1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012

124 548 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

có 55,5% trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia; đầu tư xây dựng trạm y tế xã thuộcvùng khó khăn giai đoạn 2008-2010 trong đó tập trung đầu tư xây dựng trạmy tế xã đạt chuẩn quốc gia cho các xã

Trang 1

TRẦN NGỌC NHÂN

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

VÀ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ CHỦ YẾU TẠI CÁC BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN,

TỈNH BẾN TRE NĂM 2012

LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

TRẦN NGỌC NHÂN

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

VÀ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ CHỦ YẾU TẠI CÁC BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN,

TỈNH BẾN TRE NĂM 2012

Chuyên ngành: QUẢN LÝ Y TẾ

Mã số: 62727605.CK LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II

Người hướng dẫn khoa học: GS TS PHẠM VĂN LÌNH

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu điều tra được thực hiện tại tất cả các Bệnh viện đa khoahuyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 Các kết quả nêu trong luận án là trungthực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả của luận án

Trần Ngọc Nhân

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, Phòng Đào tạo sau Đại học, Khoa Y tế Công cộng, Quý Thầy, Quí Cô trong Hội đồng thi tốt nghiệp Luận án Bác sĩ Chuyên khoa Cấp II, chuyên ngành Quản lý Y tế, khóa học năm 2011-2013.

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Giáo sư Tiến sĩ Phạm Văn Lình, người Thầy đã hướng dẫn tôi tận tình, chu đáo trong suốt quá trình thực hiện sửa chữa và hoàn thành luận án tốt nghiệp

Các đồng chí Lãnh đạo các Bệnh viện đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre, các đồng nghiệp đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập.

Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thiết đã chia sẻ và luôn đồng hành cùng tôi trong mọi chặng đường của cuộc sống.

Trần Ngọc Nhân

Trang 5

ATVSTP : An toàn vệ sinh thực phẩm

BNV : Bộ Nội vụ

BGĐ : Ban Giám đốc

BSCKI : Bác sỹ chuyên khoa cấp I

BSCKII : Bác sỹ chuyên khoa cấp II

BV : Bệnh viện

BVĐK : Bệnh viện đa khoa

BVĐKKV : Bệnh viện đa khoa khu vực

Trang 6

KTVD : Kỹ thuật viên Dược

KTVY : Kỹ thuật viên Y

Trang 7

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Tình hình nhân lực và trang thiết bị y tế ở một số nước trên thế giới 3

1.2 Tình hình nhân lực và trang thiết bị y tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 9

1.3 Giới thiệu sơ lược về cơ cấu tổ chức và hoạt động của các BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre 24

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu 26

2.3 Xử ly số liệu 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

3.1 Thực trạng về số lượng, trình độ, cơ cấu của đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yêu tại 07 bệnh viện đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 40

3.2 Nhu cầu về đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2015 60

Trang 8

2012 683.2 Nhu cầu về đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnhviện đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2015 91KẾT LUẬN 96KIẾN NGHỊ 98TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục

Trang 9

Bến Tre năm 2012 40

Bảng 3.2 Số lượng của đội ngũ cán bộ phân theo chức danh nghề nghiệp tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 41

Bảng 3.3 Số lượng của đội ngũ cán bộ tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 so với định biên theo Thông tư 08 42

Bảng 3.4 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ tại 07 BV đa khoa huyện năm 2012 43

Bảng 3.5 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Y tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 44

Bảng 3.6 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Dược tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 45

Bảng 3.7 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ khác tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 46

Bảng 3.8 Tỷ lệ cơ cấu bộ phận của 07 BV đa khoa huyện 47

Bảng 3.9 Tỷ lệ cơ cấu chuyên môn của 07 BV đa khoa huyện 48

Bảng 3.10 Tỷ lệ cán bộ y tế trên giường bệnh của 07 BV đa khoa huyện 49

Bảng 3.11 Cơ cấu tuổi và giới tính của đội ngũ cán bộ y tế tại 07 BV đa khoa huyện 50

Bảng 3.12 Số lượng và tình hình hoạt động của máy siêu âm 51

Bảng 3.13 Số lượng và tình hình hoạt động của máy x-quang 52

Bảng 3.14 Số lượng và tình hình hoạt động của máy điện tim 53

Bảng 3.15 Hiệu quả hoạt động của máy siêu âm 54

Bảng 3.16 Hiệu quả hoạt động của máy x-quang 55

Bảng 3.17 Hiệu quả hoạt động của máy điện tim 56

Trang 10

Cán bộ bảo dưỡng máy siêu âm, x-quang, điện tim tại 07 BV đa khoa huyện

58Bảng 3.20 Diện tích, nhiệt độ phòng lắp đặt máy siêu âm, x-quang tại 07 BV

đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 59Bảng 3.21 Số lần kiểm chuẩn, bảo dưỡng và số lần kiểm tra máy siêu âm, x-quang, điện tim trong năm 59Bảng 3.22 Số lần hỏng hóc và thời gian sửa chữa các máy siêu âm, x-quang,điện tim tại các BV 60Bảng 3.23 Nhu cầu về số lương cán bộ cần bổ sung tại các BV trong năm2013 61Bảng 3.24 Nhu cầu về số lương cán bộ cần bổ sung tại các BV trong năm2014 61Bảng 3.25 Nhu cầu về số lương cán bộ cần bổ sung tại các BV trong năm2015 62Bảng 3.26 Số lượng BS cần có tại các BV đến năm 2015 62Bảng 3.27 Số lượng Dược sỹ Đại học cần có tại các BV đến năm 2015 63Bảng 3.28 Số lượng BS có trình độ Sau đại học cần có tại các BV đến năm2015 64Bảng 3.29 Số lượng đội ngũ Điều dưỡng, Nữ hộ sinh, Kỹ thuật viên có trình

độ Đại học hoặc Cao đẳng cần có tại các BV đến năm 2015 65Bảng 3.30 Nhu cầu về chuyên khoa cần đào tạo tại 07 BV đa khoa huyện đếnnăm 2015 66Bảng 3.31 Nhu cầu về số lượng máy siêu âm, x-quang, điện tim của các BV

đa khoa huyện đến năm 2015 67

Trang 12

có 55,5% trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia; đầu tư xây dựng trạm y tế xã thuộcvùng khó khăn giai đoạn 2008-2010 trong đó tập trung đầu tư xây dựng trạm

y tế xã đạt chuẩn quốc gia cho các xã hiện chưa có trạm y tế thuộc vùng khókhăn [44]; tăng cường nguồn nhân lực và năng lực của cán bộ y tế qua việcthực hiện Đề án đào tạo nhân lực y tế cho vùng khó khăn, vùng núi của cáctỉnh miền Bắc và miền Trung, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng TâyNguyên theo chế độ cử tuyển [45]; Đề án 1816 về luân phiên cán bộ về hỗ trợtuyến dưới nhằm nâng cao năng lực khám, chữa bệnh cho các bệnh việntuyến dưới trong cung ứng dịch vụ, khắc phục tình trạng quá tải và nâng caochất lượng dịch vụ bệnh viện; nâng cao chế độ phụ cấp đối với nhân viên y tếthôn bản [41]

Để thực hiện các chính sách chủ yếu nhằm thực hiện các mục tiêu chămsóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân mà Chính phủ và ngành y tế Việt Nam đã đề

ra thì việc quản lý nguồn lực là một hoạt động hết sức quan trọng Quản lýnguồn nhằm thực hiện các mục tiêu huy động, phân phối và sử dụng các loạinguồn lực một cách công bằng, hợp lý, có hiệu quả và tiết kiệm Tính hiệu

Trang 13

quả chú trọng đến trình độ trang bị kỹ thuật, phương pháp phân phối nguồnlực, hiệu lực quản lý hành chính và chất lượng dịch vụ y tế cung cấp cho nhândân Tính công bằng đòi hỏi phải cung cấp các dịch vụ y tế bằng nhau chonhững người có cùng mức độ bệnh tật như nhau, hay nói cách khác, ai có nhucầu cần được chăm sóc y tế nhiều hơn thì được đáp ứng nhiều hơn.

