảo hộ sản xuất trong nớc, dù chỉ với một ngành sản xuất nhỏ nh cá da trơn (Vụkiện bán phá giá cá tra - cá ba sa của Việt Nam vào thị trờng Hoa Kỳ)
Thứ ba, vấn đề bảo hộ mậu dịch càng đặc biệt đợc chú trọng ở những quốc gia
đang phát triển, khi mà lợi thế cạnh tranh cha cao và nhiều ngành sản xuất trong nớccòn non trẻ Ví dụ: Việt Nam đang nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế, nhng hội nhập thìlại phải đối mặt với những thách thức lớn trớc sự xâm nhập của hàng hoá nớc ngoài
Có thể nói, các ngành sản xuất của Việt Nam có rất ít lợi thế cạnh tranh (ngay cả vớimột số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nh gạo, cà phê ), các mặt hàng khác
nh điện tử, sản phẩm có hàm lợng khoa học kỹ thuật cao, nếu tự do cạnh tranh vớihàng nhập ngoại thì sẽ bị đánh bại ngay trên thị trờng nội địa Do đó, với nhữngngành sản xuất cần đợc chú trọng có liên quan mật thiết tới sự phát triển của nềnkinh tế thì cần phải có sự bảo hộ hợp lý và thích đáng để có thể đủ sức đứng vững vàcạnh tranh trên thị trờng quốc tế
Tóm lại, chính sách thơng mại tự do có mục tiêu là thúc đẩy chuyên môn hóaquốc tế, tối đa hóa lợi ích kinh tế đối với các nền kinh tế nhng chính sách tự do thơngmại không phải lúc nào cũng mang lại lợi ích nh vậy Thực tiễn cho thấy, xu thế tự
do hóa thơng mại luôn song hành cùng với nhu cầu bảo hộ trong những điều kiệnnhất định Tự do hóa không phải là một khái niệm mang tính ‘tuyệt đối’ Do mỗiquốc gia có trình độ phát triển khác nhau, xuất phát điểm với quá trình hội nhập khácnhau, mục tiêu kinh tế, chính trị không đồng nhất nên việc áp dụng các chính sáchthơng mại với nội dung bảo hộ hay tự do hóa là khác nhau Nhu cầu bảo hộ khôngchỉ với những nớc đang phát triển mà ngay cả đối với những nớc phát triển
Bảo hộ phi thuế là cần thiết xét trên yếu tố cạnh tranh quốc gia và phân
phối nguồn lực
Do vị thế của các quốc gia trên thế giới là không giống nhau và lợi thế so sánhcũng khác nhau, nên trong quá trình tự do hóa thơng mại, các quốc gia thờng nảysinh mâu thuẫn về lợi ích Điều này làm cho các chính sách tự do hóa thơng mại bịcản trở, chủ yếu xuất phát từ sự kém hiệu quả trong phân phối nguồn lực và thất bạicủa thị trờng trong nớc Giả sử dới tác động của tự do hóa thơng mại, khu vực sảnxuất có hiệu quả nh ngành điện tử có cơ hội mở rộng quy mô sản xuất; nhng đồngthời, các doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ giảm dần quy mô nh ngành mía đờng Tuynhiên, nhà đầu t không thể chuyển hớng kinh doanh từ ngành mía đờng sang cácngành khác (ví dụ điện tử) và ngời lao động trong ngành mía không thể sang làm
Trang 7trong ngành điện tử, nên sự chuyển đổi vốn đầu t và lao động không thể diễn ra mộtcách bình thờng mà ngợc lại đã làm tăng đội ngũ thất nghiệp, bán thất nghiệp và gây
đình trệ sản xuất, kinh doanh
Lợi ích của tự do thơng mại là rõ ràng; tuy nhiên, thực tế quá trình chuyển đổisản xuất và phân phối lại nguồn lực nhằm đáp ứng quá trình chuyên môn hóa ở cácquốc gia lại không xảy ra dễ dàng Điều này làm phát sinh nhu cầu bảo hộ sản xuấttrong nớc của các quốc gia trớc sức ép của tự do hóa thơng mại
1.1.3 Mục đích của bảo hộ phí thuế quan
Mục đích của bảo hộ phi thuế quan trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế đốivới các quốc gia đang phát triển là bảo vệ các ngành sản xuất trong nớc trớc sự cạnhtranh của hàng hóa nớc ngoài nhằm phát triển sản xuất, khuyến khích xuất khẩu vàtạo đà tăng trởng trớc sức ép của toàn cầu hóa
Bởi vậy, không nên hiểu các biện pháp phi thuế nh là một rào cản trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thơng mại Các NTB có thể bao gồm cácbiện pháp thúc đẩy xuất khẩu nh các biện pháp tài trợ hoặc trợ giá hoặc các biệnpháp hạn chế nhập khẩu đợc quốc tế công nhận nh sử dụng các quy định về kỹ thuật,
tr Việc bảo hộ đó đợc thống nhất cho mọi thành phần kinh tế, kể cả các xínghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
- Chính sách bảo hộ đợc quy định trong từng trờng hợp, từng thời kỳ và khôngbảo hộ vĩnh viễn cho bất kỳ hàng hóa nào
- Bảo hộ thị trờng trong nớc phải phù hợp với tiến trình tự do hoá thơng mại vàcác hiệp định quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết
Vấn đề bảo hộ nh thế nào cho phù hợp với các quy định và thông lệ của các tổchức kinh tế khu vực và quốc tế mà Việt Nam đã tham gia (AFTA, APEC ) hay
đang xúc tiến quá trình gia nhập (WTO) đòi hỏi phải có những bớc đi thận trọng vàxác định những lộ trình bảo hộ hợp lý để phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, chuyênmôn hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
1.1.4 Ưu điểm, nhợc điểm của hàng rào phi thuế quan
a Ưu điểm
Một là, hàng rào phi thuế quan rất phong phú về hình thức: nhiều biện pháp phi thuế khác nhau có thể đáp ứng cùng một mục tiêu, áp dụng cho cùng một mặt hàng.
Các biện pháp phi thuế trong thực tế rất phong phú về hình thức nên tác động,khả năng và mức độ đáp ứng mục tiêu của chúng cũng rất đa dạng Do đó, nếu sử
Trang 8dụng biện pháp phi thuế để phục vụ một mục tiêu đề ra thì có thể có nhiều sự lựachọn, kết hợp nhiều biện pháp hơn mà không bị gò bó trong khuôn khổ một công cụduy nhất nh thuế quan Ví dụ: để nhằm hạn chế nhập khẩu phân bón, có thể đồngthời áp dụng các biện pháp hạn ngạch nhập khẩu, cấp giấy phép nhập khẩu không tự
động, đầu mối nhập khẩu, phụ thu nhập khẩu
Hai là, hàng rào phi thuế quan đáp ứng nhiều mục tiêu
Mỗi quốc gia thờng theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh tế, thơngmại của mình Các mục tiêu đó có thể là: 1) Bảo hộ sản xuất trong nớc, khuyến khíchphát triển một số ngành nghề; 2) Bảo vệ an toàn sức khỏe con ngời, động thực vật,môi trờng; 3) Hạn chế tiêu dùng; 4) Đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán; 5) Bảo
đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, v.v
Bằng một biện pháp phi thuế có thể đồng thời đáp ứng nhiều mục tiêu mà đemlại hiệu quả cao Ví dụ: quy định về vệ sinh kiểm dịch đối với nông sản nhập khẩuvừa đảm bảo an toàn sức khỏe con ngời, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo hộ sảnxuất nông nghiệp trong nớc một cách hợp pháp Hay cấp phép không tự động đối vớidợc phẩm nhập khẩu vừa giúp bảo hộ ngành dợc nội địa, dành đặc quyền cho một số
đầu mối nhập khẩu nhất định, quản lý chuyên ngành một mặt hàng quan trọng đốivới sức khỏe con ngời
Ba là, việc bảo hộ sản xuất trong nớc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
bằng hàng rào phi thuế quan tơng đối thuận lợi vì nhiều biện pháp phi thuế quan cha
bị cam kết ràng buộc cắt giảm hay loại bỏ Hiện nay, các hiệp định của WTO chỉmới điều chỉnh việc sử dụng một số biện pháp phi thuế nhất định Trong đó, tất cảcác biện pháp phi thuế hạn chế định lợng1 đều không đợc phép áp dụng, trừ trờnghợp ngoại lệ Một số biện pháp phi thuế khác tuy có thể nhằm mục tiêu hạn chế nhậpkhẩu, bảo hộ sản xuất trong nớc nhng vẫn đợc WTO cho phép áp dụng với điều kiệntuân thủ những quy định cụ thể, rõ ràng, khách quan Chẳng hạn nh tiêu chuẩn kỹthuật, biện pháp kiểm dịch động thực vật, tự vệ, thuế chống bán phá giá, các biệnpháp chống trợ cấp, thuế đối kháng, v.v…
b Nhợc điểm
Bên cạnh những lợi thế mà hàng rào phi thuế quan mang lại thì các biện phápnày vẫn còn một số nhợc điểm
Thứ nhất là tính mập mờ và khó dự đoán Hiện nay, do hình thức thể hiện của
các biện pháp phi thuế quan rất phong phú nên nhiều biện pháp cha chịu sự điềuchỉnh của các quy tắc thơng mại Cho nên, dù tác động của chúng có thể lớn nhng lại
là tác động ngầm, có thể che đậy hoặc biện hộ bằng cách này hay cách khác Việc dự
đoán một mặt hàng nào đó có áp dụng các biện pháp phi thuế quan hay không là rấtkhó, vì thực tế chúng thờng đợc vận dụng trên cơ sở dự đoán chủ quan, đôi khi tuỳtiện của nhà quản lí về sản xuất và nhu cầu tiêu dùng trong nớc Trong bối cảnh kinh
tế phức tạp và thờng xuyên biến động nh hiện nay, việc đa ra một dự đoán tơng đối
1 Các biện pháp phi thuế hạn chế định lợng nh cấm nhập khẩu, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu không
Trang 9chính xác là rất khó khăn Hậu quả của việc dự đoán không chính xác sẽ rất nghiêmtrọng chẳng hạn nh gây ra thiếu hụt trầm trọng nguồn cung cấp hàng hóa khi sảnxuất trong nớc có nhu cầu cao hay đang trong thời vụ khiến giá cả tăng vọt (sốtnóng) hoặc trái lại dẫn đến tình trạng cung vợt cầu quá lớn trên thị trờng gây ra tìnhtrạng sụt giá (sốt lạnh) Các biện pháp phi thuế quan đôi khi cũng làm nhiễu tín hiệucủa thị trờng mà ngời sản xuất và ngời tiêu dùng trong nớc thờng dựa vào đó để raquyết định Tín hiệu này chính là giá thị trờng, một khi bị làm sai lệch, nó sẽ phản
ánh không trung thực lợi thế cạnh tranh thực sự, chỉ dẫn sai việc phân bổ nguồn lựctrong nội bộ nền kinh tế Do đó, khả năng xây dựng kế hoạch đầu t, sản xuất, kinhdoanh hiệu quả trong trung hạn và dài hạn của ngời sản xuất bị hạn chế
Hiệu quả mà các biện pháp phi thuế quan đem lại thờng rất lớn nhng lại khó
có thể đợc lợng hoá rõ ràng nh tác động của thuế quan Nếu mức bảo hộ thông quathuế quan đối với một sản phẩm có thể xác định đợc một cách dễ dàng thông quamức thuế suất đánh lên sản phẩm đó thì mức độ bảo hộ thông qua biện pháp phi thuếquan là tổng mức bảo hộ của các biện pháp phi thuế quan riêng rẽ áp dụng cho cùngmột sản phẩm Bản thân mức độ bảo hộ của mỗi biện pháp phi thuế quan cũng chỉ
có thể đợc ớc lợng một cách tơng đối chứ không thể lợng hoá rõ ràng nh biện phápthuế quan Cũng vì mức độ bảo hộ của các biện pháp phi thuế không dễ xác định nênrất khó xây dựng một lộ trình tự do hoá thơng mại nh với bảo hộ chỉ bằng thuế quan
Thứ hai là hàng rào phi thuế quan gây khó khăn và tốn kém trong quản lý Vì
khó dự đoán nên khi sử dụng các hàng rào phi thuế, nhà nớc thờng tiêu tốn nhân lực
và phải trả một khoản chi phí khá cao để duy trì hệ thống điều hành, kiểm soát.Không chỉ có vậy, một số NTBs lại thuộc thẩm quyền và phạm vi quản lý của nhiềucơ quan với những mục tiêu khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, nên có thể gây
