BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG LƯƠNG THANH SƠN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TẬP TRUNG CỦA CÁ TẠI CHÀ CỐ ĐỊNH SỬ DỤNG TRONG NGHỀ VÂY XA BỜ TỈNH BÌNH THUẬN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LƯƠNG THANH SƠN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TẬP TRUNG CỦA CÁ TẠI CHÀ CỐ ĐỊNH
SỬ DỤNG TRONG NGHỀ VÂY XA BỜ
TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
NHA TRANG - 2007
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LƯƠNG THANH SƠN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TẬP TRUNG CỦA CÁ TẠI CHÀ CỐ ĐỊNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án này là công trình do tôi nghiên cứu Các
số liệu và kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố
Tác giả luận án
Lương Thanh Sơn
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Xin chân thành cám ơn:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang
- Ban Chủ nhiệm Khoa Khai thác Thuỷ sản
đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn để tôi hoàn thành luận án
Xin chân thành cám ơn TS Thái Văn Ngạn, TS Phan Trọng Huyến,
TS Nguyễn Long, TS Nguyễn Văn Lục, TS Trương Sĩ Kỳ, TS Nguyễn Bá Xuân, các nhà khoa học, các nghiên cứu viên của Viện Hải dương học Nha Trang, các bạn đồng nghiệp đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận án
Xin chân thành cám ơn Ban Lãnh đạo các Sở Thuỷ sản, Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản các tỉnh: Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bến Tre; Sở Khoa học Công nghệ Bình Thuận; xin cám ơn chính quyền địa phương các huyện, thành phố, thị xã, xã, phường, thị trấn có nghề khai thác sử dụng chà trên địa bàn tỉnh Bình Thuận; cám ơn các cán bộ phụ trách thuỷ sản, các thuyền trưởng, chủ phương tiện nghề cá của các địa phương có nghề cá của tỉnh Bình Thuận đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ cho tôi tiếp cận thực
tế sản xuất để điều tra, khảo sát thu thập dữ liệu phục vụ cho việc hoàn thành luận án
Trang 51.3 Các đặc điểm cơ bản về tập tính sinh học và mối quan hệ
1.3.1 Các đặc điểm cơ bản về sinh học, tập tính của một số đối
1.3.2 Ảnh hưởng của các yếu tố điều kiện tự nhiên, môi trường
1.5 Một số vấn đề tồn tại cần nghiên cứu trong sử dụng chà
Trang 6Chương 2 - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
Chương 3 - PHÂN TÍCH, XÁC ĐỊNH YẾU TỐ NGHIÊN CỨU
3.1 Phân tích, xác định các yếu tố nghiên cứu 58 3.1.1 Các yếu tố về điều kiện tự nhiên, môi trường biển 58 3.1.2 Các yếu tố về đặc điểm cấu trúc chà 63
Trang 7Chương 4 - ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ
4.1 Phân lớp hiện tượng và yếu tố nghiên cứu 88
4.3 Phân tích tính quy luật ảnh hưởng của từng yếu tố
4.4.3 So sánh giá trị dự báo của mô hình và thực tế khảo
4.5 Đề xuất ý kiến nâng cao hiệu quả thả chà cố định khai thác
4.5.1 Xác định thuộc tính phù hợp của các yếu tố ảnh hưởng 122
Trang 8GIẢ CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt – ký hiệu Giải thích
FAD Fish aggregating device (chà tập trung cá)
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1 Bảng 2.1: Phân bố mẫu điều tra tại các phường, xã, thị trấn
có nghề chà hoạt động của tỉnh Bình Thuận
44
1 Bảng 2.2: Ma trận thông tin của yếu tố X(B) và hiện tượng
nghiên cứu V(A)
54
2 Bảng 2.3: Xác định kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X(B) với
hiện tượng nghiên cứu V(A)
55
4 Bảng 4.2: Phân lớp yếu tố nghiên cứu vào chính vụ 88
5 Bảng 4.3: Phân lớp yếu tố nghiên cứu vào đầu vụ 90
6 Bảng 4.4: Tổng hợp các chỉ số thông tin của các yếu tố
tác động đến hiện tượng nghiên cứu vào chính vụ
91
7 Bảng 4.5: Tổng hợp các chỉ số thông tin của các yếu tố
tác động đến hiện tượng nghiên cứu vào đầu vụ
92
8 Bảng 4.6: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X11 với hiện tượng
V(A) vào chính vụ
95
9 Bảng 4.7: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X11 với hiện tượng
V(A) vào đầu vụ
95
10 Bảng 4.8: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X9 với hiện tượng
V(A) vào chính vụ
97
11 Bảng 4.9: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X9 với hiện tượng
V(A) vào đầu vụ
97
12 Bảng 4.10: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X8 với hiện tượng
V(A) vào chính vụ
98
Trang 1113 Bảng 4.11: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X8 với hiện tƣợng
V(A) vào đầu vụ
99
14 Bảng 4.12: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X10 với hiện tƣợng
V(A) vào chính vụ
101
15 Bảng 4.13: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X10 với hiện tƣợng
V(A) vào đầu vụ
101
16 Bảng 4.14: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X5 với hiện tƣợng
V(A) vào chính vụ
104
17 Bảng 4.15: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X5 với hiện tƣợng
V(A) vào đầu vụ
104
18 Bảng 4.16: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X4 với hiện tƣợng
V(A) vào chính vụ
105
19 Bảng 4.17: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X4 với hiện tƣợng
V(A) vào đầu vụ
106
20 Bảng 4.18: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X7 với hiện tƣợng
V(A) vào chính vụ
107
21 Bảng 4.19: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X7 với hiện tƣợng
V(A) vào đầu vụ
107
22 Bảng 4.20: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X2 với hiện tƣợng
V(A) vào chính vụ
110
23 Bảng 4.21: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X2 với hiện tƣợng
V(A) vào đầu vụ
110
24 Bảng 4.22: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X1 với hiện tƣợng
V(A) vào đầu vụ
113
25 Bảng 4.23: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X3 với hiện tƣợng
V(A) vào đầu vụ
114
26 Bảng 4.24: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X6 với hiện tƣợng 116
Trang 12V(A) vào chính vụ
27 Bảng 4.25: Kênh liên hệ riêng giữa yếu tố X6 với hiện tƣợng
V(A) vào đầu vụ
116
28 Bảng 4.26 Các đề xuất ý kiến nâng cao hiệu quả sử dụng
chà cố định sử dụng trong khai thác cá tại vùng biển Bình
Thuận
122
Trang 13
13 Hình 3.2: Phân bố tần suất nhiệt độ nước biển tầng mặt của 201
