- Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tổ chức và tầng lớp dân cư bao gồm tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; tổ chức huy động tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo.
Trang 1DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 3
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 6
1.1.Tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH 7
1.1.1.Khái quát về NHCSXH 7
1.1.2.Tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH 9
1.2.Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH 22
1.2.1.Khái niệm về hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH 23
1.2.2.Chỉ tiêu đánh giá 24
1.3.Nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH 28 1.3.1.Nhân tố chủ quan 28
1.3.2.Nhân tố khách quan 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NHCSXH PHÙ CỪ- VĨNH PHÚC 34
2.1 Khái quát về Phòng Giao dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc 35
2.2 Thực trạng hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc 37
2.2.1 Thực trạng tín dụng đối với hộ nghèo 37
2.2.2 Phân tích hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo 42
Trang 22.3.1 Kết quả 54
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 64
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NHCSXH PHÙ CỪ- VĨNH PHÚC 71
3.1 Định hướng tín dụng đối với hộ nghèo 71
3.1.1 Định hướng chung của Phòng Giao dịch 71
3.1.2 Định hướng tín dụng đối với hộ nghèo 73
3.2 Giải pháp 75
3.3 Kiến nghị 79
3.3.1 Kiến nghị với các cấp chính quyền địa phương 79
3.3.2 Kiến nghị đối với NHCSXH cấp trên 83
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 2
Trang 3BHYT Bảo hiểm y tế
BPM Ngân hàng Nông nghiệp Malaysia
NS&VSMT Nước sạch & vệ sinh môi trường
TB&XH Thương binh & Xã hội
TK&VV Tiết kiệm & vay vốn
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Trang 4Bảng 2.2: Nguồn vốn của Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa 41
Bảng 2.3: Dư nợ cho vay theo các chương trình qua các năm 43
Bảng 2.4 : Mục đích sử dụng vốn vay của hộ nghèo 46
Bảng 2.5: Tỷ lệ các hộ sử dụng vốn cho các mục đích phân theo trình độ giáo dục .47
Bảng 2.6: Phân chia các hộ theo đối tượng trước khi vay vốn và sau khi vay vốn (vay từ năm 2010 trở về trước) 48
Bảng 2.7: Phân chia các hộ tại các xã theo đối tượng trước và sau khi vay vốn (các hộ vay từ 2010 trở về trước) 49
Bảng 2.8: Các hộ phân theo đối tượng trước và sau vay vốn (vay 2011) 50
Bảng 2.10: Phân chia các hộ theo đối tượng trước và sau vay vốn (vay năm 2011, 2012) 51
Bảng 2.12: Các hộ phân theo đối tượng trước và sau vay vốn (vay 2012) 52
Bảng 2.13: Phân chia các hộ theo đối tượng trước khi vay vốn 52
Bảng 2.15: Thu nhập bình quân của các hộ trước và sau khi vay vốn 55
Bảng 2.16: Kết quả hồi quy TNBQSAU theo các yếu tố 57
Bảng 2.17: Kết quả hồi quy theo các yếu tố khi thêm yếu tố địa bàn 58
Bảng 2.18: Hồi quy TNBQSAU theo CNN của xã Tống Phan 59
Bảng 2.19: Hồi quy TNBQSAU theo các yếu tố của xã Quang Hưng 60
Bảng 2.20: Hồi quy TNBQSAU theo các yếu tố của xã Đình Cao 60
Bảng 2.21: Số chủ hộ chia theo nhóm tuổi và tỷ lệ của từng nhóm tuổi 65
Bảng 2.22: Số lao động theo từng nhóm tuổi 67
Bảng 2.23: Trình độ học vấn của chủ hộ phân theo giới tính và nhóm tuổi 69
Bảng 2.24: Tỷ lệ hộ nghèo theo các mức vốn vay (%) 69
Bảng 3.1: Dư nợ các chương trình cho vay theo kế hoạch năm 2013 73
Trang 5Hình 2.2: Tỷ lệ hộ nghèo tại các xã qua các năm 39
Hình 2.3: Tỷ lệ cận nghèo tại các xã qua các năm 40
Hình 2.4: Tổng nguồn vốn và vốn cấp trên chuyển về qua các năm 42
Hình 2.5: Tỷ lệ dư nợ của các nguồn vốn qua các năm 45
Hình 2.6: Mục đích sử dụng vốn của các hộ 47
Hình 2.7 : Tỷ lệ hộ nghèo trước và sau khi vay vốn 53
Hình 2.8 : Tỷ lệ hộ cận nghèo trước và sau khi vay vốn 54
Hình 2.9: TNBQ của hộ gia đình trước và sau khi sử dụng vốn vay 56
Hình 2.10 : Tỷ lệ nhân khẩu 66
Hình 2.11 : Tỷ lệ hộ gia đình có số nhân khẩu >=4 theo các nhóm tuổi 67
Hình 2.12: Trình độ học vấn của chủ hộ 68
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cho đến hôm nay, đói nghèo vẫn là nỗi ám ảnh thường trực đối với cả loài người Thế giới đã chứng kiến những thảm họa của chiến tranh, thảm họa của thiên tai, dịch bệnh với bao nỗi kinh hoàng Nhưng hậu quả do những nạn đói gây ra vô cùng khủng khiếp Các cuộc chiến tranh dù khốc liệt vô cùng nhưng rồi trước sau cũng được giải quyết; những thảm họa do thiên tai, dịch bệnh gây ra từng bước cũng sẽ được khắc phục thì vấn đề nghèo đói của nhân loại lại là một vấn đề vừa cấp bách, vừa phức tạp lại như một căn bệnh kinh niên khó bề chạy chữa
Đói nghèo là nỗi bất hạnh và là một phi lý lớn Trong khi nền văn minh thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn về tiến bộ khoa học - công nghệ, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng thêm vượt bậc sự giàu có cho con người, thì thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lưng con người lại vẫn là sự nghèo đói Hàng tỷ người, thực tế là một phần ba số dân thế giới vẫn khốn cùng và đói khát Thiệt thòi lớn nhất là trẻ em, hằng ngày có gần 100 triệu trẻ em thiếu ăn, trên 100 triệu trẻ em vô gia cư chỉ sống nhờ của bố thí hoặc sống dựa vào sự lao động quá sức, kể cả bằng các nghề đặc biệt là móc túi, mại dâm; trên 50 triệu trẻ em làm việc trong những ngành có hại; hàng trăm triệu trẻ em tuổi từ 6 - 11 không được cắp sách đến trường
Sau hơn 25 năm đổi mới Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể, song Việt Nam vẫn là một nước được xếp vào diện nghèo trên thế giới, thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc tế còn cao, phát triển kinh tế
xã hội giữa các vùng, các khu vực ngày càng có sự chênh lệnh
Thực tế những năm qua cho thấy công tác XĐGN đã được thực hiện bằng nhiều hình thức, đặc biệt là công tác XĐGN ở khu vực miền núi, nông thôn, hải đảo Bằng chứng là đã có rất nhiều Chương trình, dự án lớn được triển khai nhằm giảm nhanh tỷ lệ nghèo như: Chương trình 135 về đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất; Chương trình 134 hỗ trợ xoá nhà tạm, khai hoang ruộng; Chương trình trồng 5 triệu ha rừng; chương trình trợ giá giống, trợ cước
Trang 7vận chuyển phân bón, hỗ trợ tiêu thụ nông sản; chương trình 120 đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng riêng cho các xã biên giới… Các chương trình trên bước đầu đã mang lại hiệu quả góp phần vào cải thiện cuộc sống giúp XĐGN Tuy nhiên, các nguồn vốn trên đã bộc lộ nhiều hạn chế: các nguồn vốn là có hạn, thời gian đầu tư ngắn, nhiều chương trình dự án đầu tư còn chồng chéo, gây thất thoát, không hiệu quả, hỗ trợ 100% tạo ra tâm lý ỉ lại, chưa đáp ứng được mục tiêu XĐGN nhanh và bền vững
Để thực hiện mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp và giải quyết những vấn đề về việc làm, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội ngày 4/10/2002 Chính phủ đã ban hành nghị định 78/2002/NĐ- CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác Cùng ngày Chính phủ đã ký quyết định số 131/2002/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Chính sách
Xã hội (NHCSXH) trên cơ sở tổ chức lại ngân hàng phục vụ người nghèo nhằm tách hẳn kênh tín dụng ưu đãi ra khỏi kênh tín dụng thương mại
Trải qua 10 năm xây dựng và trưởng thành, NHCSXH đã không ngừng lớn mạnh cả về quy mô hoạt động và chất lượng dịch vụ, nỗ lực vượt qua rất nhiều khó khăn thách thức để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được Đảng và Nhà nước giao phó NHCSXH đã khẳng định được vị thế quan trọng của mình là một tổ chức tín dụng đặc thù, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì sự nghiệp XĐGN của đất nước Đây thực sự là một kênh dẫn vốn hiệu quả đến với người nghèo và các đối tượng chính sách khác nhằm giúp họ thoát nghèo Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chương trình cho vay hộ nghèo thời gian qua cho thấy hiệu quả vốn tín dụng còn thấp làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng phục vụ người nghèo Phải làm thế nào để người nghèo nhận được và sử dụng có hiệu quả vốn vay? Chất lượng tín dụng nâng cao nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững của nguồn vốn tín dụng? Đồng thời, người nghèo thoát được cảnh nghèo đói là một vấn đề được cả xã hội quan tâm
Hệ thống NHCSXH phát triển rộng khắp đất nước, hầu hết ở các tỉnh đều có chi nhánh của NHCSXH, ở các huyện là các Phòng giao dịch NHCSXH Hiệu quả hoạt động của NHCSXH được quyết định bởi hiệu quả hoạt động của các Phòng
Trang 8giao dịch tại các huyện Phòng giao dịch tại các huyện là cơ quan trực tiếp phân phối và theo dõi phương thức sử dụng vốn của các hộ gia đình Hoạt động của Phòng giao dịch NHCSXH có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn của các hộ gia đình, giúp các hộ gia đình thuộc nhóm nghèo, gia đình khó khăn có thể tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng năng suất, tăng thu nhập, giúp các hộ gia đình thoát nghèo và nâng cao phúc lợi xã hội
Sau 15 năm đổi mới và phát triển, Huyện Yên Hòa đã đạt được một số thành tựu tiêu biểu: Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng phù hợp, tỷ lệ nghèo giảm từ 15,82% năm 2010 xuống còn 12% năm 2011 Như vậy, có thể thấy tỷ lệ nghèo vẫn ở mức khá cao, các cấp chính quyền, ban ngành, đoàn thể cần có những chính sách, biện pháp phối hợp hiệu quả để giảm tỷ
lệ nghèo Đây cũng là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trong công cuộc phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo ở địa phương Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc- một trong những phòng giao dịch của chi nhánh NHCSXH Vĩnh Phúc cũng đã và đang thực hiện những mục tiêu, chính sách mà UBND, HĐNH huyện Yên Hòa, Chi nhánh NHCSXH Vĩnh Phúc đề ra với sự cố gắng cao nhất Đề tài:
“Nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc” sẽ giúp giải đáp các câu hỏi như: Tác động của tín dụng ưu
đãi của NHCSXH đối với hộ nghèo tới XĐGN như thế nào? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo? Những mô hình tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo trên thế giới, bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam là gì? Thực trạng hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa như thế nào? Giải pháp để nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo là gì?