ra khó khăn cho các nhà hoạch định chính sách Một khó khăn khác trong việc quản
lý các NTB đó là sự xuất hiện của những NTB bị động Những NTB bị động đó chính
là sự quan liêu trong bộ máy quản lý thơng mại, năng lực thấp của các nhân viên hảiquan, các văn bản pháp lý không đợc công bố công khai,v.v… Vẫn biết rằng nhữngNTB này là do sự chủ quan của con ngời nhng đó lại đang là một thực tế mà các nhàhoạch định chính sách phải đối mặt và tìm cách khắc phục Tuy nhiên, để khắc phục
đợc tình trạng này đòi hỏi phải có sự phối hợp thực hiện đồng bộ của các cấp, bộngành có liên quan
Thứ ba, việc sử dụng hàng rào phi thuế quan nhằm hạn chế nhập khẩu, bảo hộ
sản xuất trong nớc không đem lại nguồn thu tài chính trực tiếp nào cho nhà nớc màthờng chỉ làm lợi cho một số doanh nghiệp hoặc một số ngành nhất định đợc bảo hộ
hoặc đợc hởng u đãi, đặc quyền nh đợc phân bổ hạn ngạch, đợc chỉ định làm đầu
mối nhập khẩu Chính điều này đã dẫn đến sự mất bình đẳng giữa các doanh nghiệptrong nội bộ nền kinh tế của mỗi quốc gia
Trang 101.2 Quy định của WTO về hàng rào phi thuế quan
1.2.1 WTO và tầm quan trọng của WTO với tự do hóa thơng mại thế giới
WTO (The World Trade Organization - Tổ chức Thơng mại thế giới) là một thểchế pháp lý của hệ thống thơng mại đa phơng, nó đa ra những nghĩa vụ có tínhnguyên tắc để chính phủ các nớc thiết lập khuôn khổ các luật lệ và quy định thơngmại trong nớc phù hợp với thơng mại thế giới WTO có thể nói là tổ chức kinh tếquốc tế lớn nhất mà tầm ảnh hởng của nó bao trùm và rộng khắp Hiện nay, WTO có
147 thành viên, các quy tắc của nó điều chỉnh phần lớn khối lợng hàng hoá giao dịchtrên thị trờng thế giới ảnh hởng của WTO tới thơng mại thế giới là tích cực, tạo ramột quy tắc chung về cơ bản là thông thoáng để các nớc có thể điều chỉnh quan hệthơng mại với nhau
Khi đã tham gia vào WTO, các quốc gia phải dành cho nhau quy chế đãi ngộtối huệ quốc MFN, tức là đối xử nh nhau theo một quy định thống nhất Với các nớccha phải là thành viên của WTO thì phải đàm phán song phơng để đợc hởng MFNvới từng quốc gia và có thể phải chịu các quy định, trừng phạt thơng mại vô lý, đơnphơng từ các quốc gia khác áp đặt (quy chế cấm vận của Hoa Kỳ với Cuba, Iraq ).Thực tế cho thấy, khi cha phải là thành viên của WTO, Việt Nam cũng gặp phải rấtnhiều khó khăn trong buôn bán, làm ăn với các nớc và cha có chỗ dựa để viện dẫn vàbảo vệ quyền lợi Ví dụ, năm 2000, Việt Nam bị Trung Quốc áp dụng hạn ngạch đơnphơng về nhập khẩu hoa quả tơi gây thiệt hại không nhỏ
Gia nhập vào WTO, các quốc gia đang phát triển và có vị thế còn thấp trên ờng quốc tế nh Việt Nam mới có thể yên tâm về vị trí của mình trong thơng mạiquốc tế và mới có điều kiện để ổn định xây dựng sản xuất trong nớc hớng theo môhình toàn cầu hóa, chuyên môn hóa Gia nhập vào WTO tức là khẳng định tinh thầnhợp tác, cởi mở, mong muốn tham gia vào xu thế hội nhập chung Ngoài ra, chúng tacòn có căn cứ để bảo vệ lợi ích và quyền lợi của mình, tránh đợc sự o ép của cácquốc gia mạnh hơn Bởi vậy, mục tiêu gia nhập vào WTO là một chủ trơng đúng đắncủa Đảng và Nhà nớc nhằm đa kinh tế đất nớc tiến lên
tr-Tuy nhiên, các quy tắc của WTO tơng đối khắt khe và không phải quốc gia nàocũng áp dụng dễ dàng, nhất là với những nền kinh tế mà năng lực cạnh tranh cònthấp nh Việt Nam Để đạt mục tiêu gia nhập tổ chức này, chúng ta không còn cáchnào khác là phải xây dựng ngay hệ thống pháp lý điều chỉnh các hành vi thơng mạiquốc tế phù hợp với các quy định của WTO Các biện pháp bảo hộ sản xuất trớc kiakhông còn phù hợp phải loại bỏ và thay vào đó là sử dụng các biện pháp khác phùhợp với các quy định và chuẩn mực của WTO
Vấn đề này đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ về những bất cập trong mối quan hệ giữabảo hộ và hội nhập; kinh nghiệm xử lý của các quốc gia; cũng nh hệ thống pháp lý
điều chỉnh các nội dung này của WTO
1.2.2 Quy định về sử dụng Hạn ngạch
Trang 11Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của Nhà nớc về số lợng hoặc giá trị của mộtmặt hàng nào đó đợc nhập khẩu từ một thị trờng nào đó trong một thời gian nhất
định (thờng là 1 năm) Hạn ngạch nhập khẩu là một loại rào cản thơng mại ở mức độthấp Tác động của nó không đợc minh bạch, thu nhập hay lợi tô sẽ rơi vào tay nhữngngời nắm giữ hạn ngạch u đãi, mức độ bảo hộ không rõ ràng và sự cách ly khỏi thịtrờng có thể ở mức tuyệt đối Tuy nhiên, với đặc điểm riêng của mình, hạn ngạchnhập khẩu khi đợc áp dụng sẽ có vai trò nhất định trong chính sách bảo hộ thông quaquản lý nhập khẩu của một quốc gia
Hạn ngạch nhập khẩu làm cho số lợng nhập khẩu của hàng hoá chịu sự quản lýnhỏ hơn lợng nhập khẩu trong điều kiện tự do thơng mại, nên giá của hàng hoá nàytrên thị trờng nội địa sẽ cao hơn mức giá thế giới Nhờ tác động này, hạn ngạch nhậpkhẩu có thể đợc sử dụng nh một biện pháp của chính sách quản lý xuất nhập khẩuphục vụ mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nớc Bên cạnh đó, khi sử dụng hạn ngạchnhập khẩu, Chính phủ sẽ xác định trớc đợc khối lợng nhập khẩu và có thể tác động
đến hoạt động xuất khẩu của một hay một số quốc gia khác Vì những đặc điểm này,hạn ngạch còn có thể đợc dùng nh là biện pháp giúp sử dụng có hiệu quả nguồnngoại tệ, thực hiện các cam kết của Chính phủ với nớc ngoài và là công cụ để điềutiết hoạt động nhập khẩu
WTO không cho phép các thành viên của mình áp dụng biện pháp hạn ngạch.Tuy nhiên, trong một số trờng hợp đặc biệt, biện pháp hạn ngạch có thể đợc sử dụngtrên cơ sở không phân biệt đối xử Đó là những trờng hợp sau:
áp dụng biện pháp hạn ngạch để cấm hoặc hạn chế xuất khẩu tạm thời nhằmngăn ngừa hay khắc phục sự khan hiếm trầm trọng về lơng thực, thực phẩm hay cácsản phẩm thiết yếu khác
áp dụng biện pháp hạn ngạch (cấm hoặc hạn chế xuất nhập khẩu) để thực thicác tiêu chuẩn hay quy chế về phân loại (classification), phân cấp (grading) hay tiếpthị các sản phẩm trong thơng mại quốc tế
áp dụng hạn ngạch để hạn chế nhập khẩu đối với mọi sản phẩm nông, ngnghiệp Trong trờng hợp này, nớc thành viên phải công bố tổng khối lợng hay tổngtrị giá của sản phẩm đợc phép nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định trong tơng lai
và mọi thay đổi về số lợng hay trị giá nói trên
Các nớc thành viên WTO có thể áp dụng biện pháp hạn ngạch để hạn chế sốlợng hay trị giá hàng hoá nhập khẩu nhằm mục đích bảo vệ tình hình tài chính đốingoại và cán cân thanh toán của nớc mình Các hạn chế nhập khẩu đợc định ra, duytrì hay mở rộng về mục đích này không đợc vợt quá mức cần thiết là “để ngăn ngừa
sự đe doạ sắp xảy ra hay để chặn lại sự thiếu hụt nghiêm trọng dự trữ tiền tệ, hoặctrong trờng hợp một nớc thành viên có dự trữ tiền tệ rất thấp, để nâng dự trữ tiền tệlên một mức hợp lý”.[10, tr 97]
Điều đó có nghĩa là, các nớc thành viên có thể hạn chế số lợng hoặc giá trịhàng hoá nhập khẩu, nhng mức độ hạn chế không đợc vợt quá mức cần thiết để đề
Trang 12phòng hoặc ngăn chặn nguy cơ dự trữ tiền tệ giảm mạnh Đối với những nớc có dựtrữ tiền quá mỏng thì mức độ hạn chế không đợc vợt quá mức cần thiết để tăng dự trữmột cách hợp lý Đồng thời, WTO cũng yêu cầu các quốc gia thành viên khi thi hànhchính sách trong nớc phải có nghĩa vụ cân đối thu chi quốc tế lâu dài, tránh sử dụngtài nguyên một cách phi kinh tế, phải tận dụng mọi khả năng để mở rộng thơng mạiquốc tế.
Các nớc đang phát triển có thể áp dụng các biện pháp hạn chế số lợng trong
ch-ơng trình trợ giúp của Chính phủ để thúc đẩy kinh tế phát triển, hạn chế để bảo vệ thịtrờng và một số ngành công nghiệp cụ thể Sự hỗ trợ của chính phủ, đặc biệt là chính phủ cácnớc có mức sống thấp, mức tăng trởng thấp, sẽ giúp ích cho việc thực hiện các tôn chỉ củaWTO Vì vậy, WTO cho phép các nớc này đợc áp dụng các biện pháp hạn chế số lợng hoặcgiá trị hàng nhập khẩu để kiểm soát mức nhập khẩu, nhằm thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế của nớc mình
Ngoài ra, WTO còn quy định các ngoại lệ chung đợc áp dụng cho việc hạn chế
số lợng hàng hoá xuất nhập khẩu, khi chính phủ thấy cần thiết để bảo vệ: đạo đức xãhội, con ngời và động thực vật; tài sản quốc gia về nghệ thuật, lịch sử hay khảo cổ;tài nguyên thiên nhiên khan hiếm và liên quan đến xuất nhập khẩu vàng và bạc, với
điều kiện là các biện pháp này phải thực hiện kèm theo việc hạn chế sản xuất haytiêu dùng nội địa liên quan đến chúng
Tuy nhiên, WTO cũng yêu cầu các quốc gia thành viên khi áp dụng biện pháphạn ngạch để hạn chế nhập khẩu phải cam kết tránh gây ra tổn thất không cần thiếtcho quyền lợi kinh tế và thơng mại của các nớc thành viên khác Khi tình hình kinh
tế trong nớc đã đợc cải thiện, WTO yêu cầu các quốc gia thành viên phải dần dần nớilỏng các hạn chế, chỉ duy trì các hạn chế đó ở mức độ cần thiết, còn khi tình hìnhkinh tế trong nớc thay đổi theo chiều hớng tốt không cần thiết phải duy trì những hạnchế đó nữa thì phải loại bỏ các hạn chế đó ngay lập tức
Bên cạnh đó, WTO cũng quy định về việc cấm phân biệt đối xử khi áp dụnghạn ngạch Việc cấm đoán hay hạn chế đợc thực hiện đối với việc nhập khẩu nhữngsản phẩm cùng loại của tất cả các nớc hoặc đối với việc xuất khẩu những sản phẩmcùng loại sang bất kỳ nớc nào
Khi hạn chế việc nhập khẩu của sản phẩm nào đó, các nớc thành viên phải tậndụng mọi khả năng để việc phân phối những sản phẩm ấy phải sát với mức mà các n-
ớc thành viên khác dự tính có thể xuất khẩu đợc khi không có các biện pháp hạn chế
số lợng
Cụ thể WTO yêu cầu các quốc gia nh sau:
Khi có thể tiến hành đợc, phải xác định hạn ngạch nhập khẩu và công bốhạn ngạch này trong từng thời gian cụ thể và những thay đổi nếu có
Nếu không thể xác định hạn ngạch đợc thì có thể dùng giấy phép nhập khẩukhông có hạn ngạch hoặc giấy chứng nhận nhập khẩu để hạn chế
Trang 13 Nếu áp dụng hạn ngạch cho từng nớc thì phải đạt đợc thoả thuận về phânphối hạn ngạch với các nớc thành viên có quan hệ lợi ích lớn với nớc mình.
