1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức nho giáo trong tư tưởng đạo đức hồ chí minh

164 932 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa thực tiễn của một số phạm trù cơ bản trong đạo đức nho giáo được Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển đối với việc giáo dục DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 151... Tính cấ

Trang 1

NGUYỄN THỊ HỒNG DOAN

VÊN §Ò KÕ THõA, PH¸T TRIÓN MéT Sè PH¹M TRï

C¥ B¶N CñA §¹O §øC NHO GI¸O TRONG

T¦ T¦ëNG §¹O §øC Hå CHÝ MINH

Chuyên ngành : CNDVBC & CNDVLS

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Ngư ờ i hư ớ ng dẫ n khoa họ c: 1 PGS.TS NGUYỄN THỊ NGA

2 GS.TS NGUYỄN HÙNG HẬU

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu trích dẫn sử dụng trong luận án là trung thực,

có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Những kết luận khoa học rút ra trong luận án là kết quả tìm tòi, nghiên cứu nghiêm túc của bản thân tác giả luận án.

Tác giả

Nguyễn Thị Hồng Doan

Trang 3

Chương 3: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ NỘI DUNG CHỦ YẾU

CỦA VIỆC KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN MỘT SỐ PHẠM TRÙ

CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TRONG TƯ TƯỞNG

3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc kế thừa, phát triển một số

phạm trù cơ bản của đạo đức nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ

3.2 Những nội dung chủ yếu của việc kế thừa, phát triển một số phạm trù

Chương 4: Ý NGHĨA RÚT RA TỪ VIỆC KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN MỘT

SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO

4.1 Ý nghĩa lý luận rút ra từ việc kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ

bản của đạo đức nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 1214.2 Ý nghĩa thực tiễn của một số phạm trù cơ bản trong đạo đức nho

giáo được Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển đối với việc giáo dục

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 151

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hồ Chí Minh không chỉ để lại cho dân tộc ta một sự nghiệp cách mạng

vẻ vang, một sự nghiệp văn hoá đồ sộ mà qua cuộc đời đầy gian khổ hy sinh,

vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ của mình,Người còn để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản lớn, đó là tư tưởng và

tấm gương đạo đức sáng ngời của người cách mạng, tượng trưng cho những

gì cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân cách Việt Nam

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một vĩ nhân, không chỉ ở tầm dân

tộc, mà ở tầm thời đại, tầm nhân loại Trong diễn văn đọc tại lễ kỷ niệm 77 nămthành lập Đảng cộng sản Việt Nam, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã đánh giá:

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, tiêu biểu cho phẩm chất và

khí phách của dân tộc ta, Đảng ta Giáo dục đạo đức, xây dựng lối sống tốt đẹp

theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vừa là yêu cầu cấp bách hiện nay, vừa là

nhiệm vụ cơ bản lâu dài” [75, tr.4] Có thể nói rằng, cả cuộc đời Hồ Chí Minh làmột bài học lớn về đạo đức cách mạng mà ngày nay mỗi người Việt Nam nóichung và mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng cần học tập và noi theo

Hiện nay, Đảng ta xác định: sự xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức ởmột bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên biểu hiện tập trung ở tình trạngtham nhũng đang làm băng hoại nền đạo đức xã hội, băng hoại truyền thống

nhân văn của dân tộc, đang là thách thức lớn nhất của công cuộc đổi mới đấtnước, là nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế độ ta, đang làm mất thanh danh

uy tín của Đảng, Nhà nước, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, vàochế độ xã hội Bên cạnh đó những thang bậc đạo đức xã hội đang có chiều

hướng suy thoái, lối sống theo chủ nghĩa cá nhân chưa bị ngăn chặn , trong

bối cảnh đó đạo đức trong sáng, thanh tao của Hồ Chí Minh lại càng có ýnghĩa thực tiễn vô cùng sâu sắc Làm theo lời Bác dạy và việc Bác làm, hơnlúc nào hết cần lắm ở mỗi cán bộ, đảng viên những việc làm gương mẫu dù lànhỏ còn gấp ngàn lần những lời nói suông

Trang 5

Nho giáo được truyền nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc, trải quahơn hai ngàn năm tồn tại và phát triển, nó đã được Việt Nam hoá theo tinh

thần của người Việt Nho giáo đã trở thành một học thuyết đạo đức - chính trị

xã hội ăn sâu vào tâm tưởng của người Việt Nam Những thang bậc đạo đứccủa Nho giáo, cùng với thời gian được lớp lớp các thế hệ người Việt Nam tiếpthu và phát triển

Học thuyết Nho giáo đã đến với Hồ Chí Minh trong diện mạo hoàn chỉnhcủa một hệ tư tưởng chính trị - đạo đức đã được Việt hoá Hồ Chí Minh là người

ý thức hơn ai hết sự gắn bó của Nho giáo trong đời sống của người Việt

Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, tư tưởng Nho giáo

là hệ tư tưởng sâu sắc về lòng nhân ái, đã thấm nhuần vào Hồ Chí Minh từtấm bé, hình thành nên ở Hồ Chí Minh một trật tự gia phong, một kỷ cương

xã hội, một tinh thần thượng quốc, thương dân Những tư tưởng đạo đức về:Nhân, Nghĩa, Lễ , Trí, Tín, Trung, Hiếu, Cần, Kiệm, Liêm, Chính đã được

Hồ Chí Minh tiếp thu, phát triển và trở thành chuẩn mực sống của Người.Nghiên cứu về vấn đề này, chúng ta nhận thấy, trong nhiều tác phẩm, bàinói, bài viết của Hồ Chí Minh, dấu ấn Nho giáo hiện lên rất đậm nét Hồ Chí

Minh đã có thái độ như thế nào đối với Nho giáo? Với tinh thần Hồ Chí Minh,

chúng ta có thể tiếp thu được những nhân tố tích cực nào của đạo đức Nhogiáo trong sự nghiệp đổi mới hôm nay? Với tinh thần Hồ Chí Minh, nhữngphạm trù đạo đức cơ bản của Nho giáo có ý nghĩa lý luận và thực tiễn như thế

nào đối với việc giáo dục đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viêntrong giai đoạn hiện nay?

Bản thân tác giả nhận thấy đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng,mang tính thời sự cấp thiết trong việc nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ ChíMinh Cũng bởi ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này nên tác giả chọn:

“Vấ n đề kế thừ a, phát triể n mộ t số phạ m trù cơ bả n củ a đạ o đứ c Nho giáo

trong tư tư ở ng đạ o đứ c Hồ Chí Minh” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.

Trang 6

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mụ c đích

- Phân tích sự kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đứcNho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, từ đó rút ra ý nghĩa lý luận vàthực tiễn của việc kế thừa, phát triển đó đối với việc giáo dục đạo đức, lốisống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay

2.2 Nhiệ m vụ

- Tổng quan các công trình nghiên cứu về đạo đức Nho giáo; các côngtrình nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và sự kế thừa, phát triển

đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

- Phân tích, làm rõ một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo ởTrung Quốc và Việt Nam

- Phân tích, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng và nội dung chủ yếu củaviệc kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư

tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

- Phân tích ý nghĩa rút ra từ việc kế thừa, phát triển một số phạm trù cơbản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với việcgiáo dục đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đố i tư ợ ng nghiên cứ u

Sự kế thừa, phát triển số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư

tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

3.2 Phạ m vi nghiên cứ u

Đạo đức Nho giáo là một hệ thống đồ sộ và phong phú, trong luận án chỉ

tập trung phân tích những phạm trù đạo đức tiêu biểu được Hồ Chí Minh kếthừa, phát triển như: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Trung, Hiếu, Cần, Kiệm,Liêm, Chính và ý nghĩa của những phạm trù đó đối với việc giáo dục đạo đức,lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay

Trang 7

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luậ n củ a luậ n án

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước về

đạo đức và về việc kế thừa có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại cùng những giátrị truyền thống của dân tộc, đồng thời luận án cũng kế thừa có chọn lọc kết quảcác công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã công bố liên quan tới đề tài

4.2 Phư ơ ng pháp nghiên cứ u củ a luậ n án

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mác xít, đặc biệt là phương

pháp lịch sử - lôgic, so sánh - đối chiếu, phân tích - tổng hợp, khái quát hoá…

để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra

5 Đóng góp mới của luận án

- Luận án hệ thống hóa lại các phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo có

ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

- Luận án chỉ ra được sự kế thừa, phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh

đối với đạo đức Nho giáo và cách cách tiếp cận khoa học của Người

- Luận án nêu được ý nghĩa rút ra từ việc kế thừa, phát triển một số phạm trù

cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với việc

giáo dục đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Những vấn đề luận án đề cập, giải quyết góp phần làm sáng tỏ việcnghiên cứu về tư tưởng đạo đức Nho giáo và sự ảnh hưởng của đạo đức Nho

giáo đối với tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Luận án sau khi hoàn thiện có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục

vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về đạo đức Nho giáo và đạo đức HồChí Minh

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận án gồm 4 chương, 8 tiết

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO

Nho giáo ra đời trong bối cảnh đất nước Trung Hoa có nhiều biến động

và tự thân Nho giáo đã trải qua nhiều bước thăng trầm trong lịch sử Mục đíchcủa Nho giáo là mong muốn xây dựng một xã hội thái bình, thịnh trị có trật tự

kỷ cương, nề nếp Nho giáo chủ trương lấy Đức trị làm phương thức cai quản

đất nước, vì vậy, Nho giáo đã xây dựng được hệ thống các phạm trù đạo đức,

đề cao việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, xây dựng các mối quan hệ phù hợp với

những chuẩn mực đạo đức Xét về mặt ý thức hệ, Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu

đậm của tư tưởng phong kiến Trung Quốc, mà nền tảng là Nho giáo

Đạo đức Nho giáo, bên cạnh một số yếu tố tích cực, vẫn chứa đựng

không ít những yếu tố tiêu cực mà cho đến nay còn ảnh hưởng khá nặng nềtrong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta Trong nhiều năm trở lại

đây, Nho giáo và đạo đức Nho giáo đã được nhiều học giả quan tâm nghiên

cứu, được đánh dấu bởi các công trình nghiên cứu sau:

Nhóm công trình luận giải nguồn gốc, nội dung của Nho giáo và hệthống những yêu cầu đạo đức của Nho giáo, có thể kể tới một số công trìnhtiêu biểu sau:

Trong “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu [10] Tác giả trình bày,

phân tích những tư tưởng cơ bản của Nho giáo trong quá trình hình thành vàphát triển Qua đó, khi đánh giá, nhận xét về Nho giáo tác giả đã nêu bật và đềcao những nhân tố tích cực của Nho giáo và cho rằng đạo đức Nho giáo có vaitrò to lớn trong việc giáo dục đạo đức con người và đóng góp trong việc ổn

định trật tự xã hội

- “Nho giáo” của Trần Trọng Kim [57] Trong tác phẩm này, tác giả đã

nói rõ về nguồn gốc ra đời và phát triển của Nho giáo ở Trung Quốc qua các

Trang 9

thời kỳ lịch sử cùng nội dung và hệ thống tư tưởng đạo đức chủ đạo của Nho

giáo như: Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa, Lễ Tác giả nêu rõ, trong quan niệm về

