Kinh nghiệm phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội ở một số tỉnh trong nước và quốc gia trên thế giới 5
Trang 1LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Ngư ờ i hư ớ ng dẫ n khoa họ c: 1 PGS.TS Đoàn Xuân Thủy
2 TS Vũ Thị Thoa
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, những kết luận nêu trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận án
Hà Quang Tiế n
Trang 3Trang
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG
CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
32
2.1 Bản chất và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 32
2.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn một tỉnh và các nhân
tố ảnh hưởng
37
2.3 Kinh nghiệm phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội ở một số tỉnh trong nước và quốc gia trên thế giới
53
Chương 3: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
-XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
75
3.1 Những điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
75
3.2 Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến nay
80
3.3 Đánh giá chung về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc và những vấn đề đặt ra
113
Trang 4ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ CÁC TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC
4.1 Dự báo về bối cảnh và nhu cầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
121
4.2 Quan điểm và phương hướng cơ bản về nâng cao tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc
127
4.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc
130
Trang 5ASEAN - Tổ chức Hợp tác các quốc gia Đông Nam Á
BTGPMB - Bồi thường giải phóng mặt bằng
BHXH, BHYT - Bảo hiểm xã hội; Bảo hiểm y tế
GTSXCN - Giá trị sản xuất công nghiệp
GTKNNK - Giá trị kim ngạch nhập khẩu
GTKNXK - Giá trị kim ngạch xuất khẩu
OECD - Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
TNCs - Công ty xuyên quốc gia
TNHH - Trách nhiệm hữu hạn
R&D - Nghiên cứu và phát triển
UBND - Ủy ban nhân dân
UNCTAD - Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốcWTO - Tổ chức Thương mại thế giới
SXKD - Sản xuất kinh doanh
Trang 6Bảng 3.1. Giá trị vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 85
Bảng 3.2 Tăng trưởng của tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Bảng 3.4. Tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh
nghiệp FDI trong công nghiệp Vĩnh Phúc giai đoạn
Bảng 3.7 Tình hình đình công trong các doanh nghiệp FDI trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2008-2014
105
Bảng 3.8 Tình hình nợ bảo hiểm xã hội của các DN FDI trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1997-2014
107
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một nội dung hoạt độngtrong kinh tế đối ngoại của một quốc gia, góp phần quan trọng vào phát triểnkinh tế của mỗi quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng Nghị quyếtĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được khuyến khích phát triển,bình đẳng với các thành phần kinh tế khác Đại hội X tiếp tục khẳng định thuhút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài, cải thiện môi trường pháp
lý và kinh tế, đa dạng hoá các hình thức và cơ chế để thu hút mạnh nguồn lựccủa các nhà đầu tư nước ngoài vào những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanhquan trọng
Trong điều kiện hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh thực hiện côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, rất cần thiết phải tập trung huy động và sửdụng có hiệu quả các nguồn lực, trong đó FDI là nguồn lực quan trọng để đẩynhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêuđến năm 2020 Việt Nam trở thành một nước công nghiệp Đại hội XI nhấnmạnh thu hút đầu tư nước ngoài có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trườngnhằm phát triển mạnh công nghiệp theo hướng hiện đại, tiếp tục tạo nền tảngcho một nước công nghiệp và nâng cao khả năng độc lập, tự chủ của nền kinhtế; ưu tiên phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh thuộc các ngành côngnghiệp công nghệ cao, công nghiệp cơ khí, chế biến, công nghiệp năng lượng,luyện kim, hoá chất, công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông; pháttriển mạnh công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn;gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ, mở rộng xuất khẩu
Thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ IX, Quốc hội khoá X, tỉnh Vĩnh Phúcđược tái lập từ ngày 01-01-1997 Với khởi điểm là một tỉnh nghèo, thuần nông(nông nghiệp chiếm 56% GDP), Vĩnh Phúc có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn để
Trang 8thực hiện CNH, HĐH trên địa bàn Trên cơ sở chính sách đầu tư cởi mở thôngthoáng của Việt Nam và sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo chính sách đó của VĩnhPhúc, sau 17 năm tái lập, bằng sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ và nhân dântrong tỉnh, bằng các cơ chế, chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp, VĩnhPhúc đã đạt được nhiều kết quả, trở thành một tỉnh thu hút đầu tư trực tiếp củanước ngoài với lượng lớn và đã mang lại hiệu quả tích cực Đến hết năm 2013 cơcấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực (tỷ trọng công nghiệp chiếm60,39% trong GDP), kinh tế xã hội có bước phát triển vượt bậc, kinh tế duy trìtốc độ tăng trưởng cao, bình quân đạt 17,4%/năm giai đoạn 2006 - 2010, năm
2011 - 14,62%; năm 2012 - 2,52%; năm 2013 - 7,89% GDP bình quân đầungười năm 2013 đạt trên 54 triệu đồng, tương đương khoảng 2500 USD, đờisống nhân dân không ngừng được cải thiện Tuy nhiên, bên cạnh những tác độngtích cực đến phát triển kinh tế - xã hội, FDI ở Vĩnh Phúc cũng có những tác độngkhông mong muốn, hoạt động của các doanh nghiệp FDI ở Vĩnh Phúc đã vàđang đặt ra nhiều vấn đề thực tiễn cần được kiến giải về lý luận, tạo cơ sở khoahọc cho việc hoạch định những giải pháp chính sách, cơ chế cụ thể, thích hợptừng thời kỳ để FDI có tác dụng mạnh hơn đến phát triển kinh tế - xã hội theohướng bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường trong thời gian tới
Với lý do trên, việc nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhằm nâng caotác động tích cực, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của FDI đếnphát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa
thực tiễn Vì vậy, vấn đề “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc” được tác giả lựa chọn làm đề tài luận án
tiến sĩ kinh tế chuyên ngành kinh tế chính trị, nhằm góp phần giải quyếtnhững vấn đề bức xúc đang diễn ra trong thu hút, sử dụng FDI để phát triểnkinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc thời gian tới
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mụ c đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tác động của đầu tưtrực tiếp nước ngoài tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, thực hiện
Trang 9phân tích những tác động cụ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triểnkinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, vạch ra những mặtđược, chưa được, đề xuất những định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả củaFDI để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc theo hướngbền vững trong thời gian tới.
2.2 Nhiệ m vụ
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra của luận án là:
- Luận giải rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của FDI tới pháttriển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trên các phương diện tác động tích cực
và tác động tiêu cực
- Phân tích thực trạng tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hộicủa tỉnh Vĩnh Phúc thời gian qua, trong đó đặc biệt đi sâu làm rõ những tácđộng tích cực và những tác động tiêu cực, những vấn đề cấp bách đặt ra cầngiải quyết để phát huy những tác động tích cực và hạn chế những tác độngtiêu cực của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả FDI chophát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc đến 2020 và tầm nhìn 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đố i tư ợ ng nghiên cứ u
Luận án có đối tượng nghiên cứu là những tác động của đầu tư trực tiếpnước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội thể hiện thông qua những thay đổicủa các mặt đời sống kinh tế - xã hội như tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơcấu kinh tế, việc làm, môi trường… dưới ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nướcngoài Để làm rõ đối tượng nghiên cứu, trong luận án sẽ tiến hành luận giảinhững vấn đề có liên quan chặt chẽ tới tác động của FDI tới phát triển kinh tế
- xã hội như bản chất, đặc điểm, vai trò của FDI, mối quan hệ giữa FDI vớiphát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh và những quan hệ kinh tế - xã hội
có liên quan
Trang 103.2 Phạ m vi nghiên cứ u
- Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng tácđộng của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc,trong đó có tính tới việc điều chỉnh địa giới hành chính của tỉnh theo Nghịquyết của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, số 15/2008/NQ-QH12 ngày 29tháng 5 năm 2008 “Về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội
xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luậ n củ a luậ n án là quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về mở cửa vàhội nhập kinh tế quốc tế, các văn kiện của Đại hội Đảng VII, VIII, IX, X, XI
và các hội nghị Trung ương; Luật Đầu tư, Luật Đầu tư nước ngoài; đồng thờitham khảo, kề thừa những kết quả nghiên cứu của các tổ chức, học giả trongnước và quốc tế về đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động của FDI tới pháttriển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh
4.2 Phư ơ ng pháp nghiên cứ u
Cơ sở phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Luận án sử dụng chủ yếu các phương phápnghiên cứu: trừu tượng hóa khoa học; đi từ trừu tượng tới cụ thể; phươngpháp nghiên cứu hệ thống; tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, đồng thờikết hợp sử dụng các phương pháp tổng kết, phân tích và thực tiễn để tìm ranhững đặc trưng của vấn đề nghiên cứu và tính quy luật của đối tượng nghiêncứu Đồng thời cụ thể qua các chương:
Chương 1: Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích để đánh giá về
quan điểm của các học giả và trường phái lý luận về vấn đề nghiên cứu, từ đó
Trang 11rút ra những vấn đề đã được nghiên cứu đầy đủ và các vấn đề cần nghiên cứu
bổ sung và nghiên cứu mới
Chương 2: Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để rút ra
những khái niệm cơ bản và luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về tác độngcủa FDI đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh ở Việt Nam Đồngthời sử dụng phương pháp nghiên cứu đánh giá thực tiễn thu hút, sử dụng,phát huy tác động tích cực của FDI tại một số quốc gia và địa phương trongnước để rút ra bài học cho tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp,
nhằm làm rõ thực trạng tác động cụ thể của FDI đến phát triển kinh tế - xã hộitrên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, rút ra những kết quả tích cực, tác động tiêu cực
và nguyên nhân
Chương 4: Sử dụng phương pháp khái quát hóa những vấn đề đã