mẫu chà khảo sát vào tháng 7/2000 tại vùng biển Bình Thuận
16 Hình 3.5: Phân bố tần suất dòng chảy tầng mặt của 201 mẫu chà
khảo sát vào tháng 7/2000 tại vùng biển Bình Thuận
71
Trang 1417 Hình 3.6: Phân bố véc tơ dòng chảy tầng mặt vào tháng 7/2000
tại vùng biển Bình Thuận
72
18 Hình 3.7: Phân bố tần suất dòng chảy tầng mặt của 270 mẫu chà khảo sát vào tháng 4/2003 tại vùng biển Bình Thuận
72
19 Hình 3.8: Phân bố véc tơ dòng chảy tầng mặt vào tháng 4/2003
tại vùng biển Bình Thuận
73
20 Hình 3.9: Phân bố tần suất sinh khối thực vật phù du của 201
mẫu chà khảo sát vào tháng 7/2000 tại vùng biển Bình Thuận
23 Hình 3.12: Phân bố tần suất sinh khối thực vật phù du của 270
mẫu chà khảo sát vào tháng 4/2003 tại vùng biển Bình Thuận
76
24 Hình 3.13: Phân bố tần suất sinh khối động vật phù du của 201
mẫu chà khảo sát vào tháng 7/2000 tại vùng biển Bình Thuận
77
25 Hình 3.14: Phân bố sinh khối động vật phù du vào 7/2000 tại
vùng biển Bình Thuận
77
26 Hình 3.15: Phân bố tần suất sinh khối động vật phù du của 270
mẫu chà khảo sát vào tháng 4/2003 tại vùng biển Bình Thuận
78
27 Hình 3.16: Phân bố sinh khối động vật phù du vào 4/2003 tại
vùng biển Bình Thuận
78
28 Hình 3.17: Phân bố tần suất độ sâu thả chà của 201 mẫu chà
khảo sát vào tháng 7/2000 tại vùng biển Bình Thuận
79
29 Hình 3.18: Phân bố tần suất độ sâu thả chà của 270 mẫu chà
khảo sát vào tháng 4/2003 tại vùng biển Bình Thuận
80
30 Hình 3.19: Phân bố tần suất chất đáy của 201 mẫu chà khảo sát 80
Trang 15vào tháng 7/2000 tại vùng biển Bình Thuận
31 Hình 3.20: Phân bố tần suất chất đáy của 270 mẫu chà khảo sát
vào tháng 4/2003 tại vùng biển Bình Thuận
81
32 Hình 3.21: Phân bố tần suất địa hình đáy của 201 mẫu chà khảo
sát vào tháng 7/2000 tại vùng biển Bình Thuận
81
33 Hình 3.22: Phân bố tần suất địa hình đáy của 270 mẫu chà khảo
sát vào tháng 4/2003 tại vùng biển Bình Thuận
82
34 Hình 3.23: Phân bố tần suất số lƣợng tày dừa của 201 mẫu chà
khảo sát vào tháng 7/2000 tại vùng biển Bình Thuận
82
35 Hình 3.24: Phân bố tần suất số lƣợng tày dừa của 270 mẫu chà
khảo sát vào tháng 4/2003 tại vùng biển Bình Thuận
83
36 Hình 3.25: Phân bố tần suất mức độ bổ sung chà của 201 mẫu
chà khảo sát vào tháng 7/2000 tại vùng biển Bình Thuận
83
37 Hình 3.26: Phân bố tần suất mức độ bổ sung chà của 270 mẫu
chà khảo sát vào tháng 4/2003 tại vùng biển Bình Thuận
84
38 Hình 3.27: Phân bố tần suất thời gian sử dụng vị trí thả chà của
201 mẫu chà khảo sát vào tháng 7/2000 tại vùng biển Bình
Thuận
84
39 Hình 3.28: Phân bố tần suất thời gian sử dụng vị trí thả chà của
270 mẫu chà khảo sát vào tháng 4/2003 tại vùng biển Bình
Thuận
85
40 Hình 3.29: Phân bố tần suất vật liệu làm chà của 201 mẫu chà
khảo sát vào tháng 7/2000 tại vùng biển Bình Thuận
85
41 Hình 3.30: Phân bố tần suất vật liệu làm chà của 270 mẫu chà
khảo sát vào tháng 4/2003 tại vùng biển Bình Thuận
86
42 Hình 3.31: Phân bố tần suất sản lƣợng khai thác của 201 mẫu
chà khảo sát vào tháng 7/2000 tại vùng biển Bình Thuận
86
Trang 1643 Hình 3.32: Phân bố tần suất sản lƣợng khai thác của 270 mẫu
chà khảo sát vào tháng 4/2003 tại vùng biển Bình Thuận
87
44 Hình 4.1: Biểu diễn chỉ số truyền thông tin của các yếu tố đến
hiện tƣợng nghiên cứu V(A) trong thời gian chính vụ và đầu vụ
94
45 Hình 4.2: Quan hệ giữa yếu tố X8 và hiện tƣợng nghiên cứu
V(A) vào chính vụ
100
46 Hình 4.3: Quan hệ giữa yếu tố X8 và hiện tƣợng nghiên cứu
V(A) vào đầu vụ
101
47 Hình 4.4: Quan hệ giữa yếu tố X10 và hiện tƣợng nghiên cứu
V(A) vào chính vụ
103
48 Hình 4.5: Quan hệ giữa yếu tố X10 và hiện tƣợng nghiên cứu
V(A) vào đầu vụ
104
49 Hình 4.6: Quan hệ giữa yếu tố X7 và hiện tƣợng nghiên cứu
V(A) vào chính vụ
109
50 Hình 4.7: Quan hệ giữa yếu tố X7 và hiện tƣợng nghiên cứu
V(A) vào đầu vụ
109
51 Hình 4.8: Quan hệ giữa yếu tố X2 và hiện tƣợng nghiên cứu
V(A) vào chính vụ
112
52 Hình 4.9: Quan hệ giữa yếu tố X2 và hiện tƣợng nghiên cứu
V(A) vào đầu vụ
112
53 Hình 4.10: Quan hệ giữa yếu tố X1 và hiện tƣợng nghiên cứu
V(A) vào chính vụ
114
54 Hình 4.11: Quan hệ giữa yếu tố X1 và hiện tƣợng nghiên cứu
V(A) vào đầu vụ
Trang 17V(A) vào đầu vụ
57 Hình 4.14: Quan hệ giữa yếu tố X6 và hiện tƣợng nghiên cứu
V(A) vào chính vụ
118
58 Hình 4.15: Quan hệ giữa yếu tố X6 và hiện tƣợng nghiên cứu
V(A) vào đầu vụ
118
59 Hình 4.16: So sánh phân bố giá trị sản lƣợng thực tế và dự đoán
của mô hình vào chính vụ
121
60 Hình 4.17: So sánh phân bố giá trị sản lƣợng thực tế và dự đoán
của mô hình vào đầu vụ
121
Trang 18MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu:
Trong các nghề khai thác hải sản, nghề đánh bắt bằng lưới vây là một trong những nghề khai thác hải sản quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng khai thác hải sản Riêng tỉnh Bình Thuận, sản lượng khai thác của nghề vây hàng năm chiếm khoảng (30 40) % tổng sản lượng khai thác hải sản toàn tỉnh Đối tượng khai thác của nghề vây chủ yếu là các loài cá nổi như: Nục, Bạc má, Ngân, Chim, Chỉ vàng,
Trong bối cảnh hiện nay, khi nguồn lợi hải sản ven bờ ngày càng giảm sút thì nghề lưới vây càng chứng tỏ có nhiều ưu thế để phát triển, bởi việc khai thác của nghề vây mang tính chọn lọc cao và có khả năng vươn ra khai thác ở vùng biển khơi xa Tại Bình Thuận, khi chương trình khai thác hải sản
xa bờ của Chính phủ được khởi động (năm 1997), tỷ lệ tàu thuyền nghề vây
xa bờ ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản theo hướng vươn ra khơi
xa
Trải qua thời gian phát triển, đến nay nghề vây đã ứng dụng được nhiều thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất, làm nâng cao đáng kể năng suất, hiệu quả khai thác cá ở cả vùng gần bờ lẫn vùng biển khơi Trong số những ứng dụng hiệu quả phải kể đến việc kết hợp nhiều hình thức để phát hiện, thu hút các đàn cá nổi như: sử dụng chà rạo, ánh sáng, máy dò,
Chà là một trong những công cụ quan trọng trợ giúp đắc lực cho nghề vây tập trung được các đàn cá nổi, giảm bớt thời gian, chi phí đi lại tìm kiếm đàn cá Việc nghiên cứu ứng dụng chà trong nghề vây đã được nhiều nước trên thế giới triển khai và thu được nhiều kết quả lớn, có nước đã thật sự tạo