Nhân, Khổng Tử cho rằng: Nhân là yêu người (ái nhân); là điều gì mìnhkhông muốn ai làm cho mình thì không nên làm cho ai; là sửa mình trở lạitheo lễ là Nhân Khổng Tử dùng chữ Nhân làm tư tưởng chủ đạo xuyênsuốt trong hệ tư tưởng đạo đức của mình Đến Tuân Tử cũng theo tông chỉcủa Nho giáo lấy Nhân, Nghĩa dạy người Song Tuân Tử chỉ hiểu cái nghĩahẹp của Nhân là ái mà thôi, tức chỉ đơn thuần là một đức tính tốt nói về lòng

yêu thương người

Tác giả cũng nói đến sự phát triển của Nho giáo ở Việt Nam qua sự đạidiện của những nhà Nho ở từng thời kỳ lịch sử Tác giả kết luận về cách tiếpnhận Nho giáo của người Việt phải nên biến đổi luôn song, biến đổi phải lấy

gì làm gốc, để cho sự biến đổi của mình có căn bản mà nghĩa lý vẫn khôngmất Nói theo Nho giáo là theo cái tinh thần cường kiện, đem cái tư tưởng của

ta vượt lên đến cái lý nguyên thủy, rồi cùng với vũ trụ mà lưu hành, mà tạo

tác ra một cuộc nhân sinh có đủ nghị lực để đồng sinh, đồng hóa với vạn vật,biết tùy thời mà ứng biến, nhưng không quên cái gốc cũ, để thành một hạng

người có nhân cách tôn quý, có lòng nhân từ bác ái, có cái sức mạnh mẽ để

cùng với thiên hạ mà sinh tồn, mà xây đắp thêm một vài viên gạch viên đávào cái nền chung nhân loại Tuy vậy, tác giả mới trình bày những nét kháiquát nhất, chưa đi sâu phân tích nội dung và quá trình tiếp biến của Nho giáoViệt Nam

- “Khổng giáo và phê bình tiểu luận” của Đào Duy Anh [1] Trong tác

phẩm này, tác giả nhận định, muốn biết rõ chân tướng Khổng giáo ta phải đặtKhổng Tử vào xã hội đương thời để thấy rằng dẫu là bậc thánh nhân cũngkhông thế vượt ra ngoài không gian và thời gian mà lập túc được Vì tư tưởngcủa Khổng Tử không đơn giản như một người dung phàm, vì vậy, chúng takhông những không nên phủ nhận mà cần nhận rõ chân những điều phức tạpmâu thuẫn của ông Nghĩa là, chúng ta phải quan sát sự nghiệp và học thuyết

Trang 10

của ông bằng con mắt biện chứng mới khỏi thất chân Từ quan điểm đó, tácgiả đi vào nghiên cứu: sự xuất hiện và chân tướng của Khổng giáo; Vì saoKhổng giáo tồn tại được hơn hai nghìn năm? Kết quả Khổng giáo ở TrungQuốc và Việt Nam; Khổng giáo gặp văn hóa phương Tây ở Trung Quốc và ở

nước ta; Khổng giáo không thể tồn tại ở xã hội ta ngày nay, vì vậy thái độ của

chúng ta với Khổng giáo như thế nào?

Qua những phần nghiên cứu trên tác giả đã đưa ra phương pháp khoahọc để nhìn nhận và đánh giá Khổng giáo một cách công bằng Cho dù hiệnnay, nó không còn thích hợp nữa, song không thể phủ nhận công dụng và sựnghiệp của nó trọn vẹn ở trong lịch sử, không ai có thể chối cãi hay xóa bỏ đi

được Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở những nghiên cứu ban đầu về

những ưu và nhược điểm của Khổng giáo đối với xã hội nước ta

- “Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu” của Cao

Xuân Huy [50] Trong cuốn sách này, người soạn đã dành hẳn phần III với

tiêu đề “ Đề cương bài giảng triết học cổ đại Trung Quốc” là nội dung nghiên

cứu về Nho giáo của tác giả Những bài giảng này là chuyên đề triết học

phương Đông được trình bày tại Viện Văn học năm 1962 - 1963 Tác giả tậptrung đi vào nghiên cứu về xã hội và tư tưởng cổ đại Trung Quốc; về Khổng

Tử và nội dung học thuyết của ông Tác giả chỉ ra tư tưởng chính trị - xã hội,nhân sinh quan của Khổng Tử thông qua các sách Luận ngữ và Trung dung.Khi bàn về “Nhân” của Khổng Tử, tác giả cho rằng hai chữ “trung” và “thứ”chưa phải là bản thể của chữ “nhân” Đặc biệt, tác giả nêu được những mâuthuẫn nội tại trong chữ “nhân” của Khổng Tử, vì xuất phát từ một tâm lý phổcập (tính tương cận) mà lại quy kết ở một lý tưởng cao nhất, cần phải một đạithánh mới thực hiện nổi Tiếp theo, vì chữ “nhân” đã là thuộc tính phổ cập, thì

đáng lẽ nó là siêu giai cấp, nhưng nó lại gắn liền với chữ “Lễ”, mà “Lễ” lại là

chính trị tôn giáo hóa của giới quý tộc Những mâu thuẫn nội tại này đều bắtnguồn từ tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” và lập trường điều hòa mâu thuẫncủa Khổng Tử Quả là những nhận xét có giá trị!

Trang 11

Song, cuốn sách mới chỉ dừng lại những nghiên cứu chung về thế giới

quan, tư tưởng chính trị - xã hội của các nhà nho, còn phần nhân sinh quan

mới chỉ dừng lại ở những nghiên cứu bước đầu (nói về Nhân, nói ít về Trung,

và không thấy đề cập đến các phạm trù đạo đức khác)

-“Bàn về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện [145] Qua việc trình bày

những luận điểm về: ông quan và kẻ sĩ, người tiểu nông và quan lại, đời sốnglàng xã và Nho sĩ, nhân - nghĩa - lễ, nho sĩ quan lại và nho sĩ bình dân tácgiả đã đồng thời nêu lên mặt tích cực cũng như mặt tiêu cực của Nho giáo

Khi đánh giá những mặt tích cực, tác giả cho rằng đạo Nho đã đóng một vai

trò quan trọng trong việc hình thành lòng yêu nước Nói về những điều tâm

đắc của mình khi nghiên cứu, tìm hiểu Nho giáo, tác giả đánh giá cao tính vừa

phải, không thái quá trong đạo làm người của Nho giáo và vấn đề ứng xử của

Nho giáo đối với các mối quan hệ trong xã hội

Từ đó, tác giả kết luận, thích cái tinh thần có mức độ, ứng xử vừa phảicủa đạo Nho Không cường điệu lên là yêu hết mọi người ngang nhau, mà bảophải yêu bố mẹ mình, vợ con mình đã rồi mới đến yêu người khác Lấy ân

báo ân nhưng cũng không đến mức lấy ân báo oán, mà báo oán thì lấy công

bằng mà xử lý, nhận rõ điều gì là phi pháp, nhưng không nhẫn tâm đến mức đi tốcáo bố mẹ mình với nhà chức trách Vì cao hơn pháp luật là tình người, là lòngnhân Đó chính là những nhận định có giá trị mà tác giả đã lột tả thành công.Xuất phát từ kinh nghiệm của một số nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo

đã đạt được một số kết quả khả quan về ổn định xã hội và phát triển kinh tế do

biết phát huy những yếu tố tích cực của Nho giáo Từ công cuộc đổi mới hôm

nay, đòi hỏi chúng ta phải giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hóa

của dân tộc, nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu nghiên cứu về Nho giáo ViệtNam, nêu rõ ảnh hưởng của nó trong các lĩnh vực đạo đức, chính trị - xã hội,

hệ tư tưởng, văn hóa, giáo dục Liên quan đến vấn đề này có:

- “Các bài giảng về tư tưởng phương Đông” của Trần Đình Hượu [54].

Phần 1: Tác giả trình bày về tư tưởng Nho gia và Lão Trang và lịch sử vận

Trang 12

động của các hệ tư tưởng này ở Trung Quốc Phần 2: Nho giáo và Nho giáo ở

Việt Nam trình bày nội dung học thuyết Nho giáo, cơ sở kinh tế xã hội củaNho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội Việt Nam hiện đại Đónggóp của tác giả là đã thể hiện được sự hiểu biết sâu về kinh sử nên chỉ ra đượcnguyên lý về sự phát triển của các hệ tư tưởng; từ các vấn đề chung của Nhogiáo góp phần soi sáng sự kiện đại cách mạng văn hóa, chủ nghĩa Mao hayhiện tượng vươn lên của bốn con rồng Châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản, NamTriều Tiên, Đài Loan; soi sáng cả các vấn đề thực tế của Việt Nam như: làng

xã, tổ chức làng xã, bộ máy quan lại, đô thị và khởi nghĩa nông dân Nhữngtrang viết về gia đình Nho giáo như: quan hệ giữa những người thân trong gia

đình, vấn đề thờ cúng tổ tiên, quan hệ họ hàng đều được tác giả trình bày

khoa học và hệ thống

- “Nho giáo xưa và nay” của Vũ Khiêu [60] Cuốn sách là tập hợp các

bài viết của các nhà nghiên cứu về Nho giáo Cuốn sách đề cập đến phương

hướng và phương pháp tiếp cận, nội dung và ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt

Nam, Nho giáo và sự phát triển ở một số nước châu Á Tiêu biểu là các bài

viết: “Hiện đại đối thoại với Nho giáo” của Bùi Đăng Duy, “Khổng giáo và gia đình” của Quang Đạm, “”Nho giáo và văn hóa Việt Nam” của Trần Quốc

Vượng Tựu trung, cuốn sách đặt vấn đề: Nho giáo đã từng bao đời là hệ tưtưởng thống trị trong kiến trúc thượng tầng Trung Quốc, của nhiều nướcphương Đông và của Việt Nam Nho giáo đã góp phần xây dưng một hệ thống

hành chính và quản lý xã hội bao gồm những người trí thức được đào tạocông phu về kiến thức, về cách ứng xử xã hội, về phẩm chất kẻ làm quan.Phải chăng Nho giáo còn có thể giúp ích gì, cả về mặt chính diện và phản diệncho giới quản lý trong xã hội Việt Nam ngày nay?

Tác giả nhận định, trong lịch sử phát triển của xã hội Việt Nam, đã từng

có sự đóng góp to lớn của nhiều nhà trí thức lỗi lạc, vẫn tự nhận là nhà Nho

như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát,

Nguyễn Đình Chiểu Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã sử dụng nhiều

Trang 13

danh ngôn của Khổng Mạnh trong nhiều bài nói và viết của mình Từ đó, tácgiả lập luận cần đánh giá như thế nào cho khoa học và đúng mức ảnh hưởngcủa Nho giáo trong sự cống hiến của các nhà trí thức Việt Nam được gọi lànhững nhà Nho ấy.

-“Nho giáo và đạo đức” của Vũ Khiêu [62] Tác giả cho rằng: Nho

giáo không chỉ là một hệ tư tưởng chính thống trong kiến trúc thượng tầng,

mà còn ăn sâu vào đời sống thường ngày, chi phối ý nghĩ, tình cảm và hành vicủa các tầng lớp nhân dân Thông qua những quy tắc chặt chẽ trong mọi quan

hệ xã hội, đạo đức Nho giáo có sức sống dai dẳng, kéo dài hàng nghìn nămlịch sử

Tác giả nêu vấn đề cần đánh giá đạo đức Nho giáo như thế nào chokhách quan và khoa học? Và trong khi đánh giá lại Nho giáo, không thể mộtchiều đề cao quá mức tư tưởng đạo đức của học thuyết này mà bỏ quên mặttiêu cực của nó trong giáo dục ràng buộc con người vào những nghi lễ hàkhắc Nho giáo luôn luôn lấy khuôn mẫu của người đời xưa giáo dục đời nay:

“theo lịch nhà Hạ, đi xe nhà Ân, mang mũ miện nhà Chu, dũng nhạc Thiều

của vua Vũ” [62, tr.8] Nho giáo khuyên răn con người ta bảo thủ và an phận;

Đạo đức Nho giáo đối lập với tinh thần bình đẳng và dân chủ giữa người vớingười; Nho giáo đem Đức trị đối lập với Pháp trị

Từ nhận định đó, tác giả chỉ rõ: trước những mạnh yếu của đạo đứcNho giáo, chúng ta có thể tiếp thu những gì để phục vụ sự nghiệp đổi mới đất

nước? Nhân, Nghĩa, Lễ, Tín nếu được tước bỏ đi những yếu tố tiêu cực vẫnđầy sức thuyết phục Trong tu thân, Nho giáo có hàng loạt những lời răn dạy:

muốn tu thân trước hết phải giữ lòng dạ mình ngay thẳng Việc trau dồi đứchạnh phải được thực hiện bền bỉ, thường xuyên, theo đuổi đến cùng