nghiên cứu ở chương hai và chương ba cùng với đánh giá dự báo về bối cảnh
và nhu cầu về vốn FDI cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc để rút ranhững quan điểm định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tác động củaFDI tới phát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc
5 Những đóng góp mới của luận án
- Luận giải khái niệm tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội;
bổ sung làm rõ thêm về tác động hai mặt của FDI đến phát triển kinh tế - xãhội trên địa bàn tỉnh theo các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường
- Phân tích, đánh giá và luận giải rõ thêm những tác động cụ thể củaFDI tới phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1997 - 2014, baogồm các tác động tích cực của FDI tới tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơcấu kinh tế, công nghệ sản xuất, kết cấu hạ tầng, mở rộng kinh tế đối ngoại,nguồn thu ngân sách, việc làm, môi trường cùng một số tác động tiêu cực vềkinh tế, xã hội, môi trường các nguyên nhân của những tác động đó
- Đưa ra những phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy cóhiệu quả tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh VĩnhPhúc đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 Những giải pháp đã đề xuất bao gồm:
Trang 12Định kỳ đánh giá hiệu quả của từng dự án và hiệu quả của FDI đối với pháttriển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc để có chương trình điều chỉnh kịp thời; Tiếptục hoàn thiện công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch pháttriển các ngành kinh tế, quy hoạch các khu, cụm công nghiệp đến năm 2020với tầm nhìn 2030; Phối hợp giữa địa phương với nhà đầu tư trong việc xâydựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; Nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiếnđầu tư, lựa chọn dự án đầu tư với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; Pháttriển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thu hút và sử dụng hiệu quả FDI đểphát triển kinh tế - xã hội bền vững; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản
lý của Nhà nước trong việc tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả của FDItrong phát triển kinh tế - xã hội
6 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Luận án góp phần vào việc nâng cao nhận thức về vai trò to lớn, lâu dàicủa FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, Vĩnh Phúcnói riêng Đề xuất triển khai các giải pháp để đẩy mạnh thu hút và sử dụng cóhiệu quả nguồn FDI phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc trong thờigian tới Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo hữu íchcho các đơn vị cơ quan nghiên cứu và hoạch định chính sách về FDI, có thể
sử dụng tham khảo để giảng dạy các chuyên đề kinh tế về FDI trong các cơ sởđào tạo đại học và sau đại học
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận án gồm 4 chương, 11 tiết
Trang 13CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1 Các công trình nghiên cứu của nước ngoài
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả và tổ chứcnước ngoài về vấn đề FDI và tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hộicủa các quốc gia, địa phương nhập khẩu FDI Những công trình tiêu biểu trongthời gian gần đây bao gồm:
Tác phẩm của David O.Dapice, “Nền kinh tế Việt Nam: Câu chuyện thành công hay tình trạng lưỡng thể bất thường? Một phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ” [24], bên cạnh trình bày về những tác động tích cực, đã
đề cập tới một số những ảnh hưởng khác của FDI đối với phát triển kinh tế - xãhội Việt Nam, biểu hiện thông qua xu thế tập trung đầu tư vào các ngành tạo ítviệc làm, được bảo hộ cao
Trong bài phân tích của Institute of International economics “FDI in Developing Countries and Economies in Transition: Opportunities, Dangers, and New Changes”, (Đầu tư nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển và
các nền kinh tế đang chuyển đổi: Cơ hội, thách thức và những đổi mới) [103],khi phân tích về FDI đối với các nước đang phát triển đã chỉ ra những tácđộng trái chiều của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận
Từ phân tích một số điểm nổi bật của đầu tư nước ngoài tại các nước đangphát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi như FDI có được sự tăng trưởngvượt bậc từ những năm 1990, vốn đầu tư nước ngoài FDI chiếm tỉ lệ lớn nhất
và là nguồn vốn ổn định nhất trong các dòng vốn tư nhân như dòng nợ, dòngvốn vay ngân hàng thương mại, trái phiếu và các dòng vốn khác, sự phân phốicủa vốn đầu tư nước ngoài tới các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế
Trang 14đang chuyển đổi là không đồng đều, đã đề cập đến vấn đề tác động của FDItới phát triển, bao gồm:
Thứ nhất, tạo ra dòng tài chính phụ thêm của các nhà đầu tư nước ngoài
từ đó tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ tại nước nhập khẩu FDI
Thứ hai, có ảnh hưởng không tốt tới thị trường của nước nhập khẩu FDI
do các nhà đầu tư nước ngoài đến từ các thị trường quốc tế, nơi đang diễn racạnh tranh không hoàn hảo, từ đó gây ra những khó khăn, thách đố đối vớidoanh nghiệp (DN) của nước nhập khẩu FDI
Thứ ba, vốn đầu tư nước ngoài FDI góp phần thúc đẩy tiết kiệm nội địa
và cung cấp thêm hiệu quả trong quản lý, marketing, và công nghệ để nângcao năng suất lao động
Thứ tư, sử dụng hiệu quả FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn đốivới nước nhập khẩu Mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế (Mô hìnhMaign của FDI và phát triển) được thể hiện thông qua sự gia tăng đầu tư sảnxuất kinh doanh (SXKD) của các DN nước ngoài Mặc dù FDI có thể có mộttác động rõ ràng, tích cực tới sự phát triển của nước tiếp nhận, song cũng có thểtạo ra một số tác động tiêu cực như trở thành nhân tố thúc đẩy sự hình thànhtình trạng độc quyền nhóm thông qua thiết lập và mở rộng DN kiểu gia đình, từ
đó thu hẹp khả năng gia nhập thị trường của một số DN của nước tiếp nhận
Từ đó để phát huy vai trò tích cực của FDI, nước nhập khẩu FDI khôngnhững cần có chính sách tăng cường thu hút FDI, mà còn phải có chính sáchchủ động định hướng FDI theo hướng hiệu quả Lợi ích và cơ hội của cácdoanh nghiệp nước ngoài là kiểm soát công nghệ, quyền sở hữu thương hiệu,đạt được qui mô kinh tế nhờ hoạt động hợp tác trong đầu tư và một số tài sản
vô hình khác nhận được từ các DN nước ngoài chuyên nghiệp trong quản lý
và tổ chức Tuy nhiên các DN nước ngoài cũng phải đối mặt với những rủi ro,bất lợi trong sử dụng lao động nội địa, chịu ảnh hưởng không nhỏ từ phía cácmối quan hệ cộng đồng tại địa phương, thị hiếu và văn hóa truyền thống tạinước tiếp nhận
Trang 15Bài phân tích của ROBERT E LIPSEY and FREDRIK SJOHOLM, The Impact of Inward FDI on Host Countries: Why Such Different Answers? (Tác
động của FDI lên nước chủ nhà: Tại sao có những tác động khác biệt?) [117],
đã đề cập tới nhiều tác động của FDI tới nước chủ nhà Theo tác giả, nhìnchung thì các DN có vốn đầu tư nước ngoài có thể được tiếp cận với côngnghệ cao hơn, từ đó nâng cao được chất lượng sản phẩm và dịch vụ mà có giáthành thấp hơn, với năng suất cao hơn và kết quả là phúc lợi tiêu dùng caohơn Một khả năng khác có thể là đầu tư nước ngoài góp phần làm tăng vốn
cổ phần của nước chủ nhà, đồng thời thúc đẩy mức sản lượng đầu ra
Với những tác động nhất định tất yếu tới sự tăng trưởng kinh tế của nướcchủ nhà, Carkovic và Levine [116] đã chỉ ra rằng không một tác động cụ thểnào của FDI được thể hiện rõ trong thời gian dài, ví dụ như khảo sát trong giaiđoạn 1960 - 1995 và chỉ có một số tác động nổi bật nhưng mang tính nhất thờitrong khoảng thời gian 5 năm liên tiếp Không có một tài liệu cụ thể nào chỉ
ra được những biến số phù hợp hàm chứa tác động của FDI lên tăng trưởngkinh tế
Nghiên cứu của Todo và Miyamoto khác biệt so với các nghiên cứu khác
ở chỗ miêu tả được các biến số của FDI như một con số tuyệt đối của FDItrong một lĩnh vực Họ đã chứng minh được rằng phương pháp này liên quanchặt chẽ tới thị trường chứng khoán nước ngoài và như vậy nó được ưu tiênhơn cổ phần của họ trong ngành Kết quả đã chỉ ra một tác động tích cực củaFDI lên năng suất lao động tại các DN nội địa sau khi thực hiện quản lýnghiên cứu thị trường và đào tạo lực lượng lao động
Báo cáo tại hội thảo của OECD: OECD-ILO Conference On Corporate
Social Responsibility, Report: The Impact of Foreign Direct Investment On Wages And Working Conditions (Tác động của đầu tư nước ngoài lên tiền
lương và điều kiện làm việc) [107], đã khẳng định rằng đầu tư trực tiếp nướcngoài đã trở thành một lĩnh vực năng động nhất của nền kinh tế thế giới trongnhiều thập kỷ gần đây Cổ phiếu toàn cầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài đãtăng từ 8% trong năm 1990 lên tới 24% trong năm 2006 Sự tăng trưởng mạnh
Trang 16mẽ này đã được cấu thành bởi nhiều thay đổi về chất Mặc dù một số lượng lớnđầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đổ vào các nước khối OECD, nhưng tầmquan trọng của mối liên hệ giữa các quốc gia ngoài OECD với đầu tư trực tiếpnước ngoài vẫn gia tăng không ngừng Báo cáo đã chỉ ra tác động tích cực củaFDI đến phát triển kinh tế - xã hội các nước đang phát triển, bao gồm:
Thứ nhất, FDI đã trở thành nguồn tài chính chủ yếu từ bên ngoài cho cácquốc gia đang phát triển Nhiều nước ngoài khối OECD cũng trở thành cácnhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hiệu quả và điều này được chứng minh bởicon số tăng lên gần gấp đôi của cố phiếu của họ tại thị trường chứng khoántoàn cầu từ năm 1990 tới năm 2005
Thứ hai, vai trò ngày càng quan trọng của FDI tại các quốc gia đang pháttriển đã mở ra những kỳ vọng mới về tiềm năng nhằm xây dựng một quy trìnhphát triển tại các quốc gia này, ví dụ như, các nền kinh tế nội địa có thể hưởnglợi từ FDI thông qua việc tạo ra những công việc chất lượng cao, từ đó trảlương cao hơn và điều kiện làm việc cũng tốt hơn các DN trong nước Tuynhiên, có một điều không chắc chắn rất đáng lưu tâm và hiện đang tranh cãi làtrong thực tế có nên coi các DN nước ngoài có là một nhân tố có tác độngđiều tiết sự gia tăng của tiền lương và cải thiện điều kiện làm việc hay không.Báo cáo này tổng kết một số vấn đề liên quan tới vấn đề trên, đó lànghiên cứu khảo sát đầu tiên về những tác động của thị trường lao động củađầu tư trực tiếp nước ngoài và đưa ra những kết quả từ nghiên cứu này củaOECD Nhìn chung, nghiên cứu này chỉ ra rằng các công ty đa quốc gia(MNEs) có xu hướng tăng tiền lương tại các quốc gia mà họ hợp tác đầu tư.Tác động tích cực của tiền lương có xu hướng tập trung vào các lao độngđược tuyển trực tiếp bởi các DN nước ngoài Bên cạnh đó cũng có một ảnhhưởng tích cực nhỏ tới tiền lương của lao động nội địa tham gia vào chuỗicung ứng của các DN này Những tác động tới gia tăng tiền lương được thểmạnh mẽ hơn ở các quốc gia đang phát triển so với các quốc gia phát triển, cóthể do nguyên nhân khoảng cách về công nghệ giữa DN nước ngoài và DNtrong nước là lớn hơn so với trong cùng một nước
Trang 17Mặc dù các điều kiện làm việc tại các DN nước ngoài có xu hướng khácbiệt so với các DN nội địa, tuy nhiên các DN nội địa không nhất thiết phảitheo đuổi dập khuân cách tiếp cận của các DN nước ngoài.