Trang 19được bước ngoặc trong lịch sử phát triển nghề cá của mình Đối với Việt Nam, chà đã được ngư dân ứng dụng vào khai thác cá từ khá lâu và liên tục tồn tại cho đến ngày nay Đặc biệt đối với các thuyền khai thác nghề vây của tỉnh Bình Thuận, chà sử dụng rất phổ biến và là công cụ không thể thiếu được nhằm nâng cao hiệu quả khai thác trên biển
Mặc dù chà có tầm quan trọng và được ngư dân sử dụng trong thời gian dài để khai thác cá, tuy nhiên cho đến nay người ta vẫn chưa nắm được quy luật xác định vị trí thả cũng như cấu tạo chà thích hợp để tập trung nhiều
cá Những hiểu biết về sử dụng chà trong khai thác cá hầu hết đều dựa vào tập quán, kinh nghiệm, thói quen của từng cá nhân trong quá trình đánh bắt nên trong thực tế có nhiều quan điểm rất khác nhau về sử dụng chà Hàng năm, tại vùng biển của tỉnh Bình Thuận đã có một số lượng lớn chà thả ra nhưng hiệu quả tập trung cá kém, gây lãng phí thời gian, công sức, tiền của để đầu tư cho việc thả chà và khai thác cá Chính vì vậy việc tìm kiếm quy luật xác định vị trí và cấu trúc chà thích hợp trên biển nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chà vẫn đang là vấn đề quan tâm của nhiều ngư dân và các nhà nghiên cứu khoa học
Có thể nói rằng, mức độ tập trung của cá quanh chà nhiều hay ít là kết quả của một quá trình tác động tổng hợp nhiều yếu tố tự nhiên, môi trường, đặc điểm cấu trúc chà tạo nên trên một cơ chế sinh lý thích nghi của cơ thể cá với môi trường Mối quan hệ tương tác này bao gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau chứ không đơn thuần hoàn toàn do một hoặc hai yếu tố nào đó quyết định Chính vì tính phức tạp của vấn đề, nên trải qua một thời gian dài sử dụng chà trong khai thác cá nhưng người ta đã không thể trả lời chính xác được các câu hỏi như: Tại sao cá lại tìm đến chà? Những đặc điểm nào của chà và môi trường xung quanh chà quyết định đến sự thu hút tập trung của cá
?,
Trang 20Việc ứng dụng chà trong khai thác cá của tỉnh Bình Thuận rất cần được
sự quan tâm tác động của hoạt động khoa học nhằm nâng cao hiệu quả thả chà khai thác cá; tạo chuyển biến hợp lý về cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản của địa phương; cung cấp cơ sở khoa học để bảo vệ môi trường sinh thái, khai thác bền vững nguồn lợi vùng biển; đồng thời có thể phổ biến áp dụng cho nghề vây của cả nước
Được sự đồng ý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường Đại học Thuỷ sản,
Tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tập trung của cá tại chà cố định sử dụng trong nghề vây xa bờ tỉnh Bình Thuận”
2 Mục tiêu chính của đề tài:
- Xác định các mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố tự nhiên, môi trường, cấu tạo chà đến sự tập trung của cá tại chà cố định sử dụng trong nghề vây xa bờ tỉnh Bình Thuận
- Đề xuất những giải pháp xác định vị trí thả chà và thiết lập cấu tạo chà thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng chà trong nghề vây xa bờ tỉnh Bình Thuận
3 Tính mới của luận án:
- Trên cơ sở điều tra nghiên cứu đặc điểm nghề khai thác cá sử dụng chà tại tỉnh Bình Thuận, luận án phân tích, xác định một số yếu tố liên quan đến sự tập trung của các tại chà
- Ứng dụng một số phương pháp tính toán, phân tích, xác định các thông số, mối quan hệ và mức độ tác động của một số yếu tố tự nhiên môi trường, cấu tạo chà đến sự tập trung của cá tại chà (sử dụng các phần mềm Mapinfor, Suffer, phương pháp phân tích logic thông tin,, )
- Các phân tích, xác định mối quan hệ và mức độ tác động của các yếu
tố môi trường ngoài đến sự tập trung của cá tại chà đã được khảo sát, xem xét
Trang 21một cách đồng bộ các tổ hợp yếu tố mà không đơn thuần khảo sát riêng biệt thuần tuý từng mối quan hệ
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thả chà khai thác cá của ngư dân cũng như cung cấp cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu quy hoạch phát triển nghề khai thác cá sử dụng chà tại địa phương tỉnh Bình Thuận
Trang 22Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hình nghiên cứu, sử dụng chà trên thế giới:
1.1.1 Sơ lược về chà sử dụng trong nghề cá:
Từ lâu, khi tiến hành hoạt động khai thác cá, người ta đã phát hiện ra rằng, các loài cá thường xuất hiện xung quanh các vật thể trôi nổi trên biển Chính vì vậy để nâng cao năng suất, hiệu quả đánh bắt, người ta thường hay quan tâm chú ý tới các vật thể trôi nổi trên biển để theo đó khai thác, nhất là các nghề khai thác cá nổi như: Nghề lưới vây, nghề câu, nghề rê, Tuy nhiên, việc bắt gặp các vật thể trôi nổi tự nhiên không nhiều và không chủ động Do vậy, người ta đã dần dần tìm cách tạo ra các vật thể trôi nổi trên biển (thiết bị) để thu hút sự tập trung của cá Những thiết bị tạo ra như vậy
được gọi là chà
Chà đã được ngư dân nhiều nước trên thế giới sử dụng để khai thác cá
và đã mang lại hiệu quả thiết thực Tuỳ thuộc từng quốc gia, từng vùng mà chà được gọi với các tên khác nhau Chẳng hạn, ngư dân Việt Nam thường dùng tên chà để chỉ thiết bị thả trên biển thu hút sự tập trung của cá; Thái Lan,
Philippin dùng tên “Payaos”; Ở Indonesia dùng tên “Rumpon”; thế giới
dùng tên chung “Fish aggregating device” viết tắt là (FAD)
Tuỳ thuộc vào tập quán thói quen, kinh nghiệm cũng như những nghiên cứu cải tiến kỹ thuật trong quá trình đánh bắt mà người ta làm chà có những đặc điểm cấu tạo khác nhau Nhưng nhìn chung, về cơ bản chà có cấu tạo gồm các phần như sau:
- Phần nổi: Được làm bởi các loại vật liệu có sức nổi trên mặt nước như: Dùng tre kết lại thành bè nổi; dùng pontoon cũ hàn kín nước tạo phao
Trang 23nổi; dùng thùng dầu, lốp xe cũ đổ đầy chất polyurethane để tạo nổi; dùng phao nhựa,
- Phần neo: Được làm bằng các vật liệu nặng như: Neo, sọt đá, được đặt cố định ở đáy biển để neo phần nổi
- Phần liên kết: Là phần dùng để liên kết giữa phần neo và phần nổi, thường dùng bằng dây thừng, dây cáp
- Bộ phận quyến rũ cá: Đây là bộ phận hết sức quan trọng của chà được gắn vào phần nổi hoặc phần liên kết để quyến rũ cá Bộ phận này có thể tạo ra bởi các lá cây, cành cây, dây lưới cũ, [11], [14], [23], [33], [50]