Nội dung và kết quả nghiên cứu được trình bày trong 3 chương:
Mở đầu
Chương 1: Tín dụng và hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH Chương 2: Thực trạng hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc
Trang 9Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc
Kết luận và kiến nghị
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc để đưa ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng để đưa ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với với hộ nghèo
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những hộ nghèo được vay vốn của Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc trong các năm 2009, 2010,
2011 và 6 tháng đầu năm 2012 Đề tài sử dụng số liệu do UBND, phòng Lao động, TB&XH, Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa cung cấp và số liệu thu thập được từ cuộc điều tra phỏng vấn chọn mẫu tại ba xã Tống Phan, Quang Hưng và Đình Cao của tác giả Các nguồn số liệu cung cấp đầy đủ thông tin về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp của chủ hộ; số lượng vốn vay
ưu đãi, mục đích sử dụng vốn cũng như tác động của nguồn vốn đối với thu nhập của hộ gia đình Từ đó đánh giá tác động của các yếu tố tới hiệu quả của nguồn vốn vay ưu đãi đối với hộ nghèo và đưa ra một số giải pháp, đề xuất
Trang 104 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Trong công cuộc XĐGN để đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đặc biệt đối với hộ nghèo thì đề tài nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo được rất nhiều sinh viên đại học, học viên và các nghiên cứu sinh lựa chọn Đề tài có thể nghiên cứu về hiệu quả của ngân hàng chính sách Nhà nước, Chi nhánh ngân hàng chính sách trên địa bàn các tỉnh và Phòng giao dich ở các huyện Tiêu biểu như luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Châu – Trường ĐH Kinh tế và Quản trị kinh doanh- Đại học Thái
Nguyên “Ảnh hưởng tín dụng ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội đến giảm tỷ lệ nghèo tại huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang"; Khóa luận “Nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội huyện Mỹ Hào” – Đại học Kinh tế Quốc dân Tuy nhiên, các đề tài chỉ dừng lại ở việc thống
kê mô tả ảnh hưởng của tín dụng ưu đãi đến giảm tỷ lệ nghèo mà chưa đánh giá, phân tích được tác động cụ thể của các yếu tố đặc biệt là tác động của nguồn vốn
ưu đãi đối với thu nhập của hộ nghèo
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp lý luận: trên cơ sở phân tích các nguồn tài liệu, thực hiện phân tích lý thuyết thành các mặt, bộ phận, những mối quan
hệ theo lịch sử thời gian để nhận thức, phát hiện và khai thác những khía cạnh khác nhau của lý thuyết từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho
đề tài nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: là phương pháp thu thập thông tin theo một hệ thống câu hỏi cụ thể thông qua trò chuyện trao đổi với người được khảo sát, hỏi và trả lời trên giấy Có hai loại câu hỏi: câu hỏi mở và câu hỏi đóng Câu hỏi mở là câu hỏi mà yêu cầu người được nghiên cứu phải tự mình biểu đạt trả lời cho những câu hỏi đặt ra Câu hỏi đóng là câu hỏi mà người được hỏi chọn một trong những câu trả lời cho sẵn Điều tra bằng bảng hỏi nhằm khai thác một số vấn đề chi tiết, những số liệu cụ thể, hỗ trợ quá trình
Trang 11- Ngoài ra, trong phần cuối của bài viết còn sử dụng phương pháp suy luận logic để rút ra những kết luận chung và đưa ra một số kiến nghị.
f Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
Khóa luận cung cấp một bức tranh tổng quan về thực trạng hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc cũng như tác động của một số yếu tố tới thu nhập sau vay vốn của các hộ Từ đó, phân tích đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố tới thu nhập trung bình sau vay vốn Giúp cho các nhà quản lý, cơ quan đoàn thể đưa ra các chính sách và biện pháp hợp phù hợp nhằm tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động nhất là đối với những hộ nghèo Trong quá trình nghiên cứu mặc dù có rất nhiều cố gắng nhưng luận văn cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu để khoá luận được hoàn thiện hơn và có ý nghĩa thực tế
CHƯƠNG 1 HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
Trang 12CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
1.1 Tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH
1.1.1 Khái quát về NHCSXH
Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ nhằm tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo
NHCSXH là một tổ chức tín dụng của Nhà nước, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế ổn định xã hội, từng bước đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước đang phát triển có thu nhập thấp
Đó là tính ưu việt và cũng là điểm khác biệt của NHCSXH với các Ngân hàng thương mại Sự ra đời của NHCSXH có vai trò rất quan trọng là cầu nối đưa chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ đến với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác; tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; hộ nghèo và các đối tượng chính sách có điều kiện gần gũi với các cơ quan công quyền ở địa phương, giúp các cơ quan này gần dân và hiểu dân hơn
NHCSXH còn là thành viên chính thức của các tổ chức quốc tế: Hiệp hội tín dụng nông nghiệp nông thôn Châu Á Thái Bình Dương (APRACA) từ năm 2006; Hiệp hội Ngân hàng Phục vụ người nghèo (BWTP) từ năm 2007; Phong trào tín dụng vi mô toàn cầu (MCS) từ năm 1997 Ngoài ra, NHCSXH còn hợp tác với các
tổ chức tài chính và phát triển quốc tế (Chính phủ, phi Chính phủ) như: WB, ADB, AFD, JBIC, KFW, USAID, DFID, AusAID, DANIDA, thu hút vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng Hiện nay, NHCSXH đang hỗ trợ kỹ thuật cho Ngân hàng Chính sách CHDCND Lào (NAYOBY)
Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) có chức năng:
Trang 13- Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tổ chức và tầng lớp dân cư bao gồm tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; tổ chức huy động tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo.
- Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác; vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; vay tiết kiệm Bưu điện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam; vay Ngân hàng Nhà nước
- Được nhận các nguồn vốn đóng góp tự nguyện không có lãi hoặc không hoàn trả gốc của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các
tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các tổ chức phi Chính phủ trong nước và nước ngoài
- Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả các khách hàng trong và ngoài nước
- NHCSXH có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống liên ngân hàng trong nước
- NHCSXH được thực hiện các dịch vụ ngân hàng về thanh toán và ngân quỹ:-> Cung ứng các phương tiện thanh toán
-> Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước
-> Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ bằng tiền mặt và không bằng tiền mặt -> Các dịch vụ khác theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội
- Nhận làm dịch vụ uỷ thác cho vay từ các tổ chức quốc tế, quốc gia, cá nhân trong nước, ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác
Đối tượng phục vụ của NHCSXH là hộ nghèo, học sinh sinh viên, các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm, các đối tượng chính sách đi lao động xuất khẩu có thời hạn và các đối tượng khác theo quy định của Chính phủ
Trang 14Hoạt động của NHCSXH đã và đang được tiếp tục xã hội hóa, ngoài số cán
bộ trong biên chế thực hiện nhiệm vụ trong hệ thống NHCSXH từ Trung ương đến tỉnh, huyện còn có sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức hội, đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh), thực hiện nhiệm vụ ủy thác cho vay vốn thông qua trên 203 ngàn Tổ tiết kiệm và vay vốn tại khắp thôn, bản trong cả nước, với hàng trăm ngàn cán bộ không biên chế đang sát cánh cùng ngân hàng trong công cuộc "xóa đói giảm nghèo"
1.1.2 Tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH
1.1.2.1.Những vấn đề chung về hộ nghèo
a Khái niệm và chuẩn mực xác định nghèo đói
Nghèo đói là tình trạng của bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội
và phong tục tập quán của các địa phương
Theo Word Bank: "Nghèo là đói, thiếu nhà, bệnh không được đến bác sĩ, không được đến trường, không biết đọc, biết viết, không có việc làm, lo sợ cho cuộc sống tương lai, mất con do bệnh hoạn, ít được bảo vệ quyền lợi và tự do"
* Nghèo tương đối: Là sự thỏa mãn chưa đầy đủ nhu cầu cuộc sống của
con người như cơm ăn chưa ngon, quần áo mặc chưa đẹp, nhà ở chưa khang trang hoặc có sự so sánh người này với người khác hay giữa vùng này với vùng khác
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó
* Nghèo tuyệt đối: Là sự không thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con
người để duy trì cuộc sống như cơm ăn chưa no, áo không đủ mặc, nhà cửa không che được mưa nắng
Cựu giám đốc Ngân hàng Thế giới, Robert McNamra đã đưa ra khái niệm
nghèo tuyệt đối Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức
Trang 15độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta."
Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hóa-xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng Đây chính cách định nghĩa nghèo theo tình trạng sống Theo đó, ngoài thu nhập khi định nghĩa
“nghèo con người” cần lưu ý đến những khía cạnh khác như: cơ hội đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme- PCI) của quốc gia
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với đô la thế giới để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối
Đối với Việt Nam, Chính phủ đã 5 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian
từ 1993 đến cuối nay Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo, cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/ người/ năm) trở xuống là hộ nghèo, thu nhập bình quân từ 201.000 đồng/ người/ tháng đến 260.000 đồng/người/tháng là cận nghèo; ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/ người/ năm) trở xuống là
Trang 16hộ nghèo, thu nhập bình quân từ 261.000 đồng/ người/ tháng đến 338.000 đồng/ người/ tháng là cận nghèo.
Quyết định số 9/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giao đoạn 2011 – 2015 quy định: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ người/ tháng (4,8 triệu đồng/ người/ năm) trở xuống Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6 triệu đồng/ người/ năm) trở xuống Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 - 520.000 đồng/ người/ tháng Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000
- 650.000 đồng/người/tháng Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2011
b Đặc điểm của hộ nghèo
Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập bấp bênh: Mặc dù Việt
Nam đã đạt được những thành công rất lớn trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo, tuy nhiên cũng cần thấy rằng, những thành tựu này vẫn còn rất mong manh Thu nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp danh mức nghèo, do vậy chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng nghèo
và làm tăng tỷ lệ hộ nghèo Phần lớn thu nhập của người nghèo từ nông nghiệp Với điều kiện nguồn lực rất hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập của những người nghèo rất bấp bênh và dễ bị tổn thương trước những đột biến của mỗi gia đình và cộng đồng Nhiều gia đình tuy mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo nhưng vẫn giáp danh với ngưỡng nghèo đói vì vậy khi có dao động về thu nhập cũng có thể khiến họ trượt xuống ngưỡng nghèo Tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp cũng tạo nên khó khăn cho người nghèo
Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn: Đa số người
nghèo sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như vùng núi, vùng sâu, vùng xa hoặc ở các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung, do sự biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hán)
Trang 17khiến cho các điều kiện sinh sống Đặc biệt, sự kém phát triển về cơ sở hạ tầng của các vùng nghèo đã làm cho các vùng này càng bị tách biệt với các vùng khác Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, số người cứu trợ đột xuất hàng năm khá cao khoảng 1- 1,5 triệu người Hàng năm số hộ tái nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi nghèo vẫn còn rất lớn.
Đói nghèo tập trung trong khu vực nông thôn, khu vực thành thị phi chính thức: Đói nghèo là một hiện tượng phổ biến ở nông thôn, trình độ tay nghề thấp,
ít khả năng tiếp cận với nguồn lực trong sản xuất Trong khu vực thành thị, tuy tỷ
lệ nghèo đói thấp hơn và mức sống trung bình cao hơn mức chung cả nước, nhưng mức độ cải thiện đời sống không đều Đa số người nghèo thành thị đều làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, công việc không ổn định, thu nhập bấp bênh
Tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao trong các vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao: Các
vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người sinh sống, có
tỷ lệ nghèo đói khá cao Số người nghèo tập chung tại các vùng núi phía Bắc, Bắc Trung bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung Đây là những vùng có điều kiện sống khó khăn, địa lý cách biệt, khả năng tiếp cận với với các điều kiện sản xuất và dịch vụ còn nhiều hạn chế, hạ tầng cơ sở kém phát triển, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và thiên tai xảy ra thường xuyên Tỷ lệ hộ nghèo đặc biệt cao ở nhóm dân tộc ít người Trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã đầu tư và hỗ trợ tích cực, nhưng đời sống của cộng đồng dân tộc ít người vẫn gặp nhiều khó khăn và bất cập Mặc dù dân tộc thiểu số chỉ chiếm tỷ lệ ít trong tổng số dân cư xong lại chiếm tỷ lệ nghèo cao
c Sự cần thiết phải giảm nghèo
Đói nghèo là hiện tượng phổ biến của nền kinh tế thị trường và tồn tại khách quan đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển; đặc biệt đối với nước ta quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường xuất phát điểm là nước nghèo nàn lạc hậu tình trạng đói nghèo còn phổ biến Như vậy, hỗ trợ người nghèo để đạt được mục tiêu của xã hội Xóa đói giảm nghèo sẽ hạn chế được các
Trang 18tệ nạn xã hội, tạo sự ổn định công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Người nghèo được hỗ trợ để tự vươn lên, tạo thu nhập, từ đó làm tăng sức mua, khuyến khích sản xuất phát triển Chính vì vậy, quan điểm cơ bản của chiến lược phát triển xã hội mà Đảng ta đã đề ra là phát triển kinh tế, ổn định và công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc năm 2000,
189 quốc gia thành viên nhất trí thông qua Tuyên bố mục tiêu Thiên niên kỷ và cam kết đạt được tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào năm 2015 Đây là sự đồng thuận chưa từng có của các nhà lãnh đạo trên thế giới về những thách thức quan trọng toàn cầu trong thế kỷ 21 cũng như cam kết chung về việc giải quyết những thách thức này Trong 8 mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ của liên Hợp quốc mà Việt Nam cam kết thực hiện trong đó có mục tiêu về nghèo đói Hiện đang được Đảng và Nhà nước ta thực hiện rất tích cực và Việt Nam cam kết phấn đấu đến năm 2015 hoàn thành các mục tiêu của Liên Hợp Quốc trong đó
có chỉ tiêu giảm nghèo
Hỗ trợ người nghèo là một tất yếu khách quan Xuất phát từ lý do của sự đói nghèo có thể khẳng định một điều: mặc dù kinh tế đất nước có thể tăng trưởng nhưng nếu không có chính sách và chương trình riêng về XĐGN thì các hộ gia đình nghèo không thể thoát khỏi đói nghèo được Chính vì vậy, Chính phủ đã đề ra những chính sách đặc biệt trợ giúp người nghèo, nhằm thu hẹp dần khoảng cách giữa giàu và nghèo Tất nhiên Chính phủ không phải tạo ra cơ chế bao cấp mà tạo ra cơ hội cho hộ nghèo vươn lên bằng những chính sách và giải pháp Cụ thể là:
Điều tra, nắm bắt được tình trạng hộ nghèo và thực hiện nhiều chính sách đồng bộ: tạo việc làm, chuyển giao kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng với quy mô nhỏ ở những vùng nghèo, cho hộ nghèo vay vốn với lãi suất ưu đãi, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết để họ có thể tiếp cận với thị trường và hòa nhập với cộng đồng
Trang 19Tiếp tục triển khai mở rộng Chương trình mục tiêu Quốc gia XĐGN của Thủ tướng Chính phủ Hàng năm, Chính phủ giành ra một tỷ lệ trong tổng chi ngân sách để bổ sung quỹ cho vay XĐGN.