Để có cơ sở xác định được thực trạng nguồn lực y tế tại các bệnh viện

đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre, khảo sát những yếu tố cần thiết đến sựphát triển các nguồn lực trong giai đoạn hiện nay và các năm tiếp theo, từ đó

có giải pháp thích hợp để huy động, phân phối và sử dụng các loại nguồn lựcmột cách công bằng, hợp lý, có hiệu quả và tiết kiệm nhằm hoàn chỉnh về tổchức, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và chất lượng phục vụ ngườibệnh, đầu tư phát triển bệnh viện trong từng giai đoạn thích hợp và trên cơ sởtìm hiểu, đánh giá các nguồn lực nhằm phân tuyến kỹ thuật trong điều trị, xâydựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí lao động và thực hiện các chế độchính sách phù hợp đối với công chức, viên chức bệnh viện Xuất phát từnhững lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán

bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Trenăm 2012” nhằm hai mục tiêu sau:

1 Xác định thực trạng đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu chocông tác khám chữa bệnh tại các bệnh viện đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Trenăm 2012.2

2 Xác định nhu cầu cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu phục vụ chocông tác khám chữa bệnh tại các bệnh viện đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Trenăm 2015

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN

1 1 Tình hình nhân lực và trang thiết bị y tế ở một số nước trên thế giới 1.1.1 Tình hình nhân lực y tế ở một số nước trên thế giới

Nguồn nhân lực của một quốc gia hay một vùng, một khu vực, một địaphương là tổng hợp các tiềm năng lao động của con người có được trong mộtthời điểm xác định Xét về phương diện cấu thành, nguồn nhân lực là một bộphận trong dân số Như vậy nguồn nhân lực còn là chỉ số dân, cơ cấu dân số,

và chất lượng con người với tất cả tiềm năng của nó trong phát triển kinh tế

xã hội [15] Đối với ngành Y tế, muốn thực hiện được nhiệm vụ của mình đòihỏi phải có nguồn nhân lực phù hợp cả về số lượng lẫn chất lượng - nghĩa làphải có một đội ngũ cán bộ y tế với số lượng, trình độ và cơ cấu hợp lý, cósức khỏe, có năng lực chuyên môn và y đức nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầuchăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân

Tùy theo tình hình kinh tế, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có những đườnglối, chính sách y tế hoạch định phù hợp với mục tiêu của từng giai đoạn pháttriển Thê giới hiện nay có nhiều hệ thống y tế khác nhau đang tồn tại, mỗiquốc gia có những chương trình và chính sách y tế khác nhau, quy mô vàphân bổ nhân lực cũng khác nhau Tuy nhiên những nội dung cơ bản của việccung ứng nhân lực y tế trên thế giới hiện nay đều bao gồm: Qui mô, phân bổ(theo địa lý, theo nghề nghiệp, theo các kỹ năng cơ bản, theo thể chế, theotuổi và giới), tuyển dụng, sử dụng và đào tạo Mục đích là cung cấp nhân lựctrong lĩnh vực y tế và các lĩnh vực liên quan không chỉ đơn thuần về mặtchăm sóc sức khoẻ, mà còn thực hiện các chức năng của y tế cộng đồng vàcác hoạt động bảo vệ sức khoẻ theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới [5]

Trang 15

Trong đa phần các trường hợp vấn đề này liên quan đến cả các khu vực tưnhân và khu vực y tế công.

1.1.1.1 Quy mô và cơ cấu của nhân lực y tế ở một số nước châu Á và trên thế giới

Theo tài liệu của Ban Khoa giáo Trung ương năm 2004, thống kê chothấy số Bác sĩ/vạn dân của một số quốc gia thuộc các nước khu vực Châu Ánhư sau: Mongolia có dân số 2,6 triệu người thì có 27,8 BS/10.000 dân; NewZealand với 3,8 triệu dân có 21,9 BS/10.000 dân; Nhật Bản 126,5 triệu dân có20,2 BS/10.000 dân; Hàn quốc 46,5 triệu dân có 18 BS/10.000 dân; TrungQuốc 1.273,6 triệu dân có 16,4 BS/10.000 dân; Singapore 3,5 triệu dân có 14BS/10.000 dân; Philippin 74,5 triệu dân có 11,5 BS/10.000 dân; Brunei 0,3triệu dân có 9,95 BS/10.000 dân; Lào 5,3 triệu dân có 6,1 BS/10.000 dân;Malaysia 21.83 triệu dân có 6,1 BS/10.000 dân; Việt nam có 78,7 triệu dân có5,6 BS/10.000 dân; Thái Lan có 60,8 triệu dân có 2,9 BS/10.000 dân;Indonesia có 209,3 triệu dân có 1,3 BS/10.000 dân

Nhân lực y tế khu vực Tây Thái Bình Dương về qui mô từ tỷ lệ nhânviên y tế/vạn dân khoảng 11/10.000 ở Australia và New Zealand, tỷ lệ nàychưa đến 1/vạn dân ở Paqua New Guinea và các đảo Solomon [5], [38], [77].Các nước đều có sự thiếu hụt nhân viên y tế ở mức độ nào đó, đặt biệt là thiếunhân viên có kinh nghiệm Những nước có nguồn cung ứng thấp gặp nhữngvấn đề về cung ứng thuần tuý Những nước có tỷ lệ cung ứng cao thì vấn đềgặp phải thường là về mặt cơ cấu, chủ yếu là thiếu hụt nhân lực tại chỗ, cán

bộ chuyên khoa

Về số lượng Điều dưỡng/BS ở một số nước: Indonesia có 5,6 ĐD/1 BS;Thái Lan có 4,1 ĐD/1 BS; Philippine có 3,9 ĐD/1 BS; Malaysia có 5,6 ĐD/1BS; Singapore có 2,8 ĐD/1 BS; Campuchia có 2,3 ĐD/1 BS; Hàn Quốc có

Trang 16

1,8 ĐD/1 BS; Myanmar có 1,5 ĐD/1 BS; Việt Nam có 1,3 ĐD/1 BS; Nepal

có 1,0 ĐD/1 BS; Trung Quốc có 0,8 ĐD/1 BS

Về số lượng Dược sĩ Đại học/10.000 dân ở một số nước: Monaco có21,8; Bỉ có 14; Phần Lan có 14; Tây Ban Nha có 11; Italy có 10; Pháp có 10;Ailen có 7,8; Bồ Đào Nha có 7,5; Luxemboug có 6,9; Hy Lạp có 6,9; ThuỵĐiển có 6,7; Thụy Sỹ có 6,2; Pakistan có 3,4; Việt Nam có 0,75; Srilanka có0,4

1.1.1.2 Phân bổ nhân lực y tế ở các nước trên thế giới

Phân bố nhân lực theo địa lý và phân bố theo chuyên môn Tuy nhiên,trong thực tế hai yếu tố này thường kết hợp chặt chẽ với nhau (ví dụ khu vựcnông thôn thiếu nhân viên y tế đồng nghĩa với thiếu BS) Những vấn đề khácnhau bao gồm: Cơ cấu nhân lực y tế, dư thừa chuyên khoa, phân bố theo thểchế hành chính, theo tuổi và theo giới

Ở Châu Á, vấn đề tồn tại là mất cân bằng về địa lý, thường là thừa nhânlực ở khu vực thành thị trong khi lại thiếu ở khu vực nông thôn Mặt dùPhilippin thông báo cho thấy thừa BS và Điều dưỡng thì cân bằng nhân lực y

tế thành thị/nông thôn lại không cho thấy điều đó Vấn đề thật sự có thể là cónhiều sinh viên tốt nghiệp, song đa phần trong số họ không muốn làm việc ởnông thôn và kết quả là tạo ra sự di chuyển nhân lực y tế Về mặt cân đốinhân lực y tế ở khu vực Tây Thái Bình Dương, Camphuchia có nguồn nhânlực chưa đạt tiêu chuẩn, Philippin thiếu cán bộ trong lĩnh vực y tế công cộng

và cán bộ được đào tạo các kỹ năng dựa vào cộng đồng để đảm trách nhữngchương trình phòng dịch hiệu quả [5], [77]

Vấn đề cốt yếu vẫn là thiếu nhân lực nông thôn hoặc các vùng sâu,vùng xa, thậm chí kể cả ở những khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội thấpthuộc thành thị

Trang 17

Tất cả các nước khu vực Tây Thái Bình Dương đều có sự mất cân bằng

về cơ cấu trong và giữa các nhóm nghề nghiệp, thiếu các kỹ năng thích hợp

để đáp ứng các yêu cầu tại chỗ hoặc trong những hoàn cảnh thay đổi Phạm vicủa những vấn đề này rất khác nhau giữa các nước Ở Mông Cổ, vấn đề chủyếu là thừa BS, nhưng có rất nhiều BS có bằng cấp, lại đang làm việc ngoàilĩnh vực y tế Ở Australia, thiếu hụt nhân viên thường gặp ở những chuyênkhoa đặc biệt như sức khoẻ tâm thần, phẫu thuật chỉnh hình, hồi sức cấp cứu

và gây mê [38], [77]

