Biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa Nguyễn Hữu Minhvà đồng nghiệp∗ Mở đầu Các nhà nghiên cứu phát triển đô thị đã đưa ra một số định nghĩa khác n
Trang 1Biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà Nội
trong quá trình đô thị hóa
Nguyễn Hữu Minhvà đồng nghiệp∗
Mở đầu
Các nhà nghiên cứu phát triển đô thị đã đưa ra một số định nghĩa khác nhau
về vùng ven đô, song có thể tóm tắt các điểm chung nhất như sau: về mặt địa lý vùng ven đô được hiểu là khu vực cận kề với thành phố Vùng ven đô là nơi vừa có các hoạt
động đặc trưng cho nông thôn vừa có các hoạt động mang tính chất đô thị Vùng ven
đô không tồn tại độc lập mà nằm trong một miền liên thông nông thôn - ven đô - đô thị Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của các bộ phận hợp thành hệ thống nông thôn - ven đô - đô thị được thể hiện ở chỗ nông thôn và ven đô là nơi cung cấp thường xuyên, lâu dài lương thực thực phẩm, nguồn nguyên liệu và nguồn lao động cho đô thị, ngược lại đô thị tạo ra thị trường để tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, tạo cơ hội việc làm và nơi ở cho các dòng di dân từ nông thôn đến đô thị, và cung cấp các sản phẩm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp (Iaquinta và Drescher 2002) Thông thường, người ta xác định ranh giới của vùng ven đô dựa vào các chính sách quy hoạch đô thị và các biện pháp quản lý hành chính Trong bài viết này chúng tôi coi tất cả các xã, thị trấn có phần lãnh thổ tiếp giáp khu vực nội thành Hà Nội là vùng ven đô
Qúa trình đô thị hóa tạo ra những biến đổi mạnh mẽ trong cuộc sống cư dân ở các vùng nông thôn, trước hết là các vùng ven đô Có thể coi khu vực ven đô là vùng
đệm cho bước chuyển từ nông thôn sang thành thị, nơi phản ánh rõ nét nhất những
ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đối với nông thôn Những biến đổi có thể khác nhau đối với các nhóm xã hội, và diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống:
sử dụng đất canh tác và đất xây dựng; kiến trúc nhà cửa; qui mô và cơ cấu dân số; lao động và việc làm; môi trường; biến đổi lối sống và phong tục tập quán
Trong bài viết này chúng tôi phân tích một số chuyển biến kinh tế-xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa thời gian gần đây Địa bàn được nêu
ra trong bài là Khu công nghiệp Sài Đồng và Khu công nghiệp Nam Thăng Long, bao gồm thị trấn Sài Đồng, xã Thạch Bàn, xã Gia Thụy (huyện Gia Lâm cũ) và xã Cổ
∗
Các đồng tác giả của bài viết này gồm: Nguyễn Xuân Mai, Đỗ Minh Khuê, Phùng Tố Hạnh, Nguyễn Nga
My, Đặng Thanh Trúc, Phạm Quỳnh Hương, Nguyễn Duy Thắng, Trần Nguyệt Minh Thu, Trần Qúy Long
Trang 2Nhuế (huyện Từ Liêm)
Căn cứ vào đặc điểm kinh tế - xã hội, 4 địa phương này có thể được phân theo mức độ đô thị hóa như sau: Thị trấn Sài Đồng, Cổ Nhuế, Gia Thụy, Thạch Bàn Tác
động của đô thị hóa được đánh giá thông qua sự khác biệt theo các địa bàn khảo sát
và theo trục thời gian, so sánh với 5 - 10 năm trước đây Ngoài ra, một số yếu tố đặc trưng của đô thị hóa như học vấn, nghề nghiệp được sử dụng như những biến số độc lập để nghiên cứu sự biến đổi đời sống kinh tế - xã hội trong quá trình đô thị hóa.1
I Chuyển đổi nghề nghiệp, cơ cấu nguồn thu nhập, và mức sống
