1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng

136 870 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thực tế, sự phân biệt rạch ròi giữa hợp tác ASEAN+3 và hợp tác Đông Á là tương đối khó khi hầu hết các quốc gia Đông Á đều tham gia ASEAN+3, khi sự vận động của chúng cùng chịu chi

Trang 1

HOÀNG KHẮC NAM

Hợp tác đa phương

VẤN ĐỀ VÀ TRIỂN VỌNG

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA

TP HỒ CHÍ MINH – 2008

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG 8

PHẦN MỞ ĐẦU 11

CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HỢP TÁC ĐA PHƯƠNG ASEAN+3 19

1.1 Tiền đề của hợp tác đa phương ASEAN+3 19

1.1.1 Tiền đề địa lý 21

1.1.2 Tiền đề lịch sử 25

1.1.3 Tiền đề văn hóa-xã hội 28

1.1.4 Tiền đề quan hệ song phương 33

1.1.5 Tiền đề an ninh-chính trị 38

1.1.6 Tiền đề kinh tế 41

1.2 Quá trình hình thành ASEAN+3 47

1.2.1.Các cố gắng phát triển hợp tác đa phương, xây dựng thể chế khu vực ở Đông Á trong Chiến tranh lạnh 47

1.2.2 Sự ra đời của ASEAN+3 55

1.3 Những phát triển trong hợp tác đa phương ASEAN+3 68

1.3.1 Những tiến triển về mặt thể chế 68

1.3.2 Sự phát triển trong hợp tác kinh tế khu vực 82

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ TRONG HỢP TÁC ĐA PHƯƠNG ASEAN+3 101

2.1 Vấn đề lịch sử 102

2.2 Vấn đề an ninh-chính trị 122

2.3 Vấn đề kinh tế 150

2.4 Vấn đề văn hoá-xã hội 173

CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG CỦA ASEAN+3, TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI ASEAN VÀ VIỆT NAM 191

3.1 Triển vọng của ASEAN+3 191

3.2 Cơ hội và thách thức đối với ASEAN trong tiến trình hợp tác ASEAN+3 211

3.2.1 Cơ hội đối với ASEAN trong tiến trình hợp tác ASEAN+3 215

3.2.2 Thách thức đối với ASEAN trong tiến trình hợp tác ASEAN+3 221

3.3 Thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong tiến trình hợp tác ASEAN+3 227

3.3.1 Thuận lợi của Việt Nam trong tiến trình hợp tác ASEAN+3 228

3.3.2 Khó khăn của Việt Nam trong tiến trình hợp tác ASEAN+3 240

KẾT LUẬN 255

TÀI LIỆU THAM KHẢO 264

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Asian Development

Area

Khu vực đầu tư ASEAN

AMF Asian Monetary

Fund

Quỹ Tiền tệ Châu Á

APEC Asia Pacific

Economic Cooperation

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương

ARF ASEAN Regional

Forum

Diễn đàn khu vực ASEAN

ASEAN Association of South

East Asian Nations

Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN PMC ASEAN Post

Ministerial Conference

Hội nghị sau hội nghị bộ trưởng ASEAN

Nhóm kinh tế Đông Á

EAFTA East Asian Free

Trade Area

Khu vực thương mại tự

do Đông Á EASG East Asian Study

Đông Á EPA Economic

Partnership Agreement

Hiệp định Đối tác Kinh tế

EU European Union Liên minh Châu Âu ESCAP Economic and

Social Commision for Asia and Pacific

Hội đồng Kinh tế Xã hội Châu Á và Thái Bình Dương

FDI Foreign Direct

Quỹ Tiền tệ quốc tế

MERCOSUR Mercado Comun

de Sul

Thị trường chung Nam Mỹ

Trang 4

NAFTA North American

Free Trade Area

Khu vực thương mại tự

do Bắc Mỹ NIE New Industrial

Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu

RTA Regional Trade

Agreement

Hiệp định thương mại khu vực

WB World Bank Ngân hàng thế giới

WTO World Trade

ASEAN+3 (Tính đến cuối năm 2001)

Bảng 3.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của ASEAN với

các thành viên ASEAN+3 (Các năm 1996,

2001, 2006)

214

Bảng 3.2: Đầu tư vào ASEAN từ các thành viên 215

Trang 5

ASEAN+3 (Các năm 2004, 2005, 2006)

Bảng 3.3: So sánh tổng sản phẩm quốc nội giữa Việt

Nam và các nước ASEAN+3 (năm 2006)

245

Bảng 3.4: So sánh tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ

trong GDP giữa Việt Nam với các nước

ASEAN+3 (năm 2006)

246

Bảng 3.5: So sánh trị giá xuất khẩu giữa Việt Nam

với các nước ASEAN+3 (năm 2006)

247

Bảng 3.6: So sánh mức tiêu dùng điện năng giữa Việt

Nam và các nước ASEAN+3 (năm 2005)

248

Trang 6

Phần mở đầu

rong vài năm gần đây, một xu hướng mới đã được hình

thành ở Đông Á – xu hướng tăng cường hợp tác đa

phương khu vực Là một trong những thay đổi lớn nhất ở

Đông Á sau Chiến tranh lạnh, xu hướng này đang làm thay

đổi bản đồ địa chính trị, địa kinh tế cả trong khu vực và trên

thế giới Xu hướng này đã lôi cuốn hầu hết quốc gia trong

vùng tham gia Nhiều cố gắng thể chế hoá và chính sách thúc

đẩy hợp tác đa phương Đông Á đã và đang được triển khai

Hợp tác Đông Á ngày càng trở thành đối tượng quan trọng

của các nhà chính trị, mối quan tâm của các nhà kinh tế và

đề tài nghiên cứu của các học giả

Trước thực tế và viễn cảnh tiềm tàng này, càng ngày

người ta càng nói nhiều về “Chủ nghĩa khu vực Đông Á” (East

Asian Regionalism), “Khu vực hóa Đông Á” (East Asian

Regionalization), “Cộng đồng Đông Á” (East Asian

Community), “Hội nhập Đông Á” ((East Asian Integration),

“Phục hưng Châu Á” (Asian Renaissance), Chủ nghĩa Châu Á

mới (Neo-Asianism), sự nổi lên của “bản sắc Đông Á” (East

Asian Identity)1… Thực ra, mối quan tâm và sự sôi nổi nằm

sau các cụm từ này biểu lộ lòng mong muốn nhiều hơn là

1 Richard Stubbs, ASEAN Plus Three: Emerging East Asian Regionalism?, Asian

Survey, Vol.XLII, No.3, May/June 2002, University of California Press, p.446

phản ánh hiện trạng Giữa thực tế và nội hàm của các thuật ngữ này vẫn tồn tại một khoảng cách không nhỏ Trở ngại cho hợp tác đa phương Đông Á đã là quá lớn chứ chưa nói gì đến hội nhập

Sự nổi lên của hợp tác Đông Á liên quan nhiều đến ASEAN+3 ASEAN+3 là một hiện tượng hợp tác đa phương mới hình thành ở Đông Á trong cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998 Chính sự xuất hiện của ASEAN+3 với tư cách thể chế khu vực thuần Đông Á đầu tiên đã làm tăng sự quan tâm tới xu hướng hợp tác đa phương ở Đông Á

Vấn đề hợp tác đa phương ASEAN+3 bắt đầu được quan tâm nhiều hơn từ năm 1999 sau khi Hội nghị cấp cao ASEAN+3 ra bản “Tuyên bố về Hợp tác Đông Á” Từ đó, chủ đề này nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của học giả trong và ngoài khu vực Sự quan tâm tới vấn đề này ở Việt Nam được bắt đầu muộn hơn một chút và chủ yếu là trong 5-6 năm trở lại đây Đáng chú ý, ngoài các công trình nghiên cứu của giới học giả, đã có những chương trình và dự án nghiên cứu công phu của Nhóm Tầm nhìn Đông Á (EAVG), Nhóm Nghiên cứu Đông Á (EASG) hay các tổ chức kinh tế lớn như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Châu Á (ADB) Trong đó, công trình của các nhóm nghiên cứu thường chủ yếu đưa

ra khuyến nghị chính sách, còn công trình của WB và ADB thì tập trung vào phân tích thực trạng kinh tế và đề ra giải pháp cho hợp tác kinh tế khu vực

T

Trang 7

Trong tình hình nghiên cứu chủ đề này ở cả trong nước

và ngoài nước, có xu hướng đánh đồng hợp tác Đông Á và hợp

tác ASEAN+3 Có vẻ như nghiên cứu ASEAN+3 đang bị chìm

lấp trong sự quan tâm ngày càng tăng tới Đông Á Trên thực

tế, sự phân biệt rạch ròi giữa hợp tác ASEAN+3 và hợp tác

Đông Á là tương đối khó khi hầu hết các quốc gia Đông Á đều

tham gia ASEAN+3, khi sự vận động của chúng cùng chịu chi

phối của một môi trường khu vực chung, khi khuôn khổ và

mục tiêu hợp tác của cả hai gần như trùng lặp với nhau, khi

sự tồn tại của cả hai đều dựa trên hợp tác song phương và đa

phương giữa các nước trong vùng, và khi cả hai cùng được kỳ

vọng đem lại những tác động thuận lợi cho hòa bình và thịnh

vượng trong khu vực… Về đại thể, tỉ trọng phần chung giữa

hợp tác ASEAN+3 và hợp tác Đông Á là rất lớn, mức độ gắn

bó giữa chúng với nhau là khá nhiều

Tuy nhiên, xét về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, khái

niệm hợp tác Đông Á và hợp tác ASEAN+3 không hoàn toàn

trùng nhau Giữa chúng có sự phân biệt nhất định về chủ thể,

khuôn khổ và mức độ thể chế hoá Nếu hợp tác ASEAN+3 chỉ

bao gồm 13 nước thành viên thì hợp tác Đông Á rộng hơn khi

bao gồm thêm những quốc gia hay vùng lãnh thổ khác như

Hongkong, Đài Loan, Nếu hợp tác ASEAN+3 thường để chỉ

những hợp tác đa phương trong khuôn khổ các quyết định hay

dự án cụ thể thì hợp tác Đông Á rộng hơn khi bao gồm cả

hợp tác đa phương và song phương giữa các nước trong khu

vực Nếu hợp tác ASEAN+3 đã được thể chế hóa nhất định và

vận hành theo cơ chế chung thì hợp tác Đông Á lại chưa có

được một cơ chế ra chính sách chung với mức độ thể chế hoá như vậy

Đó là sự phân biệt về mặt lý thuyết Nhưng sự phân biệt này cũng có ích nhất định về mặt thực tiễn Việc đánh đồng hai xu hướng hợp tác ASEAN+3 và hợp tác Đông Á sẽ không giúp thấy được vai trò của ASEAN+3 đối với hợp tác Đông Á ASEAN+3 chính là điểm khởi đầu cho sự nổi lên của chủ nghĩa khu vực Đông Á Nó cũng đặt nền móng cho thể chế hoá hợp tác đa phương ở Đông Á ASEAN+3 cũng đóng vai trò trục chính của hợp tác đa phương Đông Á hiện nay Cho đến giờ, ASEAN+3 vẫn là hình thức thể chế hợp tác duy nhất chỉ có các nước Đông Á tham gia Các cố gắng thể chế hoá hợp tác Đông Á vẫn dựa chủ yếu vào ASEAN+3 Trên thực tế, ASEAN+3 vừa mang tính thử nghiệm, vừa mang tính định hướng cho hợp tác đa phương Đông Á

Là phản ánh chính của hợp tác Đông Á hiện nay, ASEAN+3 vẫn tiếp tục có vai trò rất lớn, nếu không nói là có tính quyết định đối với hợp tác đa phương khu vực Đông Á Tương lai Đông Á nói chung, hợp tác đa phương Đông Á nói riêng phụ thuộc đáng kể vào tiến trình hợp tác trong ASEAN+3 Bên cạnh đó, sự tồn tại khuôn khổ hợp tác ASEAN+3 đã ghi được dấu ấn lớn trong quan hệ quốc tế khu vực ASEAN+3 không chỉ buộc các nước phải điều chỉnh chính sách đối ngoại, mà còn buộc các thể chế khu vực hiện hành phải thay đổi ASEAN+3 không chỉ tạo ra những nét mới trong quan hệ quốc tế khu vực mà còn tác động đến quan hệ của các đối tác bên ngoài với khu vực Bởi ý nghĩa như vậy

Trang 8

đối với hợp tác Đông Á nói riêng, đối với quan hệ quốc tế khu

vực nói chung, việc nghiên cứu hợp tác đa phương trong

khuôn khổ ASEAN+3 vẫn là cái gì đó không thể bỏ qua

Hợp tác đa phương ASEAN+3 là một xu hướng có tiềm

năng bởi nó phù hợp với xu thế vận động chung của thế giới

và đáp ứng đúng lợi ích của các quốc gia trong khu vực Cho

đến nay, quá trình hợp tác ASEAN+3 đã có được những

thành tựu đáng kể và vẫn đang tiếp tục diễn ra Tuy nhiên,

tốc độ của quá trình này là khá chậm chạp Bất chấp nhiều

thuận lợi từ môi trường thế giới, khu vực và trong nước, hợp

tác đa phương ASEAN+3 vẫn phải đối mặt với nhiều khó

khăn Sự chậm chạp của quá trình ASEAN+3 được quy định

bởi vô số vấn đề bất thuận đang đặt ra trên con đường này

Các vấn đề đó không chỉ gây ra trở ngại mà còn là yếu tố

làm giảm thuận lợi khách quan, làm giảm ý chí và tinh thần

dấn thân vào hợp tác đa phương khu vực Đồng thời, những

vấn đề này còn chứa đựng khả năng làm giảm tốc độ, làm

yếu thể chế, tạo sự nửa vời trong chính sách, hạn chế sự hiệu

quả của biện pháp và thậm chí có thể làm lệch mục tiêu của

tiến trình hợp tác đa phương ở Đông Á Bởi thế, cho dù đã

hoạt động được 10 năm, ASEAN+3 vẫn là hiện tượng còn mới

mẻ, tương lai của nó là khó đoán định

Rõ ràng, triển vọng hợp tác ASEAN+3 nói riêng, hợp tác

Đông Á nói chung phụ thuộc khá nhiều vào việc giải quyết

các vấn đề đó Tuy nhiên, những vấn đề này ở Đông Á có

nhiều đặc thù không giống như các khu vực khác trên thế

giới Với những đặc thù như vậy, ở Đông Á lại không có nhiều

tiền lệ giải quyết Hơn nữa, cũng khác với các khu vực khác, Đông Á có mức độ thể chế hoá tương đối thấp và còn thiếu vắng cơ chế giải quyết tranh chấp Điều này càng làm cho các vấn đề thường có xu hướng bị kéo dài, tác động mạnh hơn và từ đó đè nặng nhiều hơn lên khả năng hợp tác đa phương khu vực Vì thế, trong trường hợp ASEAN+3, khắc phục các vấn đề này có lẽ cũng quan trọng không kém hợp tác như thế nào cho hiệu quả Đối với ASEAN+3, trong chừng mực nào đó, thúc đẩy hợp tác đồng nghĩa với quá trình giải quyết các vấn đề tồn tại

Nhưng vấn đề thì nhiều và đa dạng Các vấn đề này đều có thể tìm thấy trong bản thân từng nước và trong quan hệ giữa chúng, trong cả lĩnh vực chính trị, kinh tế lẫn xã hội, trong cả môi trường quốc tế và khu vực, trong các thể chế khu vực và chính ASEAN+3,… Việc giải quyết chúng lại đòi hỏi cách tiếp cận đồng bộ, toàn diện Tuy nhiên, trong khuôn khổ có hạn, cuốn sách này tập trung vào việc chỉ ra và phân tích những vấn đề cơ bản đang là trở ngại cho hợp tác đa phương ASEAN+3 Đó là yêu cầu cần thiết để có thể thúc đẩy hợp tác

đa phương ASEAN+3 nói riêng, hợp tác Đông Á nói chung tiến về phía trước

Với cách nhìn như trên, cuốn sách này được kết cấu thành ba chương với nội dung chính như sau:

Chương 1: Quá trình hợp tác đa phương ASEAN+3 Chương này có ba nội dung chính Nội dung đầu là sự phân tích các tiền đề cơ sở của quá trình hợp tác đa phương

Trang 9

ASEAN+3 Nội dung thứ hai xem xét các cố gắng xây dựng

thể chế khu vực ở Đông Á và quá trình hình thành khuôn

khổ hợp tác ASEAN+3 vào năm 1997 Nội dung thứ ba đánh

giá khái quát những phát triển nổi bật của ASEAN+3 trong

10 năm qua

Chương 2: Vấn đề trong hợp tác đa phương ASEAN+3

Chương này nhằm nhận diện các vấn đề cơ bản đóng vai trò

là nguồn gốc các khó khăn trong quá trình hợp tác đa phương

ASEAN+3 Các vấn đề được xem xét lần lượt trên nhiều

phương diện khác nhau như lịch sử, an ninh-chính trị, kinh tế

và văn hoá-xã hội Trong từng phương diện, những vấn đề bất

thuận cụ thể và tác động của chúng tới tiến trình hợp tác đa

phương ASEAN+3 cũng được đề cập đến

Chương 3: Triển vọng của ASEAN+3, tác động của

nó tới ASEAN và Việt Nam Chương này gồm ba nội dung

chính Nội dung đầu đánh giá triển vọng của tiến trình hợp

tác đa phương ASEAN+3 với những kịch bản khác nhau được

đưa ra Nội dung thứ hai xem xét cơ hội và thách thức đối với

ASEAN trong tiến trình hợp tác ASEAN+3 Nội dung thứ ba

tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi

tham gia hợp tác trong khuôn khổ ASEAN+3

Là một nước trong khu vực Đông Á, Việt Nam không thể

không chịu tác động của những vận động mới trong khu vực

Là một thành viên của ASEAN, Việt Nam không thể đứng

ngoài tiến trình hợp tác ASEAN+3 Trong một khu vực đang

vận động khá nhanh như Đông Á, trong một thể chế còn

nhiều vấn đề như ASEAN+3, việc tìm hiểu những vấn đề và triển vọng của ASEAN+3 hi vọng có thể đóng góp phần nào cho công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế và tăng cường hợp tác khu vực của Việt Nam