Ngoài các quy định chung về hạn ngạch nh trên, đối với các sản phẩm nôngnghiệp (quy định tại Điều IV Hiệp định Nông nghiệp của WTO) có thể áp dụng mộthình thức hạn ngạch đặc biệt gọi là Hạn ngạch thuế quan (Tariff Rate Quota - TRQ)
1.2.3 Quy định về sử dụng giấy phép nhập khẩu
a Những quy định chung của WTO về việc cấp giấy phép nhập khẩu
Giấy phép nhập khẩu là văn bản pháp lý do cơ quan có thẩm quyền về quản lýxuất nhập khẩu cấp cho nhà nhập khẩu để họ có quyền nhập khẩu hàng hoá
WTO quy định việc cấp phép nhập khẩu phải đơn giản, rõ ràng và dễ dự đoán.Các chính phủ phải công bố thông tin đầy đủ cho các nhà kinh doanh biết giấy phép
đợc cấp nh thế nào và căn cứ để cấp Khi đặt ra các thủ tục cấp phép nhập khẩu mớihay thay đổi các thủ tục hiện tại, các thành viên phải thông báo theo những quy định
cụ thể cho WTO Việc xét đơn nhập khẩu cũng phải tuân thủ các quy định chặt chẽ
Điều 1, Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu quy định chi tiết nh sau:
“Cấp phép nhập khẩu đợc hiểu là các thủ tục hành chính đợc sử dụng để thựchiện chế độ cấp phép nhập khẩu, yêu cầu phải nộp đơn xin nhập khẩu hoặc các loạigiấy tờ khác (không liên quan đến mục đích Hải quan) cho các cơ quan hành chínhthích hợp nh là điều kiện tiên quyết để đợc phép nhập khẩu” [10, tr 106]
Các thành viên của WTO phải đảm bảo rằng những thủ tục hành chính để thựchiện chế độ cấp phép nhận khẩu không đợc bóp méo thơng mại do việc sử dụng khôngthích hợp các thủ tục đó Các quy định đối với thủ tục cấp phép nhập khẩu phải đợc ápdụng trung lập và đợc quản lý theo một cách thức công bằng và hợp lý WTO cũng quy
định rằng mọi thông tin và quy định liên quan đến thủ tục nộp đơn xin giấy phép nhập khẩu
nh tiêu chuẩn của nhà nhập khẩu, cơ quan tiếp nhận, danh mục hàng hóa phải đợc công bốsao cho Chính phủ các nớc và các nhà kinh doanh có thể nắm bắt đợc Nếu điều kiện chophép, các thành viên phải thông báo công khai các thông tin trên trong thời hạn 21 ngày tr-
ớc khi các quy định và yêu cầu có hiệu lực, tuy nhiên trong mọi trờng hợp không đợc muộnhơn ngày có hiệu lực Tất cả các trờng hợp ngoại lệ hoặc thay đổi quy định liên quan đếnthủ tục cấp phép nhập khẩu hay danh mục các mặt hàng phải đợc công bố theo cách thức
và trong cùng thời hạn nói trên
Ngoài ra, WTO cũng quy định rằng ngời có giấy phép có quyền tiếp cận nguồnngoại hối cần thiết để thanh toán hàng nhập khẩu cần giấy phép theo cùng điều kiện
đối với các nhà nhập khẩu hàng không cần giấy phép
b Các trờng hợp cấp phép nhập khẩu trong WTO
Theo WTO, thủ tục cấp phép nhập khẩu đợc chia thành 2 trờng hợp:
- Thủ tục cấp phép nhập khẩu tự động: WTO quy định tất cả những ngời, cơ
quan hoặc tổ chức đáp ứng đầy đủ yêu cầu pháp lý của thành viên nhập khẩu về việctham gia hoạt động nhập khẩu mặt hàng thuộc diện cấp phép tự động đều có quyền
Trang 14nộp đơn xin cấp phép và đợc phê chuẩn ngay lập tức mà không bị gây khó khăn trởngại gì.
- Thủ tục cấp phép nhập khẩu không tự động: Giấy phép nhập khẩu không tự
động đợc các chính phủ sử dụng nhằm mục đích hạn chế hàng nhập khẩu Theo quy
định của WTO, cấp phép không tự động không đợc tạo thêm những tác động hạn chếhoặc cản trở thơng mại Đối với loại giấy phép này, WTO quy định phải giảm tối đacác trở ngại cho ngời xin giấy phép, chỉ giới hạn ở những gì hết sức cần thiết chocông tác quản lý nhập khẩu Thời gian xét duyệt theo yêu cầu của WTO không vợtquá 60 ngày và thời hạn có hiệu lực của giấy phép phải hợp lý, không nên quá ngắn
để ảnh hởng tới việc nhập khẩu cũng nh không gây trở ngại cho hàng hoá nhập khẩu
từ xa
Tất cả những ngời, công ty hoặc tổ chức đáp ứng đầy đủ yêu cầu pháp lý vàhành chính của thành viên nhập khẩu đều có quyền ngang nhau trong việc nộp đơnxin cấp và đợc xem xét để cấp phép Nếu đơn xin cấp phép không đợc chấp nhận thìtheo yêu cầu của ngời nộp đơn, cơ quan chức năng phải thông báo lý do không chấpnhận và ngời nộp đơn đợc quyền khiếu kiện và yêu cầu xem xét lại theo pháp luật vàthủ tục trong nớc của thành viên nhập khẩu Khi phân bổ giấy phép, các nớc thànhviên cần xem xét tình hình nhập khẩu của ngời nộp đơn Cụ thể là, cần phải xét xemliệu giấy phép cấp cho ngời nộp đơn trong quá khứ có đợc sử dụng hết không? Trongtrờng hợp ngời nộp đơn không sử dụng hết giấy phép đã đợc cấp, cơ quan chức năngphải tìm hiểu lý do tại sao và cân nhắc những lý do này khi phân bổ giấy phép mới.Nếu lợng hàng hoá nhập khẩu quá mức đợc cấp phép nhng vẫn có thể chấp nhận đợcthì có thể sẽ điều chỉnh mức phân bổ giấy phép trong tơng lai để bù lại lợng nhập quáphép
Nhằm thực hiện tốt các quy định trên về thủ tục cấp phép nhập khẩu, WTO đãthành lập Uỷ ban về cấp phép nhập khẩu Uỷ ban này tạo các cơ hội thơng lợng đểthúc đẩy việc thực hiện các quy định này của các nớc thành viên Khi ban hành hoặcthay đổi thủ tục cấp phép nhập khẩu, các thành viên phải thông báo cho Uỷ bantrong vòng 60 ngày kể từ ngày công bố việc ban hành hay thay đổi đó
Trang 151.2.4 Quy định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng
a Những quy định chung
Trong thơng mại thế giới, buôn bán công bằng và ngay thẳng là điều kiện quantrọng để thúc đẩy tự do hoá thơng mại, góp phần bảo đảm sự ổn định và minh bạchtrong thơng mại Thoả thuận về trợ cấp và chống trợ cấp đã đạt đợc trong thời kỳGATT, sau đó Hiệp định này đã tiếp tục đợc sửa đổi, hoàn thiện và cấu thành nên hệthống pháp lý của WTO ngày nay Không giống nh Hiệp định tiền nhiệm, Hiệp địnhmới về trợ cấp của WTO chứa đựng định nghĩa về trợ cấp và đa ra khái niệm về “trợcấp đặc thù” hay còn gọi là “trợ cấp riêng” Chỉ các trợ cấp đặc thù hay trợ cấp riêngmới chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc đợc quy định trong hiệp định này
Trợ cấp xảy ra khi một số lợi ích đợc chuyển giao nhờ có sự hỗ trợ của chínhphủ về giá hay thu nhập, hay có sự đóng góp tài chính của chính phủ cũng nh các tổchức công cộng, chẳng hạn nh chuyển giao trực tiếp các khoản tiền hay bảo lãnh tíndụng; hoặc bỏ qua các khoản tiền lẽ ra phải thu cho ngân sách nhà nớc, chẳng hạn
nh các u đãi về thuế (trừ thuế gián thu); hoặc chính phủ cung cấp hàng hoá và dịch
vụ không thuộc nhóm cơ sở hạ tầng, hay thông qua việc mua hàng hoá
Hiệp định cũng quy định trợ cấp riêng là loại trợ cấp chỉ dành cho một ngànhhoặc một số ngành, một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp nhất định, và cáccơ quan có thẩm quyền hay các văn bản pháp luật không chỉ ra một cách rõ ràng,công khai các tiêu chuẩn khách quan để đạt đợc trợ cấp
Trợ cấp áp dụng giới hạn cho các doanh nghiệp nhất định nằm trong một vùng
địa lý xác định thuộc phạm vi thẩm quyền của nhà chức trách cấp trợ cấp thì cũng
đợc coi là trợ cấp riêng Việc xác định trợ cấp riêng phải đợc chứng minh rõ ràng trên cơ sởchứng cứ thực tế
b Những quy định cụ thể của WTO về các loại trợ cấp và các biện pháp đối kháng áp dụng cho mỗi loại trợ cấp
Các quy định về trợ cấp của WTO trong Hiệp định này áp dụng đối với các sản phẩmphi nông nghiệp, bao gồm 3 loại trợ cấp: trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể đối kháng, và trợ cấpkhông thể đối kháng (hay còn gọi là trợ cấp có thể chấp nhận đợc)
Trợ cấp bị cấm: Trợ cấp này có thể đợc sử dụng để hỗ trợ cho một ngành sản
xuất non trẻ vơn lên chiếm lĩnh thị trờng hoặc vì các mục đích kinh tế khác Tuynhiên, có một số hình thức trợ cấp bị cấm trong WTO WTO đặc biệt cấm các thànhviên không đợc sử dụng các biện pháp trợ cấp gắn với thành tích xuất khẩu (trợ cấpxuất khẩu) cũng nh các trợ cấp gắn với việc u tiên sử dụng hàng nội địa hơn hàngnhập khẩu (tức là trợ cấp để sản xuất ra những sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu)
Trợ cấp có thể đối kháng: Điều 5 - Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối
kháng của WTO quy định những trờng hợp sau đây sẽ đợc coi là trợ cấp có thể đốikháng:
Trờng hợp trợ cấp đợc xác định rõ là đã gây ra phơng hại (tổn hại) cho nềncông nghiệp nội địa của một nớc hoặc vô hiệu hoá hoặc tớc đi mất lợi ích mà thông
Trang 16thờng nớc đó vẫn thu nhận đợc, đặc biệt là lợi ích thu đợc do chế độ nhân nhợng lẫnnhau về thuế quan.
Trờng hợp trợ cấp gây ra phơng hại (tổn hại) nghiêm trọng tới lợi ích của
n-ớc thứ ba là thành viên của WTO Quy định của WTO cũng chỉ ra rõ rằng, ph ơng hại(tổn hại) nghiêm trọng trong trờng hợp này có nghĩa là:
- Tổng trợ cấp tính theo giá trị của một sản phẩm vợt quá 5% trị giá của nó
- Trợ cấp để bù cho sự thua lỗ kéo dài trong hoạt động kinh doanh của mộtngành sản xuất
- Trợ cấp để bù cho các hoạt động kinh doanh thua lỗ của một doanh nghiệp,trừ khi đó là một biện pháp nhất thời mang tính chất một lần và không lặp lại vớidoanh nghiệp đó và đợc cấp chỉ thuần tuý để cho phép có thời gian tìm kiếm một giảipháp lâu dài và tránh phát sinh một vấn đề xã hội gay gắt
- Trực tiếp xoá nợ cho doanh nghiệp, ví dụ nh xoá một khoản nợ Nhà nớc haycấp kinh phí để thanh toán nợ
Các nớc thành viên của WTO sẽ không đợc áp dụng một trong các loại trợ cấp
đã nêu ở trên Nếu một thành viên của WTO chứng minh đợc rằng một nớc thànhviên khác đang áp dụng hay duy trì một khoản trợ cấp dẫn đến thiệt hại, làm vô hiệuhoá, suy giảm hay gây phơng hại nghiêm trọng một ngành sản xuất của mình thìthành viên này có quyền khiếu nại lên cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO Nếucơ quan này xác định điều khiếu nại trên là đúng thì thành viên đang thực hành hayduy trì trợ cấp phải rút bỏ ngay trợ cấp đó hoặc phải có những biện pháp thích hợp đểloại bỏ tác động có hại từ việc trợ cấp đó gây ra cho các thành viên khác Nếu không,cơ quan giải quyết tranh chấp cho phép bên khiếu nại có quyền thực hiện biện pháp
đối kháng Thuế đối kháng phải đợc đánh với mức thuế phù hợp với từng trờng hợp
và trên cơ sở không phân biệt đối xử
Trợ cấp không thể đối kháng (trợ cấp có thể chấp nhận đợc): Đây là loại trợ cấp
không phải là trợ cấp riêng (quy định ở phần trên) hoặc cũng có thể là trợ cấp riêngnhng liên quan tới các vấn đề sau:
- Hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu nh: chi phí nhân sự, chi phí công cụ,thiết bị, đất đai nhà cửa sử dụng cho hoạt động nghiên cứu; chi phí t vấn và dịch vụhoàn toàn cho hoạt động nghiên cứu; chi phí bổ sung phụ trội phát sinh trực tiếp từhoạt động nghiên cứu; các chi phí điều hành khác phát sinh trực tiếp từ hoạt độngnghiên cứu
- Trợ giúp cho các vùng khó khăn trên lãnh thổ của một nớc thành viên Vùngkhó khăn đó phải đợc xác định ranh giới một cách rõ ràng về địa lý với những đặc
điểm kinh tế và hành chính nhất định Vùng đó đợc coi là vùng khó khăn trên cơ sởnhững tiêu thức vô t và khách quan, nêu rõ ràng những khó khăn của vùng đó phátsinh từ những nhân tố không mang tính nhất thời; các tiêu thức đó phải đợc nêu rõ
Trang 17trong luật, quy chế hay những văn bản chính thức khác để có thể cho phép kiểm tra
đợc
- Hỗ trợ nhằm xúc tiến nâng cấp những phơng tiện hạ tầng hiện có cho phù hợpvới yêu cầu mới về môi trờng Tuy nhiên, sự hỗ trợ đó chỉ là biện pháp nhất thờikhông kéo dài, có giới hạn không quá 20% chi phí nâng cấp, và không bao gồm chiphí thay thế hay vận hành những khoản đầu t đã đợc hỗ trợ Khoản hỗ trợ này cũng
có thể đợc cấp cho mọi doanh nghiệp ứng dụng thiết bị mới hay quy trình sản xuấtmới Tuy nhiên, nếu một nớc thành viên nào đó trong WTO có lý do để chứng minh
đợc rằng, trợ cấp loại này đã dẫn tới những tác hại nghiêm trọng cho ngành sản xuấttrong nớc của nớc thành viên đó thì họ có thể khiếu nại lên Uỷ ban về Trợ Cấp vàCác biện pháp đối kháng của WTO Nếu Uỷ ban này xác định điều khiếu nại trên là
đúng thì có thể khuyến nghị với nớc đang áp dụng trợ cấp điều chỉnh chơng trình trợcấp sao cho triệt tiêu đợc tác động xấu của nó tới các thành viên khác Uỷ ban phải
có kết luận trong vòng 120 ngày kể từ ngày vấn đề đợc đa ra trớc Uỷ ban Trong ờng hợp các khuyến nghị nói trên không đợc tuân thủ trong vòng 6 tháng, Uỷ ban sẽcho phép bên khiếu nại đợc áp dụng những biện pháp đối kháng tơng xứng với tínhchất và mức độ của tác động đã đợc xác định
tr-1.2.5 Quy định về các biện pháp chống bán phá giá và tự vệ
Việc ràng buộc thuế quan không đợc tăng và áp dụng chúng một cách bình
đẳng với mọi đối tác thơng mại (Quy chế tối huệ quốc-MFN) là một công cụ chủ yếu
để đảm bảo thơng mại toàn cầu đợc tiến hành thuận lợi Tuy nhiên, trong một số ờng hợp nhất định, WTO cho phép một nớc thành viên có thể không tuân thủ nguyêntắc này khi xảy ra hiên tợng bán phá giá
tr-a Chống bán phá giá
Bán phá giá xảy ra khi một công ty xuất khẩu một sản phẩm với giá thấp hơngiá thông thờng tại nớc sản xuất Không phải khi nào bán phá giá cũng tạo ra cạnhtranh không công bằng Khi hành động bán phá giá gây thiệt hại nghiêm trọng chomột ngành sản xuất của một thành viên, WTO cho phép thành viên đó đặt ra thuếchống bán phá giá để khắc phục những thiệt hại do việc này gây ra Tuy nhiên việc
áp dụng thuế chống bán phá giá phải tuân theo những thủ tục chặt chẽ và thờng rấtphức tạp
b Các biện pháp tự vệ
Khi một mặt hàng nhập khẩu nào đó tăng lên đột biến gây ra thiệt hại nghiêmtrọng cho một ngành sản xuất, WTO cho phép các thành viên bị thiệt hại có thể sửdụng các biện pháp tự vệ tạm thời kể cả hạn chế định lợng để khắc phục thiệt hại donhập khẩu gây ra
WTO quy định, một nớc chỉ có thể áp dụng các biện pháp tự vệ sau khi đã có
sự điều tra để xác định tổn hại nghiêm trọng của các nhà chức trách có thẩm quyền.Hiệp định về các biện pháp tự vệ cũng chỉ rõ:
Trang 18 “Tổn hại nghiêm trọng” đợc hiểu là sự suy giảm toàn diện đáng kể tới vị trícủa ngành công nghiệp nội địa.
