Người mơ ước lắm, mong mỏi lắm cái vĩnh hằng của hạnh phúc, những chốn bình ổn vàngười với người chung nhau trong tiếng cười đểụ cuộc sống như một khúc hoan ca.Người ta đến với cuộc đời,
Trang 1Ý NGHĨA ĐẠO ĐỨC VÀ LÒNG TỪ CỦA PHẬT GIÁO
TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
đó là tiếng cười nhưng sau lại là những giọt nước mắt đã ẩn dưới làn mi xanh Người
mơ ước lắm, mong mỏi lắm cái vĩnh hằng của hạnh phúc, những chốn bình ổn vàngười với người chung nhau trong tiếng cười đểụ cuộc sống như một khúc hoan ca.Người ta đến với cuộc đời, tuy mong mỏi như vậy nhưng nếu không có một sự nỗ lựctrau dồi đạo đức và tạo lập tình thương mà dừng lại ở chỗ đó thì phi thựỉc tế và khổđau còn đầy trong tâm khảm Đêm qua, giây phút giao thoa của vũ trụ rền lên tiếng nổcủa những cuộc bạo động gây nên thảm khốc bi thương Tội nghiệp thay những ánhmắt trẻ thơ vô tư phủ mờ màn lệ bởi những người thân lìa trần Ôi! Họ nào có tội tìnhchi và nỗi đau của cuộc đời cứ thế nhân lên và kéo dài đến vô tận và khát vọng chỉvẫn còn ấp ủ của một kiếp người
Trong thuở hồng hoang của nhân loại, Đạo Phật đã ra đời mang lại tiếng nóiyêu thương và một chủ trương giáo lý diệt khổ Với chủ trương ấy, hai mươi lăm thế
kỷ tồn tại, Phật giáo mang đến cho nhân loại những sự thật của nhân bản Đạo đức,lòng thương bao la và tiếng nói tĩnh thức nhân tâm mà con người thường lãng quêntrong lợi danh của kiếp người Có thể nói Phật giáo là một trường phái Triết Học, mộtTôn Giáo Học, một Nghệ Thuật Học, một môn Nhân Bản Học… Vẫn không thiếukhông thừa, Phật giáo đến với cuộc đời đầy đủ trong mọi phương diện phục vụ chomọi đối tượng và đặc biệt là đưa con người vượt thoát khổ đau, tự mình hoàn thiệnđạo đức cá nhân mà vẫn không tách rời khỏi cuộc sống hiện tại Người viết cũng nhưmọi người cũng cộng sinh trong môi trường và sống chung cùng thời đại, dĩ nhiênnhững gì tiền nhân mong mỏi, đời hiện tại trông mong thì điều đó cũng tồn tại tronglòng của mỗi cá nhân Hướng về cái đẹp, xây dựng cái đẹp hay nói cách khác là xâydựng Chân, Thiện, Mỹ, bất cứ quốc gia nào cũng muốn, lãnh thổ nào cũng tôn trọngbởi con người không ai muốn nhận mình là kẻ xấu xa, người hèn mọn Xây dựngđược những điều đó do đâu? Thưa chỉ có duy nhất là Từ Bi và Đạo Đức giáo lý của
Trang 2Phật giáo Cho nên tự mình cũng muốn tìm hiểu, tự mình vốn mang trọng trách của
Kẻ Sĩ Xuất Gia, người viết rất muốn thể hiện một khoảng rất nhỏ trong sâu thẳmnhiệm mầu của Giáo Lý và chuyển tải đến mọi người tiếng nói tri âm
1 Lý Do Chọn Đề Tài Và Mục Đích Nghiên Cứu:
1.1 Lý do:
Đạo Đức và Lòng Từ Bi là hai lĩnh vực rất quan trọng Muốn hoàn thiện bảnthân, nếu không lấy Đạo Đức làm tiêu chuẩn, Từ Bi làm cách xử thế thì chỉ là đáynước tìm trăng Cổ nhân dạy rằng:
“Tôn mạc tôn hồ đạo, mỹ mạc mỹ hồà đức Đạo đức chi sở tồn, tuy thất phu,phi cùng giả Đạo đức chi sở bất tồn, tuy vương thiên hạ phi thông giả”.[15,159]
Tạm dịch:
“Tôn quý không gì hơn đạo, tốt đẹp không gì tốt đẹp hơn đạo đức Đạo đứccòn, dù kẻ thất phu chăng nữa cũng chẳng màng Đạo đức chẳng còn, làm vua chúacũng chẳng phải người thông”
Chứng tỏ rằng cổ đức đã đánh giá rất cao về đạo đức, lấy đạo đức làm chuẩnmực cho cái đẹp của cuộc đời Bên cạnh đó, đạo Phật đem lòng thương bao la đến chovạn loại như một tôn chỉ truyền đạo, đây cũng là then chốt và điều tâm đắc của ngườiviết trong quá trình học
1.2 Mục đích:
Là Tu Sĩ, phạm trù Đạo Đức và Từ Bi sẽ được người viết dùng nhãn quan Phậthọc để quan sát Căn cứ trên đời sống con người và thực trạng khổ đau mà kiếp nhânsinh đang lần trôi làm đối tượng để nghiên cứu
Chân Thiện Mỹ ngàn năm vẫn tồn tại, tình thương vô biên từ xưa đến nay vẫnđược tôn thờ, ca tụng Nhưng xã hội ngày một biến đổi thì chúng ta phải biết ôn cố tritân, dùng những cái mà người xưa để lại một cách uyển chuyển làm tinh thần giáo dụcgiải thoát tối hậu mà Chư Phật và Tổ Sư đã dày công truyền bá Qua đó xây dựng mộtnhìn nhận xác thực hơn, sâu xa hơn về chính mình và mọi người để cùng nhau quay
về với giải thoát cao đẹp
Đạo đức Phật giáo là một nếp sống an lạc, không đi đôi với khổ Với ý nghĩa
ấy, tập luận văn này sẽ khảo cứu nhằm làm rõ Đạo Đức của Phật giáo trong cuộc sống
tu tập giải thoát Bên cạnh đó triển khai những chức năng của đạo đức là “Xây dựng
Trang 3một nếp sống hài hòa với thiên nhiên và làm cho môi trường sống vừa lành vừa đẹp”.[2,19]
2 Phạm Vi Và Đối Tượng Nghiên Cứu:
2.1 Phạm vi nghiên cứu:
Đây chỉ là mộỉt Luận Văn Cấp Cử Nhân Phật Học, số lượng trang có giới hạnnên đối với một Đề Tài rộng lớn như Đạo Đức và Lòng Từ Bi của Phật giáo thì khôngthể khai triển hết được Trong điều kiện cho phép, Luận Văn này chỉ trình bày kháiquát ý nghĩa và nêu ra một số tính chất, ứng dụng cơ bản của Đạo Đức và Lòng từtrong đời sống nhân sinh, giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội rộnglớn, giữa con người và vạn loại cỏ cây (môi sinh) Tuy người viết có nỗ lực trình bàyvới các chương mục như dàn bài đã nêu chắc cũng chỉ là những nét chấm phá nhỏgiữa bức tranh toàn cảnh to lớn của Tôn Giáo và Tam Tạng Thánh Điển của Phật giáo.Tuy nhiên, nhân nơi đây người viết cố gắng tìm kiếm những cái mới mẻ, bổ ích trongkhi trình bày, nhân đó làm cơ sở để phát triển hướng nghiên cứu sau này