Kết hợp chương trình mục tiêu Quốc gia XĐGN với các chương trình kinh tế xã hội khác như: Chương trình khuyến nông, khuyến lâm; chương trình phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ; chương trình 134; chương trình 135; chương trình 5 triệu
ha rừng trồng; chương trình trợ giá, trợ cước vận chuyển; chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn; dân số kế hoạch hóa gia đình; xóa mù chữ…
Thực hiện một số chính sách khuyến khích và giúp đỡ hộ nghèo như: miễn giảm thuế, viện phí, học phí… đối với hộ nghèo không còn khả năng lao động tạo
ra nguồn thu nhập, Nhà nước trợ cấp hàng tháng và vận động các tổ chức đoàn thể, quần chúng, các nhà hảo tâm giúp đỡ dưới nhiều hình thức khác nhau
Mở rộng sự hợp tác quốc tế với các tổ chức Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ để giúp đỡ lẫn nhau về nguồn lực và trao đổi kinh nghiệm
Thực tế cho thấy có rất nhiều hình thức hỗ trợ để thực hiện chương trình XĐGN nhưng hình thức tín dụng có hoàn trả là có hiệu quả hơn cả Để thấy được tính ưu việt của nó chúng ta hãy đi tìm hiểu vai trò của kênh tín dụng ưu đãi của NHCSXH đối với hộ nông dân nghèo
1.1.2.2.Tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH
a Khái niệm và đặc trưng
Về bản chất, tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau và hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận giữa người đi vay và người cho vay Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế, trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho một
cá nhân hay tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng với lãi suất, cách thức vay mượn
và thu hồi món vay… Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hóa Trong điều kiện nền kinh tế còn tồn tại song song hàng hóa và quan hệ hàng hóa tiền tệ thì sự tồn tại của tín dụng là một tất yếu khách quan
Trang 20Tín dụng đối với người nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những người nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tuỳ theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng Tín dụng đối với người nghèo hoạt động theo những mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng, khác với các loại hình tín dụng của các Ngân hàng Thương mại mà nó chứa đựng những yếu tố cơ bản sau:
* Mục tiêu: Tín dụng đối với người nghèo nhằm vào việc giúp những người
nghèo đói có vốn phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống, hoạt động
vì mục tiêu XĐGN, không vì mục đích lợi nhuận
* Nguyên tắc cho vay: Cho vay hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn sản xuất
kinh doanh Hộ nghèo vay vốn phải là những hộ được xác định theo chuẩn mực nghèo đói do Bộ LĐ-TBXH hoặc do địa phương công bố trong từng thời kỳ Thực hiện cho vay có hoàn trả (gốc và lãi) theo kỳ hạn đã thoả thuận
* Điều kiện: Có một số điều kiện, tuỳ theo từng nguồn vốn, thời kỳ khác nhau,
từng địa phương khác nhau có thể quy định các điều kiện cho phù hợp với thực tế Nhưng một trong những điều kiện cơ bản nhất của tín dụng đối với người nghèo
đó là: Khi được vay vốn không phải thế chấp tài sản
b Vai trò của vốn tín dụng đối với hộ nghèo
Thứ nhất, vốn tín dụng của NHCSXH là động lực giúp người nghèo vượt qua nghèo đói Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, có nguyên nhân chủ yếu
và cơ bản là do thiếu vốn, thiếu kiến thức làm ăn Vốn, kỹ thuật, kiến thức làm ăn là
“chìa khoá” để người nghèo vượt khỏi ngưỡng nghèo đói Do không đáp ứng đủ vốn nhiều người rơi vào tình thế luẩn quẩn làm không đủ ăn, phải đi làm thuê, vay nặng lãi, bán lúa non, cầm cố ruộng đất, chặt phá rừng… mong đảm bảo được cuộc sống tối thiểu hàng ngày, nhưng nguy cơ nghèo đói vẫn thường xuyên đe dọa họ Mặt khác do thiếu kiến thức làm ăn nên họ chậm đổi mới tư duy làm ăn,
Trang 21bảo thủ với phương thức làm ăn cũ cổ truyền, không áp dụng kỹ thuật mới để tăng năng suất lao động làm cho sản phẩm sản xuất ra kém hiệu quả Thiếu kiến thức và
kỹ thuật làm ăn là một cản lực lớn nhất hạn chế tăng thu nhập và cải thiện đời sống
hộ gia đình nghèo Khi giải quyết được vốn cho người nghèo có tác động hiệu quả thiết thực
Trong ba yếu tố cơ bản để SXKD: vốn bằng tiền hoặc đất đai, lao động và kỹ thuật thì vốn bằng tiền đóng vai trò quan trọng nhất vì nếu có vốn bằng tiền, người sản xuất có thể mua sắm các tư liệu sản xuất khác kể cả đất đai Người nghèo đói
do nhiều nguyên nhân, như: Già, yếu, ốm đau, không có sức lao động, do đông con dẫn đến thiếu lao động, do mắc tệ nạn xã hội, do lười lao động, do thiếu kiến thức trong sản xuất kinh doanh, do điều kiện tự nhiên bất thuận lợi, do không được đầu tư, do thiếu vốn Trong thực tế ở nông thôn Việt Nam bản chất của những người nông dân là tiết kiệm cần cù, nhưng tiết kiệm, tích lũy thấp do thu nhập bấp bênh, nguyên nhân chính của nghèo đói là do không có vốn để tổ chức sản xuất, thâm canh, tổ chức kinh doanh Vì vậy, vốn đối với họ là điều kiện tiên quyết, là động lực đầu tiên giúp họ vượt qua khó khăn để thoát khỏi đói nghèo Nhờ nguồn vốn của Ngân hàng mà các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận được KHKT, công nghệ mới như các giống cây, con mới, kỹ thuật canh tác mới và cũng nhờ vay vốn mà hộ nghèo tiếp cận được với công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư
Khi có vốn trong tay, với bản chất cần cù của người nông dân, bằng chính sức lao động của bản thân và gia đình họ có điều kiện mua sắm vật tư, phân bón, cây con giống để tổ chức sản xuất thực hiện thâm canh tạo ra năng xuất và sản phẩm hàng hoá cao hơn, tăng thu nhập, cải thiện đời sống
Thứ hai, vốn của NHCSXH tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay nặng lãi, nên hiệu quả hoạt động kinh tế được nâng cao hơn Những người nghèo đói do hoàn cảnh bắt buộc hoặc để chi dùng cho sản xuất hoặc để duy trì cho cuộc sống họ là những người chịu sự bóc lột bằng thóc hoặc bằng tiền nhiều nhất của nạn cho vay nặng lãi hiện nay Chính vì thế khi nguồn vốn tín dụng đến tận tay
Trang 22người nghèo với số lượng khách hàng lớn thì các chủ cho vay nặng lãi sẽ không có thị trường hoạt động.