Cơ cấu nghề nghiệp của dân cư tại các xã ven đô đã có nhiều biến đổi Các ngành nghề phi nông nghiệp tăng dần tỉ trọng trong cơ cấu kinh tế của các địa phương Cơ cấu ngành nghề của thị trấn Sài Đồng đã có nhiều nét giống như cơ cấu của các vùng đô thị lớn Tại một số xã, các nghề thủ công nghiệp truyền thống đã khôi phục và phát triển nhanh chóng Mặc dầu hiện nay nghề may có gặp khó khăn
về thị trường tiêu thụ, nhưng vẫn là nghề đem lại nguồn thu chính cho nhiều gia
đình trong xã Tại Thạch Bàn và Gia Thụy, hoạt động buôn bán/dịch vụ và thủ công nghiệp cũng phát triển khá nhanh Xu hướng chuyển đổi nghề nghiệp tại Cổ Nhuế, Thạch Bàn và Gia Thụy đang hướng đến các hoạt động hưởng lương và trợ cấp (từ khu vực quốc doanh cũng như ngoài quốc doanh), sản xuất thủ công nghiệp, và buôn bán/dịch vụ Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp tại các địa phương vẫn còn giữ một vị trí đáng kể trong các hoạt động kinh tế Các yếu tố tác động chủ yếu đến sự thay đổi cơ cấu nghề nghiệp của các địa phương trong quá trình đô thị hóa là: sự thay đổi chính sách vĩ mô của nhà nước; sự hình thành các khu công nghiệp; mạng lưới giao thông phát triển; sự thay đổi quyền sử dụng đất của dân cư; sự tồn tại các ngành nghề truyền thống tại địa phương; thị trường tiêu thụ; sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ
Cơ cấu nguồn thu nhập và mức sống cũng thay đổi cùng chiều với sự thay đổi của cơ cấu nghề nghiệp Ngoài nguồn thu nhập từ nông nghiệp truyền thống, các nguồn thu khác như từ lương, thủ công nghiệp, và buôn bán dịch vụ ngày càng có vai trò quan trọng Mức sống dân cư tại các địa bàn khảo sát cũng đã được nâng lên Số
hộ nghèo giảm dần Tỉ lệ hộ nghèo tại các địa bàn khảo sát thấp hơn rõ rệt so với tỉ lệ nghèo chung của quốc gia Sự phát triển các khu công nghiệp quanh Hà Nội rõ ràng
có ảnh hưởng đến vấn đề này
Thu nhập của các hộ gia đình có quan hệ với nghề nghiệp Nhóm thu nhập thấp thường là các hộ thuần nông hoặc làm thuê; nhóm thu nhập trung bình là các
hộ buôn bán và dịch vụ; nhóm có thu nhập khá là những người hưởng lương từ nhà nước hoặc chủ các doanh nghiệp nhỏ; và nhóm có thu nhập cao là các chủ doanh nghiệp lớn Thu nhập trung bình từ trồng lúa là 1,3 triệu đồng/hộ/năm, trong khi
đó thu nhập trung bình từ buôn bán, dịch vụ là 12triệu đồng/hộ/năm, từ tiểu thủ
1 Xin xem chi tiết về phương pháp nghiên cứu ở Báo cáo đề tài “Biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà
Nội trong quá trình đô thị hóa” do Phòng Xã hội học Đô thị thực hiện, lưu tại Viện Xã hội học
Trang 3công nghiệp là 15,7triệu đồng/hộ/năm, từ lương nhà nước là 14,5triệu đồng/hộ/năm Một số hộ có thu nhập cao thường làm các nghề truyền thống (dệt, may), hoặc là các chủ doanh nghiệp, dịch vụ, buôn bán, nghề có nhiều cơ hội thăng tiến (cán bộ cơ quan nhà nước, giáo viên các trường đại học) Đó thường là những người có tay nghề, có vốn đầu tư, vốn con người và vốn xã hội Trái lại, các nghề nặng nhọc với thu nhập thấp và không ổn định thường gắn với những người không có vốn đầu tư, nghèo vốn con người và vốn xã hội Nguyên nhân thu nhập thấp từ nông nghiệp là
do diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp và năng xuất cây trồng thấp do ô nhiễm môi trường
II Biến đổi về nhà ở, cơ sở hạ tầng và môi trường
Trong phần này, chúng tôi tập trung phân tích sự biến đổi về kiểu loại kiến trúc nhà ở, mức độ trang bị nhà tắm, nhà vệ sinh theo hướng hiện đại, đô thị, việc sử dụng nước sạch để ăn uống, cách xử lý rác thải
1 Về vấn đề nhà và đất
