1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của học sinh trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh

139 492 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 451,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tàiNgày nay, trong thời đại của khoa học công nghệ và kỹ thuật số hóa, đặc biệt là sự xuất hiện của mạng thông tin toàn cầu (Internet), thế giới như bị thu nhỏ lại, ranh giới giữa các quốc gia cũng ngày càng trở nên mỏng manh hơn, không một quốc gia nào có thể phát triển trong sự biệt lập với thế giới bên ngoài. Ngược lại, sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng và tác động trực tiếp đến từng quốc gia, từng khu vực và toàn thế giới. Hiện tượng cộng sinh văn hóa là một tất yếu và là một đặc trưng mới của văn hóa thế giới. Internet đã tạo cơ hội để các dân tộc có thể gần gũi, hiểu biết và xích lại gần nhau. Sự giao thoa, tiếp biến văn hóa do đó đang diễn ra hết sức phức tạp và mạnh mẽ. Mỗi dân tộc vừa được sống với bản sắc văn hóa của dân tộc mình, vừa được tiếp xúc, học tập và tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác để làm phong phú thêm cho nền văn hoá của chính dân tộc mình. Trong sự giao lưu đó, nghệ thuật và nghệ thuật âm nhạc có thể được coi là một trong những lĩnh vực cực kì năng động của nền văn hóa. Nó được xem là lĩnh vực tiên phong trong việc giao lưu, giới thiệu và phát triển văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia ra với thế giới. Tuy nhiên có thể nói rằng, sự giao lưu văn hóa toàn cầu trong thời đại ngày nay đang đặt ra cho mỗi quốc gia rất nhiều thách thức. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, việc văn hóa mỗi quốc gia bị ảnh hưởng, xâm nhập là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, làm thế nào để không bị lai căng và đồng hóa lại là điều tùy thuộc vào khả năng, năng lực, cũng như những chính sách, đường lối quản lý và phát triển riêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Trong bối cảnh chung đó, Việt Nam không tránh khỏi những tác động mạnh của nền công nghiệp kỹ thuật số và thông tin toàn cầu (internet). Sự tiếp cận và giao lưu văn hoá quốc tế rộng rãi tạo điều kiện cho giới trẻ Việt Nam trong việc thưởng thức cái hay, cái đẹp của các nền văn hoá trên thế giới. Tuy nhiên, tác động của khuynh hướng thương mại hoá trong hoạt động văn hoá, văn nghệ, cùng với sự phát tán nhanh chóng của truyền thông, kĩ thuật số và internet, làm xuất hiện nhiều biểu hiện tiêu cực cả trong lĩnh vực thẩm mỹ nghệ thuật nói chung và thẩm mỹ âm nhạc nói riêng, cũng như lối sống trong một bộ phận lớn giới trẻ hiện nay, nhất là ở các thành phố lớn. Có thể nói, chưa bao giờ không gian nước ta lại vang lên đa dạng âm thanh của biết bao dòng nhạc trên thế giới, từ kinh điển, bác học đến đại chúng, giải trí và cũng chưa bao giờ Việt Nam lại có một nền âm nhạc lộn xộn và bế tắc như trong hơn một thập kỷ qua. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, âm nhạc đã đóng góp vai trò không nhỏ trong việc nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, làm cho cuộc sống không ngừng được cải thiện. Bên cạnh tính tích cực vốn có của dòng âm nhạc chính thống, thì trong đời sống hiện nay, một số hoạt động âm nhạc mang tính giải trí, thị trường còn bộc lộ tính yếu kém, xa rời bản sắc, thuần phong mỹ tục, làm cho cái đẹp trong âm nhạc, méo mó, biến dạng. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của giới trẻ Việt Nam – Những người luôn đi đầu trong việc tiếp cận với công nghệ thông tin, kĩ thuật số. Họ rất năng động trong việc tìm tòi cái mới lạ để khẳng định bản thân nhưng thiếu kinh nghiệm và sự định hướng cần thiết của xã hội. Giới trẻ, đặc biệt là lứa tuổi HS THPT – lứa “tuổi hồng” – lứa tuổi cực kì nhạy cảm về tâm sinh lý. Các em ở lứa tuổi này rất thích thể hiện bản thân, nhạy cảm với cái mới. Đây là lứa tuổi có nhiều mơ mộng, khát khao sáng tạo, ưa thích cái mới lạ, chuộng vẻ đẹp hình thức nên dễ bị cái đẹp bên ngoài lôi cuốn làm lung lay ý chí, có mới nới cũ. Thêm vào đó, việc bắt đầu quan tâm nhiều tới việc tham gia các nhóm bạn, coi tình bạn là mối quan hệ quan trọng nhất. Đó là một trong những điều kiện đặc trưng khiến các em ở lứa tuổi này rất dễ bị ảnh hưởng bởi các “hiệu ứng đám đông” hay tâm lý “bầy đàn” khi tham gia vào các hoạt động thưởng thức âm nhạc. Một số lượng các em HS THPT tại Tp.HCM còn tham gia cả vào những FC hùng hậu của các ca sỹ trẻ, nhóm nhạc trẻ ở trong và ngoài nước. Những hình ảnh fan cuồng Kpop ở giới trẻ là những điểm nhức nhối nhất trong vài năm qua đối với nền âm nhạc Việt Nam. Chính vì vậy, trong bối cảnh nền âm nhạc Việt Nam đang vấp phải sự khủng hoảng, rối ren trong những năm qua, khiến một bộ phận lớn các em HS THPT đã chạy theo những giá trị ảo, tầm thường của dòng nhạc thị trường nhiều màu sắc thị giác hơn là giá trị thực của một tác phẩm nghệ thuật. Đặc biệt ở các TP lớn thì vấn nạn “văn hóa thần tượng” trong giới trẻ đã trở thành đề tài đáng bàn hơn bao giờ hết.Thành phố Hồ Chí Minh – một trung tâm kinh tế văn hóa của Việt Nam, xưa nay vẫn được xem là mảnh đất lành của nền công nghiệp giải trí, với thị trường âm nhạc cực kì sôi động trong hơn một thập kỷ qua. Việc tiếp cận và du nhập các dòng âm nhạc trên thế giới đã tạo cho Việt Nam nói chung và Tp.HCM nói riêng phát triển thêm một số dòng nhạc mới, tạo ra nhiều trào lưu âm nhạc cho giới trẻ. Tuy nhiên, điều đó cũng đồng nghĩa với việc khiến họ phải đứng trước quá nhiều sự lựa chọn và họ đã lựa chọn thứ dễ nghe một cách dễ dãi, lâu dần nó trở thành thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc lệch lạc của một bộ phận lớn giới trẻ hiện nay ở Tp.HCM, nhất là lứa “tuổi hồng”.Đứng trước thực tế đó, là một giáo viên giảng dạy âm nhạc và hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc nhiều năm qua tại Tp.HCM, chúng tôi vô cùng trăn trở với tình hình xuống dốc nghiêm trọng của nền âm nhạc Việt Nam cùng với thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc lệch lạc của các em HS, nhất là các em HS THPT trong những năm gần đây. Phải làm thế nào để tìm cho ra căn nguyên, để từ đó có những giải pháp kịp thời, nhằm định hướng thẩm mỹ âm nhạc cho giới trẻ, đặc biệt là ở lứa “tuổi hồng” – lứa tuổi HS THPT tại Tp.HCM. Theo chúng tôi, vấn đề nghiên cứu này đang trở nên hết sức quan trọng và cấp thiết trong thời đại mới. Bởi vì theo chúng tôi, đây là lứa tuổi đặc biệt nhạy cảm về tâm sinh lý, là lứa tuổi kế tiếp làm chủ xã hội, rất cần sự định hướng của xã hội. Chính vì những lẽ đó, Tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM (Qua trường hợp của hai trường THPT Tenlơman và Lê Minh xuân)” làm luận văn thạc sỹ của mình.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

NHẠC VIỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN THANH HẢI

THỊ HIẾU THẨM MỸ ÂM NHẠC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

(Qua trường hợp của hai trường THPT

Tenlơman và Lê Minh xuân)

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ÂM NHẠC

Mã số : 60 14 02 02

LUẬN VĂN THẠC SỸ

NGÀNH KHOA HỌC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Trần Thế Bảo

TP.HỒ CHÍ MINH – Năm 2014

1

Trang 2

Trong quá trình học tập, nghiên cứu suốt hai năm qua, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của rất nhiều quý thầy cô, bạn bè, các cơ quan, trường học tại Tp.HCM,

để em hoàn thành luận văn một cách tốt nhất.

Đầu tiên, em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Phó giáo sư – tiến sĩ Trần Thế Bảo, người thầy đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này!

Em xin cảm ơn ban giám hiệu, phòng Sau đại học, các thầy cô giáo trường Nhạc viện Tp.HCM đã đã đem lại cho em những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong

những năm học vừa qua Đồng thời quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn

Cuối cùng, xin gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè và tất cả những người thân yêu

đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực

hiện đề tài luận văn thạc sỹ của mình!

Tp.HCM, ngày 5 tháng 10 năm 2014

TRẦN THANH HẢI

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Mọi số liệu nêutrong luận văn hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Những kết luậncủa luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN TRẦN THANH HẢI

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU -1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ TÂM SINH LÝ VÀ THỊ HIẾU THẨM MỸ ÂM NHẠC CỦA HỌC SINH THPT -7

1.1 Một số vấn đề về tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh THPT -7

1.1.1 Đặc điểm cơ thể của lứa tuổi học sinh THPT -8

1.1.2 Đặc điểm sự phát triển trí tuệ của học sinh THPT -8

1.1.3 Những đặc điểm nhân cách chủ yếu -9

1.1.3.1 Sự phát triển của tự ý thức -9

1.1.3.2 Sự hình thành thế giới quan và nhân sinh quan -11

1.1.3.3 Giao tiếp và đời sống tình cảm -12

1.2 Một số vấn đề về thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc -16

1.2.1 Khái quát chung về vấn đề thẩm mỹ âm nhạc -16

1.2.1.1 Khái niệm thẩm mỹ âm nhạc -16

1.2.1.2 Những biểu hiện đặc trưng của nghệ thuật âm nhạc theo quan điểm của Mỹ học hiện đại -17

1.2.1.3 Mối quan hệ thẩm mỹ trong hoạt động thẩm mỹ âm nhạc -23

1.2.2 Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc -28

1.3 Vai trò của Âm nhạc trong đời sống con người -32

1.3.1 Chức năng của âm nhạc -32

1.3.2 Tác động của âm nhạc đối với các quá trình tâm sinh lý của con người -36

1.3.2.1 Âm nhạc tác động lên mặt tâm lý của con người -36

1.3.2.2 Âm nhạc tác động lên mặt sinh lý của con người -39

TIỂU KẾT -44

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ ÂM NHẠC VÀ THỊ HIẾU THẨM MỸ ÂM NHẠC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN HIỆN NAY -45

2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế và văn hóa – xã hội của Tp.HCM những năm gần đây -45

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và quy hoạch của Tp.HCM -45

2.1.2 Điều kiện về phát triển nền kinh tế của TP -46

2.1.3 Điều kiện về văn hóa – xã hội của TP -48

2.2 Khái quát về tình hình âm nhạc dành cho lứa tuổi HS THPT tại Tp.HCM giai đoạn 2000 đến nay -50

2.2.1 Đời sống âm nhạc trong giới trẻ hiện nay -50

2.2.2 Một số hoạt động âm nhạc dành cho lứa tuổi THPT tại Tp HCM -55

2.2.3 Khái quát về tình hình sáng tác âm nhạc dành cho lứa tuổi học sinh THPT -58

2.3 Khảo sát thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của học sinh THPT tại Tp HCM giai đoạn hiện nay -62

2.3.1 Thể loại âm nhạc mà HS THPT của TP thích nghe và thường nghe nhất -62

2.3.2 Sở thích âm nhạc của HS THPT theo từng khu vực, độ tuổi và giới tính -67

2.3.2.1 Sở thích âm nhạc phân theo khu vực -67

2.3.2.2 Sở thích âm nhạc phân theo giới tính -69

Trang 5

2.4 Đánh giá chung thực trạng về thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại

Tp.HCM trong những năm qua, nguyên nhân và một số vấn đề cần giải quyết -77

2.4.1 Đánh giá chung -77

2.4.2 Nguyên nhân -78

2.4.3 Một số vấn đề cần giải quyết -81

TIỂU KẾT -83

CHƯƠNG 3: TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ ÂM NHẠC CHO GIỚI TRẺ – ĐẶC BIỆT LÀ HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY -85

3.1 Vai trò của giáo dục thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ âm nhạc -85

3.1.1 Giáo dục thẩm mỹ -85

3.1.2 Giáo dục thẩm mỹ âm nhạc -88

3.2 Giáo dục âm nhạc cho HS THPT trong giai đoạn tiếp theo -93

3.2.1 Kinh nghiệm giáo dục âm nhạc của một số nước trên thế giới -93

3.2.2 Mục tiêu nhiệm vụ của giáo dục âm nhạc cho học sinh THPT -98

3.3 Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao và định hướng thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc cho HS THPT tại Tp.HCM trong giai đoạn tiếp theo -101

3.3.1 Về công tác giáo dục và đào tạo -102

3.3.1.1 Ở trường chuyên nghiệp -102

3.3.1.2 Ở trường phổ thông -104

3.3.2 Về công tác sáng tác, phê bình, tổ chức và quản lý của các hội, các cơ quan chức năng -108

3.3.2.1 Về công tác sáng tác -108

3.3.2.2 Về công tác phê bình âm nhạc trên các phương tiện thông tin, truyền thông đại chúng -111

3.3.2.3 Về công tác tổ chức, sản xuất -111

3.3.2.4 Về công tác quản lý văn hóa trong lĩnh vực âm nhạc -115

3.3.3 Về phía gia đình -115

TIỂU KẾT -117

PHẦN KẾT LUẬN -119

PHỤ LỤC -122

TÀI LIỆU THAM KHẢO -137

Trang 6

FC Fan club (câu lạc bộ người hâm mộ)

Kpop Korean pop (Nhạc đại chúng Hàn Quốc)

US – UK United States – United Kingdom (Nhạc Anh – Mỹ)

VH-TT&DL Văn hóa – Thể thao và Du lịch

GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

Trang 7

Hình 1: Chủ đề I, chương I, bản giao hưởng số 5 của Beethovent -18

Hình 2: Mối quan hệ của ba khâu trong hoạt động thẩm mỹ âm nhạc -23

Hình 3: Mô hình cấu trúc của chủ thể thẩm mỹ -24

Hình 4: Sơ đồ cơ chế hình thành thị hiếu thẩm mỹ cá nhân -29

Bảng 2.1: Tổng số liệu thống kê từ cuộc khảo sát về mức độ thưởng thức âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM -62

Biểu đồ 2.1: Mức độ thưởng thức âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM -63

Bảng 2.2: Số liệu mức độ thưởng thức âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM phân theo khu vực -67

Biểu đồ 2.2: so sánh mức độ thưởng thức âm nhạc của 2 trường THPT Lê Minh Xuân và Ernst Thalmann -68

Bảng 2.3: Số liệu về mức độ thưởng thức âm nhạc phân theo giới tính của HS THPT tại Tp.HCM -69

Biểu đồ 2.3: Mức độ thưởng thức âm nhạc của HS nữ và HS nam -69

Bảng 2.4: Số liệu mức độ thưởng thức âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM phân theo độ tuổi -71