Nhân dịp này, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Trung tâm Hỗ trợ Nghiên cứu Châu Á và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã hỗ trợ trong việc hoàn thành và xuất bản cuốn sách

Chắc chắn cuốn sách này không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Rất mong bạn đọc lượng thứ và góp ý chân thành cho tác giả để sau này có thể bổ sung và hoàn thiện hơn

Tác giả

Trang 10

Chương 1

QUÁ TRÌNH HỢP TÁC ĐA PHƯƠNG ASEAN+3

1.1 Tiền đề của hợp tác đa phương ASEAN+3

Sự hình thành và phát triển hợp tác đa phương trong một

khu vực thường dựa trên những tiền đề nhất định Các tiền

đề này đóng vai trò như động lực thúc đẩy hợp tác đa phương

Chính sự tồn tại các tiền đề này đã giúp các nước trong vùng

nhận thức được những chia sẻ chung, giá trị chung và những

mục tiêu chung Để thực hiện những cái chung này, hợp tác

song phương là không đủ và trong chừng mực nào đó là

không thể Trên cơ sở đó, yêu cầu hợp tác đa phương khu vực

đối với các quốc gia đã được hình thành

Không chỉ là động lực, các tiền đề này còn là điều kiện cho

hợp tác đa phương Đó là nơi chứa đựng thuận lợi và khó khăn

đối với quá trình hợp tác đa phương khu vực Một mặt, sự vận

động và mức độ chín muồi của các tiền đề đem lại thuận lợi

cho sự phát triển hợp tác đa phương khi chúng góp phần thúc

đẩy hệ thống quan hệ song phương trong khu vực, tạo điều

kiện cho sự hình thành chủ nghĩa khu vực và làm tăng khả năng tiến tới cộng đồng khu vực Mặt khác, các tiền đề này còn là nơi xuất phát và nuôi dưỡng những tác động bất thuận cho quá trình hợp tác đa phương khu vực Vì thế, tiền đề thế nào thì sẽ in hình thế đó lên quá trình hợp tác đa phương Trên thực tế, các tiền đề này cũng chính là tiền đề của cộng đồng khu vực bởi hợp tác đa phương khu vực là giai đoạn đầu của quá trình tiến tới cộng đồng khu vực Sự phát triển hợp tác đa phương là nhân tố quy định sự hình thành cộng đồng khu vực Khi hợp tác đa phương phát triển đến mức độ nào đó, cộng đồng khu vực sẽ dễ được hình thành hơn Lẽ dĩ nhiên, không phải cứ có hợp tác đa phương là sẽ có cộng đồng khu vực Nhưng có điều chắc chắn, sẽ không có được cộng đồng khu vực nếu không có hợp tác đa phương Hơn thế nữa, kể cả khi có cộng đồng khu vực, hợp tác đa phương vẫn có ý nghĩa rất lớn bởi đó chính là phương thức duy trì cộng đồng khu vực Hợp tác đa phương là một phần không thể thiếu của quá trình tiến tới cộng đồng khu vực Vì vậy, các tiền đề trên không chỉ tác động đến quá trình hợp tác đa phương mà còn ảnh hưởng đến khả năng hình thành cộng đồng khu vực Xuất phát từ những ý trên, rõ ràng việc nghiên cứu quá trình hợp tác đa phương ASEAN+3 và triển khai mô hình nào đó của cộng đồng Đông Á đều cần tính đến các tiền đề này Trên thực tế, hai quá trình này có sự gắn bó mật thiết với nhau bởi “hợp tác ASEAN+3… đang đóng vai trò chủ chốt trong các nỗ lực xây dựng cộng đồng khu vực cho mục tiêu dài

Trang 11

hạn hiện thực hoá một cộng đồng Đông Á”.2 Vì thế, đây

không chỉ là các tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của hợp

tác đa phương ASEAN+3 mà còn là cơ sở quy định khả năng

tiến tới cộng đồng Đông Á Hơn nữa, ở Đông Á, các tiền đề

này có nhiều đặc thù, góp phần tạo ra những đặc điểm và vấn

đề riêng trong quá trình hợp tác đa phương cũng như sự hình

thành cộng đồng khu vực ở đây Vì thế, việc xem xét các tiền

đề của hợp tác đa phương ASEAN+3 có thể giúp ích phần nào

trong việc tìm hiểu quá trình tiến tới cộng đồng Đông Á

Tiền đề của hợp tác đa phương ASEAN+3 có thể là nguyên

nhân và động lực, có thể là điều kiện và tác động đến quá

trình này Để đóng được vai trò tiền đề cho hợp tác đa

phương ASEAN+3, chúng phải có được quy mô không gian

xuyên quốc gia, có tính bền vững tương đối và có lực đủ mạnh

để thúc đẩy hợp tác đa phương ở Đông Á Vậy đó là những

tiền đề nào? Đối với trường hợp ASEAN+3, có thể coi tiền đề

địa lý, lịch sử, văn hoá-xã hội, quan hệ song phương, an

ninh-chính trị và kinh tế như những cơ sở ninh-chính yếu cho sự hợp

tác này

1.1.1 Tiền đề địa lý

Xét về mặt địa lý, một khu vực thường được xác định như

một nhóm quốc gia cùng nằm trong một vùng đặc thù về địa

Sự gần gũi về mặt địa lý được coi là tiền đề quan trọng của hợp tác đa phương khu vực bởi vì nó tạo nên mối quan hệ địa lý-nhân văn giữa các quốc gia, dân tộc trong vùng Trên

cơ sở đó, ý thức về địa bàn chung và môi trường chung, ý niệm khu vực và tình cảm cộng đồng được hình thành Sự gần kề nhau cũng tạo sự tương tác chặt chẽ về địa-chính trị khi quốc gia này chính là môi trường an ninh trực tiếp của quốc gia kia Cùng với sự phụ thuộc lẫn nhau về an ninh ngày càng tăng, không gian lợi ích sống còn của quốc gia ngày càng gắn chặt với khu vực và ngược lại Sự gần gũi địa lý cũng đặt cơ sở địa-kinh tế cho sự hình thành quan hệ kinh tế trong khu vực Quan hệ kinh tế giữa các quốc gia gần kề thường được hình thành sớm và sự gần gũi địa lý thường đem lại những thuận lợi hơn cho sự liên kết kinh tế khu vực ngày nay Trong sự phát triển của mối quan hệ liên khu vực và toàn cầu, tính khu vực và vị trí chiến lược của khu vực ngày càng được nhận thức mạnh mẽ cả từ trong lẫn ngoài khu vực Và như vậy, yếu tố địa-chiến lược đã góp phần nâng cao vai trò của sự gần gũi địa lý đối với sự cố kết khu vực

Trong trường hợp Đông Á, sự gần gũi về mặt địa lý cũng đem lại những tác động như vậy đối với sự phát triển hợp tác

3 Edward D Mansfield & Helen V Milner, The New Wawe of Regionalism, International Organization Vol 53 No 3 Summer 1999, The Massachusetts Institute of Technology Press, pp 590

Trang 12

đa phương và khả năng hình thành cộng đồng khu vực ở đây

Tuy nhiên, vai trò của tiền đề địa lý này không hoàn toàn

thuận lợi cho các quá trình này

Thứ nhất, đứng từ góc độ nghiên cứu khu vực (regional

studies), vì chưa có sự thống nhất về tiêu chí xác định khu vực4

nên có những quan niệm khác nhau về khuôn khổ Đông Á Có

bốn quan niệm về khuôn khổ Đông Á Quan niệm thứ nhất coi

Đông Á bao gồm Đông Bắc Á và Đông Nam Á.5 Quan niệm thứ

hai coi Đông Á chính là Đông Bắc Á Đây là cách gọi ở một số

nước Phương Tây nhưng chủ yếu trước kia Ngoài ra, còn có

cách gọi Đông Á bao gồm cả Nam Á nhưng không phổ biến.6

Gần đây, cùng với việc nhóm họp Hội nghị Thượng đỉnh Đông

Á từ năm 2005, xuất hiện một cách gọi mới về Đông Á bao

gồm 13 nước ASEAN+3 và Ấn Độ, Australia, New Zealand, tức

là bao gồm cả 1 nước Nam Á và 2 nước Châu Đại Dương

Hiện nay, cách thứ nhất được sử dụng phổ biến với mức

độ thừa nhận chung cao hơn nhiều so với các cách kia Các tổ

chức toàn cầu như WB, IMF đều sử dụng cách gọi này Với

4 Về tiêu chí xác định khu vực trong nghiên cứu quốc tế, xin tham khảo thêm

Hoàng Khắc Nam, Phân định khu vực trong nghiên cứu quốc tế, Tạp chí

Khoa học, Tập 23, số 2, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007, tr 77-86

5 John Ravenhill, A Three Bloc World? The New East Asia regionalism,

International Relations of the Asia-Pacific Volume 2 (2002), pp 168

Chia Siow Yue & Mari Pangestu, The Rise of East Asian Regionalism, Draft,

December 2003, pp 2

6 Eisuke Sakakibara & Sharon Yamakawa, Regional Integration in East Asia:

Challenges and Opportunities, Part Two: Trade, Finance and Integration,

World Bank East Asia Project, Global Security Research Center-Keio

University, pp 191

cách gọi thứ nhất, khuôn khổ hợp tác ASEAN+3 hiện nay gần như trùng lặp với phạm vi Đông Á Tuy nhiên, trong cách thứ nhất, vẫn tồn tại những ý kiến không đồng nhất với nhau Đông Á chính là khuôn khổ ASEAN+3? Hay bao gồm thêm Bắc Triều Tiên, Đài Loan, Hongkong? Hay cần thêm cả Mông Cổ, phần Viễn Đông của nước Nga và Đông Timor? Sự khác nhau này đang dẫn đến khó khăn trong quan niệm về cộng đồng Đông Á cũng như trong cố gắng thúc đẩy hợp tác khu vực Theo chúng tôi, với mục tiêu nghiên cứu cộng đồng khu vực, khuôn khổ thích hợp nhất của Đông Á có thể được coi bao gồm Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc (gồm cả Đài Loan và Hongkong) và 10 nước thành viên ASEAN ở Đông Nam Á Đây là những chủ thể có sự tương tác tương đối chặt chẽ với nhau và đang có xu hướng tăng cường hợp tác khu vực

Vấn đề thứ hai là những đặc thù của điều kiện địa lý ở đây đã không làm sự gần gũi về địa lý có tác động mạnh mẽ đối với hợp tác đa phương và cộng đồng Đông Á Các quốc gia phân bố trải dài trên một diện rất rộng khiến nhiều nước ở cách xa nhau, làm giảm sự hiểu biết lẫn nhau Địa hình đa dạng và phức tạp gồm cả núi cao và biển cả tạo nên cản trở giao lưu và thông thương Khí hậu khác nhau cũng góp phần tạo nên lối sống và nhân sinh quan khác nhau, hạn chế sự hình thành bản sắc và các giá trị chung Sự phân bố trải dài và những khác nhau về địa lý đem lại khả năng hình thành các tiểu khu vực nhiều hơn là cho toàn khu vực Đông Á Những điều kiện địa lý như vậy khiến mối liên hệ lịch sử

Trang 13

kém phát triển và ý thức khu vực xuất hiện muộn hơn nhiều

nơi khác Các cố gắng hợp tác Đông Á mới chỉ nổi lên trong

thế kỷ XX và chủ yếu trong thời gian sau Chiến tranh lạnh

Ngay ý thức về khu vực Đông Nam Á – nơi chủ nghĩa khu vực

được coi là rõ nét hơn nhiều so với chủ nghĩa khu vực Đông Á

– cũng chỉ là sản phẩm của thời hiện đại

Rõ ràng, trong trường hợp Đông Á, sự gần gũi địa lý là

một tiền đề quan trọng góp phần hình thành quan hệ đa

phương, thúc đẩy khả năng xây dựng một cộng đồng khu vực

Nhưng địa lý không phải là yếu tố duy nhất quy định nên khu

vực Cho dù có những tác động tích cực, tiền đề này không

phải hoàn toàn thuận lợi cho sự phát triển hợp tác đa phương

cũng như sự hình thành cộng đồng ở đây

1.1.2 Tiền đề lịch sử

Nếu địa lý là không gian thì lịch sử là thời gian của một

cộng đồng khu vực Sự gần gũi về mặt địa lý tạo điều kiện cho

quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc hình thành sớm và được

duy trì suốt chiều dài lịch sử Lịch sử quan hệ lâu dài giúp tạo

dựng và củng cố các liên hệ nhiều mặt giữa chúng – cơ sở cho

sự phát triển quan hệ, trong đó có quan hệ đa phương Chính

bởi vai trò như vậy mà yếu tố lịch sử có thể được coi như một

tiền đề của hợp tác đa phương và cộng đồng khu vực

Thực vậy Quá trình quan hệ lâu dài trong lịch sử làm

tăng sự hiểu biết lẫn nhau và sự tương tác với nhau, từ đó

làm tăng khả năng cố kết khu vực Những quan hệ lịch sử lâu

dài giúp tạo dựng và củng cố hệ thống quan hệ song phương

trong khu vực – nền tảng để hình thành quan hệ đa phương Các quá trình tương tác chính trị, trao đổi kinh tế, giao lưu văn hoá, các cuộc di cư,… trong lịch sử giúp hình thành nên những giá trị chung giữa các quốc gia, dân tộc gần kề, góp phần hình thành bản sắc riêng của khu vực Lịch sử chính là một yếu tố quan trọng làm nên những đặc thù riêng, những vấn đề riêng, những quan niệm riêng và cách hành xử riêng trong quan hệ quốc tế khu vực Trong thời hiện đại, dù mức độ mạnh yếu khác nhau, lịch sử vẫn tiếp tục tác động lên ý thức khu vực, tình cảm khu vực, quan niệm về hợp tác khu vực và quá trình hình thành cộng đồng khu vực Rõ ràng, quá trình quan hệ lâu dài giữa các quốc gia, dân tộc ở gần kề nhau là tiền đề cần được tính đến cho việc phát triển quan hệ

đa phương, cho sự hình thành cộng đồng khu vực

Trên thực tế, lịch sử không đóng vai trò tiền đề như nhau cho mọi hợp tác đa phương và liên kết khu vực Nhiều học giả không đánh giá cao vai trò tiền đề này của lịch sử Điều này dường như hợp lý khi những động thái thúc đẩy hợp tác đa phương khu vực hiện nay thường là kinh tế hoặc chính trị Tuy nhiên, trong trường hợp Đông Á, vai trò của lịch sử là dễ nhận thấy Hầu hết các quốc gia, dân tộc ở đây đều có những mối quan hệ lịch sử khá lâu dài Có những quan hệ đã được hình thành cách đây hàng nghìn năm Mối quan hệ này tồn tại cả trên hai kênh nhân dân-nhân dân, nhà nước-nhà nước Sự liên hệ giữa chúng diễn ra trong nhiều lĩnh vực của đời sống, từ kinh tế, chính trị tới văn hoá, xã hội Một quá trình và quy mô như vậy khiến lịch sử đủ sức nặng tác động đến quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực

Trang 14

Quá trình quan hệ này vẫn được tiếp tục cho đến khi bị

ngăn trở bởi sự thâm nhập của chủ nghĩa thực dân vào đây

Tuy nhiên, sự can thiệp của các nước thực dân Phương Tây

cũng góp phần làm tăng ý thức về tình cảnh chung, nhu cầu

đoàn kết và tình cảm khu vực trong mối quan hệ lịch sử này

Lịch sử can thiệp mạnh mẽ từ bên ngoài trong Chiến tranh

lạnh càng củng cố ý thức này Ý niệm Đông Á bắt đầu xuất

hiện chính trong thời kỳ chủ nghĩa thực dân Và chủ nghĩa

khu vực bắt đầu trở thành hành động thực tế sau một thời

gian dài Đông Á bị can thiệp mạnh mẽ từ bên ngoài

Quá trình quan hệ như vậy đã đem lại cho lịch sử vai trò

tiền đề cho sự hợp tác đa phương trong ASEAN+3 và khả

năng hình thành một cộng đồng khu vực ở Đông Á Nhưng đó

không phải là tác động một chiều Lịch sử Đông Á chứa đựng

nhiều điều khiến cho khả năng phát triển hợp tác đa phương

cũng như sự hình thành cộng đồng khu vực ở đây không được

sớm sủa và thuận lợi như nhiều khu vực khác trên thế giới

Những vấn đề này là:

Thứ nhất là sự hình thành nhà nước và quốc gia sớm ở

khu vực này đã tạo nên sức sống mạnh mẽ cho chủ nghĩa

quốc gia ở Đông Á Chủ nghĩa quốc gia mạnh mẽ thường dẫn

đến chủ nghĩa vị kỷ thái quá trong chính sách đối ngoại hoặc

sự đối lập với chủ nghĩa khu vực Thứ hai là quá trình biệt

lập lâu dài với sự thiếu vắng trải nghiệm đa phương Quá

trình biệt lập lâu dài không chỉ làm cho quan hệ song phương

giữa một số nước trong khu vực không có được nền tảng lịch

sử vững chắc Chủ nghĩa biệt lập còn góp phần duy trì xu hướng hướng nội và làm giảm sự dấn thân vào hội nhập khu vực Trong khi đó, sự thiếu vắng trải nghiệm đa phương đang gây khó khăn trong việc tìm kiếm và xác định phương thức, mô hình cho sự hợp tác đa phương khu vực – một cơ sở quan trọng của cộng đồng khu vực Thứ ba là lịch sử chiến tranh và xung đột giữa các quốc gia trong khu vực Chiến tranh và xung đột lâu dài giữa các quốc gia trong lịch sử đã để lại không chỉ các tranh chấp lãnh thổ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay mà còn cả sự ác cảm dân tộc, tâm lý nghi kỵ, những vấn đề nhạy cảm trong quan hệ với các nước lớn và cả những vướng mắc lịch sử giữa nhiều quốc gia trong vùng Tất cả những điều này đều ảnh hưởng đáng kể đến nỗ lực thúc đẩy hợp tác đa phương, hình thành cộng đồng khu vực ở Đông Á Như vậy, lịch sử không chỉ là cơ sở thuận lợi mà còn chứa đựng nhiều cản trở cho sự phát triển hợp tác đa phương ASEAN+3 cũng như cho khả năng tiến tới cộng đồng Đông Á Những cản trở này không chỉ đơn thuần là những vấn đề của quá khứ mà vẫn tiếp tục tồn tại trong hiện tại và tương lai Sự hiện diện của chúng diễn ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau đem lại nhiều vấn đề đa dạng khác nhau

1.1.3 Tiền đề văn hoá-xã hội Giữa các quốc gia trong vùng thường có những tương đồng giúp tạo nên đặc điểm phân biệt khu vực này với khu vực khác Sự tương đồng của một khu vực có thể là về văn hoá-xã hội, số phận lịch sử, kinh tế, chính trị hay trên phương diện

Trang 15

đối ngoại Trong số này, những tương đồng về mặt văn

hoá-xã hội thường có quá trình dài lâu nên dễ có tính vững bền

hơn Chúng cũng dễ đem lại ý thức khu vực và tình cảm cộng

đồng hơn Sự tương đồng về văn hoá-xã hội thường dựa trên

các yếu tố như chủng tộc, các mối quan hệ đồng tộc, tôn giáo,

ngôn ngữ và các giá trị văn hoá khác Cùng với lịch sử, văn

hoá-xã hội là tiền đề góp phần đem lại sự tương đồng đó

Trong nhiều trường hợp, tương đồng văn hoá-xã hội được

coi là một cơ sở để xác định khu vực Thậm chí, do có sự vận

động nên các tương đồng này có thể củng cố hoặc thậm chí

làm thay đổi khuôn khổ địa lý của khu vực Quan trọng hơn,

các tương đồng đó còn là những sợi dây liên kết tình cảm, ý

thức và hành vi giữa các quốc gia Sự liên kết khu vực thường

được hình thành trên những tương đồng như vậy Thực tế

cũng cho thấy điều này khi sự hội nhập khu vực đang diễn ra

khá nhiều theo vùng văn hoá và không gian xã hội

Tiền đề văn hoá-xã hội tạo nên những nét chung về bản

sắc, giá trị và tình cảm cộng đồng với nhau Bản sắc tạo nên

ý thức về khu vực và những cái “của chúng ta” Sự chia sẻ giá

trị chung góp phần tạo nên sự đồng điệu trong ứng xử với

nhau và với bên ngoài Còn tình cảm là những sợi dây gắn

kết để hình thành nên cộng đồng Tất cả những điều này đều

có xu hướng thúc đẩy các quốc gia trong vùng hướng về nhau

nhiều hơn Và trên cơ sở đó, quan hệ đa phương, chủ nghĩa

khu vực và cộng đồng khu vực dễ được hình thành và phát

triển hơn

Ở Đông Á, cũng tồn tại tiền đề văn hoá xã hội như vậy tuy mức độ và tác động không giống như nhiều khu vực khác Những người theo chủ nghĩa kiến tạo (Constructivism) đã nhấn mạnh đến các giá trị này đối với chủ nghĩa khu vực Đông Á bên cạnh các yếu tố khác

Thứ nhất, về phương diện văn hoá, ảnh hưởng lâu đời và mạnh mẽ của hai nền văn minh lớn Trung Quốc và Ấn Độ cũng như sự giao thoa giữa chúng đã tác động khá nhiều đến nền văn hoá của nhiều quốc gia trong vùng Ảnh hưởng và tác động to lớn của hai nền văn minh này và sự giao thoa giữa chúng tạo điều kiện hình thành những giá trị chung giữa các quốc gia trong khu vực cũng như những nét riêng của khu vực Đông Á, giúp thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau và mối quan hệ giao lưu giữa các quốc gia, dân tộc

Thứ hai, về mặt chủng tộc, tuy dân cư ở đây không thuần nhất về mặt chủng tộc nhưng nhiều quốc gia trong vùng cùng thuộc một chủng tộc như các nước Đông Bắc Á thuộc chủng tộc Mongoloit hay nhiều nước Đông Nam Á thuộc Negro-Autraloit Giữa các đại chủng này có sự hỗn hợp nhất định với nhau và sự hỗn hợp này phản ánh khá rõ ở nhiều dân tộc Đông Nam Á.7 Điều này chứng tỏ quá trình tiếp xúc lâu dài và sự gần gũi giữa các cư dân trong vùng Đáng chú ý ở đây, cho dù có sự phân biệt ít nhiều nhưng chưa tồn tại chủ nghĩa

7 Về vấn đề này, xin tham khảo thêm GS Phan Hữu Dật, Vấn đề Nam Á, Một số vấn đề về Dân tộc học Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 1998, trang 645-688

Trang 16

phân biệt chủng tộc – cản trở cực lớn cho hợp tác đa phương

và khả năng hình thành cộng đồng khu vực

Thứ ba, về mặt xã hội, quá trình di cư lâu đời giữa các

cộng đồng trong khu vực đã tạo nên hình thế phân bố đan

xen và những liên hệ đồng tộc trải khắp khu vực Trong thời

chủ nghĩa thực dân, sự di cư trong vùng vẫn tiếp tục Quá

trình di cư của người Hoa và sự phân bố Hoa kiều ở khắp

Đông Á có thể coi là một ví dụ điển hình Quá trình này đã

tạo điều kiện cho mối quan hệ nhân dân-nhân dân, cho sự

tiếp xúc trao đổi giữa các nước về cả văn hoá tinh thần lẫn

văn hoá vật chất

Thứ tư, về phương diện ngôn ngữ, ngôn ngữ là phương

tiện giao tiếp và là cây cầu nối bờ văn hoá Ngôn ngữ cũng là

sự phản ánh của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá Ở

Đông Á, quá trình quan hệ và giao lưu văn hoá lâu đời dẫn

đến sự phổ biến hiện tượng ngôn ngữ thẩm thấu vào nhau

Thậm chí, có những ngôn ngữ thẩm thấu nhau với tỉ lệ khá

lớn như trường hợp tiếng Hoa trong ngôn ngữ của nhiều dân

tộc xung quanh

Thứ năm, về phương diện tôn giáo, ở Đông Á có những

tôn giáo phổ biến xuyên biên giới trên nhiều vùng rộng lớn

như trường hợp Nho giáo, Phật giáo hay Hồi giáo Ảnh

hưởng tương đối mạnh của các tôn giáo này không chỉ đem lại

những tương đồng nhất định trong giá trị và niềm tin mà còn

làm nảy sinh những tình cảm xuyên biên giới giữa các cộng

đồng cùng một tôn giáo Nhiều giá trị tôn giáo đã trở thành

giá trị dân tộc và từ đó là điểm chung liên quốc gia Quá trình phổ biến các tôn giáo có tính quốc tế ở Đông Á cũng góp phần tạo nên sự liên hệ giữa những cộng đồng cùng tôn giáo trong khu vực bất chấp mối liên hệ khá yếu ớt giữa giáo hội các nước

Tất cả những điểm trên tuy có giúp nhận biết Đông Á như một khu vực khác với phần còn lại của thế giới nhưng chưa giúp nhiều cho việc đem lại những giá trị chung và bản sắc riêng cũng như tình cảm cộng đồng toàn khu vực Đồng thời, tiền đề văn hoá-xã hội ở Đông Á cũng chứa đựng nhiều điều bất lợi cho sự hình thành cộng đồng Đông Á Thứ nhất, ở Đông Á, chưa từng tồn tại một tư tưởng triết học chung cổ vũ cho sự hợp tác xuyên quốc gia giữa các dân tộc Khổng giáo, Phật giáo, Hồi giáo,… tuy có vai trò nhất định nhưng không ảnh hưởng trên toàn bộ Đông Á Sự khác biệt về tư tưởng và sự đa dạng về trường phái đã ngăn cản sự hình thành nền tư tưởng chung cho cả khu vực, trong đó có nhận thức và quan niệm đối ngoại Thứ hai, giao thoa văn minh Trung-Ấn không có tác động như nhau trên toàn khu vực nên không giúp gì nhiều cho việc tạo nên những giá trị chung cho khu vực Nguyên nhân của hiện tượng này có nhiều như khả năng nội sinh và tính cách bảo thủ của cả hai nền văn minh, con đường truyền bá khác nhau, phạm vi ảnh hưởng hạn chế thường chỉ ở mức tiểu khu vực, sự đa dạng văn hoá bản địa và những quá trình “địa phương hoá” khác nhau,… Thứ ba là mối quan hệ giữa tương đồng và đa dạng ở Đông Á Sự tương đồng không phải là nhiều trong khi sự đa dạng ở đây rất lớn Sự

Trang 17

tương đồng diễn ra chủ yếu trên quy mô tiểu khu vực trong

khi sự đa dạng văn hóa lại phổ biến trên toàn khu vực Điều

này góp phần làm chậm chạp hợp tác đa phương khu vực và

ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành cộng đồng Đông Á

Tiền đề văn hoá-xã hội có thể không phải là động lực

mạnh mẽ cho sự hợp tác đa phương của ASEAN+3 và một

cộng đồng ở Đông Á Mặc dù vậy, sự tồn tại tiền đề này vẫn

có thể đem lại hi vọng vào sự hình thành các giá trị chung

Đông Á từ những tương đồng tiểu khu vực, sự xuất hiện các

giá trị chung mới, khả năng bổ sung lẫn nhau của đa dạng

văn hoá-xã hội,… Và điều này chính là sự đóng góp cho mối

quan hệ đa phương trong khu vực

1.1.4 Tiền đề quan hệ song phương

Sự hình thành cộng đồng khu vực phụ thuộc vào sự phát

triển quan hệ đa phương Nhưng quan hệ đa phương lại phụ

thuộc vào quan hệ song phương Vì thế, sự phát triển quan hệ

song phương vừa là tiền đề của quan hệ đa phương, vừa là

tiền đề của cộng đồng khu vực

Quan hệ song phương là cơ sở xuất phát của quan hệ đa

phương So với quan hệ đa phương, quan hệ song phương là

cái bắt đầu, cái có trước Lịch sử quan hệ đối ngoại của mọi

quốc gia, dân tộc đều là quá trình phát triển các quan hệ song

phương lâu dài trước khi có quan hệ đa phương Quan hệ đa

phương chỉ được xuất hiện khi các quan hệ song phương đã

ngày càng nhiều và chồng chéo lên nhau, tạo ra những vấn

đề liên quan đến lợi ích của nhiều bên Quá trình hình thành

quan hệ đa phương được bắt đầu trên nền quan hệ song phương, được thực hiện qua kênh song phương và nhằm giải quyết những vấn đề chung nảy sinh trong quá trình quan hệ song phương Trong chừng mực nào đó, có thể hiểu quá trình quan hệ đa phương là sự tập hợp các quan hệ song phương thành hệ thống theo những tiêu chí nhất định, vì những mục tiêu chung nhất định

Ngoài ý nghĩa là cơ sở xuất phát, quan hệ song phương còn là điều kiện cần cho sự phát triển quan hệ đa phương Tính điều kiện ở đây được thể hiện trên hai mặt Đó là tính hướng đích chung và mức độ phát triển nhất định của các quan hệ song phương Trong điều kiện đầu tiên, quan hệ đa phương chỉ có được khi các chủ thể có cùng lợi ích, các quan hệ song phương có chung mục đích và dòng vận động của chúng cùng đi theo một hướng Kênh này càng đồng thuận và thông suốt, khả năng thực thi quan hệ đa phương càng cao Trong tính điều kiện thứ hai, khi quan hệ song phương phát triển đến mức độ nào đó, lợi ích chung vượt khỏi khuôn khổ song phương, sự giao thoa nối kết giữa các quan hệ song phương được hình thành Chỉ khi đó, quan hệ đa phương mới có khả năng hiện thực Những quan hệ song phương ngược nghịch nhau, yếu ớt hay thiếu liên tục thường khó tạo ra sự thúc đẩy cho sự hình thành và phát triển quan hệ đa phương Bên cạnh đó, quan hệ song phương còn là nguồn cung cấp

cơ chế và lực lượng cho quan hệ đa phương Thông qua quá trình quan hệ song phương, các cơ chế điều chỉnh quan hệ được hình thành, các luật lệ và chuẩn mực ứng xử đối ngoại

Trang 18

được xây dựng, các lực lượng tham gia quan hệ đa phương

được hình thành Do xuất hiện muộn hơn, do được xây dựng

trên nền quan hệ song phương, quan hệ đa phương có xu

hướng tiếp thu những yếu tố phù hợp trong cơ chế và lực

lượng của quan hệ song phương Chính cơ chế và lực lượng có

sẵn này đã tạo thuận lợi cho sự hình thành và phát triển

quan hệ đa phương Trên thực tế, tính mạng lưới của quan hệ

đa phương hiện nay nhờ khá nhiều vào cơ chế đa diện của

quan hệ song phương Trong khi đó tính tầng nấc của quan hệ

đa phương cũng nhờ rất nhiều vào sự tham gia của các lực

lượng khác nhau từ nhà nước tới nhân dân mà vốn đã tham

gia quan hệ song phương

Cuối cùng, phát triển quan hệ song phương còn là cách

thức duy trì và củng cố quan hệ đa phương Quan hệ song

phương đóng vai trò như một kênh thực hiện quan hệ đa

phương Nhiều lợi ích chung của quan hệ đa phương được thực

hiện đồng thời trên cả hai kênh đa phương và song phương

Tương tự như vậy, không hiếm trường hợp vấn đề của quan

hệ đa phương chỉ có thể được giải quyết trên cơ sở song

phương Không những thế, quan hệ song phương còn góp

phần củng cố quan hệ đa phương khi giúp tạo ra môi trường

thuận lợi, đem thêm nhiều cơ hội và giải pháp cho việc thúc

đẩy hợp tác đa phương Nhìn chung, do quan hệ đa phương

kém vững bền hơn nên nó có sự phụ thuộc đáng kể vào chất

lượng hợp tác của quan hệ song phương

Lịch sử Đông Á đã ghi nhận quá trình phát triển quan hệ

đối ngoại của các quốc gia, dân tộc trong khu vực đều bắt đầu

từ quan hệ song phương Lịch sử này kéo dài hàng trăm năm trước khi xuất hiện những cơ cấu đa phương trong khu vực từ thập niên 1960 Trong đó, những cơ cấu thành công hơn như ASEAN chẳng hạn đều xuất phát từ một nền quan hệ song phương tương đối thuận lợi Sự mở rộng ASEAN từ năm 1995 cũng dựa trên sự cải thiện quan hệ song phương Trong khi đó, những nỗ lực hợp tác đa phương không thành công hoặc kém hiệu quả có nguyên nhân phổ biến là do các vấn đề tồn tại trong quan hệ song phương mà sự bất thành của ASA (1961) và MAPHILINDO (1963) là những ví dụ

Sau Chiến tranh lạnh, quan hệ song phương ở Đông Á đang diễn ra những thay đổi theo hướng thuận lợi hơn cho sự phát triển quan hệ đa phương Thứ nhất, quan hệ song phương giữa hầu hết các nước trong vùng đều được cải thiện đáng kể, nhiều tranh chấp đã được gác lại, tính chất hữu nghị, đối tác đã ngự trị các quan hệ song phương Điều này tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển quan hệ đa phương Thứ hai, quan hệ song phương giữa các quốc gia trong vùng đã phát triển mạnh mẽ và diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau, dẫn đến tình trạng phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc Trên cơ sở đó, quan hệ song phương ở Đông Á đang ngày càng trở thành hệ thống – nền tảng quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của quan hệ đa phương Thứ ba, hầu hết các quan hệ song phương ở Đông Á hiện nay đều hướng tới hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển Tính hướng đích chung của các quan hệ song phương là điều kiện cần cho sự phát triển hợp tác đa phương Thứ tư, do lợi ích