Báo cáo khẳng định rằng, có nhiều nghiên cứu về những ảnh hưởng lênthị trường lao động của các MNEs, có bằng chứng để xác định rằng FDI làmột kênh tiềm năng để nâng cao mức sống cơ bản cho người lao động Từ đónêu ra gợi ý cho các Chính phủ nên nỗ lực tạo ra một sân chơi cho các nhàđầu tư nước ngoài để trợ giúp về mặt kinh tế cũng như xã hội cho các hìnhthức đầu tư tiềm năng Một thực tế cho thấy tác động của các MNEs lên tiềnlương và điều kiện làm việc là không giống nhau theo những cách không giảnđơn trong các loại hình đầu tư, giữa các nhóm lao động và môi trường làmviệc nội địa cũng chỉ ra rằng các Chính phủ và nhà đầu tư có thể đánh giánhằm nâng cao hiệu quả của FDI tới sự phát triển kinh tế và xã hội Có nhiềusáng kiến hữu ích về những phương pháp đánh giá của Chính phủ nhằmchuẩn hóa lực lượng lao động và những sáng kiến của tư nhân cũng như cộngđồng nhằm nâng cao trách nhiệm hành vi trong kinh doanh
Tác giả Tulus Tambunan trong tác phẩm The Impact Of Foreign Direct Investment On Poverty Reduction A Survey Of Literature And A Temporary Finding From Indonesia, (Tác động của FDI lên xóa đói giảm nghèo ở
Indonesia) khi phân tích kinh nghiệm lâu đời tại Indonesia trong suốt giaiđoạn Chính phủ thể chế mới ( the New Order government) đã khẳng địnhrằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tạo ra những đóng góp nhất định cho
sự phát triển kinh tế - xã hội Trong đó, tác động của FDI là tích cực hay tiêucực tới đói nghèo tại nước chủ nhà tùy thuộc rất lớn vào bối cảnh mà hoạtđộng đầu tư đó nhằm vào và kết quả của các hoạt động kinh tế Điều này đặcbiệt đúng với các chính sách mà mang lại hiệu quả cho người nghèo từ FDI,
dù trực tiếp hay gián tiếp Trong quá trình thực hiện các chính sách mở cửacủa Indonesia đối với FDI, Chính phủ nước này đã đưa ra những ưu đãi đáng
kể Tuy nhiên, ở cũng thời điểm đó, Chính phủ Indonesia cũng thiết lập cácchính sách và điều lệ nhằm tối ưu hóa lợi ích từ FDI cho người nghèo, hoặc ít
Trang 18nhất có thể bảo vệ họ khỏi những tác động tiêu cực từ các DN nước ngoài.Các chính sách đó bao gồm cả sự đóng cửa một số lĩnh vực nhất định, một sốngành công nghiệp, và một số hoạt động của FDI, cũng như những rào cản gianhập thị trường Chính phủ nước này ưu tiên các chính sách nhằm đảm bảothu nhập cho lao động địa phương cũng như phát triển tại cộng đồng mà có sựhợp tác với các DN nước ngoài.
Cho đến nay vẫn chưa đủ bằng chứng chứng về tính hiệu quả của chínhsách và quy định mở cửa của Chính phủ Indonesia về nhận vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cũngnhư tác động tiêu cực của FDI đối với các hoạt động kinh tế trong nước Mộttrong số các tác động tiêu cực của FDI thường biểu hiện ra thông qua sự thaythế các DN trong nước bởi các DN nước ngoài và hậu quả của những ưu đãidành cho FDI thường tạo ra những méo mó, bất ổn trong thị trường nội địađầu ra và vào Từ đó, cần phải nghiên cứu bao quát bổ sung, đặc biệt ở tầm vi
mô, để trả lời các câu hỏi về chiến lược phát triển lâu dài nhằm thu hút đầu tưnước ngoài, những tác động tích cực cũng như tiêu cực của FDI lên sự pháttriển kinh tế bền vững của nước chủ nhà, hay vai trò của FDI trong xóa đóigiảm nghèo tại nước nhận đầu tư [109]
Luận án tiến sĩ của Faramarz AKARAM, Foreign Direct Investment in Developing Countries: Impact on Distribution and Employment (Đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển: Tác động vào phân phối và việclàm) [105], được thực hiện tại Khoa kinh tế và khoa học xã hội tại Đại họcFribourg, Switzerland Trong luận án đã chứng minh rằng, lý thuyết tân cổđiển truyền thống không cho phép hiểu được những tác động của đầu tư nướcngoài tới nước chủ nhà trong bối cảnh toàn cầu hiện đại đã và đang định hình
kể từ khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ Nguyên nhân chính là thị trường,
dù là thị trường cạnh tranh, cũng không thể tự điều chỉnh Do đó, lý thuyết tân
cổ điển cho thấy sự thiếu sót để giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội cơ bản.Kinh tế học hiện đại về cơ bản là lý luận về kinh tế thị trường có sự điều tiếtcủa nhà nước
Trang 19Những tác động của FDI tới nền kinh tế của các quốc gia đang phát triểnđược thực hiện dựa trên các chi phí và lợi ích của nó FDI có xu hướng đẩymức lương tăng lên FDI cũng đóng vai trò tháo gỡ những nút thắt do nhữngnguyên nhân về công nghệ tại nước chủ nhà FDI cũng đóng góp hoàn toànvào nguồn đầu tư nội địa FDI đồng thời chiếm một vai trò không nhỏ trongnguồn tài chính nước ngoài.
Thị trường với các chính sách tự do và cởi mở là điều kiện để thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được xem như một nguồn thay thế nếu chủ
sở hữu của các phần vốn chủ sở hữu có quyền quản lý hoạt động của mộtdoanh nghiệp Như vậy FDI có thể cung cấp những nguồn vốn phụ thêm vàgóp phần giải quyết vấn đề thâm hụt vốn nội địa Từ đó, FDI đóng vai trò bổsung cho nguồn vốn nội địa
Một nguyên nhân cần thu hút FDI là mối liên hệ giữa nhu cầu về kết cấu
hạ tầng xã hội và sự phát triển của NNL FDI gắn liền với tự do hóa thươngmại, tư nhân hóa, quốc tế hóa và toàn cầu hóa
Một vấn đề trong quản lý tài chính nước ngoài và cụ thể là làm thế nàoFDI có thể được phối hợp với các chính sách phát triển tại nước chủ nhà.Một nỗ lực đáng quan tâm được tạo ra nhằm chỉ ra những vấn đề cơ bản và
cụ thể liên quan tới đầu tư trực tiếp nước ngoài và để tìm ra những tác độngcủa FDI tạo lợi ích cho các nhà đầu tư cũng như sự phát triển bền vững củanước chủ nhà
Các nhà kinh tế học tân cổ điển nhấn mạnh rằng sự giàu có của nước chủnhà luôn luôn có thể được gia tăng nhờ FDI, khi mà sự giàu có của chủ sởhữu có thể giảm đi trong nước, thì có thể tăng lên khi đầu tư ra nước ngoài.Các xu hướng của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các hoạt động kinh
tế quốc tế, đó là: các nước với một nền kinh tế phát triển cũng như các nềnkinh tế đang phát triển tại Châu Á, Bắc Mĩ, Châu Mĩ Latin, Châu Phi và Châu
Âu đã và đang khuyến khích tự do hóa các dòng chảy của FDI FDI có thểchảy vào các lĩnh vực lao động chuyên sâu hoặc vốn chuyên sâu Tính chất
Trang 20địa lý của FDI là một vấn đề khác nữa Mức độ FDI cao hơn được thu hút bởicác thế lực chính trị và kinh tế phát triển.