Biểu đồ 2.4.1: Mức độ thích nghe phân theo độ tuổi của HS THPT tại Tp.HCM -72

Biểu đồ 2.4.2: Mức độ yêu thích nhạc trẻ qua 3 độ tuổi của HS THPT tại Tp.HCM- -73 Biểu đồ 2.4.3: Mức độ thường nghe phân theo độ tuổi của HS THPT tại Tp.HCM -73 Biểu đồ 2.4.4: Mức độ thường nghe nhạc trẻ qua 3 độ tuổi của HS THPT tại

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay, trong thời đại của khoa học công nghệ và kỹ thuật số hóa, đặc biệt là sựxuất hiện của mạng thông tin toàn cầu (Internet), thế giới như bị thu nhỏ lại, ranh giớigiữa các quốc gia cũng ngày càng trở nên mỏng manh hơn, không một quốc gia nào cóthể phát triển trong sự biệt lập với thế giới bên ngoài Ngược lại, sự tùy thuộc lẫn nhaungày càng gia tăng và tác động trực tiếp đến từng quốc gia, từng khu vực và toàn thếgiới Hiện tượng cộng sinh văn hóa là một tất yếu và là một đặc trưng mới của văn hóathế giới

Internet đã tạo cơ hội để các dân tộc có thể gần gũi, hiểu biết và xích lại gần nhau

Sự giao thoa, tiếp biến văn hóa do đó đang diễn ra hết sức phức tạp và mạnh mẽ Mỗidân tộc vừa được sống với bản sắc văn hóa của dân tộc mình, vừa được tiếp xúc, họctập và tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác để làm phong phúthêm cho nền văn hoá của chính dân tộc mình Trong sự giao lưu đó, nghệ thuật vànghệ thuật âm nhạc có thể được coi là một trong những lĩnh vực cực kì năng động củanền văn hóa Nó được xem là lĩnh vực tiên phong trong việc giao lưu, giới thiệu vàphát triển văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia ra với thế giới

Tuy nhiên có thể nói rằng, sự giao lưu văn hóa toàn cầu trong thời đại ngày nayđang đặt ra cho mỗi quốc gia rất nhiều thách thức Trong thời kỳ hội nhập quốc tế,việc văn hóa mỗi quốc gia bị ảnh hưởng, xâm nhập là điều khó tránh khỏi Tuy nhiên,làm thế nào để không bị lai căng và đồng hóa lại là điều tùy thuộc vào khả năng, nănglực, cũng như những chính sách, đường lối quản lý và phát triển riêng của mỗi quốcgia, mỗi dân tộc

Trong bối cảnh chung đó, Việt Nam không tránh khỏi những tác động mạnh củanền công nghiệp kỹ thuật số và thông tin toàn cầu (internet) Sự tiếp cận và giao lưuvăn hoá quốc tế rộng rãi tạo điều kiện cho giới trẻ Việt Nam trong việc thưởng thứccái hay, cái đẹp của các nền văn hoá trên thế giới Tuy nhiên, tác động của khuynhhướng thương mại hoá trong hoạt động văn hoá, văn nghệ, cùng với sự phát tán nhanhchóng của truyền thông, kĩ thuật số và internet, làm xuất hiện nhiều biểu hiện tiêu cực

cả trong lĩnh vực thẩm mỹ nghệ thuật nói chung và thẩm mỹ âm nhạc nói riêng, cũngnhư lối sống trong một bộ phận lớn giới trẻ hiện nay, nhất là ở các thành phố lớn

Trang 9

Có thể nói, chưa bao giờ không gian nước ta lại vang lên đa dạng âm thanh của biếtbao dòng nhạc trên thế giới, từ kinh điển, bác học đến đại chúng, giải trí và cũng chưabao giờ Việt Nam lại có một nền âm nhạc lộn xộn và bế tắc như trong hơn một thập kỷqua Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực đời sống

xã hội, âm nhạc đã đóng góp vai trò không nhỏ trong việc nâng cao đời sống tinh thầncủa nhân dân, làm cho cuộc sống không ngừng được cải thiện Bên cạnh tính tích cựcvốn có của dòng âm nhạc chính thống, thì trong đời sống hiện nay, một số hoạt động

âm nhạc mang tính giải trí, thị trường còn bộc lộ tính yếu kém, xa rời bản sắc, thuầnphong mỹ tục, làm cho cái đẹp trong âm nhạc, méo mó, biến dạng Điều này gây ảnhhưởng nghiêm trọng đến thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của giới trẻ Việt Nam – Nhữngngười luôn đi đầu trong việc tiếp cận với công nghệ thông tin, kĩ thuật số Họ rất năngđộng trong việc tìm tòi cái mới lạ để khẳng định bản thân nhưng thiếu kinh nghiệm và

sự định hướng cần thiết của xã hội

Giới trẻ, đặc biệt là lứa tuổi HS THPT – lứa “tuổi hồng” – lứa tuổi cực kì nhạy cảm

về tâm sinh lý Các em ở lứa tuổi này rất thích thể hiện bản thân, nhạy cảm với cáimới Đây là lứa tuổi có nhiều mơ mộng, khát khao sáng tạo, ưa thích cái mới lạ,chuộng vẻ đẹp hình thức nên dễ bị cái đẹp bên ngoài lôi cuốn làm lung lay ý chí, cómới nới cũ Thêm vào đó, việc bắt đầu quan tâm nhiều tới việc tham gia các nhóm bạn,coi tình bạn là mối quan hệ quan trọng nhất Đó là một trong những điều kiện đặctrưng khiến các em ở lứa tuổi này rất dễ bị ảnh hưởng bởi các “hiệu ứng đám đông”hay tâm lý “bầy đàn” khi tham gia vào các hoạt động thưởng thức âm nhạc Một sốlượng các em HS THPT tại Tp.HCM còn tham gia cả vào những FC hùng hậu của các

ca sỹ trẻ, nhóm nhạc trẻ ở trong và ngoài nước Những hình ảnh fan cuồng Kpop ởgiới trẻ là những điểm nhức nhối nhất trong vài năm qua đối với nền âm nhạc ViệtNam Chính vì vậy, trong bối cảnh nền âm nhạc Việt Nam đang vấp phải sự khủnghoảng, rối ren trong những năm qua, khiến một bộ phận lớn các em HS THPT đã chạytheo những giá trị ảo, tầm thường của dòng nhạc thị trường nhiều màu sắc thị giác hơn

là giá trị thực của một tác phẩm nghệ thuật Đặc biệt ở các TP lớn thì vấn nạn “văn hóathần tượng” trong giới trẻ đã trở thành đề tài đáng bàn hơn bao giờ hết

Thành phố Hồ Chí Minh – một trung tâm kinh tế văn hóa của Việt Nam, xưa nayvẫn được xem là mảnh đất lành của nền công nghiệp giải trí, với thị trường âm nhạccực kì sôi động trong hơn một thập kỷ qua Việc tiếp cận và du nhập các dòng âm nhạc

Trang 10

trên thế giới đã tạo cho Việt Nam nói chung và Tp.HCM nói riêng phát triển thêm một

số dòng nhạc mới, tạo ra nhiều trào lưu âm nhạc cho giới trẻ Tuy nhiên, điều đó cũngđồng nghĩa với việc khiến họ phải đứng trước quá nhiều sự lựa chọn và họ đã lựa chọnthứ dễ nghe một cách dễ dãi, lâu dần nó trở thành thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc lệch lạccủa một bộ phận lớn giới trẻ hiện nay ở Tp.HCM, nhất là lứa “tuổi hồng”

Đứng trước thực tế đó, là một giáo viên giảng dạy âm nhạc và hoạt động trong lĩnhvực âm nhạc nhiều năm qua tại Tp.HCM, chúng tôi vô cùng trăn trở với tình hìnhxuống dốc nghiêm trọng của nền âm nhạc Việt Nam cùng với thị hiếu thẩm mỹ âmnhạc lệch lạc của các em HS, nhất là các em HS THPT trong những năm gần đây Phảilàm thế nào để tìm cho ra căn nguyên, để từ đó có những giải pháp kịp thời, nhằm địnhhướng thẩm mỹ âm nhạc cho giới trẻ, đặc biệt là ở lứa “tuổi hồng” – lứa tuổi HSTHPT tại Tp.HCM Theo chúng tôi, vấn đề nghiên cứu này đang trở nên hết sức quantrọng và cấp thiết trong thời đại mới Bởi vì theo chúng tôi, đây là lứa tuổi đặc biệt

nhạy cảm về tâm sinh lý, là lứa tuổi kế tiếp làm chủ xã hội, rất cần sự định hướng của

xã hội

Chính vì những lẽ đó, Tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Thị hiếu thẩm mỹ âm

nhạc của HS THPT tại Tp.HCM (Qua trường hợp của hai trường THPT Tenlơman và Lê Minh xuân)” làm luận văn thạc sỹ của mình.

2 Lịch sử của đề tài

“Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc” là một đề tài năng động và hấp dẫn ở mọi quốc gia,mọi thời đại Vấn đề này luôn thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu,phê bình âm nhạc và của toàn xã hội Nhất là trong những năm gần đây, đề tài này đãtrở thành “đề tài nóng” trên các mặt báo, cũng như trong các cuộc hội thảo khoa học lýluận phê bình âm nhạc, Hội Âm nhạc Việt Nam… Đã có một số công trình nghiên cứu

in thành sách đề cập đến vấn đề này như:

- “Thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ Tp.HCM” của nhiều tác giả do TS Nguyễn ThịHậu làm chủ biên, Viện nghiên cứu phát triển Tp.HCM, Nxb Văn hóa – Văn nghệ,hoàn thành quý II năm 2013

- “Tìm hiểu thị hiếu âm nhạc trong các đối tượng đang được cải giáo” của tác giảNguyễn Quang Khải, luận văn đại học lý luận, năm 1989

- “Vai trò của thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu nghệ thuật trong giáo dục con hiện nay”của tác giả Nguyễn Quốc Hưng, luận văn cao học, năm 2002

Trang 11

- “Ca khúc trong đời sống âm nhạc ở Tp.HCM từ 1975 đến nay” của tác giảNguyễn Thị Thư Nhường, luận văn cao học lý thuyết âm nhạc và lịch sử âm nhạc, năm

- “Vài nét về thị hiếu âm nhạc và biểu diễn ca nhạc hiện nay” của tác giả TS PhạmTrọng Toàn, tại Hội thảo khoa học lí luận phê bình âm nhạc được tổ chức tại trườngĐHSP Nghệ thuật TW, tháng 2 năm 2012

Vấn đề “Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của giới trẻ” nhận được rất nhiều sự quan tâmđánh giá và bàn luận của các nhà chuyên môn, của báo giới và của xã hội Tuy nhiên,

đề tài mới chỉ dừng lại ở sự bình luận chung chung trên một số trang báo và các cuộchội thảo mà chưa đi sâu phân tích thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc cụ thể ở lứa tuổi HSTHPT Bên cạnh đó, có rất ít công trình nghiên cứu đã in thành sách trình bày về vấn

đề này một cách có hệ thống, cũng như chưa có được những số liệu đáng tin cậy chothấy sự phát triển thị hiếu âm nhạc ở lứa tuổi này ở Tp.HCM Luận văn cao học “Cakhúc trong đời sống âm nhạc ở Tp.HCM từ 1975 đến nay” của tác giả Nguyễn ThịThư Nhường, năm 2008 cũng đã khảo sát được thị hiếu của giới trẻ Tp.HCM Tuynhiên, Tác giả mới chỉ đưa ra được số liệu về thị hiếu âm nhạc của thanh niên giới trẻnói chung chứ chưa khảo sát được thị hiếu âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM Dovậy, điều đó đã gây cho chúng tôi rất nhiều khó khăn trong việc thu thập tài liệu đểnghiên cứu đề tài

Với mong muốn góp phần làm rõ hơn và cụ thể hơn thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc củagiới trẻ hiện nay ở từng lứa tuổi Trong luận văn này, tác giả tập trung phân tích thịhiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM hiện nay, để giúp người đọc có mộtcái nhìn tổng quan, đầy đủ, sâu sắc và chi tiết hơn về tình hình hoạt động âm nhạc, tìnhhình sáng tác ca khúc cho lứa “tuổi hồng”, cũng như khảo sát được thị hiếu thẩm mỹ

âm nhạc của lứa tuổi này ở Tp.HCM diễn ra như thế nào trong thời điểm hiện nay.Đồng thời, đề ra được những giải pháp nhằm định hướng thẩm mỹ âm nhạc cho các

em trong giai đoạn tiếp theo

3 Mục tiêu của đề tài

Trang 12

Luận văn nghiên cứu vấn đề trên nhằm đạt được những mục tiêu sau:

Thứ nhất, khái quát được thực trạng của nền âm nhạc Việt Nam và thị hiếu thẩm

mỹ âm nhạc ở lứa tuổi HS ở các trường THPT tại Tp.HCM trong những năm vừa qua

(Tập trung nghiên cứu giai đoạn 2000 đến nay)

Thứ hai, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự xuống cấp về thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc

của HS ở các trường THPT tại Tp.HCM trong những năm qua Từ đó rút ra bài học

cho việc phát triển nền âm nhạc của TP trong những năm tiếp theo

Thứ ba, từ những nguyên nhân, những vấn đề tồn tại, những vấn đề đặt ra, tác giả

xin đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao và định hướng cho thị hiếuthẩm mỹ âm nhạc cho HS ở các trường THPT tại Tp.HCM

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:

Thứ nhất, những vấn đề lý luận cơ bản về tâm sinh lý, về thị hiếu thẩm mỹ âm

nhạc của HS THPT, cũng như những vai trò, chức năng, tác động của âm nhạc tới tâmsinh lý của con người và những vấn đề về giáo dục thẩm mỹ âm nhạc làm cơ sở chonghiên cứu

Thứ hai, tình hình phát triển của nền âm nhạc Việt Nam và thị hiếu thẩm mỹ âm

nhạc của HS ở các trường THPT tại Tp.HCM giai đoạn 2000 đến nay Những nhân tốkhách quan, chủ quan có ảnh hưởng tới nền âm nhạc và thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của

HS THPT tại Tp HCM trong thời đại công nghiệp kĩ thuật số, internet và hội nhập

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản, thực tiễn chủ yếu của nền âmnhạc Việt Nam và thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS ở các trường THPT tại Tp HCMgiai đoạn 2000 đến nay (không nghiên cứu lứa tuổi này hiện đang học ở Nhạc viện).Trong đó, tác giả tập trung đi sâu phân tích những sản phẩm âm nhạc dành cho lứatuổi HS THPT trong những năm qua, tiến hành khảo sát, tìm hiểu thực tế các khuynhhướng thẩm mỹ âm nhạc của một vài nhóm HS THPT tại hai trường THPT nội thành

và ngoại thành ở Tp.HCM giai đoạn hiện nay làm cơ sở cho nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận văn, tác giả sử dụng kết hợp nhiềuphương pháp nghiên cứu như: phương pháp đi thực tế, lập phiếu thăm dò, khảo sát,thống kê, so sánh, đối chiếu, sơ đồ hóa, bảng biểu, phỏng vấn, phân tích và tổng hợp,logic và lịch sử cụ thể, quy nạp và diễn dịch… Trong quá trình nghiên cứu, tác giả kếthừa có chọn lọc những thông tin của các công trình nghiên cứu trước đó, cập nhật

Trang 13

những thông tin mới nhất có liên quan đến đề tài để làm rõ hơn những vấn đề nghiêncứu của luận văn

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn hoàn thành sẽ khảo sát được tình hình thực tế về thị hiếu thẩm mỹ âmnhạc của HS THPT tại Tp.HCM hiện nay

Bên cạnh đó, luận văn cũng làm sáng tỏ được sự cần thiết phải tìm hiểu để địnhhướng cho thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM trong những năm tiếptheo

Ngoài ra, luận văn cũng đề ra được một số giải pháp giúp nâng cao và định hướngthị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM

Luận văn cũng sẽ cung cấp nhiều thông tin bổ ích, dùng làm tài liệu tham khảo chonhững ai quan tâm tìm hiểu đến vấn đề này

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề tâm sinh lý và thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS

THPT

Chương 2: Thực trạng về âm nhạc và thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại

Tp.HCM giai đoạn hiện nay

Chương 3: Tầm quan trọng của vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho giới trẻ – Đặc biệt

lứa tuổi HS THPT tại Tp.HCM

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ TÂM SINH LÝ VÀ THỊ HIẾU THẨM

MỸ ÂM NHẠC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Một số vấn đề về tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh THPT

Học sinh THPT, lứa tuổi vị thành niên, về tâm sinh lý là lứa tuổi có nhiều biếnđộng rất mạnh, được xác định là giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên trong xã hội.Tuổi thanh niên là một hiện tượng tâm lý xã hội Xuất phát từ những trường phái khácnhau nên có những quan niệm khác nhau về tuổi thanh niên và có những tiêu chí khácnhau để xác định tuổi thanh niên

Trường phái sinh vật học coi tiêu chí quan trọng nhất để xác định tuổi thanh niên là

sự phát triển của cơ thể, là các quá trình sinh vật học của sự trưởng thành Các nhàphân tâm học quan tâm nhiều nhất đến sự phát triển của tính dục, các nhà xã hội họclại lấy mức độ xã hội hoá của mỗi cá thể là tiêu chí để xác định Còn các nhà tâm lý

Trang 14

học hiện đại cho rằng, cần nghiên cứu lứa tuổi thanh niên trong một mối tổng hoà cácyếu tố sinh học, tâm lý học, phân tâm học và xã hội học.