“Đe doạ gây ra tổn hại nghiêm trọng” đợc hiểu là tổn hại nghiêm trọng rõràng sẽ xảy ra
Trong quá trình điều tra, việc xác định liệu một hàng hoá nhập khẩu có gây rahoặc đe doạ gây ra tổn hại nghiêm trọng cho sản xuất nội địa phải dựa trên cơ sởthực tế (chứ không chỉ là sự phỏng đoán, viện dẫn hay khả năng xa)
Việc áp dụng biện pháp tự vệ: WTO cho phép các nớc thành viên đợc áp dụng
các biện pháp tự vệ chỉ ở mức độ cần thiết để ngăn chặn hoặc khắc phục những tổnhại nghiêm trọng và tạo điều kiện thuận lợi điều chỉnh ngành công nghiệp có liênquan Nếu các nớc thành viên sử dụng biện pháp hạn chế số lợng thì không đợc giảmkhối lợng hàng nhập khẩu xuống thấp hơn mức nhập khẩu trung bình trong 3 nămgần đây trừ khi chứng minh đợc rõ ràng rằng mức hạn chế thấp hơn đó là cần thiết đểngăn cản hay khắc phục những thiệt hại rất nghiêm trọng đang diễn ra
Các thành viên sẽ chỉ áp dụng các biện pháp tự vệ trong khoảng thời gian cầnthiết để ngăn chặn hay khắc phục những tổn hại nghiêm trọng và tạo điều kiện điềuchỉnh Thời gian này không đợc vợt quá 4 năm Mặc dù vậy, WTO cũng nới rộngtrong trờng hợp đặc biệt cho phép thời hạn có thể kéo dài tới 8 năm tuỳ thuộc vào sự
đánh giá của các nhà chức trách có thẩm quyền, nếu việc kéo dài là cần thiết nhằmtiếp tục bảo vệ hay điều chỉnh những tổn thất
Tuy nhiên, trong những trờng hợp nghiêm trọng mà sự chậm trễ có thể gây rathiệt hại khó có thể khắc phục đợc, WTO cho phép một thành viên có thể áp dụngbiện pháp tự vệ tạm thời (cha cần có sự điều tra của WTO) dựa trên xác định sơ bộnhững chứng cứ rõ ràng chứng tỏ gia tăng nhập khẩu đã gây ra hoặc đe doạ gây ratổn hại nghiêm trọng Biện pháp tạm thời đợc áp dụng dới hình thức thuế quan, trongthời hạn dới 200 ngày Nếu nh sau đó kết quả điều tra của WTO cho thấy hàng nhậpkhẩu này không gây ra hoặc đe dọa gây ra những tổn hại nghiêm trọng đối với ngànhsản xuất nội địa thì nớc áp dụng tự vệ phải hoàn lại lợng thuế đã thu
1.2.6 Một số biện pháp phi thuế quan khác
Ngoài các biện pháp phi thuế quan chủ yếu nh đã trình bày ở trên, WTO cònquy định về một số biện pháp phi thuế sau:
a Quy định về trị giá tính thuế hải quan và các phụ thu tại cửa khẩu
WTO quy định trị giá tính thuế hải quan là trị giá giao dịch (trong giao dịch
đơn giản thông thờng là giá hợp đồng) Trong trờng hợp không áp dụng đợc trị giá giaodịch thì phải sử dụng các cách tính khác, nhng không đợc xác định trị giá tính thuế mộtcách tuỳ tiện, chẳng hạn sử dụng giá nhập khẩu tối thiểu để tính thuế
Ngoài ra hải quan chỉ đợc thu các khoản phí và lệ phí tơng ứng với chi phí cầnthiết cho thủ tục thông quan WTO không cho phép thu các khoản phí và phụ thu vìcác mục đích bảo hộ hay thu ngân sách
b Rào cản kỹ thuật trong thơng mại
Trang 19Theo Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thơng mại, các nớc thành viên WTOphải tuân thủ các yêu cầu sau:
- Các tiêu chuẩn hớng dẫn và khái niệm của các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế nhISO, CODEX, IEC phải đợc dùng làm căn cứ để thực hiện ở các quốc gia trừ khicác tiêu chuẩn quốc tế có liên quan hoặc một phần nào đó của các tiêu chuẩn này làcác cách thức không có hiệu quả hoặc không phù hợp cho việc thực hiện các mụctiêu hợp pháp đang đeo đuổi, ví dụ nh các yếu tố căn bản về khí hậu hoặc địa lý hoặccác vấn đề cơ bản về công nghệ
- Quá trình xây dựng và ban hành phải theo hình thức mà các tổ chức quốc tế
đã hớng dẫn
- Các thành viên sẽ tích cực xem xét để chấp nhận các quy định kỹ thuật tơngứng của các thành viên khác nếu nh các thành viên đó thấy rằng các quy định này
đáp ứng đầy đủ mục tiêu đặt ra các quy định của chính mình
- Việc xây dựng các quy định mới có khả năng cản trở thơng mại phải đợcthông báo kịp thời cho các nớc thành viên WTO
c Kiểm dịch động thực vật
Theo WTO, các nớc thành viên có quyền sử dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con ngời nhng chỉ đợc áp dụng ởmức độ cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ con ngời, động vật và thực vật và dựatrên các nguyên tắc khoa học và không đợc duy trì nếu thiếu căn cứ khoa học xác
-đáng
d Các doanh nghiệp thơng mại nhà nớc
Trong WTO, các doanh nghiệp đợc ban các đặc quyền thơng mại gọi là cácdoanh nghiệp thơng mại nhà nớc dù cho chúng thuộc sở hữu nhà nớc hay sở hữu tnhân Ví dụ về các doanh nghiệp này là những doanh nghiệp thuộc loại “đầu mối”nhập khẩu, hay là những doanh nghiệp đợc phép độc quyền trong phân phối hàngnhập khẩu, hoặc là những doanh nghiệp có khả năng tiếp cận tới các nguồn tài chínhhay ngoại tệ
WTO cho phép các thành viên duy trì doanh nghiệp thơng mại nhà nớc songphải cam kết các hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp này phù hợp vớicác nguyên tắc chung về đối xử không phân biệt với các doanh nghiệp khác và phảihoạt động hoàn toàn trên tiêu chí thơng mại
Trang 20CHơng 2
Thực trạng áp dụng các biện pháp
bảo hộ phi thuế quan của Việt Nam
trong tiến trình hội nhập
2.1 Quá trình áp dụng biện pháp bảo hộ phi thuế của Việt Nam từ năm
1986 tới nay
Năm 1986 đợc xem là mốc đánh dấu cho công cuộc đổi mới của Việt Nam, khởi đầu
là Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI; sau đó, Chính phủ đã ban hành hàng loạtchính sách nhằm thơng mại hoá nền kinh tế, trong đó Quyết định 217/ HĐBTngày14/11/1987 đã phản ánh rõ nhất bớc chuyển này: gắn sản xuất với thị trờng,thực hiện hạch toán kinh doanh, khẳng định tính thống nhất khách quan của toàn bộthị trờng xã hội Tuy vậy, thời kỳ 1986-1988, nền kinh tế về cơ bản vẫn nằm dới sựquản lý của cơ chế kế hoạch hoá tập trung Các xí nghiệp quốc doanh cha có đủnhững quyền chủ động cần thiết trong sản xuất kinh doanh, và trong hoạt động xuấtnhập khẩu chủ yếu vẫn dồn vào một số đầu mối là các công ty quốc doanh của Nhànớc
Năm 1989, các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu có những bớc chuyển biến thể hiện
rõ nét nhất thông qua việc sử dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế quan Hội nghị TW
6 (Khoá VI) năm 1989 đã thể hiện sự chuyển hớng cơ bản trong t duy mà theo đó thịtrờng cả nớc đợc coi là một thể thống nhất, các quan hệ thị trờng đều đợc tính đếnkhi đề ra các chính sách kinh tế
Tiếp theo đó, để cụ thể hoá quan điểm này hàng loạt các văn bản của chính phủ đã
ra đời, trong đó Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII thực sự đã tạo ra một bớc ngoặttrong chính sách quản lý nhà nớc và sự ra đời của Bộ luật Doanh nghiệp đã khẳng
định tính chất pháp lý của nền kinh tế thị trờng dựa trên sự đa dạng của các hình thức
sở hữu
Từ năm 1996 tới nay, các chơng trình kinh tế trọng điểm đợc xác định là: chơngtrình phát triển công nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng, chơng trình phát triển khoa họccông nghệ, bảo vệ môi trờng sinh thái, chơng trình phát triển kinh tế dịch vụ, chơngtrình phát triển kinh tế đối ngoại, chơng trình phát triển các vùng lãnh thổ, chơngtrình phát triển kinh tế xã hội miền núi, chơng trình quốc gia xoá đói giảm nghèo vàchơng trình giải quyết các vấn đề xã hội Những chơng trình kinh tế trọng điểm này
đợc Nhà nớc đặt ra nhằm mục tiêu thúc đẩy nền kinh tế nội địa, đa nớc ta theo kịp vàsánh ngang với các nớc trong khu vực và trên thế giới Sự nỗ lực và quyết tâm của
Đảng và Nhà nớc ta đã đợc đền đáp xứng đáng khi nớc ta liên tiếp gia nhập và các tổchức kinh tế quốc tế và khu vực nh: ASEAN, ASEM, APEC Hiện nay, sau những nỗlực đàm phán, Việt Nam đang dần dần từng bớc hoàn tất thủ tục để sẵn sàng trởthành thành viên chính thức của WTO trong năm nay (2006), sau 11 năm là quansát viên của tổ chức này (1995)
Trang 21Trong chiến lợc “phát triển kinh tế nhiều thành phần theo kinh tế thị trờng có sựquản lý của nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa” chúng ta luôn đặt mục tiêucông nghiệp hóa, hiện đại hoá là mục tiêu hàng đầu Trong đó, mục tiêu quan trọngnhất trong quan điểm công nghiệp hoá vẫn là kết hợp xuất khẩu với sản xuất nhữngmặt hàng trong nớc có u thế Nói cách khác, Việt Nam đang hớng đến một nền kinh
tế mở cửa, hớng vào xuất khẩu nhằm khai thác một cách tối u những lợi thế của đấtnớc Đó cũng là quan điểm chủ đạo của chính sách thơng mại của Việt Nam trongnhững năm tới Điều này khiến cho vấn đề bảo hộ sản xuất trong nớc bằng các biệnpháp phi thuế quan có những thay đổi rõ nét trong ba giai đoạn: giai đoạn 1986-
1990, giai đoạn 1991-1995, giai đoạn 1996 tới nay, của quá trình đổi mới cơ chếquản lý kinh tế
Để phục vụ mục tiêu đặt ra, Chính phủ đã tiến hành những cải cách mạnh mẽ trongchính sách quản lý xuất nhập khẩu bằng các biện pháp phi thuế quan Bớc đi đầu tiên