Xu hướng FDI trên toàn cầu đó là, theo lý thuyết kinh tế thực sự làmchủ, thì FDI trở thành công cụ chính của tăng trưởng và phát triển kinh tế
Theo Phonesay Vilaysack [26] trong luận án tiến sỹ, Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, FDI có tác động
tích cực tới kinh tế - xã hội nước nhập khẩu như bổ sung nguồn vốn, cân bằngcán cân thanh toán, kích thích chuyển giao công nghệ, đào tạo phát triển nhânlực, tạo việc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng thị trườngxuất khẩu Tác động tiêu cực như gây thiệt hại cho nước nhận đầu tư vớinhiều yêu sách ưu đãi, gây ra tình trạng chảy máu chất xám từ các DN trongnước đến các DN FDI, chuyển giao công nghệ cũ năng suất thấp, gây ra sựphát triển không đồng đều giữa các vùng và có thể tác động xấu tới môitrường sinh thái
Bài viết Policy Brief: The Social Impact of Foreign Direct Investment,
(Chính sách tóm lược: Tác động xã hội của đầu tư nước ngoài) [108], đã nhấnmạnh vai trò to lớn của FDI tại các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, từ
đó đã không ngừng gợi mở những kỳ vọng về đóng góp tiềm năng tới sự pháttriển đó FDI có thể mang tới những lợi ích đáng kể bằng việc tạo ra nhữngcông việc có chất lượng cao và bằng việc giới thiệu dây chuyền sản xuất cùngvới các phương thức quản lý hiện đại Nhiều Chính phủ đã và đang hoàn thiện
hệ thống chính sách nhằm thu hút đầu tư nước ngoài
Mặc dù một số lượng lớn các hợp đồng đầu tư nước ngoài tập trung tạicác nước thuộc khối OECD, nhưng vốn đầu tư nước ngoài cũng gia tăng tạicác quốc gia đang phát triển, lan ra rộng rãi tại các nền kinh tế mới nổi nhưnhóm các nước BRICs (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi)
Sự gia tăng của vốn đầu tư ra nước ngoài tại các nền kinh tế mới nổiphản ánh mức tăng trưởng mạnh mẽ của dòng vốn này trong khối các nướcOECD Vốn đầu tư ra nước ngoài từ các nền kinh tế mới nổi vào khối OECDduy trì ở mức tương đối thấp, mặc dù có nhiều phản hồi không mới trên các
Trang 21phương tiện truyền thông rằng các nước đang phát triển đang mua lại nhữngtài sản chiến lược trong khối các nước OECD.
Đầu tư nước ngoài cũng có thể ảnh hưởng tới chất lượng các công việcđang được tuyển dụng tại các DN nội địa khi mà có những sự lan tỏa về kiếnthức, kỹ năng từ DN nước ngoài sang DN trong nước Ví dụ như, DN nội địa
có thể học hỏi từ DN nước ngoài bằng việc hợp tác trong chuỗi cung ứng sảnphẩm Kiến thức chuyển giao có thể lấy từ nhân viên lao động có kinh nghiệmtại các DN nước ngoài Tuy nhiên, vốn đầu tư nước ngoài có những tác độngtiêu cực không cần thiết lên hoạt động của DN trong nước Trong một sốtrường hợp nhất định, nó có thể nhắm tới việc lấn át DN nội địa, làm giảmkhả năng vận hành tại một quy mô kinh tế hiệu quả của họ
Một dấu hiệu mới cho thấy rằng đầu tư nước ngoài có thể có một tácđộng tích cực đáng kể tới tiền lương tại DN chủ sở hữu nước ngoài ở nướcchủ nhà Và theo quan điểm truyền thống, những tác động tích cực của tiềnlương được quyết định nhiều hơn tại các nền kinh tế mới nổi Hơn nữa, dấuhiệu tích cực của đầu tư nước ngoài trước tiên là ở cơ hội trao cho một côngviệc tốt hơn cho người lao động mới, hơn là việc trả nhiều hơn cho người laođộng cũ tại DN bị mua lại hoặc sáp nhập, tức là đổi chủ sở hữu Tuy nhiên, vềlâu dài những khác biệt lớn về tiền lương giữa người mới và cũ trong cùngmột DN là không mang lại sự hoạt động bền vững cho DN đó trên mọiphương diện [108]
Báo cáo của UNCTAD, Technology and Innovation Report 2012: Innovation, Technology and South-South Collaboration [113] (Báo cáo công
nghệ và đổi mới năm 2012: Đổi mới, Công nghệ và Hợp tác Nam-Nam), đãtập trung bàn về tác động tích cực của hợp tác Nam-Nam đối với các quốc giađang phát triển Hợp tác Nam-Nam không chỉ bị hạn chế trong các nhân tốkinh tế Một số các nước đang phát triển, cùng với thế mạnh truyền thống vềkinh tế, đang xây dựng những định hướng nhằm định hình thương mại toàncầu, viện trợ và các quan hệ kinh tế
Trang 22Một đóng góp đáng kể cho tiếp cận công nghệ và xây dựng tiềm lực lànhập khẩu vốn hàng hóa Tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu (GPNs) -
và mối quan hệ giữa người tiêu dùng - nhà cung cấp - người bán lẻ - gắn liềnvới FDI là những nhân tố có thể nâng cao việc học hỏi và xây dựng nhữngnguồn lực thông qua những sự lan tỏa mang tính công nghệ giữa các DN nộiđịa, dù là chuyển giao công nghệ và bằng sáng chế trực tiếp hay gián tiếpthông qua sự tích lũy bí quyết của DN nội địa FDI và bằng sáng chế có thể cónhững ý nghĩa quan trọng đối với việc mua lại công nghệ và thích nghi sửdụng công nghệ đó, trong một số bối cảnh
Đầu tư trực tiếp nước ngoài Nam-Nam đang không ngừng gia tăng:những tài khoản ở Đông Á chủ yếu dành cho FDI xuất từ Nam Á, theo đó làĐông Nam Á, và Châu Mĩ Latinh Tổng nguồn vốn FDI xuất từ phía Nam đã
và đang tăng mạnh, tập trung vào các ngành dịch vụ và sản xuất
Xu hướng FDI là giống với xu hướng chuyển giao quyền lực công nghệcủa phía Nam, hướng tới một số quốc gia chủ yếu là Đông Á và Brazil, TrungQuốc hay Ấn Độ Phần vốn lớn nhất của FDI xuất từ các quốc gia đang pháttriển, bao gồm các hoạt động mua lại và sáp nhập (M&As) ở phía Nam Một
số ít các nước đang phát triển đang tham gia chuyển giao công nghệ Sự pháttriển công nghệ mang một ý nghĩa nhiều hơn là thúc đẩy nhập khẩu công nghệthông qua FDI hay thương mại hàng hóa
FDI cần phải có định hướng công nghệ nhằm củng cố cho việc xây dựngcác nguồn lực công nghệ: FDI có thể kết hợp với các chính sách khác Tuynhiên, trên một quy mô tổng thể, luôn có một sự chia rẽ giữa các chính sáchđổi mới và các chính sách FDI tại các quốc gia Sự chia rẽ này cần được khắcphục thông qua một khung chính sách đổi mới mà cho phép các nước chủ nhànhận được lợi ích từ FDI trong quá trình chuyển giao công nghệ Sự kết nốigiữa FDI tại các quốc gia đang phát triển và các bí quyết chuyển giao côngnghệ là cần thiết
Theo Báo cáo đầu tư thế giới năm 2005 Transnational Corporations and the Internationalization of R&D (Hợp tác xuyên quốc gia và quốc tế hóa
Trang 23R&D) [110], giá cả của nhiều loại hàng hóa cao hơn đã thúc đẩy nhiều hơnFDI tới các quốc gia giầu tài nguyên thiên nhiên như dầu và khoáng sản.
Sự phát triển của FDI toàn cầu đã được đánh dấu bởi những khác biệtđáng kể giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ Châu Á và Châu Đại Dương đãmột lần nữa trở thành điểm đến hàng đầu của dòng chảy FDI từ khắp nơi
Sự tăng trưởng của cả FDI nhận và xuất tại Châu Á và Châu Đại Dươngđang được tạo điều kiện bởi những thay đổi về chính sách ở tầm quốc gia vàkhu vực Ví dụ như, tổ chức Hợp tác các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vàTrung Quốc đã ký một thỏa thuận thành lập khu vực tự do thương mại tớinăm 2010 và một vài các quốc gia Châu Á đã ký hiệp định thương mại tự dovới Hoa Kỳ
Những số liệu thống kê chính thức kể từ thời gian khủng hoảng, có thểkhông cập nhật đầy đủ tốc độ quốc tế hóa của R&D Số liệu hiện hành của các
dự án FDI chỉ ra rằng sự mở rộng của R&D tới các khu vực đang đạt được đàtăng trưởng
Các chính sách phát triển quan trọng liên quan tới bảo vệ các quyền sởhữu trí tuệ (IPR), cải cách các hoạt động nghiên cứu công, phát triển cơ sở hạtầng, và phát triển đầu tư tập trung mạnh mẽ vào R&D liên quan tới FDI vàcác lợi ích của R&D
FDI nhận và xuất trong nghiên cứu và phát triển là hai phương pháp thựchành Quốc tế hóa R&D mở ra nhiều cơ hội mới cho các nước đang phát triển
để tiếp cận công nghệ, xây dựng những sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao,phát triển các kỹ năng mới và nuôi dưỡng một nền văn hóa hiện đại thông quasức lan tỏa của các doanh nghiệp và tập đoàn nội địa FDI với R&D có thểgiúp các quốc gia đẩy mạnh hệ thống đổi mới và nâng cao công nghiệp hóa vàcông nghệ hóa, kết nối để thực hiện các chức năng của cầu, nâng cao hiệu quảcủa trang thiết bị và tạo ra nhiều hơn các sản phẩm phức tạp
Một số chính sách và các Khu công nghiệp (KCN) cần được thiết lập đểthu hút đầu tư nước ngoài thông qua R&D, để đảm bảo rằng lợi ích có thểmang lại hiệu quả cho chi phí các loại Điểm mấu chốt để xây dựng một mô
Trang 24hình thể chế mà không ngừng đổi mới Chính sách đặc biệt lưu ý tập trungvào bốn khu vực: NNL, khả năng nghiên cứu cộng đồng, bảo vệ quyền sángchế và chính sách cạnh tranh.