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Tôn giáo có mặt để phục vụ cho lợi ích của con người Bất kỳ tôn giáo hay tràolưu tư tưởng nào cũng lấy con người làm đối tượng truyền giáo Đức Phật cũng đãkhẳng định mục đích ra đời độ sanh của Ngài trong Kinh Pháp Hoa “Ta ra đời vìmuốn khai ngộ cho chúng sanh cái thấy biết của chư Phật” Tiền nhân đã vậy, ngườiviết cũng học hỏi và làm theo
Đối tượng nghiên cứu ở đây chính là Đạo Đức và Lòng Thương của con ngườiđang sống trong xã hội ngày nay Ở hai lĩnh vực Tôn Giáo và Xã Hội, điểm chính làtìm ra những ý nghĩa cần thiết nhằm giúp cho những đối tượng được đề cập tìm thấy
sự quan trọng để phát huy hơn nữa cái cao quý vốn có của Đạo Đức và Lòng Từ BiPhật giáo Sự tương quan cuộc sống của con người có Đạo Đức với những người xungquanh và sự đóng góp của họ vào đời sống thế nhân và xã hội, đưa con người đến vớinhững giá trị đích thực, bảo vệ quyền lợi sống và vun bồi môi trường sống Nâng cao
sự giáo dục cá nhân và đường hướng cho đời sống cộng đồng
B NỘI DUNGCHƯƠNG 1 : Ý NGHĨA ĐẠO ĐỨC
1 Khái niệm về Đạo Đức:
1.1 Định nghĩa:
Trang 4Đạo đức là một danh từ chỉ về nhân cách của con người Rất thường gặp và dễdàng hiểu tùy theo trình độ.
Đạo đức tiếng Anh gọi là Ethic có nghĩa:
Moral principles that control or influence a person ‘s behaviour
A system of moral principles or rules of behavioul [24, 125]
“Những nguyên lý đạo đức chế ngự và ảnh hưởng đến hành vi của con người
Hệ thống những nguyên lý đạo đức hay nguyên tắc đạo đức của hành vi”
Từ điển Đào Duy Anh giải thích: Nguyên lý tự nhiên là đạo, được vào lòngngười là đức Cái pháp lý người ta nên noi theo [1, 251]
Từ điển Thiều Chửu định nghĩa: Đạo Đức là cái đạo để lập thân [10, 177]Đạo đức là những khuynh hướng tốt trong tâm ta, mà những khuynh hướng đótạo nên những lời nói và hành vi bên ngoài khiến cho mọi người chung quanh ta đượcchuyển hóa, an vui, lợi ích [17, 5]
1.2 Thích nghĩa:
Đạo đức là một danh từ có nghĩa rất rộng Ý nghĩa đặc biệt của danh từ nàykhông đơn giản là ngữ nghĩa mà hàm nghĩa chỉ về một phạm trù mang đầy đủ tínhcách, phẩm chất và cả đời sống của một con người Nó vượt ra ngoài danh lợi, địa vị
và giai cấp Đạo đức được giải thích ngắn gọn ở phần trên, ở phần nội dung xin đượctìm hiểu những khái niệm về Đạo Đức của các nền văn hóa Đông - Tây kim cổ
1.3 Quan điểm Đạo Đức về triết học Đông - Tây:
1.3.1 Quan điểm đạo đức về triết học Phương Tây:
Đến khoảng thế kỷ 16-17, sau các cuộc cách mạng khoa học thì người TâyPhương cũng có những chuyển biến mạnh mẽ trong trào lưu tư tưởng Khi vật chất đãđầy đủ, họ quay về với triết lý nhân sinh quan… Sự khai sinh ra xã hội học và cáckhoa học khác làm phong phú thêm đời sống nhân văn Đạo đức Tây Phương quanniệm như một môn học và cũng có đối tượng nghiên cứu Từ điển Gran Hill Bookđịnh nghĩa: “Đạo đức là môn học đánh giá các hành vi thiện ác của con người, biểuhiện qua phần lời và ý và được thực hiện bởi ý chí, tình cảm và lý trí”.[25,145]
Trang 5Đó là định nghĩa tiêu biểu mà ta thường thấy những học giả Tây Phương lấylàm chuẩn mực Cơ sở lập luận chính ở đây chính là con người và những biểu hiệncủa con người trong cuộc sống cá nhân và đối với người xung quanh Tuy có khácnhau về nền văn hóa, tập tục, mỗi một Tôn Giáo hay trường phái Triết Học có cáchgiải thích riêng Thường những giải thích ấy phù hợp với thời đại họ đang sống vàcũng lấy con người làm chuẩn mực để đánh giá và giải thích Aristore là một tiêu biểu: “Mục đích trực tiếp của con người không phải là cái hay cái đẹp mà chính là hạnhphúc Hạnh phúc là sự phát triển các đức tính thật tốt của một con người… Hạnh phúc
ấy đồng nghĩa với đạo đức”[25,137] Aristore là một triết gia nổi tiếng của PhươngTây Quan điểm về đạo đức của ông được biểu hiện quá rõ ràng qua lời phát biểu đãnêu Ở đó ta tìm thấy được giá trị đích thực và mục đích của cuộc sống Con ngườiphải hoàn thiện những đức tính tốt mới có được hạnh phúc Hạnh phúc ấy là đạo đức.Lúc đó họ cảm thấy mình hạnh phúc hơn và yêu cuộc sống này hơn Socrates cũngcho ta thấy đạo đức là một trật tự ổn định của xã hội, không có màu sắc phân biệt, đố
kỵ tín ngưỡng Ông nhận định “Một nền đạo đức không thể căn cứ vào một giáo lý
mơ hồ Chúng ta phải tạo dựng một nền luân lý hoàn toàn không lệ thuộc thần họchoàn toàn phù hợp với người có tôn giáo cũng như không có tôn giáo thì xã hội mới
ổn định”.[25,193]
Như vậy theo Socrates, một quy luật chung cho toàn xã hội và đạo đức đóngvai trò lành mạnh hóa xã hội Liên hệ đến hiện tại, nếu ý kiến này của Soccrate đượcứng dụng thì không có các cuộc chiến tranh sắc tộc và kỳ thị Tôn Giáo gây bao nỗikinh hoàng cho nhân loại Tính cao quý của đạo đức đã được Soccrate đánh giá đúngbởi chỉ có nó con người mới có thể tiến đến xa hơn và không đè bẹp nhau bằng súngống quân sự