Xuất phát từ những nhận định trên, trong cuốn sách này, tác giả đã dày

công sưu tầm và ghi lại những câu trích của Nho giáo, chủ yếu là của Khổng

Mạnh Cuốn sách có ý nghĩa quan trọng đối với những người nghiên cứu về

đạo đức Nho giáo Song cuốn sách mới dừng lại ở việc nêu lên những câu

Trang 14

trích của Nho giáo về đạo đức chứ chưa có sự phân tích, đánh giá về những

câu trích đó

- “Nho giáo tại Việt Nam” của Lê Sỹ Thắng [125] Trong cuốn sách

này, có một số bài viết liên quan đến vấn đề ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo

đối với con người và xã hội Việt Nam như:

+ “Vài nét về tinh thần chống ý thức hệ Nho giáo trong văn học dân

gian Việt Nam” của Bùi Văn Nguyên Tác giả cho rằng: Tổ tiên ta chẳng cầnbiết đến Nho giáo, biết đến thuyết chính danh, định phận, biết đến thuyết tam

cương, ngũ thường, mới biết thương cha, thương mẹ, thương vợ, thương chồng,thương đồng bào dân tộc, mới biết kính trên nhường dưới Trong quá trình lịch

sử, do sự giao lưu văn hóa hoặc do sự ngoại xâm tác động, những hệ tư tưởng

như Nho giáo đã du nhập nước ta Quá trình tiếp thu và chống đối ý thức hệ Nhogiáo đó là một quá trình biện chứng dai dẳng, xen kẽ và phức tạp

Về ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo tác giả quan niệm: dần dần nhữngkhái niệm chủ quan của giai cấp thống trị phong kiến, như ở Trung Quốc và ở

ta là: trung hiếu, đi vào lĩnh vực tình cảm từ thế hệ này qua thế hệ khác, trởthành yếu tố của chủ nghĩa tình cảm, bất chấp mọi phân tích và chứng minhcủa trí tuệ và khoa học.”

Về ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo trong xã hội Việt Namhiện nay, tác giả cho rằng, trải qua thời gian, biết bao tàn dư và tác hại của ýthức hệ Nho giáo, như tác hại về thuyết định mệnh, về lẽ trọng nam khinh nữ,vốn nảy sinh từ thuyết tam cương Và cùng biết bao nhiêu là tàn dư và tác hạikhác do ý thức hệ Nho giáo gây nên, có khi từ thời Triệu Đà đến mãi ngày nay

+ “Ảnh hưởng của Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam” của

Nguyễn Đức Quỳ: Tác giả cho rằng, tư tưởng Nho giáo có ảnh hưởng vô cùngmạnh mẽ tới đời sống tinh thần của người dân Việt Nam Những chuẩn mực

về đạo đức như: tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức đều bó hẹp con

người trong một khuôn phép vô cùng nghiệt ngã, đặc biệt với những ai không

tuân theo những chuẩn mực ấy Tác giả cũng chỉ ra, ngày nay, ảnh hưởng của

Trang 15

mặt trái đạo đức Nho giáo vẫn còn dai dẳng trong đời sống nhân dân ở mọitầng lớp Nó tác động tiêu cực tới suy nghĩ và hành động của một bộ phận

người trong xã hội thể hiện trên những bình diện: Nếp sống không thật sự dân

chủ; Đánh giá con người không đúng theo tiêu chuẩn; Coi thường phụ nữ vàvai trò của phụ nữ trong xã hội

“Nhân dân Việt Nam dưới tác động của Khổng giáo” của Vũ Khiêu Tác

giả phân tích, trong suốt một nghìn năm dưới ách đô hộ của phong kiến

phương Bắc, hệ thống giáo lý Nho giáo đã trở thành phương tiện truyền tải

tinh thần rất độc hại mà giai cấp thống trị đã sử dụng để nô dịch quần chúng

Lễ giáo phong kiến nước ngoài cùng những lời răn dạy của Khổng Tử dần đi

vào đời sống của nhân dân, song cũng gặp những phản ứng gay gắt Nhân dân

ta dù đã phản ứng lại nội dung của “tam cương”, “ngũ thường” của Nho giáo,nhưng những tàn dư, sự hà khắc của lễ giáo đạo Nho như sự khinh rẻ và coithường phụ nữ, trung quân một cách mù quáng là những nội dung mà cuộc

cách mạng văn hóa của chúng ta phải có trách nhiệm xóa bỏ

+ “Vị trí và vai trò của Nho giáo ở thời kỳ cực thịnh của chế độ phong

kiến Việt Nam” của Nguyễn Đức Sự Tác giả cho rằng: Nho giáo vốn gốc từTrung Quốc nhưng đã thâm nhập vào nước ta hàng ngàn năm Nó đã chiếmgiữ một vị trí rất quan trọng trong đời sống tư tưởng và tinh thần của nhân dân

ta xưa kia và trở thành nòng cốt của hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam Do đó,

nó đã ăn sâu vào toàn bộ sinh hoạt xã hội của nước ta trong nhiều thế kỷ

Luận giải về cơ sở giúp cho Nho giáo chiếm được địa vị độc tôn và các phạm

trù đạo đức Nho giáo thâm nhập vào đời sống con người Việt Nam trong thời

kỳ thịnh trị của chế độ phong kiến Việt Nam, tác giả cho rằng: nền sản xuấtnhỏ tiểu nông đã tương đối phát triển ơ nước ta hồi thế kỷ 14 và 15 trở thành

cơ hội để cho Nho giáo dễ dàng thâm nhập vào đời sống Bởi vì Nho giáo với

các khái niệm hiếu, đễ, tiết, hạnh đã góp phần củng cố uy quyền của người gia

trưởng và tôn ty trật tự trong gia đình Hơn nữa, suốt các triều đại Lý, Trần,

Lê, người nông dân Việt Nam tuy sinh hoạt trong gia đình nhưng không tách

Trang 16

rời những quan hệ xã hội của họ Từ đó, tác giả kết luận: cho nên không phải ngẫunhiên mà thôn xã Việt Nam đã giành cho Nho giáo một chỗ đứng nhất định.

Tác giả nêu bật được những nét đặc thù và vị trí của Nho giáo trong thời kỳcực thịnh của nó Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra, Nho giáo ở Việt Nam lúc nàychủ yếu xoay quanh đạo tu thân và phép đối nhân xử thế, đạo trị bình thiên hạ,nên nó không giải đáp được những vấn đề số phận con người, không cắt nghĩa

được sự bất hạnh và rủi ro cũng như không đáp ứng được yêu cầu giải thoát củacon người Vì vậy, dù có chiếm được địa vị độc tôn và đạt tới đỉnh cao nhất của

sự thịnh trị thì Nho giáo ở Việt Nam giai đoạn này vẫn không giữ nguyên bộ mặtvốn có của nó như ở Trung Quốc Nó đã thực sự thay hình, đổi dạng và được cảibiến cho thích hợp với mảnh đất và nhu cầu của xã hội Việt Nam

- “Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam” của GS Phan Đại Doãn [17].

Ở đây, các tác giả đã phân tích rõ những nét cơ bản của tiến trình xác lập vị

thế và những thành tựu của Nho giáo Việt Nam trong chặng đường lịch sử từthế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX, mà đỉnh điểm của nó là thời Lê Thánh Tông(1460 - 1497) Đây là thời kỳ Nho giáo Việt Nam chiếm địa vị độc tôn củachế độ quân chủ chuyên chế ở nước ta

Các tác giả chỉ rõ, cuối thế kỷ XIX, mặc dù Nho giáo Việt Nam ngàycàng suy tàn, không còn đáp ứng được yêu cầu của xã hội Việt Nam, nhưngnhững thành tựu của nó về giáo dục, khoa cử, những yếu tố tiến bộ, hợp lýcủa nó về xây dựng gia đình, xây dựng cộng đồng, tu dưỡng cá nhân, tinhthần hiếu học, tôn sư trọng đạo vẫn cần được khai thác phát huy với hướnggạn đục khơi trong, nối tiếp truyền thống nhằm góp phần tích cực vào côngcuộc xây dưng đất nước ngày một phát triển nhanh và bền vững

Cuốn sách cũng nêu lên được Nho giáo khi vào Việt Nam không còngiữ nguyên như ở Trung Quốc, nó đã được “Việt Nam hóa” Các nhà nho ViệtNam vì công cuộc xây dựng xã hội và bảo vệ Tổ quốc đã tiếp nhận và khaithác những yếu tố Nho giáo cho phù hợp với xã hội và đất nước mình Nóimột cách khác, các nhà nho Việt Nam nặng hơn về luân lý đạo đức, chủ yếu

Trang 17

là hiếu nghĩa, nặng về tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử Bàn nhiều về đạo và

đức, về lễ và pháp, về quân tử và tiểu nhân, về trị và loạn Các nhà nho ViệtNam đã đơn giản hóa và thực dụng hóa tư tưởng của Khổng, Mạnh, Trình,Chu Các vương triều và Nho sĩ Việt Nam đã tiếp nhận Nho giáo như một

công cụ tư tưởng để tổ chức xã hội, trước hết là ở các phương diện như: nhân

cách cá nhân, gia đình được củng cổ, xã hội và đất nước được ổn định Các

nhà nho Việt Nam không bàn nhiều về lý luận phức tạp, mà chú trọng vàocủng cố nhân luân, hiếu đễ - những tư tưởng cơ bản của đạo đức Nho giáo

- Hội thảo “Nho giáo ở Việt Nam” do Viện nghiên cứu Hán Nôm và

Viện Harvard - Yenching (Mỹ) phối hợp [147] Các nhà khoa học Việt Nam

và các nhà khoa học đến từ các nơi trên thế giới như: Mỹ, Trung Quốc, Đài

Loan , đã thảo luận nhiều vấn đề xoay quanh các nội dung: Ảnh hưởng củaNho giáo trong đời sống hiện nay; quá trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam;ảnh hưởng của Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam thời phong kiến; Tưtưởng Nho giáo trong văn học và sử học thời phong kiến, Các tham luận

về các vấn đề trên đều khẳng định: Nho giáo giữ một vị trí khá quan trọng

trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam và nó có ảnh hưởng sâu đậm đối

với con người và xã hội Việt Nam

Các tác phẩm trên, bên cạnh việc phê phán những ảnh hưởng tiêu cựccủa Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng, nhiều tác giả đã đặt ravấn đề kế thừa và phát triển những giá trị tích cực của nó nhằm khắc phụcnhững mặt tiêu cực, góp phần xây dựng đạo đức mới ở nước ta trong giai

đoạn hiện nay Tuy nhiên nội dung của việc kế thừa đó mới chỉ dừng lại ở

những nghiên cứu bước đầu

1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VÀ SỰ KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TRONG TƯ

TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và sự kế thừa, phát triển

đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đã nhiều tác giả bàn

luận đến, có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau đây:

Trang 18

- “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh truyền thống dân tộc và nhân loại”,

của Vũ Khiêu [61] Đây là công trình được xuất bản trong khuôn khổ chương

trình nghiên cứu về Tư tưởng Hồ Chí Minh (đề tài KX02) Công trình là tập

hợp các bài tham luận và bài phát biểu tại Hội thảo về nguồn gốc hình thành

và đặc điểm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh; về Hồ Chí Minh với các giá trị

và tinh hoa đạo đức của nhân loại Công trình tập trung vào nhận định: quá

trình hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một cuộc cách mạng trên lĩnhvực đạo đức, nó thể hiện một thái độ khoa học đối với đạo đức cũ Trên cơ sởcủa chủ nghĩa Mác - Lê nin, Hồ Chí Minh đã gạt bỏ những cái đã lỗi thời, pháthuy những nhân tố tích cực của đạo đức cũ để xây dựng một kiểu đạo đức mới