Dựa vào đặc điểm cấu tạo và nguyên lý hoạt động của chà, có thể phân chà ra làm 3 loại sau:
a/ Chà cố định dạng dây (hình 1.1): Là loại chà có phần nổi không
đáng kể, thông thường làm bằng tre với số lượng từ (35) cây buộc vào nhau làm phần nổi Vật tạo bóng râm thu hút cá được bố trí dọc theo chiều dài dây neo từ đáy biển đến gần mặt nước Chà chỉ được sử dụng tại một vị trí cố định khi đã thả và hầu như không di chuyển đến vị trí khác để sử dụng Khi chà hư hỏng không thể sửa chữa được mà chỉ có thể thả xuống chà mới Kiểu chà này thường được thả ở vùng biển gần bờ, có độ sâu nhỏ và thời gian sử dụng không lâu
b/ Chà nổi cố định (hình1.2): Có cấu tạo phần nổi mặt nước đáng kể
bao gồm bè nổi, vật tạo bóng râm để thu hút cá Bè nổi được cố định bằng neo Vật tạo bóng râm liên kết với bè nổi ở gần mặt nước Loại chà này thường được thả ở vùng nước sâu để khai thác các đối tượng cá nổi lớn như các loài cá ngừ, cá thu, Thông thường, chà đặt ở một vị trí cố định để khai thác cá, song cũng có thể di chuyển sang vị trí khác hoặc sửa chữa, tháo gỡ nếu cần thiết
Trang 24
c/ Chà nổi trôi: Có cấu tạo tương tự như chà nổi cố định nhưng không
có dây neo và neo Loại này được thả ở vùng biển khơi và tự trôi nổi theo dòng chảy hay sóng gió trong nhiều ngày Trong quá trình chà trôi nổi, tàu không thường xuyên theo dõi trực tiếp, tàu tìm đến vị trí của chà bằng hệ thống dò tìm Dạng chà này đòi hỏi đầu tư lớn về tàu, máy móc, trang thiết bị [11], [14], [23]
Ngoài ra, người ta cũng phân loại chà theo tầng nước đặt bộ phận quyến rũ cá Theo cách này, người ta chia ra làm 3 loại chà: Chà nổi tầng mặt, chà tầng giữa và chà tầng đáy Chà nổi tầng mặt thường là những dạng chà bè nổi có gắn bộ phận quyến rũ cá ngay dưới bè ở gần mặt nước Chà tầng giữa
là dạng chà có bộ phận quyến rũ cá bố trí ở phần giữa tầng mặt và tầng đáy (các kiểu chà truyền thống) Chà tầng đáy thường là những rạn nhân tạo thu hút sự tập trung của cá [63], [67]
Lịch sử sử dụng chà để khai thác cá trên thế giới được biết đến nhiều nhất ở các nước trong khu vực Đông Nam Á Theo James Anderson và Paul D.Gates (1996) cho rằng, vào đầu những năm 1900, những người đánh cá ở In-đô-nê-xia và Phi-líp-pin đã bắt đầu làm những vật nổi bằng tre và những
Trang 25vật liệu khác để thu hút những đàn cá con Họ dùng dây thừng tự nhiên buộc phần nổi và vật quyến rũ cá với những sọt đá thả dưới đáy biển để neo lại tại
vị trí cố định Những cấu trúc nhân tạo này được xem là công cụ đầu tiên để thu hút sự tập trung của cá mà về sau được gọi là chà [55] Các loại chà truyền thống thả chủ yếu ở vùng nước nông gần bờ để bắt các loài cá nhỏ như: cá Nục, Bạc Má, Ngân, Chỉ vàng, [31], [32], [33]
Trải qua quá trình phát triển, đến những năm 1970, khi nghề lưới vây phát triển và bắt đầu sử dụng chà để khai thác đáng kể sản lượng cá ngừ ở Phi-líp-pin thì việc nghiên cứu ứng dụng và phát triển chà đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm chú ý [49] Những chà truyền thống đã dần được cải tiến phát triển thành các kiểu chà nổi khác nhau để khai thác các loài cá nổi có kích thước lớn sống vùng khơi như cá Ngừ, cá Thu Những kiểu chà hiện đại
có thể đặt ở độ sâu trên 2000 m và thời gian tồn tại có thể lên đến 5 năm [55] Với những kiểu chà hiện đại này, người ta lắp đặt thiết bị phản chiếu sóng ra
đa, pin mặt trời để cung cấp nguồn điện cho đèn; Vật liệu làm chà cũng được thay thế bởi các kim loại như thép, nhôm, sợi thuỷ tinh và các vật liệu siêu bền khác có khả năng chịu đựng được trong điều kiện khắc nghiệt của môi trường biển Một số chà được thiết kế theo dạng bè nổi được đặt chìm dưới nước để không bị hư hỏng trong những điều kiện thời tiết xấu hoặc bão tố [55]
Các nghề khai thác cá có sử dụng chà bao gồm: nghề câu ( câu cần, câu ống), nghề lưới mành, nghề vây Đặc biệt, nghề vây là nghề đã làm gia tăng đáng kể sản lượng cá ngừ của thế giới nhờ sử dụng chà Tác giả Chikuni (1978) đã ví điều này như một cuộc cách mạng của nghề cá trong những năm
1970 Nhờ sử dụng chà mà lần đầu tiên vào những năm 1970, Phi-líp-pin đã phát triển nghề cá ngừ thương mại của mình ra thị trường thế giới [42], [49]
Trang 261.1.2 Tình hình nghiên cứu, sử dụng chà để khai thác cá trên thế giới:
Nhìn chung những nghiên cứu, sử dụng về chà tập trung theo hai hướng sau:
- Hướng thứ nhất thuộc dạng nghiên cứu cơ bản về hành vi và đặc điểm sinh học của các loài cá tập trung quanh chà để giải thích lý do tại sao cá bị hấp dẫn bởi chà để từ đó tạo ra chà có những đặc điểm cấu tạo thích hợp Theo hướng này các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý thuyết, thực tiễn và đã đưa ra được nhiều kết quả rất cơ bản phản ánh về mối quan hệ giữa cá với môi trường ngoài
- Hướng thứ hai thuộc dạng nghiên cứu ứng dụng nhằm thiết kế, cải tiến tìm ra những kiểu chà có các tính năng ưu việt đáp ứng được yêu cầu khai thác ở vùng biển khơi như: Chà thả được ở độ sâu lớn, có khả năng chịu đựng được điều kiện sóng gió khắc nghiệt, có thời gian tồn tại lâu, tập trung được nhiều cá, phù hợp với quy trình kỹ thuật khai thác,… Theo hướng này, các ngư dân cùng với các nhà khoa học bằng kinh nghiệm thực tiễn của sản xuất
đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để tạo ra được những mẫu chà phù hợp với yêu cầu sản xuất thực tế
1.1.2.1 Mỹ:
Chà được ngư dân sử dụng từ khá lâu, ban đầu là những dạng chà truyền thống sử dụng những vật liệu sẵn có trong tự nhiên Về sau, đặc biệt khi nghề đánh bắt cá ngừ phát triển thì chà rất được quan tâm nghiên cứu cải tiến
Tại vùng Hawaii, vào tháng 5 năm 1977, bộ phận hỗ trợ nghề cá quốc gia đã thiết kế và lắp đặt 6 chà để đánh bắt cá ngừ thử nghiệm Họ đã thử nghiệm theo 2 kiểu chà nổi khác nhau, trên đó có gắn thiết bị phản sóng ra đa
và đèn báo sáng sử dụng pin ắc quy Chà được đặt ở độ sâu từ 450 m đến
2200 m, trong khoảng thời gian 20 tháng đã thực sự thu hút hữu hiệu loài cá