Trang 19

song phương mở rộng và sự xuất hiện ngày càng nhiều vấn đề

chung đang vượt khỏi quy mô quan hệ song phương nên yêu

cầu hợp tác đa phương đang trở nên mạnh hơn bao giờ hết

Và như vậy, cơ sở của hợp tác đa phương cũng trở nên sâu sắc

hơn bao giờ hết

Mặc dù vậy, quan hệ song phương ở Đông Á cũng chứa

đựng nhiều vấn đề không có lợi cho sự phát triển quan hệ đa

phương Ngoài những lý do địa lý, lịch sử, văn hóa-xã hội đã

nêu ở trên, giữa các nước trong khu vực vẫn còn tồn tại nhiều

mâu thuẫn và sự cạnh tranh với nhau trong an ninh-chính trị

và kinh tế – những lĩnh vực có tính quyết định đối với quan

hệ đa phương Những mâu thuẫn, cạnh tranh trong số này lại

khá sâu sắc và dai dẳng Tình trạng này khá phổ biến ở

Đông Á Chúng tựa như những “tổ mối trong chân đê” Chúng

không chỉ làm cho chân đê thường xuyên không vững chắc

mà còn có thể dẫn đến sập đê nếu không được kiềm chế và

xử lý đúng đắn Tình trạng này ở Đông Á là khá rõ qua sự

xuất hiện muộn màng của quan hệ đa phương ở đây so với các

khu vực khác, qua sự phát triển chậm chạp và chưa chắc chắn

của quan hệ này hiện nay bất chấp những thuận lợi kể trên

trong quan hệ song phương

Tiền đề quan hệ song phương ở Đông Á chứa đựng cả cơ

hội và thách thức, thuận lợi và khó khăn cho quá trình hợp

tác đa phương ASEAN+3 và tiến tới cộng đồng khu vực Vì

thế, việc giải quyết các vấn đề song phương luôn là cái gì đó

hết sức quan trọng trên con đường này

1.1.5 Tiền đề an ninh-chính trị

An ninh-chính trị luôn là vấn đề cơ bản của mọi quốc gia nên thường tác động mạnh mẽ đến nhận thức, hành vi và chính sách đối ngoại của đất nước Trong bối cảnh môi trường khu vực ngày càng gắn bó với nền an ninh-chính trị quốc gia, bảo đảm an ninh-chính trị trở thành động lực cho xu hướng tăng cường hợp tác đa phương, tiến tới cộng đồng khu vực Trên thực tế, an ninh-chính trị luôn là mục tiêu công khai hoặc không công khai của xu hướng này Bởi vai trò như vậy,

an ninh-chính trị chính là cơ sở quan trọng cho sự phát triển quan hệ đa phương và tiền đề cho sự hình thành cộng đồng khu vực Điều này được phản ánh trên cả hai phương diện: Chính trị quốc tế và chính trị trong nước

Đối với Đông Á, những diễn biến trong nền chính trị quốc tế và đối nội đang tỏ ra thuận lợi hơn bao giờ hết cho xu hướng phát triển quan hệ đa phương trong khu vực Dựa trên sự thay đổi phân bố quyền lực thế giới, những người theo chủ nghĩa tân hiện thực (Neo-realism) cho rằng sự nổi lên của chủ nghĩa khu vực ở Châu Âu và Bắc Mỹ tạo ra sức ép buộc các quốc gia Đông Á phải liên kết để nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế Một cách giải thích khác dựa trên lý thuyết bá chủ cho rằng sự bá quyền của Mỹ hiện nay tạo ra kích thích liên kết khu vực Đông Á để hạn chế bớt những tác động tiêu cực từ bá chủ.8 Trên cấp độ khu vực, có quan điểm

8 John Ravenhill, A Three Bloc World? The New East Asia regionalism, International Relations of the Asia-Pacific Volume 2 (2002), pp 168

Trang 20

khác cho rằng sự nổi lên bá chủ khu vực sẽ lôi cuốn các nước

nhỏ hơn tham gia cộng tác với bá chủ trong các dàn xếp khu

vực9 vừa để phân chia lợi lộc, vừa để kiềm chế bá chủ bằng

lợi ích tập thể Một luận điểm nữa dựa trên đặc thù an

ninh-chính trị ở khu vực này là lịch sử can thiệp từ bên ngoài và

những nguy cơ xung đột giữa các nước trong khu vực Những

nguy cơ này đang đe doạ sự phát triển quốc gia và sự ổn định

khu vực Sự phát triển hợp tác đa phương, hình thành một

cộng đồng khu vực có thể là phương thức hữu hiệu để ngăn

chặn các nguy cơ này

Gần đây, với sự nổi lên của các vấn đề an ninh phi truyền

thống, hợp tác đa phương khu vực đang có thêm một xung lực

mới Xung lực này được tạo ra không chỉ vì đó là những mối

đe doạ chung và từ đó là ý thức về số phận chung Hầu hết

các vấn đề này đều đòi hỏi phải có sự phối hợp hành động và

thống nhất nỗ lực giữa các quốc gia thì mới giải quyết được

Và điều này dẫn đến yêu cầu tăng cường hợp tác đa phương

Đối với nền chính trị trong nước, ở Đông Á, cũng có những

thay đổi thuận lợi hơn cho sự phát triển quan hệ đa phương

trong khu vực Bên trong quốc gia, nhu cầu môi trường ổn

định cho phát triển đạt được sự thống nhất tương đối giữa các

lực lượng chính trị Giới chính trị và giới lãnh đạo ngày càng

quan tâm đến chủ nghĩa khu vực với chứng cứ là quá trình

dấn thân của tất cả các nước trong khu vực vào việc tăng

cường và thể chế hoá hợp tác khu vực Vai trò của giới kinh

9 John Ravenhill, Bđd, pp 169

doanh tăng lên trong quá trình hoạch định chính sách càng góp phần củng cố xu hướng và lợi ích của hợp tác kinh tế khu vực Giới khoa học cũng là một trong những lực lượng xã hội tham gia tích cực và cổ vũ cho quá trình hợp tác khu vực Đông Á Những thay đổi như vậy trong nền chính trị đối nội các nước tạo thuận lợi hơn cho chính sách và quá trình phát triển hợp tác đa phương ở Đông Á Minh chứng là các sáng kiến được đề ra, các thể chế được hình thành, sự tham gia của đông đảo lực lượng chính trị và tầng lớp xã hội khác nhau vào quá trình hợp tác khu vực ở Đông Á từ sau Chiến tranh lạnh, nhất là từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 Tuy nhiên, an ninh-chính trị cũng chứa đựng nhiều vấn đề trên con đường phát triển hợp tác đa phương, tiến tới cộng đồng Đông Á Thứ nhất, đó là những nguy cơ bất ổn và chia rẽ tiềm tàng trong khu vực Xung đột ở đây đủ mọi loại hình, từ tranh giành quyền lực đến tranh chấp lãnh thổ, từ cạnh tranh kinh tế đến mâu thuẫn tư tưởng,… Khu vực này cũng là nơi chứa đựng những nguy cơ xung đột chiến lược lớn như vấn đề vũ khí hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên, vấn đề Đài Loan, vấn đề Biển Đông Thêm vào đó, vấn đề khủng bố và đấu tranh chống khủng bố đang làm tăng thêm sự phức tạp an ninh ở Đông Á Thứ hai, đó là nguy cơ cạnh tranh giữa các cường quốc, nhất là mâu thuẫn Mỹ-Trung và Trung-Nhật Sự tồn tại các mâu thuẫn này tạo nên không chỉ tình trạng bất ổn mà còn là cả nguy cơ chia rẽ trong khu vực, ảnh hưởng rất lớn đến hợp tác đa phương và xu hướng tiến tới cộng đồng Đông Á Thứ ba, đó là sự chênh lệch vị thế đáng kể giữa các

Trang 21

quốc gia Đông Á Vị thế quốc tế chênh lệch không chỉ dễ dẫn

đến sự phân tầng và đẳng cấp trong hợp tác khu vực Nó còn

tạo nên sự khác nhau trong quan điểm khu vực và quốc tế, lợi

ích đối nội và đối ngoại, nhận thức vấn đề và chính sách khu

vực Sự chênh lệch này rất dễ làm lệch hướng hợp tác đa

phương khu vực Thứ tư, là sự đa dạng trong hệ tư tưởng, chế

độ chính trị và hệ thống chính trị ở Đông Á Sự đa dạng này

góp phần tạo nên độ vênh trong thế giới quan, nhận thức, giá

trị và lợi ích giữa các nước Đông Á Và từ đó là sự chênh

nhau trong lĩnh vực ưu tiên, lựa chọn chính sách, cách thức

tiến hành,… trong quan hệ khu vực Và thứ năm, đó là sự nổi

lên của các vấn đề an ninh phi truyền thống Các vấn đề này

đều có xu hướng tăng lên, góp phần làm phức tạp thêm bức

tranh an ninh trong khu vực

Tất cả những vấn đề trên tạo nên tính kém ổn định cho

tương tác liên quốc gia trong khu vực và gây khó khăn cho sự

hợp tác đa phương ở Đông Á

Nhìn chung, với những thay đổi sau Chiến tranh lạnh,

tiền đề an ninh-chính trị đang có vai trò tích cực đối với khả

năng phát triển quan hệ đa phương ở Đông Á Tuy nhiên, sự

phức tạp và khó lường trong môi trường an ninh-chính trị ở

đây vẫn khiến con đường phát triển hợp tác đa phương

ASEAN+3, tiến tới cộng đồng Đông Á còn nhiều khó khăn

1.1.6 Tiền đề kinh tế

Kinh tế là lợi ích cơ bản gắn chặt với nhu cầu phát triển

của quốc gia cũng như mọi thành viên trong xã hội nên luôn

là một mục tiêu chính trong chính sách đối ngoại Kinh tế luôn là động lực căn bản cho sự mở rộng quan hệ đối ngoại của các cộng đồng/quốc gia trong mọi thời kỳ lịch sử Xu hướng của kinh tế là sự tăng trưởng ngày càng cao và sự mở rộng thị trường không ngừng Cả hai điều này đều dẫn đến yêu cầu tăng cường hợp tác kinh tế, đầu tiên với các thị trường gần kề bởi những lợi thế về địa lý, lịch sử, văn hoá-xã hội và yêu cầu giảm giá thành Bên cạnh đó, kinh tế còn là điều kiện cho sự phát triển hợp tác đa phương và hình thành cộng đồng khu vực Những quan hệ kinh tế xuyên quốc gia được thiết lập và phát triển sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao ý thức khu vực, tình cảm cộng đồng Những liên kết kinh tế cũng thúc đẩy sự hợp tác trên các lĩnh vực khác, góp phần làm tăng sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong vùng Cùng với đó, sự mở rộng lợi ích và không gian kinh tế, yêu cầu ổn định môi trường và thể chế hóa quan hệ kinh tế quốc tế sẽ dẫn đến xu hướng phát triển hợp tác kinh tế đa phương Trong bối cảnh hiện nay, khi phát triển kinh tế trở thành

ưu tiên và dưới tác động của khu vực hóa, kinh tế là yếu tố điều chỉnh phạm vi khu vực mạnh nhất với sự định danh khu vực thường dựa theo các hiệp định thương mại khu vực Rõ ràng, kinh tế đóng vai trò tiền đề quan trọng bậc nhất đối với sự phát triển hợp tác đa phương và hình thành cộng đồng khu vực, ít nhất là trong thời hiện đại

Ở Đông Á, cùng với an ninh-chính trị, kinh tế đang tác động mạnh mẽ tới phát triển hợp tác đa phương trong ASEAN+3 và xu hướng hình thành cộng đồng Đông Á Đầu

Trang 22

tiên là tác động xuất phát từ quá trình khu vực hoá kinh tế

Đông Á Quá trình này định hình rõ rệt từ giữa những năm

1980 và ngày càng phát triển Quá trình này xuất phát từ các

lực lượng thị trường quốc tế, chủ yếu là các Công ty Xuyên

quốc gia (TNC) rồi sau ngày càng được sự quan tâm của các

chính phủ, đặc biệt từ sau khủng hoảng 1997 Và cho đến

nay, quá trình này đã có sự tham gia đông đảo của các doanh

nghiệp vừa và nhỏ Khu vực hoá kinh tế làm tăng sự phụ

thuộc kinh tế lẫn nhau giữa các nước trong khu vực nên dẫn

đến yêu cầu thúc đẩy hợp tác đa phương Đồng thời, khu vực

hoá kinh tế phát triển đang tạo điều kiện hình thành hệ

thống kinh tế ở Đông Á, đem lại cơ hội cho xu hướng tiến tới

cộng đồng Đông Á

Thứ hai là tác động xuất phát từ nền kinh tế trong nước

Hiện nay, tất cả các nước Đông Á đều ưu tiên phát triển kinh

tế, đều thi hành chính sách mở cửa và nhấn mạnh tới không

gian kinh tế khu vực Thúc đẩy hợp tác kinh tế nội vùng đã

trở thành một trong những ưu tiên trong chính sách kinh tế

đối ngoại Lợi ích và quan niệm như vậy đang trở thành động

lực quan trọng cho sự tham gia hợp tác đa phương ở Đông Á

Bên cạnh đó, tình trạng khó khăn hay trì trệ trong nền kinh

tế một số nước khu vực cũng khiến chúng nhìn vào việc tăng

cường hợp tác kinh tế khu vực như một lối thoát Ngoài ra, sự

tham gia vào kinh tế khu vực cũng được hi vọng đem lại xung

lực mới cho cải cách kinh tế trong nước

Thứ ba là tác động từ nền kinh tế quốc tế Sự phát triển

của chủ nghĩa khu vực ở Châu Âu và Bắc Mỹ đã tạo sức ép

cho chủ nghĩa khu vực Đông Á nổi lên Trước khả năng mở rộng ra Châu Âu của EU, ra Châu Mỹ của NAFTA, các nước Đông Á có nhu cầu liên kết lại với nhau để tăng tiếng nói của mình trong nền kinh tế thế giới và trong các thể chế kinh tế toàn cầu Đồng thời, sự liên kết này còn giúp các nước này mở rộng thị trường xuất khẩu và giảm sự phụ thuộc vào hai thị trường kia

Thứ tư là những tác động trực tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997-1998 Cuộc khủng hoảng này cho thấy những thể chế khu vực hiện hành và sự hợp tác kinh tế trước đó giữa các nước Đông Á là không đủ để đối phó Sự thất vọng đối với phản ứng thiếu nhiệt tình của Phương Tây và APEC đã làm tăng tình cảm khu vực Khủng hoảng đã làm tăng tiếng nói của các nhóm trong nước ủng hộ tự do hoá thương mại và phi điều tiết trong khu vực, từ đó góp phần làm tăng sự quan tâm của chính phủ đối với chủ nghĩa khu vực Đông Á.10 Đây là tác động mà nhiều học giả cho là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự hình thành khuôn khổ hợp tác đa phương ASEAN+3

Cho dù đang đóng vai trò quan trọng bậc nhất đối với ASEAN+3 và cộng đồng Đông Á, tiền đề kinh tế này cũng chứa đựng những trở ngại không hề nhỏ Những trở ngại này đang gây khó khăn cho sự vận động của hợp tác đa phương ASEAN+3 và xây dựng cộng đồng Đông Á

10 John Ravenhill, Bđd, pp 169

Trang 23

Thứ nhất, khoảng cách trình độ phát triển giữa các

nước trong khu vực là quá lớn Trình độ phát triển kinh tế

khác nhau dẫn tình trạng và vấn đề kinh tế trong nước

khác nhau, từ đó tạo ra những lợi ích và ưu tiên khác nhau

trong chính sách liên kết khu vực Năng lực tham gia hợp

tác khu vực khác nhau dẫn đến nguy cơ kết quả thu được

khác nhau, từ đó là ý chí cộng tác khác nhau Trình độ

chênh lệch cũng làm tăng tính bất tương xứng trong tương

tác giữa các quốc gia và cùng với đó là nguy cơ bất bình

đẳng mới và những khó khăn trong thể chế hoá quan hệ

kinh tế khu vực

Thứ hai, đó là những cản trở từ bên ngoài đối với

sự hình thành và cố kết một thể chế khu vực Đông Á Là

một khu vực tương đối mở, chứa đựng nhiều quyền lợi của

các nước lớn, lại có cơ sở hợp tác nội vùng lỏng lẻo, Đông

Á rất dễ bị chịu những tác động ngăn cản hợp tác từ

bên ngoài Trong khi đó, vì nhiều lý do, các tác động này

cũng dễ xảy ra ở đây Hợp tác đa phương ở Đông Á đã từng

bị thất bại bởi điều này như trường hợp EAEG và AMF

chẳng hạn

Thứ ba là những cản trở từ bên trong các nước Đông Á

Chủ nghĩa ích kỷ kinh tế trong chính sách khu vực của

nhiều nước không chỉ làm xói mòn thiện chí mà còn có thể

tạo nên sự xung đột lợi ích Cơ cấu kinh tế có nhiều tương

đồng tạo nên nguy cơ cạnh tranh thị trường và đầu tư nước

ngoài Cạnh tranh nếu không được kiềm chế hợp lý sẽ tạo

sự chia rẽ mới ở Đông Á Đó là chưa kể những khó khăn

kinh tế, sự trì trệ trong nước hay những bất cập về luật pháp kinh tế cũng gây ra những tác động bất lợi cho chủ nghĩa khu vực và sự hợp tác giữa các nước Hợp tác ASEAN+3 đang phải đối mặt với tất cả các khó khăn này Như vậy, các tiền đề của hợp tác đa phương ASEAN+3 là cái gì đó hiện hữu Đó là các cơ sở địa lý, lịch sử, văn hoá-xã hội, quan hệ song phương, an ninh-chính trị và kinh tế Trong đó, bốn cơ sở đầu đóng vai trò chủ yếu như điều kiện, còn hai cơ sở sau vừa là điều kiện vừa là nguyên nhân cho xu hướng tăng cường hợp tác đa phương ở Đông Á hiện nay Các tiền đề này có tính hai mặt rõ rệt khi vừa đem lại những thuận lợi đáng kể, vừa chứa đựng những cản trở không nhỏ cho quá trình hợp tác đa phương của ASEAN+3 Các cản trở này chính là những vấn đề của ASEAN+3 mà sẽ được đề cập kỹ hơn trong Chương 2