Đạo đức mới là đạo đức chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng của dân tộc, vì sự tiến

bộ của cả nhân loại, vì tự do và hạnh phúc của mỗi con người

Công trình chỉ rõ: Từ những quan điểm đạo đức rất cơ bản, rất lớn đếnnhững nội dung đạo đức rất bình thường đều được Hồ Chí Minh trình bày rõràng, ngắn gọn, giản dị, nhiều khi rất cô đọng và súc tích như những châmngôn Giúp chúng ta tìm thấy những căn cứ đúng đắn nhất để xét người xétviệc và xem xét chính bản thân mình Giúp chúng ta tìm thấy ở đây nhữngchuẩn mực để yêu hay ghét, trọng hay khinh, ca ngợi hay chê trách, tán thànhhay phản bác, và đặc biệt quan trọng là để phấn đấu và vươn tới những cái

cao đẹp nhất của con người Đó là những vấn đề tư tưởng đạo đức được thể

hiện trong lời nói và bài viết của Người

Trong công trình này, đặc biệt có hẳn một phần nội dung về Hồ ChíMinh với học thuyết của Khổng Tử và tư tưởng đạo đức phương Đông Đáng

chú ý là các bài: “Tư tưởng đạo đức ở Khổng Tử và Hồ Chí Minh” của Phan

Văn Các, “Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với Nho giáo” của Nguyễn Đình

Chú, “Hồ Chí Minh và đạo đức Nho giáo” của Đặng Việt Bích, “Hồ Chí

Minh tiếp thu và không tiếp thu những gì ở Nho giáo” của Vũ Đăng Như

đều là những bài viết mang tính khoa học và có giá trị cao trong nghiên cứu

về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Trang 19

- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, của Thành Duy [19] Đây là công

trình nghiên cứu công phu của tập thể các nhà khoa học đã có quá trình nhiều

năm nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh Cuốn sách được trình bày một cách

có hệ thống nguồn gốc, đặc trưng và những nội dung cơ bản của hệ thống tư

tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Trên cơ sở nghiên cứu bản chất và nội dung tưtưởng đạo đức Hồ Chí Minh, cuốn sách đã khẳng định tính phổ biến và giá trịtrường tồn của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nhằm quán triệt và vận dụng tưtưởng đạo đức và tấm gương đạo đức của Người trong bối cảnh xã hội hiện nay

Đặc biệt, cuốn sách đã trình bày một cách khoa học về tư tưởng đạođức Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do; tư tưởng đạođức Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng đất nước vì dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng và văn minh; tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong học tập,

tu dưỡng, rèn luyện con người mới; tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong sự

nghiệp đổi mới hiện nay của cách mạng nước ta Từ đó, khẳng định trên con

đường đi tới xã hội ngày mai, để có thể cùng năm châu khẳng định tương laitươi sáng của một xã hội phát triển kỳ diệu trong khoa học - kỹ thuật hiện đại,

tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vẫn luôn luôn là bó đuốc soi đường cho dân

tộc ta, cho nhân loại tiến bộ Bởi lẽ, con người và hạnh phúc của con ngườivẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

- “Nho giáo và phát triển ở Việt Nam” của Vũ Khiêu [64] Trong tác

phẩm này, Vũ Khiêu đã đề cập đến vai trò của Nho giáo trên con đường cáchmạng và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam ngày nay Người đại diện cho

sự vận dụng đầy tính biện chứng và khoa học đó là chủ tịch Hồ Chí Minh.Tác giả nhận định: Hồ Chí Minh được sinh ra trong một gia đình nhà Nho,

được sống giữa một quê hương bao đời theo Nho học, lại được chứng kiến

những hành vi yêu nước và chống giặc đầy nhiệt tình và khí phách của nhândân Trong hoàn cảnh ấy, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những truyền thống đạo

đức của dân tộc thể hiện trong sinh hoạt của nhân dân và chứa đựng trong

nhiều câu chữ của Nho giáo

Trang 20

Tác giả phân tích, Hồ Chí Minh chứng kiến sự bất lực của Nho giáo

trước chủ nghĩa đế quốc; Hồ Chí Minh thấy rõ được những ưu điểm, nhượcđiểm của Nho giáo trước nhu cầu mới của đất nước và cũng chính Hồ ChíMinh là người đã vận dụng thành công ưu điểm đó trong việc xây dựng nên

nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng

Tác giả so sánh: Nếu như Nho giáo đặt vấn đề tu dưỡng đạo đức lênhàng đầu “từ bậc thiên tử xuống tới hạng bình dân, ai nấy đều phải lấy tu thânlàm gốc” nhằm thực hiện một xã hội lý tưởng theo mô hình Nho giáo với sựthống trị của “vua hiền, tôi giỏi” thì trong sự nghiệp cách mạng Hồ Chí Minhcũng coi “đạo đức là gốc” và đòi hỏi người cách mạng phải có bản lĩnh đạo đức.Nếu Nho giáo coi thực hiện lý tưởng của mình là một nhiệm vụ rất khó khăn thì

Hồ Chí Minh cũng coi nhiệm vụ cách mạng là nặng nề, phức tạp và gian khổ

Tác giả cũng cho rằng, trải qua hai cuộc kháng chiến đầy gian lao thửthách, có thể nói Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng khá nhiều những kinhnghiệm của Nho giáo vào việc giáo dục đạo đức và phát động tinh thần của

nhân dân nhưng sự vận dụng đó được nhìn dưới lăng kính của chủ nghĩa Mác

- Lê nin Trong quá trình lịch sử này không thể bỏ qua sự đóng góp những lời

răn dạy được rút ra từ trong Nho giáo Tuy nhiên, không phải để thực hiện

mục tiêu của Nho giáo mà để đi ngược lại mục tiêu ấy, hướng vào sự nghiệpgiải phóng cho tổ quốc và nhân dân

Song sự phân tích của tác giả về vấn đề này mới dừng lại ở những nétkhái quát nhất, chưa đi sâu phân tích cụ thể trong cách vận dụng từng phạm

trù đạo đức của Nho giáo trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh

- “Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh” của Trần Văn Giàu

[41] Tác giả đi sâu vào nghiên cứu những nền móng trang bị kiến thức và tư

tưởng của Hồ Chí Minh thời trẻ; những yếu tố tư tưởng được Hồ Chí Minh

tiếp cận ở Tây Âu trước khi gặp chủ nghĩa Mác - Lê nin; tư tưởng Hồ Chí

Minh được hình thành về cơ bản trong thời kỳ lịch sử 1920 - 1930; cách mạng

giải phóng dân tộc - là vấn đề cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 21

Trong khi trình bày về các vấn đề trên, tác giả có lồng ghép về đạo đức

Hồ Chí Minh Tác giả nhận định: Sự quan tâm thật nhiều đến đạo đức là đặcsắc nổi bật nhất của chủ tịch Hồ Chí Minh làm cho Cụ Hồ phân biệt với hầuhết các nhà lãnh đạo cách mạng khác

Để trả lời cho câu hỏi “Đạo đức học Hồ Chí Minh chủ yếu là gì?”, tác

giả viện dẫn câu trả lời của thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Học Cụ Hồ là họccần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Cụ Hồ kế thừa và phát huy cả mộttruyền thống dân tộc về đức cần, kiệm” [41, tr.166] Tác giả khẳng định: “Ở

Cụ Hồ nói và làm là một; chính đời sống, đời hoạt động của Cụ Hồ là một

pho sách lớn về đạo đức học, một mạch nước ngầm từ lòng trái đất, trong

veo, vô tận” [41, tr.167].

- “Thử tìm mối quan hệ giữa tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và tư tưởng đạo đức Nho giáo” của Nguyễn Bình Yên [151] Tác giả đã chỉ ra

được, Nho giáo ảnh hưởng sâu sắc không chỉ đối với những người nho học

mà còn ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân Việt Nam Ảnh hưởng của Nho

giáo trong đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam là một đặc điểm lớn của lịch

sử Việt Nam; tư tưởng đạo đức Nho giáo có ảnh hưởng nhất định đối với tư

tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Từ đó tác giả đặt vấn đề và đi vào phân tích: HồChí Minh đã tiếp thu và phê phán những gì ở tư tưởng đạo đức Nho giáo? Giữa

tư tưởng đạo đức Nho giáo và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có những điểmtương đồng và khác biệt gì? Tuy nhiên, do khuôn khổ là một bài báo trên tạp chí,

tác giả mới chỉ dừng lại ở những nghiên cứu bước đầu, chưa đi sâu một cách có

hệ thống Song, đây là những đóng góp, trao đổi rất đáng trân trọng

- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Bình với đề tài: “Quan niệm Nho giáo

về các mối quan hệ xã hội Ảnh hưởng và ý nghĩa của nó đối với xã hội ta ngày nay” [7] Tác giả luận án đã trình bày được đặc điểm của xã hội Việt

Nam qua các triều đại phong kiến và sự vận dụng Nho giáo Quan niệm củaNho giáo về các mối quan hệ xã hội như quan hệ gia đình, quan hệ vợ chồng,quan hệ anh em Ví dụ khi đề cập đến các mối quan hệ trong cộng đồng gia

Trang 22

đình, tác giả lập luận: gia đình được Nho giáo coi là gốc của xã hội Vì vậy,Nho giáo đòi hỏi mỗi gia đình phải là một tổ chức chặt chẽ.

Tác giả đi sâu phân tích về đạo Hiếu của Nho gia và khẳng định: Hiếu là

đạo thường của trời, là lẽ phải của đất, là bản tính tự nhiên vốn có của người,

là gốc của đạo làm người, là nết đầu trong trăm nết của con người, là cơ sở để

con người trở thành người quân tử, thành kẻ đại trượng phu, thậm chí có thể

trở thành thánh nhân

Tác giả viện dẫn quan niệm về Hiếu của Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử

Đến Đổng Trọng Thư thì quan niệm về Hiếu không còn giữ nguyên ý nghĩa

tốt đẹp ban đầu, mà thay vào đó là một hệ thống lý luận chặt chẽ, giáo điều,gắn với những nghi thức rườm rà, những đòi hỏi vô lý buộc con người phảituân theo một cách gò bó, hình thức và an phận dưới chế độ phong kiến nhiềubất công Nó khiến cho mọi người vì chữ Hiếu mà không ai dám chống lại trật

tự xã hội đã được an bài theo mệnh trời, theo lệnh vua và ý trời

Do giới hạn của đề tài luận án, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân tíchcác mối quan hệ trong xã hội, chứ không chủ tâm phân tích về các phạm trù

đạo đức cơ bản của Nho giáo

- Luận án tiến sĩ của Hoàng Trung với đề tài: “Đạo đức cách mạng trong

tư tưởng Hồ Chí Minh qua các phạm trù mà người sử dụng” [142] Tác giả

nêu về khái niệm đạo đức cách mạng mà Hồ Chí Minh đã sử dụng và đi sâuphân tích nội dung đạo đức cách mạng theo quan điểm của Hồ Chí Minh Tácgiả chỉ rõ: Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của người cáchmạng Theo Hồ Chí Minh thì đối với con người, sức có mạnh mới gánh đượcnặng và đi được xa, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoànthành nhiệm vụ cách mạng

Tác giả có đề cập đến việc Hồ Chí Minh kế thừa có chọn lọc các phạmtrù của đạo đức Nho giáo như: Nhân, Nghĩa, Trung, Hiếu Sự vận dụngnày của Hồ Chí Minh nhằm xây dựng nên nền đạo đức cách mạng phục vụcho cán bộ và nhân dân Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu phân tích quan niệmcủa Nho giáo về các phạm trù đó một cách có hệ thống

Trang 23

- “Nâng cao đạo đức cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân” của Nguyễn

Khánh Bật (chủ nhiệm), Hoàng Trang, Trần Minh Trưởng [6] Nhóm tác giảchỉ rõ: sau gần 30 năm đổi mới, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt được nhữngthành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử

Bên cạnh những thành tựu rất đáng tự hào, trong những năm đổi mới đãxuất hiện một thực tế là sự suy thoái về đạo đức, lối sống và chủ nghĩa cánhân , phát triển trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên giữ cương

vị lãnh đạo, kể cả một số cán bộ cấp cao

Đề tài cũng kết luận: việc học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh để

khắc phục hàng loạt các hiện tượng tiêu cực của xã hội hôm nay cũng nhưngày mai là một nhiệm vụ cần thiết Mặc dù điều kiện xã hội hôm nay vàngày mai có những đặc điểm khác nhau, nhưng tính biện chứng, tính cáchmạng và khoa học của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh sẽ làm cho nhận thức

và hành động của con người có khả năng thích nghi với những biến đổi nhất

thời để giữ lấy cái bất biến, cái bản chất trường tồn của nó

Tuy nhiên, đề tài chỉ đi sâu khai thác về thực trạng đạo đức trong thời kỳ

kinh tế thị trường và đề xuất nhóm giải pháp khắc phục Nêu được tính cầnthiết phải học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chứ chưa đề cập đếnnguồn gốc, quá trình, sự cần thiết để hình thành nền đạo đức cách mạng, trong

đó có sự ảnh hưởng không nhỏ của đạo đức Nho giáo

-“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, của Ban Tư tưởng Văn hóa

Trung ương [3] Cuốn sách này là tập hợp những bài nghiên cứu về tư tưởng

Hồ Chí Minh, một số ý kiến của Hồ Chí Minh về đạo đức, những câu chuyệnchân thật, sinh động về tấm gương đạo đức của Người Tiêu biểu là những

bài: “Giá trị tư tưởng đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh” của Đào Duy Tùng; “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” của Nguyễn Bá Linh; “Hồ Chí Minh

và đạo đức” của Phạm Văn Đồng…

Trang 24

- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Mai “Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay” [74] Tác giả trình bày được những vấn đề cơ bản sau: Nội dung chủ yếu

của đạo đức Nho giáo và nét riêng của đạo đức Nho giáo Việt Nam; Phân tíchthực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức cán bộ lãnh đạo,quản lý hiện nay ở nước ta; Đưa ra một số giải pháp cơ bản để phát huynhững mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức Nho giáo trong việcxây dựng đạo đức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay

- “Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh”, của Hội đồng Trung ương chỉ

đạo biên soạn [49] Đây là một công trình công phu của nhóm biên soạn do

GS Đặng Xuân Kỳ chủ biên Công trình này đã giới thiệu được tương đối

toàn diện và có hệ thống những những tư tưởng lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh

về cách mạng Việt Nam Phản ánh được những thành tựu mới nhất trongnghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh từ sau đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VII đến nay Trình bày được những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh kết hợp

với việc đề xuất vận dụng, quán triệt tư tưởng ấy trong công cuộc đổi mới

Đặc biệt, công trình giành hẳn một chương trình bày về tư tưởng Hồ

Chí Minh về đạo đức và khẳng định đạo đức là một trong những vấn đề quan

tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng Đồng thời chỉ rõ,

những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới

theo tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: trung với nước, hiếu với dân; yêu thươngcon người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong

sáng Bên cạnh đó cũng chỉ ra những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới theo

tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức;xây đi đôi với chống; phải tu dưỡng đạo đức suốt đời và ý nghĩa của tưtưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay

-“Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh qua tác phẩm đạo đức cách mạng” của Phạm Ngọc Anh [2] Đây là tập hợp các chuyên đề khoa

học của nhóm tác giả lớp cao học Hồ Chí Minh khóa 19 Trong đó có các

Trang 25

chuyên đề mang ý nghĩa thực tiễn cao khi nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hồ

Chí Minh như: “Quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa đạo đức

cách mạng và năng lực, trình độ của cán bộ, đảng viên” của Hoàng Bắc Lĩnh,

“Quan điểm của Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình để giúp nhau tiến

bộ trong cán bộ, đảng viên” của Bùi Thị Trà Ly

Ngoài ra còn có các đề tài luận án tiến sĩ nghiên cứu đến một số khíacạnh của Nho giáo về con người và đạo đức, sự ảnh hưởng của nó ở Việt Nam

như: “Vấn đề con người trong Nho học sơ kỳ”của Nguyễn Tài Thư; “Ảnh

hưởng của Nho giáo đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống”của Trần Thị Hồng Thúy; “Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người và ý

nghĩa của nó đối với việc giáo dục con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Nguyễn Thị Nga

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra được một cách

tương đối hệ thống về nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng đạo đức Hồ

Chí Minh; chỉ ra được phần nào sự tác động, ảnh hưởng của một số phạm trù

đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh; chỉ ra được Hồ ChíMinh đã kế thừa, phát triển những phạm trù đạo đức Nho giáo đó ở mức độ

nào Song, những công trình trên mới chỉ dừng lại ở những nghiên cứu ban

đầu, chưa phân tích được một cách toàn diện sự kế thừa những phạm trù cơ

bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, chưa nêu

được điểm tương đồng, chưa nêu được sự khác biệt căn bản về chất giữa tưtưởng đạo đức Nho giáo và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Tiểu kết chương 1

Tổng quan những công trình khoa học có liên quan đến nội dung đề tàiluận án để thấy rõ, các công trình trên đã nghiên cứu và giải quyết được ởmức độ khác nhau những vấn đề:

- Nguồn gốc, đặc điểm của Nho giáo và đạo đức đức Nho giáo;

- Mức độ ảnh hưởng của Nho giáo và đạo đức Nho giáo trong xã hộiViệt Nam từ phong kiến đến ngày nay;

Trang 26

- Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và sự ảnh hưởng đạo đức Nho giáo

trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Cho đến nay, dưới góc độ triết học, không có nhiều công trình nghiêncứu sâu và toàn diện về mặt lý luận vấn đề kế thừa, phát triển một số phạm trù

cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Đặc biệt,

chưa có các công trình nghiên cứu lớn, hay các luận văn, luận án hướng vàoluận bàn trực tiếp, phân tích, tìm hiểu, làm rõ một cách có hệ thống tính khácbiệt trong sự kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáotrong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Trong khi đó, nghiên cứu về tư tưởng

đạo đức Hồ Chí Minh và thực hành theo đạo đức của Người đã trở thành

nhiệm vụ thường xuyên do Đảng ta phát động sâu rộng trong Đảng cũng nhưtrong nhân dân Vì vậy, rất cần thiết phải có nhiều hơn nữa các công trìnhnghiên cứu chuyên sâu về sự kế thừa có chọn lọc và phát triển sáng tạo những

tinh hoa văn hóa nhân loại trong tư tưởng đạo đức của Người, mà những

phạm trù đạo đức Nho giáo là một trong những tinh hoa đó

Xuất phát từ lịch sử quá trình nghiên cứu trên, tác giả mong muốn được

đi sâu nghiên cứu đề tài “Vấ n đề kế thừ a, phát triể n mộ t số phạ m trù cơ bả n

củ a đạ o đứ c Nho giáo trong tư tư ở ng đạ o đứ c Hồ Chí Minh”.Trên cơ sở kế

thừa những giá trị của các công trình đã công bố, luận án sẽ tiếp tục triển khainghiên cứu các nội dung sau:

Thứ nhất, phân tích, làm rõ một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho

giáo ở Trung Quốc và Việt Nam

Thứ hai, phân tích, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng và nội dung chủ yếu

của việc kế thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo

trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Từ đó chỉ ra sự khác biệt trong việc kế

thừa, phát triển một số phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởng

đạo đức của Người

Thứ ba, phân tích ý nghĩa rút ra từ việc kế thừa, phát triển một số phạm

trù cơ bản của đạo đức Nho giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với

việc giáo dục đức, lối sống cho cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

Trang 27

Chương 2 MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO

s

2.1 NỘI DUNG MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO

Ở TRUNG QUỐC

Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, “phạm trù” là khái niệm

rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung,

cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định Trong

nhiều công trình của các nhà nghiên cứu đi trước, khi bàn về đạo đức, các tácgiả có thể dùng “khái niệm” hoặc “phạm trù” Trong quá trình viết luận ánnày, tác giả nhận thấy việc xác định là “phạm trù đạo đức cơ bản” được rút rabởi sự tác động qua lại ba chiều giữa tần suất xuất hiện của các phạm trù và vịtrí của chúng trong hệ thống Nho giáo, đặc biệt bởi sự kế thừa, phát triển saunày của Hồ Chí Minh nên tác giả thống nhất dùng “phạm trù đạo đức cơ bản”với ý muốn diễn đạt rộng hơn và nhấn mạnh tính cơ bản, quan trọng củanhững phạm trù đạo đức đó

Có thể nói rằng, Nho giáo đã xây dựng được một cách có hệ thống cácphạm trù đạo đức rất đa dạng và tương đối hoàn chỉnh về Cương Thường, tamtòng tứ đức, tiết hạnh Trong phạm vi luận án này, tác giả chỉ nói đến một sốphạm trù đạo đức cơ bản sau:

2.1.1 Phạm trù Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín

Phạ m trù Nhân:

Trong đạo đức làm người, đức Nhân được Khổng Tử đặt lên hàng đầu

và coi là tiêu chuẩn cao nhất “Nhân” là điều hợp với đạo trời và lòng người

Đức Nhân đối với mọi người dân trong thiên hạ còn hơn cả nước, lửa: “Đức

nhân cần yếu cho dân còn hơn nước và lửa Tuy vậy, ta thấy có người giẫm

vào nước, lửa mà phải chết Chớ ta chưa thấy ai giẫm vào đức nhân mà chết

bao giờ” [14, tr.253] Đối với người chí sĩ, Khổng Tử nói: “Người có chí và

người có nhân chẳng vì lẽ bảo tồn sanh mạng mà làm hại đức nhân; hạng

Trang 28

người ấy có khi phải tự mình quyên sanh để giữ trọn đức nhân vậy” [14,

tr.243] Đức Nhân hay con người có đức Nhân được biểu hiện bởi:

Nhân cách: đó là phải xác định được chủ thể của mình trong mối quan

hệ xã hội, phát huy được phẩm chất chủ thể ấy đối với mọi người xung quanh,

đó là xác định tư cách của người có đức nhân Khổng Tử ví người có đức

Nhân như nước vậy Nước có thể cho khắp mà không riêng ai, đến đâu thì ở

đó sống, không đến đâu thì ở đó chết Nước chảy xuống chỗ trũng, chảy

quanh co giống như nghĩa vậy Nước từ trên cao trăm trượng đổ xuống màkhông ngần ngại giống như “dũng” Nước ở chỗ cạn thì lưu hành, ở chỗ sâuthì không lường được giống như “trí” Yếu ớt mờ nhỏ mà đâu cũng thấm

được giống như soi xét tinh tường Như vậy, nhân cách theo Khổng Tử là mỗingười phải tự trau dồi cho mình những đức tính tốt đẹp, đủ để toả ra cho mọingười xung quanh như nước vậy

Nhân ái: Là lòng thương yêu người Thân ái yêu thương người như thể

thương thân, mình thành công cũng giúp cho người thành công, điều gì mình

không muốn thì đừng bắt người khác phải muốn, đó là: “Kỷ sở bất dục vật thi

ư nhân” [14, tr.180] Có nhân mới có ái, có ái mới bộc lộ ra tính nhân Có bác

ái mới xem mọi người như anh em ruột thịt “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”.Nhân ái là phải đầy lòng yêu người, yêu vật, muốn cho mọi người được như ýmuốn Tuy nhiên, yêu người theo Khổng Tử không phải là con người chungchung mà mang tính biệt ái (yêu thương người thân rồi mới đến sơ (đã là

người quân tử, không bao giờ bỏ rơi người thân))

Chỉ có người có nhân mới biết yêu, biết ghét Khổng Tử nói: “Duy cóbậc nhân từ mới biết thương người và ghét người một cách chính đáng mà thôi”[14, tr.51] Nho giáo thường lấy đức Nhân để làm mục đích tu đạo, Khổng Tửviết: “ Muốn tu tập đạo đức, phải nhờ ở lòng nhân (tu thân dĩ đạo; tu đạo dĩnhân) [13, tr.69] Trả lời học trò Phàn Trì hỏi về đức Nhân, Khổng Tử giải thích:

“Khi ở nhà, mình giữ gìn dung mạo cho khiêm cung; khi ra làm việc, mình thi

hành một cách kính cẩn; khi giao thiệp với người, mình giữ dạ trung thành Dẫu

Trang 29

có đi đến các đoàn rợ phương Đông và phương Bắc, mình cũng chẳng bỏ ba

hạnh cung, kính và trung ấy; như vậy là người có đức nhân” [14, tr.207]

Nhân an: Là lòng yêu thương người phải tự nhiên không khiên cưỡng.Nhân và an quan hệ mật thiết với nhau An là cái đức tính tốt của người cónhân, lúc nào cũng tự nhiên, làm việc gì cũng thung dung trúng đạo, ứng ralàm việc gì cũng phù hợp với tính thiện Có an mới nhân được Khổng Tử nói:

“Kẻ nào miệng nói lời hoa mỹ; còn mặt mày thì trau chuốt, hình dạng thì kiểu

cách, áo quần thì lòe loẹt; kẻ ấy hẳn kém lòng nhân” (xảo ngôn, lệnh sắc, tiển

lễ tiết Ngày nào mà mình khắc kỷ, phục lễ, ngày đó mọi người trong thiên hạ

tự nhiên cảm hóa mà theo về đức nhân Vậy làm nhân là do nơi mình, chớ há

do nơi ai sao?” [14, tr.181]

Còn khi Trọng Cung, học trò cao đệ của Khổng Tử hỏi về đức Nhân,Khổng Tử đáp: “Khi ra khỏi nhà, mình phải giữ cho nghiêm trang kính cẩn

dường như sắp gặp khách quý; khi sai dân làm việc công, mình sốt sắng thận

trọng dường như thừa hành một cuộc cúng tế lớn Trong nước, chẳng ai oánmình Đó là hạnh của người nhân” [14, tr.181]

Trả lời Tư Mã về đức nhân, Khổng Tử cho: “Người có nhân phải biếtnhịn nói” [14, tr.183]

Qua cách trả lời các học trò của Khổng Tử, ta có thể kết luận: Nhân làlòng thương người, hay cứu giúp người Nhưng muốn đạt đến mức ấy, mỗinhà học đạo phải tùy căn tính mình mà thi hành Cũng bởi vậy, với Nhan Uyên,Khổng Tử dạy thống trị lấy mình và cư xử theo lễ Với Trọng Cung, Khổng Tửdạy nên giữ gìn lấy cử chỉ mình từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội Còn vớitrò Tư Mã, Khổng Tử lại dạy nên giữ gìn lời nói, đừng có khinh suất

Trang 30

Nho giáo dạy Nhân là gốc lớn của sự sinh hoá trong trời đất Thế giannhờ đó mà đứng, vạn vật nhờ đó mà sinh, quốc gia nhờ đó mà còn, lễ nghĩanhờ đó mà phát hiện ra Cho nên, Nho giáo lấy Nhân làm cái tông chỉ duynhất trong học thuyết của mình Đối với từng người một thì Nhân là cái hành

xích để biết việc phải trái, điều hay dở Sự ngôn luận, sự hành vi của người ta

mà hợp với đạo Nhân là hay, là phải, trái với đạo Nhân là dở, là xấu

Nho giáo dạy Nhân là gốc mở đầu của đạo đức Điều trọng yếu cốt ở

đức nhân Nhân là đích tu dưỡng quan trọng Ai đạt bậc nhân thì làm việc gì

cũng được lòng người, có ích cho đời Bởi vậy, Khổng Tử nói: người quân tửtrong bữa ăn cũng không trái điều nhân, vội vàng cũng phải theo nhân, hoạn nạncũng phải giữ nhân Bao nhiêu hành vi đạo đức đều xuất phát từ nhân mà ra

Vì đức Nhân to lớn và sâu xa như vậy, nên cái học của Nho giáo chủ yếu

ở đức Nhân Bởi bao nhiêu hành vi đạo đức là căn bản ở Nhân cả

Trong sách “Luận ngữ” và “Mạnh Tử” của Nho giáo, Nghĩa là hợp lý,

hợp với đạo nghĩa Trong suốt cuộc đời mình, Khổng Tử nói nhiều về Nhân,

ít nói đến Nghĩa, nhưng những việc Khổng Tử làm luôn hành động theo

Nghĩa Nghĩa theo quan niệm của Khổng Tử là lẽ phải, là đường hay, là việc

đúng, là thấy việc gì phải đáng làm thì làm, không mưu tính đến lợi ích cá

nhân Còn việc nên làm mà không làm là bất nghĩa, việc không nên làm màlàm cũng là bất nghĩa Khổng Tử khuyên người ta nên như những cây tùng,cây bách chẳng đổi màu xanh những năm trời rét, đã theo điều Nhân thì phảikhắc phục mọi khó khăn, gian khổ, không bao giờ dao động và phải kiên trì

đến chết Theo ông: bậc quân tử làm việc cho đời, không có việc gì mà người

ấy cố ý làm, không có việc gì người ấy cố ý bỏ, hễ hợp nghĩa thì làm Mạnh

Trang 31

Tử nói: “Bậc đại nhân, khi nói chẳng cần dặn mình phải tín thật, khi làmchẳng cần dặn mình phải quả quyết; người chỉ tùy cảnh ngộ mà nói và làmcho hợp nghĩa là được” [16, tr.45].

Những người bỏ “Nhân, Nghĩa” là những người tự bỏ mình: “Kẻ tự hạimình, chẳng chịu nghe lời phải của ai hết Kẻ tự bỏ mình, chẳng làm việc gìvới ai được hết Nói ra trái nghịch lễ, nghĩa, đó kêu là tự hại mình Tự nhậnrằng mình chẳng có thể ở trong đức nhân và noi theo đức nghĩa, đó kêu là tự

bỏ mình” [16, tr.21]

Nghĩa gắn liền với Nhân Nhân thể hiện tình cảm sâu sắc, thì Nghĩa lànghĩa vụ thực hiện tình cảm đó: “Nhân là lương tâm của người, nghĩa là con

đường chính đại của người Những ai bỏ con đường chính đại của mình mà

chẳng theo, những kẻ để thất lạc lương tâm của mình chẳng biết tầm nó lại,thật đáng thương hại thay!” [16, tr.167]

Nghĩa gắn liền với lợi, người ta sinh ra sống bằng nghĩa và lợi, lợi đểnuôi thân thể, nghĩa để nuôi cái tâm Tâm không có nghĩa không vui được,thân không có lợi không yên Nhưng thân an không có gì quý bằng cái tâmtrong sáng, nên nuôi thân thể không có gì quý bằng cái nghĩa Cái nghĩa

nuôi người ta sống lớn hơn cái lợi Cho nên thấy cái lợi phải nghĩ đến điều

nghĩa, không nên vì lợi mà làm mất nghĩa Khổng Tử cũng luôn đặt nghĩa

đối lập với lợi, và cho rằng: "bậc quân tử tinh tường về việc nghĩa, kẻ tiểu

nhân rành rẽ về việc lợi (quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi) ” [14,tr.58-59] Đã là người quân tử thì không bao giờ thấy điều lợi mà bỏ việcnghĩa Nếu làm việc phi nghĩa mà được phú quý thì đành chịu bần tiện còn

hơn Cho nên Khổng Tử nói: “Phạn sơ tự, ẩm thuỷ, khúc quăng nhi chẩm

chi, lạc diệc tại kỳ trung hỹ Bất nghĩa nhi phú thả quý, ư ngã như phù vân”(nghĩa là: ăn cơm thô, uống nước lã, co cánh tay mà gối đầu,ở trong cảnh

đơn bạc như vậy, nhà đạo đức cũng lấy làm vui Chớ do nơi những cuộc

hành vi bất nghĩa mà trở nên giàu có và sang trọng, thì ta coi cảnh ấy nhưmây nổi) [14, tr.107]

Trang 32

Khổng Tử cũng cho rằng, bậc quân tử nên dung hòa nhân nghĩa và tài lợi.Nếu mình chỉ biết lợi cho mình, cho nhà mình, cứ lo vơ vét, bóp chẹn, thì làmhại dân, họ sẽ oán hận mình và có thể hại mình: “kẻ nào nương theo lợi mà thihành, ắt có nhiều người oán thù” (Phỏng ư lợi nhi hành, đa oán) [14, tr.54-55].Trần Trọng Kim trong tác phẩm ‘Nho giáo’ đã viện dẫn quan niệm củaTuân Tử về vấn đề này: nếu con người ta biết làm cho lòng hiếu nghĩa thắng

được lòng dục lợi thì thành ra hay, còn để lòng dục lợi đè được lòng hiếu

nghĩa, thì thành ra dở “Nghĩa thắng lợi giả vi trị thế, lợi khắc nghĩa giả vi loạnthế: nghĩa thắng được lợi là đời trị, lợi đè được nghĩa là đời loạn” [57, tr.317];

“nghĩa trước mà lợi sau là vinh, lợi trước mà nghĩa sau là nhục (Tiên nghĩa

nhi hậu lợi giả vinh, tiên lợi nhi hậu nghĩa giả nhục)” [57, tr.317]

Những điều cản trở làm việc nghĩa là phú quý, uy lực, bần tiện Nênmuốn thực hiện điều nghĩa thì phải phú quý bất chính không ham muốn, uy

vũ không khuất phục, không vì nghèo khó mà bị chuyển lay

Phạ m trù Lễ :

Phạm trù Lễ được đứng sau phạm trù Nhân, Nghĩa, vì Lễ đóng vai tròquan trọng trong việc đưa nhân nghĩa vào trong cuộc sống hàng ngày, đưanhân nghĩa trở thành quy tắc, đi sâu vào tâm lý con người, giáo dục con người

tự nguyện tuân theo để duy trì kỷ cương xã hội

Lễ tiết là qui củ, chuẩn mực của con người Không nên khiếm khuyếtcũng không nên thái quá Những tính tốt như cung kính, dũng cảm, cẩn thận,ngay thẳng mà không tuân theo lễ tiết đều thành những tật xấu Về điều này,Khổng Tử nói: “cung nhi vô lễ, tắc lao; thận nhi vô lễ, tắc tỹ; dũng nhi vô lễ, tắcloạn; trực nhi vô lễ, tắc giảo” (cung kính quá lễ thành ra lao nhọc thân hình; cẩnthận quá lễ thành ra nhát gan; dũng cảm quá lễ thành ra loạn nghịch; ngay thẳngquá lễ thành ra gắt gỏng, cấp bách) [14, tr.120-121] Hoặc: “sắc chi chẳng hạp lễthì mình đừng ngó, tiếng chi chẳng hạp lễ thì mình đừng nghe, lời chi chẳng hạp

lễ thì mình đừng nói, việc chi chẳng hạp lễ thì mình đừng làm (phi lễ vật thị,phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động)” [14, tr.181]

Trang 33

Lễ là toàn bộ những quy tắc ứng xử, mang tính nghi thức và nội dung

văn hoá mà Nho giáo đòi hỏi mọi người nhất thiết phải tuân theo Lễ theo

Nho giáo còn đòi hỏi mọi thành viên trong xã hội từ vua quan đến hạng thứdân ai cũng phải xác định đúng vị thế của mình trong xã hội, gọi đúng chức

danh, làm đúng phận sự Lễ được diễn ra từ việc tế lễ thần thánh, thờ cúng tổtiên, đến mọi quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè, đến những

nghi thức trong ma chay, cưới xin, giỗ tết, đến cung cách đi đứng, chào hỏi,

ăn uống, trang phục tất cả đều phải có lễ, phải theo lễ Trong xã hội Nho

giáo, những hoạt động lễ coi như những hành vi chính trị, vì thế gọi là Lễ trị

Lễ trị có tác dụng nhiều mặt đối với con người

Lễ gây tình cảm thiện mỹ: trong không khí lễ nghi, với những trangphục nghiêm túc, con người không thể không vươn tới hoặc trở về với tínhthiện, nghĩ tới điều nhân; Lễ tiết chế sống có đức độ: những cái thường tình ở

con người nếu có thừa thì thường hay xa xỉ, nếu thiếu thốn thì lại dè xẻn, nếukhông ngăn cấm thì hoang dâm, vô độ, không tiết độ thì tổn thất, buông thả

lòng dục Vì vậy, trong ăn uống phải có hạn, y phục có tiết chế, nhà cửa có

phép độ là đề phòng nguyên nhân gây nên loạn.; Lễ giúp con người giữ đúngđạo phải trái, trật tự trên dưới: “Đạo đức nhân nghĩa không có lễ không thành,

dậy bảo sửa đổi phong tục không lễ không đủ, xử việc phân tranh kiện tụngkhông lễ không quyết, vua tôi trên dưới, cha con, anh em không lễ không

định, học tập thờ thầy không lễ không thân thiết, xếp đặt triều chính, điều

hành quân lính, ở chốn công đường không lễ không nghiêm Bởi thế ngườiquân tử (người có lễ) dung mạo phải ung dung, trong lòng phải kính cẩn giữgìn phép tắc, xử thế nhường nhịn để làm sáng rõ lễ” [18, tr.184-185]; Lễ còndạy con người định rõ thân sơ, quyết sự hiềm nghi, làm sáng rõ phải trái, biệnbạch những điều bí ẩn đề phòng giữ cho dân, trên dưới có bậc, làm cho dân cólòng khoan dung, nhường nhịn

Nhận thấy vai trò của Lễ và đề cao Lễ, nên Khổng Tử yêu cầu mọi

người, từ vua cho tới thường dân trong lời nói cũng như việc làm đều phải

Trang 34

nghiêm khắc với mình ngay từ những điều nhỏ nhất trong sinh hoạt hàngngày Không những chỉ kêu gọi mọi người thực hiện đúng Lễ, mà bản thânông cũng là một tấm gương về tuân thủ điều Lễ.