1.3.2 Quan điểm đạo đức về triết học Phương Đông:
Người Đông Phương lấy Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín làm cách đối nhân xử thế.Bên cạnh những tập tục thuộc văn hóa vật chất, thuần phong mỹ tục, Đông Phươngcòn có một nền triết học mang đậm nét tâm linh Nhưng tôn giáo vốn như Phật giáo,
Ấn Độ giáo, Khổng giáo, Lão giáo… là những nền triết học vừa mang tính cách xãhội , vừa mang đậm nét tâm linh Đạo đức là một điểm rất được chú ý trong các nềntriết học này nhưng chung quy là vẫn muốn hoàn thiện nhân cách con người, hướng
họ về an ổn mà không phương hại đến đời sống cá nhân của họ Từ điển Từụ Nguyên giải thích:
Đạo đức: Lễ Khúc Lễ viết: “Đạo đức nhân nghĩa phi lễ bất thành”, Sở ChúChâu Lễ: “Đạo đa tài nghệ, đức năng cung hành, kim vị đạo đức nhi ngôn chi, tắc bao
la vạn sự liễu chi, ngôn tắc nhân chi tài nghệ, thiện hạnh vô nhân đại tiểu tu lễ hànhchi Thị lễ vi đạo đức chi cụ Cố vân phi lễ bất thành, nhân chi tài nghệ thiện hạnh,đắc vi đạo đức dĩ thân hữu tài nghệ sự đắc khai thông Thân hữu mỹ thiện, ư lý vi đắc
Trang 6cố xưng đạo đức dã”, Lão Tử: “Đạo sanh chi, đức xuất chi, thị dĩ vạn vật mạc bất tônđạo nhi quý đức Đạo chi tôn đức chi quý phù mạc chi mạng nhi thường tự nhiênvương”, Nặc Chú: “Đạo giả vật chi sở do, đức giả vật chi sở đắc giả, kim thân sinhchúng nhơn sở công tôn tuân chi lý pháp cập hành vi chi hiệp ư lý pháp giả, vi đạođức” [11,523]
Tạm dịch: Đạo đức: Lễ Khúc Lễ nói : “Đạo đức nhân nghĩa không lễ khôngthành” , Trịnh Chú Châu Lễ giải thích rằng: “Đạo nhiều tài nghệ, đức có thể vâng làm.Nay nói về đạo đức, nếu nói rộng thì bao trùm cả vạn sự, nếu nói tâm là tài nghệ vàthiện hạnh của con người Không luận rộng hay hẹp đều phải dùng lễ mà thực hành, lễnày là công cụ tạo nên đạo đức cho nên nói không lễ không thành tài nghệ thiện hạnhcủa con người Người được coi có đạo đức là nhờ bản thân được khai thông Bản thân
có sự tốt đẹp với đạo lý cho nên gọi là đạo đức”, Lão Tử dạy rằng: “Đạo sanh vạn vật,đức nuôi lớn, vì vậy không có vật gì là không tôn đạo và quý đức Sự tôn trọng đạo vàquý đức không ai dạy mà có một cách tự nhiên”, Vương Nặc giải thích rằng : “Đạo là
lý do của vật Đức là chỗ dựa của vật, nay gọi chung là lý pháp mà mọi người đều phải tuân theo và lý pháp mà mọi người phải làm là đạo đức vậy”
Giải thích như vậy quả là tiêu biểu cho một nền văn hóa và Triết Học củaTrung Quốc Cách quan niệm về đạo đức rõ ràng hai đức tính tân quý và quan trọng.Trong phần giải thích tổng quát này có sự đóng góp của Lão Tử, một triết gia lớn củaTrung Hoa Lão Tử nhấn mạnh sức sống của đạo đức trong đời thường và hiểu rộng là
sự cấu sinh vạn vật Bao quát và hơi trừu tượng song hành với triết lý của Lão Tử.Triết học Khổng Phi Tử hay còn gọi là Đạo Khổng cũng góp phần vào nền triết học ÁĐông Ở đây ta chỉ chú trọng tìm hiểu ở khía cạnh đạo đức để tìm ra sự phong phúcủa nó Một học giả Việt Nam nhận xét về quan niệm đạo đức của Khổng Tử:
“Triết học nhân sinh của Khổng Tử còn một điểm cuối cùng nữa là khôngnhững chú trọng về động cơ mà còn chú trọng vào sự dưỡng thành phẩm hạnh đạođức hơn Khổng Tử luận về hành vi phân ra ba tầng, một là động cơ, hai là phươngpháp, ba là phẩm hạnh Động cơ với phẩm hạnh thuộc về nội dung của hành vi Khichúng ta luận về đạo đức thì đại khái có hai phương diện là nội dung và ngoại biểu.Chúng ta làm một việc gì hoặc sợ hình phạt hay ham lợi ích mà làm, đấy là đạo đứccủa ngoại biểu, nếu vì lương tâm của chúng ta thúc đẩy chúng ta làm thì đấy thuộc vềnội dung của đạo đức”.[21, 248]
Nội dung của đạo đức lại chia ra làm hai dạng Một trọng về động cơ về thiên
lý, hay là mệnh lệnh của đạo đức, có một thế lực về hạnh phúc đẩy ta làm điều thiện,tránh điều ác Một hạng lại chú trọng vào phẩm hạnh tập quán của đạo đức Tập quántrở nên phẩm hạnh, có người vì tập quán đạo đức thấy điều thiện thì tự nhiên làm,thấy điều ác thì tự nhiên bỏ
Trang 7Triết học nhân sinh quan của Khổng Tư ũchú trọng về đạo đức tập quán, chonên mới chủ trương “tính tương cận dã, tập tương viễn dã”, “tính người ta vốn gần vìtập quán mà xa mãi nhau” Khổng Tử đã lợi dụng tập quán để gây nên phẩm hạnh đạođức đến chỗ “Tòng tâm, sở dục bất dũ củ” Theo cái gì mà lòng muốn của mình khôngvươn ra ngoài quy củ của trời đất Đây là chỗ tuyệt điểm trong môn giáo hóa nhâncách của Khổng Tử vậy [21, 249]
Qua sự nhận định về đạo đức, các triết gia tiêu biểu Đông Tây cho ta thấy đượcđiểm tương đồng và dị biệt của hai nền văn hóa có chiều hướng phát triển khác nhau
1.4 Quan điểm đạo đức của người Việt Nam:
Dân tộc Việt nam có một truyền thống đạo đức được xây dựng từ thời lập quốccho đến bây giờ Bao thăng trầm của lịch sử cũng chẳng làm phai mờ đi truyền thống