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ đô thị hóa của các địa bàn càng cao thì tổng diện tích đất ở (diện tích ở chính và phụ) của các hộ gia đình càng nhỏ Về kiến trúc nhà ở, tại các khu vực nghiên cứu, có các kiểu chủ yếu sau đây: Nhà kiểu mới (có
từ 1 - 3 tầng, đổ mái bằng); Nhà kiểu nông thôn truyền thống (3 hoặc 5 gian, có chái, hiên rộng, mái ngói, có sân vườn, bể nước, tường hoa); Nhà hỗn hợp (nhà kiểu nông thôn truyền thống và nhà kiểu mới, hiện đại); Nhà ở tập thể (trong khu tập thể 1 tầng, đất chia lô, đã tự xây hoặc chưa xây dựng thành nhà kiên cố, cao tầng); Nhà khác (kiểu nhà tạm, nhà cấp 4) Mức độ đô thị hóa của khu dân cư có quan hệ chặt chẽ với kiểu loại nhà ở Khoảng một nửa số nhà ở là nhà kiểu mới, trong đó xã Cổ Nhuế và xã Gia Thụy có nhiều nhà kiểu mới nhất (vì gần trung tâm Hà Nội hơn) và nhiều hộ gia đình cán bộ, công chức nhà nước hoặc dân sở tại bán đất, xây nhà mới Thị trấn Sài Đồng, nơi tập trung một bộ phận lớn công nhân xí nghiệp may 10 trước
đây có nhiều căn hộ, nhà tập thể (có căn hộ diện tích chỉ 2,5 x 6 m) Thạch Bàn có tỷ
lệ nhà kiểu truyền thống cao nhất
2 Nguồn nước ăn
Nguồn nước ăn của các gia đình tùy thuộc nhiều vào dịch vụ cung cấp của nhà nước Cho đến nay, đa số gia đình ở thị trấn Sài Đồng dùng nước máy có vòi riêng, còn dân cư các xã Gia Thụy, Thạch Bàn, và Cổ Nhuế thì dùng nước giếng khoan là chủ yếu vì, hoặc chưa có hệ thống nước máy, hoặc mới được cấp nhưng việc cung cấp nước chưa thuận lợi
Có sự tăng lên đáng kể về chất lượng nguồn nước ăn của dân cư ở địa bàn khảo sát theo thời gian Nếu như vào năm 1995, chỉ có 19,4% hộ gia đình ở khu vực Sài Đồng được dùng nước máy (vòi riêng hoặc chung), thì vào năm 2000 đã có 37% hộ gia đình được dùng nước máy Năm 1995 vẫn còn 24% sử dụng nước giếng đào để ăn, nhưng đến năm 2000 chỉ còn 1,7% hộ gia đình dùng Tình hình cũng diễn ra tương tự
ở Cổ Nhuế Năm 1995 chỉ có 15% hộ gia đình dùng nước máy để ăn Đến năm 2000,
Trang 4tỉ lệ hộ gia đình dùng nước máy là: 38%
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều người dùng nguồn nước giếng đào, thậm chí nước ao hồ để tắm giặt, rửa ráy, do thói quen muốn dùng nước thoải mái và tiết kiệm tiền nước máy Có nhiều gia đình ở Gia Thụy hoặc thị trấn Sài Đồng không
được dùng nước máy, vì ở sâu trong ngõ ngách nên không có đủ tiền mắc ống nước vào nhà
3 Nhà tắm và nhà vệ sinh
Sự thay đổi nhà tắm và nhà vệ sinh có lẽ là thước đo quan trọng nhất về thay
đổi lối sống dân cư theo định hướng đô thị hóa Phần lớn các gia đình vẫn còn dùng nhà tắm ngoài phòng ở (không có vòi hoa sen, bình nóng lạnh) Một bộ phận gia đình thậm chí còn dùng nhà tắm tạm (tính chung cho khu vực Sài Đồng là 15,3%) Điều
đó chứng tỏ mức sống và trình độ đô thị hóa ở khu vực khảo sát chưa cao
Tuy nhiên, đã có sự thay đổi đáng kể về mức độ nâng cấp nhà tắm của các
hộ gia đình Nếu vào năm 1995, chỉ có 6% hộ gia đình ở khu vực Sài Đồng và 7% hộ gia đình ở Cổ Nhuế có nhà tắm với vòi hoa sen và bình nóng lạnh (khép kín hoặc không khép kín), thì vào năm 2000, con số tương ứng là 13% (khu vực Sài Đồng) và 19% (Cổ Nhuế) Trong khi đó, tỉ lệ hộ gia đình không có nhà tắm hoặc có “nhà tắm tạm” giảm từ 30,3% xuống còn 15,3% (khu vực Sài Đồng), và từ 45% xuống còn chỉ 11% (Cổ Nhuế)