Tư tưởng Lễ của Khổng Tử đã được Mạnh Tử, Tuân Tử kế thừa Tuân

Tử cho rằng, bậc quân vương hàng ngày phải tự xem xét lại mình ba lần đểbiết đã làm đúng Lễ chưa Đến Đổng Trọng Thư thì Lễ đã được đẩy đến cực

điểm của sự khắt khe, hà khắc Chính vì Lễ mà đã dẫn đến những hành vi ngu

trung, ngu hiếu mù quáng như thường thấy ở không ít người trong xã hội Nho

giáo trước đây

Như vậy, Lễ của Nho giáo là đạo lý, là phép tắc, là hành vi chính trị,qua đó giúp con người duy trì, phân rõ tôn ti trật tự trong gia đình, ngoài xã

hội, quốc gia Sự giáo hoá của lễ có ý nghĩa rất lớn trong xã hội Nho giáo xưa,

ngăn cấm điều lâm nguy khi chưa xảy ra, giúp con người gần điều thiện Với

ý nghĩa quan trọng của lễ như vậy nên Khổng Tử đã đề ra biện pháp giáo dục,dạy cho con người hiểu về lễ như một thứ nhu cầu văn hoá đó là “tiên học lễ,hậu học văn” Việc rèn luyện con người theo phương châm này phải được bắt

đầu ngay từ lúc còn thơ ấu Khổng Tử đòi hỏi phải xây dựng cho trẻ những

khuôn phép tốt để suốt đời chúng tôn trọng và làm theo Sự giáo dục của Nhogiáo nhằm xây dựng con người có lễ, trọng lễ đạt tới mức độ sâu sắc Ở chỗ

có lễ, trọng lễ đã trở thành tiêu chuẩn đạo đức để đánh giá hành vi của con

người Người có lễ là người biết tự chủ, hoà đồng đúng mức với mọi người.Người không học lễ sẽ không biết lập thân, không nêu được khuôn phép tronggia đình và ngoài xã hội Nho giáo còn huy động dư luận toàn xã hội chê bai

những người không biết thế nào là liêm sỉ, đề cao những người biết trọng sỉ,khinh ghét kẻ vô lễ Nếu vi phạm lễ sẽ trở thành điều day dứt đau khổ, thậm

chí đến mức thà chết chứ không bỏ lễ

Xét về ý nghĩa tích cực, Lễ đã đạt tới mức độ sâu sắc, đã trở thành tiêuchuẩn đánh giá và thước đo phẩm giá của con người Sự giáo dục con ngườitheo Lễ của Nho giáo đã tạo thành hiệu ứng xã hội rộng lớn, giúp con người

Trang 35

biết quý trọng lễ và khinh ghét người vô lễ Lễ không chỉ dừng lại ở những lờigiáo huấn mà đã đi vào lương tâm, hành động của con người Nhờ tin vào Lễ

và làm theo Lễ mà con người sống có trật tự trên dưới, thứ bậc, xã hội ổn địnhtrong khuôn khổ của chế độ phong kiến Trải qua nhiều thế kỷ, ở Trung Quốccũng như ở nhiều nước theo Nho giáo, trật tự trong gia đình và ngoài xã hội

được giữ yên Lễ đã trở thành điều kiện trong việc quản lý gia đình và đấtnước Nhờ Lễ mà đạo cương - thường được củng cố và duy trì Đó cũng chính

là thành công của Nho giáo

Xét về ý nghĩa tiêu cực, Lễ là sợi dây ràng buộc, làm cho suy nghĩ và

hành động của con người trở nên cứng nhắc theo một khuôn phép cũ, bất di

bất dịch và do đó Lễ kìm hãm sự phát triển của xã hội, làm cho xã hội trở nêntrì trệ

Phạ m trù Trí:

Trí được Nho giáo rất coi trọng và được đề cập khá nhiều trong các lờiđối thoại của các Theo Khổng Tử thì: Trí là sự minh mẫn, sáng suốt trongcon người để phân nhà nho biệt được kẻ chính, người tà Khi trả lời Phàn Trì

hỏi về Trí, Khổng Tử đã đáp rằng: “Chuyên làm việc nghĩa giúp người; kínhtrọng quỷ thần, nhưng không hay gần, tức là không ưa cầu thỉnh vái van quỷthần; như vậy có thể gọi là trí” (Vụ dân chi nghĩa: kính quỷ thần, nhi viễn chi;khả vị trí hỹ) [14, tr.92-93];

Trả lời Phàn Trì hỏi về đức trí, Khổng Tử đáp: “trí là biết người” (Tri

nhơn) [14, tr.193] Khổng Tử quan niệm, người có trí sẽ biết phân biệt kẻchính, người tà, nên sẽ bỏ kẻ tà để lựa người chính, khiến cho ai nấy đều sẽ

quay về nẻo chính, đường lành Trí phải gắn liền với nhân, nghĩa Người nhânphải là người có trí, trí tuệ có minh mẫn, sáng suốt thì mới hiểu được đạo lý,

xét đoán được sự việc, phân biệt được chính tà, thi hành được điều nhân

Muốn có Trí thì phải học vì Trí không phải tự nhiên mà có, nó là mộtquá trình không ngừng học hỏi Khổng Tử nói: Có học mới gần được Trí Trí

là đức tính của con người không còn mê hoặc Nếu không học thì dù có thiện

Trang 36

tâm đến đâu cũng bị cái ngu dốt làm cho biến chất Cho nên muốn trở thànhngười có nhân thì phải học Bản thân Khổng Tử là một tấm gương sáng về sự

hiếu học “học mà không chán, dạy mà không mỏi” Khổng Tử cho rằng, họchỏi để cho biết là việc rất quan trọng có ý nghĩa quyết định trong đối nhân xửthế Những câu chuyện của Nho giáo coi trọng việc học để lại như “nhất tự vi

sư, bán tự vi sư” đã nói lên tinh thần ham học, cầu học, tinh thần tôn sư

trọng đạo của Nho giáo Tuy nhiên, Khổng Tử lại chỉ đóng khung cái sự học(trí) trong việc học tập sách vở của ông, học tập những lời nói và việc làm của

người xưa, học những điều nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, hiếu Nên những

học trò của Khổng Tử thiếu những tri thức khoa học để vận dụng vào thựctiễn lao động sản xuất

Sau này, Trình Tử đã đề ra chuẩn mực cho người có Trí như sau: một là

“cách vật” (hiểu biết hết mọi sự việc), hai là “trí tri” (hiểu biết vấn đề gì cũng

phải tường tận gốc rễ), ba là “thành ý” (là ý thức chân thành, khiêm tốn trong

sự hiểu biết), bốn là “chính tâm” (hiểu biết trong sự ngay thẳng, chính trực)

Đạt được những điều đó, là con người có Trí toàn vẹn

Nội dung Trí của Khổng Tử không phải là sự phản ánh tính tất yếukhách quan của tự nhiên và xã hội, để từ đó đưa lại tự do cho hành động của

con người Trí chỉ là nhận thức chủ quan có tính chất mệnh lệnh và cưỡng ép

do những ông thánh hiền đưa lại cho quần chúng Trí ấy không giải phóng

con người mà chỉ nô dịch thêm Nó chỉ làm cho những hành động mù quáng

của con người có một tính hợp lý giả tạo Tuy Khổng Tử không coi lý trí củaông bắt nguồn từ thế giới bên kia như Platon (nhà triết học Hilạp cổ đại),

nhưng lý trí của ông cũng đã xuất phát từ giai cấp bóc lột và được đưa vào thế

giới bên này một cách cưỡng ép

Kế thừa tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử cũng đề cao Trí, nhưng pháttriển nó theo chiều hướng duy tâm Mạnh Tử cho rằng: con người ta sinh ra aicũng có năng lực nhận biết phải trái, nhận biết phải trái là đầu mối của trí.Nên theo ông có những việc người ta không cần học mà cũng làm được gọi là

Trang 37

“lương năng” và có những điều không cần nghĩ cũng biết gọi là “lương tri”.

Mạnh Tử rất coi trọng những người lao động trí óc Mạnh Tử cho, mọi nghề

đều kém, duy chỉ có nghề đọc sách là cao quý, người lao tâm là người đáng

quý, sẽ trị người lao lực, người lao lực bị người trị, kẻ bị người trị thì nuôi

người, kẻ trị người thì được người nuôi: "Có người làm việc bằng tâm trí ; có

kẻ làm việc bằng tay chân Người làm việc bằng tâm trí thì cai trị dân chúng;

có kẻ làm việc bằng tay chân thì chịu quyền điều khiển Kẻ chịu quyền điềukhiển có phận sự cung cấp cho người bề trên; nhà cai trị dân chúng được dânchúng phụng dưỡng” [15, tr.167] Thực chất quan niệm này là bảo vệ quyềnlợi cho giai cấp thống trị, coi khinh nhân dân lao động, coi thường lao độngchân tay

Mạnh Tử cũng luận giải, người có trí nếu thuận theo tính tự nhiên thì sẽkhông bị người đời chán ghét:

Nếu kẻ trí biết làm theo phép lưu thông sông rạch của ông Vũ (quan

đại thần của vua Thuấn, lo việc trị thủy) thì người ta chẳng hề chán

ghét cái trí của họ Thuở xưa, ông Vũ làm cho nước lưu thông, làthuận theo thế nước, tính nước cho nên ông làm việc chẳng có chikhó nhọc Như kẻ trí cũng y theo đó mà làm, tức là tùy theo thế, tính

tự nhiên, ắt họ làm việc chẳng có chi khó nhọc mà được thành công,thì trí thực họ mới đáng kể là rộng lớn đó (còn kẻ trí làm ngược vớitính tự nhiên, việc cố nhiên, chẳng qua là hạng trí thức nhỏ hẹp màthôi) [16, tr.57-59]

Sau Nho giáo phát triển thêm ra cái trí của bậc thánh nhân, cái trí của

người quân tử và cái trí của kẻ tiểu nhân, cái trí của kẻ sĩ và cái trí của đứa

dịch phu Điển hình cho cách phân chia này là Tuân Tử Ông nói:

Nói nhiều, có văn vẻ, nghị luận suốt ngày về những điều mình nói,thiên cử vạn biến, mà cái thống loại vẫn là một, ấy là cái trí củathánh nhân Nói ít thì dễ dàng mà rõ rệt, nghị luận có khuôn phép,

không có phóng túng, như kéo thẳng cái dây, ấy là cái trí của kẻ sĩ

Trang 38

và quân tử Lời nói thì siểm, việc làm thì trái với lời nói, việc làmthì nhiều sự khinh nhờn, ấy là cái trí của kẻ tiểu nhân Thoắngthỉnh, bộp chộp mà không có thống loại, kỳ quặc viển vông mà

không dùng được, gãy gọn, nhanh nhảu, tinh tường mà không vụ

lấy thiết thực, không kể việc phải việc trái, không bàn đến điều

cong, điều thẳng, chủ ý chỉ kỳ lấy tranh thắng với người ta, ấy là

cái trí của đứa dịch phu vậy [57, tr.318]

Như vậy, Trí theo sự phát triển sau này của Nho giáo đã có sự phân biệt

rạch ròi giữa các tầng lớp người trong xã hội Sự phân biệt này mang màu sắctiêu cực, nó nhằm trọng dụng cái trí của tầng lớp có địa vị, quyền hành trong

xã hội như bậc thánh nhân, người quân tử, kẻ sĩ Còn cái trí của những tầnglớp dưới mà Tuân Tử gọi là kẻ tiểu nhân, đứa dịch phu là cái trí không đượctrọng dụng Với nghĩa này, Trí của Nho giáo còn nhiều hạn chế

Phạ m trù Tín: Theo thứ tự thì phạm trù Tín được xếp xuống hàng thứ

năm trong đạo đức Nho giáo, song không phải vì thế mà hạ thấp chữ tín Bởiđức tín là hệ quả của bốn đức trên Có nhân, nghĩa, lễ, trí mới gây được lòng

tin, mới thực hiện được chữ tín Người không có đức tín thì mất hết đức nhân,nghĩa, lễ, trí, là người bỏ đi Khổng Tử viết:

Nếu người bề trên chuộng lễ, thì dân chẳng dám bỏ niềm cung kính.Nếu người bề trên háo nghĩa, thì dân chẳng bội lẽ công chính Nếu

người bề trên biết tín thật, thì dân chẳng dám sai ngoa trong tình giaoước Nếu nhà cầm quyền ở đủ lễ, nghĩa, tín như vậy, thì dân chúng từ

bốn phương xa sẽ đưa con đến để phục dịch mình [14, tr.201]

Trả lời Tử Trương hỏi về cách cư xử để đi đến đâu cũng được trót lọt,việc hanh thông, mọi người tín phục, Khổng Tử đáp:

Người nào nói lời chi cũng trung thành, tín thật, làm việc chi cũngđốc hậu, kính cẩn, dẫu cho đến xứ thô tục của người miền Nam hay

miền Bắc, cũng được thông hành Còn kẻ nào nói lời chi cũng chẳngtrung, chẳng tín, làm việc chi cũng chẳng đốc, chẳng kính, dẫu ở nơi

Trang 39

văn nhã miền châu thành hay ở hương lý, cũng chẳng được thông

hành [14, tr.241]

Nội dung của phạm trù Tín, theo Khổng Tử là phải có lòng tin tuyệt đối

vào chính đạo, vào đạo lý của thánh hiền, vào mối quan hệ giữa vua tôi, cha

con, chồng vợ, anh em, bằng hữu Muốn thực hiện đức Tín phải giữ đúng lễ,

chính danh, đủ lợi Đúng lễ là đủ hiểu biết để thực hiện điều nhân nghĩa

Chính danh là quan hệ đối xử đúng phân vị

Khổng Tử cũng cho rằng, cơ sở của sự cai trị một đất nước là chữ tín.Một nước phải có ba điều: quân đội, lương thực, chữ tín Nếu bất đắc dĩ phải

bỏ một thì bỏ quân đội, phải bỏ hai thì bỏ thêm lương thực, nhưng xưa naykhông bao giờ có thể bỏ chữ tín mà cai trị được nước Người cai trị không hứalấy lòng cho được việc, hay vì tương quan lực lượng Đã hứa là phải làm.Then chốt của thuyết trị nước dựa trên lòng tin của người bị trị, trên sự chấpnhận của người bị trị Bởi vì lòng tin là sức mạnh văn hoá, lòng tin là bắtnguồn từ chính đạo Chiến lược, sách lược giữ nước hợp khả năng thực tế,hợp lòng dân sẽ chuyển hoá và tạo nên sức mạnh chiến thắng

2.1.2 Phạm trù Trung, Hiếu

Phạ m trù Trung:

Với nghĩa ban đầu của đạo đức Nho giáo, Trung là cái gốc của trời đất,

là cái gốc lớn nhất của thiên hạ, con người ta sinh ra ai cũng bẩm sinh có cái

“trung” để làm tính thường Thiên “Thang cáo” trong Kinh Thư nói rằng:

“Duy hoàng thượng đế, giáng trung vu hạ dân, nhược hữu hằng tính” (nghĩalà: Hoàng thượng giáng cái trung xuống cho hạ dân, dân có cái trung ấy như

có tính thường) [57, tr.81]

Theo được đạo trung là rất khó, mỗi người phải giữ cái tâm của mình

cho tinh thuần và chuyên nhất thì mới có thể giữ được Muốn vậy, ai cũngphải gắng sức, để giữ cho cái tâm công chứng, không để cái tư dục làm cho bếtắc Khổng Tử nói: “Quân tử thời trung” nghĩa là người quân tử khi xử lý mọiviệc lúc nào cũng phải tuỳ thời để giữ cho vừa phải và chính đáng

Trang 40

Xét ở mối quan hệ quân - thần (vua tôi), Khổng Tử cho rằng mỗi bên

đều có trách nhiệm với nhau, đều có cách đối xử cần thiết và cách đối xử củabên này là điều kiện để bên kia có cách đối xử tương ứng Nếu vua giữ lễ với

bề tôi thì bề tôi phải trung với vua, ngược lại vua không giữ lễ với bề tôi thì

bề tôi không nhất thiết phải trung vua Theo Khổng Tử, nguyên nhân dẫn đếnloạn lạc thời Xuân Thu là do vua không ra vua, bề tôi không ra bề tôi, dẫn đếntình hình tranh giành địa vị của nhau, vương hầu lấn át quyền thiên tử Muốn

để cho thiên hạ thái bình thì phải thực hiện chính danh sao cho vua phải ra

vua, quan phải ra quan

Bởi vậy, Khổng Tử không chủ trương ngu trung tức không bắt buộc bềtôi phải phục vụ bề trên vô điều kiện như nội dung của các nhà nho sau này

Đối với Khổng Tử, mối quan hệ vua tôi là mối quan hệ hai chiều Quân có

nhân thì thần mới trung, bậc quân tử ở trên nếu muốn cho các quan và dânchúng ở dưới đều thành thật với mình, hết lòng với mình, thì cần giữ bổnphận mình, tức là ăn ở theo lễ và thực hành chính sách nhân ái, ông viết:

“Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung” (Vua khiến bề tôi thì phải giữ lễ

phép; bề tôi thờ vua thì phải cho hết lòng Đó là đạo quân thần) [14, tr.43].Khổng Tử đòi hỏi vua phải là một bậc minh quân, một tấm gương sáng

về đạo đức, biết trọng người tài, rộng lượng với bề tôi Ông yêu cầu vua phải

là người tài đức, thể hiện ở việc vua phải đảm bảo cho đời sống của người dânđược no ấm, phải xây dựng được lực lượng quân đội hùng mạnh và phải

chiếm được lòng tin của nhân dân Mạnh Tử và Tuân Tử đều cho rằng: trungkhông phải là tuyệt đối trung thành, nếu vua không ra vua thì thần dân khôngnhất thiết phải trung Mạnh Tử nói: “Vua mà coi bề tôi như tay chân, ắt bề tôi

sẽ coi vua như bụng dạ Vua mà coi bề tôi như chó ngựa, ắt bề tôi sẽ coi vua

như kẻ qua đường Vua mà coi bề tôi như bùn rác, ắt bề tôi sẽ coi vua như kẻcướp người thù” (Quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc

tâm Quân chi thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhơn.Quân chi thị thần như thổ giái, tắc thần thị quân như khấu thù) [16, tr.40-41]

Ngày đăng: 01/01/2015, 10:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1939), Khổng giáo phê bình tiểu luận, Quan hải tùng thư, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng giáo phê bình tiểu luận
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1939
2. Phạm Ngọc Anh (Chủ biên) (2013), Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập và làm theo tư tưởng đạođức Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Ngọc Anh (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
3. Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh vềđạo đức
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương
Năm: 2005
4. Bảo tàng Hồ Chí Minh (2010), "Nguyễn Ái Quốc điền Bản khai đại biểu tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản (2) ngày 16-8-1935", http://www.baotang hochiminh.vn, truy cập ngày 15/7/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ái Quốc điền Bản khai đại biểutham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản (2) ngày 16-8-1935
Tác giả: Bảo tàng Hồ Chí Minh
Năm: 2010
5. Nguyễn Duy Bắc (2008), Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách Khoa
Năm: 2008
6. Nguyễn Khánh Bật (Chủ nhiệm), Hoàng Trang, Trần Minh Trưởng (2004), Nâng cao đạo đức cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân, Báo cáo tổng quan đề tài KX 03.01, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao đạo đức cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân
Tác giả: Nguyễn Khánh Bật (Chủ nhiệm), Hoàng Trang, Trần Minh Trưởng
Năm: 2004
7. Nguyễn Văn Bình (2001), Quan niệm Nho giáo về các mối quan hệ xã hội. Ảnh hưởng và ý nghĩa của nó đối với xã hội ta ngày nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Viện Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm Nho giáo về các mối quan hệ xãhội. Ảnh hưởng và ý nghĩa của nó đối với xã hội ta ngày nay
Tác giả: Nguyễn Văn Bình
Năm: 2001
8. Phan Văn Các (1995), “Nho học và sự nghiệp đổi mới đất nước”, Tạp chí Cộng sản, (9), tr.22-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho học và sự nghiệp đổi mới đất nước”,"Tạp chíCộng sản
Tác giả: Phan Văn Các
Năm: 1995
9. Các tác giả Hán Nôm Thăng Long (2009), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tác giả Hán Nôm Thăng Long
Tác giả: Các tác giả Hán Nôm Thăng Long
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2009
10. Phan Bội Châu (1998), Khổng học đăng, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng học đăng
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1998
11. Doãn Chính (Chủ biên) (1997), Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
12. Đoàn Trung Còn (Dịch giả) (2006), Đại học (Tứ Thư, trọn bộ 4 tập), Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học (Tứ Thư, trọn bộ 4 tập)
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2006
13. Đoàn Trung Còn (Dịch giả) (2006), Trung dung (Tứ Thư, trọn bộ 4 tập), Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung dung (Tứ Thư, trọn bộ 4 tập)
Tác giả: Đoàn Trung Còn (Dịch giả)
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2006
14. Đoàn Trung Còn (dịch giả) (2006), Luận ngữ (Tứ Thư, trọn bộ 4 tập), Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận ngữ (Tứ Thư, trọn bộ 4 tập)
Tác giả: Đoàn Trung Còn (dịch giả)
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2006
15. Đoàn Trung Còn (Dịch giả) (2006), Mạnh Tử (Quyển Thượng) (Tứ Thư, trọn bộ 4 tập), Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạnh Tử (Quyển Thượng) (Tứ Thư,trọn bộ 4 tập)
Tác giả: Đoàn Trung Còn (Dịch giả)
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2006
16. Đoàn Trung Còn (Dịch giả) (2006), Mạnh Tử (Quyển Hạ) (Tứ Thư, trọn bộ 4 tập), Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạnh Tử (Quyển Hạ) (Tứ Thư, trọnbộ 4 tập)
Tác giả: Đoàn Trung Còn (Dịch giả)
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2006
17. Phan Đại Doãn (1999), Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chínhtrịquốc gia
Năm: 1999
18. Nguyễn Đăng Duy (1998), Nho giáo với văn hoá Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo với văn hoá Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1998
19. Thành Duy (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1996
20. Thành Duy (1999), "Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam", Tạp chí Thông tin lý luận, (6), tr.8-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức trong sự nghiệpcách mạng Việt Nam
Tác giả: Thành Duy
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w