Những ưu nhược điểm của phương pháp lập bảng cân đối lương thực của FAO và các nước trong khu vực khi áp dụng cho việt lập bảng cân đối lương thực ở Việt Nam Nghiên cứu cơ sở, phương pháp luận kinh nghiệm của FAO và một số nước trong việc lập bảng cân đối lương thực cấp quốc gia; Đánh giá thực trạng nguồn thông tin phục vụ lập bảng cân đối lương thục của Việt Nam; Đề xuất nội dung, phương pháp và quy trình lập bảng cân đối lương thực của Việt Nam; Thử nghiệm lập bảng cân đối lương thục cho sản phẩm thóc năm 2009
Trang 1TỔNG CỤC THỐNG KÊ
VỤ TK NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC
NHỮNG ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP LẬP BẢNG CÂN ĐỐI LƯƠNG THỰC CỦA FAO VÀ CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC KHI ÁP DỤNG CHO VIỆC LẬP BẢNG CÂN ĐỐI LƯƠNG THỰC Ở VIỆT NAM
Thuộc đề tài:
“Nghiên cứu nội dung và phương pháp lập bảng cân đối
lương thực ở Việt Nam”
Đơn vị thực hiện: Vụ TK Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản Chủ nhiệm đề tài: Lê Trung Hiếu
Người thực hiện: Đỗ Thị Thu Hà
Hà Nội, tháng 11 năm 2010
Trang 2Mục Lục
Phần I Sự cần thiết của việc lập bảng cân đối lương thực ở Việt Nam 3
Phần II Những ưu, nhược điểm của phương pháp lập bảng cân đối lương thực của FAO và các nước trong khu vực khi áp dụng cho việc lập bảng cân đối lương thực ở Việt Nam 5
I Phương pháp lập bảng cân đối lương thực của FAO 5
1 Yêu cầu khi tính bảng cân đối lương thực 6
2 Phạm vi của sản phẩm trong bảng cân đối lương thực 7
3 Các yếu tố cấu thành bên nguồn và sử dụng của bảng cân đối: 7
4 Về kỳ báo cáo trong biên soạn bảng cân đối 7
II Kinh nghiệm của Philippin 8
Phần III Những ưu nhược điểm khi áp dụng phương pháp cân đối lương thực ở Việt Nam và những đề xuất lập bảng cân đối lượng thực trong giai đoạn 2010 – 2015 ở Việt Nam 11
I Các yếu tố cần thiết khi tính bảng cân đối, những ưu nhược điểm khi áp dụng tại Việt Nam 11
1 Các yếu tố 11
(1) Sản lượng: 11
(2) Thay đổi tồn kho: 11
(3) Yếu tố về xuất, nhập khẩu: 12
(4) Thức ăn cho chăn nuôi: 13
(5) Sản phẩm chế biến 13
(6) Giống 13
(7) Thông tin về hao hụt 14
(8) Sử dụng khác 14
(9) Để ăn 14
(10) Cung cấp bình quân đầu người 15
2 Nguyên nhân của những ưu và nhược điểm trên 16
II Một số đề xuất lập bảng cân đối lương thực trong giai đoạn 2010 – 2015 ở Việt Nam 16
1 Về sản phẩm 17
2 Mẫu bảng cân đối lương thực và quy trình tính 17
3 Kỳ báo cáo trong biên soạn bảng cân đối: 18
4 Các chỉ tiêu tính toán 18
Trang 3Phần I Sự cần thiết của việc lập bảng cân đối lương thực ở Việt Nam
Sản phẩm lương thực (lúa gạo, ngô, kê, mì mạch,…) chủ yếu dùng làm nguồn lương thực cho con người, ngoài ra còn được dùng làm thức ăn cho chăn nuôi và là nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp chế biến, …, phần dư lại
có thể được dùng xuất khẩu, thu ngoại tệ cho nền kinh tế
Việt Nam có gần 10 triệu hộ tham gia sản xuất lương thực (là hộ có sử dụng đất trồng lúa) (số liệu Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006) Đặc điểm sản xuất lương thực ở Việt Nam vẫn chủ yếu do hộ gia đình tự tham gia sản xuất, sản lượng lương thực thu được chủ yếu phục vụ cho tiêu dùng trong hộ gia đình, dùng để chăn nuôi và bán một phần để trang trải cho sinh hoạt trong gia đình, ngoài ra nó còn là nguồn tích lũy quan trọng
Việt Nam hiện nay đã sản xuất đủ lương thực cho tiêu dùng của người dân