là việc bãi bỏ hạn ngạch đối với 81 mặt hàng nhập khẩu Từ ngày 1/3/1989, số mặthàng phải chịu hạn ngạch nhập khẩu giảm từ 14 xuống còn 12 (xe vận tải, xi măng,hàng điện tử và phụ kiện, hàng dệt, xe đạp, quạt điện, bia và đồ giải khát, thuốc lá,
mỹ phẩm và quần áo may sẵn), số mặt hàng phải chịu hạn ngạch xuất khẩu cũnggiảm từ 10 xuống 7 (lơng thực, cà phê, cao su, lạc, cùi và dầu dừa, gỗ và gỗ tròn, kimloại và sắt thép phế liệu) Gắn với hạn ngạch là việc áp dụng rộng rãi chế độ cấp giấyphép đối với hàng xuất khẩu (gạo và hàng dệt may) sang EU và hàng nhập khẩu (ôtô) Khi đợc phân bổ, các giấy phép không đợc chuyển nhợng giữa những ngời cógiấy phép Việc cấp phép trên cơ sở ai đến trớc phục vụ trớc Thời gian sau, giấyphép xuất nhập khẩu đợc phép chuyển nhợng giữa các doanh nghiệp Điều này phầnnào gây ra tình trạng tiêu cực khi phân bổ giấy phép xuất khẩu Bộ Thơng mại và Dulịch chỉ cấp giấy phép cho các giao dịch thơng mại còn giấy phép cho những giaodịch phi mậu dịch do cơ quan Hải quan cấp, buôn bán tiểu ngạch qua biên giớikhông cần có giấy phép Trớc năm 1986, các công ty thực hiện hoạt động xuất nhậpkhẩu chỉ làm nhiệm vụ xuất nhập khẩu cho các bộ chủ quản Trong giai đoạn 1988-
1990, các công ty này mặc dù vẫn thuộc các bộ nói trên về mặt tài sản và nhân sự,nhng nó đã đợc tự chủ khi tiến hành các hoạt động kinh doanh với bất kỳ một đơn vịkinh tế nào khác
Trang 22Trong lĩnh vực quản lý ngoại hối, những năm đầu đổi mới, ngoại hối bị quản lý đặcbiệt chặt chẽ Nghị định số 161-HĐBT ngày 18/10/1988 ra đời đã đa ra những quy
định cụ thể về vấn đề này, theo đó: việc mua bán, trao đổi ngoại tệ trên thị trờng tự
do bị nghiêm cấm, hoạt động này phải đợc tiến hành thông qua ngân hàng hoặc các
tổ chức kinh doanh thu ngoại tệ; việc chuyển ngoại tệ ra nớc ngoài phải có giấy phépcủa Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam và các tổ chức, công dân Việt Nam khi xuất khẩuhàng hoá, dịch vụ có thu ngoại tệ đều phải gửi vào tài khoản tại ngân hàng, phải thựchiện nghĩa vụ bán và thanh toán ngoại tệ cho Nhà nớc theo quy định; mọi hoạt độngthanh toán, mua bán và chuyển đổi ngoại tệ đợc áp dụng theo tỷ giá do Ngân hàngNhà nớc Việt Nam công bố
Tuy nhiên một số chuyển biến tích cực trong chính sách quản lý xuất nhập khẩubằng các biện pháp phi thuế quan giai đoạn này cùng với chủ trơng của Nhà nớc vềviệc mở rộng quan hệ thơng mại với các nớc đã góp phần vào sự tăng trởng có tính
đột phá trong lĩnh vực xuất nhập khẩu Năm 1989, lần đầu tiên Việt Nam đã xuấtkhẩu gạo, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ 789 (triệu R-USD) năm 1986 lên 2402,2(triệu R-USD) năm 1990, tơng ứng với 304,46% Tỷ lệ nhập siêu năm 1986 là180,01% đã giảm xuống chỉ còn 1,45% năm 1990.[13,27]
Năm 1988, có 28 doanh nghiệp nhà nớc giữ vai trò độc quyền trong hoạt độngngoại thơng Những doanh nghiệp này chiếm đến 92% tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu và 82% tổng kim ngạch xuất khẩu [13, tr 3-22]
Thời kỳ trớc 1989 là thời kỳ tồn tại chế độ nhà nớc độc quyền ngoại thơng với vị trí
độc tôn của các doanh nghiệp nhà nớc
Chế độ nhà nớc độc quyền ngoại thơng thể hiện ở chỗ nhà nớc trực tiếp điều chỉnh sốlợng, loại hàng, giá cả trong ngành ngoại thơng Nh các ngành khác trong nền kinh
tế quốc dân, ở thời kỳ này, trong cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp, ngànhngoại thơng phát triển có kế hoạch về mọi mặt: số lợng, giá cả, mặt hàng, bạn hàng
Do Việt Nam thực hiện chế độ “Nhà nớc độc quyền ngoại thơng” trong lĩnh vực kinhdoanh xuất nhập khẩu nên chỉ có các doanh nghiệp nhà nớc mới đợc quyền tiến hànhcác hoạt động liên quan tới ngoại thơng
Nh vậy, chế độ nhà nớc độc quyền ngoại thơng và vị trí độc tôn của các doanhnghiệp nhà nớc thời kỳ trớc năm 1989 chính là rào cản lớn nhất đối với hoạt độngxuất nhập khẩu tại Việt Nam Tự do hóa thơng mại mới chỉ đợc thực hiện một phần.2.1.2 Giai đoạn 1991-1995
Năm 1991, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII tiếp tục đa ra các chơngtrình hành động nhằm điều chỉnh cơ cấu kinh tế, giữ vững định hớng công nghiệphoá, hiện đại hoá trong quá trình đổi mới Do đó, khoảng thời gian này là sự tiếp tụccủa thời kỳ 1986-1990; trong quá trình đổi mới hoạt động quản lý xuất nhập khẩubằng các biện pháp phi thuế ở Việt Nam nhng với mức độ cao hơn
Trong giai đoạn này, những đổi mới về các biện pháp bảo hộ phi thuế đợc sử dụng làgiảm tối đa các mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu đợc quản lý bằng hạn ngạch, tăng
Trang 23các mặt hàng cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, thực hiện chế độ quản lý xuất nhậpkhẩu theo định lợng Việc cấp hạn ngạch và giấy phép xuất nhập khẩu hàng hoá đợcthực hiện theo Quyết định Số 725/TN-XNK ngày 28/9/1990 của Bộ trởng bộ Thơngnghiệp.
Ngày 20/5/1991, Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) có Quyết định Số 166/CT vềdanh mục và số lợng hàng hoá xuất nhập khẩu đợc quản lý bằng hạn ngạch cho năm
1991 Hàng xuất khẩu gồm 4 mặt hàng là gạo, cao su thiên nhiên, cà phê và gỗ xẻ
Đối với hàng nhập khẩu có 4 loại là linh kiện điện tử các loại dạng CKD, nguyên liệuphụ liệu sản xuất thuốc lá điếu, vải các loại, rợu bia Những năm sau đó, hạn ngạchxuất nhập khẩu đợc điều chỉnh tuỳ điều kiện kinh doanh trong nớc và thế giới
Từ năm 1992, chính sách đa phơng hoá, đa dạng hoá của Việt Nam từng bớc đợc đẩymạnh Trong giai đoạn này, nhà nớc đã cho phép thành lập các doanh nghiệp xuấtnhập khẩu ngoài quốc doanh, việc cấp giấy phép kinh doanh cũng trở nên rộng rãihơn Năm 1992, Việt Nam ký Hiệp định thơng mại u đãi với cộng đồng kinh tế châu
Âu(EEC) nay là Liên minh Châu Âu (EU) bao gồm có việc cấp hạn ngạch xuất khẩucho hàng dệt may
Ngày 9/4/1992 Bộ Thơng mại và Du lịch ban hành danh mục hàng cấm xuất khẩu vàcấm nhập khẩu theo Quyết định Số 294/TMDL/XNK, hớng dẫn thực hiện Nghị định
Số 114/HĐBT Danh mục này tiếp tục đợc thực hiện trong năm 1994 Đến ngày19/4/1994 Nghị định 33/CP của Chính phủ ra đời và sau đó là Thông t Số 04 TM/TC/TCHQ của Tổng cục hải quan hớng dẫn thực hiện quy định việc bãi bỏ giấy phépchuyến với các mặt hàng xuất khẩu (trừ những mặt hàng trong danh mục hàng cấmxuất khẩu) hàng quản lý bằng hạn ngạch, hàng hoá có ảnh hởng lớn tới nền kinh tếquốc dân và mặt hàng đợc quản lý theo cơ quan chuyên ngành
Bên cạnh đó, từ năm 1990, Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh về tiêu chuẩn hàng hoá
và sau đó có rất nhiều tiêu chuẩn khác nhau đợc ban hành Việt Nam cũng đã tiếnhành hệ thống hoá, quy chuẩn hoá theo tổ chức chất lợng quốc tế (ISO) Ngoài ra,hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam cũng phải chịu sự kiểm dịch động vật, thực vậttheo Quy chế ban hành ngày 27/11/1993 Theo quy chế này, mọi phơng tiện vận tải,vật phẩm có nguồn gốc thực phẩm và tác nhân sinh học có thể gây hại sinh thái khinhập vào lãnh thổ Việt Nam đều phải qua kiểm dịch Việc ban hành các quy chế vềtiêu chuẩn kỹ thuật và kiểm dịch là những biện pháp cần thiết và chứng tỏ Việt Nam
đang tiến đến đáp ứng các đòi hỏi của thông lệ quốc tế Vào năm 1993, hệ thống cấpphép thực hiện cấp phép 6 tháng một lần cho 22 mặt hàng xuất khẩu và đến năm
1994, giấy phép theo chuyến đã đợc dỡ bỏ đối với mọi mặt hàng xuất khẩu trừ gạo,
gỗ xẻ và xăng dầu
Cũng trong giai đoạn này, chủng loại hàng hoá đợc quản lý bằng hạn ngạch đã giảmxuống Tháng 1/1994, có hai mặt hàng mới đợc bổ sung vào những mặt hàng mà nớcngoài có áp dụng hạn ngạch (may mặc, dệt may, sắn lát, cà phê) là than và dầu thô.Trong năm 1995, hạn ngạch xuất khẩu đã đợc loại bỏ đối với mọi loại hàng hoá trừ
Trang 24gạo Hiện nay chúng ta chỉ áp dụng hạn ngạch xuất khẩu đối với hàng dệt may (đây
là loại hạn ngạch do phía nớc ngoài quy định) Đối với hạn ngạch nhập khẩu, vềdanh nghĩa, Việt Nam đã bỏ không sử dụng biện pháp này từ năm 1994 Tuy nhiênvới những mặt hàng có liên quan đáng kể tới sự cân đối của nền kinh tế quốc dân vàmột số hàng tiêu dùng Việt Nam vẫn có những quy định về số l ợng hoặc giá trị đợcnhập khẩu hàng năm Về thực chất, đây là các “hạn ngạch mềm” và việc loại bỏnhững hạn chế định lợng này là điều cần thiết trong tiến trình hội nhập của ViệtNam
Những bớc chuyển trong chính sách quản lý xuất nhập khẩu bằng các biệnpháp phi thuế quan đã góp phần tạo ra mức tăng trởng cao trong cả xuất khẩu vànhập khẩu Tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm năm đã tăng 253,94% từ 2087,1triệu USD lên 5300 triệu USD, nhập khẩu tăng từ 2338,1 triệu USD lên 7500 triệuUSD tơng ứng với 320,77% Năm 1995 có tới 7 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu vợt
qua 100 triệu USD (Nguồn: www.mot.gov.vn , bài Tổng kết tình hình kinh tế Việt“
nam sau 10 năm đổi mới 1986-1995”).