1.1.1.3 Một số vấn đề y tế và nhân lực y tế của các nước kém phát triển

Các nước kém phát triển (phần lớn là các nước thuộc địa cũ) đều nằmtrong vòng xoắn: đói nghèo, lạc hậu dẫn đến tình trạng kinh tế, chính trị, xãhội không ổn định, từ đó có nhiều bệnh tật phát sinh và hậu quả là càng đóinghèo, lạc hậu

Hậu quả của quá trình thuộc địa là hệ thống y tế vốn đã kém phát triển,lại mất cân đối giữa hai khu vực: khu chữa bệnh tương đối phát triển, còn khuvực phòng bệnh thì rất yếu kém, mặc dù các nhà lãnh đạo đều ý thức đượcrằng cần phải dự phòng bệnh là chính Điều này cần phải đầu tư rất lớn, trongkhi lại có nhiều ưu tiên cấp bách khác, tình hình an ninh chính trị không ổnđịnh, do điều kiện sống của đại đa số dân cư rất thấp, trình độ dân trí còn lạchậu…

Các cơ sở y tế chỉ tập trung ở các thành phố lớn Rất nhiều vùng nôngthôn, vùng sâu, vùng xa trắng về y tế, ở đây người ốm rất khó khăn trong tiếpcận dịch vụ y tế Các tập tục lạc hậu về chữa bệnh còn đè nặng lên người dân:Thầy mo, thầy cúng làm cả chức năng “thầy thuốc”

Các BS được đào tạo trong nước và nước ngoài chủ yếu tập trung ở các

đô thị và làm tư Điều dưỡng được đào tạo chính quy cũng vậy Rất nhiều BS,Điều dưỡng có chuyên môn cao sang các nước phát triển làm việc để có thu

Trang 18

nhập cao, có điều kiện làm việc, phát triển chuyên môn, đồng thời đảm bảocuộc sống gia đình tốt hơn [5] Phần lớn nguồn tài lực, vật lực và nhân lực y

tế cho các nước này là từ các chương trình trợ giúp của cộng đồng quốc tế(Các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức nhân đạo)

1.1.2 Tình hình trang thiết bị y tế ở một số nước trên thế giới

Xu hướng tất yếu của thời đại ngày nay là toàn cầu hóa nền kinh tế thếgiới Toàn cầu hóa làm cho giao thương giữa các quốc gia, các khu vực trênthế giới phát triển mạnh mẽ và đương nhiên có sự kéo theo những nhu cầumới ngày càng đa dạng và phong phú, vì vậy nhu cầu về chăm sóc sức khỏengày càng được nâng cao Trong năm 2008, nền kinh tế thế giới đã trải quanhiều biến động với sự tăng giảm kỷ lục giữa giá cả và hàng hóa, hệ thống tàichính rơi vào khủng hoảng, nền kinh tế một số nước phát triển cũng có nguy

cơ bị ảnh hưởng nặng nề - suy thoái lớn nhất từ thập niên 70 trở lại đây.Nhiều quốc gia phải đối mặt với các thách thức lớn: Gánh nặng của các dạngbệnh tật, sự thay đổi dân số, kỳ vọng về chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng,chi phí cho chăm sóc sức khỏe ngày càng lớn trong khi khả năng chi trả cógiới hạn [59]

Do vậy, chăm sóc sức khỏe vẫn là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của mọiquốc gia, mọi thời đại và tùy theo tình hình kinh tế của mỗi nước mà đườnglối chính sách được hoạch định phù hợp với mục tiêu của từng giai đoạn pháttriển Các tổ chức hài hòa với các mục tiêu của từng giai đoạn phát triển Các

tổ chức hài hòa các thủ tục trên toàn cầu đã tập hợp các nhà quản lý có kinhnghiệm, các nhà sản xuất, nhà cung cấp trang thiết bị y tế cùng nhau trao đổi,thảo luận để thống nhất các thủ tục quản lý trang thiết bị cho mọi quốc gia.Trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương có tổ chức phi lợi nhuận và nhómhài hòa các thủ tục trên toàn cầu Hình thành sự thống nhất chung trong côngtác hòa hợp các quy định, các thủ tục quản lý trang thiết bị y tế tại các nước

Trang 19

trong khu vực Châu Á, tăng cường sự hiểu biết về các lợi ích của hòa hợptrong khu vực, hỗ trợ quá trình triển khai thực hiện về lĩnh vực trang thiết bị y

tế Ngoài ra còn có nhóm công tác về các sản phẩm y tế - Ủy ban tư vấn vềtiêu chuẩn, chất lượng ASEAN, đồng thời nghiên cứu và đề xuất một quytrình khả thi phê duyệt nhanh các sản phẩm mà nhà quản lý trang thiết bị y tếcác nước đều đồng thuận, hình thành một hệ thống cảnh báo chung trong khuvực đối với các sản phẩm kém phẩm chất hoặc không an toàn, thúc đẩy và hỗtrợ quá trình xin gia nhập tổ chức hòa hợp các thủ tục trong khu vực Châu Ácủa các nước thành viên ASEAN

Hệ thống y tế các nước cũng khác nhau tùy theo mức độ cung cấp dịch

vụ mà thuộc loại một hay hai thành phần Ở Canada thì hệ thống chăm sócsức khỏe chủ yếu từ Nhà nước Mô hình hệ thống y tế của các nước XHCNtrước đây và một số nước Châu Âu như Anh, ở Bắc Mỹ như Canada thì nhànước chịu hoàn toàn chi phí Mô hình y tế phổ biến của các nước hiện nay là

có nhiều mức độ chi trả khác nhau và Nhà nước chỉ chi trả khi cần thiết Chiphí cho hoạt động khám chữa bệnh ở các nước đang ngày càng gia tăng mộtcách đáng lo ngại, sự gia tăng các chi phí này do nhiều nguyên nhân, trongkhi đó việc xuất hiện ngày càng nhiều các trang thiết bị chẩn đoán và điều trịcũng là nguyên nhân của việc gia tăng chi phí khám chữa bệnh cho ngườidân Ở Mỹ, chi phí y tế bình quân cho một đầu người vào năm 1968 là 1.827USD và trong năm 2010 là 8.228 USD [72]

Sự bất bình đẳng trong khám chữa bệnh ngày càng lớn, việc gia tăng cácchi phí khám chữa bệnh đã làm cho người dân có thu nhập thấp, thu nhậptrung bình không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc chăm sócsức khỏe, đặc biệt là các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có trang thiết bị kỹ thuậtcao, việc người dân thiếu các thông tin về y tế cũng gây nên sự bất bình đẳng

Trang 20

trong khám chữa bệnh do sự tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bịhạn chế [72].

Sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe là thước đo chất lượng hoạt động

hệ thống y tế của mọi quốc gia Dịch vụ y tế là dịch vụ không thể khoán trắngcho cơ chế thị trường điều tiết mà phải có sự can thiệp hữu hiệu của Nhà nướcbằng các chính sách và đường lối kịp thời thích hợp theo từng giai đoạn pháttriển, sao cho mọi người dân mọi quốc gia đều được hưởng dịch vụ chăm sócsức khỏe tốt nhất, vì sức khỏe là loại hàng hóa đặc biệt “không có sức khỏe làkhông có tất cả và mất sức khỏe là mất tất cả” [59]

1.2 Tình hình nhân lực và trang thiết bị y tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

1.2.1 Tình hình nhân lực y tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11 đã đề ra mục tiêu đến năm 2020 đạtđược 9 BS trên một vạn dân, hoàn chỉnh mô hình tổ chức và củng cố mạnglưới y tế cơ sở, tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng chuyên môn, yđức, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế [53]

Phát triển đội ngũ nhân lực y tế có chất lượng, cơ cấu và phân bố hợp lýđược Bộ Y tế xác định là mục tiêu chính trong Quy hoạch phát triển nhân lực

y tế giai đoạn 2011–2020 [17] Kế hoạch 5 năm của ngành y tế bảo vệ, chămsóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011–2015 đã được Bộ Y tế phêduyệt, đặt ra chỉ tiêu đến 2015 80% số xã có BS làm việc; trên 95% số xã có

Nữ hộ sinh hoặc Y sỹ sản nhi, phấn đấu 90% số thôn bản trong toàn quốc cónhân viên y tế hoạt động [18] Quy định mới với các nội dung cụ thể hơn vềchức năng, nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn bản được ban hành [36], giúpnhân viên y tế thôn bản hiểu rõ hơn nhiệm vụ, quyền lợi của mình và các cơquan quản lý có thể tổ chức tốt hơn mạng lưới y tế thôn bản Đầu năm 2011,một số văn bản về hoàn thiện công tác tổ chức và nhân sự của ngành y tế đã