Đối với nhà vệ sinh, tính đến thời điểm 2003 (đối với Cổ Nhuế) và thời điểm năm 2000 (đối với khu vực Sài Đồng) đã có một tỉ lệ đáng kể hộ gia đình có nhà vệ sinh tự hoại/bán tự hoại Mức độ đô thị hóa của địa bàn có mối quan hệ với tỉ lệ có nhà vệ sinh tự hoại/bán tự hoại Chẳng hạn Cổ Nhuế và Sài Đồng có tỉ lệ số gia
đình sử dụng nhà vệ sinh tự hoại/bán tự hoại cao hơn hẳn so với các xã Thạch Bàn
và Gia Thụy
Những chuyển biến trong ứng xử của người dân ven đô về việc sử dụng nhà vệ sinh được thể hiện rõ Vào thời điểm 1995, tỉ lệ hộ gia đình ở khu vực Sài Đồng có sử dụng nhà vệ sinh tự hoại/bán tự hoại là 34,7%, ở Cổ Nhuế là 33% Đến năm 2000, tỉ
lệ tương ứng sử dụng nhà vệ sinh tự hoại/bán tự hoại là: 59% và 73% Đối với loại hình hố xí hai ngăn, tỉ lệ giảm từ 49,3% xuống còn 30% (khu vực Sài Đồng), và giảm
từ 61% xuống còn 25% (Cổ Nhuế)
4 Xử lý rác thải
Hành vi ứng xử của người dân đối với vấn đề xử lý rác thải ở các địa phương
có liên quan đến khả năng cung cấp dịch vụ xử lý rác thải của công ty môi trường đô thị Tại các địa phương có dịch vụ của công ty môi trường vào thời điểm khảo sát thì gần như toàn bộ các hộ gia đình đều sử dụng hình thức xử lý rác qua xe của Công ty môi trường Ngoài ra, hình thức đổ rác vào bãi rác chung ở những nơi chưa có xe của Công ty môi trường vào tận nơi cũng đã khá phổ biến Trừ xã Thạch Bàn cho đến thời điểm khảo sát năm 2000 chưa có dịch vụ thu gom rác của thành phố nên số hộ gia đình thải rác ra vườn, ao còn nhiều, đối với các địa bàn khác chỉ còn một tỉ lệ rất
Trang 5nhỏ các gia đình đổ rác ra vườn, ao
Việc đổ rác ra vườn, ao phụ thuộc rất nhiều vào kiểu loại nhà và đất ở Những gia đình có nhà kiểu nông thôn truyền thống có xu hướng đổ rác ra vườn, xuống ao nhiều hơn Số gia đình có nhà kiểu nông thôn truyền thống cũng chiếm tỷ lệ cao đổ rác ra bãi rác chung (hơn 1/3) Nhà kiểu hỗn hợp và kiểu mới chủ yếu là đổ rác ra xe của Công ty Môi trường đô thị (khoảng 2/3), còn nhà tập thể thì gần như 100% đổ rác
ra xe của Công ty Môi trường đô thị Những gia đình có diện tích sân, vườn, ao rộng thường đổ rác ra vườn, ao nhiều hơn
Hình thức xử lý rác đã thay đổi cơ bản theo xu hướng tiến bộ Cho đến năm
1995, tại khu vực Sài Đồng vẫn còn 54,4% hộ gia đình đổ rác ra vườn, ao, và chỉ có 19,8% đổ ra bãi rác chung, 12,8% đổ ra xe của công ty môi trường Đến thời điểm
2000 chỉ còn 18,7% hộ gia đình đổ rác ra vườn, ao Trong khi đó, tỉ lệ hộ gia đình đổ rác ra bãi rác chung là 24,3% và đổ ra xe của công ty môi trường là 46% Đối với Cổ Nhuế, năm 1995 có 33% hộ gia đình còn đổ rác ra vườn, ao và chỉ có 21% hộ gia đình
đổ rác ra bãi chung hoặc xe của công ty Vào thời điểm 2000 chỉ còn 7% gia đình đổ rác ra vườn, ao và 55% hộ gia đình đã đổ rác ra bãi chung hoặc xe của công ty môi trường Đến năm 2003 thì có 99% các hộ gia đình ở Cổ Nhuế đã đổ rác ra xe của công
ty môi trường
Việc phân tích một số khía cạnh chủ yếu về cơ sở hạ tầng, nhà ở, và môi trường chỉ ra rằng, khu vực ven đô có kiểu kiến trúc, quần cư nhà ở và trang thiết bị cơ sở hạ tầng nhà ở mang cả dáng dấp đô thị và nông thôn Ngoài ra, có sự khác biệt
rõ ràng giữa các địa điểm nghiên cứu về mức độ đô thị hóa Hai xã Cổ Nhuế và Gia Thụy gần trung tâm Hà Nội hơn cả nên lối sống đô thị có ảnh hưởng nhiều đến kiểu kiến trúc nhà ở Đây cũng là xã chịu nhiều ảnh hưởng của cơn sốt đất đầu những năm 1990 và gần đây (hoạt động mua bán đất nhiều nhất) Thị trấn Sài Đồng có đặc
điểm là xen kẽ nhiều kiểu loại nhà ở (kiểu mới, truyền thống, các căn hộ tập thể ), mức độ đô thị hóa cao hơn: diện tích ở thấp, mức độ sử dụng các trang thiết bị hiện