Dưới tác động của những điều kiện mới trong thời hiện đại, các tiền đề trên đã góp phần thúc đẩy sự hình thành quan hệ đa phương trong khu vực Ngay trong Chiến tranh lạnh, xu hướng này đã bắt đầu diễn ra với những cố gắng xây dựng thể chế khu vực ở Đông Á Sau Chiến tranh lạnh, những tiền đề này, đặc biệt an ninh-chính trị và kinh tế, đã góp phần thúc đẩy xu hướng hợp tác đa phương ở đây với dấu ấn quan trọng là sự hình thành ASEAN+3 – khuôn khổ hợp tác đa phương khu vực đầu tiên Hiện nay, hợp tác

đa phương đã trở thành xu hướng lớn trong khu vực và đang đem lại hi vọng về khả năng hiện thực hóa một cộng đồng Đông Á

Trang 24

1.2 Quá trình hình thành ASEAN+3

1.2.1 Các cố gắng phát triển hợp tác đa phương, xây dựng

thể chế khu vực ở Đông Á trong Chiến tranh lạnh

Vấn đề thể chế có ý nghĩa đặc biệt trong sự hình thành và

phát triển hợp tác đa phương Thể chế hoá hợp tác khu vực

thường được xây dựng bởi yêu cầu phát triển hợp tác đa

phương Ngược lại, thể chế hoá cũng có ảnh hưởng không nhỏ

đến khả năng tăng cường hợp tác đa phương khu vực Một sự

hợp tác khu vực cần phải được xây dựng và thực hiện một cách

có tổ chức, trong trật tự và có sự tham gia của hầu hết các nước

trong khu vực Quan hệ đa phương vốn tập trung nhiều sự khác

biệt về lợi ích, nhận thức, hành vi và năng lực chủ thể Vì thế,

một thể chế chung là cần thiết để điều hoà lợi ích, dung hợp

nhận thức, thống nhất hành vi và phối hợp năng lực Từ đó,

một thể chế hợp tác tồn tại có hiệu quả sẽ tạo điều kiện thuận

lợi cho sự vận động và củng cố của hợp tác đa phương Như

vậy, hình thành thể chế khu vực là sự phản ánh quan trọng

của hợp tác đa phương khi nó vừa là kết quả, vừa là điều kiện

cho sự tiếp tục phát triển của hợp tác đa phương

Đông Á đã từng tồn tại và phát triển mà không có một

thể chế toàn khu vực Đó là sự phát triển không bền vững

trong môi trường không ổn định và đầy bất trắc của thời kỳ

Chiến tranh lạnh Đó cũng là sự phản ánh tình trạng chưa

phát triển của quan hệ đa phương

Vấn đề thể chế hoá Đông Á nổi lên mạnh mẽ từ sau cuộc

khủng hoảng 1997-1998 cùng với sự nổi lên của chủ nghĩa

khu vực Đông Á và việc hình thành khuôn khổ hợp tác đa phương ASEAN+3 Nhưng đây không phải là điểm khởi đầu của quá trình hợp tác đa phương cũng như thể chế hóa ở Đông Á Quá trình hợp tác đa phương đã xuất hiện từ trước đó và trải qua thăng trầm cùng với các cố gắng xây dựng thể chế hợp tác khu vực ở Đông Á Cho đến khi chủ nghĩa khu vực Đông Á nổi lên sau khủng hoảng, thể chế hoá hợp tác đa phương khu vực cũng bắt đầu chuyển mình theo hướng Đông

Á với sự nhóm họp các nước trong vùng vào khuôn khổ ASEAN+3

Vậy trước ASEAN+3, quá trình xây dựng thể chế hợp tác

đa phương ở Đông Á đã diễn ra như thế nào? Những nguyên nhân nào khiến cho các nỗ lực thể chế hoá ở đây không thành công?

Ý tưởng hình thành một thể chế hợp tác đa phương khu vực không phải là mới Nhu cầu thường xuyên được nhận thức đã dẫn đến ý tưởng này ngay cả trong điều kiện bất khả thi của Chiến tranh lạnh Đã có hàng loạt sáng kiến được đề ra nhưng hoặc thất bại, hoặc kém hiệu quả Sau sự thiết lập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) của Mỹ năm 1954 – một tổ chức rất ít người coi là tổ chức khu vực,11 vào đầu những năm 1960, nhà kinh tế Nhật Bản Saburo Okita cùng với Trung tâm nghiên cứu kinh tế Nhật Bản đã đưa ra sáng kiến về “Hợp tác kinh tế Thái Bình Dương” Trong năm 1966, một

11 SEATO có 8 thành viên, trong đó chỉ có hai nước Đông Nam Á là Thái Lan và Philippines

Trang 25

số tổ chức được thành lập như Ngân hàng Châu Á (ADB), Hội

đồng Châu Á và Thái Bình Dương (ASPAC)12 theo sáng kiến

của Tổng thống Hàn Quốc Park Chung-hee, Mỹ và Nhật lập

Hội nghị bộ trưởng về phát triển kinh tế ở Đông Nam Á

(MCEDSEA) Tiếp theo trong năm 1967, có một thể chế ra

đời mà đến nay vẫn còn vai trò lớn - đó là ASEAN được

thành lập gồm 5 nước Đông Nam Á Cũng trong năm 1967, có

một số đề nghị khác như thiết lập “Khu vực hợp tác Châu

Á-Thái Bình Dương” (APSC) và “Khu vực thương mại tự do Á-Thái

Bình Dương” (PAFTA) Năm 1968, tổ chức phi chính phủ Hội

đồng kinh tế lòng chảo Thái Bình Dương (PBEC) ra đời Năm

1970, xuất hiện ý tưởng của Hàn Quốc về “Thị trường chung

Châu Á”…

Cuối những năm 1970, có sáng kiến về cơ cấu hợp tác

Châu Á-Thái Bình Dương ba bên (giới chính trị, giới kinh

doanh, giới học giả) của Thủ tướng Nhật Masayoshi Ohira

Năm 1980, Hội nghị hợp tác kinh tế Thái Bình Dương

(PECC) được thành lập theo sáng kiến của Thủ tướng Nhật

Bản Ohira và Thủ tướng Australia Fraser Trong khoảng thời

gian hoà dịu trước khi Chiến tranh lạnh kết thúc, có thêm đề

nghị của Nhật về “Mạng lưới Châu Á” năm 1988, APEC được

thành lập năm 1989 theo sáng kiến của Thủ tướng Australia

Hawke và sáng kiến của Thủ tướng Malaysia Mahathir

Mohamad về “Nhóm kinh tế Đông Á” (EAEG) năm 1990

12 ASPAC gồm 9 thành viên: Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, Thái

Lan, Nam Việt Nam, Malaysia, Australia, New Zealand Lào là quan sát viên

Các sáng kiến bắt đầu trở thành thực tiễn nhiều hơn kể từ sau Chiến tranh lạnh như “Diễn đàn khu vực ASEAN” (ARF) thành lập năm 1994, “Hội nghị Á-Âu” (ASEM) năm 1996 Năm

1997, quá trình thể chế hoá hợp tác Đông Á được đánh dấu bằng hai sự kiện: một thất bại là sáng kiến của Nhật về “Quỹ Tiền tệ Châu Á” (AMF) và một thành công là ASEAN+3

Sự liên tục và tính kết nối của các sáng kiến cho thấy đây là một quá trình Trên cơ sở so sánh quá trình này trong và sau Chiến tranh lạnh trong mối tương tác với sự vận động của quan hệ đa phương, có thể đưa ra một vài nhận xét về các nỗ lực xây dựng thể chế khu vực ở Đông Á:

Thứ nhất, do việc chính trị chi phối toàn diện quan hệ quốc tế khu vực với các hệ quả chia rẽ và xung đột sâu sắc cũng như sự can thiệp mạnh mẽ từ bên ngoài, hầu hết sáng kiến thể chế hoá khu vực đã thất bại Chính trị là nguyên nhân chủ yếu bóp chết hoặc làm lệch hướng các sáng kiến Cũng có những tổ chức được ra đời những khá yếu ớt, hoặc tồn tại không lâu, hoặc không vì mục tiêu hợp tác Đông Á APC và MCEDSEA chết yểu ASEAN hoạt động không hiệu quả, PECC hoạt động cầm chừng, APEC quan tâm đến khuôn khổ liên khu vực… Môi trường chính trị thế giới và khu vực không thuận lợi, động cơ và ý đồ chính trị khác nhau, những diễn biến chính trị phức tạp trong khu vực đã quy định tình trạng thể chế hoá yếu ớt này Xu hướng hoà dịu và hợp tác sau Chiến tranh lạnh đã đem lại điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình thể chế hoá khu vực ASEAN, APEC bắt đầu có sức

Trang 26

sống hơn Một số tổ chức khu vực và liên khu vực mới xuất

hiện như ARF, ASEM

Thứ hai, do sự chi phối của mâu thuẫn Đông-Tây và sự đối

đầu an ninh-chính trị khu vực khi đó, các cố gắng xây dựng

thể chế đa phương chủ yếu được tiến hành giữa các nước có

cùng hệ thống chính trị-kinh tế Chính trị được coi là tiêu chí

phân biệt bạn thù và tiêu chuẩn kết nạp thành viên Bên

cạnh đó, các cố gắng xây dựng thể chế đa phương cũng đáng

kể hơn giữa các nền kinh tế thị trường do tính chất quốc tế

của thị trường, sự đồng điệu về lợi ích và những tương hợp

nhất định trong luật quốc gia Cơ hội tham gia rộng rãi hơn

chỉ thực sự xuất hiện sau Chiến tranh lạnh khi mâu thuẫn

Đông-Tây không còn là trở lực và kinh tế thị trường trở

thành phổ biến Khác biệt về hệ thống chính trị không còn

được coi là nguồn của xung đột Các cố gắng điều chỉnh luật

pháp kinh tế đối ngoại đang diễn ra Điều không tưởng trong

Chiến tranh lạnh đang trở thành thực tiễn APEC kết nạp

các thành viên mới không cùng hệ thống chính trị ARF dược

thành lập bất chấp sự đa dạng về chính trị ASEAN mở rộng

trở thành ASEAN-10

Thứ ba, do tính chất đẳng cấp quyền lực và khoảng cách

trình độ phát triển vẫn chi phối mạnh mẽ quan hệ quốc tế,

các sáng kiến thường xuất phát từ hai nhóm nước lớn và nhỏ

và ít bao gồm nhau Và từ đó, nhận thức về tính chất khu vực

của tổ chức cũng khác nhau Các sáng kiến của Nhật thường

bao gồm các nước lớn như Mỹ, Nhật, Australia và New

Zealand với tính chất chủ nghĩa khu vực mở Trong khi đó, ASEAN lại là ví dụ của trường hợp ngược lại với tính chất đóng, nhất là trong thời kỳ đầu của nó Sự thiếu hài hoà về lợi ích và nhận thức giữa hai nhóm nước này đã khiến các sáng kiến thành lập tổ chức liên chính phủ bao gồm cả hai nhóm nước ít thành công Sau Chiến tranh lạnh, xu hướng kết hợp cả hai nhóm nước đang trở thành chủ đạo trong chủ nghĩa đa phương ở đây ARF là điển hình của sự hỗn hợp APEC và PECC được mở rộng Còn ASEAN là sự mở rộng quan hệ đối tác và đang tồn tại khả năng vận động theo hướng ASEAN+3

Thứ tư, do quy định của môi trường phức tạp và nóng bỏng về an ninh-chính trị khi đó, sáng kiến thiết lập các tổ chức chính trị thường bị thất bại như ASPAC là một điển hình MCEDSEA thất bại cũng chủ yếu bởi lý do chính trị Trong khi đó, các sáng kiến tương tự về mặt kinh tế là nhiều hơn và dễ thành công hơn bởi phần nào hạn chế được những tác động tiêu cực từ bối cảnh xung đột an ninh-chính trị và đáp ứng được yêu cầu phát triển Các sáng kiến và tổ chức tồn tại được đến ngày nay đều có tôn chỉ kinh tế-xã hội Cũng

do nguyên nhân này mà các tổ chức phi chính phủ vốn hay tránh né chính trị như PECC cũng thuận lợi hơn tổ chức liên chính phủ Tuy nhiên, những diễn biến tích cực trong môi trường an ninh-chính trị khu vực sau Chiến tranh lạnh đang làm thay đổi tình hình này Một thể chế an ninh-chính trị như ARF đã tồn tại APEC cũng bắt đầu quan tâm hơn đến chính trị sau vụ 11/9 Các thể chế hiện hành ngày càng mang

Trang 27

tính đa diện Các nỗ lực liên liên chính phủ xây dựng thể chế

khu vực đã nổi lên mạnh mẽ Hệ thống hợp tác khu vực ở

Đông Á ngày càng trở nên đa diện, đa tầng, đa thành phần

Thứ năm, do sự can thiệp mạnh mẽ của các cường quốc, do

tính phân liệt sâu sắc trong quan hệ quốc tế khu vực, và do sự

phụ thuộc kinh tế với bên ngoài khu vực, các nỗ lực thể chế

hoá khuôn khổ Đông Á đã không được chú trọng trong Chiến

tranh lạnh Ví dụ, Katzenstein nhấn mạnh vai trò của Mỹ khi

cho rằng chủ trương của Mỹ sau 1945 thúc đẩy chủ nghĩa đa

phương ở Châu Âu, chủ nghĩa song phương ở Châu Á là một

nguyên nhân giải thích tình trạng thể chế hoá yếu ớt trong

khuôn khổ Đông Á.13 Các sáng kiến chủ yếu xuất phát từ thực

tiễn chính trị và lợi ích kinh tế mà ít dựa vào cơ sở địa lý,

lịch sử và văn hoá của khu vực Đông Á Các sáng kiến hoặc

có giới hạn tiểu khu vực, hoặc mang tính liên khu vực và

không bao giờ gồm đủ các nước Đông Á Các sáng kiến xây

dựng thể chế cho riêng Đông Á đều chỉ dừng ở mức ý tưởng

Khi các lực kéo từ bên ngoài giảm bớt, khi môi trường khu

vực trở nên hoà dịu, các sáng kiến và nỗ lực thể chế hoá đã

khoanh dần tập trung nhiều hơn vào các vấn đề của Đông Á

Mục tiêu thiết lập cơ chế và tổ chức hợp tác cho riêng Đông Á

đã được định hình rõ nét hơn Quá trình đi từ EAEG qua

AMF đến ASEAN+3 đang trở thành dòng chảy chính của quá

trình thể chế hoá hợp tác đa phương Đông Á hiện nay

13 Edward D Mansfield & Helen V Milner, Bđd, pp 618

Thứ sáu, các sáng kiến thể chế hoá khu vực được bắt đầu trong những giờ phút căng thẳng nhất của Chiến tranh lạnh cả trên thế giới lẫn trong khu vực Đây không đơn giản là những thủ thuật chính trị Chủ trương hợp tác thực dụng theo kiểu chủ nghĩa chức năng phản ánh tính thực chất của nhiều trong số các nỗ lực này Điều này cho thấy lợi ích an ninh, hoà bình và phát triển qua con đường hợp tác đa phương khu vực chính là động lực chủ yếu nằm sau các cố gắng đó Chính những động lực tương đối bền vững này đã duy trì tính quá trình của các nỗ lực xây dựng thể chế hợp tác đa phương và giúp biến dần ý tưởng thành hiện thực Cũng chính những lợi ích này đã thúc đẩy quá trình phát triển quan hệ đa phương và thể chế hoá khu vực được tiếp tục, được tăng cường và ngày càng thực chất hơn sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc Như vậy, bất chấp sự thất bại hoặc kém hiệu quả của nhiều nỗ lực, xu hướng thúc đẩy quan hệ đa phương và xây dựng thể chế hợp tác khu vực vẫn được tiếp tục ở Đông Á sau Chiến tranh lạnh Trước những thay đổi to lớn đang diễn ra hiện nay, dưới tác động của chủ nghĩa khu vực và nhu cầu tăng cường hợp tác đa phương, thể chế hoá hợp tác khu vực đã trở thành yêu cầu ở Đông Á

Thể chế hoá càng trở nên cần thiết đối với Đông Á vốn là khu vực đầy rẫy bất ổn, vị thế quốc tế còn bất cập, phát triển còn thiếu chân đế hợp tác đa phương Thể chế hợp tác Đông

Á sẽ giúp khắc phục các tình trạng trên, góp phần xây dựng môi trường an ninh và tạo điều kiện cho hợp tác vì phát