đó Đạo đức của người Việt rất đơn giản như câu nói miệng của nhân dân “Có Đứcmặc sức mà ăn” “Có Đức” tức là có đạo đức tạo cho con người có phẩm chất caoquý, “mặc sức mà ăn” nghĩa là người nhận được những hạnh phúc từ cội đức củamình mà có Nếu trình bày về quan điểm đạo đức của người Việt Nam thôi thì khó màphản ánh được văn hóa Việt Văn hóa Việt Nam bao gồm cả thảy 54 nền văn hóa nhỏhợp thành nên rất đa dạng và phong phú trong mọi khía cạnh Người viết đành chọnmột định nghĩa đạo đức được sách đánh giá khi nói về truyền thống đạo đức của chaông:“Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hột thừa nhận, quyđịnh hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội, nói tổng quátphẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng đạo đức mà có” [16, 136] Con ngườisống trong cuộc đời có rất nhiều sự tương quan với nhau nên tiêu chuẩn đạo đức phảiđặt lên trên hết Nguyễn Trải trong bài Bình Ngô Đại Cáo cũng có những lời lẽ mangtính đạo đức tiêu biểu, nói lên quan điểm của người Việt Nam, thậm chí đối với kẻthù
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước đại việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu [22, 268]
Cái văn: Nhân nghĩa chi cử, yêu tại an dân Điếu phạt chi sử mạc tiên khử bạo.Hay: Chí nhược thần vũ bất sát
Trang 8Đại đức hiếu sinh
Niệm quốc gia trường cầu chi kế
Hoặc dân gian lưu hành:
Một đường đạo đức gắng noi gương
Đường ấy từ bi với thiện lương
Bác ái tha nhân không biệt chủng
Thế gian đổi lại cõi thiên đường.
1.5 Quan điểm đạo đức của Phật Giáo:
Phật giáo là một Tôn Giáo xuất hiện sớm trong lịch sử của nhân loại Một TônGiáo khai sáng bằng Tu Chứng và Trí Tuệ, có tôn chỉ mới mẻ với thời bây giờ, oằnmình trong nỗi đau phân biệt đẳng cấp, kì thị của con người phong kiến, họ giẫm lênnhau trong từng hoàn cảnh sống nên thế gian này đã khổ còn khổ hơn Vì vậy khi tìm
ra con đường giải thoát Đức Phật nói lên tiếng nói của giải thoát khổ đau Trước hết
“Chúng ta có thể nói những lời dạy của Đức Phật đều trực tiếp hay gián tiếp liên hệđến vấn đề đạo đức và chúng ta cần phải định nghĩa đạo đức Phật giáo như thế nào?trước hết cho phù hợp với dụng ý thuyết pháp độ sinh của Ngài, sau đó ứng dụng nềnđạo đức ấy vào thế giới loài người của chúng ta, đặc biệt là con người hiện đại củachúng ta”.[2,24] Toàn bộ hệ thống giáo lý mà Đức Phật giảng thuyết suốt 49 năm đềuchung vào một mục đích nói khổ và con đường diệt khổ Nhưng giáo lý ấy nếu ta cứmãi nhìn bằng nhãn quan phán xét hay bình phẩm thì nó chỉ dừng lại ở góc độ bàngquan, nếu muốn hiểu và cảm nhận hết không gì hơn phải sống và hòa đồng trong giáo
lý, thực thi giáo lý Phật dạy: “Abtention from all evil, doing of good parification ofone’s thought This is the doctrine of Buddhas” [23, 36]
Dịch: Không làm các điều ác
Trang 9Thành tựu các hạnh lành
Giữ tâm lý trong sạch
Chính lời chư Phật dạy PC: 183
Điểm nổi bật của Đạo Đức Phật giáo là có một trong các lãnh vực của cuộcsống Một nghĩa khác của đạo đức Phật giáo là lối sống trong sạch tránh xa những trú
xứ phương hại đến bản thân
“It is not right to serve friends Who are evil, men who are base, but let a menserve friends who are right out, let him keep company with the best ofmen”[23,76]
Dịch:
Chớ thân với bạn ác
Chớ thân kẻ tiểu nhân
Hãy thân người bạn lành
Hãy thân bậc thiện nhân PC: 78
Đạo đức Phật giáo đề cao một nếp sống giải thoát những bám víu của thế gian,hoàn thiện một nhân cách sống hoàn toàn mới mà vẫn không xa rời thực tế
Đạo đức Phật giáo là một nếp sống hài hòa với muôn loài, hữu tình hay vô tìnhchúng sanh, không tranh đấu tạo sự chia lìa hay ly gián mà gần gũi sẻ chia Ngài nói:
“Này các Tỳ Kheo, ta không tranh chấp với đời, chỉ có đời tranh chấp với ta Này các
Tỳ Kheo, người nói pháp không tranh chấp với bất cứ một ai ở đời” [5,III, 165]
Phật giáo với quan niệm vạn vật đều không có một tự ngã vĩnh hằng, yếu tốduyên sinh là đặc tánh của vạn pháp Sở dĩ có đau khổ là do ta không quán triệt được
lý tánh uyên áo của giáo lý Phật đà nên ta luôn ở vào vị trí bị động trước sự vô thường
Trang 10của vạn pháp Ta thường hỏi rằng, Ta là ai? Ta sẽ đi về đâu? Câu hỏi đó là một câuhỏi lớn mà ta thường mắc phải, càng cố công tìm kiếm câu trả lời càng đi vào vònglẩn quẩn của luân lý đời thường Phật dạy: “Ai khởi lên ý nghĩ cái gì chắc chắn của ta,cái gì chắc chắn đã là của ta, nay chắc chắn không còn là của ta, cái gì chắc chắn cóthể là của ta, chắc chắn ta không được cái ấy, suy nghĩ như vậy, nó sầu muộn thanvan khóc lóc đập ngực đi đến bất tỉnh” [5, I, 136A] Nhân đó Ngài cũng khẳng định
“Này các Tỳ Kheo, bất cứ sắc nào…cảm thọ nào…tưởng nào…hành nào…thức nàoquá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cảthức là cái này không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi” [5,I,138A]
ra nhau bằng tình thương chân thật Phật dạy:
Với hận diệt hận thù
Đời này không có được
Không hận diệt hận thù
Là định luật thiên thu PC: 5
Hay: “Vị ấy an trú biến mãn một phương với lòng từ…lòng bi… lòng hỉ…lòng
xã cũng vậy, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ
tư Như vậy cũng khắp thế giới trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ cùng khắp
vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, khônghận, không sân”.[4, I, 38]
Hoặc:
Trang 11Bằng thắng hay thua ta
Như vậy đấu tranh khởi
Cả ba không dao động
Bằng thắng không khởi lên [5, I, 15]
Đạo đức Phật giáo tức là tuân thủ những nguyên tắc sống (giới luật) Bằngnhững giới luật Phật chế, hành giả dù tại gia hay xuất gia đều được yên ổn trong đờisống hiện tại Đạo đức bắt đầu từ sự chấm dứt các tà hạnh trong các dục mà “Giới”chính là năng lực tiêu biểu cho sự chấm dứt ấy Khi tâm hành giả có thể chưa ở yênnhưng nhờ thân có giữ giới luật, tạm thời hành giả không vi phạm những nguyên tắcđạo đức mà xã hội qui ước và đảm bảo được đời sống của chính mình trong cộngđồng Tăng Có giới mới có đức, chấm dứt ác pháp thì thiện pháp tỏa sáng, nguyên lýnày luôn có mặt và bổ trợ cho nhau, duyên với nhau Phật luôn khiển trách nhữngngười phạm giới bởi đó chính tà hạnh không đạo đức, người ấy đã vi phạm nhữngnguyên tắc tối thiểu của một thành viên dù trong bất cứ môi trường xã hội nào Vì vậymạng mạch của Tăng đoàn chính là sự giữ giới Phật dạy: “Giới luật là mạng mạchcủa Phật pháp, giới luật còn là Phật pháp còn, giới luật mất là Phật pháp diệt” Tuyênngôn như vậy tức là nhấn mạnh đến đạo đức cá nhân của từng thành viên Tăng Phậtpháp được truyền bá trước phải có những con người đầy đủ đức tính này mới mang lạihiệu quả và xứng đáng với tầm vóc gọi là Thầy của Trời Người, còn ngược lại PhậtPháp băng hoại khi giới mất, tức tư cách đạo đức của thành viên Tăng bị hoen ố
Đạo đức Phật giáo qua các lời dạy của Ngài tựu trung vẫn để khẳng định giá trịcủa một con người đặt con người vào đúng chổ Nguyên lý này rất sống động và cómặt cùng khắp những khía cạnh của cuộc sống Trên cơ sở đó đạo đức Phật giáo giúpcon người phát huy hết những đặc tính ưu việt, giảm thiểu những điều đưa đến bất lợicho chính bản thân, gia đình và xã hội Chỉ có giải thoát khổ đau mới chính là hạnhphúc chân thật, khích lệ tình thương, tha thứ và đề cao giá trị của từ bi Đạo đức Phậtgiáo đã thực sự nở hoa trong mỗi cá nhân, cộng đồng và xã hội nếu biết tín nhiệm vàlàm theo Cái hay cái đẹp không ở ngoài con người, cái xấu cố hữu cũng từ đó mà ra
Nỗ lực để hoàn thiện, tự mình đứng lên, không cầu cạnh hay chịu áp lực với bất cứmột thế lực nào khi bản thân mình là chủ nhân của chính mình một cách thực sự Bởiđánh mất giá trị làm chủ bản thân nên con người dễ dàng bị cám dỗ trước những cạmbẫy của đạo đức bị suy thoái Như vậy, công năng đạo đức nói chung là chữa lànhđược những bệnh khổ cho những tâm trạng đang mắc bệnh trầm kha, hơn nữa đạo đứcluôn đem đến sự an lạc từ thể chất đến tinh thần cho mình và mọi người xung quanh
CHƯƠNG 2 : LÒNG TỪ CỦA PHẬT GIÁO
Trang 122.1 ĐỊNH NGHĨA:
Lòng từ hay từ bi là một thuật ngữ rất thường được sử dụng trong giáo điển củaPhật giáo
Tiếng Pàli gọi là Mettà, tiếng Sankrit là Maitri
Tâm từ hay lòng từ nghĩa là cái gì làm cho lòng ta êm dịu, là tâm trạng của mộtngười bạn tốt, là lòng mong ước thành thật cho tất cả đều được sống an lành vui vẻ.[12, 595]
Tiếng Anh gọi là Boundless love (immeasurable, unlimitted, endless love)nghĩa là tình thương vô hạn lượng, từ tâm vô hạn lượng [28, 46]
Thương yêu chúng sanh, mang lại cho họ niềm an lạc vui sướng gọi là Từ,đồng cảm nỗi khổ và làm cho chúng sanh bớt khổ là Bi Vậy Từ Bi là tình thương rấtchân thật không có hạn lượng, không phân biệt” [12, 563]
2.2 GIẢI THÍCH Ý NGHĨA LÒNG TỪ:
Từ bi là tình thương vượt ra ngoài những diễn tả của ngôn ngữ, sức sống tiềmtàn mãnh liệt trong mỗi con người Lòng từ có nghĩa như tình thương cha mẹ dànhcho con cái, Phật dành cho chúng sanh Ta không thể nào kể hết công ơn của cha mẹ,
có chăng chỉ thể hiện bằng những giọt nước mắt ngậm ngùi khi chia ly Phải giải bỏhết những quan niệm thân sơ, đối đãi phân biệt ta mới có thể hiểu được phần nào đó ýnghĩa của lòng từ, nếu không như vậy ta chỉ dừng lại ở mức độ cảm thông, lắm khicòn toan tính vụ lợi
Phật giáo có một chữ Từ Bi tuyệt vời Lòng từ Phật giáo bao trùm cả vạn hữu.Không phải là sự luyến ái riêng tư giữa con người với con người, giữa con người với
xã hội, với con vật cưng, càng không phải là tình đồng chí đồng hương hay đồng đạo
mà vượt thoát tất cả Lòng từ Phật giáo bắt nguồn từ sự cảm thông chân thật, tha thiếttrước nỗi khổ của mọi người, ban phát đến tất cả vạn loài Hay nói một cách khác,không những không làm hại mà còn nâng niu từng sự sống, chăm sóc từng nỗi đau,rộng rãi và bao la như ánh trăng tươi mát soi tận cùng những nẻo tối tăm đem lại chonhân loại những điều ích lợi Nếu muốn thấu hiểu lòng từ, cảm nhận lòng từ thì ta hãy
bỏ qua chủng tộc, tính cách, lãnh thổ giai cấp mà chỉ có một tình thương duy nhất banphát không mệt mỏi Khi nào xóa sạch được nỗi đau, lòng từ không bác bỏ, chà đạplên mà làm sống lại những tâm hồn vẩn đục, những bước chân lầm lỗi trở về với thựctại sự sống Lòng từ không cho riêng bất kỳ ai mà cho cả thảy
Kinh dạy:
Trang 13Loài được thấy không thấyLoài sống xa, không xaCác loài hiện đang sốngCác loài sẽ được sanhMong mọi loài chúng sanhSống hạnh phúc an lạc [7, I, 29-30]
2.3 TÍNH CHẤT CỦA LÒNG TỪ:
2.3.1 Lòng Từ Là Gốc Lành:
Lòng từ là một trong Bốn Vô Lượng Tâm, một công hạnh nhập thế của các vị
Bồ tát và cũng là nơi trưởng dưỡng các pháp lành Phật dạy: “Này Thiện Nam Tư,ũ tất
cả Thanh Văn, Duyên giác, Bồ tát, Chư Phật, chỗ có căn lành, lòng từ là cội gốc Nếu
có người hỏi gì là căn bản của pháp lành nên đáp đó chính là tâm từ Bởi tâm từ là đạo
vô thượng, là cảnh giới vô song, chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật Tâm từ là thường,lạc, ngã, tịnh, là Cam lồ, là Phật tánh, là Pháp, là Tăng Tâm từ chính là Như Lai Do
vì nghĩa đó nên biết tâm từ là chân thật, chẳng phải hư vọng Nếu Bồ Tát tu tập tâm từ
có thể sanh vô lượng căn lành Như vậy tâm từ là cội gốc”.[19, II, 159] Các thiệnpháp đều thành tựu do tâm từ, là cảnh giới chư Phật và các đại Bồ Tát Bởi chỉ cónhư vậy mới lắng yên một cách chân thật, nhận diện được sự quan yếu cho tính cáchbình đẳng và không buông thả, đem lại lợi ích cho chính mình và giải thoát chúngsanh Ta có thể thấy rằng toàn bộ hệ thống giáo lý của Phật giáo xây dựng trên ý nghĩakhông phân biệt mà cho tất cả vạn loài tu tập Hiểu cách khác là một phương tiện cực
kỳ thù thắng để cho các bậc thượng nhân nhập thế độ sanh Tất cả nếu không có lòng
từ thì mình không thể thương chính mình, không thể tự mình làm cho mình yên ổn thìlàm sao cảm thông trước nỗi đau của người khác Qua lời dạy của Đức Thế Tôn, tathấy được tầm quan trọng của lòng từ Nó làm nên hạnh nguyện của chư Phật, Bồ tát
và diệu dụng chính là: “Thường, lạc, ngã, tịnh là Phật tánh, là Pháp, là Tăng” Một khingười ta rời bỏ tâm từ thì chắc chắn sẽ mất hết cội rễ của căn lành Một khi không cócăn lành và từ tâm thì thay vào đó chắc chắn là bất thiện pháp Bởi tính huân thâm vàtập quán lâu ngày trong chủng tử của chúng sanh Kinh Ưu Bà Tắc Giới Đức Phậtdạy: “Từ tâm là nhân duyên của tất cả sự an vui, rời bỏ từ bi thôi chẳng còn pháplành” Đó chính là kinh nghiệm mà trải qua vô lượng kiếp Đức Phật đã nhập thế độsanh và thành tựu viên mãn
2.3.2 Lòng Từ Là Sự Có Mặt Của Trí Tuệ:
Lòng từ, tình thương rộng rãi bao dung, những tình thương ấy phải do trí tuệrọi sáng và dưỡng nuôi mới thành tựu Nếu tình thương còn trong vòng lẩn quẩn của
Trang 14ái dục và chấp thủ, thiếu hiểu biết thì chẳng khác nào ta đem thêm vật cho kẻ đã gánhnặng quằn vai Nhưng nếu nhìn nhận ở góc độ đó thì ta chưa thấm nhuần triết lý củalòng từ Phật giáo, cội rễ của thiện pháp Nên các Thánh giả bước lên Thánh vị khilòng từ thành tựu.
Phật dạy:
Ai dùng các hạnh lànhLàm xóa mờ nghiệp ácChói sáng rực đời nàyNhư trăng thoát mây che PC: 173
Hạnh lành là từ bi, dùng tâm từ để chuyển đổi nghiệp thì chính tâm từ là trí tuệ.Chỉ có trí tuệ chiếu sáng mới thoát khỏi những sự u tối của vô minh Người đờithường ăn thua đủ kiểu “Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại” để xử sự Ởũ đây, tâm từđược thành tựu bởi trí tuệ chuyển đổi vô minh thoát ra khỏi ba cõi Phậtdạy:
Vi thiện xảo mục đíchCần phải làm như sauCon đường an tịnh ấy
Có khả năng thực tánhThực sự khéo chân thực
Để nói và nhu hòaKhông có gì cao mạn [5, I, 264]
Con đường an tịnh là con đường của từ bi và trí tuệ vốn dĩ đã có sớm trong mỗichúng sanh nhưng phải trưởng dưỡng mới thành tựu Sử dụng tâm từ biến thành mộtphương tiện nhu nhuyến thiện xảo Thông suốt một vấn đề duy chỉ có trí tuệ mà thôi
Ta thường nhìn vạn pháp bằng đôi mắt thiếu khách quan và cũng chủ quan đưa ra kếtluận Cái này phải như thế này, cái kia phải như thế kia Bó buộc như vậy nên một khi
có sự đổi thay sinh ra buồn khổ Nhưng khi trí tuệ có mặt thì mọi dãy phân cách đượctháo bỏ và lòng từ cũng thành tựu như vậy
2.3.3 Lòng Từ Triết Lý Thực Dụng Cho Sự Sống:
Không thương nhau nên lường gạt nhau, giẫm lên nhau Con người là tác giảcủa khổ đau và cũng chính là nạn nhân của khổ đau, nhưng họ chưa dừng lại khi tìnhthương không có mặt, đổi lại đó là thù ghét, ganh tỵ Rồi một khi họ nhận lại món quà
Trang 15không như ý, họ tặng cho người khác lại trở thành oán than Từ bi Phật giáo dạy conngười ta tránh xa hai thái cực là con đường đi đến tạo nghiệp khổ, và mối an ổn Phậtdạy: “Mọi hành động gì có hại cho mình, có hại cho người, có hại cho cả hai, bị ngườichỉ trích, nếu chấp nhận và thực hiện sẽ đem lại tâm khổ, tâm ưu Hành động như vậygọi là bất thiện và chúng ta loại bỏ hành động ấy Hành động gì không có hại chomình, không có hại cho người, không hại cho cả hai, được người trí tán thán Nếuchấp nhận và thực hiện sẽ đem đến tâm lạc, tâm hỷ, hành động như vậy gọi là thiện vôchí ta phải thực hành”.[4,II,256] Vì sao có những hành động bất thiện gây đau khổcho mình và người? Đó chính là thiếu trí tuệ trong cuộc sống Xét ở nỗi đau của mìnhthì hiểu hơn ai hết Còn nếu ta không có lòng thương yêu chính bản thân mình, hằnhọc thói ganh ghét thì việc ta làm cho thân nhân chắc sẽ là khổ đau.