đại cao như nhà tắm, nhà xí, và cách xử lý rác thải theo hướng đô thị Thạch Bàn là vùng mang đậm tính nông thôn hơn: tổng diện tích ở của các hộ cao, mức độ hiện đại hóa về tiện nghi là thấp
III Đời sống văn hóa - xã hội
Quá trình đô thị hóa diễn ra liên tục và mạnh mẽ trong thời gian qua ở Hà Nội đã cho thấy những đặc điểm về một xã hội đô thị hiện đại đan xen với một xã hội nông thôn truyền thống ở các vùng ven đô Sự đan xen này xảy ra ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có đời sống văn hóa - xã hội và gia đình
Có thể nêu ra một ví dụ về sự thay đổi trong đời sống hôn nhân Kết quả khảo sát chỉ ra rằng mức độ đô thị hóa có mối quan hệ chặt chẽ với các khía cạnh của khuôn mẫu hôn nhân như tuổi kết hôn hay tiêu chí lựa chọn bạn đời Tuổi kết hôn trung bình của dân cư ở địa bàn có mức độ đô thị hóa cao thường cao hơn so với các nơi khác Những người làm nghề phi nông nghiệp có xu hướng kết hôn muộn hơn
Trang 6những người làm nghề nông nghiệp Những người làm nghề nông có xu hướng lựa chọn bạn đời mang tính truyền thống nhiều hơn so với người làm nghề phi nông Tương tự như vậy, những người trẻ tuổi có xu hướng chọn vợ, chồng mang nhiều đặc trưng phù hợp với yêu cầu của đời sống đô thị và kinh tế thị trường hơn
Thu nhập tăng lên, đời sống được cải thiện đã giúp cho người dân không chỉ còn quanh quẩn với nghề nông lo đủ ăn đủ mặc mà đã chú trọng hơn đến đời sống tinh thần, nâng cao học vấn Điều này được quán triệt sâu rộng từ lãnh đạo các địa phương ven đô đến từng hộ gia đình Tại các địa bàn, lãnh đạo xã đã có những quan tâm và đầu tư đáng kể Nhận thức được vai trò của học vấn trong quá trình xây dựng
và phát triển xã hội hiện đại, lãnh đạo một số xã đã tổ chức Hội đồng giáo dục, thành lập Hội Khuyến học, duy trì những hoạt động thiết thực phục vụ cho sự nghiệp giáo dục Về phía người dân, đa số đều tạo điều kiện cho con cái học tập đến nơi đến chốn
Họ cho rằng học vấn cao sẽ giúp cho con cháu thành đạt, thu nhập khá
Bên cạnh việc coi giáo dục là quốc sách, các xã ven đô còn quan tâm đến việc xây dựng một đời sống văn hóa lành mạnh Dân cư các xã ven đô hưởng ứng nhiệt
tình cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân c ư”
Việc hiếu hỉ cũng đi vào nề nếp, tránh các hủ tục tốn kém và lãng phí Các gia đình
đã dần bớt đi việc ăn uống linh đình phô trương mà tổ chức tang ma, cưới xin trang trọng, đơn giản, thực hiện tốt việc cưới, tang theo nếp sống mới lịch sự, tiết kiệm
Song song với cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, các xã cũng rất chú trọng đầu tư vào những hoạt động văn hóa tinh thần khác như hoạt động của các câu lạc bộ, nhà văn hóa, thư viện, sân chơi … ở Sài Đồng, chất lượng hoạt động của các câu lạc bộ được nâng cao, thu hút nhiều người, nhiều đối tượng tham gia bằng nhiều hình thức phong phú Hệ thống thư viện được hình thành
ở các thôn xóm với hàng nghìn đầu sách báo Công tác thông tin tuyên truyền còn
được thực hiện rất tốt qua hệ thống loa truyền thanh, một phương tiện truyền thông rất phổ biến và hiệu quả tại cộng đồng Trong một xã hội năng động, biến đổi hàng ngày với biết bao sự kiện, việc cập nhật thông tin là hết sức cần thiết Vì vậy, các địa phương đều quan tâm đến lĩnh vực truyền thông, đầu tư kịp thời để đưa thông tin
đến từng ngõ xóm dân cư