2.1.3 Giai đoạn từ năm 1996 tới nay
Năm 1995 đánh dấu mốc thành công của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tếkhu vực và thế giới Trong thời kỳ này, Việt Nam có những bớc hội nhập quốc tếquan trọng nh ra nhập ASEAN (1995), bình thờng hóa quan hệ với Mỹ và trở thànhquan sát viên của WTO (1995) Tiếp đó, chúng ta gia nhập tổ chức ASEM (1996),APEC (1998) và kí kết Hiệp định thơng mại song phơng Việt – Mỹ(2000) Những
sự kiện này đã tác động rất lớn đến chính sách quản lý xuất nhập khẩu bằng các biệnpháp phi thuế quan của Việt Nam
Mục tiêu cho lĩnh vực xuất nhập khẩu của giai đoạn này đợc thể hiện rõ trong Chơngtrình kinh tế đối ngoại do Đại hội Đảng VIII đề ra: phát triển mạnh hoạt động xuấtkhẩu (tăng trởng khoảng 28%/năm) trong đó tăng nhanh tỷ trọng hàng xuất khẩu đãqua chế biến; hoạt động nhập khẩu chủ yếu tập trung vào nhập khẩu nguyên liệu, vậtliệu, các thiết bị công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá, từng bớcthay thế những mặt hàng trong nớc sản xuất có hiệu quả [ 2, 3]
Nhìn chung, xét về mặt tự do hoá thơng mại, sự chuyển biến của chính sách bảo hộsản xuất trong nớc bằng các biện pháp phi thuế quan giai đoạn này mang nhiều tínhtích cực Chuyển biến tích cực đầu tiên là sự sửa đổi cơ bản cơ chế quản lý bằng giấyphép xuất nhập khẩu theo Nghị định 89/CP của Chính phủ ban hành ngày15/12/1995 Theo tinh thần của Nghị định này, quy định về giấy phép nhập khẩu vàxuất khẩu cho từng chuyến hàng sẽ đợc bãi bỏ Đến năm 1996, chỉ còn 6 mặt hàng bịquản lý nhập khẩu (xăng dầu, phân bón, xi măng, đờng, ô tô xe máy và sắt thép xâydựng), giảm 1 mặt hàng so với năm 1995 Năm 1997, chuyển biến có cả tích cực vàtiêu cực do việc cấp hạn ngạch xuất khẩu gạo đợc giao cho ủy ban nhân dân tỉnh vàcác cơ quan dới sự quản lý của Trung ơng Động thái này đã mở đờng cho việc xuấtkhẩu gạo trực tiếp của khu vực ngoài quốc doanh Tuy nhiên, để đạt đợc cân đối
Trang 25quốc gia, Nhà nớc quy định tăng số hàng quản lý bằng hạn ngạch nhập khẩu, quy
định dán tem một số hàng nhập khẩu khi tiêu thụ trên thị trờng nội địa theo Quyết
định Số 839 TC/QĐ/TCT có tác dụng từ ngày 15/10/1997 Tháng 3/1998, số hàngnhập khẩu phải dán tem đợc mở rộng thêm, theo đó những mặt hàng chịu sự quản lýcủa biện pháp này là xe đạp, rợu, quạt điện, vô tuyến, điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh, đầumáy video và thiết bị vệ sinh
Cũng trong năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định Số 57/1998/NĐ-CP ngày31/7/1998 quy định chi tiết thi hành Luật Thơng mại về hoạt động xuất khẩu, nhậpkhẩu, gia công và đại lý mua bán với nớc ngoài Theo Nghị định này, tất cả cácdoanh nghiệp đợc tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu trong phạm vi giấy phépkinh doanh mà không cần phải có giấy phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu Bộ luật này
đợc đánh giá là khá thông thoáng, là căn cứ cho các doanh nghiệp chủ động tham giavào các hoạt động xuất nhập khẩu
Ngày 30/12/1999, Thủ tớng Chính phủ ban hành Quyết định Số 242/1999/QĐ-TTg
về điều hành xuất nhập khẩu hàng hoá năm 2000, theo đó Danh mục hàng hoá nhậpkhẩu có giấy phép của Bộ Thơng mại có một số thay đổi Các mặt hàng: xăng dầu,phân bón và rợu đã đợc đa ra khỏi danh mục, thay vào đó là hai mặt hàng gạch lát vàdầu thực vật tinh chế dạng lỏng Ngày 1/1/1999, Luật Thuế giá trị gia tăng có hiệulực thi hành, với những quy định miễn thuế cho các sản phẩm đầu vào nhập khẩu đểsản xuất hàng xuất khẩu, Luật thuế này có thể đợc coi là một biện pháp phi thuế cótác dụng khuyến khích xuất khẩu Cùng thời điểm, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt cũng
có hiệu lực và đợc xem là một biện pháp bảo hộ do có quy định những mức thuếkhác nhau đối với các sản phẩm thuốc lá nhập khẩu và có nguồn cung cấp nội địa vàmiễn thuế cho nhà sản xuất trong nớc nếu công ty làm ăn thua lỗ
Trong lĩnh vực quản lý ngoại hối, từ năm 1997, tỷ giá chính thức liên tục đợc điềuchỉnh theo hớng hạ thấp giá trị Đồng Việt Nam cho gần giá trị thực của nó Năm
1998, Nghị định 63/1998/NĐ-CP ra đời tiếp tục khẳng định việc Chính phủ thốngnhất quản lý nhà nớc về ngoại hối và hoạt động ngoại hối, cho phép các tổ chức kinh
tế có thể tự do sử dụng các nguồn thu ngoại tệ hợp pháp vào nhiều mục đích khácnhau Tuy nhiên, để tăng tính thanh khoản của thị trờng ngoại hối và hạn chế đầu cơchống lại sự mất giá của Đồng Việt Nam, Chính phủ đã ra quy định các công ty phảibán lại ngay 80% số ngoại tệ cho ngân hàng Kể từ ngày 26/2/1999, thay bằng việccông bố tỷ giá chính thức, Ngân hàng nhà nớc công bố tỷ giá giao dịch trên thị trờngliên ngân hàng Đây là một bớc đổi mới cơ bản về điều hành tỷ giá từ quản lý có tínhchất hành chính sang theo hớng thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc Nhờ một phầnvào những nỗ lực cải cách các biện pháp bảo hộ phi thuế quan, đến năm 2000 tổngkim ngạch xuất khẩu đã đạt 14,45 tỷ USD, nhập khẩu đạt 15,64 tỷ USD, con số nàytăng rất nhiều so với năm 1995 là 5,3 tỷ USD và 7,5 tỷ USD Tỷ trọng xuất khẩu sản
Trang 26phẩm chế biến tăng lên đạt 40% năm 2000 và có 4 mặt hàng có giá trị xuất khẩu trên
1 tỷ USD (Nguồn: Niên giám Thống kê năm 1996 và năm 2000).
2.2 Hệ thống biện pháp phi thuế quan của Việt Nam hiện nay
2.2.1 Mục tiêu của việc áp dụng hệ thống biện pháp bảo hộ phi thuế quan củaViệt nam trong điều kiện hội nhập
Trong hoàn cảnh, nền kinh tế đang trong quá trình điều chỉnh vĩ mô để đạt tớimục tiêu tăng trởng bền vững, đã có khá nhiều giải pháp, chính sách đợc áp dụng Tuy nhiên, những biện pháp này thờng bị thay đổi Các biện pháp phi thuế quantrong chính sách quản lý xuất nhập khẩu của Việt Nam hiện nay mặc dù đã đợc cảicách khá nhiều nhng cũng không là ngoại lệ và rất khó có thể mô tả một cách đầy đủchi tiết về hệ thống các biện pháp này Vì lẽ đó, việc trình bày các biện pháp phi thuếquan đang đợc sử dụng ở Việt Nam đợc tóm lợc dới dạng bảng (Bảng 2.1) với mục
đích cung cấp những thông tin cơ bản về lĩnh vực áp dụng cũng nh những điều liênquan và mục tiêu của mỗi biện pháp
Bảng 2.1 : Các biện pháp phi thuế quan đang đợc áp dụng ở Việt Nam
Xăng dầu Bình ổn giá và đảm bảo
việc cung cấp cho ngời tiêudùng trong nớc
Tiết kiệm ngoại tệ
ấn và điện ảnh, các thiết
điếu và một số hàngkhác
Bảo vệ nguồn thu
Bảo hộ các ngành côngnghiệp nội địa
5 Hàng cấm Vũ khí, đồ cổ, ma
tuý, hoá chất độc, vănhoá phẩm đồi trụy,pháo, thuốc lá điếu,
Bảo vệ các giá trị văn hoá, xã hội, sức khoẻ nhân dân và môi trờng,
Đảm bảo các tiêu chuẩn
Trang 27hàng tiêu dùng đã qua
sử dụng, phụ tùng ô tô
đã qua sử dụng, máy vàphần mềm bảo vệ bí mậtquốc gia
kỹ thuật,
Bảo vệ ngành SX trongnớc
số lợng nhập khẩu
Phân phối lợi tô phát sinh
từ hạn chế về số lợng nhậpkhẩu,
Bảo hộ các doanh nghiệp
ốp lát và thiết bị vệ sinh,gơng kính, động cơ máy
Nguồn thu
Bình ổn giá
Hớng dẫn tiêu dùng
Bảo hộ ngành côngnghiệp trong nớc (thông quacác miễn trừ và đối xử đặcbiệt)
đợc ở Việt Nam
Giảm trừ mức thuếVAT với đờng sản xuấttrong nớc
Khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu
Bảo hộ ngành sản xuấttrong nớc
chậm)
Cho một số mặt hàngnhất định
Quản lý nợ nớc ngoàingắn hạn
Bảo hộ ngành công nghiệp trong nớc
Mối lo về cán cân thanhtoán
Trang 28 Phụ thu hải
quan
Nhập khẩu một sốloại giấy, gạch ốp lát,kính, thép, clinker
Giải pháp đặc biệt nhằm lấp "chỗ trống" trong bảo hộ
Tăng nguồn thu, đónggóp vào quỹ bình ổn giá
14
phân bổ ngoại tệ
Hạn chế việc tiếp cận ngoại tệ đối với nhập khẩu hàng tiêu dùng
Giới hạn ngoại tệ mang
ra ngoài biên giới
15
Các yêu cầu
về bán ngoại tệ
cho ngân hàng
Để mở Tính thanh khoản của
thị trờng ngoại hối
Hạn chế đầu cơ nhằmchống lại sự mất giá của
Trang 292.2.2 Các biện pháp bảo hộ phi thuế quan cụ thể
a Cấm xuất nhập khẩu
Quyết định số 46/2001/QĐ - TTg ngày 04/4/2001 của Thủ tớng Chính phủ về điềuhành xuất nhập khẩu cho cả thời kỳ 2001 - 2005, cấm xuất, nhập khẩu những mặthàng sau:
- Những mặt hàng cấm xuất khẩu: Vũ khí, đạn dợc, vật liệu nổ, trang thiết bị, đồ cổ,các loại ma tuý, hoá chất độc, gỗ tròn, gỗ xẻ, củi, than từ gỗ hoặc củi các sản phẩmlàm từ gỗ rừng tự nhiên trong nớc, động vật hoang dã và động thực vật quý hiếm; cácloại máy mã chuyên dụng và các chơng trình phần mềm mật mã sử dụng trong phạm
vi bảo vệ bí mật Nhà nớc
- Những mặt hàng cấm nhập khẩu: Vũ khí, đạn dợc, vật liệu nổ, trang thiết bị quânsự; Các loại ma tuý, hoá chất độc; Các loại văn hoá phẩm đồi truỵ, phản động; Pháocác loại, đồ chơi trẻ em có ảnh hởng xấu đến giáo dục nân cách, đến trật tự, an toànxã hội; Thuốc lá điều, xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác (trừ hành lý cánhân theo đinh lợng); Hàng tiêu dùng đã qua sử dụng; Phơng tiện vận tải tay láinghịch, trừ các phơng tiện tự hàng chuyên dùng, vật t, phơng tiện đã qua sử dụng;Sản phẩm vật liệu có chứa amiăng thuộc nhóm amphibole; Các loại máy đã chuyêndụng và các phơng trình phần mềm mật mã sử dụng trong phạm vi bảo vệ bí nhậtNhà nớc
b Các biện pháp hạn chế số lợng nhập khẩu (bao gồm hạn ngạch và giấy phép nhập khẩu)
Quyết định Số 46/2001/QĐ - TTg ngày 04/4/2001 của Thủ tớng Chính phủ về điềuhành xuất nhập khẩu cho cả thời kỳ 2001 - 2005, đa ra danh mục hàng hoá nhậpkhẩu theo giấy phép của Bộ Thơng mại nh sau:
- Hàng cần kiểm tra nhập khẩu theo quy định của điều ớc quốc tế mà Việt Nam kýkết hoặc tham gia cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật vị nghiên cứu, trao đổi khoa học kỹ
thuật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý).
- Chất gây nhiễm: Chất hớng tâm thần và tiền chất; Thuốc hành phẩm phòng và chữabệnh cho ngời: nguyên liệu sản xuất thuốc, dợc liệu, tá dợc, vỏ nang thuốc, bao bìtiếp xúc trực tiếp với thuốc; Mỹ phẩm ảnh hởng trực tiếp đến sức khoẻ con ngời;Vắc xin, sinh phẩm miễn dịch; Thiết bị y tế có khả năng gây ảnh hởng trực tiếp đếnsức khoẻ con ngời; Hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh
vực gia dụng và y tế (Bộ Y tế quản lý).
- Tem bu chính, ấn phẩm tem và các mặt hàng tem bu chính; thiết bị phát, thu - phátsóng vô tuyến điện; thiết bị ra đa, thiết bị trợ giúp bằng sóng vô tuyến và thiết bị điềukhiển xa bằng sóng vô tuyến, tổng đài dung lợng lớn và nhỏ, thiết bị truy nhập mạng
sử dụng giao điện V5.1 và V5.2; tổng đài PABX; thiết bị truyền dẫn; Cáp sợi quang;cáp thông tin kim loại ; thiết bị điện thoại không dây; thiết bị đầu cuối kết nối vàomạng PSTN, ISDN, máy Telex, máy fax, máy nhắn tín, máy điện thoại di động
(Tổng cục Bu Điện, nay là Bộ Bu chính - Viễn thông quản lý).