Thứ ba, vốn tín dụng của NHCSXH giúp người nghèo nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh
tế thị trường Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu
tư cho sản xuất kinh doanh để XĐGN, thông qua kênh tín dụng thu hồi vốn và lãi đã buộc những người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề
gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao Để làm được điều đó họ phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý từ đó tạo cho họ tính năng động sáng tạo trong lao động sản xuất, tích luỹ được kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế Mặt khác, khi số đông người nghèo đói tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hoá thông qua việc trao đổi trên thị trường làm cho
họ tiếp cận được với kinh tế thị trường một cách trực tiếp
Thứ tư, Góp phần trực tiếp vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thực hiện việc phân công lại lao động xã hội Trong nông nghiệp vấn đề quan trọng hiện nay để đi lên một nền sản xuất hàng hoá lớn đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất Đó là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và đưa các loại giống mới có năng suất cao vào áp dụng trong thực tiễn sản xuất và phải được thực hiện trên diện rộng Để làm được điều này đòi hỏi phải đầu tư một lượng vốn lớn, thực hiện được khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư những người nghèo phải được đầu tư vốn họ mới có khả năng thực hiện Như vậy, thông qua công tác tín dụng đầu tư cho người nghèo đã trực tiếp góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn thông qua áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra các ngành nghề dịch vụ mới trong nông nghiệp đã trực tiếp góp phần vào việc phân công lại lao động trong nông nghiệp và lao động xã hội
Thứ năm, Cung ứng vốn tín dụng ưu đãi cho người nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới Xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành Tín dụng cho người nghèo thông qua các quy định về mặt nghiệp vụ cụ thể của nó như việc bình xét công khai những người được vay vốn,
Trang 23việc thực hiện các tổ tương trợ vay vốn, tạo ra sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn thể chính trị xã hội, của cấp uỷ, chính quyền đã có tác dụng:
- Tăng cường hiệu lực của cấp uỷ, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo kinh
tế ở địa phương
- Tạo ra sự gắn bó giữa hội viên, đoàn viên với các tổ chức hội, đoàn thể của mình thông qua việc hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế của gia đình, quyền lợi kinh tế của tổ chức hội thông qua việc vay vốn
- Thông qua các tổ tương trợ tạo điều kiện để những người vay vốn có cùng hoàn cảnh gần gũi, nêu cao tính tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau tăng cường tình làng, nghĩa xóm, tạo niềm tin ở dân đồi với Đảng, Nhà nước
Kết quả phát triển kinh tế đã làm thay đổi đời sống kinh tế ở nông thôn, an ninh, trật tự an toàn xã hội phát triển tốt, hạn chế được những mặt tiêu cực, tạo ra được bộ mặt mới trong đời sống kinh tế xã hội và nông thôn
c Kinh nghiệm một số nước và bài học với Việt Nam
• Bangladesh:
Tại Bangladesh, ngân hàng Grameen (GB) là ngân hàng chuyên phục vụ
người nghèo, chủ yếu là phụ nữ nghèo Để phát triển, GB phải tự bù đắp các chi phí hoạt động Như vậy, GB hoạt động như các ngân hàng thương mại khác không được bao cấp từ phía Chính phủ GB thực hiện cơ chế lãi suất thực dương,
do vậy lãi suất cho vay tới các thành viên luôn cao hơn lãi suất trên thị trường GB cho vay tới các thành viên thông qua nhóm tiết kiệm và vay vốn GB cho vay không áp dụng biện pháp thế chấp tài sản mà chỉ cần tín chấp qua các nhóm tiết kiệm và vay vốn Thủ tục vay vốn của GB rất đơn giản và thuận tiện, người vay vốn chỉ cần làm đơn và nhóm bảo lãnh là đủ Nhưng ngân hàng có cơ chế kiểm tra rất chặt chẽ, tạo cho người nghèo sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả Để phục vụ đúng đối tượng người vay phải đủ chuẩn mực đói nghèo, nghĩa là hộ gia đình phải có dưới 0,4 acre đất canh tác và mức thu nhập bình quân đầu người dưới
100 USD/ năm GB được quyền đi vay để cho vay và được ủy thác nhận tài trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước, huy động tiền gửi, tiết kiệm của các thành viên,
Trang 24quản lý các quỹ của nhóm và được phát hành trái phiếu vay nợ GB hoạt động theo cơ chế lãi suất thực dương, được Chính phủ cho phép hoạt động theo luật riêng, không bị chi phối bởi luật tài chính và luật ngân hàng hiện hành của Bangladesh.
• Thái lan :
Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã tín dụng (BAAC) là ngân hàng thương mại quốc doanh do Chính phủ thành lập Hàng năm được Chính phủ tài trợ vốn để hỗ trợ vốn để thực hiện chương trình hỗ trợ vốn cho nông dân nghèo Những người có mức thu nhập dưới 1.000 Bath/ năm và những người nông dân có ruộng thấp hơn mức trung bình trong khu vực thì được ngân hàng cho vay mà không cần phải thế chấp tài sản, chỉ cần thế chấp bằng sự cam kết bảo đảm của nhóm, tổ hợp tác sản xuất Lãi suất cho vay đối với hộ nông dân nghèo thường được giảm từ 1-3%/ năm so với lãi suất cho vay các đối tượng khác Đến năm
2006, BAAC đã tiếp cận được 95% khách hàng là nông dân Sở dĩ có được điều này là một phần do Chính phủ đã quy định các ngân hàng thương mại khác phải dành 20% số vốn huy động được để cho vay lĩnh vực nông thôn Số vốn này có thể cho vay trực tiếp hoặc gửi vào BAAC nhưng thông thường các ngân hàng thường gửi BAAC
• Malaysia
Trên thị trường chính thức hiện nay của Malaysia, việc cung cấp tín dụng cho lĩnh vực nông thôn chủ yếu do ngân hàng nông nghiệp Malaysia (BPM) đảm nhận Đây là ngân hàng thương mại quốc doanh, được Chính phủ thành lập và cấp 100% vốn tự có ban đầu BPM chú trọng cho vay trung và dài hạn theo các dự án
và các chương trình đặc biệt Ngoài ra BPM còn cho vay hộ nông dân nghèo thông qua các tổ chức tín dụng trung và dài hạn theo các dự án và các chương trình đặc biệt Ngoài ra, ngân hàng còn có cho vay hộ nông dân nghèo thông qua các tố chức tín dụng trung gian khác như: Ngân hàng nông thôn và hợp tác xã tín dụng Ngoài ra, Chính phủ còn buộc các ngân hàng thương mại khác phải gửi 20,5% số tiền huy động được vào ngân hàng trung ương (trong đó có 3% dự trữ bắt buộc) để
Trang 25làm vốn cho vay đối với nông nghiệp - nông thôn BPM không phải gửi tiền dự trữ bắt buộc ở ngân hàng trưng ương và không phải nộp thuế cho Nhà nước.
• Ấn Độ
Việc cấp tín dụng cho người nghèo thông qua NHNo có các chi nhánh tận cấp huyện Việc giải ngân tín dụng ưu đãi được thực hiện thông qua “Tổ vay tự lực”, mỗi tổ có số thành viên từ 10-20 người, tất cả đến từ các gia đình khác nhau,
đa số là phụ nữ nghèo Hàng tháng, các thành viên phải nộp một số tiền nhất định
để làm quỹ, số tiền bao nhiêu là do các thành viên tự thỏa thuận Thông thường số tiền ban đầu từ 10-20 Rupi (khoảng 20-40 US Cent) Tiền tiết kiệm của các tổ viên được thu vào ngày tháng cụ thể ( thường là ngày thứ 10 của tháng) Số tiền này được gửi vào tài khoản tiết kiệm của NHTM (thường là NHNo) Hiện nay NHNo
Ấn Độ đóng vai trò là tổ chức xúc tiến tự lực và hỗ trợ thành lập và quản lý các tổ chức này Tổ chức tài chính vi mô đã thực hiện rất nhiều chương trình khác nhau đối với công tác xây dựng năng lực đối với Phụ nữ Phụ nữ được đào tạo để thảo luận nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến họ và nơi sinh sống
• Bài học đối với Việt Nam
Từ thực tế ở một số nước trên thế giới, với lợi thế của người đi sau, Việt Nam đã học hỏi và rút ra được nhiều bài học bổ ích cho mình làm tăng hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng đặc biệt là tín dụng ưu đãi Trong đó, vấn đề là
áp dụng như thế nào cho phù hợp với tình hình Việt Nam lại là vấn đề đáng quan tâm; bởi lẽ mỗi mô hình phù hợp với hoàn cảnh cũng như là điều kiện kinh tế của chính nước đó Vì vậy, khi áp dụng cần vận dụng một cách có sáng tạo vào các mô hình cụ thể của Việt Nam Sự sáng tạo như thế nào thể hiện ở trình độ của những nhà hoạch định chính sách Qua việc nghiên cứu hoạt động ngân hàng một số nước rút ra một số bài học có thể vận dụng vào Việt Nam
Nguồn vốn dành cho XDGN rất lớn, duy trì liên tục trong nhiều năm, trong
đó bao gồm nguồn vốn của Nhà nước và nguồn vốn viện trợ của nước ngoài Nguồn vốn viện trợ nước ngoài được thực hiện chủ yếu thông qua các tổ chức
Trang 26quốc tế, các cơ quan Liên Hợp Quốc Nguồn vốn vay của nước ngoài với lãi suất thấp hoặc không lãi với thời hạn dài Bên cạnh đó, cần huy động và phát huy nguồn vốn tiết kiệm trong nước (tiết kiệm trong nhân dân và các tổ chức kinh tế) Tín dụng ngân hàng cho hộ nghèo cần được trợ giúp từ phía Nhà nước Vì cho vay hộ nghèo gặp rất nhiều rủi ro Trước hết là rủi ro về nguồn vốn Khó khăn này cần có sự giúp đỡ từ phía Nhà nước Điều này các nước Thái lan và Malaysia
đã làm Sau đến là rủi ro về cho vay, có nghĩa là rủi ro mất vốn Nhà nước phải có chính sách cấp bù cho những khoản tín dụng bị rủi ro bất khả kháng mà không thu hồi được
Phát triển thị trường tài chính nông thôn và quản lý khách hàng cho những món vay nhỏ Ngân hàng thương mại kinh doanh tín dụng đối với những ngành
có tỷ suất lợi nhuận cao, tạo thuận lợi để hỗ trợ các hợp tác xã, ngân hàng làng, ngân hàng cổ phần… để tạo kênh dẫn vốn tới hộ nông dân, đặc biệt là nông dân nghèo Các ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ giám sát và điều hòa vốn tới các kênh dẫn vốn nêu trên, tạo ra định chế tài chính trung gian có thể đảm nhận dịch vụ bán lẻ tới hộ gia đình
Tiết giảm đầu mối quản lý: Các ngân hàng thúc đẩy để tạo nên các nhóm Liên đới trách nhiệm, cung cấp cho ban quản lý kiến thức khả năng quản lý sổ sách, giám sát món vay tới từng thành viên của nhóm… từ đó ngân hàng hạch toán cho vay theo từng nhóm chứ không tới từng thành viên
Thành lập tổ vay vốn, quy mô tổ từ 30-40 thành viên, các thành viên cùng có điều kiện kinh tế như nhau, cùng làng xóm, các thành viên vào tổ tự nguyện, hoạt động có quy chế rõ ràng Các thành viên đóng góp tiền tiết kiệm hàng tháng theo quy định về số tiền và ngày nộp, số tiền này gửi vào NHCSXH tại địa bàn Các dịch vụ cho vay và tiết kiệm nhanh chóng đơn giản cho phép các tổ chức cho vay gia tăng lượng khách hàng
Từng bước tiến tới hoạt động theo cơ chế lãi suất thực dương Lãi suất cho vay đối với người nghèo không nên quá thấp bởi vì lãi suất quá thấp sẽ không huy
Trang 27động được tiềm năng về vốn ở nông thôn, người vay vốn không chịu tiết kiệm và vốn được sử dụng không đúng mục đích, kém hiệu quả kinh tế.