và đã có dôi dư dành cho xuất khẩu với lượng gạo xuất khẩu trên 6 triệu tấn, thu
về trên 3- 3,2tỉ đô la Mỹ/năm (ước tính năm 2010)
Những năm gần đây, để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, một số diện tích đất nông nghiệp, trong đó có đất lúa được chuyển sang làm các khu công nghiệp, khu dân cư (Số liệu cho thấy từ năm 2001 – 2006 đất lúa giảm 320 nghìn ha), đi cùng đó là một bộ phận người dân trồng lúa chuyển đổi nghề nghiệp sang làm công nhân ở các khu công nghiệp; ngoài ra do chăn nuôi ngày càng phát triển, đòi hỏi phải có một lượng lớn lương thực dùng cho chế biến thức ăn chăn nuôi…
Một yêu cầu đối với các nhà hoạch định kế hoạch sản xuất, hoạch định chính sách là vẫn phải đảm bảo an ninh lương thực cho mọi người dân, dành sản lượng cho chăn nuôi, cho chế biến và cho xuất khẩu và dự trữ
Cân đối lương thực là việc sử dụng phương pháp tiếp cận nhằm đánh giá
sự biến đổi của lượng sản phẩm trong quá trình chu chuyển từ khi sản xuất đến tiêu dùng Cân đối sản phẩm là một trong những nhiệm vụ của thống kê thế giới Mục đích của cân đối sản phẩm là phản ánh hiện trạng quá trình chu chuyển sản phẩm, từ đó xác định nhu cầu của từng khâu chu chuyển, kết quả của khâu chu chuyển, đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu của từng khâu
Trang 4Sản xuất lương thực có tính chất mùa vụ nên cân đối lương thực cũng phải làm thế nào để có thể tính toán các yêu cầu sử dụng để có thể tiếp tục bổ sung, duy trì các mức độ cho các yêu cầu
Sản phẩm lương thực cũng có đặc điểm là một số sản phẩm có thời hạn sử dụng ngắn vì vậy vấn đề cân đối lương thực cũng đặt ra khoảng thời gian để chu chuyển sản phẩm
Ở các nước có sản xuất lương thực, cân đối lương thực (cân đối giữa sản xuất, tiêu dùng, xuất (nhập) khẩu… vẫn được thực hiện hàng năm, là một chỉ tiêu quan trọng để tính tổng mức chu chuyển, phục vụ tính các cân đối lớn của nền kinh tế; ngoài ra còn để kiểm định các chỉ tiêu về sản xuất, tiêu dùng
Vấn đề nghiên cứu về cân đối lương thực đã được Tổng cục Thống kê nghiên cứu và triển khai những năm trước đây, chủ yếu để giúp cho tính toán cân đối sản lượng, phục vụ việc giao kế hoạch sản xuất cho các địa phương, ngành kinh tế và phục vụ cho việc tính chi phí trung gian và giá trị tăng thêm của ngành nông lâm nghiệp và thủy sản
Trong thực tiễn hiện nay, bước sang nền kinh tế thị trường, các nhà kế hoạch, các nhà chính sách cũng rất cần các cân đối về một số sản phẩm quan trọng của nền kinh tế, trong đó cân đối lương thực
Trong chuyên đề này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu phương pháp lập bảng cân đối lương thực do FAO khuyến cáo, cũng như nghiên cứu kinh nghiệm lập bảng cân đối của các nước, nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu, triển khai lập bảng cân đối lương thực phù hợp với đặc điểm của nền sản xuất của Việt Nam trong những năm tiếp theo
Trang 5Phần II Những ưu, nhược điểm của phương pháp lập bảng cân đối lương thực của FAO và các nước trong khu vực khi áp dụng cho việc lập bảng cân đối lương thực ở Việt Nam
I Phương pháp lập bảng cân đối lương thực của FAO
Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) rất quan tâm đến việc tăng cường dinh dưỡng và các điều kiện sống cho con người Để giúp cho việc lập chính sách thực hiện mục tiêu đó và cần phải có các thông tin sau:
- Số lượng và loại lương thực có sẵn cho tiêu dùng ở mỗi nước;
- Số lượng mất đi là kết quả dùng cho chế biến, phân phối và dùng cho các kênh sản xuất khác là theo thói quen tiêu dùng của người dân;
- Cơ cấu hiện hành và khả năng trong tương lai của nguồn cung một số sản phẩm lương thực và các giá trị dinh dưỡng;
- Hàng loạt các khía cạnh khác của sản phẩm lương thực như sản lượng trong nước sản xuất; sản phẩm nhập khấu hoặc xuất khẩu; các cơ sở chế biến thực phẩm bao gồm thông tin về vốn sản xuất; giá của người sản xuất và người tiêu dùng về sản phẩm lương thực; và thu nhập
Bảng cân đối lương thực minh họa một bức tranh toàn cảnh về tình hình cung cấp lương thực của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định
Bảng cân đối lương thực mô tả từng loại lương thực, thực phẩm – bắt đầu
từ sản phẩm thô đến số sản phẩm được chế biến sẵn sàng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư – nguồn cung cấp và đối tượng sử dụng nó
Tổng khối lượng lương thực, thực phẩm sản xuất trong nước, cộng với tổng khối lượng nhập khẩu và thay đổi tồn kho phát sinh trong kỳ sẽ cho thông tin về nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm có sẵn của thời kỳ đó
Bên phần sử dụng, cần phân biệt giữa khối lượng dùng để xuất khẩu, làm thức ăn cho chăn nuôi, làm giống trong trồng trọt, chế biến để sử dụng làm lương thực và phi lương thực, mức độ hao hụt trong bảo quản và vận chuyển, cung cấp lương thực cho tiêu dùng của dân cư ở dạng bán lẻ, nghĩa là lương thực, thực phẩm rời khỏi cửa hàng bán lẻ và hay có thể bằng cách nào đó đến hộ gia đình
Số liệu cung cấp lương thực bình quân đầu người theo từng loại được tính bằng cách chia khối lượng lương thực tương ứng cho số dân thực sự tiêu dùng
Trang 6nó Số liệu về lương thực, thực phẩm bình quân đầu người được thể hiện dưới dạng khối lượng và còn được thể hiện dưới dạng năng lượng, protein và chất béo bằng cách áp dụng tỉ lệ thành phần dinh dưỡng của lương thực, thực phẩm đối với những sản phẩm chưa qua chế biến và đã qua chế biến
1 Yêu cầu khi tính bảng cân đối lương thực
Theo FAO, bảng cân đối lương thực được biên soạn từ nhiều nguồn khác nhau Sự thiếu chính xác và sai số có thể gặp phải trong mỗi công đoạn xây dựng bảng cân đối Một cách lý tưởng, số liệu cơ bản cần để biên soạn bảng cân đối lương thực phải lấy từ cùng một nguồn Điều này ngụ ý rằng, thứ nhất, mỗi quốc gia phải nên có 1 hệ thống thống kê toàn diện ghi lại tất cả những thông tin hiện hành liên quan đến từng mảng chỉ tiêu trong bảng cân đối lương thực (bắt đầu từ người sản xuất đến người tiêu dùng); thứ hai, khái niệm của thông tin được thu thập phải phù hợp với khái niệm dùng trong bảng cân đối; thứ ba, nguồn thông tin sẵn có phải đồng nhất, ít nhất là về đơn vị tính và thời gian báo cáo Tuy nhiên trong thực tế, hệ thống thống kê lý tưởng như trên lại không tồn tại Thậm chí ở một số nước, chủ yếu là nước phát triển sử dụng những quy trình báo cáo phức tạp không thông dụng, nên số liệu thu thập thường không đáp ứng được yêu cầu thứ hai và thứ ba Một số thông tin chủ yếu thường dùng có từ nguồn chủ yếu như sau:
- Thông tin về sản xuất và thương mại là một phần của thống kê chính thức quốc gia đang thực hiện Những thông tin này có thể dựa trên phỏng vấn trực tiếp hay từ báo cáo hoặc do các cơ quan thống kê tính toán