Trang 30- Sách báo, phim điện ảnh, phim video, vật thể ghi hình, ghi tiếng, các văn hoá phẩmthuộc loại cấm phổ biến, lu hành, các loại ẩn phẩm tác phẩm điện ảnh, tác phẩmnghệ thuật, hệ thống chế bản và sắp chữ chuyên dùng cho ngành in, máy in, máy in
gia nhiệt, máy in laser màu.v.v (Bộ Văn hoá - Thông tin quản lý).
- Thiết bị, máy móc chuyên ngành ngân hàng (Ngân hàng Nhà nớc quản lý).
- Một số chủng loại khoáng sản, hoá chất độc hại, Natri Hyđroxyl dạng lỏng và một
số axit (Bộ Công nghiệp quản lý).
Trên thực tế, chức năng điều tiết và quyền quản lý các mặt hàng nhập khẩu đợc phânchia giữa các Bộ vẫn không rõ ràng Do đó, một Bộ chủ quản có thể quản lý vợtngoài khuôn khổ của những mục tiêu cơ bản ban đầu của sự điều tiết Chẳng hạn, Bộ
Y tế công bố việc nhập khẩu một số dợc phẩm sẽ bị cấm do khả năng sản xuất trongnớc đạt đợc mức độ đủ để đáp ứng nhu cầu Nh vậy, Bộ Y tế dờng nh có cả mục tiêu
về y tế lẫn mục tiêu bảo hộ
c Các biện pháp quản lý về giá
Trị giá tính thuế hải quan
Hiện tại, Hải quan Việt Nam thực hiện việc xác định giá tính thuế theo hai nhómhàng: nhóm hàng theo Bảng giá tối thiểu và nhóm hàng theo giá hợp đồng Bảng giátối thiểu gồm hai loại sau:
+ Thứ nhất, Bảng giá tối thiểu của Bộ Tài chính: áp dụng cho các mặt hàng Nhà nớc
quản lý giá Để làm cơ sở cho việc hạn chế gian lận trong khai báo trị giá tính thuế
đối với các mặt hàng do Nhà nớc quản lý giá, Chính phủ giao cho Bộ Tài Chính cùngvới Bộ Thơng mại xây dựng Bảng giá tối thiểu để xác định trị giá tính thuế nhậpkhẩu Giá tính thuế trong trờng hợp này là giá theo Bảng giá của Bộ Tài chính quy
định Trờng hợp giá trên hợp đồng mua, bán ngoại thơng cao hơn giá quy định tạiBảng giá của Bộ Tài chính thì tính theo giá hợp đồng
Số nhóm mặt hàng Nhà nớc quản lý giá tính thuế đã giảm từ 34 (năm 1996) xuống
21 (năm 1997), 15 (năm 1998) và đến năm 2000 chỉ còn 7 nhóm Nhiều mặt hàng
đ-ợc sản xuất bởi các ngành công nghiệp trong nớc có sức cạnh tranh thấp và đang gặpkhó khăn đã đợc đa vào Danh mục các nhóm mặt hàng Nhà nớc quản lý giá tínhthuế
+ Thứ hai, Bảng giá tối thiểu của Tổng cục Hải quan: Do ngành Hải quan cha có đủ
điều kiện xác định chính xác trị giá thực tế để tính thuế nhập khẩu, Tổng cục Hảiquan cũng ban hành quy định về Bảng giá tính thuế tối thiểu bao gồm những mặthàng nằm ngoài các nhóm mặt hàng trên
Bảng giá mua tối thiểu đối với những mặt hàng nhập khẩu không thuộc danh mụcmặt hàng Nhà nớc quản lý giá tính thuế đợc sử dụng để áp giá tính thuế nhập khẩutrong các trờng hợp sau:
1) Hàng nhập khẩu theo phơng thức không phải là mua bán hoặc không có hợp đồngmua bán ngoại thơng hợp lệ
Trang 312) Hàng nhập khẩu theo hợp đồng mua bán ngoại thơng hợp lệ hoặc hợp đồng hợp lệnhng giá ghi trên hợp đồng thấp hơn 70% giá tối thiểu quy định tại bảng giá tối thiểu
do Tổng cục trởng Tổng cục Hải quan ban hành
Xác định giá trị hải quan theo giá ghi trên hợp đồng: Các mặt hàng nhập khẩu khôngthuộc danh mục mặt hàng Nhà nớc quản lý giá tính thuế nhập khẩu sẽ đợc áp dụnggiá tính thuế theo giá ghi trên hợp đồng với hai điều kiện: 1) Có hợp đồng ngoại th-
ơng hợp lệ 2) Giá ghi trên hợp đồng lớn hơn 70% giá quy định trong Bảng giá tốithiểu do Tổng cục Hải quan ban hành
Nhận xét: áp dụng giá tính thuế tối thiểu đã làm tăng thêm thuế nhập khẩu, tăng chi
phí nhập khẩu hàng hoá và có tác dụng nh một hàng rào phi thuế quan Nhng trongnhiều trờng hợp, giá tính thuế tối thiểu không thể ngăn chặn đợc gian lận thơng mạiqua giá Trên thực tế, ngời bán và ngời mua thông đồng với nhau ghi giá trên hợp
đồng, trên hoá đơn thấp hơn nhiều so với giá thực tế của hàng hoá đó (thờng bằng70% giá tối thiểu để đợc hởng giá tính thuế trên hợp đồng)
Việc áp dụng giá tính thuế còn tạo nên sự phân biệt đối với hàng hoá có xuất xứ từcác nớc khác nhau Theo các quy định của Tổng cục Hải quan năm 1999, những mặthàng nhập khẩu không thuộc danh mục mặt hàng Nhà nớc quản lý giá tính thuế nhngcha đợc quy định giá tối thiểu trong bảng giá thì giá tính thuế sẽ chia làm hai loại:1) Mặt hàng có thuế suất thuế nhập khẩu theo Biểu thuế u đãi từ 5% trở xuống
2) Mặt hàng có thuế suất thuế nhập khẩu theo Biểu thuế u đãi trên 5% Cách tính giátrị tính thuế nhập khẩu cho hai loại mặt hàng này cũng khác nhau, do đó tạo nên sựphân biệt trong việc tính thuế nhập khẩu và vi phạm MFN (nguyên tắc tối huệ quốc)
Để thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực hải quan, Việt Nam đang xúc tiếnviệc thực thi Hiệp định trị giá Hải quan của GATT/WTO Khi hiệp định này đợc thựchiện, trị giá tính thuế sẽ đợc xác định trên cơ sở trị giá giao dịch, hay chính là giáthực thanh toán cho hàng hoá nhập khẩu Doanh nghiệp sẽ không phải chịu một sốthuế đợc tính toán trên cơ sở giá tính thuế áp đặt nữa (chẳng hạn giá tối thiểu)
Việc áp dụng phụ thu
ở Việt Nam, việc ban hành danh mục các mặt hàng chịu phụ thu biến đổi qua cácnăm Phụ thu áp dụng với một số mặt hàng khi có biến động giữa giá thế giới và giátrong nớc Nhng một số mặt hàng có giá thế giới khá ổn định vẫn bị áp dụng phụ thu
Bảng 2.2 Lịch trình loại bỏ phụ thu của một số mặt hàng công nghiệp
Các mặt hàng công nghiệp Lịch trình loại bỏ phụ thu
Trang 32- Khoáng sản và phân bón chứa nitơrat, phôtphát và
- Sản phẩm thép carbon tròn cán nguội hay thép thỏi 2005
- Thép carbon thỏi hoặc những dạng khác mới chỉ
d Điều chỉnh chính sách về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu
Để đáp ứng yêu cầu của hội nhập, đặc biệt là với những quy định của WTO, ViệtNam đã có nhiều cố gắng trong việc điều chỉnh chính sách và các quy định về việcthành lập và hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất nhập khẩu Sự ra đời và
có hiệu lực từ ngày 01/01/ 2000 của Luật Doanh nghiệp, cùng với việc bãi bỏ các thủtục hành chính gây phiền hà cho doanh nghiệp là một bớc đột phá trong việc mởrộng quyền kinh doanh của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế Quyền xuấtnhập khẩu giờ đây không còn là đặc quyền của một số doanh nghiệp nhất định Sựkhác biệt, bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế đợc thu hẹp lại
Bên cạnh đó là việc sửa đổi bổ sung Luật khuyến khích đầu t trong nớc, Luật khuyếnkhích đầu t nớc ngoài vào Việt Nam, cũng nh các quy định pháp luật khác đã tạo ramột môi trờng kinh doanh bình đẳng hơn, thuận lợi hơn không chỉ đối với các doanhnghiệp Việt Nam mà đối với cả các doanh nghiệp nớc ngoài đã, đang và sẽ đầu t vàoViệt Nam
Để thực hiện chủ trơng tự do hoá thơng mại, Chính phủ đã cho phép tất cả các doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế đợc phép xuất nhập khẩu hàng hoá theo ngànhnghề đã đăng ký trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Ngày 31/7/1998, Chínhphủ ra Nghị định số 57/1998/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thơng mại
1997, cho phép các doanh nghiệp Việt Nam không cần phải có giấy phép xuất nhậpkhẩu nữa; thay vào đó, doanh nghiệp chỉ phải đăng ký mã số doanh nghiệp kinhdoanh xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng Chínhphủ cũng cho phép doanh nghiệp đã có đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp
đợc phép xuất khẩu hàng hoá không thuộc diện quy định hạn chế, dù có đợc cấpphép kinh doanh mặt hàng đó hay không Sự nới lỏng trên đã góp phần làm giảm bớtviệc quản lý hành chính về thủ tục xuất nhập khẩu
Trang 33Việc chỉ định đầu mối xuất nhập khẩu cũng đợc Chính phủ điều tiết từng bớc Năm
1998, Chính phủ đã cho phép thí điểm một số doanh nghiệp xay xát, chế biến lúagạo ngoài quốc doanh và một số nông trờng có đủ điều kiện đợc phép xuất khẩu trựctiếp Dựa trên tình hình thực tế, đến năm 2001, Thủ tớng Chính phủ đã bãi bỏ hoàntoàn việc chỉ định hạn ngạch và đầu mối xuất nhập khẩu các mặt hàng gạo, phân bón(Quyết định Số 46/QĐ-TTg ngày 4 tháng 4 năm 2001) Do Việt Nam đã cam kếtkhông áp dụng chế độ thơng mại nên Bộ Thơng mại đã đề nghị Nhà nớc bãi bỏ chế
độ đầu mối đối với ba mặt hàng là than đá, rợu và phôi thép
e Các biện pháp bảo vệ thơng mại tạm thời
Thuế đối kháng và thuế chống bán phá giá
Việt Nam cha có văn bản pháp luật về thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng vàcũng cha bao giờ áp dụng các biện pháp này trong thực tế Tuy nhiên, theo LuậtThuế xuất nhập khẩu sửa đổi năm 1998, Việt Nam cho phép áp dụng phụ thu đối vớicác hàng hoá nhập khẩu có giá nhập khẩu thấp hơn giá trị thông thờng của hàng hoátrong các trờng hợp sau:
- Hàng hoá đợc nhập vào Việt Nam với mức giá thấp hơn rất nhiều so với mức giáthông thờng do có trợ giá của nớc xuất khẩu và qua đó ảnh hởng tới sự phát triển củangành sản xuất các hàng hoá tơng tự tại Việt Nam
- Hàng hoá đợc nhập khẩu vào Việt Nam có nguồn gốc từ các quốc gia áp dụng thuếsuất phân biệt đối xử hay các biện pháp phân biệt đối xử khác đối với hàng hoá xuấtkhẩu từ Việt Nam
Ngoài ra, thuật ngữ “cạnh tranh không công bằng” đợc sử dụng trong một số trờnghợp ở Việt Nam Cạnh tranh không công bằng bao gồm: Hàng hoá từ các nguồn th-
ơng mại không trung thực hay bất hợp pháp; Hàng hoá bị các hãng nớc ngoài bánphá giá hay bán ở mức giá thấp; Các hàng hoá bán rẻ do các chính sách trợ giá ở cácnớc khác
• Các biện pháp tự vệ
Việt Nam cha có văn bản pháp luật về tự vệ nhằm bảo vệ các ngành sản xuất trong
n-ớc khi nhập khẩu tăng lên nhanh chóng, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hạinghiêm trọng cho các ngành này Tuy nhiên, trên thực tế, Việt Nam đã có áp dụngbiện pháp tự vệ Biện pháp tự vệ dùng phổ biến nhất là ‘cấm nhập khẩu’ nhng đợcnguỵ trang dới hình thức “ổn định dự trữ ngoại tệ quốc gia” hoặc “đạt đợc sự cânbằng về tài chính và hàng hoá”
Quy tắc xuất xứ
Trong giai đoạn này, Việt Nam mới chỉ có quy định về xuất xứ u đãi (với các thànhviên AFTA) mà cha có quy định nào về quy tắc xuất xứ không u đãi Trong khinhiều nớc sử dụng quy tắc xuất xứ nh một công cụ bảo hộ sản xuất trong nớc thì ViệtNam cha triển khai nghiên cứu đầy đủ và cha tranh thủ các khả năng có thể về sửdụng biện pháp này