Giải ngân trực tiếp số tiền vay cho các hộ vay , số tiền tùy theo nhu cầu các thành viên đăng ký, sau đó tổ họp bình xét căn cứ vào nhu cầu vay vốn để SXKD, khả năng trả nợ của từng hộ và có sự kiểm tra xác nhận của chính quyền địa phương
Quy mô cấp tín dụng: căn cứ đầu tiên để xét duyệt mức cho vay là nhu cầu vay vốn của hộ Nếu ngân hàng có đủ vốn và hộ vay có khả năng trả nợ thì cho vay với mức tối đa theo nhu cầu của hộ Giải ngân một lúc cho các thành viên vay vốn
Hỗ trợ cho vốn cho người nghèo, không phải thế chấp tài sản, không phải thu tiền tiết kiệm, không thu bất cứ một khoản lệ phí nào ngoài lãi suất Do vậy, cần phải có sự kiểm tra giám sát chặt chẽ kênh tín dụng này, tránh tiêu cực và nâng cao hiệu quả đồng vốn
Hoạt động của Ngân hàng phải công khai, minh bạch, đúng tự nguyện của hộ nghèo Thủ tục đơn giản, phục vụ ngân hàng “tại nhà” thành viên
Công cuộc xoá đói giảm nghèo ở mỗi nước đều có cách làm khác nhau, thành công ở một số nước đều bắt nguồn từ thực tiễn của chính nước đó Ở Việt Nam, trong thời gian qua đã bước đầu rút ra được bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới về việc giải quyết nghèo đói Bằng việc giải quyết những vấn đề còn tồn tại và tạo những hướng đi đúng đắn giữa các định chế tài chính phục vụ vốn cho người nghèo cùng với những giải pháp hợp lý sẽ giúp cho hộ nghèo có thêm vốn để đầu tư và mở rộng sản xuất vượt ra biên giới đói nghèo
1.2 Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH
Trang 281.2.1 Khái niệm về hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH
Hiệu quả tín dụng là một khái niệm tổng hợp bao hàm ý nghĩa toàn diện
về kinh tế, chính trị xã hội, an ninh quốc phòng Có thể hiểu hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo là sự thoả mãn nhu cầu về sử dụng vốn giữa chủ thể Ngân hàng và người vay vốn, những lợi ích kinh tế mà xã hội thu được và đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của Ngân hàng
* Xét về mặt kinh tế:
Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo trước hết ở vốn tín dụng ưu đãi của Ngân hàng chính sách xã hội được chuyền tải đến đúng đối tượng cần vốn và được sử dụng có hiệu quả, mang lại giá trị kinh tế thiết thực để người nghèo vay vốn có thu nhập, nâng dần mức sống, thoát khỏi ngưỡng cửa đói nghèo, hòa nhập cộng đồng.Trên cơ sở thúc đẩy sự phát triển kinh tế và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm ẩn trong nền kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ
lệ nghèo đói Đồng thời, giúp người nghèo xác định rõ trách nhiệm trong quan hệ vay mượn, tập trung sản xuất kinh doanh, tạo thu nhập để trả nợ ngân hàng, tránh sự hiểu nhầm đây là tín dụng cấp phát, cho không
Mặc dù, Ngân hàng chính sách xã hội cấp tín dụng không có mục đích thu lời như các ngân hàng thương mại khác Tuy nhiên, mục tiêu an toàn và chất lượng tín dụng cũng luôn luôn đặt ra là một trong những mục tiêu chính trong quản lý tín dụng Ở đây không có mối quan hệ mật thiết giữa rủi ro và sinh lời như các ngân hàng thương mại nhưng việc bảo toàn và phát triển vốn đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng Theo đó phải đảm bảo được thu hồi vốn (gốc và lãi) đúng thời hạn, giảm tối đa nợ quá hạn, nợ xấu khó đòi
Trang 29giúp hộ nghèo có vốn sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập Theo đó, góp phần giảm được bao nhiêu phần trăm (%) tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước? Giúp cho bao nhiêu hộ nghèo được vay vốn để sản xuất kinh doanh? Và góp phần như thế nào vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của đất nước? Giải quyết được thêm bao nhiêu việc làm cho lao động, góp phần thực hiện phân công lao động trong nông nghiệp và trong xã hội như thế nào?
Tín dụng cho hộ nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới, làm thay đổi cuộc sống ở nông thôn, an ninh, trật tự an toàn xã hội phát triển tốt, hạn chế được những mặt tiêu cực Tạo ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn; Tăng cường sự gắn bó giữa các hội viên với các tổ chức hội, đoàn thể của mình thông qua việc hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế gia đình Nêu cao tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường tình làng nghĩa xóm, tạo niềm tin của người dân đối với Đảng
và Nhà nước; Góp phần trực tiếp vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn thông qua áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra các ngành nghề, dịch vụ mới trong nông nghiệp đã góp phần thực hiện phân công lại lao động trong nông nghiệp và lao động xã hội
Trang 30Theo đó, tỷ lệ nợ quá hạn cao đồng nghĩa với việc nhiều khoản nợ vay bị khách hàng sử dụng sai mục đích, nhiều khoản nợ đến hạn nhưng vì nhiều lý do nên không thu hồi được Do vậy, không những nguồn vốn của ngân hàng bị ảnh hưởng (không thu hồi để quay vòng đúng hạn) mà những mục tiêu đặt ra của tín dụng đối với hộ nghèo là giúp hộ nghèo sử dụng vốn có hiệu quả, thoát nghèo và trả được nợ ngân hàng đã không thực hiện được Xét theo chiều ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp nghĩa là chất lượng tín dụng được nâng cao.