Thu nhập cao giúp cho người dân có điều kiện hưởng thụ một cuộc sống vật chất dồi dào và cuộc sống tinh thần phong phú So với năm 1995, tỉ lệ gia đình có các phương tiện nghe nhìn tăng lên rõ rệt Việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của người dân vùng ven đô Hà Nội trở nên đa dạng và phong phú hơn Không chỉ sang hàng xóm trò chuyện, uống nước, đánh cờ, chơi với cháu con… họ còn có thể tham gia nhiều hoạt động văn hóa tinh thần trong và ngoài gia đình Tuy nhiên, các hoạt
động giải trí ngoài gia đình chiếm tỉ lệ không cao Hoạt động được mọi người tham gia nhiều nhất là sang hàng xóm chơi Việc đi xem phim, kịch, ca nhạc là thấp nhất vì đây là hoạt động đòi hỏi phải có tiền, có sự chuẩn bị Việc sang hàng xóm chơi có
số người lựa chọn nhiều hơn cho thấy tính chất cộng đồng làng xã vẫn còn được duy trì trong xã hội đang trong quá trình đô thị hóa Sự giao lưu cởi mở gần gũi là một
Trang 7nhu cầu không thể thiếu của người dân nông thôn Tuy nhiên, việc sang hàng xóm chơi không thường xuyên như trước đây Sự giao tiếp gần gũi với phong cách ứng
xử xuề xoà, thân mật đã dần dần ít đi Thay vào đó là lối giao tiếp theo kiểu khép kín, tôn trọng cuộc sống cá nhân Kết quả cũng chỉ ra rằng, những người làm nghề nông nghiệp còn lưu giữ nhiều hơn cách ứng xử của xã hội nông thôn, thích giao lưu, trò chuyện, thích chia sẻ tâm tình với hàng xóm so với những người làm nghề phi nông nghiệp
Đi du lịch, nghỉ mát, đi các điểm vui chơi giải trí như công viên, bách thú là một hoạt động ngoài gia đình được nhiều người dân đô thị hưởng ứng Thói quen này cũng đã dần dần xuất hiện ở các cư dân ven đô, tuy rằng mức độ chưa cao Đồng thời
sự khác biệt về hoạt động này giữa các địa bàn phân theo mức độ đô thị hóa không rõ ràng Yếu tố thu nhập có vai trò quan trọng hơn trong vấn đề này Những gia đình thường xuyên hoặc thỉnh thoảng có tham gia các hoạt động ngoài phạm vi gia đình nêu trên phần lớn rơi vào các gia đình có thu nhập cao
Trong thời gian gần đây, một số hoạt động văn hóa truyền thống đã được khôi phục và phát triển Đặc biệt các đình, chùa, miếu mạo được tôn tạo, tu bổ, sửa sang
đẹp mắt, tạo điều kiện cho dân cư và du khách đến vãn cảnh Kết quả khảo sát cho thấy, trong những hoạt động văn hóa tinh thần ngoài gia đình thì đi các lễ hội văn hóa và đình chùa được nhiều gia đình tham gia hơn cả Sự tham gia lễ hội văn hóa
và đi đình chùa cũng khác biệt theo các địa bàn căn cứ vào mức độ đô thị hóa Người dân các địa bàn có mức độ đô thị hóa cao hơn có tỉ lệ tham gia các lễ hội văn hóa và
đi đình chùa thấp hơn các địa phương khác
Việc tham gia vào các hoạt động văn hóa tinh thần của cư dân ven đô ngày càng có xu hướng gia tăng theo đà tăng trưởng của kinh tế, sự phát triển của xã hội Mức độ tham dự của mỗi nhóm xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức sống, học vấn, nghề nghiệp, thói quen… Nhưng nhìn chung cư dân khu vực ven đô đang hoà nhập khá nhanh vào xã hội đô thị Những chuẩn mực giá trị đã có những biến đổi nhất định Bên cạnh việc lưu giữ những nét truyền thống tốt đẹp là sự du nhập những yếu tố của văn minh đô thị Sự hưởng thụ văn hóa một cách tích cực, lành mạnh có xu hướng tăng so với 5 năm trước đây, cho dù sự thay đổi chưa phải là đáng
kể Con người không còn bị bó hẹp trong phạm vi làng xã mà quan hệ rộng mở hơn,
có điều kiện giao lưu tiếp xúc với những tầng lớp và nhóm người trong xã hội, tham