Trang 21

được ban hành, như hướng dẫn biên chế cho Trung tâm Dân số - kế hoạch hóagia đình [32], tiêu chuẩn nghiệp vụ, chức năng, nhiệm vụ cho một số ngạchviên chức của ngành y tế chưa có mã ngạch [33], [34] Một số văn bản liênquan đến chế độ tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực y tế tiếp tục được

bổ sung, hoàn thiện, như: Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số64/2009/NĐ-CP, ngày 30/7/2009, về chính sách đối với cán bộ, viên chức y tếcông tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn [7] Chính phủ

đã ban hành Nghị định 56/2011/NĐ-CP, ngày 4/7/2011, quy định chế độ phụcấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tếcông lập, theo đó, mức phụ cấp ưu đãi từ 20% đến 70% mức lương ngạch, bậchiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có)của đối tượng được hưởng, tùy theo tính chất công việc

Các kết quả đã đạt được trên lĩnh vực y tế trong những năm qua:

Số lượng và chất lượng nhân lực y dược được cải thiện: Số lượng nhânlực y tế tiếp tục duy trì xu hướng đi lên của thập kỷ qua Số Y-BS trên mộtvạn dân tăng lên (12,52 vào năm 2009 so với 12,23 của năm 2008), số BStrên vạn dân tăng thêm 0,07 (từ 6,52 lên 6,59) và số lượng Điều dưỡng trênmột vạn dân cũng tăng (8,82 của năm 2009 so với 7,78 của năm 2008) Vềnhân lực Dược bậc Đại học, do số liệu năm 2009 không bao gồm Dược sỹkhu vực sản xuất, kinh doanh dược, nên số Dược sỹ trên một vạn dân chỉ còn

là 0,38 (nếu tính cả khu vực sản xuất và kinh doanh tỷ số năm 2009 là 1,78 vànăm 2008 là 1,22) [20] Tỷ lệ nhân lực y tế bậc Đại học và Sau đại học gầnnhư không thay đổi Năm 2008 tỷ lệ này là 27%, đến năm 2009 chỉ còn 26%

Tỷ lệ xã có BS làm việc tăng lên 67,7%, so với 65% của 2008 Số trạm y tế xãđạt chuẩn quốc gia về y tế xã là 65,4% Tỷ lệ trạm y tế xã có Y sỹ sản nhihoặc Hộ sinh làm việc đạt chỉ tiêu đề ra là trên 95% (95,7%) Tỷ lệ thôn, bản,

ấp của xã, thị trấn có nhân viên y tế hoạt động đạt gần 97% [20]

Trang 22

Số lượng tuyển sinh bậc Đại học và Sau đại học tăng rõ rệt: Mạng lướiđào tạo nhân lực y tế bao gồm 25 trường/khoa Đại học, 34 trường cao đẳng y

tế, 42 trường trung cấp y dược Ngoài ra còn có 6 viện nghiên cứu, 7 BV thamgia đào tạo mới ở các bậc Sau đại học, trung cấp Trong số 25 trường/khoaĐại học có cả các trường ngoài công lập và các trường đào tạo đa ngành Sốlượng tuyển sinh bậc Đại học và Sau đại học tăng rõ rệt Ở bậc Đại học, chỉtiêu đào tạo Đại học đã tăng từ 6360 (năm 2004) lên tới 16 900 (năm 2011).Đào tạo Thạc sỹ, Tiến sỹ, BS nội trú, BS chuyên khoa I và chuyên khoa IIcũng tăng Chỉ tiêu đào tạo Sau đại học năm 2004 là 3098 học viên, đến năm

2010 lên tới 5170 và năm 2011 là 6248 (theo báo cáo tình hình tuyển sinh của

Vụ Khoa học và Đào tạo – Bộ Y tế, năm 2010) Tổng số sinh viên Đại học

khối ngành y tốt nghiệp Đại học năm 2010 là 7897 Với các loại hình nhânlực y tế cơ bản là BS, Dược sỹ đại học và Điều dưỡng, số lượng sinh viên tốtnghiệp hằng năm đã tăng khá nhanh Năm 2008, có 2365 sinh viên y khoa,

817 sinh viên Dược đại học và 790 sinh viên Điều dưỡng tốt nghiệp Năm

2010, đã có 4069 sinh viên y khoa, 1583 sinh viên Dược đại học và 1710 sinhviên Điều dưỡng tốt nghiệp, tức là khoảng gấp đôi năm 2008 Các con số nàycho thấy nguồn cung ứng nhân lực y tế đã được cải thiện đáng kể

Các hình thức đào tạo nhân lực y tế cho các vùng khó khăn tiếp tục đượctriển khai: Thực hiện chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội, từ năm 2008,

Bộ Y tế đã thành lập Ban Chỉ đạo công tác đào tạo nhân lực y tế theo nhu cầu

xã hội và triển khai hình thức đào tạo theo địa chỉ sử dụng Năm 2008 có 10trường Đại học tuyển được 1775 sinh viên (y khoa, dược đại học, cử nhân cácloại) và đạt 57,8% so với đề nghị của 47 địa phương/đơn vị; năm 2009 có 13trường đại học tuyển được 2305 sinh viên, đạt trên 71,1% so với yêu cầu của

38 địa phương, đơn vị; năm 2010 vẫn có 13 trường đại học tuyển 3617 sinhviên, đạt 98,4% so với yêu cầu [9].Đề án Đào tạo nhân lực y tế cho vùng khó

Trang 23

khăn, vùng núi của các tỉnh thuộc miền Bắc và miền Trung, vùng Đồng bằngsông Cửu Long và vùng Tây Nguyên theo chế độ cử tuyển triển khai từ 2007đến 2018 Trong 3 năm từ 2007 đến 2009, đã tuyển được 1488 sinh viên ykhoa và 306 sinh viên dược đại học, đa số trong đó là người dân tộc ít người[10] Đội ngũ cán bộ y tế được đào tạo đã trở về địa phương công tác, gópphần củng cố nguồn nhân lực y tế cho các vùng khó khăn.

Công tác kiểm định chất lượng giáo dục bước đầu được triển khai: Chođến hết năm 2010, toàn bộ các trường đại học, cao đẳng, trung cấp y dược đã

và đang thực hiện kiểm định theo các tiêu chí của Bộ Giáo dục và Đào tạo,hầu hết đều ở giai đoạn kết thúc tự kiểm định nội bộ và hiện đang chờ kiểmđịnh từ bên ngoài Cải cách trong giáo dục y học bước đầu được thực hiện ởcác cơ sở đào tạo [4]

Bồi dưỡng, nâng cao năng lực nhân lực y tế được thực hiện thường xuyên:Chương trình đào tạo, nội dung đào tạo và hình thức đào tạo đa dạng vàphong phú hơn [69] Hầu hết các đề án, dự án đầu tư cho hệ thống y tế cáckhu vực đều có bao gồm một cấu phần về đào tạo lại, đào tạo liên tục cán bộ y

tế, như: Đề án nâng cấp BV huyện từ 2006–2009 [39]; Dự án Tăng cườngnăng lực đào tạo y tế công cộng cho trường Đại học Y tế Công cộng; Dự ánĐào tạo kỹ năng tiền lâm sàng do Tổ chức NUFFIC Hà Lan tài trợ (2007–2009); Dự án Nâng cao năng lực giảng dạy trong các trường cao đẳng, trungcấp y tế; Một hình thức bồi dưỡng chuyên môn của ngành được thể hiện trong

Đề án 1816 [27]… Sau hơn hai năm thực hiện đã có 2504 kỹ thuật thuộc 26chuyên ngành được chuyển giao cho tuyến tỉnh; 702 kỹ thuật KBCB đượcchuyển giao cho tuyến huyện, 12.066 cán bộ y tế tuyến huyện được tham giacác lớp tập huấn; 1815 trạm y tế xã được BV huyện hỗ trợ kỹ thuật [49] Nhiều chương trình, dự án sử dụng vốn viện trợ, vốn vay nước ngoài hỗtrợ phát triển nhân lực y tế được thực hiện

Trang 24

Một số khó khăn, bất cập của ngành y tế Việt Nam trong những năm qua:

- Một số chỉ số về nhân lực y tế còn thấp so với chỉ tiêu đề ra

- Phân bố nhân lực y tế bất hợp lý theo vùng miền, lĩnh vực

- Quản lý sử dụng, chính sách đãi ngộ nhân lực y tế còn nhiều hạn chế: Theo Niên giám thống kê 2009, số lượng BS hệ công lập chỉ tăng lên 453người so với năm 2008, trong khi số lượng sinh viên y khoa (BS đa khoa, BS

y học cổ truyền, BS răng hàm mặt) tốt nghiệp năm 2008 là 3520 và năm 2009

là 3550 [14] Bên cạnh các nguyên nhân chính liên quan đến thu nhập, điềukiện làm việc, cơ hội phát triển nghề nghiệp, thì việc quy định quyền tự chủđối với đơn vị sự nghiệp công lập [40] tuy tạo điều kiện cho các đơn vị tựtháo gỡ các khó khăn, cải thiện thu nhập cho nhân viên, nhưng đồng thời cũngdẫn tới tình trạng một số cơ sở y tế cố gắng hạn chế tuyển dụng để giảm chiphí

Sử dụng, đãi ngộ nhân lực y tế vẫn tồn tại nhiều vấn đề, trong đó thu nhậpcủa cán bộ y tế quá thấp, là nguyên nhân chính dẫn tới thiếu hụt nhân lực ởnhững vùng, lĩnh vực mà nhân viên y tế không thể làm dịch vụ thêm Đối vớicác cơ sở y tế lớn hơn, nằm ở các vùng kinh tế phát triển hơn, nhân viên y tếthường làm thêm ở một cơ sở y tế tư nhân Hiện tượng này cũng thường xảy

ra ở một số nước đang phát triển [79]

Mức độ dịch chuyển, thay đổi nơi làm việc của nhân viên y tế ở Việt Namkhá thấp Trung bình một BS chỉ làm việc cho 2 cơ sở y tế trong suốt thờigian đi làm và một người đang làm việc ở vùng thành thị có xu hướng tiếp tụclàm ở thành thị cho đến khi về hưu [80] Điều này một mặt góp phần đảm bảo

ổn định hơn đội ngũ nhân viên y tế ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, nhưngmặt khác lại làm cho các khu vực này khó có được các cán bộ chuyên môn cótay nghề cao Lý do chính dẫn tới tự thay đổi nơi công tác chủ yếu liên quan

Trang 25

đến thu nhập thấp, sau đó là các lý do liên quan đến phát triển nghề nghiệp[51]

Hệ thống tổ chức, quản lý nhân lực y tế vẫn còn nhiều bất cập Công tácbồi dưỡng, nâng cao năng lực cho nhân viên y tế cũng gặp một số khó khăn

về nguồn kinh phí và tổ chức thực hiện Nhiều nhân viên y tế không thíchtham gia các khóa đào tạo chuyên môn do kinh phí hỗ trợ quá thấp, ảnhhưởng đến phần thu nhập thêm [12] Cán bộ y tế tuyến xã ít được đào tạo lạihơn so với cán bộ y tế tuyến tỉnh, huyện; cán bộ hệ điều trị ít được đào tạothường xuyên về chuyên môn hơn so với cán bộ hệ dự phòng [51] Hình thứcbồi dưỡng, nâng cao năng lực chưa đa dạng, chủ yếu vẫn là các lớp ngắn hạn,tập trung

Nhiều cơ sở y tế, đặc biệt là ở các khu vực khó khăn và tuyến huyện, xã,không muốn cử cán bộ đi học các khóa đào tạo chính quy, do nhiều nhân viên

y tế sau khi tốt nghiệp không trở về cơ sở y tế đã cử đi học, mà xin chuyểnđến các cơ sở lớn hơn, ở tuyến cao hơn [56]

- Công tác đào tạo mới nguồn nhân lực y tế còn nhiều bất cập:

Các trường đại học khối ngành y-dược đang phải đối mặt với tình trạngquá tải sinh viên và học viên Trong 10 năm qua, số lượng sinh viên đại họctuyển mới tăng lên hằng năm, trung bình khoảng 10%, cá biệt có năm tăng26% [13], nhưng cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên của các trường khôngđược phát triển tương xứng Số lượng các cơ sở thực hành lâm sàng chưađược đầu tư đầy đủ, ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo

Số lượng tuyển sinh khối trung cấp cũng tăng rất nhanh Riêng năm 2010,tổng chỉ tiêu đào tạo là 66.680, trong đó điều dưỡng là 21.787 và dược sỹtrung cấp là 24.915 [10] Với số lượng tuyển sinh lớn như vậy, có hai vấn đềxảy ra: 1) chất lượng đào tạo không được đảm bảo, 2) rất nhiều học sinh ra

Trang 26

trường không tìm được việc làm đúng với chuyên ngành được đào tạo gâylãng phí cho cả người dân và nhà nước.

Công tác cải cách giáo dục y học trong các trường y dược đã và đangđược tiến hành, nhưng còn hạn chế ở một số trường, chủ yếu là ở bậc đại học,

và kết quả thực hiện cũng chưa được đánh giá Chương trình đào tạo, phươngpháp dạy học chưa cập nhật với các xu hướng mới trong giáo dục y học [78],thiếu tài liệu, vật liệu giảng dạy, đội ngũ giáo viên, giảng viên thiếu và khôngđược đào tạo thường xuyên, cơ sở vật chất thiếu thốn, kinh phí dành cho hoạtđộng đào tạo thấp vẫn tiếp tục là các vấn đề cần được cải thiện

Công tác kiểm định chất lượng giáo dục đã được triển khai trong các cơ

sở đào tạo, nhưng các tiêu chí sử dụng cho kiểm định là các tiêu chí chungcho tất cả các khối ngành, và chưa có tiêu chí đặc thù cho đào tạo khối ngànhkhoa học sức khỏe [57]

1.2.2 Một số khái niệm về nguồn nhân lực y tế

1.2.2.1 Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực của một quốc gia hay một vùng, một khu vực, một địaphương là tổng hợp các tiềm năng lao động của con người có được trong mộtthời điểm xác định: tiềm năng bao gồm thể lực, trí lực, tâm lực (đạo đức, lốisống, nhân cách, truyền thống, lịch sử, văn hóa…) của bộ phận dân số có thểtham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội [67], [62]

1.2.2.2 Nguồn nhân lực y tế

Nguồn nhân lực y tế là toàn bộ những người lao động dưới dạng tích cực

và tiềm năng được đào tạo dưới các dạng khác nhau hoạt động trong lĩnh vực

y tế [62], [67]

Nguồn nhân lực y tế là yếu tố thiết yếu nhất cho sự phát triển hệ thốngcung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ trong đó bao gồm: Các dịch vụ khámchữa bệnh, phòng bệnh, phục vụ chức năng, sản xuất và phân phối thuốc,

Trang 27

những người làm công tác đào tạo cán bộ trong lĩnh vực khoa học sức khoẻ vàngười quản lý các dịch vụ y dược, cá nhân có thẩm quyền ra chính sách [63],[43].

1.2.2.3 Phát triển nguồn nhân lực y tế

Phát triển con người là gia tăng giá trị cho con người, bao gồm các giátrị tinh thần, đạo đức, trí tuệ, thể chất…

Phát triển nguồn nhân lực là phát huy nhân tố con người, gia tăng toàndiện giá trị của con người trên các mặt trí tuệ, đạo đức, thể lực, năng lực laođộng sáng tạo và bản lĩnh chính trị, năng lực làm chủ được những tiến bộ vềcông nghệ và tri thức khoa học tiên tiến… để họ trở thành những người cónhững năng lực, phẩm chất phù hợp với sự phát triển của xã hội và thúc đẩy

sự phát triển của xã hội [58]

Nghiên cứu nguồn nhân lực phải đặt trong quá trình quản lý nguồn nhânlực Do đó, không thể chỉ chăm chú vào phát triển nguồn nhân lực bằng cáchchăm lo đào tạo con người, mà không quan tâm đến việc tổ chức quản lý, sắpxếp công việc phù hợp cho con người lao động và tạo môi trường làm việc.Phát triển nguồn nhân lực y tế vừa nằm trong tổng thể phát triển hệthống y tế, vừa nằm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người củađất nước

Phát triển nguồn nhân lực y tế phải đi trước nhu cầu của xã hội dựa trênnhững dự báo về nhu cầu, cũng như các khả năng tài chính và kỹ thuật trongcung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng [64]

Ngành y tế Việt Nam được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ phải làmtốt công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nhiệm vụ chính của ngành là nhiệm

vụ chính trị của mỗi cơ quan y tế từ trung ương đến cơ sở [54] Quản lý y tế làmột khoa học thuộc phạm trù khoa học xã hội, cung cấp cho cán bộ y tếnhững kiến thức tối thiểu để sử dụng hiệu quả các nguồn lực, trong đó nguồn

Trang 28

nhân lực là quan trọng nhất, quyết định toàn bộ số lượng và chất lượng cáchoạt động y tế [62], [66] Trong thực tế nhiều cơ sở còn chưa quan tâm đúngmức và đầy đủ về quy hoạch đội ngũ cán bộ y tế cho tương lai Nếu thiếunguồn nhân lực thì các nguồn nhân lực khác không sử dụng được.