“Làm cho người hay vật khác đau khổ để bạn được hạnh phúc là chuyện khôngđúng Mọi người hay vật đều muốn giữ mạng sống như bạn muốn Do vậy nếu bạncúng tế súc vật là ích kỷ Như ta đã dạy ích kỷ không tìm được gì ngoài nỗi bất hạnhtrong cuộc sống Một vị thần nào đói máu của một con thú trước khi giúp bạn thì đókhông phải là một vị thần tốt, vị ấy không được ai tôn thờ Nhưng nếu bạn hành động
từ bi, nhân ái đối với mọi loài người hay vật cũng như nhau, thì chính thần linh cũngthờ bạn”.[26, 69]
Triết lý hành động là tu tập và thực hành lòng từ ngay trong góc độ của cuộcsống đời thường, tâm linh và tất cả Ta không thể kêu gọi lòng thương bao la của kẻkhác khi mình chìm trong ích kỷ và những suy tính thiệt hơn, chấp nhận lối suy nghĩnhỏ nhen chính là bạn đã bị vo tròn mình trong chiếc kén khổ đau Còn hành độngtheo lòng từ thì chính bạn đã trải lòng mình ra và đón nhận mọi ý nghĩa của cuộc đờibằng chính một tâm hồn trong sáng rộng rãi và một cuộc sống thăng hoa
2.4 TU TẬP LÒNG TỪ:
2.4.1 Nếp Sống Lòng Từ Đối Với Người Xuất Gia:
Thời Đức Phật còn tại thế Ngài đã thân hành giáo hóa chúng sanh suốt 49năm Đến đâu Ngài cũng đem giáo lý Từ Bi Bình Đẳng ban bố cho chúng sanh Bướcchân của Ngài đã cùng khắp Ấn Độ Từ những thôn xóm hẻo lánh đến đô thị sầm uất.Ngài nói lên tiếng nói yêu thương, khuyến hóa chúng sanh Phật dạy: “Chánh phápcủa ta là chánh pháp tự lợi và lợi tha Ai có khả năng tiếp nhận sự hóa độ thì ta cũngtạo yếu tố hóa độ cho họ”[5,III,273] Nên Ngài không quên khuyếân hóa thánhchúng Hãy vì tình thương chúng sanh mà du hành hóa độ Đem ánh sáng từ bi, trí tuệban bố cho chúng sanh “Hãy ra đi, các Tỳ Kheo đem lại sự tốt đẹp cho nhiều người,đem lại hạnh phúc cho nhiều người Hãy đem lại sự tốt đẹp lợi ích vì hạnh phúc chochư thiên và loài người Mỗi người hãy đi một ngã Này hỡi các Tỳ Kheo Hãy hoằngdương chánh pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở giữa, toàn hảo ở đoạn cuối, toàn
Trang 16hảo cả hai tinh thần và văn tự Hãy công bố đời sống thiêng liêng cao thượng vừa toànthiện vừa trong sạch Có những chúng sanh vướng ít nhiều cát bụi trong mắt nếukhông nghe giáo pháp sẽ sa đọa Cũng có những người am hiểu giáo pháp Chính NhưLai cũng ra đi Như Lai sẽ đi về hướng Uruvela ở Sananigama để hoằng dương chánhpháp Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu Hãymang lại sự tốt đẹp cho người khác Được như vậy các con đã hoàn tất nhiệm vụ”[6, I,126] Lợi lạc chúng sanh ở quốc độ kham nhẫn này không gì hơn từ bi Khổ đau đã cómặt khi chúng sanh tái sinh ở cõi ác nên bản tính thường can cường và ít cảm thôngcho nhau Vì thế, truyền bá giáo lý từ bi là sứ mạng của người xuất gia Để thực hiệnnhiệm vụ ấy Đức Thế Tôn dạy cho các Tỳ Kheo hộ trì và tu tập ngay bản thân mình,tìm một đường sống tốt đẹp, không gây đau khổ cho thế nhân Phật dạy: “Này các TỳKheo, người nói Pháp không tranh chấp với đời, chỉ có đời tranh chấp với ta Này các
Tỳ Kheo, người nói Pháp không tranh chấp với một ai ở đời”[5,III,165] Hoàn cảnhsống không tranh chấp ấy, tâm hành giả sẽ được an tịnh, từ đó mới không phân biệtgiáo hóa chúng sanh Đời sống luôn là yếu tố chi phối rất nhiều đến con đường tu tậpcủa hành giả Đức Phật chỉ bày rất rõ ràng Trong kinh thường đề cập đến trú xứ vàthân cận xứ Để thực tập tốt hơn tâm hạnh từ bi hành giả phải chọn một lối sống thíchhợp Phật dạy: “Sống giữa chúng sanh, hãy dẹp lại một bên gươm đao và các loại khígiới, không gây tổn thương cho bất luận ai, không làm cho ai phải xót đau vì một đứacon hay một người bạn, nhưng hãy mạnh dạn tiến bước như Chúa sơn lâm”[12, 606].Tiến xa hơn một bước, người xuất gia chọn tâm từ như một phương pháp thực tập antrú trong tất cả mọi hoàn cảnh và tâm từ như một sức sống làm an tịnh tâm thức hànhgiả, từ đó hướng về chúng sanh, hướng về cuộc đời bằng tất cả diệu dụng từ bi
Khi thức không lo âuKhi ngủ chẳng sợ hãiNgày đêm không khởi lênPhiền não bận lòng ta
Ta không thấy tai hạiMột khổ não trên đời
Do vậy ta nằm ngủ Tâm từ thương chúng sanh.[5, I, 136]
Tâm từ của người xuất gia phải rộng rãi, đương nhiên sống trong xã hội thì ápdụng cho loài người Nhưng từ bi của Phật giáo không có giới hạn, trùm khắp cả vạnloài Vẫn biết thân người là tối thắng nhưng vạn loại hữu tình đều có tánh giác Nênngười xuất gia phải trải tâm từ đến khắp chúng sanh, dù đó là một loài nhỏ bé hiềnlành hay một con mãnh thú hung tợn cũng đem tâm từ ra mà thuần chúng Cho nênkhi độc cư trong rừng rậm đức Phật vẫn an ổn vì muôn thú luôn xem Ngài là bạn thân