gia nhiều hoạt động phong phú, mở rộng tầm mắt và nâng cao hiểu biết
Kết luận
Những phân tích bước đầu về sự biến đổi kinh tế - xã hội ở khu vực ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa cho thấy rằng, sự thay đổi các chính sách kinh tế vĩ mô, sự xuất hiện các khu công nghiệp, sự chuyển hóa quyền sử dụng đất, v.v đã dần dần biến những vùng quê yên ả thanh bình thành những khu công nghiệp mang dáng dấp của đô thị hiện đại Những biến đổi diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, từ cơ cấu nghề nghiệp, nguồn thu nhập, mức sống, đến nhà ở, cơ sở hạ tầng; từ đời sống vật chất đến đời sống văn hóa tinh thần
Trang 8Cơ cấu nghề nghiệp của vùng ven đô Hà Nội đã có nhiều biến đổi trong quá trình đô thị hóa Các ngành nghề phi nông nghiệp phát triển, nguồn thu nhập từ các ngành nghề phi nông nghiệp tăng dần tỉ trọng trong cơ cấu nguồn thu của hộ gia
đình Các gia đình làm ngành nghề phi nông nghiệp thường có thu nhập cao hơn so với các gia đình thuần túy làm nông nghiệp Tuy nhiên, mức độ thay đổi về cơ cấu ngành nghề ở các địa phương là khác nhau tùy thuộc vào điều kịên từng địa phương Các yếu tố có vai trò quan trọng tác động đến những thay đổi đó là: khoảng cách đến các khu công nghiệp, sự hiện diện của các ngành nghề truyền thống, thị trường tiêu thụ, v.v
Ngành nghề nông nghiệp tuy có vai trò giảm sút trong cơ cấu nghề nghiệp và thu nhập của cư dân vùng ven đô, nhưng vẫn có ý nghĩa quan trọng không thể thiếu
được trong sự phát triển của khu vực ven đô Một vấn đề đặt ra trong những năm tới chính là làm sao vẫn đảm bảo được vai trò địa bàn cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân số đô thị ngày càng tăng, trong điều kiện sút giảm về diện tích canh tác
Có sự pha trộn giữa những đặc trưng đô thị và đặc trưng nông thôn về khuôn mẫu nhà ở và cơ sở hạ tầng tại các địa bàn ven đô Đồng thời, có mối quan hệ nhất
định giữa mức độ đô thị hóa và đặc điểm nhà ở và cơ sở hạ tầng Mức độ đô thị hóa càng cao thì diện tích đất ở và nhà của các gia đình càng nhỏ, kiểu kiến trúc nhà ở càng mang tính hiện đại hơn, nguồn nước ăn bảo đảm vệ sinh hơn, chất lượng nhà tắm và nhà vệ sinh cao hơn, và hành vi ứng xử với môi trường của người dân cũng mang đặc trưng đô thị hơn Những chuyển biến cơ bản theo thời gian ngay trong nội
bộ từng địa phương thể hiện rất rõ ràng So với năm 1995, chất lượng nhà ở và các tiện nghi của các gia đình, việc xử lý rác thải trong thời điểm khảo sát (2000 hoặc 2003) đã tăng lên rõ rệt
Đô thị hóa cũng tác động đến những khía cạnh của đời sống hôn nhân như tuổi kết hôn, tiêu chí lựa chọn bạn đời ở các địa phương khu vực ven đô Cho dù mỗi khía cạnh của hôn nhân mức độ thay đổi có khác nhau, nhìn chung vai trò của yếu tố
đô thị hóa trong sự biến đổi đã được thể hiện
Đặc điểm của một xã hội mang dáng dấp của cả nông thôn và đô thị cũng thể hịên khá rõ trong các hoạt động văn hóa giáo dục Vấn đề giáo dục đã được quan tâm hơn, không chỉ từ phía các cán bộ lãnh đạo địa phương mà cả từ mỗi người dân Điều
đó đã làm cho kết quả giáo dục ở các địa phương khu vực ven đô ngày càng có chất lượng cao hơn Hoạt động văn hóa tinh thần bên ngoài gia đình và khu ở được thực hiện nhiều hơn trước đây Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tính chất cộng đồng làng xã vẫn còn được duy trì không quá lỏng lẻo trong quá trình đô thị hóa Điều đó khẳng định sự thay đổi không giống nhau của các yếu tố văn hóa trong quá trình đô thị hóa Trong quá trình đó, một số yếu tố dần biến mất, một số yếu tố khác được bảo lưu và chuyển hóa để thích ứng với những điều kiện mới Đồng thời một số hoạt động văn hóa khác, mang tính chất đô thị xuất hiện và ngày càng được nhiều người dân khu vực ven đô hưởng ứng