Trang 28

triển Thể chế hoá còn xuất phát từ yêu cầu quản lý sự phụ

thuộc kinh tế đang ngày càng tăng giữa các nước trong khu

vực, nhằm phối hợp chính sách kinh tế đối ngoại và nâng cao

hơn nữa sức mạnh của nhóm Vì thế, cũng như nhiều nơi

khác, các nỗ lực xây dựng thể chế khu vực ở Đông Á đã diễn

ra mạnh mẽ hơn sau Chiến tranh lạnh

Việc ASEAN+3 ra đời năm 1997 là sự tiếp nối của một

quá trình có từ trước đó Tuy nhiên, cho dù có sự tiếp nối, sự

hình thành của ASEAN+3 có khá nhiều khác biệt so với các

cố gắng thể chế hóa hợp tác đa phương trong Chiến tranh

lạnh cả về tính chất, đặc điểm, quy mô và mức độ Những

khác biệt này được quy định bởi sự thay đổi lớn lao cả trên

thế giới lẫn trong khu vực và từng quốc gia

1.2.2 Sự ra đời của ASEAN+3

Qua so sánh thực tiễn lịch sử trên đây, rõ ràng tình hình

sau Chiến tranh lạnh tỏ ra khả thi hơn cho sự phát triển hợp

tác đa phương ở Đông Á Quá trình này đang có nhiều cơ hội

trở thành hiện thực nhờ những thuận lợi trên cả bốn cấp độ

phân tích quan hệ quốc tế

Trên cấp độ toàn cầu, quá trình này được sự cổ vũ của xu

hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh

mẽ sau Chiến tranh lạnh Thể chế hoá hợp tác đa phương

Đông Á không chỉ giúp tận dụng được những lợi thế của toàn

cầu hoá mà còn nhằm đối phó với các thách thức nảy sinh

trong quá trình này Khi thế giới đang có sự chuyển dịch từ

địa chính trị sang địa kinh tế, xu hướng khu vực hoá kinh tế

và sức ép cạnh tranh từ các khối thương mại khác đã buộc các nước Đông Á phải liên kết lại Sự phản đối từ bên ngoài không còn mạnh mẽ như trước kia Trong bối cảnh tương tác giữa chính trị và kinh tế ngày càng tăng và hình thành nên nền kinh tế-chính trị quốc tế, thể chế hoá hợp tác đa phương Đông Á ngày càng được coi là sự hoà chung vào quá trình tự

do hoá thương mại, đóng góp cho sự phát triển kinh tế và an ninh toàn cầu Về mặt chính trị, một thể chế hợp tác khu vực giúp tạo sự an toàn tương đối trước những xu hướng quyền lực khác nhau trong quá trình định hình trật tự thế giới mới Đông Á ngày càng được nhìn nhận như một khu vực của thế giới và một trong ba trung tâm kinh tế thế giới Một tổ chức khu vực sẽ tạo tiếng nói chung trên trường quốc tế và giúp các nước Đông Á nâng cao vị thế quốc tế của mình

Trên cấp độ liên quốc gia, mà cụ thể ở đây là khu vực, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia Đông Á trở nên ngày càng sâu sắc Các dòng lưu chuyển hàng hoá, tiền tệ và người trong nội vùng tăng mạnh cả về lượng lẫn chất, cả bề rộng lẫn bề sau Mạng lưới hệ thống quan hệ song phương phát triển tương đối toàn diện là cơ sở tốt cho thể chế hoá hợp tác

đa phương Đông Á Ngoài quan hệ liên chính phủ, quan hệ giữa các đảng cũng được hình thành Lợi ích khu vực ngày càng trở thành lợi ích quốc gia, an ninh khu vực trở thành an ninh quốc gia Ngược lại, lợi ích quốc gia ngày càng có nhiều điểm chung nên trở thành động lực cho thể chế hoá hợp tác khu vực Hợp tác được coi là cách thức cơ bản để giải quyết tranh chấp, duy trì an ninh quốc gia Hội nhập kinh tế khu

Trang 29

vực trở thành con đường phát triển chung Xu hướng hợp tác

đa phương khu vực giờ đây không chỉ dựa trên những liên hệ

lịch sử, văn hoá, xã hội mà còn có được cơ sở liên quốc gia về

địa-chính trị và địa-kinh tế Đồng thời, sự xuất hiện ngày

càng nhiều các vấn đề chung của khu vực cũng dẫn đến yêu

cầu phải có một tổ chức để phối hợp đối phó Bài học về sự

thiếu vắng hợp tác khu vực dẫn đến xung đột và chia rẽ đã

được nhận thức chung Trong khi đó, thực tiễn tham gia các

thể chế khu vực khác cũng giúp các nước trong vùng tăng

thêm niềm tin vào khả năng hiện thực của một thể chế thuần

Đông Á

Trên cấp độ trong nước, đó là những thay đổi trong cơ cấu

lực lượng chính trị bên trong quốc gia theo hướng thuận lợi hơn

cho chủ trương tăng cường hợp tác khu vực Nhu cầu phát triển

ngày càng tăng của các nước Đông Á đã lôi kéo ngày càng

nhiều lực lượng xã hội trong nước tham gia vào quá trình mở

cửa, khuyến khích đầu tư và thúc đẩy xuất khẩu Một trong

những định hướng của quá trình đó là tăng cường hợp tác và

tiến tới hội nhập kinh tế khu vực Cùng với đó, quan hệ nhân

dân-nhân dân trong các giới khác nhau ngày càng phát triển

sâu rộng Vai trò của các chủ thể phi quốc gia tăng lên Ngoại

giao kênh II ngày càng bổ sung nhiều cho ngoại giao kênh I

Tất cả những điều này đều đem lại tác động thuận cho chính

sách hợp tác đa phương khu vực Bên cạnh đó, sự cần thiết của

thể chế hợp tác đa phương khu vực đối với việc củng cố môi

trường hoà bình, an ninh và ổn định cho quốc gia ngày càng

đạt được nhận thức chung giữa các giới khác nhau Nhìn chung

trong lòng xã hội các nước Đông Á, chủ nghĩa đa phương ngày càng có chỗ đứng, sự phản đối thể chế khu vực giảm dần, sự ủng hộ hợp tác khu vực tăng lên

Trên cấp độ cá nhân, các cố gắng thiết lập mối quan hệ cá nhân giữa các nhà lãnh đạo, giữa những người đứng đầu các bộ ngành, giữa những nhân vật có ảnh hưởng của các nước đã được thiết lập và duy trì Nhiều giá trị chung đang được hình thành trên cơ sở giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội ngày càng tăng giữa các quốc gia Đông Á Sự hiểu biết lẫn nhau và tình cảm khu vực cũng đang tăng, tạo điều kiện cho chủ nghĩa khu vực nổi lên và góp phần thúc đẩy hợp tác khu vực

Một tổ chức khu vực là sự kết tinh của những xu hướng, điều kiện và động thái trên Trên thực tế, những nỗ lực xây dựng thể chế hợp khu vực như vậy cho Đông Á đã được bắt đầu ngay xung quanh thời điểm kết thúc Chiến tranh lạnh Thế nhưng, phải đến năm 1997, với sự hình thành khuôn khổ ASEAN+3, một tổ chức khu vực thuần Đông Á đầu tiên mới được manh nha hình thành Và con đường đi đến ASEAN+3 cũng không hề bằng phẳng Những thuận lợi kể trên chưa đủ để có thể một sớm một chiều vượt qua được nhiều khó khăn cố hữu trong khu vực

Ngay khi Chiến tranh lạnh đang trên đường kết thúc, Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad đã đưa ra đề nghị về việc thành lập Nhóm kinh tế Đông Á (EAEG) bao gồm 11 nước trong khu vực mà không có các cường quốc bên ngoài Được nuôi dưỡng bởi những cố gắng thể chế hoá trước kia, đây là

Trang 30

sáng kiến đầu tiên về một tổ chức khu vực thuần Đông Á Đề

nghị này tuy được nhiều nước Đông Á ủng hộ nhưng bị Mỹ

phản đối do lo ngại EAEG làm giảm vai trò của Mỹ và APEC

trong khu vực EAEG không trở thành hiện thực nhưng nhiều

nước Đông Á không quên nó Thủ tướng Singapore khi đó là

Lý Quang Diệu đã nhận xét EAEG là “một ý tưởng sẽ không

biến mất” Nhằm tránh bớt sự phản đối từ bên ngoài đối với

ý tưởng này, Indonesia đưa ra đề nghị thay đổi hình thức của

EAEG sang hình thức cuộc họp kín được gọi là Cuộc họp Kinh

tế Đông Á (EAEC) Sau đó, trong một cố gắng thoả hiệp hơn

nữa nhằm duy trì khuôn khổ hợp tác này, Hội nghị Ngoại

trưởng các nước ASEAN vào tháng 7/1993 đã đồng ý đặt

EAEC vào trong khuôn khổ của APEC Tuy vậy, do nhiều bất

thuận, cơ chế này đã không được thực sự duy trì

Sáng kiến EAEG chính là sự bắt đầu của “thời kỳ Đông

Á” trong quá trình hợp tác đa phương khu vực với mục tiêu

thiết lập một tổ chức riêng của Đông Á Cũng chính sáng

kiến này đã đưa các nước ASEAN và ba nước Đông Bắc Á lần

đầu tiên ngồi cùng nhau trong một hội nghị ngoại trưởng

ASEAN+3 không chính thức để thảo luận về EAEC tại

Bangkok tháng 7/1994 Bây giờ nhìn lại, EAEG có ít điều

kiện khả thi ngay cả khi Mỹ không phản đối Nhưng vào thời

điểm đó, ý tưởng này thật là mạnh mẽ và có tầm nhìn Với ý

tưởng này, một tổ chức thuần Đông Á đã bắt đầu được coi là

cái gì đó có thể Ý tưởng trên sau này đã quay trở lại trong

sáng kiến AMF của Nhật Bản và thực sự hồi sinh với

ASEAN+3 EAEG chính là ý tưởng cho ASEAN+3 sau này

Bên cạnh ý tưởng là yêu cầu thực tiễn Yêu cầu hình thành ASEAN+3 xuất phát từ thực tế các thể chế hiện hành chưa đáp ứng được nhu cầu của các nước Đông Á Vào lúc này, những thể chế được coi là khu vực như ASEAN và APEC đều không đại diện thực sự cho các nước Đông Á Cả hai tổ chức này đều đang gặp phải vấn đề ASEAN tuy đa diện nhưng chỉ

ở quy mô tiểu khu vực ASEAN gồm toàn các nước vừa và nhỏ bên cạnh các cường quốc láng giềng Đông Bắc Á ASEAN đang trở nên chật hẹp với yêu cầu an ninh và phát triển nên có xu hướng mở rộng hợp tác với bên ngoài Tiềm lực kinh tế còn yếu, sự cố kết an ninh-chính trị không cao, sự phụ thuộc vào Đông Bắc Á có nguy cơ tăng Trong khi đó, APEC vừa không đa diện, vừa có quy mô rộng hơn Đông Á Cơ sở liên kết địa lý của APEC không chặt chẽ APEC là một tổ chức liên khu vực nhiều hơn là một tổ chức khu vực như nhận xét của John Ravenhill.14 APEC cũng quá đa dạng, chưa có nền tảng quan hệ song phương đều khắp, nên cũng khó khăn và chậm chạp trong việc thúc đẩy hội nhập kinh tế Đáng chú ý, từ khoảng giữa những năm 1990, đã xuất hiện dấu hiệu chia rẽ giữa nhóm nước Anglo-America muốn thực hiện tự do hoá kinh tế một cách ràng buộc và toàn diện, trong khi nhóm nước Đông Á muốn APEC chỉ hướng vào việc tạo điều kiện cho thương mại và hợp tác trong lĩnh vực kinh tế-kỹ thuật Kết quả là tình trạng “nói nhiều hơn làm” đang diễn ra trong

14 Dẫn theo Richard Stubbs, ASEAN Plus Three: Emerging East Asian Regionalism? Asian Survey, Vol XLII, No.3, May/June 2002, University of California Press, p 447

Trang 31

cả hai tổ chức này ARF cũng được coi là một tổ chức khu vực

Mặc dù ARF tập trung nhiều vào các vấn đề an ninh của

Đông Á nhưng chế độ thành viên, cơ chế lỏng lẻo cũng như sự

chi phối của các cường quốc bên ngoài cũng khiến cho ARF

không hoàn toàn là một tổ chức thuần Đông Á Những hạn

chế trong thực tiễn thể chế đã dẫn đến yêu cầu bổ sung và

tạo điều kiện cho ASEAN+3 ra đời

Những cố gắng thể chế hoá hợp tác khu vực khác cũng

góp phần lát những viên gạch cho con đường hướng tới một

thể chế Đông Á Đó là sự tập hợp các nước Đông Á tại các

cuộc gặp sau Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN (ASEAN PMC)

và trong khuôn khổ ASEM Đầu tiên là Nhật Bản (1977), sau

là Hàn Quốc (1991) và Trung Quốc (1996) đã lần lượt tham

gia đều đặn hàng năm vào các cuộc ASEAN PMC để bàn về

những vấn đề khu vực liên quan đến mình Bởi sự đa dạng

của các vấn đề khu vực cũng như quan hệ đa phương Đông Á

chưa phát triển, các cuộc gặp này được tiến hành theo công

thức ASEAN+10 và ASEAN+1 Khuôn khổ ASEAN+10 trở

nên quá rộng còn ASEAN+1 lại là quá hẹp khi xuất hiện

ngày càng nhiều vấn đề có quy mô Đông Á Điều này trở nên

rõ ràng khi Đông Á phải đối mặt với cuộc khủng hoảng

1997-1998 Từ ý tưởng kết hợp ba ASEAN+1 mà ASEAN+3 đã được

hình thành Sự tập trung quanh ASEAN dễ được chấp nhận

bởi ít bị phản đối từ bên ngoài và không gây nghi ngại giữa

các nước Đông Bắc Á Lúc này, ý niệm Đông Á đã được hình

thành nên khuôn khổ hợp tác này cũng được giới hạn là

ASEAN+3 gồm ASEAN và ba nước Đông Bắc Á chứ không

phải là ASEAN+x nào khác Như vậy, ASEAN PMC đã cung cấp một cơ sở thể chế để xây dựng nên khuôn khổ hợp tác ASEAN+3

Một cố gắng thể chế hóa hợp tác đa phương khác cũng ảnh hưởng đến sự hình thành ASEAN+3 là ASEM ASEM là sáng kiến do Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong đưa ra vào tháng 10/1994, sau khi các nỗ lực duy trì EAEC bị thất bại

Do sự bất tương xứng giữa hai tổ chức nên tháng 3/1995, ASEAN đã mời thêm ba nước Đông Bắc Á tham gia ASEM đã được cả EU và ASEAN chấp thuận năm 1995 Mặc dù vẫn còn lo ngại về sự phản đối của Mỹ nhưng cuối cùng lợi ích chung đã thắng thế Cuộc gặp thượng đỉnh ASEM lần I đã diễn ra tại Bangkok tháng 3/1996 với thoả thuận sẽ tiếp tục

cơ chế và khuôn khổ này ở cả các cấp thượng đỉnh, bộ trưởng (cả ngoại trưởng lẫn bộ trưởng kinh tế) và cấp chuyên viên Sự hình thành và phát triển ASEM đã tạo cơ hội cho các nước Đông Á được cùng nhau thảo luận những vấn đề chung, được xây dựng những lập trường chung trên cơ sở lợi ích chung, được thường xuyên nhóm họp với nhau và được đứng cùng trong một tập hợp để quan hệ với bên ngoài Một quan hệ liên khu vực hình thành cũng khiến ý thức và tình cảm khu vực trở nên rõ ràng hơn Trong khoảng thời gian trước ASEM 1, các nước ASEAN và ba nước Đông Bắc Á đã gặp nhau ở các cuộc gặp cấp bộ trưởng không chính thức ít nhất 3 lần Đó là hội nghị ngoại trưởng bên lề ASEAN PMC tại Brunei tháng 7/1995, hội nghị bộ trưởng kinh tế tại Osaka tháng 11/1995 và hội nghị liên bộ trưởng ngoại giao và kinh

Trang 32

tế tại Phuket (Thái Lan) tháng 2/1996 Khuôn khổ ASEAN+3

đã dần được định hình cùng với ASEM Trong chừng mực nào

đó, cuộc gặp giữa các nước Đông Á trong quá trình chuẩn bị

ASEM gần như là “sự trù bị” để hiện thực hoá ASEAN+3

ASEAN+3 đã nhanh chóng được chấp nhận và ít bị bên ngoài

phản đối có phần nhờ ASEM

Một cơ sở quan trọng khác cho sự hình thành ASEAN+3

là về mặt kinh tế Trong những năm 1980 và 1990, Nhật Bản

đã mở rộng mạng lưới đầu tư, thương mại và sản xuất ra hầu

khắp khu vực Đồng thời, mạng lưới kinh doanh của người

Hoa trải khắp Đông Á và cũng đang tiệm cận tới quy mô khu

vực Bên cạnh đó, làn sóng đầu tư của các NIE sang những

nước láng giềng cũng tăng lên nhanh chóng Quan hệ kinh tế

song phương giữa các nước Đông Á đều được mở rộng và ngày

càng sâu sắc Hợp tác kinh tế khu vực đang chiếm tỉ trọng

ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc gia Hợp tác khu vực

đang trở thành ưu tiên chính sách của hầu hết các nước Đông

Á Hợp tác kinh tế đa phương khu vực trở thành động lực cho

một thể chế Đông Á Các liên kết kinh tế mạnh mẽ ở Đông Á

đã vượt lên bao trùm ASEAN và tạo sự khác biệt nhất định

về địa-kinh tế trong APEC Tất cả những điều này góp phần

dệt kết các nước Đông Á và tạo nền tảng cho quan hệ đa

phương Cùng với đó là yêu cầu thể chế hóa hợp tác đa

phương khu vực Hệ thống khu vực Đông Á, ít nhất về mặt

kinh tế, đang hình thành Hệ thống có cơ cấu và luật lệ

riêng Tính hướng đích về mặt thể chế của hệ thống này là

một cơ sở khách quan cho một thể chế thuần Đông Á Cũng

chính sự nổi lên của yếu tố kinh tế này đã khiến các nỗ lực thể chế hoá sau đó đã nghiêng nhiều hơn sang các hợp tác chức năng cụ thể trong lĩnh vực kinh tế Trên cơ sở đó, hợp tác kinh tế đa phương ASEAN+3 cũng trở thành có tính khả thi hơn