Báo cáo đầu tư thế giới năm 2010 Investing In A Low-Carbon Economy,
[111] (Đầu tư vào lĩnh vực hàm lượng Carbon thấp) đánh giá trong năm 2009
về dòng chảy FDI trong lĩnh vực Low-Carbon chủ yếu gồm ba khu vực trọngđiểm (tái tạo, tái chế và công nghệ chế tạo low-carbon) là đạt tới 90 tỷ đô la
Mỹ Tổng lượng vốn đầu tư trong lĩnh vực này là nhiều hơn, nếu tính toán cáchoạt động đầu tư liên quan tới low-carbon trong các ngành công nghiệp khác.Tiềm năng đầu tư vào low-carbon là khổng lồ cho thấy sự chuyển đổi củakinh tế toàn cầu trở thành kinh tế low-carbon
Có một số thay đổi trong hình thái FDI toàn cầu đó là được đón đầu cuộckhủng hoảng toàn cầu và sẽ đạt được sự tăng trưởng vượt bậc trong ngắn vàtrung hạn Trước hết, mức độ liên hệ giữa các nền kinh tế đang phát triển vàchuyển đổi giống như những điểm đến và là nguồn của đầu tư trực tiếp nướcngoài, mà được kỳ vọng ngày càng tăng mạnh Các nền kinh tế này, trong đó
đã thu hút một nửa lượng FDI vào trong năm 2009, đang dẫn đầu trong việcphục hồi FDI Thêm nữa, sự sụt giảm trong sản xuất của đầu tư trực tiếp nướcngoài, liên hệ với lĩnh vực dịch vụ và các lĩnh vực trọng điểm, không giốngnhư là được lộn ngược dòng Cuối cùng, mặc cho những tác động nghiêmtrọng lên FDI, cuộc khủng hoảng này không ngăn được tốc độ tăng trưởngtoàn cầu hóa trong sản xuất
Sự tăng trưởng đột biến của FDI trong thập kỷ vừa qua là kết quả củaviệc gia tăng cổ phần hóa tại các quốc gia phát triển Và như thế, FDI có thểduy trì và mở rộng việc làm trong nước nếu nó tác động tới hoạt động xuấtkhẩu của nước chủ nhà hoặc làm tăng mức độ cạnh tranh giữa các DN đầu tư.Báo cáo đã tìm ra được bằng chứng về tác động của FDI ra lên sự tụtgiảm công ăn việc làm tại nước nhận đầu tư Quả thực, tác động này phụthuộc vào loại hình đầu tư, khu vực liên kết và các chiến dịch tuyển dụng củahợp tác xuyên quốc gia (TNC)
Trang 25Các đánh giá nhằm phát huy và tạo điều kiện cho các hoạt động đầu tưđược tập trung vào các ích lợi tài chính để thúc đẩy FDI trong các ngành vàkhu vực, bao gồm các khu vực kinh tế đặc biệt; dễ dàng bảo vệ các yêu cầu;tạo thuận lợi cho các quy trình được phê chuẩn và đẩy nhanh tiến độ dự ánbằng sáng chế.
Đầu tư nước ngoài vào Low-carbon cũng bao gồm FDI phục vụ cho việctiếp cận công nghệ low-carbon, các quy trình và sản phẩm Loại hình đầu tưnước ngoài Low-carbon có thể kể đến, đó là: giới thiệu quy trình low-carbonlàm giảm lượng phát thải trong quá trình sản xuất hàng hóa Điều này baogồm việc nâng cấp các hoạt động hợp tác xuyên quốc gia và các DN liên quancùng chuỗi giá trị toàn cầu của họ
Các sản phẩm và dịch vụ low-carbon giảm thiểu lượng phát thải CO2trong khi sử dụng Các sản phẩm low-carbon bao gồm ô tô điện, các sản phẩmtiết kiệm điện năng và các hệ thống giao thông tích hợp Các dịch vụ low-carbon có thể kể đến là các giải pháp công nghệ tái cấu trúc các quy trình hạnchế lượng phát thải tại các DN địa phương
Nhìn rộng ra khỏi các hoạt động đầu tư nước ngoài, thì đầu tư nướcngoài low-carbon đang và sẽ trở nên cần thiết Hoạt động này đưa ra nhữnglợi thế và lợi ích trong từng gói đầu tư FDI, đó là tiếp cận công nghệ tiên tiến,đặc biệt trong hiệu quả sử dụng năng lượng và các yếu tố đầu vào khác nữa,đồng thời là các cơ hội xuất khẩu trong những ngành mũi nhọn
Báo cáo đầu tư thế giới năm 2011 Non-equity Modes Of International Production And Development, [112] (Các chế độ không công bằng của sản
phẩm quốc tế và trong phát triển dự đoán rằng, bất chấp cú sốc nào về kinh tế,dòng chảy FDI sẽ phục hồi trước khủng hoảng trong hơn hai năm tới Tháchthức này dành cho những nỗ lực để đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ.Dòng chảy FDI toàn cầu đã tăng lên tới 1,24 nghìn tỷ USD trong năm
2010, nhưng vẫn thấp hơn 15% so với mức trung bình trước khủng hoảng.Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc đánh giá rằng FDI toàncầu sẽ phục hồi lại mức trước khủng hoảng trong năm 2011, tăng từ 1,4 lên
Trang 261,6 nghìn tỷ đô la Mỹ, và đạt tới mức trong năm 2007 vào 2013 Tín hiệu tíchcực này, ngăn chặn những cú sốc không kỳ vọng vào nền kinh tế toàn cầu, cóthể tăng lượng con số các nhân tố rủi ro đang tồn tại.
Các chính sách FDI tương tác liên tục với các chính sách ngành, quốc gia
và xuyên quốc gia Thách thức đặt ra là quản lý tương tác này để hai chính sách
có thể cùng hoạt động cho sự phát triển chung Xóa bỏ cân bằng giữa việc xâydựng khả năng tăng năng suất lao động nội địa và việc tránh chủ nghĩa bảo vệthương mại và đầu tư, là chìa khóa cho tăng cường hợp tác quốc tế
Báo cáo đầu tư thế giới năm 2012 Towards A New Generation Of Investment Policies, [114] (Định hướng một mô hình các chính sách mới
trong đầu tư) chỉ ra những đóng góp tích cực trong sự hợp tác giữa các DNnước ngoài và các nền kinh tế nước chủ nhà, đáng chú ý là Châu Phi, trongđiều kiện các giá trị gia tăng thêm như việc làm và thu nhập, thuế thu nhập,xuất khẩu và vốn Các con số này cũng chỉ ra được các quốc gia nhận được íthơn những đóng góp của FDI, xác nhận rằng vấn đề nằm trong tối ưu hóa tácđộng tích cực và giảm thiểu các tác động tiêu cực của FDI
Nhiều quốc gia đã không ngừng tự do hóa và thúc đẩy đầu tư trực tiếpnước ngoài vào nhiều ngành công nghiệp để đạt được tăng trưởng mạnh mẽtrong năm 2011 Cùng năm này, những chính sách thắt chặt mới cũng đượcđưa ra Chúng phát huy tác dụng ngăn cản các nhà đầu tư nước ngoài tronglĩnh vực nông nghiệp, dược phẩm, công nghiệp khai khoáng
Những tác động tích cực của FDI tới sự phát triển là không cụ thể Vàtác động của FDI cũng có cả tiêu cực Như vậy rất cần thiết những chính sáchnhằm giảm thiểu rủi ro trong hợp tác đầu tư Mặc dù các luật và quy định làchỉ rõ trách nhiệm của nhà đầu tư, thì đồng thời cũng có ảnh hưởng khôngnhỏ tới các hoạt động hợp tác, các quyết định và hành vi trong kinh doanh.Chính phủ có thể xây dựng một khung pháp lý tổng thể và tối ưu hóa lợi ích
từ các hoạt động đầu tư này Tính hiệu quả của các chính sách thể hiện thôngqua các bên, bên nhận và bên xuất FDI, đều được tối ưu hóa lợi ích và giảmthiểu rủi ro
Trang 27Theo Báo cáo đầu tư thế giới năm 2013 Global Value Chains: Investment And Trade For Development, [115] (Chuỗi giá trị toàn cầu: Phát
triển đầu tư và thương mại), gần một phần ba thu nhập từ FDI toàn cầu đãđược tái đầu tư tại các nước chủ nhà, hai phần ba còn lại được mang về nướcđầu tư Phần tái đầu tư này cao nhất tại các quốc gia đang phát triển, là mộtnguồn tài chính quan trọng
Dòng chảy FDI tới các vùng lãnh thổ đang phát triển đã chứng kiến một
sự sụt giảm nhẹ trong năm 2012, tuy nhiên cũng đã có một vài tín hiệu tíchcực Châu Phi đóng góp vào xu hướng này với sự tăng 5% của đầu tư nướcngoài lên tới 50 tỷ USD Sự tăng trưởng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài tập trung mở rộng vào ngành công nghiệp khai khoáng, sản xuất hàngtiêu dùng và các ngành dịch vụ Xu hướng dòng chảy FDI tiếp tục đổ vào cácquốc gia có thu nhập thấp như Campuchia, Myanma và Việt Nam
Các nhà hoạch định chính sách đầu tư quốc gia đang tăng cường thiết lậpcác chiến lược phát triển mới Hầu hết các Chính phủ đều muốn thu hút các nhàđầu tư nước ngoài như một công cụ để xây dựng năng lực hiệu suất và pháttriển bền vững Tại cùng thời điểm, rất nhiều các quốc gia đang củng cố môitrường pháp lý cho các nhà đầu tư nước ngoài, tao thêm nhiều các chính sáchcông nghiệp trong những ngành mũi nhọn, thắt chặt quản lý và giảm thiểu cáchoạt động mua lại và sáp nhập Tuy nhiên, bảo hộ luôn đi kèm rủi ro
Nền kinh tế toàn cầu hiện nay được định hình bởi các chuỗi giá trị(GVCs), mà các loại hàng hóa, dịch vụ cơ bản được buôn bán theo quy trìnhsản xuất phân tán trên toàn cầu Các chuỗi giá trị này được phối hợp bởi cáccông ty đa quốc gia (TNCs) Tuy nhiên, hoạt động của các chuỗi giá trị cũngkhông tránh khỏi những rủi ro Những rủi ro này có thể được hạn chế bằngviệc tạo ra nhiều hơn các giá trị Thêm nữa, những tác động từ môi trường và
xã hội bao gồm điều kiện làm việc, an toàn lao động có thể là tiêu cực
Như vậy, các nhà hoạch định chính sách cần tạo được một khung pháp lývừa có thể bảo vệ được nhà đầu tư, người lao động, và các bên liên quan, vừagiảm thiểu được những rủi ro thông qua việc không ngừng đổi mới và cải tiến
Trang 28khoa học kỹ thuật, chất lượng lao động và một thị trường cởi mở Trên hết,định hướng phát triển bền vững luôn đi kèm với các mục tiêu trong các hoạtđộng đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Xuất phát từ vai trò quan trọng của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội,
ở Việt Nam kể từ năm 1987, khi Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên có hiệu lực,
đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về học thuật và tổng kết thực tiễnđầu tư nước ngoài tại Việt Nam về thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài.Những cuốn sách tiêu biểu về đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm:
Tác giả Nguyễn Trọng Tuân trong cuốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam [14] đã làm sáng tỏ một
số quan hệ bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài và một số tác động của nóđối với sự phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam nói chung đặc biệt đối với sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) (nói riêng) Trên cơ sở đónêu ra một số kiến nghị mới về quan điểm, chính sách và giải pháp chủ yếunhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả cao đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụcông cuộc CNH, HĐH trong thời gian tới
Trần Xuân Tùng trong Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp [15] đã phân tích vai trò, vị trí khách quan của FDI đối với
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nêu bật những thành côngcũng như những hạn chế chủ yếu trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốnFDI trong tình hình hiện nay; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cơ bảnnhằm thúc đẩy thu hút mạnh hơn và sử dụng có hiệu quả hơn nguồn ngoại lựcquan trọng này Ngoài ra, phần phụ lục cung cấp cho bạn những quan điểm,chủ trương của Đảng và Nhà nước về thu hút và sử dụng vốn FDI qua các kỳđại hội
Các tác giả Trần Quang Lâm và An Như Hải trong cuốn Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay [81], đã hệ thống hóa những vấn đề cơ
bản về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, làm rõ vai trò quan trọng của thành phần kinh tế này
Trang 29trong nền kinh tế nước ta và đề xuất các giải pháp tiếp tục phát triển kinh tế cóvốn FDI ở nước ta thời gian tới.