Trang 27ngừ nhỏ ở vùng biển Hawaii Theo kết quả báo cáo, sản lượng đánh bắt cá Ngừ vằn (skipjack) của nghề câu cần và câu ống đạt từ 15,9 tấn đến 193,5 tấn trong một tháng đánh bắt ở quanh chà, có thuyền khai thác được 27,2 tấn trong vòng 3 ngày khai thác tại vị trí đặt chà Từ kết quả này đã làm tiền đề để phát triển nhiều chà khác ở vùng Hawaii trong những năm sau đó [49]
Tại vùng Samoa và Trung Mỹ, vào những năm 1979 – 1980, nhiều chà được bắt đầu lắp đặt để đánh bắt cá ngừ tại vùng biển Kiểu chà sử dụng về cơ bản giống như vùng Hawaii và được đặt ở những nơi có độ sâu từ 100 m đến
2700 m Thời gian tồn tại của những chà này thường khoảng 12 tháng Chi phí làm một chà trung bình khoảng 5000 đô la Mỹ [49]
1.1.2.2 Nhật:
Việc dùng chà để khai thác cá đã có từ khá lâu và phổ biến rộng rãi ở vùng biển phía Nam của Nhật Bản Đến những năm 1980, những kiểu chà chuyên để đánh bắt cá ngừ được các tổ chức như: Hokoku Marine Products Company, Japan Marine Fishery Research Center (JAMARC) lắp đặt đánh bắt thử nghiệm tại vùng biển phía Tây Thái Bình Dương ở độ sâu 1000 m đến
2000 m Họ đã sử dụng 2 tàu lưới vây để đánh bắt thử nghiệm tại vị trí thả chà Kết quả trong 26 lần khai thác tại chà, họ đã bắt được 906 tấn cá ngừ các loại (sản lượng cá Ngừ vằn chiếm 68,1%, cá Ngừ vây vàng 28,8 %, cá Ngừ mắt to 3 % và các loại cá khác 0,1 %) Cá biệt có mẻ lưới đã thu được 110 tấn Từ những thành công này, họ đã ứng dụng mở rộng phạm vi đánh bắt cho những tàu lưới vây tại vùng biển Ấn Độ Dương [49]
Theo báo cáo của F.Simard (1990), giai đoạn từ năm 1975–1990 tại vùng biển Kuroshio của Nhật, nhiều hoạt động nghiên cứu về chà nổi đã được thử nghiệm nhằm đánh giá, phát triển những kiểu chà nổi mới thay thế kiểu chà bè tre truyền thống Các kết quả thử nghiệm đã phản ánh được một số các đặc trưng về sinh học và kỹ thuật của chà như: Thành phần tỷ lệ các loài cá bị
Trang 28hấp dẫn đối với từng kiểu chà; ảnh hưởng của độ sâu và khoảng cách từ vị trí thả chà đến bờ; kích cỡ loài cá bị hấp dẫn; bán kính hấp dẫn cá của các loại chà; các thông số về vật liệu và độ bền của từng vật liệu sử dụng làm chà; quy
mô của từng loại chà; [67]
Hiện nay, tại một số vùng của Nhật, việc ứng dụng chà trong nghề cá giải trí cũng rất được quan tâm phát triển [49], [52], [59]
1.1.2.3 Úc:
Tại Úc, việc ứng dụng, cải tiến, thử nghiệm chà cho hoạt động đánh bắt
cá ngừ cũng được xúc tiến Vào cuối năm 1981, tại vùng biển phía Nam và Tây Úc, người ta đã triển khai thử nghiệm với 3 đơn vị chà được cải tiến từ kiểu chà ở vùng Hawaii Trong một năm khai thác thử nghiệm tại 3 chà đã bắt được xấp xỉ 400 tấn cá ngừ Những kiểu chà khác cũng được người Úc quan tâm thử nghiệm tại các vùng biển Sydney, Tasmanian, [49]
1.1.2.4 Pô-li-nê-xia thuộc Pháp:
Theo Chabanne (1990), năm 1979 tại vùng Pô-li-nê-xia chính quyền địa phương đã triển khai dự án phát triển chà đánh bắt cá ngừ cho các thuyền nhỏ (chiều dài thuyền nhỏ hơn 12 m) hoạt động nghề câu cần và câu ống trong vùng Số lượng chà được lắp đặt trong suốt 9 năm thực hiện dự án (từ năm 1981 đến năm 1989) là 113 chà ở độ sâu từ 620 m đến 1500 m Quá trình thực hiện dự án đã phổ biến, phát triển kiểu chà mới cho ngư dân trong vùng
áp dụng để nâng cao sản lượng khai thác Qua triển khai dự án cũng đã rút ra được một số kết luận quan trọng trong công tác nghiên cứu ứng dụng chà tại vùng Pô-li-nê-xia như: đặc điểm phân bố cá trong khu vực thả chà; khoảng cách ảnh hưởng thu hút cá của chà; mức độ tập trung của cá theo mùa, theo thời gian trong ngày; [47]
1.1.2.5 Phi-líp-pin:
Trang 29Theo Aprieto (1990), tại Phi-líp-pin, chà được ngư dân sử dụng để đánh bắt cá từ trước những năm chiến tranh thế giới thứ 2 tại các vùng: Cavite, Batangas, Mindoro Ban đầu người ta làm chà đơn giản bằng cách dùng các vật liệu tự nhiên sẵn có như tre, lá dừa, đá, về sau, dần dần phát triển thành bè tre và cải tiến theo nhiều kiểu chà khác nhau Các nghề khai thác sử dụng chà chủ yếu bao gồm nghề câu tay, câu ống và nghề vây [42]
Chà ở vùng nước sâu tại Phi-líp-pin được quan tâm phát triển từ những năm 1976, khi nghề khai thác cá ngừ phát triển mạnh Kiểu chà được sử dụng phổ biến có dạng bè nổi gồm 1 hoặc 2 lớp tre với chiều rộng từ (2 4)m, trên mỗi lớp có khoảng 15 cây tre dài (10 15)m được liên kết với nhau Bộ phận neo thường được làm từ những thùng dầu cũ đổ đầy đá hoặc bê tông có trọng lượng trung bình khoảng 500 kg/thùng Số lượng thùng tuỳ thuộc vào độ sâu của vùng nước thả chà, trung bình sử dụng 3 đến 4 thùng dầu cũ cho 1 chà thả
ở độ sâu (1500 2200) m và 5 đến 6 thùng cho độ sâu lớn hơn Trong điều kiện bình thường (không có bão tố, trộm cắp), thời gian tồn tại của chà trên biển lâu nhất là 6 tháng [42], [57]
Theo Shomura và Matsumoto (1982), chà sử dụng trong nghề lưới vây được xem là nguyên nhân chính cho sự gia tăng nhanh chóng sản lượng khai thác cá ngừ ở Phi-líp-pin Từ chỗ năm 1972 (khi chưa áp dụng chà để khai thác cá ngừ), sản lượng khai thác cá ngừ ở Phi-líp-pin là 10.000 tấn thì đến những năm sau đó khi sử dụng chà, sản lượng đã tăng lên 125.000 tấn và đến năm 1988, sản lượng khai thác đã đạt 279.641 tấn Nhờ có sử dụng chà mà sản lượng đánh bắt cá ngừ của một tàu nghề vây có thể lên đến 200 tấn ở tại 1
vị trí thả chà [42], [49], [57]
Theo Aprieto (1988), tại Phi-líp-pin có khoảng 3000 chà được sử dụng
để khai thác cá tại vịnh Moro, phía Tây và Đông Sulu, vùng Visayan, Bohol, Batangas, Tây Bắc Luzon [42]; [57]
Trang 301.1.2.6 Xri-lan-ca:
Tại Xri-lan-ca, chà cũng là công cụ truyền thống được ngư dân sử dụng
để đánh bắt cá từ rất lâu Tuy nhiên, những kinh nghiệm về sử dụng chà của ngư dân thực sự được nâng cao và mang lại hiệu quả rõ rệt chỉ vào những năm 1980, khi những kiểu chà hiện đại được du nhập vào Xri-lan-ca và phát huy tác dụng Theo báo cáo của tác giả Atapattu (1990), đầu tiên vào những năm 1970 thử nghiệm chà tầng đáy (rạn nhân tạo) được triển khai tại vùng Colombo Tuy nhiên quá trình thử nghiệm không mang lại kết quả do dòng chảy cuốn trôi các cấu trúc mà họ đã thả xuống biển Đến năm 1981, một dự
án khác về chà đã được triển khai tại vùng biển Maldives Nhiều chà được lắp đặt thử nghiệm trong giai đoạn 1982-1986 và đã mang lại kết quả cao, nhờ đó