Theo các nhà tâm lý học, lứa tuổi thanh niên được định nghĩa là giai đoạn pháttriển bắt đầu từ lúc dậy thì cho đến khi bước vào tuổi trưởng thành Như vậy theo địnhnghĩa này, thời điểm bắt đầu của tuổi thanh niên lấy tiêu chí là sinh lý còn thời điểmkết thúc là tiêu chí xã hội Theo định nghĩa đó tuổi thanh niên là thời kỳ từ 14, 15 đến

25 tuổi và được phân chia thành hai giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất từ 14, 15 đến 17, 18: giai đoạn đầu tuổi thanh niên (còn được

gọi là tuổi thanh niên mới lớn, thanh niên học sinh) Lứa tuổi HS THPT (15 - 18) nằmtrong giai đoạn này

Giai đoạn thứ hai từ 18, 19 đến 25: giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên (còn được

gọi là tuổi thanh niên sinh viên)

Sự phân chia giai đoạn cũng chỉ mang tính tương đối Một số nhà nghiên cứu lạiphân chia tuổi thanh niên ra làm ba giai đoạn Tuy nhiên, dù thế nào thì các nghiên cứuvẫn luôn xác định rằng: Lứa tuổi HS THPT là lứa tuổi thuộc giai đoạn đầu của tuổithanh niên

“Tuổi thanh niên (từ 14,15 đến 18 tuổi) là “thế giới thứ 3” theo nghĩa đen của

từ này, tồn tại giữa tuổi trẻ em và tuổi người lớn” (I.X.Côn).

Thời điểm bắt đầu và kết thúc của tuổi thanh niên không bất biến, cứng nhắc màphụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội, điều kiện sống và giáo dục

1.1.1 Đặc điểm cơ thể của lứa tuổi học sinh THPT

Tuổi 15 - 18 là giai đoạn mà cơ thể con người đang dần hoàn chỉnh, bắt đầu thời kỳphát triển êm ả về mặt tâm sinh lý Sự phát triển của hệ xương tiến tới thời kỳ hoànthiện Tuy nhiên quá trình cốt hoá vẫn đang tiếp tục (quá trình này thường kết thúc vàokhoảng 24-25 tuổi) Khối lượng và sức mạnh cơ bắp tăng nhanh Khối lượng cơ đạt 43

- 44% khối lượng toàn thân Sự phát triển của tim và mạch máu đã đạt sự cân bằng.Tần số nhịp tim và huyết áp đạt gần mức người lớn Hoạt động của các tuyến nội tiếttrở nên bình thường Khối lượng của não tăng không đáng kể (vì khối lượng của não

đã tăng rất nhanh từ những thời kỳ trước đó), nhưng cơ cấu bên trong của não trở nênphức tạp hơn nhiều Số sợi dây thần kinh liên kết các phần của não tăng lên nhiều, sốđường liên hệ thần kinh tạm thời cũng tăng lên, sự mất cân bằng giữa hai quá trìnhthần kinh (hưng phấn và ức chế) đã giảm một cách đáng kể Tất cả những điều đó tạođiều kiện cho sự phức tạp các hoạt động phân tích tổng hợp của vỏ bán cầu đại não.Bên cạnh đó, các hormone của tuyến sinh dục làm phát triển những dấu hiệu sinhdục ở em nam như: mọc lông, mọc râu, giọng trầm; và ở em nữ như: nở to tuyến vú,

Trang 15

mọc lông ở mu và các biến đổi khác lúc dậy thì làm cho hình dáng của các em pháttriển như người lớn Các hormone của tuyến yên và tuyến sinh dục phát triển khiến HSTHPT có nhiều khả năng sinh sản hơn so với lứa tuổi HS THCS.

1.1.2 Đặc điểm sự phát triển trí tuệ của học sinh THPT

Trong giai đoạn này, khả năng nhận thức và trí tuệ của HS THPT tăng đáng kể Cóthể nói tiềm năng về trí tuệ đạt mức cao nhất, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất

cả các quá trình nhận thức Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ củangười lớn Điều này làm cho khả năng cảm thụ âm nhạc và hội họa của các em đượcnâng cao Tri giác có mục đích phát triển ở mức rất cao Tuy nhiên, sự tri giác của tuổinày cũng vẫn rất cần sự hướng dẫn của giáo viên, vì họ vẫn dễ dàng kết luận sai hoặcchưa đầy đủ khi chưa tích lũy đủ sự kiện

Khả năng trí nhớ đạt đỉnh cao, trí nhớ chủ định, ghi nhớ ý nghĩa, lôgic phát triểnmạnh và chiếm ưu thế Hoạt động tư duy của HS THPT phát triển mạnh Các thao tác

tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá đều phát triểnkhá mạnh giúp các em có khả năng tiếp thu tốt các khái niệm trừu tượng và phức tạp

“Các phẩm chất tư duy phát triển mạnh như: tính độc lập, tính lập luận, tính phê phán, tính linh hoạt, tính hệ thống, tính khái quát, tính sáng tạo” [50, 102] Tư duy lý

luận tăng lên biểu hiện ở sự thích thú tranh luận về các vấn đề khác nhau Thậm chícác em thích suy nghĩ, lập luận, bàn bạc ngay cả trong các trường hợp các em không

đủ kiến thức để làm điều đó Tư duy lôgic và tính phê phán của tư duy phát triển mạnhhơn Các em suy nghĩ chặt chẽ, nhất quán hơn Chính sự phát triển mạnh mẽ của tưduy đã góp phần thúc đẩy sự xuất hiện nét tâm lý mới ở lứa tuổi này đó là sự hoài nghikhoa học

Thiếu sót cơ bản của tư duy trong giai đoạn này là tính độc lập trong tư duy chưaphát triển đến mức cần thiết Trong nhiều trường hợp các em chưa cố gắng phát huykhả năng độc lập suy nghĩ của bản thân, do đó kết luận vội vàng hoặc lặp lại ý tưởng,

cách chứng minh của người khác, nhất là của những người có uy tín (thần tượng) với

các em Do đó, dạy học cần chú trọng việc phát triển khả năng nhận thức cho HS Tuynhiên cũng cần nhận thức rõ, khả năng phát triển của tư duy ở mỗi em HS là khácnhau Do đó, quá trình nhận thức của các em HS nói chung và các em HS THPT chia

ra làm ba cấp độ Thứ nhất là loại khả năng nhận thức xuất sắc Thứ hai là loại khảnăng nhận thức trung bình, khá Thứ ba là loại thiểu năng trí tuệ Như vậy, với mỗiloại khả năng nhận thức khác nhau, các nhà giáo dục cũng phải tiến hành những

Trang 16

phương pháp giáo dục chung và cá biệt để đảm bảo quá trình nhận thức của HS có kếtquả như mong muốn.

1.1.3 Những đặc điểm nhân cách chủ yếu

1.1.3.1 Sự phát triển của tự ý thức

Khả năng tự ý thức của con người bắt đầu xuất hiện từ những lứa tuổi trước vàhoàn thiện từng bước nhưng thực sự phát triển mạnh ở lứa tuổi này Sự phát triển tự ýthức của các em thể hiện ở một số mặt sau:

Thứ nhất, HS THPT rất quan tâm đến việc tự đánh giá về ngoại hình của cơ thể (về

vóc dáng, về những chi tiết trên khuôn mặt, cơ thể…) Tâm lý làm đẹp biểu hiện khá

rõ, (soi gương, chú ý nhiều đến ăn mặc, chạy theo mốt, tập luyện thể thao để hoànthiện, cải tạo hình thể…) Tất nhiên là sự tự đánh giá về hình ảnh cơ thể của các em rõràng mang màu sắc giới tính

Thứ hai, HS THPT có nhu cầu mạnh mẽ về việc tìm hiểu và tự đánh giá những đặc

điểm tâm lý của bản thân theo các chuẩn mực đạo đức xã hội, theo quan điểm về mụcđích cuộc sống Tuy nhiên, sự tự đánh giá của các em thường không khách quan,thiếu kinh nghiệm sống nên cách đánh giá của các em thường có xu hướng cường điệuvới những thái cực khác nhau Đa số các em đánh giá cao nhân cách của bản thân(năng lực, tính cách) dẫn đến những biểu hiện tự cao, coi thường người khác

Thứ ba, ý thức làm người lớn được thể hiện ở nhu cầu tự khẳng định mình Các em

có nguyện vọng thể hiện cá tính của mình trước mọi người một cách độc đáo Theo

các nhà giáo dục học: “đây là giai đoạn đầu của tuổi thanh niên, một số phẩm chất cơ

bản của nhân cách đã được định hình Điều này thể hiện trước hết ở sự phát triển tính độc lập và lòng khao khát tự khẳng định mình, tự chịu trách nhiệm về cái “tôi” của mình bằng khả năng quan sát, phân tích, so sánh, tự đánh giá với hoạt động của bạn

bè và người lớn.” [41, 82] Các em HS THPT tìm mọi cách để người khác quan tâm,

chú ý đến mình hoặc làm gì đó để mình nổi bật trong nhóm, đôi khi hành động đómang tính phô trương, hình thức

Thứ tư, HS THPT thường cố gắng tự biểu hiện bản thân Điều này liên quan đến

tính tích cực sáng tạo ngày càng tăng mà đặc biệt rõ nét trong những hình thức hoạtđộng khác nhau: sáng tác theo các đề tài tự do; ghi nhật ký; làm thơ; viết nhạc; thamgia các cuộc thi tuyển; hội thi, hội diễn văn nghệ; thi đấu thể thao… Mặt khác, theoThS tâm lý Huỳnh Lâm Anh Chương, khi thể hiện bản thân, HS THPT thường biểu

hiện theo hai hướng tích cực và tiêu cực: “Cách thể hiện tích cực có thể là: cố gắng

học giỏi một môn học, vượt qua mọi rào cản để thực hiện một hành động cao đẹp…

Trang 17

Cách thể hiện tiêu cực như là: tạo ra một kiểu thời trang cho bản thân một cách khác người và không phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ xã hội, thực hiện những hành vi gây sự chú ý của nhiều người nhưng lại không được chấp nhận, chạy theo một lối sống xa xỉ

và không phù hợp với tuổi thanh niên chưa tự lập về tài chính,…” [50, 111-112] Còn

với các nhà tâm thần học thì khẳng định: “Lứa tuổi từ 14 đến 18 là lứa tuổi khủng

hoảng đối với tâm thần học.” (A.E.Litrco – chuyên gia tâm thần học của Nga).

Thứ năm, HS THPT ưa thích cái mới lạ, rất nhạy cảm với cái mới, có thể nói lứa

tuổi thanh niên nói chung dễ dàng chấp nhận và ủng hộ cái mới nhất

Đặc điểm ưa thích cái mới kết hợp với nhu cầu muốn biểu hiện bản thân, sự phánxét đánh giá phân định đúng sai chưa khách quan, thiếu chính xác đã đưa HS THPTđến hai khả năng phát triển: Có thể rất tốt nếu những điều “mới lạ” đó là tích cực giúpphát triển và hoàn thiện nhân cách Nhưng nếu cái “mới lạ” đó là những tiêu cực cóthể đưa các em đến những hành vi “lệch chuẩn”, tội lỗi thậm chí phạm pháp

Nói về đặc điểm này, nhà giáo dục học Phạm Đình Chương viết: “Đây là giai

đoạn đầu của tuổi trưởng thành, các yếu tố của nhân cách định hình chưa thật vững bền, chưa được trải nghiệm nhiều Do đó, ở một số em có hiện tượng manh động, bột phát, hiếu thắng, chủ quan… dễ dẫn đến những sai lầm trong nhận thức và hành vi văn hóa, đạo đức.” [41, 83].