Tác giả Lê Xuân Bá trong Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam [1], đã trình bày và phân tích về đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Việt Nam, vai trò của khu vực có vốn đầu tư nước ngoàiđối với nền kinh tế, cơ sở lý thuyết về tác động của FDI tới tăng trưởng, tácđộng của FDI tới tăng trưởng qua kênh đầu tư, tác động tràn của đầu tư trựctiếp nước ngoài
Các tác giả Võ Thanh Thu, Ngô Thị Ngọc Huyền và Nguyễn Cương
trong cuốn Kỹ thuật đầu tư từ trực tiếp nước ngoài [82] đã cung cấp những
chỉ dẫn khoa học và có hệ thống về kỹ thuật đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưvai trò của đầu tư quốc tế, các định chế quốc tế ảnh hưởng đến môi trườngđầu tư của Việt Nam, hỗ trợ phát triển chính thức - hình thức đầu tư quốc tếđặc biệt, đấu thầu quốc tế, chuyển giao công nghệ quốc tế, chuyển giao tronghoạt động đầu tư quốc tế, thẩm định dự án đầu tư, cơ chế quản lý hoạt độngđầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam, các hình thức đầu tư trực tiếp nướcngoài, quy trình thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam…
Tác giả Đỗ Đức Bình trong chuyên khảo Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) tại Việt Nam [2], đã trình bày từ quan niệm về đầu tư quốc tế
đến khái niệm FDI, các TNCs, vai trò của TNCs trong nền kinh tế thế giới,kinh nghiệm thu hút đầu tư của TNCs tại một số nước Qua nghiên cứu phântích thực trạng thu hút FDI nói chung và từ TNCs nói riêng tại Việt Nam giaiđoạn 1988 - 2004, trong cuốn sách đã khái quát một số đóng góp của FDI đếncác mặt kinh tế - xã hội ở Việt Nam như tham gia tích cực vào tăng trưởngkinh tế, tạo việc làm, sản xuất và xuất khẩu, đa dạng hóa và nâng cấp thiết bị,công nghệ Bên cạnh đó, cuốn sách cũng chỉ ra một số tác động tiêu cực nhưmâu thuận với mục tiêu chiến lược chung và phát triển kinh tế - xã hội củaViệt Nam; lợi dụng ưu thế về vốn, công nghệ để thao túng trong các liêndoanh, gây sức ép với cơ quan quản lý nhà nước Từ đó, cuốn sách cũng đề
Trang 30xuất các quan điểm, giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả FDIcủa các TNCs cho Việt Nam.
Tác giả Hoàng Thị Bích Loan và các cộng sự trong cuốn Thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam [6], đã đề cập tới một
số tác động tích cực của TNCs tới tiến trình CNH, HĐH của Việt Nam như bổsung vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế và
DN trong hội nhập kinh tế quốc tế, tác động đến xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN, tạo việc làm, phát triển NNL, hội nhập kinh tếquốc tế, nâng cao trình độ công nghệ… Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đề cậptới những tác động tiêu cực của FDI của các công ty xuyên quốc gia tới ViệtNam và nguyên nhân, đồng thời đề xuất một số giải pháp tăng cường thu hút
và sử dụng hiệu quả FDI của TNCs như cải thiện môi trường đầu tư, tăngcường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, tạo lập đối tác đầu tư trongnước, phát triển NNL
Tác giả Đặng Hoàng Thanh Nga trong Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia của Hoa Kỳ ở Việt Nam [8], đã đề cập tới vấn đề
thu hút FDI của các TNCs Hoa Kỳ vào Việt Nam giai đoạn 1995 - 2011, chỉ
ra một số tác động tới nguồn vốn, tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế,xuất nhập khẩu, chuyển giao công nghệ, giải quyết việc làm, tính lan tỏa toàncầu, ảnh hưởng tới chính trị, môi trường Từ đó đã nêu ra một số gợi ý chínhsách về hoàn thiện môi trường đầu tư, công tác quảng bá, xúc tiến đầu tư, tạolập các đối tác liên kết, nâng cao chất lượng nhân lực nhằm tăng cường thuhút FDI của các TNCs của Hòa Kỳ vào Việt Nam
Tác giả Nguyễn Tấn Vinh trong Đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh [23], từ trình bày
khái quát một số vấn đề lý luận về FDI như khái niệm, đặc trưng, loại hìnhcùng khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cuốn sách đãtrình bày và phân tích các kênh ảnh hưởng của FDI đến chuyển dịch cơ cấukinh tế ngành như tác động tới tăng trưởng kinh tế ngành; chuyển giao côngnghệ góp phần vào tăng trưởng kinh tế ngành; vai trò của FDI đối với nguồn
Trang 31nhân lực, lao động; sự tương tác với vốn đầu tư trong nước; hiệu quả ngoại ứng
từ năng suất; hiệu ứng xuất khẩu Cuốn sách cũng phân tích thực trạng ảnhhưởng của FDI đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấukinh tế nội bộ ngành công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001-
2010 và rút ra đánh giá về ảnh hưởng không đều của FDI tới tăng trưởng củacác ngành trong cơ cấu kinh tế ngành nói chung và cơ cấu kinh tế của ngànhcông nghiệp trên địa bàn Thành phố nói riêng Từ đó, cuốn sách đã đề cập tớimột số vấn đề đặt ra đối với FDI trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành củaThành phố Hồ Chí Minh như lao động trình độ cao, kết cấu hạ tầng, côngnghiệp hỗ trợ, nguồn nguyên liệu, chiến lược thu hút FDI của Thành phố,… và
đề xuất một số giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thông quaFDI tại Thành phố Hồ Chí Minh như nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước vềFDI, cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện quy hoạch, thực hiện đa dạng hóa
và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến đầu tư đối với FDI tìm kiếm thịtrường, liên kết vùng để thu hút FDI tìm kiếm nguồn tài nguyên; phát triểncông nghiệp hỗ trợ, nhân lực… để thu hút FDI tìm kiếm hiệu quả
Tác giả Phùng Xuân Nhạ trong chuyên khảo Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Lý luận và thực tiễn [9], đã đề cập tới khái niệm, hình thức đầu
tư trực tiếp nước ngoài, nhiều lý thuyết luận giải về nguyên nhân hình thànhđầu tư trực tiếp nước ngoài, bao gồm các lý thuyết truyền thống và các lýthuyết mới về quốc tế hóa sản xuất, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới FDI,các chính sách, biện pháp thu hút FDI tại Việt Nam Qua phân tích thực trạngthu hút FDI của Việt Nam giai đoạn 1988 - 2011, trong cuốn sách đã trình bàynhững tác động của FDI tới sự phát triển của Việt Nam, biểu hiện thông quanhững tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế, bổ sung vốn đầu tư và cáncân thanh toán quốc tế, chuyển giao và phát triển công nghệ, phát triển NNL
và tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu, liên kết các ngành công nghiệp, các tácđộng khác, các tác động đặc biệt và tác động tới chủ quyền quốc gia Trongphân tích về tác động của FDI, cuốn sách cũng đồng thời cũng chỉ ra một sốảnh hưởng không mong muốn như gia tăng tính phụ thuộc của nền kinh tế vào
Trang 32FDI, ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái do sử dụng công nghệ lạc hậu,dẫn tới hình thành độc quyền, ngăn cản cạnh tranh, làm tăng khoảng cáchgiàu nghèo…Cuốn sách cũng cho rằng, mức độ tác động tích cực hoặc tiêucực của FDI phụ thuộc vào chính sách và điều kiện phát triển của nước tiếpnhận FDI, từ đó đã đưa ra một số gợi ý về chính sách như tăng cường thu hútFDI khi khả năng tích lũy nội địa thấp, phát triển kết cấu hạ tầng, dịch vụ, đàotạo, quy định chặt chẽ cụ thể đối với FDI trong các lĩnh vực dinh dưỡng, y tế,dược phẩm, quảng cáo, có chính sách phù hợp về khắc phục chảy máu chấtxám, bóc lột lao động quá mức, bảo hộ thị trường…
Bên cạnh đó, đã có nhiều LATS kinh tế tập trung nghiên cứu về đầu tư trựctiếp nước ngoài và tác động của nó tới phát triển kinh tế xã hội, như:
Trần Anh Phương trong luận án Một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp của các nước trong nhóm G7 vào Việt Nam, đã phân tích
đánh giá kết quả thu hút FDI từ các nước G7 vào Việt Nam giai đoạn
1988-2002, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và các biện pháp giảiquyết [11]