đã kích thích, mở rộng ứng dụng chà trong khai thác cá tại Xri-lan-ca Bốn kiểu chà được thiết kế thử nghiệm chính ở Xri-lan-ca là: Kiểu chà sử dụng lốp
xe tải, kiểu chà bè tre, kiểu chà bè gỗ và kiểu chà sử dụng thùng dầu cũ Trong 4 kiểu thử nghiệm, kiểu bè tre được đánh giá có cấu tạo đơn giản, dễ làm, chi phí thấp và cho sản lượng khai thác cao nhất Các nghề khai thác sử dụng chà chính ở Xri-lan-ca gồm nghề câu cần, câu ống, lưới mành [43]
1.1.2.7 In-đô-nê-xia:
Theo Reuter (1938), chà được ngư dân ở In-đô-nê-xia sử dụng từ khá lâu, đặc biệt phổ biến ở phía Bắc vùng Java Những cấu trúc chà đầu tiên được ngư dân sử dụng bao gồm một phao nổi bằng tre, một dây neo làm bằng sợi tự nhiên, một neo gỗ và những lá dừa được kết vào dây neo để làm bộ phận hấp dẫn cá Cấu trúc chà này chủ yếu đánh bắt các loài cá nhỏ Để thu hút các loài cá ngừ, ngư dân của vùng Mamuju ở miền Nam Celebes đã cải tiến chà có dạng bè tre và sử dụng dây mây làm dây neo
Các kiểu chà hiện đại chỉ mới được bắt đầu đưa vào thử nghiệm từ năm
1980 bởi Viện nghiên cứu nghề cá và các công ty khai thác cá Điển hình,
Trang 31năm 1980 Công ty Usaha Mina đã bắt đầu đưa vào thử nghiệm một số chà tại vùng nước Irian Jaya thuộc tỉnh Sorong Bốn năm sau đó, công ty tiếp tục triển khai nhiều chà khác để khai thác các loài cá ngừ Trong vòng 5 năm (1984 – 1988), riêng công ty Usaha Mina đã thả tổng cộng 296 chà để khai thác cá tại vùng Irian Jaya và đã khai thác được 6.870,65 tấn cá Số lượng chà
do Công ty thả ra và bị mất là khá lớn, trong số 196 chà được thả trong 2 năm
1988 – 1990 thì đã có 106 chà đã bị mất [49]
Tại vùng nước phía Đông của tỉnh Java, Viện nghiên cứu nghề cá cũng
đã tiến hành thử nghiệm dùng chà để khai thác cá ngừ vằn Tuy nhiên các chà chỉ tồn tại trong vòng một tuần nên không thu được thông tin về kết quả khai thác [49]
Năm 1990, trường Đại học Nông nghiệp Bogor đã thử nghiệm một chà tại vịnh Pelabuhan Ratu thuộc phía Tây tỉnh Java ở độ sâu 850 m Sau 3 tháng, người ta đã khai thác được 6.656,5 kg cá ngừ vây vàng Thời gian tồn tại của chà này được 6 tháng thì bị mất [49]
Trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1990, tổng cộng có 405 chà đã được thử nghiệm ở In-đô-nê-xia để khai thác các loài các ngừ Tỷ lệ chà bị mất chiếm khoảng 53 % Thời gian chà tồn tại từ vài tuần đến vài tháng, tối
đa không quá 2 năm [49], [53]
Theo báo cáo của Daniel Rudolf Monitja, tại In-đô-nê-xia ngoài các nghiên cứu thử nghiệm về kỹ thuật của chà như: Vật liệu, cấu trúc của chà nổi, các yếu tố về sinh học cũng được quan tâm khảo sát như: Thành phần
và kích cỡ các loài cá tập trung quanh chà; sự thay đổi về sản lượng và kích
cỡ cá đánh bắt ở các khoảng cách so với vị trí thả chà; sự thay đổi của sản lượng đánh bắt theo các thời điểm khác nhau trong ngày; Những kết quả thử nghiệm chà ở In-đô-nê-xia đã mang lại thành công đáng kể cho nghề khai thác cá ngừ thương mại ở nước này [49], [53]
Trang 321.2 Tình hình nghiên cứu, sử dụng chà ở Việt Nam và tỉnh Bình Thuận:
Ở Việt Nam, việc sử dụng chà để khai thác đã được ngư dân sử dụng cách đây khá lâu Những địa phương có tàu thuyền sử dụng chà để khai thác
cá là: Nghệ An, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Trong đó, Bình Thuận và Bà Rịa Vũng Tàu là 2 địa phương có ngư dân
sử dụng chà để khai thác cá nhiều nhất [11], [23], [33]
Chà sử dụng trong khai thác cá ở Việt Nam thuộc kiểu chà truyền thống thả ở vùng nước nông gần bờ để thu hút các loài cá nổi có kích thước nhỏ (chà cố định dạng dây) Độ sâu thả chà thường không quá 60 m nước Chà được làm từ các vật liệu tự nhiên sẵn có như: Tre, đá, lá dừa, Thời gian tồn tại của chà trên biển khá ngắn, thông thường là dưới 3 tháng, sau thời gian này nếu muốn khai thác tiếp cần thiết phải bổ sung chà (ngư dân gọi là dặm chà) Tuỳ thuộc thói quen, tập quán, kinh nghiệm khai thác của từng cá nhân
ở từng vùng mà cách bố trí cấu tạo chà có khác nhau, nhưng nhìn chung về cơ bản đều là chà cố định dạng dây
Các nghề khai thác sử dụng chà bao gồm: Nghề câu, nghề mành, và nghề vây rút chì Tàu thuyền nghề câu thường có kích thước nhỏ, công suất máy chính nhỏ hơn 20 cv, hoạt động chủ yếu ở vùng nước gần bờ và đi về trong ngày Tàu nghề mành có kích thước lớn hơn nghề câu nhưng công suất máy chính thường cũng nhỏ hơn 90 cv Đối với nghề vây rút chì, tàu thuyền
sử dụng có kích thước lớn hơn, hiện nay thuyền nghề vây của ngư dân đã đạt đến 650 CV
Cho đến nay, việc nghiên cứu cải tiến sử dụng chà trong khai thác cá tại Việt Nam được thực hiện chủ yếu bởi ngư dân Thông qua nhu cầu thực tiễn sản xuất, ngư dân tự tìm hiểu áp dụng và cải tiến chà cho phù hợp với điều kiện sản xuất Các hoạt động nghiên cứu phát triển ứng dụng chà trong nghề
Trang 33cá của Việt Nam ít được biết đến và chỉ mới đề cập trong thời gian gần đây Một số hoạt động nghiên cứu tiêu biểu có thể nêu ra là:
Năm 1999 – 2000, tác giả Nguyễn Văn Động Trường Đại học Thuỷ sản
Nha Trang đã chủ trì thực hiện Đề tài “ Nghiên cứu ứng dụng chà di động
cho nghề lưới vây xa bờ khai thác cá ngừ tại Việt Nam” Đề tài đã tiến hành
nghiên cứu thiết kế, thi công và khai thác thử nghiệm một số mẫu chà nổi di động để khai thác cá ngừ bằng nghề lưới vây tại vùng biển Đông Nam Bộ
Năm 2002 – 2003, tác giả Nguyễn Long Viện Nghiên cứu Hải sản Hải
Phòng đã chủ trì thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật khai thác cá
ngừ bằng nghề lưới vây khơi” Quá trình triển khai đề tài đã thực hiện thử
nghiệm 5 mẫu chà: Chà bè tre nổi, chà bè tre chìm, chà dù, chà dây, chà di động để khai thác cá ngừ bằng nghề vây tại khu vực vùng biển Đông – Tây Nam bộ
Kết quả việc thử nghiệm các mẫu chà để khai thác đối tượng cá ngừ bằng nghề vây khơi trong 2 đề tài trên là rất khả quan, mở ra hướng mới cho đội tàu vây khơi tiến ra khai thác hiệu quả đối tượng cá ngừ đang có giá trị kinh tế cao trên thị trường Tuy nhiên tình trạng mất chà đã diễn ra khá phổ biến nên làm hạn chế kết quả nghiên cứu thử nghiệm