1.1.3.2 Sự hình thành thế giới quan và nhân sinh quan

Tuổi đầu thanh niên là tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan và nhân sinhquan Hay nói cách khác, tuổi thanh niên là giai đoạn định hình nhân cách

Thế giới quan và nhân sinh quan là một hệ thống các quan điểm về thế giới tựnhiên và xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc cư xử, về các chuẩn mực, định hướnggiá trị về đạo đức, văn hóa, về quyền lợi và nghĩa vụ của con người trong xã hội Thực

ra, những cơ sở của thế giới quan, nhân sinh quan đã được hình thành từ những lứatuổi trước, ngay từ khi còn nhỏ Nhưng chỉ đến giai đoạn lứa tuổi này mới được xâydựng thành một thế giới quan và nhân sinh quan tương đối hoàn chỉnh

Để chuẩn bị bước vào đời, HS THPT thường trăn trở với các câu hỏi về ý nghĩa vàmục đích cuộc sống, về cách xây dựng một kế hoạch sống có hiệu quả, về việc lựachọn nghề nghiệp cho phù hợp và có ý nghĩa Theo Ericson đó là một cái mốc quantrọng của sự hình thành bản sắc người thanh niên mới lớn

Ở nước ta hiện nay khi mà các giá trị xã hội có nhiều biến động, không ít HSTHPT chưa xác định được ý nghĩa của cuộc sống, không có định hướng nghề nghiệp

rõ nét và cũng chưa thể lập được cho bản thân một kế hoạch sống cụ thể Hiện tượngnày tồn tại không phải đơn thuần do trình độ phát triển tâm lý ở lứa tuổi thành niên

Trang 18

chưa chín muồi, mà quan trọng hơn là do những khiếm khuyết trong giáo dục ở nhàtrường, gia đình và trong xã hội (thông qua các ấn phẩm sách báo, văn hóa, nghệthuật )

Một trong các khía cạnh quan trọng của quá trình hình thành thế giới quan ở lứatuổi HS THPT là trình độ phát triển ý thức đạo đức Các nghiên cứu tâm lý học chothấy rằng thế giới quan về lĩnh vực đạo đức bắt đầu hình thành ở con người từ tuổithiếu niên Song sang tuổi thanh niên, ý thức đạo đức đã được phát triển lên một bậccao hơn cả về mặt nhận thức tình cảm và hành vi Về mặt nhận thức HS THPT khôngchỉ có khả năng giải thích một cách rõ ràng các khái niệm đạo đức, quy chúng vào một

hệ thống nhất định thể hiện một trình độ khái quát cao hơn, mà ở họ còn xuất hiện mộtcách có ý thức nhu cầu xây dựng các chính kiến đạo đức của riêng mình về các vấn đề

mà cuộc sống đặt ra Ở khía cạnh tình cảm, các chuẩn mực đạo đức đã có được những

ý nghĩa riêng tư đối với HS THPT, nhờ đó các hành vi tương ứng với các chuẩn mựcđạo đức nhất định có thể khơi dậy ở họ những xúc cảm đặc biệt

Nói cách khác, ở lứa tuổi HS THPT, niềm tin đạo đức đã bắt đầu hình thành Sựhình thành niềm tin đạo đức biến các em từ chỗ là người chấp nhận, phục tùng cácchuẩn mực đạo đức trở thành chủ thể tích cực của chúng Điều này thể hiện đặc biệt rõtrong việc tìm kiếm hình mẫu lý tưởng HS nhỏ tuổi tiếp nhận hình mẫu lý tưởng xuấtphát từ tình cảm khâm phục một con người cụ thể và khi đó hình mẫu lý tưởng sẽ chiphối hành vi đạo đức của các em Điều này khác hẳn đối với HS THPT Các em HSTHPT tìm kiếm hình mẫu lý tưởng một cách có ý thức Theo ThS Huỳnh Lâm Anh

Chương thì: “Các em thường so sánh những phẩm chất, những khả năng, mục đích

sống và giá trị xã hội của mình với “hình mẫu” mà mình lựa chọn.” [50, 109] Hình

ảnh một con người cụ thể chỉ là phương tiện để các em gửi gắm những nguyên tắc,những biểu tượng đạo đức mà các em tiếp nhận

Tuy nhiên từ lâu các nhà tâm lý học đã nhận thấy mâu thuẫn bên trong ý thức đạođức ở lứa tuổi HS THPT Trong các đánh giá của mình, các em có thể rất cứng nhắctuân theo các chuẩn mực đạo đức mà các em đã tiếp nhận, song đồng thời lại cũngnghi ngờ về tính đúng đắn của chúng Để lý giải điều này có thể cho rằng: Lứa tuổi HSTHPT vẫn là lứa tuổi mà ý thức đạo đức đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình hìnhthành Mặt khác về phương diện trí tuệ, HS THPT đã hiểu được tính tương đối của cácchuẩn mực Sự nghi ngờ lật lại các chuẩn mực đạo đức của xã hội đã có thể hiện nhưmột thao tác tìm kiếm, nghiên cứu, học hỏi để tiếp thu

Trang 19

1.1.3.3 Giao tiếp và đời sống tình cảm

Thứ nhất, về hoạt động giao tiếp

Một là giao tiếp với người lớn HS THPT thường có tâm lý cho rằng người lớn

không hiểu, không đánh giá đúng đắn và nghiêm túc về suy nghĩ, tâm tư của các emnên các em có xu hướng xa lánh, lạnh nhạt với người lớn mà tìm đến sự đồng cảm củanhững bạn cùng lứa tuổi Mối quan hệ phụ thuộc, dựa dẫm vào cha mẹ dần dần đượcthay thế bằng quan hệ bình đẳng, tự lập

Tính tự lập của các em được thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành vi, tự lập về tình cảm

và tự lập về đạo đức và giá trị Vì vậy, nhiều bậc cha mẹ không thấy hết những đặcđiểm này của thanh niên mới lớn nên đã xảy ra xung đột gay gắt với các em chứ hoàntoàn không phải sự nổi loạn hay xung đột giữa các thế hệ Nếu cha mẹ không cản trởviệc thực hiện những khao khát bình đẳng, tự lập đó thì sự xung đột giữa họ và các em

HS THPT sẽ ít xảy ra

Tuy nhiên, trong những môi trường giao lưu tự do, trong những hoàn cảnh nhànrỗi, tiêu khiển, trong định hướng nhu cầu, sở thích nghệ thuật, HS THPT thường địnhhướng vào bạn bè cùng tuổi hơn là vào cha mẹ, nhưng khi nói đến các giá trị đạo đứcthì ảnh hưởng của cha mẹ đối với các em lại mạnh mẽ hơn bạn bè cùng trang lứa Từ

đó, ta thấy dù cho mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái phức tạp đến đâu thì vốn tìnhcảm tích lũy từ thời thơ ấu vẫn sâu đậm trong lòng các em HS THPT

Trong mối quan hệ giao tiếp với thầy cô giáo có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển

về trí tuệ và nhân cách của HS THPT Vai trò chủ động, sáng tạo trong học tập của các

em được giáo viên nhận thức và thực hiện Bên cạnh đó, việc xã hội công nhận vai tròngười lớn của các em và đòi hỏi các em thực hiện nghĩa vụ của một công dân như:Quyền và nghĩa vụ bầu cử, nghĩa vụ lao động hay nghĩa vụ quân sự… vào cuối lứatuổi (18 tuổi) tạo ra cho các em những điều kiện thuận lợi và là động lực để thể hiện,rèn luyện và trưởng thành [50, 91-95]

Hai là giao tiếp trong nhóm bạn Ở tuổi này quan hệ bạn bè chiếm vị trí quan trọng

hơn những loại quan hệ khác Do tính xúc cảm cao nên các em thường lý tưởng hoátình bạn và ít nhận thấy đặc điểm thực tế của bạn mình

Điều quan trọng đối với tuổi này là được giao lưu với các bạn trong nhóm bạnthân, được thừa nhận, nghĩa là có uy tín, có vị trí nhất định trong nhóm Các em coitình bạn là mối quan hệ quan trọng nhất Cảm giác cô đơn là cảm giác đáng sợ với lứatuổi này Nên có những thanh niên chọn con đường theo “chúng bạn”, sa vào những

Trang 20

hành động sai phạm bất chấp sự phản đối của cha mẹ Hiện tượng này đặc biệt rõ ở cácnam thanh niên mới lớn.

Tình bạn ở lứa tuổi này có cơ sở của lý trí và bền vững hơn tình bạn ở tuổi thiếuniên Việc chọn bạn thường không cảm tính, bề ngoài như ở tuổi thiếu niên nữa màđược xây dựng dựa trên những tiêu chí nhất định Ví dụ như có chung sở thích, hứngthú, cùng có chung quan điểm về một số vấn đề nào đó, mến phục bạn về những phẩmchất đức tính nào đó Nên tình bạn của lứa tuổi này thường sâu sắc và rất bền vững cókhi kéo dài suốt cuộc đời

Sự gặp nhau về xu hướng, tính cách hay năng lực của các em là cơ sở để hìnhthành những nhóm bạn, có thể cùng giới hay khác giới Hình thức học tập nhóm ởtrường THPT, sự phát triển của giao tiếp nhóm trong thời đại công nghệ thông tinngày nay thông qua các kênh truyền thông là những nguyên nhân cũng góp phần, kíchthích sự hình thành nhóm bạn của HS THPT Nhóm bạn có thể là một thế giới thu nhỏ

mà ở đó các em học cách giao tiếp, học cách làm việc và thể hiện cái tôi, từ đó hoànthiện nhân cách của mình [50, 106-107]

Ba là quan hệ giới tính Một loại tình cảm rất đặc trưng xuất hiện ở độ tuổi này là

tình yêu nam nữ Cảm giác về mối tình đầu đã có thể xuất hiện lẻ tẻ

Đây là một hiện tượng rất tự nhiên trong đời sống tình cảm của thanh niên mới lớn.Nhìn chung, tình yêu ở lứa tuổi này thường trong sáng, thuần khiết, hồn nhiên và giàucảm xúc Có thể nói đây là yếu tố chi phối mạnh mẽ sự phát triển tâm lý cũng như đờisống tình cảm của thanh niên trong lứa tuổi này

Tuy nhiên, khoa học và thực tế đời sống đã chứng minh rằng, ở độ tuổi này, sựchín muồi về sinh lý và tính dục đã đi trước một bước so với sự trưởng thành về tâm

lý, về xã hội và kinh nghiệm sống Trong khi đó cảm giác của mối tình đầu gây nhữngrung cảm rất mãnh liệt Nói cách khác, những điều kiện cần và đủ để đi vào tình yêuđôi lứa chưa hội tụ đủ

Điểm đặc trưng trong tình yêu ở lứa tuổi này là có sự pha trộn giữa tình yêu và tìnhbạn mà bản thân các em cũng không phân biệt rạch ròi Tình cảm các em dành chonhau rất kín đáo, thầm kín, nhiều e thẹn và rất chân thành Các em thường ấp ủ trongtâm hồn nhiều hơn là biểu lộ ra bên ngoài nhưng ấn tượng lại rất mạnh, rất sâu sắc mànếu đổ vỡ thường gây nhiều đau khổ cho cả hai Ít đi tới hôn nhân, đơn giản là vì các

em còn thiếu rất nhiều điều kiện để thực hiện hôn nhân và cuộc đời phía trước các emcòn nhiều biến động

Trang 21

Người lớn cần phải coi đây là một hiện tượng rất bình thường và tự nhiên trong quátrình trưởng thành của con người, không nên coi đây là một vấn đề nghiêm trọng cầnphải can thiệp “gấp” Mọi sự can thiệp thô bạo, cấm đoán đều không phải là nhữngbiện pháp hợp tình, hợp lý, thậm chí có thể để lại những hậu quả xấu Việc mà ngườilớn cần phải làm là bằng các hình thức, biện pháp giáo dục tinh tế, khéo léo xây dựngcho các em những quan niệm, chuẩn mực về tình yêu đôi lứa, về đạo đức, về đạo lýtình dục Chính các em mới là người quyết định phải làm gì và làm như thế nào trongcác tình huống tình cảm Vấn đề quan trọng thứ hai để giúp các em HS THPT duy trìtình cảm khác giới lành mạnh là tạo môi trường, lôi cuốn các em vào những hoạt độngtập thể phong phú, sinh động, các hoạt động giải trí lành mạnh, bổ ích (thể thao, canhạc ).

Nhà giáo dục học Phạm Khắc Chương khi nhắc đến hoạt động giao tiếp trong

nhóm bạn và tình cảm giới tính đã nhận xét như sau: “Ở lứa tuổi này các em có nhu

cầu mạnh mẽ về tình bạn và nhóm bạn phù hợp hứng thú, sở thích trong học tập hoặc trong hoạt động, tạo điều kiện cho tình yêu nam nữ phát triển Tình bạn, tình yêu chân thành, trong sáng là động lực thúc đẩy phát triển những phẩm chất, năng lực tốt đẹp của thanh niên, đồng thời mở rộng mối quan hệ ứng xử thấm đượm sâu sắc những chuẩn mực đạo đức, nhân văn, xã hội.” [41, 83].

Thứ hai, về đời sống tình cảm

Đời sống tình cảm của tuổi đầu thanh niên rất đa dạng phong phú, mang tính sâusắc và bền vững hơn so với tuổi thiếu niên Do nó được xây dựng trên cơ sở nhận thứcđầy đủ và rõ ràng hơn Nó được gắn với thế giới quan, lý tưởng và xu hướng nghềnghiệp đồng thời có sự đối chiếu với những nhu cầu đạo đức xã hội

Tuổi HS THPT là lứa tuổi có nhiều đổi mới trong quá trình phát triển và xã hội hóacác xúc cảm Nội dung, chất lượng của các rung động, thể nghiệm trở nên đa dạng vàphong phú hơn, phạm vi đối tượng gây nên cảm xúc cũng được mở rộng, xúc cảmđược phân hóa rõ rệt Khả năng tự kiểm soát và tự điều chỉnh hành vi, xúc cảm của các

em cũng được hình thành Sự nhạy cảm với các ấn tượng mới của đời sống và tính cởi

mở của các em được biểu hiện rõ nét thông qua việc các em bắt đầu có những rungđộng sâu sắc đối với các quan hệ trong gia đình, trong nhà trường và trong sinh hoạtthường nhật Đặc biệt, các em rất nhạy cảm với những rung động của người khác Các

em dễ dàng có sự đáp ứng xúc cảm mạnh mẽ đối với những rung động của các nhânvật trong văn học và cái đẹp trong nghệ thuật Các em có nhu cầu muốn hiểu và phân

Trang 22

tích tình cảm của mình cũng như luôn tìm cách thể hiện tình cảm đó Các em thường

có sự đấu tranh mạnh mẽ giữa những tình cảm trái ngược nhau, giữa lý trí và tình cảmtrong đời sống nội tâm của các em Khả năng kiềm chế và che giấu tình cảm của các

1.2 Một số vấn đề về thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc

1.2.1 Khái quát chung về vấn đề thẩm mỹ âm nhạc

1.2.1.1 Khái niệm thẩm mỹ âm nhạc

Thẩm mỹ theo nghĩa của từ ngữ là sự thụ cảm cái đẹp “Thẩm mỹ âm nhạc” theonghĩa hẹp do đó có nghĩa là sự thụ cảm cái đẹp trong âm nhạc Một số nhà nghiên cứu

Mỹ học Việt nam đã chỉ ra rằng: “Phạm trù thẩm mỹ là khái niệm chung nhất, khái

quát nhất thể hiện nhận thức của con người trước những hiện tượng thẩm mỹ trong tự nhiên, xã hội, trong bản thân con người và nghệ thuật, thể hiện những quy luật cơ bản của hoạt động thẩm mỹ, của quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực” [12, 12] Bên cạnh đó, trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử, Mỹ học Mác – Lênin đã coi cái thẩm mỹ là một quan hệ gồm ba mặt hợp thành:Một là mặt đối tượng trong quan hệ thẩm mỹ Đó là những cái đẹp, cái bi, cái hài, cáicao cả tồn tại khắp mọi nơi trong đời sống xã hội Hai là mặt chủ thể trong quan hệthẩm mỹ Đó là các hoạt động của chủ thể thẩm mỹ về nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu thẩm

mỹ, lý tưởng thẩm mỹ của những con người xã hội Ba là mặt nghệ thuật trong quan

hệ thẩm mỹ Đó là các hoạt động hưởng thụ nghệ thuật, đánh giá nghệ thuật, sáng tạo

nghệ thuật.

Ở đây cần hết sức tránh nhầm lẫn hai khái niệm “thẩm mỹ” và “mỹ học” Cũng

như sự khác biệt giữa lịch sử và sử học, văn chương và văn học, âm nhạc và âm nhạc

học… “thẩm mỹ” hoàn toàn không phải là “mỹ học” Đó là sự khác biệt giữa đối tượng và khoa học nghiên cứu đối tượng Do đó, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì “thẩm

Trang 23

mỹ âm nhạc” là toàn bộ hoạt động của con người (chủ thể thẩm mỹ) trong việc hưởng thụ, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật âm nhạc (đối tượng thẩm mỹ).