Ngô Thu Hà trong luận án Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc và khả năng vận dụng tại Việt Nam, đã đánh giá tác động hai
mặt của FDI Bên cạnh những tác động tích cực như bổ sung nguồn vốn, thúcđẩy ứng dụng công nghệ, phát triển nhân lực, kinh nghiệm quản lý, thúc đẩyngoại thương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, FDI còn có những tác động tiêucực như làm giảm tỷ lệ tích lũy và đầu tư nội địa, gây sức ép phá sản DNtrong nước, tạo ra sự phụ thuộc về công nghệ, chuyển tới nước nhập khẩu FDInhững công nghệ gây ô nhiễm môi trường, gây chảy máu chất xám từ các DNkhác tới DN FDI [ 3]
Bùi Thuý Vân trong luận án Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với việc chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu ở vùng đồng bằng Bắc bộ, đánh giá tác
động của FDI tới tăng trưởng ngoại thương của nước nhập khẩu FDI Tuynhiên, tác động của FDI tới tăng trưởng xuất khẩu có tính hai mặt, nếu nhưFDI thay thể có mục tiêu mở rộng tiêu thụ ở nước ngoài có tác động không
Trang 33đáng kể tới tăng trưởng xuất khẩu, thì FDI bổ sung với mục tiêu sản xuấthàng hóa phục vụ nhu cầu của nước xuất khẩu FDI sẽ có có tác động tích cựctới xuất khẩu của nước nhận FDI sang nước xuất khẩu FDI FDI có tác độngđến chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng gia tăng tỷ trọng của hàngxuất khẩu đã qua chế biến Tuy nhiên tác động của FDI tới nâng cao chấtlượng hàng xuất khẩu là không rõ ràng, để phát huy được tác động này cần cónhững chính sách phù hợp như thực hiện cơ chế phối hợp quản lý các cấp vềFDI, hoàn thiện công tác quy hoạch thu hút và sử dụng FDI, đẩy mạnh thu hútFDI vào các ngành công nghệ cao, phát triển NNL, hệ thống kết cấu hạ tầng,công nghiệp hỗ trợ…[22]
Nguyễn Tiến Long trong luận án Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Thái Nguyên, cho rằng FDI có những
tác động tích cực như bổ sung nguồn vốn, thúc đẩy ứng dụng công nghệ, pháttriển nhân lực, kinh nghiệm quản lý, thúc đẩy ngoại thương, khai thác tốt hơnnguồn lực của nước nhập khẩu FDI để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việclàm, khuyến khích năng lực trong nước tác động tiêu cực của FDI bao gồmtạo ra sự mất cân đối trong phát triển theo vùng, ảnh hưởng đến tiêu cực đếntruyền thống văn hóa dân tộc, gia tăng nhập khẩu công nghệ gây ô nhiễm môitrường, chuyển giá [7]
Đào Văn Thanh trong luận án Tác động tràn của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các doanh nghiệp thuộc ngành dệt may Việt Nam, khẳng định FDI
ngoài tác động trực tiếp tới phát triển kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận đầu
tư, còn có tác động gián tiếp nhiều mặt tới các chủ thể kinh doanh của nướcnhập khẩu FDI như các tác động trong nội bộ ngành và giữa các ngành thôngqua các kênh truyền dẫn như:
Thứ nhất, tạo sức ép cạnh tranh buộc các DN trong nước phải vươn lênkhông ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh doanh, nhưng từ
đó có thể làm giảm hiệu quả kinh doanh của các DN trong nước
Thứ hai, tạo cơ hội mới cho các DN trong nước tiếp thu tiến bộ khoa học
- công nghệ, kinh nghiệm quản lý thông qua hiệu ứng bắt chước, học tập
Trang 34Thứ ba, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hoạt động nghiên cứu vàtriển khai trong nội bộ từng ngành.
Thứ tư, thúc đẩy phát triển nhân lực theo chiều sâu, vừa tạo ra xu hướngthu hút NNL chất lượng cao vào làm việc trong các DN FDI, vừa tạo điềukiện cho các DN khác có thể thu hút được bộ phân người lao động đã làmviệc tại các DN FDI
Thứ năm, thúc đẩy quan hệ liên kết hợp tác giữa các DN FDI và các DNkhác trong cùng ngành trên cơ sở phân công lao động để sản xuất sản phẩm.Thứ sáu, cải thiện công nghệ của các nhà cung cấp địa phương hoặc cácnhà cung cấp tiềm năng thông qua hỗ trợ công nghệ
Thứ bảy, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước tiếp thu côngnghệ mới…[17]
1.2 KHÁI QUÁT VỀ KẾT QUẢ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.2.1 Nh ng k t qu ã c kh ng nh v m t khoa h c và th c ti n
Về mặt lý luận đã đưa ra quan niệm chung về đầu tư trực tiếp nước ngoàivới tư cách là loại hình đầu tư đặc thù do chủ thể nước ngoài trực tiếp thựchiện; đã luận giải khá rõ về sự cần thiết khách quan của việc thu hút, sử dụngFDI cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt đối với các nước đang phát triểnnhư Việt Nam; đã khái quát những hình thức chủ yếu và một số đặc điểmquan trọng của FDI nói chung và đối với các nước đang phát triển, trong đó
có Việt Nam nói riêng
Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội các nước đang pháttriển đã được tiếp cận theo nhiều phương diện, đặc biệt là tác động tích cựctới tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển giao khoa học - côngnghệ, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng NNLgóp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động….Một
số tác động không mong muốn của FDI tới chuyển giao công nghệ, việc làm,thu nhập của người lao động, môi trường sinh thái cũng đã được đề cập
Trang 35Để thu hút và sử dụng FDI có hiệu quả cần có cơ chế chính sách phù hợpnhằm tạo lập môi trường, thông thoáng, hấp dẫn, đảm bảo kết hợp lợi ích giữanhà đầu tư nước ngoài và lợi ích của quốc gia, địa phương tiếp nhận FDI,đồng thời định hướng việc thu hút, sử dụng FDI, kiểm soát, giảm thiểu tácđộng tiêu cực.
1.2.2 M t s v n t ra
Qua nghiên cứu vấn đề FDI và tác động của FDI tới phát triển kinh tế,một số tổ chức và học giả đã bước đầu chú ý đến tác động hai mặt của FDI tớiphát triển kinh tế, bao gồm những tác động tích cực và tác động tiêu cực Đã
có không ít luận giải về nguyên nhân của những tác động tiêu cực của FDIđến phát triển kinh tế - xã hội của nước nhập khẩu FDI từ sự không đồngnhất, chưa thuận chiều về lợi ích của FDI và lợi ích của nước, địa phươngnhập khẩu FDI, tuy nhiên nghiên cứu về mối quan hệ giữa bản chất và tácđộng của FDI chưa được đề cập nhiều Vì vậy, một trong những vấn đề đặt racần nghiên cứu tiếp là phải nghiên cứu thêm về cơ sở hình thành tác động củaFDI xuất phát từ bản chất của FDI Mặc dù cho đến nay đã có không ít ý kiến
về bản chất của FDI, song vẫn chưa có sự thống nhất, vì vậy cần tiếp tụcnghiên cứu chuyên sâu, làm rõ thêm mối quan hệ giữa bản chất của FDI vớinhững thay đổi của FDI trong điều kiện cụ thể của các nước đang phát triểntrong bối cảnh mới của thế giới ngày nay
Mặc dù mục tiêu chủ yếu trong thu hút, sử dụng FDI đối với từng quốcgia, vùng lãnh thổ, địa phương là nhằm đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xãhội Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, thành tựu trong thu hút FDI có thể khôngđồng nhất với hiệu quả của FDI Bên cạnh các yếu tố gây ra ảnh hưởng tiêucực của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội, còn có rất nhiều nguyên nhân gâykhó khăn cho việc phát huy vai trò tích cực của FDI đối với phát triển kinh tế
- xã hội Vậy nguyên nhân nào đang là chủ yếu? Vấn đề này cho đến nay vẫncòn nhiều ý kiến khác nhau và chưa thực sự được nghiên cứu làm rõ
Bên cạnh việc nghiên cứu về FDI và tác động của FDI trên bình diệnquốc gia, đã có không ít công trình đề cập tới FDI ở phạm vi địa phương cấp
Trang 36tỉnh, thành phố ở Việt Nam Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều cố gắngtập trung làm rõ tác động của FDI đến từng mặt riêng biệt của quá trình pháttriển kinh tế - xã hội, vấn đề làm thế nào để từng địa phương của Việt Nam cóthể vừa thu hút được nhiều vốn FDI, vừa đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hộitổng thể theo hướng bền vững vẫn đang là khoảng trống về khoa học, cầnđược tiếp tục nghiên cứu và giải quyết.