Nhìn chung sau Chiến tranh lạnh cho đến trước năm 1997, quan hệ đa phương trong khu vực đã phát triển rõ rệt, các nỗ lực thể chế hóa hợp tác đa phương cũng có nhiều kết quả hơn Tuy nhiên, các nỗ lực này vẫn hướng tới tiểu khu vực hoặc liên khu vực mà chưa phải là khuôn khổ Đông Á Ngoài những lý

do khách quan, bản thân các nước Đông Á vẫn chưa chuẩn bị sẵn sàng cho sự hợp tác đa phương thuần Đông Á Trước năm

1997, Nhật Bản quan tâm tới chủ nghĩa đa phương toàn cầu và liên khu vực, Trung Quốc tập trung vào nỗ lực cải cách trong nước và các quan hệ song phương, Hàn Quốc ưu tiên tới bán đảo Triều Tiên và khuôn khổ hợp tác Đông Bắc Á, còn ASEAN

bị bận tâm vào quá trình mở rộng tổ chức ra toàn Đông Nam

Á Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997-1998 đã đánh dấu sự chuyển hướng sang khuôn khổ Đông Á Từ đây, xu hướng thể chế hoá trong khuôn khổ Đông Á mới bắt đầu tăng mạnh và được quan tâm nhiều hơn với biểu hiện tập trung là sự hình thành ASEAN+3 năm 1997

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự hình thành ASEAN+3 Cuộc khủng hoảng đã để lại nhận thức sâu sắc hơn bao giờ hết về sự phụ thuộc lẫn nhau và tính dễ tổn thương của các nền kinh tế Đông Á Việc IMF áp đặt những điều kiện cấp tín dụng

Trang 33

không phù hợp khi tình hình đang rất cấp bách đã gây ra sự

phẫn nộ đối với thể chế tài chính toàn cầu này Việc Mỹ và

các nước Phương Tây không tích cực trợ giúp như đã từng làm

với Mexico càng làm tăng sự thất vọng đối với bên ngoài

Tình cảm khu vực bắt đầu trỗi dậy khi Nhật Bản cam kết trợ

giúp và đưa ra sáng kiến AMF – một cơ chế cung cấp tín dụng

dễ dãi hơn nhiều so với IMF Đồng thời, Trung Quốc hứa cung

cấp 1 tỉ USD và tuyên bố không phá giá đồng Nhân dân Tệ –

một hành động khiến Trung Quốc thiệt hại kinh tế đáng kể

Mặc dù có sự nghi ngờ về những toan tính chính trị nằm sau

sự “hi sinh” này, các động thái trên vẫn góp phần khơi dậy

tình cảm và ý thức về một khu vực chung

Cùng với EAEG, sáng kiến về Quỹ Tiền tệ Châu Á (AMF)

là ý tưởng rất gần với khuôn khổ hợp tác ASEAN+3 Đây

cũng là nỗ lực hợp tác đa phương Đông Á đầu tiên tương đối

cụ thể trong một lĩnh vực cụ thể là tài chính Sáng kiến AMF

do Nhật phối hợp với Đài Loan đưa ra vào tháng 9/1997 khi

cuộc khủng hoảng tài chính đang hoành hành trong khu vực

Đề nghị này nhằm thiết lập một cơ chế tài chính đa phương

khu vực với tổng trị giá lên tới 100 tỉ USD nhằm ổn định các

đồng tiền Đông Á và trợ giúp các nước Đông Á đang bị khủng

hoảng tàn phá Tuy nhiên, sáng kiến này đã không thành bởi

sự phản đối từ Mỹ và IMF cũng như sự không ủng hộ của

Trung Quốc Sáng kiến này bị vô hiệu hoá trong cuộc gặp

quan chức Ngân hàng Trung ương 15 nước Châu Á-Thái Bình

Dương với sự tham gia của các nhà quan sát IMF, WB và

ADB Cuộc gặp này đưa ra Khuôn khổ Manila trong đó khẳng

định vai trò thiết yếu của IMF trong việc chống lại khủng hoảng Mặc dù không ra đời, AMF vẫn có ý nghĩa quan trọng cho ASEAN+3 khi khơi dậy chủ nghĩa khu vực Đông Á, khơi dậy sự quan tâm tới việc thiết lập một tổ chức hợp tác đa phương của riêng Đông Á để cứu giúp lẫn nhau trong cơn khủng hoảng Và sau này, những hợp tác tài chính cụ thể theo tinh thần của AMF đã được tái hiện trong báo cáo

“Hướng tới một cộng đồng Đông Á: Khu vực hoà bình, thịnh vượng và tiến bộ” của Nhóm Tầm nhìn Đông Á (EAVG) Trong bối cảnh khủng hoảng, sự bất lực của các tổ chức hiện hành như ASEAN và APEC đã hướng niềm tin và nhu cầu thể chế hoá sang một hướng khác với khuôn khổ và cơ chế khác ASEAN không đủ năng lực tự cứu mình nên ngày càng hướng về hợp tác với các nước Đông Bắc Á Thái độ thiếu nhiệt tình của các nước Phương Tây làm sự hợp tác này có xu hướng khuôn vào Đông Á Những động thái chia sẻ khó khăn của các quốc gia trong vùng càng làm tăng thêm ý thức và tình cảm đối với xu hướng này Cuộc khủng hoảng đã đòi hỏi nhanh chóng hình thành một thể chế hợp tác của riêng Đông Á để có thể điều phối nỗ lực nhằm khôi phục kinh tế, ngăn chặn khủng hoảng tương lai và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng của khu vực Cuộc khủng hoảng này đã khiến các nước Đông Á nhận thức rõ ràng hơn về một tổ chức khu vực vì lợi ích của chính mình

Trong bối cảnh đó, ASEAN+3 đã được hình thành một cách đầy ý thức Nhưng cũng chính sự ý thức được những khó

Trang 34

khăn còn đang đầy rẫy đã tạo nên tính “khiêm tốn” của sự

kiện này ASEAN+3 xuất phát từ đề nghị của Thủ tướng Nhật

Bản Hashimoto về việc tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh Nhật

Bản-ASEAN Các nước ASEAN đã đề nghị lại rằng cuộc gặp

thượng đỉnh đó nên được mở rộng bao gồm cả Trung Quốc và

Hàn Quốc ASEAN+3 được coi là bắt đầu bằng cuộc gặp

thượng đỉnh không chính thức đầu tiên giữa nguyên thủ mười

nước ASEAN và ba nước Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc tại

Kuala Lumpur (Malaysia) tháng 12/1997 nhân dịp kỷ niệm 30

năm thành lập tổ chức ASEAN Không có một thoả thuận

quan trọng nào được thông qua Không có sự quảng cáo ầm ĩ

về sự kiện này Nhiều học giả không coi đây là thời điểm bắt

đầu ASEAN+3 Tuy nhiên, sự kiện này thực sự có ý nghĩa

khởi đầu bởi đây là cuộc gặp thượng đỉnh Đông Á đầu tiên

Cuộc gặp này đã tạo đà cho sự hình thành de facto khuôn khổ

hợp tác ASEAN+3 diễn ra liên tục những năm sau đó Cái tên

“ASEAN+3” bắt đầu xuất hiện và ngày càng được thừa nhận

như một thực tế thể chế ở Đông Á

Như vậy, sự hình thành ASEAN+3 năm 1997 có sự tiếp

nối từ hàng loạt nỗ lực xây dựng thể chế hợp tác khu vực sau

Chiến tranh lạnh Sau một thời gian dao động giữa liên khu

vực và tiểu khu vực, giữa chủ nghĩa song phương và chủ nghĩa

đa phương, sự hợp tác đa phương giữa các nước Đông Nam Á

và ba nước Đông Bắc Á đã được hình thành Với sự xuất hiện

ASEAN+3, quá trình hợp tác đa phương trong khuôn khổ thể

chế này cũng được bắt đầu Trong 10 năm qua, sự hợp tác này

đã đạt được những tiến triển nhất định

1.3 Những phát triển trong hợp tác đa phương ASEAN+3 Sự hình thành khuôn khổ và cơ chế ASEAN+3 đã đem lại một xung lực mới cho sự hợp tác đa phương giữa các nước thành viên Với ASEAN+3, hợp tác đa phương ở Đông Á bắt đầu phát triển Sự phát triển đầu tiên dễ nhận thấy nhất là những tiến triển về mặt thể chế của ASEAN+3 Sự phát triển thứ hai cũng đang được kỳ vọng khá nhiều là những tiến bộ trong hợp tác kinh tế khu vực Đây là hai xu hướng chủ yếu làm nên sự phát triển của ASEAN+3 hiện nay và quy định nên cái gọi là “tiến trình hợp tác đa phương ASEAN+3” Nhìn chung, cả hai xu hướng đều có ý nghĩa tích cực bởi vì chúng đều đang tác động thuận lợi đến quá trình liên kết khu vực Đông Á

1.3.1 Những tiến triển về mặt thể chế Trong bối cảnh chưa từng tồn tại một tổ chức khu vực thuần Đông Á, sự ra đời của ASEAN+3 đã được dự đoán như

cơ hội cho một tổ chức hợp tác Đông Á Trên thực tế, trong 10 năm qua, thể chế ASEAN+3 đã có những tiến triển đáng kể cả về bề rộng và bề sâu Về bề rộng, đó là sự mở rộng tương đối nhanh chóng các lĩnh vực hợp tác trong ASEAN+3 Về bề sâu, đó là những phát triển nhất định về nguyên tắc và cơ cấu hoạt động Tuy nhiên, giống như ASEAN và có lẽ cũng bởi nhiều lý do như của ASEAN, sự tiến triển về mặt thể chế của ASEAN+3 có phần thiên về bề rộng hơn là bề sâu

Trong những năm đầu tiên hình thành, ASEAN+3 tồn tại chủ yếu như một cơ chế tư vấn hay tham khảo về khả năng

Trang 35

phối hợp với nhau nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng tài

chính Đông Á Nhưng từ năm 1999, với “Tuyên bố chung về

hợp tác Đông Á”, ASEAN+3 bắt đầu chủ động đề ra cho mình

những định hướng riêng một cách lâu dài và rộng mở hơn Đó

là tăng cường hợp tác kinh tế-xã hội và an ninh-chính trị cả

về song phương lẫn đa phương nhằm hướng tới xây dựng một

cộng đồng khu vực vì hoà bình, ổn định và thịnh vượng Từ

định hướng đó, ASEAN+3 đã đề ra các mục tiêu hợp tác cụ

thể trong nhiều lĩnh vực như thương mại và đầu tư, chuyển

giao công nghệ, hợp tác kỹ thuật về công nghệ thông tin và

thương mại điện tử, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ,

thúc đẩy du lịch, tài chính và tiền tệ, phát triển xã hội và

nguồn nhân lực, phát triển khoa học và kỹ thuật, văn hoá và

thông tin, hợp tác phát triển, đối thoại để tăng cường hiểu

biết và sự tin tưởng lẫn nhau, đối phó với các vấn đề xuyên

quốc gia, hỗ trợ nhau trong các diễn đàn đa phương quốc tế và

khu vực 15 Với những mục tiêu trên, hợp tác đa phương ở

Đông Á bắt đầu được mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhau,

thể chế hóa hợp tác khu vực bắt đầu được gửi gắm nhiều hơn

vào ASEAN+3

Những nỗ lực tiếp theo nhằm hiện thực hoá các mục tiêu

này đã được tiến hành ngay khi ký kết tuyên bố nói trên Hội

nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 năm 1999 đã quyết định thành

lập Nhóm Tầm nhìn Đông Á (EAVG) theo sáng kiến của Tổng

thống Hàn Quốc Kim Dae-jung đưa ra tại Hội nghị Hà Nội

15 Xem Joint Statement on East Asian Cooperation, http://www.aseamsec.org

năm 1998 Mỗi nước thành viên cử hai đại diện tham gia EAVG Cựu Ngoại trưởng Hàn Quốc Han Sung-joo được cử làm người đứng đầu nhóm này EAVG được khởi tạo nhằm nghiên cứu và đề xuất khuyến nghị cho sự tiếp tục của tiến trình hợp tác Đông Á Tháng 11/2000, báo cáo “Hướng tới một cộng đồng Đông Á: Khu vực hoà bình, thịnh vượng và tiến bộ” của EAVG đã được đệ trình lên Hội nghị cấp cao ASEAN+3 lần 4 tại Singapore Báo cáo này đưa ra 22 khuyến nghị với 57 biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy hợp tác giữa các nước thành viên ASEAN+3 trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, chính trị-an ninh, môi trường, năng lượng, văn hoá, xã hội, giáo dục và hợp tác thể chế Trong đó, việc thiết lập khu vực thương mại tự do Đông Á, tổ chức hội nghị thượng đỉnh Đông Á, hình thành một diễn đàn Đông Á như một cơ chế cho sự trao đổi xã hội,… đã lần đầu tiên được đề cập đến Bản báo cáo này đã được Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 lần 5 đánh giá cao như “một kế hoạch cho tương lai” của hợp tác Đông Á Báo cáo này không chỉ chủ trương mở rộng lĩnh vực hợp tác mà còn đưa ra nhiều hình thức thể chế mới cho ASEAN+3

Theo quyết định của Hội nghị cấp cao ASEAN+3 lần 4, Nhóm Nghiên cứu Đông Á (EASG) được thành lập để đánh giá các đề nghị trong báo cáo của EAVG và từ đó đề ra các biện pháp khả thi cụ thể EASG được chính thức thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/3/2001, bao gồm Tổng thư ký ASEAN và 13 quan chức cao cấp đại diện cho các nước thành viên ASEAN+3 Báo cáo cuối cùng của EASG được đệ trình lên hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 tại Phnom Penh

Trang 36

tháng 11/2002 Về cơ bản, báo cáo của EASG vẫn giữ nguyên

định hướng, mục tiêu và các lĩnh vực hợp tác của EAVG Tuy

nhiên, nhằm nâng cao tính khả thi và hiện thực hoá hơn nữa

sự hợp tác lâu dài của ASEAN+3, EASG đã có sự sửa đổi và

bổ sung khi tập trung nhiều hơn vào 26/57 biện pháp cụ thể

của EAVG

Sau đó, cố gắng hợp tác ASEAN+3 ngày càng được mở

rộng và cụ thể hơn Ví dụ, tại Hội nghị Thượng đỉnh

ASEAN+3 lần thứ 9 diễn ra ngày 12/12/2005, các nước thành

viên đã thảo luận và đề xuất nhiều biện pháp thúc đẩy hợp

tác chuyên ngành ASEAN+3 trên các lĩnh vực như phòng

chống bệnh dịch, khủng bố quốc tế và tội phạm xuyên quốc

gia, an ninh trên biển, an ninh năng lượng, công nghệ thông

tin, du lịch, phát triển nguồn nhân lực, trao đổi văn hoá và

giao lưu nhân dân Tại Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 10 năm

2006, ASEAN+3 cũng mở rộng thêm bốn lĩnh vực hợp tác mới

là phụ nữ, tài nguyên, chống đói nghèo, quản lý thiên tai

Cho đến nay, ASEAN+3 có khoảng 20 lĩnh vực hợp tác khác

nhau (Xem bảng 1.1) Đây là sự phát triển đáng kể của thể

chế ASEAN+3 xét về bề rộng

Bảng 1.1: Các lĩnh vực hợp tác của ASEAN+3 Chính trị và an ninh Công nghệ thông tin liên lạc Kinh tế, thương mại, đầu tư Phúc lợi xã hội và phát triển Tài chính và tiền tệ Tội phạm xuyên quốc gia và

chống khủng bố Nông nghiệp, đánh cá và rừng Khoa học và công nghệ Lao động Thanh niên

Môi trường Phụ nữ

Du lịch Tài nguyên Văn hóa, nghệ thuật Chống đói nghèo Năng lượng Quản lý thiên tai

Y tế Tuy nhiên, ngoại trừ lĩnh vực kinh tế có những phát triển thực tiễn đáng kể (sẽ đề cập đến trong phần 1.3.2.), sự hợp tác ASEAN+3 trong các lĩnh vực còn lại chủ yếu đang ở giai đoạn nghiên cứu kế hoạch, xây dựng chính sách, xác định lộ trình mà chưa triển khai bao nhiêu trong thực tiễn Mặc dù vậy, sự mở rộng lĩnh vực hợp tác của ASEAN+3 vẫn có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển hợp tác đa phương khu vực bởi đó là sự xây dựng nền móng cho mối hợp tác toàn diện hơn trong tương lai

Trong số các lĩnh vực trên, có một số lĩnh vực tuy chỉ trong giai đoạn đầu nhưng đã có những bước đi ấn tượng Ví