Mọi cơ sở y tế, mọi cấp đều cần có kế hoạch phát triển nguồn nhân lựcthích hợp để phát huy cao nhất hiệu quả hoạt động

Quản lý nhân lực quan trọng là sử dụng tốt nguồn nhân lực hiện có và có

kế hoạch bồi dưỡng nguồn nhân lực hợp lý, để hoàn thành các chức năngnhiệm vụ của cơ quan tổ chức và có thể đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻhiện tại và tương lai [67]

Quản lý nhân sự y tế là quản lý về số lượng, chất lượng cán bộ y tế ởmỗi lĩnh vực: y, nha, dược, y tế dự phòng, với từng đối tượng phục vụ: BS,dược sỹ, BS răng hàm mặt… Ứng với từng đối tượng lại có đối tượng khác hỗtrợ về chăm sóc chuyên môn tương ứng, đó chính là lực lượng điều dưỡng, kỹthuật viên các chuyên ngành và các đối tượng này lại phù hợp với chuẩn quyđịnh của nhà nước, của ngành như ứng với một vạn dân có bao nhiêu BS, baonhiêu dược sỹ… Và cứ ứng với một BS là có bao nhiều điều dưỡng phục vụ[8]

1.2.3 Một số quy định về định mức biên chế đối với cơ sở khám, chữa bệnh đa khoa đạt tiêu chuẩn hạng III, hạng IV

Theo Thông tư 08/2007/TTLT-BYT-BNV của Bộ Y tế - Bộ Nội vụ vềđịnh mức biên chế trong các cơ sở y tế công lập :

- Quy định về định mức biên chế của BV đa khoa hạng III: từ 1,1 đến1,2 người/giường bệnh kế hoạch

- Về cơ cấu bộ phận : Bộ phận lâm sàng chiếm 60-65%, Bộ phận Cậnlâm sàng và Dược chiếm 15-22% ; Bộ phận Quản lý, Hành chính chiếm 18-20%

Trang 29

- Cơ cấu chuyên môn: Tỷ lệ BS/chức danh chuyên môn y tế khác từ 1/3đến 1/3,5; Tỷ lệ DSĐH/BS từ 1/8 đến 1/15; Tỷ lệ DSĐH/DSTH từ 1/2 đến1/2,5

1.2.4 Tình hình trang thiết bị y tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Chính sách quốc gia về Trang thiết bị y tế đã được phê duyệt vào năm

2010 Mục tiêu là đến 2010, Việt nam đạt trình độ kỹ thuật về trang thiết bị y

tế ngang tầm các nước trung bình tiên tiến trong khu vực Đào tạo đội ngũ cán

bộ kỹ thuật chuyên ngành để khai thác sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa và kiểmchuẩn trang thiết bị y tế Phát triển công nghiệp trang thiết bị y tế nhằm nângcao tỷ trọng hàng hóa sản xuất trong nước và tiến tới tham gia xuất khẩu [42] Trong hoạt động sản xuất trang thiết bị y tế trong nước và nhập khẩu, Bộ

Y tế đang quan tâm phát triển trang thiết bị trong nước để phục vụ nhu cầutrong nước, tiến tới xuất khẩu Tuy nhiên Việt Nam vẫn phải phụ thuộc khálớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, trong cơ cấu nhập khẩu của Việt Namnguyên vật liệu đã chiếm đến hơn 60% còn lại là nhập khẩu máy móc thiết bị

để phục vụ cho phát triển sản xuất nên xu hướng tăng của giá cả nguyên vậtliệu thế giới sẽ làm tăng rủi ro lạm phát Hiện tại, Việt Nam vẫn nhập khẩuhầu hết trang thiết bị y tế Để tăng cường sản xuất trang thiết bị y tế trongnước cần phải có đánh giá thực trạng sản xuất trang thiết bị y tế trong nước;

đề xuất giải pháp tăng chất lượng trang thiết bị nội địa; xây dựng các quychuẩn quốc gia về trang thiết bị

Về hiệu quả đầu tư trang thiết bị y tế: Đầu tư trang thiết bị y tế là một điềucần thiết để nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị Tuy nhiên nếu đầu tưquá nhiều và phân bổ không hợp lý sẽ dẫn đến việc lạm dụng các xét nghiệm,nhất là trong cơ chế chi trả theo dịch vụ Thêm nữa, nếu không đào tạo đầy

đủ, không dành đủ ngân sách chi thường xuyên để bảo quản, bảo dưỡng trangthiết bị y tế thì khó sử dụng hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị bệnh Do

Trang 30

vậy, cần có kế hoạch toàn diện bảo đảm mua sắm và sử dụng hợp lý, hiệu quảtrang thiết bị y tế trong hoàn cảnh phân tán này.

Bộ Y tế cũng đã có những hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịutrách nhiệm sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn để mua sắmtrang thiết bị phục vụ hoạt động dịch vụ của các cơ sở y tế công lập đã mởrộng các phương án huy động vốn và phân cấp thêm các quyết định về đầu tưtrang thiết bị y tế [35]

Về việc sử dụng và bảo quản trang thiết bị y tế: Vấn đề về sử dụng trangthiết bị y tế an toàn hợp lý, tiết kiệm và nhu cầu bảo quản trang thiết bị y tế làvấn đề ưu tiên mà ngành y tế nước ta đang chủ trương thực hiện Gồm có:Đánh giá hiện trạng công tác bảo hành, bảo dưỡng và sửa chữa trang thiết bị y

tế tại các cơ sở y tế, có cơ chế tạo quỹ duy tu, bảo dưỡng trang thiết bị y tế từtiền thu viện phí; Trích lập quỹ khấu hao tài sản từ nguồn thu phí để tái đầu tưtrang thiết bị y tế; thành lập Đội sửa chữa, bảo dưỡng trang thiết bị y tế ở tỉnhphục vụ cho các đơn vị y tế địa phương; tăng cường nhân lực và trang thiết bịchuyên ngành cho công tác kiểm chuẩn và kiểm định; xây dựng một số trungtâm đo lường kiểm chuẩn cho ba vùng miền; chuẩn hóa chất lượng kiểmnghiệm giữa các cơ sở

1.2.5 Một số vấn đề về trang thiết bị y tế

1.2.5.1 Định nghĩa về trang thiết bị y tế

Trang thiết bị y tế bao gồm các thiết bị, dụng cụ vật tư, phương tiện vậnchuyển chuyên dụng phục vụ cho hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân

1.2.5.2 Quản ly tài sản và trang thiết bị y tế

Tài sản vật tư, cơ sở vật chất và trang thiết bị của xã hội là nền tảng, làsức mạnh của đất nước Tài sản vật tư có được từ kết quả lao động của nhândân và từ sự giúp đỡ bên ngoài

Trang 31

Nói quản lý tài sản tại một cơ sở sự nghiệp y tế là nói đến việc quản lýtoàn bộ các trang thiết bị, dụng cụ, nguyên nhiên vật liệu có trong cơ sở y

tế, nhằm phục vụ nhu cầu của công tác chuyên môn hay cho sinh hoạt củabệnh nhân Quản lý tài sản và trang thiết bị bao gồm 3 mặt quản lý: Quản lý

số lượng, quản lý chất lượng và quản lý sử dụng

Trong quản lý vật tư và trang thiết bị y tế cần tuân thủ các nguyên tắcsau:

Nắm chắc tình hình tài sản vật tư cả về số lượng và chất lượng, trị giá vàtrên cơ sở đó có kế hoạch sản xuất, mua sắm, sửa chữa, phân phối và điềuhòa; Bào quản việc nhập, xuất và giữ theo đúng chế độ

Việc nhập vật tư và trang thiết bị y tế: Tât cả những tài sản vật tư vàtrang thiêt bị y tê mua và nhập vê đều phải tổ chức kiểm nhận nhằm đảm bảo

sô lượng, chât lượng, phải có phiếu nhập họp lệ và biên bản cụ thể khi cóhàng thừa thiếu

Việc xuất tài sản vật tư và trang thiết bị y tế: Các bộ phận sử dụng tàisản vật tư và trang thiết bị y tế phải có dự trù trước, khi xuât phải có phiếuhợp lệ và đúng chế độ về xuất hàng để dùng, để nhượng bán điều chuyển vàhủy bỏ