Tại Bình Thuận, việc sử dụng chà trong khai thác cá đã xuất hiện khá lâu và được dùng phổ biến cho đến ngày nay Sản lượng khai thác cá nổi hàng năm của tỉnh được quyết định bởi các nghề khai thác có sử dụng chà, trong đó nghề vây là nghề chủ lực Chính vì vậy, chà có tầm quan trọng đặc biệt trong phát triển nghề cá tại địa phương và được chính quyền, ngư dân quan tâm phát triển Tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh khoá VI năm 1996 đã ban hành Nghị quyết về phát triển nghề chà truyền thống của tỉnh Theo đó Uỷ ban nhân tỉnh và ngành Thuỷ sản tại địa phương đã triển khai nhiều biện pháp
để phát triển nghề chà: Năm 1997, triển khai quy hoạch vùng thả chà khai
Trang 34thác cá; thực hiện chính sách miễn giảm 30 % thuế nghề cá cho các thuyền có tham gia thả chà; Năm 2003, thực hiện khảo sát điều chỉnh lại vùng quy hoạch thả chà cho phù hợp với những thay đổi của điều kiện sản xuất tại vùng biển
Bên cạnh đó, để góp phần thúc đẩy nghề khai thác sử dụng chà tại địa phương phát triển, năm 2000 tác giả luận án đã chủ trì thực hiện đề tài cấp tỉnh về nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến sản lượng cá khai thác tại chà ở vùng biển Bình Thuận nhằm nâng cao hiệu quả khai thác
Đề tài bước đầu đã rút ra một số kết luận quan trọng trong việc sử dụng chà, tạo cơ sở phục vụ công tác quản lý, phát triển nghề chà tại địa phương
Có thể nói rằng, Bình Thuận được xem là địa phương tiêu biểu về sử dụng chà trong khai thác cá của Việt Nam Nghiên cứu tình hình sử dụng chà trong khai thác cá tại Bình Thuận có thể phản ánh được những nét chung nhất
về đặc điểm cấu tạo của chà, kỹ thuật sử dụng chà trong khai thác cá của các địa phương khác của Việt Nam
1.2.1 Đặc điểm cấu tạo chà:
Tại Bình Thuận, tất cả chà sử dụng đều là loại chà cố định dạng dây giống như loại chà truyền thống của các nước trên thế giới Phần nổi của chà chủ yếu làm từ tre Người ta thường sử dụng từ (3 5) cây tre dài (10 16) m kết lại thành bó, tại mỗi gốc tre có tạo lỗ để buộc các gốc lại với nhau và tạo khuyết bằng dây thừng để liên kết với dây liên kết Phần ngọn bó tre buộc tấm vải làm cờ để dễ nhận dạng vị trí chà Để thể hiện tàu chủ sở hữu cây chà, người ta thường ghi số đăng ký tàu lên cờ chà hoặc sơn lên thân bó tre
Phần neo làm bằng các vật liệu nặng như: Neo, đá, Thông thường sử dụng (2 3) sọt đá Trọng lượng mỗi sọt đá khoảng từ (300 400) kg Sọt đá được làm từ dây sóng lá hoặc lốp xe đạp cũ bện lại thành sọt Đôi khi, người
ta cũng dùng thùng phuy cũ đổ đầy bê tông để làm neo
Trang 35Phần liên kết thường dùng bằng dây thừng, dây cáp Dây liên kết thường được sử dụng là loại dây PE có = (16 20) mm Chiều dài của dây tuỳ thuộc vào độ sâu nơi thả chà Theo kinh nghiệm của ngư dân Bình Thuận, dây liên kết có chiều dài lớn hơn độ sâu nơi thả chà từ (10 15) m Số lượng dây liên kết tuỳ thuộc thói quen của từng người, thường sử dụng từ 1 đến 2 dây
Bộ phận quyến rũ cá làm từ lá dừa, lưới cũ Thông thường mỗi cây chà
sử dụng từ (100 500) tàu dừa buộc đều từ gần đáy đến mặt nước theo dọc chiều dài của dây liên kết để tạo bóng râm Khoảng cách mỗi tàu dừa buộc vào dây liên kết từ (0,2 0,7) m Để tăng tính hấp dẫn cá đến tập trung tại chà, một số người còn sử dụng những bụi me, bụi dứa, xác tàu cũ, xà lan cũ, thả xuống tại gốc chà
1.2.2 Vùng phân bố:
Vùng biển thả chà tỉnh Bình Thuận có độ sâu chủ yếu từ (1555) m, trải dài dọc theo bờ biển của tỉnh Trong vùng thả chà, mật độ chà phân bố giảm dần theo hướng từ Bắc xuống Nam Đối với chà của nghề vây rút chì, độ sâu thả chà lớn hơn so với các nghề khác (tập trung chủ yếu ở độ sâu (2545) m) Một số ít thuyền nghề vây có công suất lớn hoạt động xa bờ đã thả chà ở
độ sâu lên đến 70 m nước hoặc cao hơn (Khu vực phía Nam đảo Phú Quý và các gò nổi ở Trường Sa)
Phân bố vị trí thả chà tại vùng biển Bình Thuận năm 2003 được thể hiện như hình 1.3 Qua đó cho thấy, việc thả chà khai thác cá thường phân bố tập trung theo từng khu vực mà không rải đều trên toàn bộ vùng biển Trong từng khu vực thả chà tập trung, thường bao gồm những chà của cùng một địa phương nghề cá (xã, phường) để thuận tiện trong việc bảo vệ và hỗ trợ nhau trong quá trình khai thác Chính vì vậy đã xuất hiện những tên gọi vùng chà
Trang 36trùng với tên địa phương cĩ nghề khai thác của tỉnh như vùng chà Phan Rí, vùng chà Thanh Hải, vùng chà Phú Hài,
Qua số liệu điều tra khảo sát năm 2003 cho thấy, tỷ lệ phân bố chà theo
độ sâu tại vùng biển như sau:
Vùng chà cĩ độ sâu dưới 20 m nước chiếm tỷ lệ 10,3 %
Vùng chà cĩ độ sâu từ (2030)m nước chiếm tỷ lệ 37,1 %
Vùng chà cĩ độ sâu từ (3140)m nước chiếm tỷ lệ 27,2 %
Vùng chà cĩ độ sâu trên 40 m nước chiếm tỷ lệ 25,4 %
Kết quả khảo sát năm 2003 cũng chỉ ra rằng, so với kết quả khảo sát năm 1998 – 1999 thì xu hướng biến động vùng thả chà tại vùng biển của tỉnh giảm dần số lượng chà ở vùng cĩ độ sâu dưới 30 m và tăng dần ở vùng cĩ độ sâu từ 30 m trở lên với tỷ lệ tăng giảm 18,8 %
Hình 1.3: Phân bố 555 vị trí đặt chà tại vùng biển Bình Thuận năm 2003
11o 20' N
11o 00'
10o 40'
10o 20'
10o 00'
9o 40' N
107 40'Eo 108 00'o 108 20'o 108 40'o 109 00'Eo
M Cà Ná Cà Ná M.Sừng Trâu Vĩnh Hảo
Tuy Phong Hòn Lao
M La Gàn Phan Rí
Mũi Gió Mũi Rom Mũi Né PHAN THIẾT
M Kê Gà Hàm Tân
Đảo Phú Quý
Kilômét
BIỂN ĐÔNG
TỈNH BÌNH THUẬN
Bạch Hổ - Rồng
Mỏ Hồng Ngọc
Mỏ Rạng Đông Mỏ Sư Tử Đen
Trang 37Trong những năm gần đây, hoạt động thăm dò dầu khí đã diễn ra khá mạnh ở khu vực vùng biển phía Nam của tỉnh nên tại vùng này hoạt động thả chà và khai thác cá của ngư dân đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng Liên tục trong nhiều năm liền, hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí đã cắt bỏ đi từ (100200) chà của ngư dân mỗi năm trên vùng biển Bình Thuận Do vậy, hiện nay còn rất ít chà đang được ngư dân sử dụng để khai thác cá tại khu vực vùng biển phía Nam
1.2.3 Nghề khai thác:
Các nghề khai thác có sử dụng chà tại Bình Thuận bao gồm nghề mành chà, mành đèn và vây rút chì Ngoài ra hình thức câu cũng được sử dụng tại chà, song hoạt động này chủ yếu do các thuyền viên trên các tàu nghề mành, nghề vây tranh thủ câu thêm khi nghỉ ngơi hoặc do một ít các thuyền công suất nhỏ hoạt động gần bờ sử dụng