Trang 34Vào tháng 11/1995, Bộ Thơng mại và Tổng cục Hải quan đã ra Thông t liên Bộ Số280/BTM-TCHQ quy định về giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu Đây là Thông t quy định những nguyên tắc chung về chế độ cấp và kiểm traGiấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa Ngoài ra, đối với từng chế độ u đãi cụ thể lại cócác quy định riêng về xuất xứ nh Thông t Số 33/TC-TCT (năm 1996) quy định Danhmục hàng hóa và thuế suất nhập khẩu để thực hiện chơng trình giảm thuế hàng nhậpkhẩu từ EU
g Các biện pháp bảo hộ phi thuế quan khác
Các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn
Hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) trong giai đoạn này có trên 4600 tiêu chuẩnquốc gia, trong đó chỉ có khoảng 150 tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng Các tiêu chuẩnbắt buộc áp dụng thờng là những tiêu chuẩn liên quan đến các lĩnh vực an toàn, vệsinh, bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trờng
Về mặt thể chế, Tổng cục Tiêu chuẩn, Đo lờng và Chất lợng thuộc Bộ Khoa học,Công nghệ và Môi trờng là cơ quan quản lý nhà nớc về các quy định kỹ thuật, tiêuchuẩn và thủ tục xác định nh thế nào là phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn này Một sốvăn bản liên quan đến vấn đề quy định kỹ thuật và thủ tục xác định sự phù hợp đã đ-
ợc ban hành Tuy nhiên trong thời gian qua, đã xảy ra quá nhiều vụ việc vi phạm cácquy định kỹ thuật, tiêu chuẩn bắt buộc và ảnh hởng tới sức khoẻ con ngời, đặc biệttrong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm Nguyên nhân chủ yếu do trình độ khoa họccông nghệ cũng nh trình độ quản lý còn nhiều hạn chế nên công tác kiểm tra chất l-ợng hàng hóa cha đợc thực hiện tốt, cha ngăn cản đợc hàng kém chất lợng thâm nhậpthị trờng trong nớc, gây ra những tác hại nhất định đến sức khỏe con ngời và môi tr-ờng Có thể thấy Việt Nam cha hề quan tâm đúng mức tới việc sử dụng hàng rào kỹthuật nh một công cụ hạn chế nhập khẩu nhằm bảo hộ sản xuất trong nớc
Kiểm dịch động vật và thực vật:
Kiểm dịch động vật và thực vật có thể đợc sử dụng nh một hàng rào kỹ thuật hợppháp để ngăn cản nhập khẩu nông sản Việt Nam đã có những quy định pháp lý kháchặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế về lĩnh vực này nhng việc thực thi còn kémhiệu quả
Do đó cha sử dụng tốt đợc các biện pháp kiểm dịch để bảo vệ sức khỏe con ngời,
động thực vật cũng nh tạo ra hàng rào bảo hộ sản xuất trong nớc
Yêu cầu về ghi nhãn và đóng gói hàng hóa
Quy định về ghi nhãn đối với hàng hóa nhập khẩu làm tăng chi phí nhập khẩu, qua
đó có thể tạo ra rào cản phi thuế quan Trên thế giới, đặc biệt là các nớc phát triển,biện pháp này đợc áp dụng nh một công cụ bảo hộ hữu hiệu và đợc quy định chi tiếtbằng hệ thống văn bản pháp luật
Đối với Việt Nam, biện pháp này còn rất mới mẻ Trình độ về tiêu chuẩn kỹ thuậtcủa Việt Nam còn cha bắt kịp với yêu cầu chung của nền kinh tế trong quá trình hộinhập, lại phải cạnh tranh gay gắt với nớc ngoài Trớc năm 1999, Việt Nam hầu nh
Trang 35cha có quy định chi tiết về vận dụng biện pháp này nh một công cụ bảo hộ sản xuấttrong nớc
Tuy nhiên, ngày 30/8/1999, Quy chế ghi nhãn hàng hóa đã đợc ban hành kèm theoQuyết định Số 178/1999/QĐ-TTg cùng ngày của Thủ tớng Chính phủ Kể từ ngày1/3/2000, các loại hàng sản xuất tại nớc ngoài đợc nhập khẩu vào thị trờng Việt Nam
đều phải ghi nhãn hàng hóa theo Quy chế ghi nhãn hàng hóa ban hành theo Quyết
định Số 178/1999/QĐ-TTg
Hàng hóa nhập khẩu phải tuân thủ quy định về ghi nhãn nh sau: Ghi trên phần nhãnnguyên gốc các thông tin thuộc nội dung bắt buộc (tên hàng hóa; tên và địa chỉ củathơng nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa; định lợng của hàng hóa; thành phần cấutạo; chỉ tiêu chất lợng chủ yếu; ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, thời hạn bảo quản;hớng dẫn bảo quản, hớng dẫn sử dụng; xuất xứ của hàng hóa) bằng tiếng Việt Namhoặc làm nhãn phụ ghi những thông tin thuộc nội dung bắt buộc bằng tiếng ViệtNam đính kèm theo nhãn nguyên gốc của hàng hóa đó trớc khi đa ra bán ở thị trờngViệt Nam
2.3 Tác động của việc bảo hộ bằng các biện pháp phi thuế tới các ngành kinh tế Việt Nam
Trong quá trình thực hiện đổi mới các chính sách thơng mại và bảo hộ nhằm gắn nềnsản xuất trong nớc với quốc tế, đáp ứng mục tiêu hội nhập, Đảng và Nhà nớc ta thấycần thiết phải duy trì bảo hộ cho một số ngành sản xuất nhạy cảm, có ảnh hởng tớinền kinh tế quốc dân Một trong số đó là ba ngành tiêu biểu: mía đờng, thép, ô tô xemáy đã nhận đợc sự bảo hộ khá cao (đặc biệt là bằng các biện pháp bảo hộ phi thuế).2.3.1 Ngành mía đờng
a Hiện trạng ngành mía đờng
Mía đờng hiện nay là một ngành kinh tế đã và đang đợc Nhà nớc Việt Nam tập trung
đầu t và phát triển trong những năm gần đây với mục tiêu sẽ đa sản lợng đờng lêntrên 1 triệu tấn Cơ sở của chơng trình là phát triển các vùng trồng nguyên liệu thaythế cây lúa tại những vùng không có lợi thế trồng lúa, cây mía là loại cây dễ trồng,hiệu quả thu nhập cũng cao hơn cây lúa và do đó các cơ quan quản lý của Việt Nammong muốn sự phát triển của cây mía sẽ làm thay đổi đời sống của nông dân Đ ờng
là một nguyên liệu đầu vào của nhiều ngành công nghiệp quan trọng đặc biệt là côngnghiệp thực phẩm, nhu cầu đối với các sản phẩm đờng vì vậy là rất lớn nên Việt Namphải xây dựng một ngành mía đờng vững mạnh đủ cung cấp cho nhu cầu trong nớc
b Chính sách thơng mại đối với ngành đờng
Chính sách thơng mại trong ngành đờng là một điển hình cho một mô hình bảo hộnhằm phát triển thay thế hàng nhập khẩu Ngành mía đờng của Việt Nam công nghệlạc hậu, còn yếu kém sẽ khó có thể chống chọi với đờng nhập khẩu do giá thành rẻ
Từ đầu năm 1997, giá đờng các loại đã liên tục giảm đáng kể trên thị trờng thế giới
từ khoảng 326 - 335 USD/tấn cho đến nay chỉ còn 250 USD/tấn (thị trờng 7/2002) và
đến thời điểm hiện nay giá đờng chỉ còn 190-200 USD/tấn Trong khi đó giá đờng
Trang 36trắng của các nhà máy đờng liên doanh hiện đại đa vào sản xuất năm 2002 cũng
đang sản xuất với mức 250-260USD/tấn Với mức giá chênh lệch giữa thế giới vàtrong nớc nh hiện nay, để bảo hộ sản xuất cũng cần phải duy trì một mức thuế tốithiểu cũng phải là 188% lớn hơn gấp 2 lần so mức thuế suất hiện nay (40%) Rõràng, với mức thuế suất hiện tại không thể đảm bảo mức bảo hộ hiệu quả đối vớingành đờng Vì phần lớn các doanh nghiệp đờng của Việt Nam đang phải đối mặtvới tình trạng thiết bị lạc hậu, các nhà máy thiếu nguyên liệu, chất l ợng đờng không
ổn định, khả năng cung cấp cũng hạn chế và chắc chắn là không thể cạnh tranh vớihàng nhập khẩu Do đó, các hàng rào phi thuế đợc Bộ Thơng mại áp dụng trongngành đờng nh sau:
- Hạn ngạch nhập khẩu áp dụng đối với đờng thô, đờng tinh luyện;
- Cấp giấy phép nhập khẩu đối với đờng thô, đờng tinh luyện;
- Giá tối thiểu để xác định giá tính thuế nhập khẩu;
- Giá mua mía tối thiểu cho nông dân trồng mía, mức giá này tăng lên đáng
kể trong vài năm qua (từ mức 180đ/kg lên 220đ/kg) Trớc mắt biện pháp này có thểkích thích nông dân đầu t trồng mía nhiều hơn, do đó tạo nguồn nguyên liệu ổn
định cho các nhà máy;
- Giá bán đờng tối đa (giá trần)
ảnh hởng của các biện pháp bảo hộ phi thuế về cơ bản là tích cực Riêng trong năm
2001, 19 dự án đa vào hoạt động, đa tổng công suất chế biến mía lên khoảng 93.000tấn mía/ngày Với sản lợng này và việc xây dựng nhiều vùng nguyên liệu cung cấp
đủ mía cho các nhà máy (khoảng 10 - 11 triệu tấn mía), chúng ta đã đạt sản lợng hơn
1 triệu tấn nh kế hoạch đặt ra, trong năm 2000 còn xuất khẩu khoảng 100 ngàn tấn
đảm bảo tạo thêm thu nhập cho bà con nông dân và nguồn nguyên liệu cho côngnghiệp thực phẩm khác trong nớc
2.3.2 Ngành thép
a Hiện trạng sản xuất và kinh doanh ngành thép
Tơng tự nh mặt hàng đờng là nguyên liệu cho ngành thực phẩm và tiêu dùng của dânchúng, sắt thép là đầu vào quan trọng của tất cả các ngành trong nền kinh tế từ cơkhí, nông nghiệp, xây dựng Vì lẽ đó mà đã từ lâu sắt thép đợc xem là mặt hàng có
ảnh hởng lớn đối với nền kinh tế hay có ảnh hởng đối với “cân đối lớn của nền kinhtế” nh các nhà hoạch định chính sách thờng gọi
Ngành thép Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp có trình độ công nghệ khác biệt.Một phần nhỏ các doanh nghiệp có công nghệ trung bình hoặc tiên tiến mới chỉ đợc
đầu t ở quy mô nhỏ, phần còn lại là những doanh nghiệp Nhà nớc khổng lồ cả về quymô và sản lợng nhng lại đang sử dụng các công nghệ già cỗi của Liên Xô và TrungQuốc trớc đây
Các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty thép Việt Nam sở hữu những nhà máy cócông nghệ cũ, đội ngũ công nhân rất đông (chiếm gần 80% lực lợng lao động của
Trang 37ngành) mà sản lợng lại không cao Trong khi đó những doanh nghiệp mới nhVinakyoei hay Posco chỉ cần khoảng 3% công nhân đã sản xuất một sản lợng và giátrị hầu nh tơng đơng với sản phẩm cùng loại của Tổng Công ty Công nghệ thấp,nhân công lại nhiều đã khiến giá thành của thép Việt Nam là rất cao, ngay cả đối vớinhững loại sắt thép thông thờng mà các doanh nghiệp Việt Nam cụ thể là Tổng Công
Doanh thu (triệu đồng) Công nghệ
Nhân công
1 Công ty gang thép
Thái Nguyên
Gang Sắt thanh
Nguồn: Trung tâm thông tin thơng mại-Bộ Thơng mại, 10/2005
Sự chênh lệch về giá trong nớc và giá nhập khẩu khiến sản lợng của ngành thép chỉ
đạt trung bình 42% công suất Trớc thực trạng đó, Chính phủ đã kịp thời áp dụng cácbiện pháp bảo hộ nhằm nâng cao sản lợng ngành thép và củng cố ngành này
b Chính sách bảo hộ bằng các biện pháp phi thuế đối với ngành thép
Các chính sách bảo hộ chủ yếu:
Chính sách thơng mại trong ngành thép thể hiện xu thế thay thế hàng nhập khẩu trêncơ sở bảo hộ và phát triển thép trong nớc đang sản xuất đợc Quyết định303/BKH/TMDV của Bộ kế hoạch và Đầu t thì các biện pháp bảo hộ phi thuế đợc ápdụng trong ngành thép trong thời gian này có:
- Cấm nhập khẩu:
+ Năm 1997: với một số thép xây dựng loại tròn trơn phi 6 đến phi 60mm; thép xây dựng tròn gai (đốt, vằn, xoắn, gân) phi 10 đến phi 36 mm; các loạithép góc đều (chữ V) từ 20 đến 75 mm; các loại thép hình I (H), U (C) từ 60 - 120