Việc bảo quản vật tư và trang thiết bị y tế: Phải tổ chức kho tàng,phương tiện, người chịu trách nhiệm vào sổ theo dõi để giữ gìn và sớm pháthiện ra sự mât mát, thât lạc hoặc hư hỏng kém phẩm chất để xử lý kịp thời.Việc dự trữ tài sản vật tư và trang thiết bị y tế: Dự trữ vừa đủ để đảmbảo cho nhiệm vụ thường xuyên của đơn vị Không để tình trạng bị ngắtquãng do cung cấp chưa kịp hoặc dự trữ quá lớn gây ra tình trạng hư hỏng vàlãng phí

Phải thường xuyên kiểm tra đối chiếu và kiểm kê để xác định tình hìnhtài sản vật tư và trang thiết bị y tế

Trang 32

Tất cả các cán bộ trong đơn vị đều phải có trách nhiệm bảo vệ tài sản vật

tư và trang thiết bị y tế Bảo vệ tài sản, vật tư, trang thiết bị được coi là nghĩa

vụ, là quyền lợi thiết thân của mỗi cán bộ trong từng cơ sở y tế Những ngườiđược trực tiếp phân công quản lý, sử dụng, bảo quản, vận chuyển thì phảiluôn chú ý tính toán sử dụng cho thật hợp lý, hết công suất bảo đảm cho tàisản được an toàn về số lượng và chất lượng

1.2.5.3 Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế

Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế đến năm 2010 bao gồm cácmục tiêu chủ yếu như đảm bảo đủ trang thiết bị cho các tuyến theo quy địnhcủa Bộ Y tế, từng bước hiện đại hóa trang thiết bị cho các cơ sở y tế nhằmnâng cao chất lượng chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân, phấn đấu để có thểngang tầm với các nước trung bình tiên tiến trong khu vực, đồng thời tạo độingũ cán bộ kỹ thuật chuyên ngành để khai thác, sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa

và kiểm chuẩn trang thiết bị y tế và phát triển công nghiệp trang thiết bị y tếnhằm nâng cao dần tỷ trọng hàng hóa sản xuất trong nước và tiến tới thamgia xuất khẩu [15]

Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế còn nêu ra những giải pháptổng thể thuộc các lĩnh vực quản lý, sản xuất, kinh doanh, khai thác sử dụng,nghiên cứu khoa học, công nghệ đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành kỹthuật trang thiết bị y tế

Đầu tư trang thiết bị về y tế ngày càng được nâng cao, việc huy độngvốn từ các chương trình dự án từ các nguồn viện trợ của các tổ chức quốc tế,các tổ chức phi chính phủ ngày càng được nhân rộng, các trang thiết bị kỹthuật cao đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng cao cũngđang được trang bị theo từng chương trình dự án Song song theo đó việc đàotạo cán bộ y tế để ngang tầm với thiết bị được trang cấp nhằm khai thác hết

Trang 33

công suất thiết bị với những đòi hỏi khắt khe về tính chính xác, an toàn, ổnđịnh, không lãng phí là vô cùng cần thiết.

Đầu tư trang thiết bị phải tính đến tính hiệu quả, khoa học và kinh tế,cho nên việc định hướng đầu tư đúng đắn là vô cùng cần thiết, tránh việc đầu

tư tràn lan, không trọng điểm, chỉ nhằm vào những hoạt động dịch vụ nhấtthời, không phù hợp với quy mô giường bệnh, phân tuyến kỹ thuật và nhânlực sử dụng

Cần phải rà soát, sửa đổi, xây dựng các văn bản Quy phạm pháp luật cóliên quan đến trang thiết bị y tế để tạo hành lang pháp lý cho việc kinh doanh,sản xuất, mua sắm và cung cấp trang thiết bị nhanh chóng, kịp thời, hợp lýđúng mục tiêu

1.2.5.4 Quyết định ban hành danh mục trang thiết bị y tế cho các BV tỉnh, huyện

Cho đến nay cơ sở cho việc lập danh mục mua sắm hàng năm cho cáctuyến y tế tỉnh, huyện, phòng khám đa khoa, trạm y tế xã phường, thị trấn làQuyết định 437/QĐ-BYT ngày 20/02/2002 của Bộ Y tế về việc ban hànhDanh mục trang thiết bị y tế BV đa khoa tuyến tỉnh, huyện, phòng khám đakhoa khu vực, trạm y tế xã và túi y tế thôn bản [21]; trong đó danh mục muasắm cụ thể về số lượng và chủng loại tùy theo số lượng giường bệnh của mỗiđơn vị

Gần đây nhất là Quyết định 3918/QĐ-BYT ngày 25/10/2005 của Bộ Y

tế về việc ban hành danh mục y tế thiết yếu Đề án nâng cấp BV đa khoa tuyếnhuyện [11], Quyết định số: 333/QĐ-BYT ngày 08/9/2008 của Bộ trưởng Bộ

Y tế về việc ban hành danh mục TTB y tế thiết yếu phục vụ triển khai Đề ánđầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp BV đa khoa huyện, BV ĐKKV liên huyện

sử dụng vốn trái phiếu Chính Phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn

2008 – 2010 [29]

Trang 34

1.2.5.5 Vai trò của trang thiết bị y tế

- Trong chẩn đoán

Trang thiết bị chẩn đoán bao gồm các thiết bị như x-quang, siêu âm,điện tim…góp phần không nhỏ trong công tác khám chữa bệnh, giúp cho sựchẩn đoán bệnh nhanh, chính xác, an toàn [7 Kim Hồng] Đồng thời giúp chocác cán bộ y tế định hướng điều trị đúng đắng, giảm chi phí điều trị, hạn chếbiến chứng và tử vong do chẩn đoán và điều trị muộn Với các thiết bị chẩnđoán và kỹ thuật cao như máy CT-Scanner, máy chụp công hưởng từ, máysiêu âm màu, x-quang tăng sáng truyền hình…đòi hỏi cán bộ sử dụng phải cómột trình độ nhất định để có thể khai thát hết tính năng của thiết bị

- Trong điều trị

Trang thiết bị điều trị như máy gây mê, máy giúp thở, monitor, máy tánsói ngoài cơ thể, máy gia tốc điều trị ung thư, máy chạy thận nhân tạo [21]…góp phần tích cực trong việc phục hồi sức khỏe cho bệnh nhân Trong nhữngđợt dịch bùng phát, vai trò của trang thiết bị điều trị càng được nâng cao.Trong điều kiện kinh tế xã hội phát triển, tỷ lệ bệnh tom mạch cũng gia tăng,thiết bị điều trị góp phần làm giảm gánh nặng bệnh tật, giảm chi phí chongười dân, góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế xã hội

- Trong dự phòng các bệnh tật

Trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nhiều nhà máy

xí nghiệp với những chất thảy, bụi, tiếng ồn, độ rung…gây bệnh cho rất nhiềucông nhân đang tham gia trực tiếp vào các công trình này Các thiết bị khámbệnh nghề nghiệp như máy đo tiếng ồn, máy đo độ rung, máy đo lượng bụitrong không khí…giúp cho việc cải thiện điều kiện làm việc, phát hiện sớmcác bệnh liên quan, để ngăn chận và có biện pháp can thiệp kip thời

Các thiết bị nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, thiết bị hỗ trợ cho việcđiều tra dịch tể học cũng rất quan trọng và cần thiết

Trang 35

1.3 Giới thiệu sơ lược về cơ cấu tổ chức và hoạt động của các BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre

Tỉnh Bến Tre hiện có 07 BVĐK huyện, đều đạt tiêu chuẩn của BVĐKhạng III (theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam: TCXDVN 365 : 2007 « BV đakhoa-hướng dẫn thiết kế » ban hành kèm theo quyết định số 18/2007/QĐ-BXD ngày 15 tháng 5 năm 2007 của Bộ Xây dựng [37] từ nguồn vốn tráiphiếu Chính phủ, vói tổng số biên chế là 897, tổng số giường bệnh là 940(BVĐK huyện Ba Tri có số giường bệnh cao nhất là 230 giường) Có 03 BVthuộc khu vực vùng ven biển

Các BVĐK huyện chịu trách nhiệm khám, chữa bệnh cho 1.139.961người dân cư ngụ trên địa bàn của 07 huyện thuộc tỉnh Bến Tre

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Toàn thể cán bộ, viên chức hiện đang công tác tại 07 bệnh viện đa khoahuyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012