Cuộc khảo sát cũng cho thấy là tác động của đô thị hóa biểu hiện ở mức độ
Trang 9khác nhau tùy thuộc vào từng lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Có một số lĩnh vực thay đổi khá nhanh chóng trong quá trình đô thị hóa như tiện nghi nhà ở, hành
vi ứng xử đối với môi trường, các phương tiện văn hóa tinh thần Tuy nhiên, một số lĩnh vực thì sự thay đổi có chậm hơn Những hành vi văn hóa là một ví dụ Sự tăng lên đời sống vật chất chưa đủ xung lực để làm biến đổi mạnh mẽ đời sống văn hóa của dân cư Đồng thời sự biến đổi các hoạt động kinh tế - xã hội của cư dân còn tùy thuộc vào môi trường văn hóa của địa phương và điều kiện sống của gia đình Các gia
đình có thu nhập cao, các gia đình có nghề nghiệp phi nông nghiệp thường thích ứng nhanh hơn với đời sống đô thị và đóng vai trò tiên phong trong việc chuyển đổi lối sống theo định hướng đô thị
Tài liệu tham khảo
1 Báo cáo của ủy ban nhân dân các xã Thạch Bàn, Gia Thụy, Cổ Nhuế, và thị trấn Sài
Đồng trong một số năm gần đây
2 Iaquinta D.L and Drescher A.W., 2002 Defining the peri-urban: rural - urban linkages and institutional connections Nebraska Wesleyan University
3 Phòng Xã hội học Đô thị 2003 Báo cáo đề tài “Biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà
Nội trong quá trình đô thị hóa” Tài liệu lưu ở Thư viện Viện Xã hội học
Trang 10Tóm tắt
biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô hà nội trong quá trình đô thị hóa
Nguyễn Hữu Minh và Đồng nghiệp
Bài viết phân tích một số chuyển biến kinh tế-xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa thời gian gần đây Kết quả phân tích bước đầu cho thấy đã có những biến đổi đáng kể diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, từ cơ cấu nghề nghiệp, nguồn thu nhập, mức sống, đến nhà ở, cơ sở hạ tầng; từ đời sống vật chất đến đời sống văn hóa tinh thần Các ngành nghề phi nông nghiệp phát triển, nguồn thu nhập từ các ngành nghề phi nông nghiệp tăng dần tỉ trọng trong cơ cấu nguồn thu của hộ gia đình Có sự pha trộn giữa những đặc trưng đô thị và đặc trưng nông thôn
về khuôn mẫu nhà ở và cơ sở hạ tầng tại các địa bàn ven đô Đô thị hóa cũng tác
động đến những khía cạnh của đời sống hôn nhân như tuổi kết hôn, tiêu chí lựa chọn bạn đời ở các địa phương Đặc điểm của một xã hội mang dáng dấp của cả nông thôn và đô thị cũng thể hịên khá rõ trong các hoạt động văn hóa giáo dục Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định mức độ tác động khác nhau của đô thị hóa
đối với từng lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội Có một số lĩnh vực thay đổi khá nhanh chóng trong quá trình đô thị hóa như tiện nghi nhà ở, hành vi ứng xử đối với môi trường, các phương tiện văn hóa tinh thần Tuy nhiên, một số lĩnh vực thì sự thay đổi có chậm hơn Những hành vi văn hóa là một ví dụ Sự tăng lên đời sống vật chất chưa đủ xung lực để làm biến đổi mạnh mẽ đời sống văn hóa của dân cư
Đồng thời sự biến đổi các hoạt động kinh tế-xã hội của cư dân còn tùy thuộc vào môi trường văn hóa của địa phương và điều kiện sống của gia đình