1.2.3 Nh ng v n m i c n nghiên c u ti p
Trong các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án có rất ítcông trình nghiên cứu sâu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đếnphát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững Đặc biệt cho đến nay chưa cócông trình nghiên cứu nào nghiên cứu đánh giá sâu sắc và toàn diện về tácđộng hai mặt của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh VĩnhPhúc theo phương diện kinh tế chính trị Do đó vấn đề luận án lựa chọn làm
đề tài nghiên cứu vẫn là khoảng trống lớn trong khoa học cần được lấp đầy.Những vấn đề cơ bản cần tập trung nghiên cứu trong luận án bao gồm:
Thứ nhất, hệ thống hóa nhằm làm sáng tỏ một cách đầy đủ, toàn diện cơ
sở lý luận và thực tiễn về tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội trênđịa bàn tỉnh Trong xây dựng khung lý thuyết để nghiên cứu, luận án xác địnhphải xuất phát từ bản chất của FDI với tư cách là hình thức quan hệ sản xuấtđặc thù được hình thành trong lịch sử và có quá trình phát triển lâu dài, cóbiểu hiện khác nhau trong các điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau Từ đó,luận án xác định phải làm rõ cơ sở hình thành tác động của FDI tới phát triểnkinh tế - xã hội của các quốc gia đang phát triển nói chung và trên địa bàn củatừng địa phương cấp tỉnh với tư cách là bộ phận hữu cơ có tính đặc thù củanền kinh tế nói riêng Trong phân tích về tác động hai mặt của FDI đến pháttriển kinh tế - xã hội, luận án tập trung làm rõ các tác động cụ thể theo haihướng chủ yếu là những tác động tích cực và những tác động tiêu cực Đồngthời, để tạo cơ sở sở việc luận giải những nguyên nhân của tác động của FDIđến phát triển kinh tế - xã hội, luận án phải trình bày và phân tích về nhữngyếu tố cơ bản ảnh hưởng tới tác động của FDI Bên cạnh đó, nhằm cung cấp
Trang 37thêm căn cứ cho việc hoạch định cơ chế phát huy hiệu quả tác động tích cực
và giảm thiểu tác động tiêu cực của FDI trên địa bàn tỉnh, luận án sẽ thực hiệnnghiên cứu kinh nghiệm về thu hút, sử dụng FDI của một số địa phương trongnước và kinh nghiệm nước ngoài và cố gắng đúc rút những bài học mà tỉnhVĩnh Phúc có thể tham khảo, vận dụng
Thứ hai, trên cơ sở phân tích về thực trạng thu hút và sử dụng FDI trênđịa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến năm
2013, luận án phải tập trung đánh giá một cách khoa học về thực trạng tácđộng của FDI tới sự phát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc theo hai phươngdiện bao gồm cả những tác động tích cực, tiêu cực Những tác động tích cựccần phân tích đánh giá bao gồm tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế,chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển giao công nghệ, sự hình thành và pháttriển của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, tác động tới kinh tế đốingoại, nguồn thu ngân sách, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, tácđộng tích cực tới môi trường Những tác động tiêu cực của FDI cần đượcđánh giá cả về kinh tế, xã hội và môi trường Trên cơ sở phân tích thực trạngtác động hai mặt của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc,luận án phải tập trung làm rõ nguyên nhân của những tác động đó
Thứ ba, Trên cơ sở khung lý thuyết đã xây dựng, kết quả phân tích thựctrạng tác động hai mặt của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh VĩnhPhúc và dự báo về bối cảnh thế giới, trong nước, dự báo nhu cầu của Tỉnh vềFDI, luận án phải đề xuất quan điểm, phương hướng, giải pháp phát huy hiệuquả tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời giantới, nhằm đẩy nhanh Vĩnh Phúc trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, phát triểnbền vững
Trang 38Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã xuất hiện vào thời kỳ đầu của chủ nghĩa
tư bản, sau những cuộc xâm chiếm thuộc địa và trở thành hiện tượng phổ biếnkhi chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độcquyền
Theo V.I.Lênin, quá trình tích tụ và tập trung tư bản trong điều kiện chủnghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã dẫn tới sự hình thành, phát triển và trở thànhthống trị của các tổ chức độc quyền trong nền kinh tế Sự thống trị của độcquyền tư bản dưới hình thái tư bản tài chính là cơ sở vững chắc cho việc thulợi nhuận độc quyền cao, trở thành điều kiện quan trọng cho sự lớn lên của tưbản, và sự xuất hiện tình trạng “tư bản thừa” như là một tất yếu Từ đó FDIvới tư cách là xuất khẩu tư bản trực tiếp cũng trở thành tất yếu phổ biến
Chừng nào chủ nghĩa tư bản vẫn còn là chủ nghĩa tư bản, số tư bảnthừa vẫn còn được dùng không phải là để nâng cao mức sống của quầnchúng trong nước đó, vì như thế thì sẽ đi đến kết quả làm giảm bớt lợinhuận của bọn tư bản, mà là để tăng thêm lợi nhuận đó bằng cách xuấtkhẩu tư bản ra nước ngoài, vào những nước lạc hậu Trong các nước lạchậu này, lợi nhuận thường cao, vì tư bản hãy còn ít, giá đất đai tương đốithấp, tiền công hạ, nguyên liệu rẻ [25, tr.456]
Ban đầu, đối với từng nhà tư bản, FDI hướng tới sử dụng nguồn lao độngtại chỗ để khai thác khoáng sản, đồn điền nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu cungcấp cho các ngành sản xuất ở chính quốc Đối với chủ nghĩa tư bản, FDIchính là một trong những phương thức tìm kiếm, khai thác các yếu tố cầnthiết, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
Trang 39Nếu như trong giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ hai, FDI chủ yếuchảy từ các nước tư bản phát triển đầu tư vào các nước kém phát triển vàthuộc địa, thì sau chiến tranh thế giới thứ hai, luồng đầu tư đã có sự thay đổi.
Đã xuất hiện sự đầu tư lẫn nhau giữa các nước tư bản phát triển, xuất hiệnnhững nước vừa là nơi cung cấp nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài vừa là địađiểm tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài Sự vận động và phát triển của FDI
đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà học giả và tổ chức quốc tế.Cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm về FDI
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), FDI là “một khoản đầu tư với nhữngquan hệ lâu dài, theo đó, một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trựctiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một DN đặt tại một nền kinh tế khác Mụcđích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý
DN đặt tại nền kinh tế khác đó” [104, tr 31]
Theo OECD, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại đầu tư phản ánhmục tiêu của việc thiết lập mối quan tâm lâu dài của một DN thường trú tạimột nền kinh tế (đầu tư trực tiếp) trong một DN (DN đầu tư trực tiếp) là cưdân trong một nền kinh tế khác hơn so với đầu tư trực tiếp Sự quan tâm lâudài ngụ ý sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài giữa các nhà đầu tư trực tiếp
và các DN đầu tư trực tiếp và một mức độ đáng kể ảnh hưởng đến việc quản
lý của DN Quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp của 10% quyền biểu quyếtcủa một cư dân DN trong một nền kinh tế bởi một cư dân nhà đầu tư trongnền kinh tế khác là bằng chứng của một mối quan hệ như vậy” [106]
Theo Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc, FDI là “một
sự đầu tư thực hiện để có được lợi ích lâu dài trong DN hoạt động bên ngoàicủa nền kinh tế của nhà đầu tư mục đích của chủ đầu tư là để đạt được mộttiếng nói hiệu quả trong việc quản lý của DN [97]
Theo Điều 3, Luật Đầu tư năm 2005, “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu
tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”, “Đầu
tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền
và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” [50]
Trang 40Theo tác giả Bùi Thúy Vân, “FDI là hoạt động đầu tư do các tổ chứckinh tế, cá nhân ở quốc gia nào đó tự mình hoặc kết hợp với các tổ chức kinh
tế, cá nhân của một nước khác tiến hành bỏ vốn bằng tiền hoặc tài sản vàonước này dưới một hình thức đầu tư nhất định” [22, tr.10]
Theo tác giả Đào Văn Thanh, “FDI là hình thức đầu tư quốc tế mà chủđầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân) đưa vào nước tiếp nhận một số vốn
đủ lớn để thực hiện các hoạt động SXKD, dịch vụ nhằm tìm kiếm lợi nhuận
và đạt được những hiệu quả kinh tế - xã hội… Đây là loại hình di chuyển vốnquốc tế mà người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điềuhành việc sử dụng vốn đầu tư” [17,tr 20]
Từ những khái niệm nêu trên có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài làhoạt động đầu tư trực tiếp nhằm mục tiêu lợi nhuận của chủ thể đầu tư nướcngoài tại một quốc gia nhất định, bao hàm cả việc đầu tư vốn và trực tiếpquản lý kinh doanh số vốn đó
là cơ hội giúp các nhà tư bản thu được lợi nhuận từ việc đầu tư vào nước khácvới mức cao hơn FDI với tư cách là hình thức của xuất khẩu tư bản có bảnchất ăn bám với mức độ cao mà V.I.Lênin gọi là ăn bám “bình phương”, bởi
lẽ tư bản được xuất khẩu trực tiếp vốn là kết quả mà các tổ chức độc quyền đãbóc lột được ở trong nước, nhưng lại được sử dụng để làm công cụ đi bóc lộtnước ngoài với mức lợi nhuận ngang bằng hoặc cao hơn lợi nhuận độc quyềncao trong nước Hơn thế nữa, kết quả bóc lột được từ xuất khẩu tư bản khôngchỉ là nguồn làm giàu trước mắt cho các tổ chức độc quyền, mà còn là nguồn
để củng cố địa vị thống trị và điều kiện ổn định cho việc thu lợi nhuận cao củacác tổ chức độc quyền trong tương lai, bởi lẽ một phần của lợi nhuận đó còn