1.2.1.2 Những biểu hiện đặc trưng của nghệ thuật âm nhạc theo quan điểm của

Mỹ học hiện đại

Theo quan điểm của Mỹ học thì âm nhạc là nghệ thuật của âm thanh và thời gian.Nếu như phương thức để biểu hiện đối tượng, nội dung của khoa học là các khái niệmthì trong nghệ thuật lại là hình tượng nghệ thuật Nếu như văn học dùng chất liệu,ngôn ngữ để biểu hiện hình tượng nghệ thuật là ngôn ngữ, điêu khắc là hình khối, hộihọa là đường nét và màu sắc…thì chất liệu, ngôn ngữ để biểu hiện hình tượng âm nhạclại là âm thanh Hay có thể nói một cách khác, âm nhạc là nghệ thuật của thính giác(dựa vào phương thức thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ) Năm 1862 trong cuốn sách “Bàn

về cảm giác âm thanh như là cơ sở sinh lý cho lý thuyết âm nhạc”, Helmholtz đã ghi

chú: Âm nhạc có một lối liên kết chặt chẽ với cảm giác thuần túy hơn bất cứ nghệ

thuật nào Bởi vì trong âm nhạc có cảm giác về âm thanh chính là chất liệu của nghệ thuật.

Âm thanh và thời gian là hai yếu tố của bản chất ngôn ngữ âm nhạc Do đó, nóluôn luôn là trừu tượng và ước lệ trong nhận thức của con người Đặc biệt là trong cácthể loại âm nhạc không lời (khí nhạc)

Ở đây, chúng ta cần phân biệt hình tượng thẩm mỹ và hình tượng nghệ thuật.Chúng có mối quan hệ khăng khít nhưng không đồng nhất với nhau Hình tượng thẩm

mỹ là tấm gương phản ánh đời sống xã hội, hàm chứa cả nội dung lẫn hình thức,nhưng trước hết là hàm chứa nội dung và đời sống bên trong, đem lại những cảm xúc

và nhận thức thẩm mỹ Nó là sản phẩm nhận thức thẩm mỹ của con người trong quátrình phản ánh thế giới ở lĩnh vực nhân văn Hình tượng thẩm mỹ chính là hình thứcphản ánh của nghệ thuật, là những cảm xúc, những thị hiếu, những tình cảm, nhữngbiểu tượng, những lý tưởng thẩm mỹ được tổ hợp lại thành những hình ảnh cảm quan,

cụ thể nhằm bộc lộ bản chất xã hội, bản chất con người

Hình tượng thẩm mỹ là cơ sở để tạo nên hình tượng nghệ thuật Từ hình tượngthẩm mỹ sang hình tượng nghệ thuật lại còn được cảm quan hóa thông qua các loạihình nghệ thuật đặc thù khác nhau Hình tượng thẩm mỹ có thể do thiên tạo nhưnghình tượng nghệ thuật nhất thiết phải là sản phẩm do người nghệ sỹ sáng tạo ra

Hình tượng âm nhạc mang tính chất trừu tượng hơn và cũng trực tiếp hơn các loạihình nghệ thuật khác do yếu tố biểu hiện là chất liệu âm thanh của âm nhạc Nghệthuật nào cũng hướng tới tâm hồn con người Nhưng âm nhạc lại là thứ ngôn ngữ trực

Trang 24

tiếp của tâm hồn, nó len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống, tình cảm, chạm vàomọi ý thức của tâm linh Nói về đặc trưng trong âm nhạc, tác giả Đỗ Thị Minh Thảo

viết: “Sức biểu hiện trong âm nhạc là sức chở nội dung cảm xúc, tình cảm, hình tượng

mang tính thẩm mỹ cao của các âm thanh, có ý nghĩa nhân văn.” [26, 158]

Hình tượng âm nhạc mở ra đầu tiên ở chủ đề âm nhạc, sau đó là trong quá trìnhphát triển các chủ đề âm nhạc Trong quá trình phát triển đó, có khi là sự mở rộng biếnhóa, bổ sung, có khi là sự xuất hiện chủ đề mới tạo sự tương phản, xung đột giữa cácchủ đề tạo nên hình tượng sinh động, sâu sắc

Chủ đề trong âm nhạc là ý nhạc cơ bản được trình bày một cách rõ ràng trong quan

hệ giai điệu và cấu trúc, thể hiện ở chất liệu âm nhạc được cá tính hóa và có ý nghĩadẫn đầu truyền cảm hình tượng trong tác phẩm âm nhạc Chủ đề âm nhạc gắn liền vớingôn ngữ âm nhạc được thể hiện một cách cụ thể bằng một giai điệu, một ý nhạc, hoặc

có thể là một tiết tấu, vài nốt nhạc, vài hợp âm mang tính đặc sắc, cô đọng nhất, dễnhớ, dễ thuộc, dễ liên tưởng, dễ cảm nhận

Chủ đề âm nhạc và hình tượng âm nhạc có mối liên hệ gắn bó với nhau nhưngkhông đồng nhất với nhau Nó gắn bó với nhau bởi lẽ, mỗi một chủ đề âm nhạc sẽmang lại một hình tượng âm nhạc, nếu như không ngay tức khắc thì cũng sẽ ít nhiềubộc lộ trong toàn bộ tác phẩm Tuy nhiên, nó không đồng nhất ở chỗ: Khái niệm chủ

đề âm nhạc quan hệ đến chất liệu âm nhạc Nó là ý nhạc cụ thể Chủ đề âm nhạc thuộclĩnh vực lý thuyết, lý luận âm nhạc Còn hình tượng âm nhạc mang tính chất mở rộnghơn Nó là khái niệm thuộc quy tắc thẩm mỹ, hoàn toàn mang tính Mỹ học Đó làtrạng thái tâm hồn, nhận thức lý trí của con người thông qua những phương tiện biểuhiện của ngôn ngữ âm nhạc mà hình thành Do đó, hình tượng âm nhạc mang tính ước

lệ, tính trừu tượng và khái quát cao về tư duy, cảm xúc của nhà soạn nhạc Có thể nói,hình tượng âm nhạc là linh hồn của tác phẩm âm nhạc

Nghiên cứu bản giao hưởng số 5, giọng Đô thứ “Định mệnh”, Op 67 của

Beethovent Chúng ta sẽ thấy mối quan hệ này giữa chủ đề và hình tượng âm nhạc

Hình 1: Chủ đề I, chương I, bản giao hưởng số 5 của Beethovent

Toàn bộ chủ đề trong chương I bản giao hưởng số 5 này gồm 21 nhịp, được cấutrúc bằng hình thức một đoạn không hoàn chỉnh Tuy nhiên, chỉ bằng 2 motive gồm 5nhịp, với nhân tố âm nhạc gồm 4 âm được gắn với tên gọi “Chủ đề số phận” (Motive

Trang 25

chủ đề) báo tin mở đầu bản giao hưởng Từ giai điệu ban đầu của chủ đề thứ nhất –chủ đề chính, khiến người nghe liên tưởng ngay đến hình tượng âm nhạc, đó chính là

“Tiếng gõ cửa của định mệnh” Theo dõi sự phát triển từ chủ đề âm nhạc chính này và

mạch phát triển âm nhạc chung của tác phẩm, ta thấy ý đồ triết lý của nhà soạn nhạcnhằm diễn đạt nội dung "Qua cuộc đấu tranh đi đến thắng lợi", "Từ tăm tối - ra ánhsáng" Ý đồ hùng vỹ và cao cả được thể hiện dưới một hình thức rõ ràng kinh điển, cânđối, mạch lạc, logic và cô đọng Nhờ những phẩm chất ấy bản giao hưởng số 5 đã trởthành loại kiểu mẫu, một tiêu chuẩn nhạc giao hưởng của thế kỷ XIX

Tuy nhiên, một tác phẩm âm nhạc không phải luôn luôn và không phải trong tất cả

sự phát triển đều chứa đầy chất chủ đề Tác phẩm có thể được xây dựng trên chất liệuhình ảnh bước chạy không có tính chất chủ đề và trên nền chuyển động bình thản được

âm hình hóa khi tạo nên hình tượng rõ rệt về trạng thái tâm lý hoặc hình ảnh thiênnhiên…

Bên cạnh đó, tính chất hình tượng âm nhạc cũng có thể dựa trên toàn bộ hòa âmkhông âm hình hóa và không có tính chủ đề rõ rệt trên màu sắc hoặc kiểu loại “tìnhhuống kịch tính” được tạo ra bằng một chuỗi hòa âm, và đôi khi bằng các hợp âmriêng biệt Tuy nhiên vẫn cần nhấn mạnh, hình tượng âm nhạc ban đầu vẫn được thểhiện ở chủ đề âm nhạc nếu nó là cơ sở của tác phẩm âm nhạc Hình tượng âm nhạc cóhai đặc điểm đặc trưng

Thứ nhất, nó phản ánh cuộc sống trực tiếp bằng các hình tượng âm thanh và nhịp

điệu Trước hết phải nói đến sự phản ánh trực tiếp tiếng động và âm thanh của hiệnthực khách quan Trong đó, thế giới tự nhiên được khắc họa đầy màu sắc như tiếngsuối róc rách, tiếng rì rào của gió, mưa, bão, tiếng chim hót, tiếng ngựa hí…(như tronggiao hưởng số 6 của Beethovent, các bài ca “Thần núi”, “Mục đồng”… của Sube, haytác phẩm “Bốn mùa”của Tchaikovsky…) Kể cả việc sử dụng tiết tấu để thể hiện âmthanh, mạch đập cũng như để khắc họa những âm thanh trong lao động hoặc tiếng máymóc, tàu hỏa, tiếng súng, hiệu kèn tù và…(như trong Opera “mũi tên tự do” củaWeber, “Siegfried” của Wagner, “Pacific 231” của Honegger…)

Bên cạnh đó, các quá trình tâm lý của con người như khóc, cười, ca thán, kêuthét… cũng được tái hiện nhiều trong các tác phẩm âm nhạc như ở những bản nhạcđộc tấu hay các đoạn nhạc độc tấu nhạc cụ, đặc biệt được thể hiện hiệu quả nhất trongcác tác phẩm thanh nhạc

Thứ hai, nó phản ánh từng phần tạo sự liên tưởng qua cảm xúc âm nhạc Những

thuộc tính không gian của sự vật, những trạng thái tâm lý như nỗi đau khổ, uất ức,

Trang 26

nghẹn ngào, nỗi lo âu, khắc khoải, nỗi lo sợ, hoang mang, niềm hạnh phúc, nhớthương… hay những tư duy triết lý của con người như định mệnh, số phận, sóng giócuộc đời, cái thiện – cái ác, cái đẹp – cái xấu… không thể biểu hiện được trực tiếpbằng âm nhạc Nhưng nó có thể được thể hiện bằng mối liên hệ của những cảm xúc vềmặt nội tâm trước hình tượng của sự vật, hiện tượng với cảm xúc về mặt nội tâm củahình tượng đó trong âm nhạc thông qua sự biểu hiện bằng chuỗi liên kết của các âmthanh được tổ chức một cách chặt chẽ, giàu hình ảnh, cảm xúc của âm nhạc.

Trong sự cảm thụ âm nhạc, những ý niệm liên tưởng được nảy sinh trên cơ sở cảmxúc do âm nhạc thể hiện, cũng như trên cơ sở của sự giống nhau hoặc mối liên hệ từcác yếu tố trong ngôn ngữ âm nhạc với những sự vật, hiện tượng trong cuộc sống.Điều này đã được nhà nghiên cứu âm nhạc A Xô-Khor đề cập đến trong cuốn sách “

Vai trò giáo dục của âm nhạc” như sau: “Thật ra các nhạc sỹ sáng tác có sử dụng

rộng rãi không những lối miêu tả trực tiếp, mà cả lối miêu tả gián tiếp nữa, dựa vào mối liên tưởng giữa những cảm giác thính giác với những cảm giác khác (về ánh sáng, về màu sắc, về sức nặng…), và cả những sự liên tưởng giữa những hình tượng

âm thanh với những hình tượng thị giác Nhờ đó âm nhạc có thể “vẽ” ra cả những cái không nghe thấy được: một ngày nắng đẹp, hay một đêm khuya, ánh bình minh hay ánh chớp, một cảnh sa mạc hay một rặng núi…” [58, 9] Sự lĩnh hội hình tượng âm

nhạc luôn luôn là kết quả cảm nhận của sự mô hình hóa cách thức diễn đạt, biểu hiệncủa âm thanh với sự liên tưởng trong nhận thức và cảm xúc của con người

Hình tượng âm nhạc nảy sinh ở mỗi con người và mỗi tác phẩm là khác nhau Nókhông cố định mà rất linh hoạt, uyển chuyển Cụ thể là, cũng cách thức biểu hiện đónhưng ở tác phẩm này, người này hình tượng âm nhạc lại được phản ánh, nhận thức vàđược mô tả hoàn toàn khác tác phẩm và người khác Do đó, để nhận thức được hìnhtượng âm nhạc một cách chân thực và sâu sắc, chúng ta cần phải kết hợp tính ước lệcủa hình tượng âm nhạc với yếu tố liên tưởng cùng vốn sống, vốn văn hóa âm nhạccủa mỗi người

Để hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm âm nhạc được nổi bật, có sức truyền cảm

và thuyết phục mạnh mẽ, thì nghệ thuật phối khí cũng đóng một vai trò hết sức đáng

kể Cùng với nghệ thuật phối khí, hình tượng âm nhạc lúc này được thể hiện đầy đủ, rõnét và đạt hiệu quả cảm xúc cao nhất Ví dụ để diễn tả một khung cảnh đồng quê ViệtNam thì không gì thể hiện hiệu quả bằng một giai điệu nhẹ nhàng có thang âm ngũcung, được thổi lên bởi tiếng sáo trúc quen thuộc Hay trong lịch sử nhạc sỹ

Trang 27

Beethovent đã dùng hiệu kèn đồng hùng tráng trên nền tiết tấu hành binh để xây dựnghình tượng người anh hùng thông qua chủ đề Promete nhằm thể hiện tư tưởng vềngười anh hùng là đấu tranh cho công lý và bình đẳng bác ái (Giao hưởng số 3).