1.2.2.3.Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích
Trang 31Người vay sử dụng vốn đúng mục đích đã trở thành nguyên tắc quan trọng của ngân hàng nói chung Tuy vậy, không ít khách hàng sử dụng vốn sai mục đích
đã cam kết với ngân hàng, với động cơ thiếu lành mạnh và do đó dễ bị rủi ro Những khoản vay sử dụng sai mục đích phần lớn đều không mang lại hiệu quả kinh
tế xã hội như mong muốn của ngân hàng Tỷ lệ ngày càng cao thì hiệu quả càng thấp và ngược lại
1.2.2.4.Khả năng thu hồi vốn
Vì quan hệ tín dụng là quan hệ “vay- trả” giữa khách hàng với ngân hàng nên để chất lượng tín dụng tốt thì khả năng thu hồi vốn (bao gồm cả gốc và lãi) của ngân hàng phải cao Tuy nhiên trong quan hệ vay vốn với Ngân hàng chính sách xã hội, nhiều đối tượng khách hàng vay xong không biết sử dụng đem cất giữ để đến hạn mang đến trả nợ ngân hàng (thực tế này xảy ra trên địa bàn một số tỉnh miền núi) Như vậy, có thể coi là vốn của ngân hàng đã được hoàn trả nhưng chất lượng
về mặt kinh tế xét trên giác độ sử dụng vốn có hiệu quả là chưa đảm bảo Do vậy, nếu chỉ dựa vào tiêu chí này cũng chưa đảm bảo được chất lượng tín dụng được đánh giá tốt Vì vậy, có thể phải đề cập đến một số chỉ tiêu đánh giá khác sau đây:1.2.2.5 Số hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói:
_
Số hộ nghèo trong danh sách cuối kỳ
_
Số hộ nghèo trong danh sách đầu kỳ
di cư sang nơi khác
+
Số hộ nghèo mới vào danh sách trong
kỳ báo cáo
Là chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá hiệu quả của công tác tín dụng đối với
hộ nghèo Hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ cao hơn chuẩn mực nghèo đói hiện hành, không còn nằm trong danh sách hộ nghèo, có khả năng vươn lên hòa nhập với cộng đồng
Trang 32Với chỉ tiêu này cho thấy, vốn tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đóng góp vào việc làm giảm tỷ lệ hộ nghèo như thế nào Mục tiêu của tín dụng ưu đãi đối với người nghèo là giúp họ có vốn sản xuất, thoát nghèo để hòa nhập cộng đồng xã hội và hơn thế nữa là ổn định tình hình chính trị- xã hội Do vậy, tổng số hộ nghèo thoát khỏi ngưỡng nghèo hàng năm cao nghĩa là vốn của Ngân hàng chính sách xã hội đã được sử dụng hiệu quả Tuy nhiên, với chỉ tiêu này có thể không được đánh giá một cách chính xác, khách quan vì nhiều địa phương, vì nhiều lý do đã tăng số
hộ thoát nghèo để làm giảm tỷ lệ nghèo đói trên địa bàn mà thực tế không phải như vậy Đây là một chỉ tiêu đánh giá khá nhạy cảm và không dễ thực hiện để có được
số liệu một cách xác thực
Ngoài ra, do đặc thù của kênh tín dụng chính sách khác với tín dụng ngân hàng thương mại: các ngân hàng thương mại được quyền lựa chọn khách hàng nhưng với ngân hàng chính sách xã hội thì đã là đối tượng chính sách là chắc chắn phải tạo điều kiện để họ thụ hưởng chính sách Do vậy, Ngân hàng chính sách xã hội phải tìm đến khách hàng để cho vay, không được phép để trống địa bàn và bỏ sót đối tượng Vì vậy, phải tăng cường cho vay, phải đảm bảo mọi đối tượng chính sách thuộc đối tượng phục vụ đều được tiếp cận vốn ưu đãi của Nhà nước Chính vì
lẽ đó, để đề cập đến vấn đề chất lượng tín dụng hộ nghèo cũng cần đề cập đến chỉ tiêu: lũy kế số lượt hộ nghèo được vay vốn ngân hàng và tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn so với danh sách đã được điều tra, công bố
1.2.2.6.Lũy kế số lượt hộ nghèo được vay vốn Ngân hàng
Chỉ tiêu này cho biết số hộ nghèo đói được sử dụng vốn tín dụng ưu đãi trên tổng số hộ nghèo, đây là chỉ tiêu đánh giá về số lượng Chỉ tiêu này được tính lũy kế từ hộ vay đầu tiên đến hết kỳ cần báo cáo kết quả:
Tổng số lượt hộ
nghèo được vay
Lũy kế số lượt hộ nghèo được vay vốn cuối kỳ trước +
Lũy kế số lượt hộ được vay trong kỳ báo cáo1.2.2.7 Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn
Trang 33Đây là chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng đối với công tác tín dụng, bằng tổng
số hộ nghèo được vay vốn trên tổng số hộ nghèo trong danh sách chuẩn nghèo tại địa phương
Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn=
1.3 Nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH
1.3.1 Nhân tố chủ quan
Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi bản thân hộ nghèo Đặc trưng của hộ nghèo là thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm làm ăn, thiếu việc làm, đất canh tác ít và trình độ học vấn thấp dẫn đến hiệu quả SXKD hạn chế, sản phẩm sản xuất ra chi phí cao, chất lượng và khả năng cạnh tranh kém khó vượt qua được các rủi ro trong sản xuất và đời sống
Khoảng 91.53% số hộ nghèo là thiếu vốn Nông dân nghèo vốn tích lũy ít, làm không đủ ăn, thường xuyên phải đi làm thuê hoặc đi vay tư nhân để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày nên không có vốn để sản xuất, khó tiếp cận được vốn vay ngân hàng vì không có tài sản thế chấp
Kinh nghiệm làm ăn và kỹ thuật sản xuất rất hạn chế Khoảng 45.77% hộ
thiếu kinh nghiệm làm ăn Nguyên nhân là do họ thiếu kiến thức, kỹ thuật canh tác, áp dụng kỹ thuật không phù hợp với đất đai, cây trồng, vật nuôi; không có cơ hội học hỏi thêm kinh nghiệm, không được hỗ trợ cần thiết và một phần là do hậu quả của một thời gian dài họ sống trong cơ chế bao cấp
Người nghèo ngoài trồng trọt, họ không có vốn để phát triển chăn nuôi, làm
ngành nghề Thu nhập chỉ có 6.1% từ chăn nuôi, 5.4% từ ngành nghề Trồng trọt thì không thâm canh, lao động dư thừa, chỉ chờ vào làm thuê Trong ngành nghề thì thiếu tay nghề và trình độ học vấn thấp, rất ít có cơ hội tìm việc làm phi nông
Trang 34nghiệp, số ngày làm không nhiều, thu nhập thấp, công việc mang tính thời vụ cao, cạnh tranh quyết liệt.
Bình quân hộ nghèo chỉ có 2771 m2 đất nông nghiệp, khoảng 61% hộ nghèo thiếu đất, ở khu vực HTX thì có nhiều hộ không có khả năng thanh toán nợ cho HTX nên địa phương rút bớt ruộng đất đã giao cho họ nên càng thiếu ruộng Đồng thời một
số gia đình không có đủ khả năng thâm canh nên không dám nhận ruộng được giao.Bình quân hộ nghèo có 5.8 nhân khẩu, chỉ có 2.4 lao động Ít người làm đông người ăn dẫn đến thu nhập thấp và đời sống gặp nhiều khó khăn
Người nghèo hầu hết không có cơ hội học hỏi thêm kiến thức và khó tiếp cận thông tin, tỷ lệ đến trường thấp vì gặp khó khăn về tài chính và chi phí cơ hội con
em đến trường cao Tỷ lệ nghèo đói của những người chưa hoàn thành chương trình tiểu học là 40%
1.3.2 Nhân tố khách quan
1.3.2.1.Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo Những hộ sống ở đồng bằng nơi có cơ sở hạ tầng tốt, trình độ dân trí cao, khí hậu
ôn hòa, đất đai rộng thì vốn tín dụng hộ nghèo dễ có điều kiện phát huy hiệu quả cao và ngược lại những nơi có cơ sở hạ tầng thấp kém, giao thông đi lại khó khăn, đất đai ít, cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt thì vốn tín dụng phát huy hiệu quả không cao Người nghèo chịu thiệt thòi do sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh, giao thông không thuận tiện, vận chuyển sản phẩm đến chợ chi phí cao, điện đường trường trạm thưa và thiếu, thủy lợi tưới tiêu thấp kém
1.3.2.2.Điều kiện xã hội
Do tập quá ở một số vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn lạc hậu như: chăn nuôi gia súc, gia cầm không có chuồng trại, thả rông, không tiêm phòng dịch nên hiệu quả không cao Từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo Các hộ nghèo thường có số con đông hơn các hộ trung bình nhưng sức lao
Trang 35động ít, trình độ học vấn của chủ hộ và các thành viên trong gia đình thấp, nên sử dụng vốn kém hiệu quả Một số hộ nghèo do nhận thức còn hạn chế, xem nguồn vốn tín dụng là vốn cấp phát, cho không của Nhà nước nên sử dụng chủ yếu vào sinh hoạt trong gia đình, không đầu tư vào SXKD, vốn sử dụng không có hiệu quả, không trả nợ cho Ngân hàng.