Trang 17Phật dạy: “Ta sống trên một ngọn núi, giữa đám sài lang hổ báo và để tự bảo vệ không
gì khác hơn tâm từ của ta Chung quanh ta là sư tử, cọp, beo, nai, hươu, các thư,ùngoài ra là rừng rậm cỏ hoang Không con vật nào sợ ta và ta cũng không sợ con vậtnào, chính oai lực của tâm từ nâng đỡ, bảo vệ và giúp ta sống yên ổn”[12, 605] Đượcnhư vậy hành giả mới tự tại trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời và qua đó ta thấy rằng.Chỉ có an trú trong từ tâm mới chuyển hóa được vạn loại Nếp sống của người xuấtgia thường là nơi vắng vẻ độc cư, không bị ràng buộc với các đòi hỏi hẹp hòi, nên tâm
từ phải luôn luôn an trú và chứng đắc
Trong tất cả thế giớiHãy tu tập tâm ýKhông hạn lượng rộng lớnKhi đi hay khi đứng
Khi ngồi hay khi nằmLâu cho đến khi nàoKhi đang còn tỉnh thứcHãy an trú niệm nàyNếp sống này như vậyĐược đời đề cập đến
Là nếp sống tối thượng [4,II,213]
Và khi hành giả thực hành lòng từ và tu tập lòng từ thành thục đạt đến cảnhgiới tối cao Không chỉ làm phương tiện cứu giúp cho đời cho sự nghiệp hoằng pháp
mà có giải thoát tối hậu
Đi tu tập từ tâm
Vô lượng thường ức niệmCác kiết sử yếu dầnThấy được sanh y diệtVới tâm không ác độc
Từ mẫn gọi chúng sanh
Do vậy vị ấy thànhBậc thuần nhất chí thiệnVới tâm ý từ mẫn
Đối với mọi chúng sanh
Trang 18Bậc thánh khéo thực hiệnNhiều công đức tốt lành [8, I, 143]
Như vậy tâm từ đối với người xuất gia vừa là phương tiện lãnh đạo Sự bảo vệthâm tâm, con đường chính đạo và rốt ráo công đức Phật khẳng định: “Với tâm từgiải thoát, này các Tỳ Kheo được sử dụng, được tu tập, được làm sung mãn, được làmnhư cổ xe, được làm như căn cứ địa, được thường trú, được tích tập, được khéo tácthành, sự chờ đợi là 8 lợi ích” Thế nào là 8 lợi ích?
1 Người tu tập lòng từ ngủ trong an lạc, thức trong an lạc
2 Không chim bao, ác mộng
3 Được người khác yêu mến
4 Được phi nhân và chư thiên hộ trì
5 Lửa, khí giới và chất độc không làm hại được
6 Tâm dễ an tịnh, nét mặt thanh thoát
7 Khi chết tâm không rối loạn
8 Nếu không được chứng thánh quả thì ít nhất cũng tái sinh về cảnh giới phạmthiên [8, I, 236]
2.4.2 NẾP SỐNG LÒNG TỪ ĐỐI VỚI CƯ SĨ:
2.4.2.1 Ý Thức Về Lòng Từ:
Lòng từ Phậât dạy được tu tập trong mọi lĩnh vực không phân biệt đối đãi Sở
dĩ nói có xuất gia tại gia là do hoàn cảnh sống mà nói Người tại gia quanh năm tảotần với cuộc sống bản thân, gia đình, xã hội Bản chất cuộc đời thì tranh đua danh lợi,địa vị xã hội nên lòng từ ít có cơ hội thực tập hơn người xuất gia Với tính chất nhưvậy, đời sống Phật tử tại gia nếu lòng từ có mặt sẽ tạo lập được một cuộc sống an ổn
và hạnh phúc trước mọi biến động của cuộc đời Người cư sĩ học giáo lý Phật và lòngthương sẵn có nên phát huy hết khả năng làm cho lòng từ ngày càng trở nên lớn hơn.Trước hết, lòng từ thể hiện qua cách sống của hàng Bạch Y trong tình thương yêu vàgiúp đỡ đồng loại
Đó là cách thể hiện lòng từ đối với người có địa vị thấp hơn mình Cuộc sốngcủa chúng ta luôn có những bất đồng trên nghiệp lực và thọ báo, với người nhân
Trang 19duyên thù thắng được gieo từ quá khứ đến đời này hưởng quả và cũng có những kẻnghiệp cũ sâu dày nên kiếp này chịu thấp kém Người có từ tâm không những khôngghét họ mà còn tạo cơ hội giúp đỡ cho họ có những nhân duyên tốt trong cuộc sống.
2.4.2.2 Tôn Trọng Mọi Loài:
Chúng sinh có quyền bình đẳng để sống Cách thể hiện là luôn tôn trọng chứkhông lấy mạnh thắng yếu mà phải bảo bọc bao dung Phật dạy: “Tất cả chúng sinhđều có Phật tánh” Đó là một sự thật mà Ngài muốn dạy cho chúng ta, ta phải biết tôntrọng giác tính cũng như mạng sống của chúng sanh Ngài dạy: “All tremble beforethe rod, to all life is clear; putting oneself in the place of another, one should neitherspike not slay” [23, 37]
Mọi người sợ hình phạt
Mọi người sợ tử vong
Lấy mình làm thí dụ
Không giết, không bảo giết PC: 129
Đặt mình trong nỗi khổ mới thấu hiểu nỗi khổ, từ đó thương tất cả mới tránhnhững nỗi khổ cho họ Mình tham sống, tất cả chúng sanh cũng vậy
Tâm ta đi khắp cùng
Tất cả mọi phương trời
Cũng không tìm thấy được
Ai thân hơn tự ngã
Tự ngã đối mọi người
Quá thân ái như vậy
Vậy ai yêu tự ngã
Chớ hại tự ngã người [5, I, 174-175]
Hiểu được như vậy người luôn tôn trọng nhau trên mọi bình diện của cuộcsống Đó là cách duy nhất người ta đến với nhau mà không làm tổn thương nhau.Nhưng hiển nhiên trong cuộc sống ta thấy ít có ai làm, bởi sự ích kỷ người ta quên đingười bên cạnh