Thêm vào đó, khối âm thanh tổng hợp và âm sắc của các loại nhạc cụ trong dànnhạc, có khả năng tạo được những hiệu quả đa dạng, phong phú như: Một cuộc chiến

dữ dội, một khung cảnh thiên nhiên sinh động, hoặc một nội tâm day dứt, một niềmvui sướng hân hoan Nếu đặc thù mỗi giai điệu vẽ nên một hình tượng nghệ thuậtnhất định, thì khối âm thanh tổng hợp của dàn nhạc thông qua nghệ thuật phối khí sẽdiễn đạt được một nhóm hình tượng âm nhạc hoặc nhiều hình tượng âm nhạc khácnhau Bởi vậy, tác phẩm âm nhạc phối cho dàn nhạc có khả năng tạo nên một bứctranh toàn cảnh của hiện thực sinh động Đồng thời, nêu bật được những nội dung tưtưởng mang ý nghĩa thời đại

Thể loại âm nhạc có lời (thanh nhạc) lại càng có điều kiện thuận lợi hơn để ngườinghe cảm nhận được ý đồ, hình tượng, nội dung mà nhạc sỹ muốn phản ánh Ở đây có

sự kết hợp tinh tế giữa nhạc và lời, nhạc chắp cánh cho lời bay cao và lời thuyết minhcho ý nhạc thêm sáng tỏ Có thể nói, trong tất cả thể loại âm nhạc, ca khúc tỏ ra có mộtlợi thế mà nhạc sỹ dùng để phản ánh trực tiếp và nhanh nhạy hiện thực sinh động củacuộc sống hơn cả Cũng chính vì lợi thế này mà ca khúc chiếm một vị trí rất quantrọng và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng Đặc biệt những ca khúc phổ thông (pop)

có giai điệu dễ nghe, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ hát lại có một lợi thế rất lớn, đáp ứng nhucầu và thị hiếu thưởng thức âm nhạc rộng rãi của con người hiện đại ngày nay

Hình tượng đối với một tác phẩm nghệ thuật cũng như những tế bào đối với cơ thểsống, là máu thịt tư tưởng thẩm mỹ của người nghệ sỹ Trong một tác phẩm có nhiềuhình tượng được đan kết thành một hệ thống mang tính chỉnh thể bao gồm hai mặt nộidung và hình thức

Như bất cứ sự vật và hiện tượng nào ngoài đời sống, nội dung và hình thức trongtác phẩm âm nhạc có sự thống nhất biện chứng, không tách rời nhau Nội dung bao giờcũng là nội dung của hình thức nhất định, còn hình thức bao giờ cũng nhằm thể hiệnmột nội dung nào đó Mối quan hệ máu thịt của chúng trong tác phẩm tựa như mốiquan hệ giữa phần xác và phần hồn của một con người Bởi vậy, như các thực thể hữu

cơ, mỗi tác phẩm âm nhạc có một sinh mệnh riêng, sự sống riêng Việc loại bỏ hoặctách bạch bất kỳ yếu tố lớn nhỏ nào trong sự sống đó đều ảnh hưởng đến sự tồn tại củachính tác phẩm âm nhạc đó với tư cách là một giá trị thẩm mỹ độc đáo và độc lập

Trang 28

Sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm âm nhạc biểuhiện ở chỗ: nội dung mang tính quyết định, còn hình thức mang tính độc lập tương đối.Tính quyết định của nội dung khiến cho bất cứ sự thay đổi nào của nó đều sớm muộn

đưa tới sự thay đổi về mặt hình thức Nguyễn Đình Thi nói: “Nội dung mới sẽ tự nó

tìm đến hình thức mới”

Nội dung là những hiện tượng thẩm mỹ của hiện thực khách quan cùng với những

tư tưởng, tình cảm, khát vọng của con người được phản ánh vào trong tác phẩm bằngnhững đặc trưng của ngôn ngữ âm nhạc Nó là sự tích lũy về tri thức, cảm xúc, kinhnghiệm, tư tưởng, quan điểm và năng lực sáng tạo của người nghệ sỹ Còn hình thức

âm nhạc thuộc bản chất thẩm mỹ, là toàn bộ cấu trúc của tác phẩm âm nhạc Cho nên,nội dung âm nhạc rộng lớn, phong phú và chiếm ưu thế hơn hình thức âm nhạc trong

tư duy sáng tạo nghệ thuật Bởi vì, hình thức nào cũng không thể sống tự thân nó được

mà luôn luôn phải phụ thuộc vào nội dung Tính năng động, tính tương đối độc lập củacác yếu tố hình thức thể hiện ở chỗ, nhờ có hình thức âm nhạc thì ta mới có thể cảmthụ được nội dung của âm nhạc

Một tác phẩm âm nhạc có nội dung hay là chân trời để người nghệ sỹ tiếp tục sángtạo Như việc chuyển thể các tác phẩm âm nhạc cũ để trình diễn cho nhiều thể loại âmnhạc khác nhau, nhiều hình thức biểu diễn khác nhau Từ đó cũng làm sáng tạo thêmnhững hình thức mới để cảm thụ nội dung nghệ thuật cũ Như vậy, sự thống nhất giữanội dung và hình thức âm nhạc là tiền đề để sáng tạo âm nhạc

Bên cạnh yếu tố âm thanh đã được trình bày ở trên, yếu tố thời gian trong nghệthuật âm nhạc là thể hiện ở chỗ, âm nhạc đòi hỏi sự phát triển liên tục và nối kết củacác motive, chủ đề và hình tượng âm nhạc trong một khoảng thời gian nhất định để tạo

ra một tác phẩm hoàn chỉnh: “Dù bạn nghe “sống” hay nghe qua máy một tác phẩm

âm nhạc, bạn phải theo dõi từ giây phút đầu tiên cho đến khi kết thúc Nếu bỏ đi bất

cứ giây phút nào, bạn không thể nắm bắt được tác phẩm” [5, 29]

Do vậy, âm nhạc luôn luôn chuyển động theo thời gian Hay nói như Hêghen: “Âm

nhạc là nghệ thuật hai lần bị phủ định Vừa mới vang ra nó đã tan biến ngay trong không gian và lỗ tai vừa mới nghe nó đã mất ngay Nó chỉ còn trong trí nhớ âm nhạc”.

Chính yếu tố thời gian trong âm nhạc đã quy định đặc điểm đặc trưng không thể thiếutrong bất kỳ tác phẩm âm nhạc nào dù là lớn hay nhỏ Đó chính là yếu tố nhắc lạitrong âm nhạc Nếu không có sự nhắc lại thì giai điệu của tác phẩm ấy cứ thế trôi qua

và chẳng còn đọng lại trong chúng ta một chút gì về tác phẩm chúng ta vừa nghe

Trang 29

Nhắc lại chính là cách để khắc sâu, ghi nhớ giai điệu quen thuộc của bản nhạc Bêncạnh sự nhắc lại thì âm nhạc cũng cần có sự phát triển và biến đổi nhằm lôi cuốn, hấpdẫn người nghe, tránh cảm giác bị nhàm chán Nói về điều này, PGS Trần Thế Bảo đã

viết: “Như thế, âm nhạc do đặc tính là nghệ thuật thời gian cần phải được nhắc lại

nhiều lần để người nghe ghi nhớ và cần thay đổi để tìm niềm hứng khởi, sự ngạc nhiên thích thú gặp được cái mới” [5, 31].

1.2.1.3 Mối quan hệ thẩm mỹ trong hoạt động thẩm mỹ âm nhạc

Như đã trình bày ở trên mục 1.2.1.1 về khái niệm thẩm mỹ âm nhạc, cho thấy rất rõmối quan hệ thẩm mỹ âm nhạc gồm có hai mặt là chủ thể và đối tượng thẩm mỹ trong

âm nhạc Phân tích hoạt động của nghệ thuật âm nhạc, chúng ta bắt gặp mối quan hệchặt chẽ giữa ba khâu :

Hình 2: Mối quan hệ của ba khâu trong hoạt động thẩm mỹ âm nhạc

Từ sơ đồ hoạt động nghệ thuật âm nhạc ở trên, chúng ta rút ra kết luận, đối tượng

của mối quan hệ “thẩm mỹ âm nhạc” là toàn bộ hoạt động sáng tạo nghệ thuật âm nhạc và các tác phẩm, sản phẩm âm nhạc do người nghệ sỹ sáng tạo ra Phương diện

đầu nghiêng về quá trình, phương diện sau nghiêng về thành phẩm Như vậy, tác phẩm

âm nhạc là khâu trung gian giữa nghệ sỹ và công chúng Hay nói theo Mỹ học thì, nó

là đối tượng chủ yếu của mối quan hệ thẩm mỹ âm nhạc Tác phẩm âm nhạc – sảnphẩm sáng tạo tinh thần của người nghệ sỹ là đơn vị cơ bản của tri thức nghệ thuật âmnhạc, là đối tượng nghiên cứu trọng tâm của Mỹ học âm nhạc

Trong Mỹ học hiện đại, người ta xem đối tượng để nghiên cứu của Mỹ học âmnhạc chính là cái đẹp của những âm thanh do con người sáng tạo ra PGS Trần Thế

Bảo đã viết: “Mỹ học âm nhạc nghiên cứu cái đẹp của âm thanh do con người sáng

tạo ra” [5, 9] Do đó, suy cho cùng thì đối tượng của hoạt động thẩm mỹ âm nhạc

cũng chính là cái đẹp của những âm thanh được con người sáng tạo ra thông qua nghệthuật âm nhạc Hay nói cụ thể hơn đó là tác phẩm âm nhạc

Một tác phẩm âm nhạc hay, có chất lượng nghệ thuật, thẩm mỹ cao phải là tácphẩm đạt được một lý tưởng thẩm mỹ đúng đắn Điều đó được thể hiện ở mối quan hệbiện chứng của nội dung và hình thức đẹp, có khả năng đánh giá sâu sắc các hiệntượng của đời sống, tâm lý con người, có thể xâm nhập đến tận cùng của tâm hồn con

Tác phẩm

Trang 30

người, góp phần định hướng hành động của con người với phương thức diễn tả bằnghình tượng âm nhạc phù hợp nhất.

Theo Triết học Mác – Lênin thì “Chủ thể thẩm mỹ là chủ thể xã hội có khả năng

cảm thụ, đánh giá, hưởng thụ và sáng tạo thẩm mỹ thông qua các khả năng tinh tế của các giác quan nói riêng và các trình độ, năng lực thẩm mỹ nói chung đã được rèn luyện từ sự đồng hóa thế giới về mặt thẩm mỹ” [21, 193].

Hình 3: Mô hình cấu trúc của chủ thể thẩm mỹ [21, 99]

Theo sơ đồ cấu trúc của chủ thể thẩm mỹ, có bảy thành tố cơ bản tồn tại độc lậpnhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau, tạo ra sự hình thành và phát triển của một

hệ thống hoàn chỉnh – chủ thể thẩm mỹ

Ý thức thẩm mỹ là một phạm trù thể hiện chủ thể thẩm mỹ một cách bao quát nhất

Nó được cấu thành bởi những phạm trù thẩm mỹ khác vốn là những thành tố quantrọng phụ thuộc và làm nên nó như cảm xúc thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, quan điểmthẩm mỹ và lý tưởng thẩm mỹ…

Quan điểm thẩm mỹ là một bộ phận hợp thành thế giới quan của cá nhân và xãhội Đó là những nguyên tắc tiếp cận các hiện tượng và quá trình thẩm mỹ ngoài đờisống và trong nghệ thuật Do vậy, quan điểm thẩm mỹ chỉ đạo mọi hoạt động thẩm

mỹ, đặc biệt là hoạt động nghệ thuật của người nghệ sỹ

Cảm xúc thẩm mỹ là trạng thái rung động trực tiếp của con người trước các hiệntượng thẩm mỹ khách quan trong thiên nhiên, trong đời sống và trong nghệ thuật.Tình cảm thẩm mỹ là sự biểu hiện thái độ thẩm mỹ khi phân biệt giữa đẹp và xấu,yêu và ghét, tán đồng hay phản đối, xót xa cái bi thương, khâm phục cái cao cả

Biểu tượng thẩm mỹ là những hình ảnh, những ấn tượng tương đối toàn vẹn về một

sự vật, một hiện tượng lưu lại trong tâm hồn, trong ký ức con người, và có khả năng táisinh lại khi được tác động về mặt thẩm mỹ

Lý tưởng thẩm mỹ là hình ảnh mẫu mực cảm quan về sự hoàn thiện hoàn mỹ củacuộc sống và con người Vì lý tưởng thẩm mỹ nói lên hình ảnh đẹp cần phải hướng tới

Chủ thể thẩm mỹ(với ý thức thẩm mỹ được biểu hiệnthành quan điểm thẩm mỹ nhất định)

Biểu tượngthẩm mỹ

Cảm xúc

thẩm mỹ

Lý tưởngthẩm mỹHình tượng thẩm mỹ

Tình cảmthẩm mỹThị hiếu thẩm

mỹ

Trang 31

của con người và cuộc sống nên nó là hình thức biểu hiện cao nhất của ý thức thẩm

mỹ Mọi hoạt động thẩm mỹ đều lấy nó làm đích để vươn tới, đều coi nó làm chuẩnmực để đánh giá hiệu quả và ý nghĩa của mình

Hình tượng thẩm mỹ như đã trình bày ở mục 1.2.1.2, là tấm gương phản ánh đờisống xã hội, hàm chứa cả nội dung lẫn hình thức

Thị hiếu thẩm mỹ chính là các sở thích tương đối ổn định của cá nhân hay cộngđồng về phương diện thẩm mỹ (sẽ đề cập rõ hơn ở phần sau)

Nói đến chủ thể thẩm mỹ là người ta nói đến khả năng thụ cảm, đánh giá và sángtạo các giá trị thẩm mỹ thông qua các giác quan và bộ óc của con người Trong nămgiác quan của con người thì thính giác và thị giác mang lại cho chủ thể khả năng mỹcảm sâu sắc nhất vì nó giúp chủ thể thấy cái đẹp của hình thức và nghe được những

âm thanh của cuộc sống

Mác nói: “Lỗ tai thính âm nhạc, con mắt cảm thấy cái đẹp của hình thức, nói tóm lại là những cảm giác có khả năng về sự hưởng thụ có tính chất người và tự khẳng định mình như những lực lượng bản chất của con người” [33, 137] Hay trong cuốn

“Cảm nhận Mỹ học âm nhạc”, PGS Trần Thế Bảo cũng đã viết: “Như thế, đối với

người nghệ sỹ, người thưởng ngoạn âm nhạc, tai và não đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc sáng tạo, thực hiện và nghe” [5, 22].