1.3.2.3 Điều kiện kinh tế
Vốn tự có của hộ nghèo hầu như không có, chỉ có sức lao động nên vốn SXKD chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng cũng là một yếu tố làm giảm hiệu quả của vốn vay Cùng việc thiếu vốn SXKD thì việc lồng ghép tập huấn các chương trình như khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư,… hạn chế cũng góp phần làm giảm hiệu quả tín dụng
Điều kiện y tế giáo dục, thị trường cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tín dụng hộ nghèo Những nơi có trạm y tế, có đội ngũ y bác sĩ đầy đủ thì nơi đó việc chăm sóc sức khỏe cho người dân được đảm bảo, người dân có sức khỏe tốt đồng nghĩa với sức lao động tốt, có điều kiện SXKD tốt, sử dụng vốn có hiệu quả Trong
đó có vốn tín dụng đối với hộ nghèo và ngược lại Giáo dục có ý nghĩa quyết định đến việc sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả Nếu nơi nào có tỷ lệ người được học cao thì nơi đó dễ có điều kiện tiếp thu KHKT vào sản xuất, nơi đó con người có ý thức tốt hơn; SXKD có hiệu quả, chấp hành pháp luật nhà nước và thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng Tuy nhiên, thực trạng hiện nay có những vùng sâu, vùng xa, vùng điều kiện đi lại khó khăn tỷ lệ học sinh bỏ học nhiều Đó là chưa kể việc học sinh đi học ngồi nhầm lớp, có trường học ở miền núi tỷ lệ tốt nghiệp THPT thấp, trượt tốt nghiệp cao
Thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng hộ nghèo Nơi nào có chợ họp thường xuyên thì nơi đó kinh tế phát triển, hàng hóa sản xuất ra
dễ tiêu thụ, người dân có điều kiện tiếp cận được với KHKT, có điều kiện tiếp cận được với kinh tế thị trường
1.3.2.4.Chính sách nhà nước
Trang 36Sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế là một tác nhân quan trọng đối với sự ổn định và phát triển kinh tế Sự điều tiết của nhà nước đúng, kịp thời sẽ giúp môi trường kinh tế được lành mạnh hóa, hoặc ngược lại sẽ gây rối loạn thị trường Để Nhà nước có các chính sách hỗ trợ vốn cho các hộ nghèo, xã nghèo kịp thời, liên tục, có chính sách hướng dẫn hộ đầu tư vào lĩnh vực nào trong từng thời kỳ, xử lý rủi ro kịp thời cho hộ nghèo thì vốn vay dễ có điều kiện phát huy hiệu quả cao Sản phẩm làm ra của hộ nghèo nếu có thị trường tiêu thụ tốt thì dễ tiêu thụ
có lợi nhuận và hiệu quả đồng vốn cao và ngược lại Nếu Nhà nước có các chính sách đúng, kịp thời hỗ trợ hộ nghèo trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thì góp phần làm cho việc sử dụng vốn có hiệu quả Nhà nước phải đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng và nâng cấp đường nông thôn, các công trình thủy lợi và chợ Hỗ trợ sản xuất nông nghiệp bao gồm cung cấp giống mới và các loại vật tư nông nghiệp khác, tập huấn và khuyến nông để người nghèo có các điều kiện cần thiết để sử dụng vốn
có hiệu quả
Việc xác định đối tượng hộ nghèo vay vốn có nhiều bất cập Theo cơ chế phải
là hộ nghèo thiếu vốn vốn sản xuất kinh doanh mới được vay vốn từ NHCSXH Việc bình xét từ Ủy ban Nhân dân xã do Ban xóa đói giảm nghèo lập danh sách đơn thuần chỉ là danh sách hộ nghèo, trong đó nhiều hộ không có điều kiện và năng lực sản xuất, hộ nghèo thuộc diện cứu trợ xã hội hoặc có những hộ không thuộc hộ nghèo cũng có trong danh sách được vay vốn, điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo
Trang 37Kết luận chương 1
Trong chương 1, luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về nguyên nhân nghèo đói và hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH Qua nghiên cứu rút ra một số kết luận sau đây:
1 Đói nghèo do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là thiếu vốn Để góp phần thực hiện mục tiêu XĐGN thì một trong những giải pháp quan trọng là đầu tư vốn cho hộ nghèo thông qua tín dụng ưu đãi của NHCSXH
2 Tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH nhằm thực hiện chủ trương XĐGN của Đảng và Nhà nước Mở rộng quy mô tín dụng thì hiệu quả tín dụng càng phải được nâng lên Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo là mục tiêu quan trọng của NHCSXH.Việc nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo là yêu cầu khách quan, vừa giúp hộ nghèo vay vốn thoát đói nghèo, ổn định xã hội, đồng thời nâng cao uy tín vị thế của NHCSXH trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam
3 Hiệu quả tín dụng của NHCSXH phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan Việc nghiên cứu các nhân tố tác động này nhằm nắm được sự tác động tiêu cực và tích cực từ đó có các giải pháp khắc phục tác động tiêu cực, đẩy nhanh tốc độ XĐGN
4 Luận văn cũng đã đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH Những vấn đề được đề cập trong chương 1 sẽ là tiền đề, cơ sở cho việc nghiên cứu các chương tiếp theo của luận văn
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NHCSXH
PHÙ CỪ- VĨNH PHÚC
Yên Hòa là huyện nằm ở Phía Nam của tỉnh Vĩnh Phúc, nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng; Phía Nam giáp huyện Hưng Hà và Quỳnh Phụ (Thái Bình); Phía Đông giáp huyện Thanh Miện (Hải Dương); Phía Tây giáp huyện Tiên Lữ; Phía Bắc giáp huyện Ân Thi Diện tích đất tự nhiên 9.382,33ha, trong đó 6.500 ha đất nông nghiệp Dân số gần 80.000 người, được phân thành 14 xã, thị trấn; 54 thôn Về giao thông, sông Luộc là đường phân giới tự nhiên với tỉnh Thái Bình; quốc lộ 38B, đường 201, 202 hợp với hệ thống giao thông nông thôn được phân cấp, cải tạo làm cho Yên Hòa có địa thế quan trọng về quân sự và phát triển kinh tế- văn hóa với các địa phương trong và ngoài tỉnh
Từ khi tái lập huyện đến nay (1997), kinh tế huyện Yên Hòa đã có những chuyển biến tích cực Năm 2011, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 14,75% (kế hoạch 15%), tăng 1,55% so với năm 2010 Trong đó, giá trị sản xuất ngành Nông nghiệp tăng 7,44% (kế hoạch 6%); Công nghiệp- Xây dựng tăng 15,7% (kế hoạch 27%); Thương mại- dịch vụ tăng 21,3% (kế hoạch 25%) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch rõ nét: Năm 1997, nông nghiệp chiếm 69,74%; Công nghiệp- Xây dựng chiếm 9,89%; Thương mại- Dịch vụ chiếm 20,47% Năm 2011, các giá trị trên lần lượt là 38%, 30% và 32% Thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng lên: năm 1997
là 1.906.240 đồng; năm 2011 đạt 20,21 triệu đồng, tăng hơn 10 lần so với năm
1997 Giá trị thu trên 1ha canh tác năm 1997 là 15 triệu đồng, năm 2011 đạt 70 triệu đồng, tăng 4,6 lần so với năm 1997
Hiện nay, toàn huyện không còn hộ đói, số hộ nghèo giảm mạnh qua các năm, số hộ giàu, khá tăng lên nhanh chóng Năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 12% (theo chuẩn nghèo 2007-2010); từ năm 1997-2005, huyện đã xóa được 2.246
Trang 40nhà tranh vách đất Năm 2011, kịp thời hỗ trợ giáp hạt, tiền điện cho hộ nghèo; hỗ trợ sửa chữa xây mới cho 248 hộ nghèo về nhà ở; mua gần 12.00 thẻ BHYT cho người thuộc hộ nghèo, cận nghèo và đối tượng người cao tuổi; giải quyết việc làm cho 1.279 người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên được hưởng trợ cấp; đào tạo nghề ngắn hạn cho 700 lao động hàng năm, tạo việc làm mới cho trên 1.500 lao động…
Có được kết quả như trên có sự đóng góp to lớn của hệ thống tín dụng đặc biệt là tín dụng từ Phòng giao dịch NHCSXH Yên Hòa Vốn vay của ngân hàng đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế nhất là các hộ nghèo, cận nghèo có vốn để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần xóa đói, giảm nghèo
2.1 Khái quát về Phòng Giao dịch NHCSXH Yên Hòa- Vĩnh Phúc
Phòng giao dịch NHCSXH huyện Yên Hòa được thành lập theo Quyết định
số 390/QĐ- HĐQT ngày 10/05/2003 của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHCSXH, trên
cơ sở được tách ra từ Ngân hàng phục vụ người nghèo thuộc Ngân hàng No&PTNT huyện Yên Hòa- tỉnh Vĩnh Phúc Phòng giao dịch chính thức khai trương và đi vào hoạt động ngày 01/06/2003 Hoạt động của NHCSXH không vì mục đích lợi nhuận, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội nhằm thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi về lãi suất, đơn giản về thủ tục đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác
NHCSXH huyện Yên Hòa được thành lập trong điều kiện khó khăn về cơ sở vật chất, thiếu cán bộ chuyên môn Tuy nhiên, được sự chỉ đạo của Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện, ban Đại diện HĐQT và NHCSXH tỉnh Vĩnh Phúc, sự phối hợp chặt chẽ có hiệu quả với các ban ngành hữu quan, các tổ chức chính trị xã hội, cấp uỷ, UBND các xã, thị trấn đã giúp cho NHCSXH huyện Yên Hòa dần ổn định
và đi vào hoạt động, tổ chức bộ máy hoạt động ngày càng hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu của công tác Sau 9 năm hoạt động đó thực hiện các chương trình tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác đạt được những kết quả ban đầu rất quan trọng, góp phần phát triển kinh tế xã hội trong huyện