- Thông tin về thay đổi tồn kho có được từ cơ quan quản lý thị trường và các công ty hoặc từ điều tra tồn kho của hộ nông dân
- Thông tin về sử dụng trong công nghiệp thu được từ các cuộc điều tra/tổng điều tra công nghiệp chế biến/công nghiệp
- Tỷ lệ lương thực làm thức ăn chăn nuôi và làm giống có được từ các cuộc điều tra chi phí sản xuất hay từ tính toán của các cơ quan chính phủ có liên quan
- Hao hụt trong chế biến công nghiệp lấy từ điều tra công nghiệp chế biến
Trang 72 Phạm vi của sản phẩm trong bảng cân đối lương thực
Về nguyên tắc tất cả các loại sản phẩm có thể ăn được phải được đưa vào bảng cân đối lương thực, bất kể chúng thực sự sử dụng làm thực phẩm hay không Không thể đưa ra một bảng đầy đủ bao gồm tất cả các loại thực phẩm có thể ăn được trên cả phương diện thống kê cũng như lý thuyết Vì vậy, với những mục tiêu thực tiễn, danh mục hàng hóa thực dụng sẽ được chấp nhận Bảng cân đối lương thực được xây dựng cho các loại sản phẩm trồng trọt thô chưa qua chế biến, đến các sản phẩm trồng trọt đã qua chế biến của giai đoạn thứ nhất Lý do hạn chế đối với sản phẩm chế biến ở giai đoạn cao hơn vì các sản phẩm chế biến
ở giai đoạn này rất phong phú Ngoài ra sản phẩm trồng trọt (nhất là sản phẩm lương thực) thường có giai đoạn từ sản xuất đến tiêu dùng cho con người không qua nhiều giai đoạn tiếp theo như các sản phẩm chăn nuôi và thủy sản (các sản phẩm này có thể tính cân đối sản phẩm ở giai đoạn thứ ba) Danh mục các sản phẩm lương thực bao gồm: Lúa mì, ngô, lúa gạo, gạo, kê, mì, mạch… Tuy nhiên có thể điều chỉnh danh mục này tương ứng với sản phẩm sẵn có trong mỗi quốc gia
3 Các yếu tố cấu thành bên nguồn và sử dụng của bảng cân đối:
Bao gồm
(1) Sản lượng
(2) Thay đổi tồn kho:
(3) Thông tin về xuất và nhập khẩu:
(4) Thức ăn cho chăn nuôi:
(5) Giống
(6) Chế biến lương thực, thực phẩm:
(7) Hao hụt
(8) Sử dụng khác:
(9) Để ăn:
(10) Cung cấp bình quân đầu người:
4 Về kỳ báo cáo trong biên soạn bảng cân đối
Một số nước đã áp dụng khoảng thời gian 12 tháng, từ tháng 7 đến tháng
6 năm sau, hay từ tháng 10 đến tháng 9 năm sau, hoặc từ tháng 3 đến tháng 4 năm sau để tính bảng cân đối Tuy vậy, không một khoảng thời gian nào trong các giai đoạn trên lại bao trùm hoạt động sản xuất của tất cả các sản phẩm nông
Trang 8nghiệp, buôn bán và sử dụng trong nước Có thể không có một khoảng thời gian
12 tháng nào trong năm lại phù hợp hoàn toàn cho việc ghi chép số liệu về cung cấp và sử dụng của tất cả sản phẩm trên Vì vậy, một thời kỳ nhất định theo năm dương lịch (từ tháng một đến tháng 12) có thể không phải tối ưu, nhưng những
ưu điểm của nó nổi trội hơn: Hầu hết các vụ thu hoạch đều nằm trong đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên kết thống kê nông nghiệp với thống kê công nghiệp và một số ngành khác trong nền kinh tế
II Kinh nghiệm của Philippin
- Danh mục sản phẩm tính cân đối: Bao gồm toàn bộ các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, gồm: Gạo, ngô, mía, các sản phẩm cây có củ, cây lấy
lá, cây lấy hạt, dừa, các loại gia súc, gia cầm, trứng, sữa, cá, các sản phẩm thủy sản khác như rong biển, nhím biển…
- Bảng cân đối được lập hàng năm, số liệu được cân đối và công bố cho 3 năm liên tiếp
- Phương pháp lập bảng cân đối:
A Tổng cộng cung cấp trong nước (TDS)
TDS = Sản lượng - Thay đổi trong tồn kho + chênh lệch xuất, nhập khẩu