Như vậy, âm nhạc – nghệ thuật của thính giác là nghệ thuật chiếm nửa ưu thế vềkhả năng phát triển mỹ cảm đặc biệt đó cho loài người Chính tính trừu tượng trongcảm nhận về hình tượng bằng âm thanh trong âm nhạc, khiến việc phản ánh hiện thựctrong âm nhạc không được rõ ràng như tri giác bằng thị giác như hội họa, điện ảnh,điêu khắc…Nhưng nó lại tác động rất mạnh về mặt tình cảm, khơi gợi những cảm xúc

và óc tưởng tượng của con người: “Âm nhạc yếu về phản ánh hiện thực, nhưng mạnh

mẽ về khêu gợi cảm xúc và óc tưởng tượng” [5, 31]

Để có một đôi tai “thính”, nhạy bén và tinh tế trong âm nhạc thì đòi hỏi chủ thểthẩm mỹ phải có khả năng tinh tế của tất cả các giác quan cùng với trình độ, năng lựcthẩm mỹ nhất định thông qua sự hiểu biết sâu rộng về tri thức nghệ thuật âm nhạc, kếthợp với những nét riêng độc đáo được biểu hiện trong ý thức thẩm mỹ của mỗi người.Dựa vào mức độ tác động cũng như nhu cầu của chủ thể trong hoạt động thẩm mỹ,người ta phân chia ra các nhóm chủ thể thẩm mỹ khác nhau Có nhiều quan điểm đểphân loại chủ thể thẩm mỹ Nhưng theo tác giả bài viết này, quan điểm chia chủ thểthẩm mỹ thành năm nhóm là hợp lý nhất, vì bao quát được đầy đủ các dạng tồn tại củachủ thể thẩm mỹ trong lĩnh vực thẩm mỹ âm nhạc Năm nhóm chủ thể thẩm mỹ gồm:

Trang 32

Thứ nhất, nhóm chủ thể sáng tạo thẩm mỹ, ở đây cụ thể là sáng tạo nghệ thuật âm

nhạc, tức là các nhạc sỹ Họ là những người sáng tác ra các tác phẩm âm nhạc trên cơ

sở của năng lực và phong cách âm nhạc được kết tụ trong những giá trị thẩm mỹ thểhiện qua tác phẩm âm nhạc của mình

Thứ hai, nhóm chủ thể biểu hiện thẩm mỹ, cụ thể là các ca sỹ, nghệ sỹ biểu diễn

âm nhạc, là người truyền đạt sản phẩm sáng tác của chủ thể sáng tạo thẩm mỹ (nhạcsỹ) cho chủ thể thưởng thức (công chúng) Nhóm chủ thể biểu hiện thẩm mỹ hay nghệ

sỹ biểu diễn chính là người sáng tạo lần thứ hai tác phẩm âm nhạc đó

Thứ ba, nhóm chủ thể thưởng thức thẩm mỹ, cụ thể là thưởng thức âm nhạc, tức

công chúng (là người sáng tạo lần thứ ba) Công chúng là lẽ sống còn của nghệ sỹ vàtác phẩm, là người tiếp nhận hay từ chối các tác phẩm của nghệ sỹ Như vậy, nhómchủ thể thưởng thức thẩm mỹ gắn với hoạt động thưởng thức âm nhạc là hoạt độngchủ yếu và rộng khắp trong đời sống âm nhạc Đây là nhóm chủ thể và là hoạt độngchủ yếu mà tác giả sẽ đề cập đến trong nghiên cứu của luận văn này (hoạt động thưởngthức âm nhạc của các em HS THPT)

Để quá trình thưởng thức âm nhạc diễn ra tốt đẹp, phù hợp với quy luật thẩm mỹtiên tiến, đòi hỏi người thưởng thức âm nhạc cũng phải có một vốn sống nhất định,cũng như có tri thức cơ bản nhất định về nghệ thuật âm nhạc, cùng với một tình cảm,

thị hiếu thẩm mỹ tốt: “Thưởng thức thẩm mỹ là hoạt động của toàn bộ thế giới nội

tâm của con người, nó chịu sự chi phối của một loạt những yếu tố bên trong như: quan điểm, lý tưởng thẩm mỹ, tình cảm và tri thức thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ và sự từng trải, lối sống, đạo đức và am hiểu nghệ thuật, điều kiện tâm sinh lý…” [22, 58].

Trong tất cả các yếu tố trên thì yếu tố tri thức thẩm mỹ, tạo ra sự nhạy cảm, tinh tếtrong thưởng thức thẩm mỹ Các quan điểm và lý tưởng thẩm mỹ định hướng cho tìnhcảm và thị hiếu thẩm mỹ Nó tạo ra khuynh hướng trong thưởng thức âm nhạc Do đó,

để có một thị hiếu thưởng thức âm nhạc tiên tiến, đòi hỏi các em HS THPT phải traudồi, rèn luyện được một tri thức âm nhạc nhất định

Thứ tư, nhóm chủ thể định hướng thẩm mỹ, cụ thể là các nhà lý luận, phê bình âm

nhạc, nhưng cũng có khi là những nhà lãnh đạo văn hóa – nghệ thuật Thông thường,

họ bao giờ cũng đại diện cho một giai cấp, cho một lý tưởng thẩm mỹ nhất định

Thứ năm, nhóm chủ thể thẩm mỹ tổng hợp, cụ thể là các nhà chỉ huy, dàn dựng, tổ

chức và sản xuất các chương trình âm nhạc Khả năng của chủ thể tổng hợp bao trùmlên nhiều lĩnh vực thẩm mỹ

Trang 33

Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính tương đối Vì trên thực tế, các loại chủ thểnày không tồn tại hoàn toàn tách biệt nhau, mà giữa chúng có sự xâm nhập, chuyểnhóa tùy theo từng mối quan hệ cụ thể Ví như, không thể nói nhà phê bình âm nhạc lạichỉ có năng lực thẩm định Muốn phân tích, đánh giá tốt các tác phẩm âm nhạc muônhình muôn vẻ, nhà phê bình âm nhạc đồng thời cũng phải là một công chúng cảm thụ

âm nhạc tinh tường và sâu sắc, một nghệ sỹ với những tư chất phong phú và cao đẹp ởmột mức độ đáng kể nào đó Thêm vào đó, khi ta xếp một người vào một nhóm chủthể thẩm mỹ nào thì chỉ có nghĩa là ta đang xem xét trong một mối quan hệ thẩm mỹ

cụ thể, xác định mà thôi Ở hoàn cảnh khác và trong mối quan hệ thẩm mỹ khác thìngười ấy sẽ được đưa vào một nhóm chủ thể thẩm mỹ thậm chí không liên hệ gì lắmtới nhóm được phân chia trước đấy

1.2.2 Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc

Thị hiếu là một khái niệm bao hàm những nội dung hết sức đa dạng và phong phú

Người Trung Quốc coi thị hiếu là sự thích thú Người phương Tây gọi là cảm giác, khẩu vị Còn chúng ta thường hiểu thị hiếu là sự lựa chọn, sở thích của cá nhân hoặc

một nhóm người nào đó Có thể gọi thị hiếu là sở thích.

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thị hiếu thẩm mỹ của con người dù ở góc độ

cá nhân hay xã hội Có quan điểm tuyệt đối hoá vai trò của thị hiếu cá nhân, năng lựcbẩm sinh của cá nhân, hoặc tuyệt đối hoá thị hiếu xã hội của các cộng đồng người như

giai cấp, dân tộc, thời đại Chẳng hạn, Môngteskiơ cho rằng thị hiếu thẩm mỹ là “cái

thu hút chúng ta chú ý tới đối tượng bằng tình cảm” Ngược lại Rútxô coi: “Thị hiếu thẩm mỹ là năng lực nhận xét về cái mà đông đảo mọi người thích hay không thích”.

Còn Cantơ nhận thấy tính phức tạp nên cho rằng “về thị hiếu không nên bàn cãi”

Thực ra, thị hiếu thẩm mỹ vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội, là mốiquan hệ giữa cái riêng và cái chung và nó phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử xãhội nhất định Theo Mỹ học Mác – Lênin, tính cá nhân của thị hiếu thẩm mỹ thể hiện ởchỗ nó là cái “gu”, cái “khiếu”, là sở thích riêng của mỗi con người về phương diệnthẩm mỹ Tính xã hội của thị hiếu thẩm mỹ thể hiện ở chỗ, nó là một bộ phận hợpthành của ý thức thẩm mỹ – một hình thái của ý thức xã hội nói chung Vì vậy, dĩnhiên thị hiếu thẩm mỹ không thể không mang tính chất xã hội Tính xã hội của thịhiếu thẩm mỹ thể hiện ở tính giai cấp, tính dân tộc, yếu tố thế hệ lứa tuổi, tính chấtthời đại trong việc lựa chọn và đánh giá thẩm mỹ Thị hiếu thẩm mỹ tuy là vấn đề củatừng cá nhân nhưng luôn bị quy định bởi một loạt các yếu tố có tính chất xã hội

Trang 34

Như đã trình bày ở mục 1.2.1.3, thị hiếu thẩm mỹ chính là các sở thích tương đối

ổn định của cá nhân hay cộng đồng về phương diện thẩm mỹ Từ khái niệm của thị hiếu thẩm mỹ, chúng ta có thể hiểu: Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc là sở thích của cá

nhân hay cộng đồng về phương diện của nghệ thuật âm nhạc, diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định.

Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc nói riêng biểu hiện thế giới quan, nhân sinh quan, trình

độ tâm lý – xã hội của chủ thể khi thẩm định những giá trị thẩm mỹ trong nghệ thuật

âm nhạc Thị hiếu thẩm mỹ không chỉ được quyết định bởi những đặc điểm của đốitượng được cảm thụ mà còn bởi tính chất của chủ thể thụ cảm, đánh giá, sáng tạo

Hình 4: Sơ đồ cơ chế hình thành thị hiếu thẩm mỹ cá nhân

Qua sơ đồ trên, Thị hiếu thẩm mỹ nói chung và thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc nói riêngđược hình thành dưới sự tác động qua lại biện chứng của các tác nhân xã hội hóathông qua chủ thể thẩm mỹ và các thành tố khác của ý thức thẩm mỹ như tình cảm,quan điểm và lý tưởng thẩm mỹ Sau đó, các thành tố của ý thức thẩm mỹ như quanđiểm, thị hiếu và lý tưởng thẩm mỹ trở thành xu hướng chung thì cũng sẽ tác động trởlại những tác nhân xã hội hóa

Như vậy, cơ chế để hình thành một thị hiếu thẩm mỹ phụ thuộc vào các yếu tốquyết định đó là tình cảm, thế giới quan khoa học và nhân sinh quan (thể hiện ở quanđiểm và lý tưởng thẩm mỹ), cùng vốn sống của mỗi chủ thể thẩm mỹ Điều này đãđược PGS Võ Xuân Đàn viết trong cuốn “Thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ Tp.HCM”

như sau: “Mối quan hệ đúng đắn giữa cá nhân và xã hội với hoàn cảnh xã hội đã tạo

Cơ chế hình thành thị hiếu thẩm mỹ cá nhân

Tiếp nhận(thu)

Biểu hiện(phát)Yếu tố

hóa

Xã hộiGia đình

Thị hiếu thẩm mỹ

Trang 35

cho thị hiếu những chuẩn mực đúng đắn Muốn có những chuẩn mực của thị hiếu thẩm mỹ tốt phải có tình cảm đúng, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cao đẹp, vốn sống phong phú.” [18, 44]

Do đó, cơ sở hình thành của một thị hiếu thẩm mỹ tốt là cảm xúc thẩm mỹ pháttriển cao, là cảm xúc về tính mực thước, là khả năng biết thụ cảm sự hài hoà giữa hìnhthức và nội dung, biết nhận ra giá trị thẩm mỹ của các hiện tượng xã hội, của các tácphẩm nghệ thuật dưới ánh sáng của lý tưởng thẩm mỹ tiên tiến

Để phân biệt mức độ của thị hiếu thẩm mỹ, GS Tạ Văn Thành đã viết như sau:

“Tiêu chuẩn phân biệt thị hiếu tốt với thị hiếu tồi là ở chỗ, sự đánh giá của thị hiếu có phù hợp hay không phù hợp với giá trị thẩm mỹ khách quan” [46, 44] Bên cạnh đó,

GS Đỗ Huy cũng chỉ rõ sự tác động qua lại chặt chẽ của thị hiếu thẩm mỹ với các yếu

tố khác như sau: “Thị hiếu thẩm mỹ tốt đó là sức mạnh tình cảm tập trung ở con người

mới Trong thị hiếu tốt các năng khiếu tiềm năng được thức dậy, khả năng nhận thức, đánh giá, sáng tạo…nó thể hiện rõ lý tưởng sống của con người Người ta thường nói, thị hiếu thẩm mỹ tốt là tụ điểm của các năng lực thẩm mỹ đúng đắn” [24, 182]

Hay nói cách khác, cấu tạo của thị hiếu thẩm mỹ gồm có ba chiều: chiều cao của tưtưởng, của lý tưởng thẩm mỹ; chiều rộng của sự hiểu biết nhiều mặt về văn hóa, khoahọc, nghệ thuật…; và chiều sâu của nhận thức và cảm xúc

Thị hiếu thẩm mỹ có sáu đặc trưng chủ yếu là: Một là tính phản ứng mau lẹ, hai làtính vô tư, ba là tính cá biệt và tính xã hội, bốn là tính giai cấp, năm là tính dân tộc vànhân loại, sáu là tính thời đại Thị hiếu thẩm mỹ nói chung và thị hiếu thẩm mỹ âmnhạc nói riêng luôn vận động chứ không bất biến Diễn biến thực tiễn cuộc sống khôngchỉ làm thay đổi tình cảm, mà còn xuất hiện những thị hiếu mới

Thực tiễn đã cho thấy rất rõ sự biến đổi của ý thức, quan điểm cũng như thị hiếuthẩm mỹ âm nhạc trong lịch sử âm nhạc thế giới Mỗi một giai đoạn lịch sử thì quanđiểm về cái đẹp trong âm nhạc cũng có sự khác nhau Nếu như ở thời kỳ âm nhạc Tiền

cổ điển là âm nhạc phức điệu phát triển chiếm ưu thế, âm nhạc thiên về các nốt hoa mỹđiển hình cho quan điểm, thị hiếu thẩm mỹ kiểu Baroque Thì đến thời kỳ âm nhạc cổđiển Viên là âm nhạc hòa âm công năng chiếm ưu thế Phong cách quý phái, hoa mỹcủa âm nhạc thời kỳ Tiền cổ điển Baroque không còn được ưa chuộng Âm nhạc thời

kỳ cổ điển trở nên đơn giản hơn, cân đối, hài hòa và không còn cầu kỳ Chủ nghĩa cổđiển lấy tư tưởng của trào lưu “Ánh sáng” làm cơ sở như lòng tin vào sức mạnh củatrí tuệ, ý chí con người, sự khai hóa, giáo dục…

Trang 36

Âm nhạc thời kỳ Lãng mạn lại đề cao những yếu tố khác thường và sự thân thiếttrong nội tâm tình cảm Các chủ đề về tình yêu, nỗi cô đơn, nỗi buồn, những lý tưởngkhông đạt được, những suy nghĩ về cuộc đời, về số phận, những ước mơ nhân đạo…

Đó là sự giãi bày thế giới nội tâm của con người, sự thể hiện khuynh hướng tự do cánhân, không bị ràng buộc bởi những giáo lý khắt khe, chặt chẽ của Chủ nghĩa Cổ điển.Ngôn ngữ âm nhạc Lãng mạn có nhiều đổi mới, sử dụng sự tương phản về điệu thức,lối chuyển điệu đột ngột, đề cao vai trò các công năng, sáng tạo mở rộng cấu trúc hợp

âm, hợp âm màu sắc (nốt ngoài hợp âm là khái niệm so sánh với hòa âm cổ điển), âmnhạc gần với thơ ca, dùng nhiều mảng màu sắc hòa thanh trong kỹ thuật phối dàn nhạc

để nói lên những biến đổi về cảm xúc trong tâm hồn con người

Âm nhạc Ấn tượng thì nghiêng về khả năng tạo hình bằng âm thanh (các nhạc sỹnhìn cuộc sống qua cặp mắt của hội họa) Các nhà soạn nhạc cố ý làm nhòe mờ giaiđiệu, chú ý đến màu sắc chiều dọc hơn là logic của chiều ngang hòa âm, sử dụng nhiềuhợp âm nghịch Về nghệ thuật phối khí thì chú ý nhiều đến âm sắc, âm màu của từngnhạc cụ Họ cố làm cho những âm sắc của từng nhạc cụ không lẫn vào nhau

Đến thế kỷ XX, ngôn ngữ âm nhạc càng có nhiều thay đổi Âm nhạc từ chỗ đa điệutính đến phi điệu tính Hay các nhạc sỹ tự sáng tạo ra các điệu thức mới, âm thanhmới, tiếng động kể cả sự im lặng… để sử dụng trong âm nhạc Thậm chí họ còn đưa cả

kỹ thuật công nghệ vào trong những sáng tác mới của mình… Có thể nói rằng quanđiểm về âm nhạc từ thời kỳ này đã có nhiều thay đổi đáng kể, thách thức các nguyêntắc về lý thuyết âm nhạc đã được chấp nhận của thời kỳ trước đó

Sự thay đổi đó trong thị hiếu âm nhạc của con người luôn tuân theo những quy luậttất yếu của nó Xem xét sự tác động đó, chúng ta thấy có ba quy luật thường xuyên tácđộng đến thị hiếu đó là:

Thứ nhất, quy luật xã hội học, đây là quy luật phát sinh, phát triển và tiêu vong của

các loại thị hiếu Khi lối sống thay đổi – môi trường xã hội thay đổi thì thị hiếu cũcũng sẽ bị tiêu vong và thị hiếu mới ra đời Gồm hai quy luật là: quy luật đổi mớikhông ngừng (vì cuộc sống luôn biến đổi không ngừng, đa dạng và phong phú nên thịhiếu cũng đổi mới không ngừng) và quy luật lây lan của thị hiếu (chi phối bởi tâm lýđám đông, bầy đàn)

Thứ hai, quy luật tâm lý học, là quy luật thích ứng giữa nhu cầu tình cảm của con

người và các đối tượng bên ngoài trong cuộc sống

Trang 37

Thứ ba, quy luật thẩm mỹ, là quy luật vận động và phát triển trên cơ sở hai quy luật

của xã hội học và tâm lý học Đó là quy luật của cái đẹp, cái hài hòa, là quy luật chiphối và tác động lẫn nhau giữa nội dung và hình thức

Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc là một phần của thị hiếu thẩm mỹ nói chung Nên nócũng mang đầy đủ các đặc trưng, cơ chế hình thành cũng như chịu sự tác động của tất

cả các quy luật của thị hiếu thẩm mỹ Hiểu được nó, chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được cơchế hình thành, cấu trúc và quy luật tác động thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT.Qua đó, Chúng ta cũng sẽ dễ dàng phân tích và giải thích được các hiện tượng của thịhiếu âm nhạc đang diễn ra trong giới trẻ, đặc biệt là lứa tuổi HS THPT tại Tp.HCMtrong những năm gần đây Đồng thời dựa vào đó, chúng ta có thể dự đoán được sựphát triển của thị hiếu và đưa ra được những giải pháp giúp định hướng thị hiếu thẩm

mỹ âm nhạc của các em HS THPT phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ tiên tiến trong giaiđoạn tiếp theo

1.3 Vai trò của Âm nhạc trong đời sống con người

Ngày nay, không còn bất cứ điều gì để nghi ngờ về khả năng tác động cũng như vịtrí, vai trò vô cùng quan trọng của âm nhạc đối với đời sống của con người Âm nhạcdiễn tả được tất cả những gì là tinh tế, sâu sắc và tế nhị nhất những tâm tư, tình cảmcủa thế giới nội tâm con người Chính vì thế, nó tác động một cách trực tiếp, tự nhiên

và hết sức mạnh mẽ vào mặt cảm xúc của con người Qua đó, nó có khả năng thốngnhất và liên kết con người trong cùng một cảm xúc nhất định

Thực tế cho thấy, âm nhạc gắn bó chặt chẽ với đời sống mỗi con người từ khi sinh

ra trên cõi đời này cho đến khi giã từ cuộc sống Khi mới được sinh ra, con người đãđược nâng niu, ôm ấp trong lời ru của mẹ, câu hát của bà Lớn hơn, con người ta lạiđược tung tăng, vui ca trong những giai điệu vui tươi của những bài đồng giao, sinhhoạt vui chơi, dân ca… Âm nhạc có mặt mọi lúc, mọi nơi, mọi ngóc ngách của cuộcsống với mọi thể loại, hình thức âm nhạc, trong những cuộc vui chơi, lễ hội, đám cưới,khi vui âm nhạc cất lên những tiếng hoan ca, khi buồn âm nhạc vỗ về an ủi…Và cứ thếcho đến khi con người trút hơi thở cuối cùng, âm nhạc lại vang lên như những gì tốtđẹp nhất của mỗi đời người, đưa tiễn họ về với “thế giới bên kia”, trở về với “cát bụi”

1.3.1 Chức năng của âm nhạc

Vai trò của âm nhạc đối với con người trước hết thể hiện rất rõ trong các chức năngvốn có của nghệ thuật âm nhạc:

Thứ nhất, đó là chức năng thẩm mỹ của âm nhạc Là chức năng hàng đầu của

nghệ thuật âm nhạc Bởi vì, nghệ thuật là tập hợp của những giá trị thẩm mỹ cao nhất

Trang 38

Chức năng thẩm mỹ là điều tiên quyết của một tác phẩm nghệ thuật Bởi vì nếu khôngphản ánh được cái đẹp trong nhận thức và cảm xúc thì đó không thể được đánh giá làmột tác phẩm nghệ thuật Ở tác phẩm âm nhạc chức năng thẩm mỹ biểu hiện sự rungđộng của tâm hồn trong cảm giác hài hòa của thính giác và của sự rung cảm sâu sắc về

sự hòa nhập giữa hình thức và nội dung trong âm nhạc Hay có thể nói, âm nhạc giáodục cái đẹp thông qua nghệ thuật âm nhạc, giáo dục sự hài hòa, cân bằng trong conngười vì xét cho tới cùng thì cái đẹp là cái huy hoàng nhất của chân và thiện

Thứ hai, đó là chức năng nhận thức của âm nhạc Sự tư duy trong âm nhạc là

loại tư duy trừu tượng Chúng ta muốn hiểu nó, chúng ta phải hiểu ngay các phươngtiện biểu hiện trong âm nhạc Bên cạnh đó, trong tác phẩm âm nhạc còn miêu tả nhữngđiều mà chúng ta thích thú và quan tâm trong thực tiễn Âm nhạc có sự tái hiện những

âm thanh đầy sức hấp dẫn của thiên nhiên, thể hiện những cảm xúc dễ chịu và đáp ứngnhu cầu tìm hiểu của chúng ta Thông qua các tác phẩm âm nhạc, con người nhận thứcđược thế giới xung quanh, hiểu thêm về thiên nhiên, con người, lịch sử dân tộc… Nói

như A Xô-khor thì: “Một tác phẩm nghệ thuật còn có thể làm ta ưa thích vì nó đáp

ứng nhu cầu tìm hiểu của chúng ta: nó giới thiệu với chúng ta những con người, những sự kiện, những đất nước mà ta chưa quen biết…” [58, 23]

Như vậy, âm nhạc góp phần mở mang tầm hiểu biết về thế giới, về con người Đổimới những cái đã quá quen thuộc, thông thường trong cuộc sống, nhận thấy ở đó cáimới, cái bất ngờ Các tác phẩm âm nhạc mang dấu ấn tâm lý cá nhân của người nhạc

sỹ đó, đồng thời là sự khái quát cao nhất các giá trị tinh thần của nhân loại, tư tưởng,tình cảm, nền văn hóa xã hội của loài người trong thời kỳ đó Do đó khi cảm thụ nó,con người cũng vừa thực hiện một nhiệm vụ đó là nhận thức

Ngoài ra, Sự nhận thức trong âm nhạc còn là sự nhận thức về tình cảm của conngười đối với hiện thực Sự nhận thức ấy là một sự kết hợp tinh vi giữa lí trí và tìnhcảm Nó không phải là cảm xúc mù quáng mà phải thông qua tri thức, suy nghĩ của

con người Hay nói như PGS Trần Thế Bảo thì: “Cảm xúc là hậu nhận thức” [5, 19].

Thứ ba, đó là chức năng giáo dục và tổ chức xã hội của âm nhạc “Âm nhạc là

một trong những phương tiện mạnh mẽ nhất để giáo dục con người” [58, 27] Đó là

lời khẳng định chắc nịch của A Xô-khor trong cuốn “Vai trò giáo dục của âm nhạc”.Điều đó hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa Âm nhạc tác động đến con ngườikhông ngay tức khắc thì cũng dần dần cùng với thời gian Ảnh hưởng của âm nhạctrong suốt một đời người là những dấu ấn không thể phai nhạt Nó in sâu vào trong

Trang 39

tâm khảm của chúng ta như một tình yêu quê hương xứ sở, một tình cảm gia đình, mộtniềm tự hào… cũng như rất nhiều khía cạnh liên quan đến đạo đức, tri thức

Người ta biết đến chức năng giáo dục và tổ chức xã hội của âm nhạc đã từ rất lâu

Khổng Tử – nhà Triết học kinh điển Trung Hoa cổ khẳng định: “Để làm thay đổi đạo

đức và tập quán, không có gì bằng âm nhạc” Còn nhà hiền Triết Tuân Tử học trò của

ông, trong bài “Luận về âm nhạc” đã viết: “Âm nhạc nhập vào lòng người rất sâu,

cảm hoá người rất nhanh, cho nên các tiên vương phải trau dồi lý luận âm nhạc Nhạc

mà bình thì dân hoà không bị dục vọng lôi cuốn Nhạc nghiêm trang thì dân tề nhất

mà không loạn… Trái lại, nhạc mà bất nghiêm và hiểm hóc thì dân sa đà mà bỉ tiện, loạn lạc và tranh giành…” [58, 61]

Âm nhạc có khả năng tập trung con người trong một hoạt động ý thức, trong một lýtưởng cao cả Nó có thể thôi thúc tinh thần lao động, chiến đấu, đấu tranh cũng nhưkhơi dậy trong họ lòng trắc ẩn, tình yêu thương con người Hay theo quan điểm củangười Hy Lạp cổ, âm nhạc khi tác động vào nếp sống đạo đức của con người, sẽ giáodục và sửa đổi tính cách của họ, rèn luyện xu thế tâm lý của họ Còn âm nhạc theo lời

của Shostakovich được A Xô-khor trích dẫn như sau: “Nâng con người lên, làm cho

họ cao đẹp hơn, trong sạch hơn và nhân hậu hơn, củng cố phẩm cách, củng cố lòng tin vào sức mạnh bên trong của mình, vào sứ mệnh lớn lao của mình Âm nhạc cũng

có thể làm chấn động một trái tim đã khô héo, bộc lộ ra cho con người thấy lại được những tình cảm mạnh mẽ và đẹp đẽ của chính mình, nhưng đã bị lãng quên cho đến nay Âm nhạc theo Tôn-xtôi, cũng có thể làm cho tâm hồn đảo điên Nhưng những vết thương, những tai biến ấy có lợi, chúng thức tỉnh con người, làm cho tâm hồn anh ta bồn chồn xao xuyến” [58, 55].

Như vậy, Khi tác động đến con người, âm nhạc thức tỉnh một cách đặc biệt mạnh

mẽ trong con người đó tất cả những gì là tốt đẹp, tìm được sự hưởng ứng trong nhữngkhía cạnh ưu tú nhất của tâm hồn người ấy Khả năng cảm hóa và khơi dậy tính nhânbản và thánh thiện trong tâm hồn con người rất to lớn, khó có một loại hình nghệ thuậtnào có thể sánh kịp

Thứ tư, đó là chức năng thông tin – giao tiếp của âm nhạc Đây là chức năng xã

hội rộng lớn của âm nhạc Âm nhạc là kênh giao tiếp, cầu nối giữa con người với conngười Các dân tộc sống ở xa nhau, không hiểu về văn hóa, ngôn ngữ… của nhau,nhưng khi nghe âm nhạc của dân tộc đó ta có thể phần nào hiểu được cuộc sống của

họ Muốn hiểu một tâm hồn của một ai đó, không có gì hay hơn là hãy xem người ấy

Trang 40

đang nghe loại nhạc gì Bởi vì âm nhạc biểu hiện chính cuộc sống nội tâm của conngười Chính vì thế, âm nhạc có một khả năng vô cùng to lớn đó là sức lan tỏa và lâylan rất nhanh chóng trong cộng đồng

Ngày nay, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại, âm nhạc càngthể hiện được chức năng này mạnh mẽ hơn bao giờ hết Thực tế cho thấy, chức năngthông tin giao tiếp của âm nhạc đã được sử dụng rất hiệu quả trong cuộc sống từ cổ tớikim như: việc dùng để giao tiếp với thần linh trong những cuộc tế lễ, cúng bái; dùng

để báo động khi có thú dữ hay kẻ thù; dùng để tỏ tình; dùng làm nhạc hiệu cho mộtchương trình nào đó; hay các cuộc hát giao duyên, đối đáp; các bản nhạc dùng để vuichơi, nhảy múa trong các dịp sinh hoạt, lễ hội… Đặc biệt ngày nay, việc giao lưu vănhóa âm nhạc giữa các nước là một trong những hoạt động rất quan trọng trong việcliên kết, hiểu biết và xích lại gần nhau của các quốc gia Nói như một danh nhân người

Đức thì: “Khi con người còn cần con người, khi một tâm hồn người còn cần một tâm

hồn người, thì còn âm nhạc”.

Thứ năm, đó là chức năng giải trí của âm nhạc Cũng như các loại hình nghệ

thuật khác, âm nhạc cũng mang trong mình một sứ mạng giải trí rất cần thiết với conngười sau những mệt mỏi của cuộc sống đời thường Quy trình của một hoạt động âmnhạc là hoạt động sáng tác của nhạc sỹ rồi đến hoạt động biểu diễn của người nghệ sỹ

và kết thúc bằng sự thưởng thức của công chúng Chính sự thưởng thức này trong bản

thân nó đã có tính giải trí ở đó Nói về vấn đề này A.Xô-khor viết: “Khi miêu tả tác

động của âm nhạc, người ta thường cho rằng, ngoài những điều đã nói trên, nó còn có một tác động đơn giản là “làm cho người ta thích thú” Không phải vô cớ mà nhiều người cho rằng nghe hòa nhạc là cách nghỉ ngơi tốt nhất, còn ngày hội mà không có

âm nhạc thì không còn ra ngày hội nữa.” [58, 23]

Giải trí bằng nghệ thuật có thể nói là một nhu cầu có thật của con người, là nhu cầucao cấp nhất của con người, còn giải trí ở mức độ như thế nào còn tùy thuộc vào mụcđích, tri thức, sở thích và thị hiếu thẩm mỹ của mỗi người Khi âm nhạc thực hiện chứcnăng giải trí của mình, nó không đòi hỏi người nghe phải cảm thụ và nghĩ một điều gìlớn lao, sâu sắc hoặc ý nghĩa tư tưởng mà tác phẩm đó mang lại Nó chủ yếu chỉ thựchiện chức năng “làm thư giãn thần kinh” Nếu chúng ta quá nhấn mạnh chức năng giảitrí đó của âm nhạc thì sẽ khiến cho tác phẩm âm nhạc tách ra khỏi các giá trị khác phải

có của một tác phẩm nghệ thuật âm nhạc chân chính

Ngày đăng: 31/12/2014, 19:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3: Mô hình cấu trúc của chủ thể thẩm mỹ [21, 99] - Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của học sinh trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh
Hình 3 Mô hình cấu trúc của chủ thể thẩm mỹ [21, 99] (Trang 30)
Hình 4: Sơ đồ cơ chế hình thành thị hiếu thẩm mỹ cá nhân - Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của học sinh trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh
Hình 4 Sơ đồ cơ chế hình thành thị hiếu thẩm mỹ cá nhân (Trang 34)
Bảng 2.2: Số liệu mức độ thưởng thức âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM theo khu vực (tỉ lệ %) - Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của học sinh trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.2 Số liệu mức độ thưởng thức âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM theo khu vực (tỉ lệ %) (Trang 70)
Bảng 2.3: Số liệu về mức độ thưởng thức âm nhạc phân theo giới tính của HS THPT tại Tp.HCM (Tỉ lệ %) - Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của học sinh trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.3 Số liệu về mức độ thưởng thức âm nhạc phân theo giới tính của HS THPT tại Tp.HCM (Tỉ lệ %) (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w