Trang 37

dụ, trong lĩnh vực y tế, các nước ASEAN+3 đã phối hợp với

nhau khá hiệu quả trong việc chống dịch SARS năm 2003, đã

đưa ra được Tuyên bố chung ngày 26/11/2004 về thống nhất

chính sách chung và xây dựng cơ chế hợp tác liên khu vực

nhằm đối phó với dịch cúm gia cầm, mở website

www.ASEANplus3-eid.info nhằm trao đổi thông tin về bệnh

truyền nhiễm giữa các nước ASEAN+3, Sự hợp tác này cho

thấy ASEAN+3 là cần thiết để đối phó nhanh trước những

vấn đề nảy sinh Trong lĩnh vực phòng chống tội phạm xuyên

quốc gia và chống khủng bố, Hội nghị Bộ trưởng ASEAN+3 về

tội phạm xuyên quốc gia ngày 10/01/2004 tại Bangkok đã

thông qua kế hoạch hợp tác chống tội phạm xuyên quốc gia

trên 8 lĩnh vực là: khủng bố, buôn lậu thuốc phiện, buôn bán

người, cướp biển, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế

quốc tế và tội phạm thông tin mạng Sự hợp tác trong lĩnh

vực này đánh dấu xu hướng mở rộng hợp tác đa phương

ASEAN+3 sang các vấn đề an ninh phi truyền thống – lĩnh

vực tương đối nhạy cảm và còn ít hợp tác ở Đông Á Bên cạnh

đó, còn hai lĩnh vực hợp tác khác cũng khá ấn tượng là hợp

tác du lịch và hợp tác công nghệ thông tin liên lạc Những

hợp tác này đã có được những kết quả nhất định, đóng góp

cho sự phát triển giao lưu, làm tăng sự hiểu biết lẫn nhau và

sự gắn kết giữa các thành viên ASEAN+3

An ninh-chính trị là một trong hai định hướng cơ bản của

ASEAN+3 Tuy nhiên, cho đến nay, hoạt động đa phương của

nó trong lĩnh vực này còn khá mờ nhạt Sự phức tạp trong

môi trường an ninh-chính trị khu vực, sự chi phối của các thế

lực bên ngoài khiến dấu ấn “Đông Á” ở đây không đậm nét ASEAN+3 vẫn tránh né các vấn đề an ninh-chính trị dù động

cơ an ninh-chính trị nằm sau tiến trình này là không thể bác bỏ Các nước ASEAN+3 mới chỉ đạt được thỏa thuận thúc đẩy đổi thoại, trao đổi một số vấn đề quốc tế và bước đầu mở rộng sang lĩnh vực an ninh phi truyền thống Mặc dù vậy, tác động của ASEAN+3 trong lĩnh vực an ninh-chính trị là có khi tạo điều kiện cho xu hướng tăng cường đối thoại an ninh-chính trị trong khu vực

Với những cố gắng trên, ASEAN+3 bắt đầu có tính hướng đích rõ ràng, có lĩnh vực hợp tác xác định và những biện pháp cụ thể có tính khả thi Nhìn chung, ASEAN+3 được định hướng toàn diện hơn APEC và ARF.16 Đây là những điểm tựa quan trọng để thúc đẩy tiến trình thể chế hoá tiếp tục vì hợp tác khu vực Đông Á

Mục tiêu thúc đẩy hợp tác đa phương được đề ra kéo theo yêu cầu phát triển về thể chế về bề sâu như điều kiện để thực hiện Bởi thế, các cố gắng nâng cấp ASEAN+3 về mặt thể chế đã diễn ra Về nguyên tắc hoạt động, với tính chất ban đầu như một hoạt động của ASEAN PMC nên các nguyên tắc hoạt động của nó hoàn toàn dựa theo nguyên tắc của ASEAN Thực tế cho đến nay, ASEAN+3 vẫn tiếp tục hoạt động chủ yếu theo các nguyên tắc của ASEAN Tuy nhiên, trong quá trình vận động của mình, ASEAN+3 bắt đầu có xu hướng độc lập nhất định Trong “Tuyên bố chung về hợp tác

16 Tsutomu Kikuchi, East Asian Regionalism: A Look at the “ASEAN plus three” Framework, Japan Review of International Affairs, Spring 2002, p 1-2

Trang 38

Đông Á” năm 1999, các nước ASEAN+3 đã tỏ rõ mong muốn

thúc đẩy thể chế hoá hợp tác Đông Á như “làm sâu thêm và

củng cố những nỗ lực chung” (Mục 3), “nhất trí đẩy mạnh tiến

trình đối thoại và tăng cường hợp tác với mục tiêu nâng cao

sự cộng tác Đông Á” (Mục 5) Đồng thời, tuyên bố này cũng

nêu ra các cơ sở xây dựng nguyên tắc hoạt động cho thể chế

của mình là mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên

Hiệp Quốc, 5 nguyên tắc chung sống hoà bình, Hiệp ước Thân

thiện và Hợp tác của ASEAN (TAC) và những nguyên tắc của

Luật quốc tế (Mục 4) Đến “Tuyên bố chung về hợp tác Đông

Á” lần thứ hai thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3

lần 11 tại Singapore năm 2007, tiến tới cộng đồng Đông Á đã

được coi là mục tiêu dài hạn của ASEAN+3 Đồng thời, Hiến

chương Liên Hiệp Quốc, TAC và những nguyên tắc của Luật

quốc tế đã được tái khẳng định là những cơ sở cho các nguyên

tắc hoạt động của thể chế này (Phần 1, Mục 3)

Trong báo cáo “Hướng tới một cộng đồng Đông Á: Khu vực

hoà bình, thịnh vượng và tiến bộ” của Nhóm Tầm nhìn Đông

Á (EAVG), một số nguyên tắc quan trọng liên quan đến việc

xây dựng thể chế cho ASEAN+3 cũng được khuyến nghị như

tránh hoạt động chồng lấn với các tổ chức và khuôn khổ khu

vực khác, hoà hợp với hệ thống toàn cầu Báo cáo này cũng

đã đưa ra một số chuẩn mực quan hệ như tôn trọng các

nguyên tắc và chuẩn mực trong quan hệ giữa các quốc gia, tôn

trọng luật pháp quốc tế, quan hệ láng giềng hữu nghị, tôn

trọng chủ quyền quốc gia.17 Đây là những nguyên tắc cơ bản

17 Sang-Hochung, A Move toward an East Asia Community and its Future Outlook,

The Journal of East Asian Affairs Vol XV, No 2, Fall/Winter 2001, p 399

cho việc hình thành thể chế của ASEAN+3 Các nguyên tắc này đã được Báo cáo cuối cùng của EASG tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung thêm

Về cơ cấu hoạt động, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 lần 2 được tổ chức tại Hà Nội tháng 12/1998, các bên đã thoả thuận duy trì cuộc gặp thượng đỉnh một cách thường xuyên Kể từ năm 1997 đến năm 2007, đã có 11 hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 diễn ra hàng năm Ít nhất, sự duy trì thường xuyên các hội nghị thượng đỉnh ngay từ đầu đã cho thấy nhận thức chung về tầm quan trọng và sự cần thiết phải duy trì khuôn khổ ASEAN+3 đối với hợp tác Đông Á nói chung, đối với việc thiết lập một tổ chức thuần Đông Á nói riêng

Bảng 1.2: Các hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 (1997-2007) Hội nghị thượng

đỉnh ASEAN+3

Thời gian

Trang 39

Lần 8 11/2004 Vientian (Lào)

Lần 9 12/2005 Kuala Lumpur (Malaysia)

Lần 10 1/2007 Cebu (Philippines)

Lần 11 11/2007 Singapore

Sự tiến triển thể chế không chỉ được đo bằng sự liên tục

về mặt thời gian mà còn bằng sự mở rộng cơ cấu trong nhiều

lĩnh vực hoạt động Các hội nghị bộ trưởng là cấp thứ hai bên

dưới hội nghị thượng đỉnh trong hệ thống thể chế của

ASEAN+3 Cũng giống như trong ASEAN, cấp này được tổ

chức nhằm phối hợp xây dựng kế hoạch hợp tác chung cũng

như trong từng lĩnh vực của ASEAN+3 để đưa lên cuộc gặp

cấp cao Đầu tiên là các hội nghị cấp bộ trưởng của ASEAN+3

đã được tổ chức trong lĩnh vực tài chính và kinh tế nhằm đối

phó với hậu quả của cuộc khủng hoảng Đó là Hội nghị Bộ

trưởng Tài chính ASEAN+3 được bắt đầu tại Manila

(Philippines) tháng 4/1999 và Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế

ASEAN+3 tại Yagoon (Mianmar) tháng 5/2000 Tiếp theo, từ

quyết định của Hội nghị lần 3 tại Manila tháng 11/1999, Hội

nghị Ngoại trưởng ASEAN+3 đã được tổ chức lần đầu tiên

bên lề Hội nghị ASEAN tại Bangkok tháng 7/2000 Từ năm

2001, trên tinh thần các khuyến nghị của EAVG và EASG về

mở rộng lĩnh vực hợp tác, cơ cấu thể chế của ASEAN+3 ở cấp

bộ trưởng không chỉ còn giới hạn trong ba hội nghị bộ trưởng

nói trên mà đã bắt đầu được mở rộng sang nhiều lĩnh vực

khác như Nông nghiệp và Lâm nghiệp, Y tế, Môi trường, Lao

động, Du lịch, Văn hoá, Khoa học và Công nghệ,…

Bảng 1.3: Các hội nghị bộ trưởng của ASEAN+3

Hội nghị cấp bộ trưởng

ASEAN+3

Hội nghị đầu tiên Hội nghị Bộ trưởng Tài chính 4/1999 Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế 5/2000 Hội nghị Ngoại trưởng 7/2000 Hội nghị Bộ trưởng Lao động 5/2001 Hội nghị Bộ trưởng Nông nghiệp và Lâm nghiệp 10/2001 Hội nghị Bộ trưởng Du lịch 1/2002 Hội nghị Bộ trưởng Năng lượng 9/2002 Hội nghị Bộ trưởng Môi trường 11/2002 Hội nghị Bộ trưởng Y tế 4/2003 Hội nghị Bộ trưởng về phúc lợi, xã hội và phát triển 12/2004 Hội nghị Bộ trưởng về Văn hoá và Nghệ thuật 8/2005 Hội nghị Bộ trưởng về Tội phạm xuyên quốc gia 11/2005 Hội nghị Bộ trưởng về Khoa học và Công nghệ 8/2006 Hội nghị Bộ trưởng về Thanh niên 4/2007 Bên dưới nữa ở cấp thứ ba, là các cuộc gặp quan chức cấp cao trong từng lĩnh vực hợp tác Các cuộc gặp này được tổ chức thường xuyên, liên tục nhằm cụ thể hoá việc triển khai quyết định của cuộc gặp cấp cao và cấp bộ trưởng cũng như

Trang 40

xem xét, đánh giá tình hình thực hiện để chuẩn bị các đề

xuất hay khuyến nghị cho các cấp cao hơn Cũng trong cấp

này, dựa trên khuyến nghị của EASG, hội nghị Tổng Vụ

trưởng ASEAN+3 đã được mở thêm theo quyết định của Hội

nghị Ngoại trưởng ASEAN+3 tháng 7/2002 Đồng thời, một

hệ thống khoảng 50 ủy ban và các nhóm làm việc cũng được

triển khai trên nhiều lĩnh vực khác nhau như hội nghị các

Tổng Giám đốc, Nhóm làm việc ASEAN+3 điện tử, nhóm

những người lãnh đạo thanh niên, Uỷ ban Khoa học và Công

nghệ ASEAN và các đối tác Đông Bắc Á,…

Ngoài ra, cơ cấu hoạt động thực tế của ASEAN+3 còn được

mở rộng thêm bằng các sáng kiến và kế hoạch khuyến khích

giao lưu nhân dân-nhân dân, mở ra kênh quan hệ mới bổ sung

cho kênh liên chính phủ… Việc thành lập EAVG năm 2000,

thành lập nhóm các nhân vật kiệt suất trong ASEAN+3, tổ chức

festival thanh niên ASEAN+3,… là những ví dụ điển hình của

hoạt động ngoại giao kênh II Hình thức hoạt động của kênh

này cũng khá đa dạng như hội nghị, hội thảo chuyên đề, tư vấn,

nhóm chuyên gia, diễn đàn, đối thoại,…

Bên cạnh đó, một số nét mới về mặt thể chế cũng xuất

hiện như theo đề nghị của Thủ tướng Nhật Bản Obuchi, cuộc

gặp tay ba hàng năm giữa các nước Đông Bắc Á đã được tổ

chức dưới hình thức bữa ăn sáng lần đầu vào năm 1999 Cuộc

gặp này bị ngưng trệ vào năm 2004 sau chuyến viếng thăm

đền Yasukini của Thủ tướng Nhật Bản Koizumi và được nối

lại tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 lần 10 tại Cebu

(Philippines) tháng 1/2007 Tính đến tháng 11/2007, ba nước

này đã tổ chức được 8 cuộc gặp bên lề Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3

Ngoài ra, năm 2001, với hi vọng tăng cường thể chế hoá cho ASEAN+3, Malaysia đã đưa ra đề nghị thành lập Ban Thư ký ASEAN+3 Đề nghị này được Nhật ủng hộ nhưng lại không đạt được nhất trí trong ASEAN do lo ngại vai trò của Ban Thư ký ASEAN sẽ bị hạ thấp Nhưng sau này, trong một cố gắng dung hoà vừa có một cơ quan hành chính cho ASEAN+3, vừa giữ được vai trò của ASEAN và Ban Thư ký ASEAN, các nước ASEAN đã thành lập Bộ phận ASEAN+3 (ASEAN+3 Unit) đặt trong Ban Thư ký ASEAN

ASEAN+3 đang tạo đà cho các nỗ lực thể chế hoá hợp tác khu vực Đông Á Một trong những dấu ấn của nỗ lực này là Hội nghị thượng đỉnh Đông Á Tại cuộc gặp thượng đỉnh ASEAN+3 lần 4 tại Singapore ngày 24/11/2000, thủ tướng Goh Chok Tong đã đề cập đến khả năng tiến triển Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 thành Hội nghị thượng đỉnh Đông Á Đến cuộc gặp thượng đỉnh lần 5 tại Brunei ngày 5/11/2001, tổng thống Hàn Quốc Kim Dae-jung một lần nữa đã nhắc lại

ý tưởng về Hội nghị thượng đỉnh Đông Á Đồng thời, ý tưởng này cũng được nêu lên trong các khuyến nghị của EAVG và EASG Cuối cùng như đã biết, ý tưởng này đã thành hiện thực với Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) lần đầu tiên được tổ chức tại Malaysia vào tháng 12/2005 và được tiếp tục với hội nghị lần thứ hai tổ chức tại Cebu (Philippines) tháng 1/2007 và hội nghị lần ba tại Singapore tháng 11/2007 Cơ chế EAS này có tác dụng đối với thể chế hóa hợp tác Đông Á

Ngày đăng: 02/01/2015, 16:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các lĩnh vực hợp tác của ASEAN+3 - Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng
Bảng 1.1 Các lĩnh vực hợp tác của ASEAN+3 (Trang 36)
Bảng 1.2: Các hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 (1997-2007) - Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng
Bảng 1.2 Các hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 (1997-2007) (Trang 38)
Bảng 1.3: Các hội nghị bộ trưởng của ASEAN+3 - Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng
Bảng 1.3 Các hội nghị bộ trưởng của ASEAN+3 (Trang 39)
Bảng 1.5: Tỉ trọng đầu tư ở Đông Á 1995-2005 (%) - Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng
Bảng 1.5 Tỉ trọng đầu tư ở Đông Á 1995-2005 (%) (Trang 44)
Bảng 1.6: Sự gia tăng các FTA ở Đông Á (1976-2007) - Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng
Bảng 1.6 Sự gia tăng các FTA ở Đông Á (1976-2007) (Trang 48)
Bảng 2.1: Những cuộc xung đột liên quan đến các nước ASEAN+3 - Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng
Bảng 2.1 Những cuộc xung đột liên quan đến các nước ASEAN+3 (Trang 59)
Bảng 2.2: Một vài chỉ số cơ bản của các nước ASEAN+3 (năm 2006) - Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng
Bảng 2.2 Một vài chỉ số cơ bản của các nước ASEAN+3 (năm 2006) (Trang 68)
Bảng  2.4:  So  sánh  thu  nhập  quốc  dân  của  các  nước  ASEAN+3 - Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng
ng 2.4: So sánh thu nhập quốc dân của các nước ASEAN+3 (Trang 76)
Bảng 2.5: Các vấn đề trong hợp tác đa phương ASEAN+3 - Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng
Bảng 2.5 Các vấn đề trong hợp tác đa phương ASEAN+3 (Trang 95)
Bảng 3.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của ASEAN với các thành - Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng
Bảng 3.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu của ASEAN với các thành (Trang 107)
Bảng  3.2:  Đầu  tư  vào  ASEAN  từ  các  thành  viên  ASEAN+3 - Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng
ng 3.2: Đầu tư vào ASEAN từ các thành viên ASEAN+3 (Trang 108)
Bảng 3.4: So sánh tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP - Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng
Bảng 3.4 So sánh tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP (Trang 123)
Bảng 3.6:  So sánh mức tiêu dùng điện năng giữa Việt Nam - Hợp tác đa phương ASEAN+3 : vấn đề và triển vọng
Bảng 3.6 So sánh mức tiêu dùng điện năng giữa Việt Nam (Trang 124)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w