+ Đối với số liệu sản lượng, nguồn số liệu từ các cuộc điều tra của cơ quan thống kê Những sản phẩm không thu được từ các cuộc điều tra, có thể tính sản lượng theo xu hướng sản xuất, số liệu về nhập, xuất sản phẩm Tổng điều tra Nông nghiệp sẽ làm cơ sở cho việc ước tính các thông số cho sản phẩm khác, nhất là sản phẩm chăm nuôi
Đối với các sản phẩm chế biến, nguồn số liệu từ các cuộc điều tra cơ sở kinh tế (như các sản phẩm đóng hộp) Đối với các mặt hàng có mức độ chế biến khác (như độ tinh của gạo), kham khảo các thông số của các cơ quan nghiên cứu, cơ quan thực phẩm và dinh dưỡng…ví dụ gạo được ước tính bằng cách áp dụng một tỷ lệ phục hồi xay xát 65,4 % tổng sản lượng sản xuất sau khi trừ số lượng ước tính cho thức ăn, hạt giống và hao hụt;
+ Thay đổi tồn kho là số liệu ước tính của cơ quan thống kê, được tính trên cơ sở cân đối giữa sản lượng sản xuất, xuất, nhập khẩu
+ Chênh lệch xuất nhập khẩu = Xuất khẩu – nhập khẩu
Trang 9Số liệu về số lượng hàng hoá xuất nhập khẩu (tương đương kg) được lấy
từ các số liệu thống kê thương mại nước ngoài Dữ liệu cho các mặt hàng này được tập hợp theo nhóm thực phẩm chủ yếu theo phân loại ngoại thương và tính chuyển đổi các yếu tố phù hợp sau đó được áp dụng để đảm bảo rằng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là luôn song song với các dữ liệu sản xuất
B Tổng cộng nguồn sử dụng trong nước (TDU)
TDU = Nguồn cung cấp có sẵn + sử dụng phi lương thực, thực phẩm + chế biến thực phẩm
Số liệu về nguồn cung cấp thực phẩm có sẵn cho biết tổng số lương thực sẵn có cho tiêu dùng, trong khi số liệu sử dụng phi lương thực, thực phẩm dùng
để chỉ một phần của tổng số sử dụng trong nước được sử dụng làm giống, thức
ăn gia súc, chế biến phi thực phẩm bao gồm số lượng hao hụt Số liệu làm thức
ăn gia súc được ước tính bằng cách áp dụng các thông số phù hợp với tổng sản lượng báo cáo của từng loại cây; hạt giống được tính bằng cách tỉ lệ giống/ha theo từng loại cây; Sử dụng cho mục đích phi lương thực, thực phẩm sử dụng các thông số có sẵn cho từng loại sản phẩm; hao hụt được tính ở các khâu thu hoạch, phân phối, lưu trữ, được tính bằng cách sử dụng các thông số có sẵn cho từng loại
- Cung cấp bình quân đầu người;
Cung cấp chất dinh dưỡng bình quân đầu người được điều chỉnh dựa trên điều tra dinh dưỡng đã được thực hiện đối với một số mặt hàng từ "có thể mua" thành "đã sử dụng" ở cấp độ hộ gia đình
- Tỉ lệ đáp ứng nhu cầu: Là thước đo về sự đáp ứng đầy đủ của nguồn cung cấp thực phẩm có sẵn cho yêu cầu thực phẩm của người dân Được đo bằng tỷ lệ phần trăm, nó được tính bằng cách chia nguồn cung cấp sẵn cho lượng tiêu dùng bình quân nhân với 100 Giá trị lớn hơn 100% chỉ ra rằng việc cung cấp thức ăn sẵn có nhiều hơn đủ để đáp ứng nhu cầu lương thực của dân chúng, trong khi giá trị nhỏ hơn 100 % cho thấy điều ngược lại
- Tốc độ tăng trưởng trung bình (hàng năm)
Tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm là một thước đo tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của các yếu tố trong bảng cân đối dựa trên khái niệm về tỷ lệ:
Trang 10Trong đó:
g = tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm
xt = giá trị của tính vào thời gian t
xo = giá trị của tính vào lúc bắt đầu của thời gian tham khảo
t = năm trôi qua kể từ khi bắt đầu đến kết thúc của thời kỳ tham chiếu