- Các trang thiết bị y tế dùng để chẩn đoán, gồm: máy siêu âm, x-quang,điện tim tại 07 bệnh viện đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012

- Các hồ sơ, sổ sách quản lý cán bộ, viên chức và trang thiết bị y tế của

07 bệnh viện đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Nhân viên hợp đồng theo Nghị định 68/NĐ-CP tại các bệnh viện đakhoa huyện

- Các máy siêu âm, x-quang, điện tim bị hỏng hóc không còn sử dụngcho công tác khám chữa bệnh tại bệnh viện

2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu :

- Từ 01/6/2012 đến 01/02/2013 : Thu thập số liệu

- Từ 01/02/2013 đến tháng 01/7/2013 : Xử lý số liệu và hoàn chỉnh luậnán

Địa điểm nghiên cứu :

Tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre, gồm : BV đa khoa huyệnGiồng Trôm, BV đa khoa huyện Ba Tri, BV đa khoa huyện Thạnh Phú, BV

đa khoa huyện Chợ Lách, BV đa khoa huyện Châu Thành, BV đa khoa HàmLong (thuộc huyện Châu Thành) và BV đa khoa huyện Bình Đại

Trang 37

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Cở mẫu trong nghiên cứu

Gồm 897 cán bộ, viên chức của 07 BV đa khoa huyện

2.2.3 Cách chọn mẫu

Chọn mẫu toàn bộ

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

2.2.4.1 Xác định thực trạng số lượng, trình độ, cơ cấu của đội ngũ cán bộ

y tế tại các BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012.

Trang 38

+ Số lượng cán bộ hiện có so với mức tối đa của TT08:

Trang 39

+ Sơ học (Y tá sơ cấp; Dược tá; Y công; Hộ lý; Nhóm cán bộ khác)

- Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Y

Trang 40

+ Cao đẳng

+ Trung học

+ Sơ học

* Về cơ cấu nguồn nhân lực của BV

- Cơ cấu nguồn nhân lực phân bổ theo độ tuổi

- Tỷ lệ cơ cấu chuyên môn

+ Tỷ lệ BS/chức danh chuyên môn y tế khác (Theo quy định tại Thông tư

Ngày đăng: 02/01/2015, 15:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
27. Bộ Y tế (2008), Quyết định số 1816 phê duyệt đề án “Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ BV tuyến trên về hỗ trợ các BV tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cử cán bộ chuyênmôn luân phiên từ BV tuyến trên về hỗ trợ các BV tuyến dưới nhằm nângcao chất lượng khám, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
37. Bộ Xây dựng (2007), Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam: TCXDVN 365:2007 “BV đa khoa-Hướng dẫn thiết kế” ban hành kèm theo Quyết định số 18/2007/QĐ-BXD ngày 15 tháng 5 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BV đa khoa-Hướng dẫn thiết kế
Tác giả: Bộ Xây dựng
Năm: 2007
45. Chính phủ (2007), Quyết định số 1544/2007/QD-TTg về việc phê duyệt“Đề án đào tạo nhân lực y tế cho vùng khó khăn, vùng núi của các tỉnh miền Bắc và miền Trung, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Tây Nguyên theo chế độ cử tuyển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án đào tạo nhân lực y tế cho vùng khó khăn, vùng núi của các tỉnhmiền Bắc và miền Trung, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng TâyNguyên theo chế độ cử tuyển
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
58. Lê Ngọc Trọng (2004), "Bước đột phá trong cải cách công tác quản lý y tế", Tạp chí Thông tin Y dược số 6 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đột phá trong cải cách công tác quản lý ytế
Tác giả: Lê Ngọc Trọng
Năm: 2004
68. Phạm Văn Tác (2006), "Tăng Cường nguồn nhân lực trình độ sau đại học trong lĩnh vự y tế " Y học thực hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng Cường nguồn nhân lực trình độ sau đại họctrong lĩnh vự y tế
Tác giả: Phạm Văn Tác
Năm: 2006
12. Bộ Y tế (2010), Báo cáo tình hình đào tạo của dự án 47/930 năm 2010 Khác
13. Bộ Y tế (2010), Báo cáo số liệu học viên, sinh viên các trường y dược năm 2010 của Vụ Khoa học và Đào tạo Khác
14. Bộ Y tế (2011), Báo cáo số liệu học viên, sinh viên các trường y dược năm 2011 của Vụ Khoa học và Đào tạo Khác
16. Bộ Y tế (2008), Chỉ thị số 06/2008/CT-BYT ngày 14/6/2006 về việc tăng cường chất lượng đào tạo nhân lực y tế Khác
17. Bộ Y tế (2011), Dự thảo Quy hoạch phát triển nhân lực y tế giai đoạn 2011-2020 Khác
18. Bộ Y tế (2011), Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2015 Khác
19. Bộ Y tế, Niên giám thống kê 2001 20. Bộ Y tế, Niên giám thống kê y tế 2009 Khác
25. Bộ Y tế (2002), Quyết định số 307 về Chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010 Khác
28. Bộ Y tế (1997), Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19 tháng 9 năm 1997 về việc ban hành quy chế BV Khác
30. Bộ Y tế (2005), Quyết định số 3918/QĐ-BYT ngày 25 tháng 01 năm 2005 về việc ban hành danh mục y tế thiết yếu Đề án nâng cấp BV đa khoa tuyến huyện Khác
31. Bộ Y tế (2011), Thông tư số 07 năm 2011 hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong BV Khác
32. Bộ Y tế (2011), Thông tư số 10/2011/TT-BYT ngày 25 tháng 2 năm 2011 hướng dẫn về biên chế của Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Khác
33. Bộ Y tế (2011), Thông tư số 11/2011/TT-BYT ngày 03 tháng 3 năm 2011 hướng dẫn việc chuyển xếp ngạch và xếp lương đối với viên chức ngạch kỹ thuật y học Khác
34. Bộ Y tế (2011), Thông tư số 12/2011/TT-BYT ngày 15 tháng 3 năm 2011 quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức hộ sinh Khác
36. Bộ Y tế (2010), Thông tư số 39/2010/TT-BYT ngày 10/9/2010 Quy định Tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của Nhân viên y tế thôn bản Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Số lượng của đội ngũ cán bộ phân theo chức danh nghề nghiệp tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 - Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012
Bảng 3.2. Số lượng của đội ngũ cán bộ phân theo chức danh nghề nghiệp tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 (Trang 49)
Bảng 3.3. Số lượng của đội ngũ cán bộ tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 so với định biên theo Thông tư 08 - Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012
Bảng 3.3. Số lượng của đội ngũ cán bộ tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 so với định biên theo Thông tư 08 (Trang 51)
Bảng 3.4. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ tại 07 BV đa khoa huyện năm 2012 - Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012
Bảng 3.4. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ tại 07 BV đa khoa huyện năm 2012 (Trang 52)
Bảng 3.5. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Y tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 - Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012
Bảng 3.5. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Y tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 (Trang 53)
Bảng 3.7. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ khác tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 - Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012
Bảng 3.7. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ khác tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 (Trang 54)
Bảng 3.8. Tỷ lệ cơ cấu bộ phận của 07 BV đa khoa huyện - Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012
Bảng 3.8. Tỷ lệ cơ cấu bộ phận của 07 BV đa khoa huyện (Trang 55)
Bảng 3.9. Tỷ lệ cơ cấu chuyên môn của 07 BV đa khoa huyện - Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012
Bảng 3.9. Tỷ lệ cơ cấu chuyên môn của 07 BV đa khoa huyện (Trang 56)
Bảng 3.10. Tỷ lệ cán bộ y tế trên giường bệnh của 07 BV đa khoa huyện - Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012
Bảng 3.10. Tỷ lệ cán bộ y tế trên giường bệnh của 07 BV đa khoa huyện (Trang 57)
Bảng 3.11. Cơ cấu tuổi và giới tính của đội ngũ cán bộ y tế tại 07 BV đa khoa huyện - Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012
Bảng 3.11. Cơ cấu tuổi và giới tính của đội ngũ cán bộ y tế tại 07 BV đa khoa huyện (Trang 58)
Bảng 3.13. Số lượng và tình hình hoạt động của máy x-quang - Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012
Bảng 3.13. Số lượng và tình hình hoạt động của máy x-quang (Trang 59)
Bảng 3.14. Số lượng và tình hình hoạt động của máy điện tim - Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012
Bảng 3.14. Số lượng và tình hình hoạt động của máy điện tim (Trang 60)
Bảng 3.15. Hiệu quả hoạt động của máy siêu âm - Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012
Bảng 3.15. Hiệu quả hoạt động của máy siêu âm (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w