Nghề mành là nghề khai thác đàn cá nổi bằng cách kết hợp với các tác nhân khác như chà, ánh sáng để tập trung, thu hút cá vào vùng có đặt lưới sẵn Khi cá tập trung vào vùng tác dụng của lưới, người ta nâng lưới lên để thu cá Nếu nghề mành sử dụng chà để tập trung cá, người ta gọi là nghề mành chà Ngược lại nếu sử dụng ánh sáng để tập trung cá, người ta gọi là nghề mành đèn Hoạt động khai thác của nghề mành chà diễn ra vào ban ngày, còn hoạt động khai thác của nghề mành đèn diễn ra vào ban đêm Hiện nay, tại Bình Thuận, đa số người ta đang sử dụng kết hợp cả 2 hình thức dùng đèn và dùng chà để tập trung cá
Tàu thuyền và ngư cụ khai thác của nghề mành chà và mành đèn khá giống nhau Tàu khai thác thường có công suất máy <74 cv Ngư trường hoạt động ở gần bờ có độ sâu < 35 m Các đối tượng khai thác chủ yếu là cá Nục, Chỉ vàng, Ngân, Bạc má, Mực, Số lao động trên thuyền thường từ 9 - 13
Trang 38người Thời gian chuyến biển từ 1- 5 ngày tùy thuộc vào ngư trường khai thác, thông thường là đi về trong ngày vào mùa vụ chính
Tàu thuyền khai thác nghề vây của Bình Thuận thường có công suất máy nằm trong khoảng (45450) CV Lưới có chiều dài L = (600 1200) m, chiều cao H = (70140) m Vật liệu áo lưới chủ yếu là nilon (PA) Độ thô chỉ lưới giảm dần từ tùng đến cánh Kích thước mắt lưới được sử dụng khá đồng nhất trong từng bộ phận của vàng lưới và tăng dần từ tùng đến cánh với a = (1150) mm
Ngư trường hoạt động của nghề vây thường ở độ sâu từ (2060) m Để nâng cao hiệu quả khai thác của nghề vây rút chì, người ta dùng chà kết hợp với chong đèn để khai thác cá Trung bình, mỗi thuyền nghề vây rút chì thả từ (25) chà để tập trung các đàn cá
1.2.4 Mùa vụ và thành phần đối tượng khai thác:
Nghề khai thác cá có sử dụng chà chủ yếu hoạt động vào mùa gió Tây Nam trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm Trong đó hoạt động mạnh nhất là vào các tháng 7 - 9 khi mà các đàn cá nổi có xu hướng tiến vào sát bờ Vào mùa gió Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, các tàu khai thác có sử dụng chà hoạt động hạn chế do thời tiết xấu và biển động Các thuyền có công suất lớn thường chuyển sang ngư trường Vũng Tàu, Côn Sơn
để khai thác
Kết quả khảo sát sản lượng tàu thuyền khai thác sử dụng chà trong năm 2000 và năm 2003 do tác giả chủ trì thực hiện cho thấy, tỷ lệ cá Nục chiếm khoảng 50 % trong thành phần tổng sản lượng khai thác được, cá Chỉ vàng chiếm 11 %, cá Bạc má 10 %, cá Ngân 10 %, cá Chim 3 %, Mực 3 %,
các loài khác 13 %
1.2.5 Kỹ thuật thả chà và khai thác cá:
* Kỹ thuật thả chà:
Trang 39Thông thường người ta tiến hành thi công trước một số bộ phận của cây chà ở trên bờ hoặc kết hợp làm trong lúc tàu hành trình đến ngư trường như: đan sọt đựng đá, hoàn chỉnh các lỗ, khuyết để buộc các cây tre, đánh dấu
số đăng ký tàu trên cây tre để làm dấu thể hiện chủ chà; cắt và liên kết các tàu dừa vào dây chính,
Khi tàu đến ngư trường, khu vực đặt chà, thuyền trưởng kiểm tra, thăm
dò lại các đặc điểm, môi trường vùng biển như đã dự kiến trước bằng các thiết
bị như máy dò, thả dây dọi, câu,
Khi xác định được vị trí phù hợp, tiến hành thả chà Thời điểm thả chà phải chọn sao cho càng ít sóng gió càng tốt, nhằm đánh dấu càng chính xác vị trí đặt chà và thuận lợi trong thao tác thả Trình tự thả chà: Thả tre trước, đến dây lá dừa, cuối cùng là sọt đá
* Kỹ thuật khai thác:
Kỹ thuật khai thác của nghề mành khá đơn giản Khi quan sát thấy cá tập trung quanh chà hay nguồn sáng thì thuyền trưởng quyết định thả lưới Dưới tác dụng của dòng chảy và neo, lưới mành mở ra và tiến hành điều chỉnh lưới nằm đúng vị trí mong muốn Khi quan sát thấy cá tập trung vào vùng tác dụng của lưới thì giật chốt cho lưới nổi lên để bao vây đàn cá, sau đó thu lưới bắt
cá Lưới của nghề mành chà nhỏ hơn nghề mành đèn Nghề mành chà có thể khai thác nhiều mẻ trong ngày, nghề mành đèn khai thác từ 1 -2 mẻ trong một đêm
Kỹ thuật khai thác cá nghề vây sử dụng chà cũng giống như kỹ thuật khai thác cá bằng lưới vây kết hợp ánh sáng và lưới vây thông thường Khi đã xác định được chà để khai thác, người ta neo thuyền ở vị trí ngang chà chờ đến tối thì mở đèn tập trung cá Sau khi mở đèn (12) giờ, nếu thấy cá tập trung quanh vùng sáng nhiều thì tiến hành thả lưới, ngược lại, tiếp tục chong đèn tập trung cá Trước khi thả lưới người ta dồn cá lại một cụm bằng kỹ
Trang 40thuật tắt dần đèn trên tàu và dùng bè đèn dẫn cá đến vị trí mong muốn Thông thường, khi bè đèn cách tàu (4050)m ở vị trí cuối nước, cuối gió so với tàu, thuyền trưởng quyết định thả lưới Điểm thả lưới căn cứ theo gió, nước, bán kính quay trở của tàu để sao cho không gây sự cố cho lưới và bảo đảm vòng quay có diện tích lớn nhất, vừa hết lưới thì cũng hết vòng quay Trình tự thả lưới: Thả phao tiêu đầu tùng tùng thân cánh dây kéo đầu cánh Sau đó tiến hành quá trình thu lưới Việc thu lưới có thể thực hiện thu dây giềng rút trước rồi đến thu lưới hoặc thu đồng thời cả hai Quá trình thu lưới ngược với quá trình thả
Thông thường khi có cá, mỗi đêm người ta thả một đến hai mẻ lưới Trong quá trình thu lưới, lấy cá, nếu thấy cá tập trung quanh tàu thì tiếp tục thắp đèn thu hút cá, nếu không có thì chạy tàu đến vị trí khác để đánh bắt
1.3 Các đặc điểm cơ bản về tập tính sinh học và mối quan hệ giữa cá với môi trường:
1.3.1 Các đặc điểm cơ bản về sinh học, tập tính của một số đối tượng khai thác chính tại chà cố định:
1.3.1.1 Cá Nục (Decapterus):
Có 2 loài cá Nục thường gặp khi khai thác tại chà là cá Nục thuôn (Decapterus lajang) và cá Nục sò (Decaptertus maruadsi) Cả 2 loài cá Nục này có đặc điểm hình dáng, kích thước khá giống nhau Kích thước khai thác của cá Nục thường có chiều dài thân là (120180) mm, trọng lượng thân (5070)g [2]
Cá Nục thuộc loài cá nổi Ở Việt Nam, cá phân bố ở tất cả các vùng biển, nhiều nhất là vùng biển Bình Thuận [12] Cá Nục thường tập trung thành đàn lớn, có tính di cư rõ rệt Cá có tính hướng quang mạnh nên chúng là đối tượng khai thác của các loại nghề có ánh sáng nhân tạo (như mành đèn, vây rút chì chong đèn, ) Ngoài tập tính hướng quang, cá Nục rất thích tập trung ở nơi