1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh tế tri thức Vấn đề và giải pháp : kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển

195 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một câu hỏi tự nhiên được đặt ra là tại sao Nhật Bản lại quá chậm trễ trong việc nhận thấy tầm quan trọng của cuộc cách mạng công nghệ thông tin, trong khi các nhà chế tác điện tử Nhật B

Trang 1

K ~ ,7

Trang 2

KINH TETRITHUC

",' ","' , ,

Kinh nghi~m cua cae nuoc phat tri~n

va dang phat tri~n

I

vv 11Llf

VI~N NGHIEN coo QUAN L Y KINH Tlf TW

TRUNG TAM THONG TIN -TV LIEU

NHA XUAT BAN THONG KE

-HANQI 2001

Trang 3

MUC LUC

LO'i giOi thi~u

Phan I

1- Dl! thao sang kien eong ngh~ thong tin eua Thu tu6ng Chfnh phil Mori

va n~n mong eua no eho cae xu hu6ng va van d~ a DongAHam 2001.

Takashi Kiuchi 2- N~n kinh te dl!a tren tri thue a Trung Quae:

nhan thue va thue ti~n.. .

Tian Zhongqing

3 Con duang di t6i m(H n~n kinh te dl!a tren tri thue

-Truang hQ'p eua Han Quae.

Cheonsik Woo

4- N~n kinh tedua tren tri thue va cae van d~ xa hoi:. .

Truang hQ'p Han Quae.

Ell! Yong Park

5- Cae h~ qua, thaeh thue va tri~n v<;mgcua n~n kinh te dl!a tren

tri thue dai v6i Dai Loan.

I ~

Taill- ly Chen, Shing- Horng Chen, Meng- chun Liu

6- Chien luQ'e phat tri~n kinh te dl!a tren tri thvc cua Singapore.

Poh Ka!l1 Wong

7- Nhung di~u duqc, mat cua n~n van hoa: lCT, n~n kinh te tri thuc

va Sl! bao t6n van hoa t~i Malaysia.

Sha!l1su! A.B

,

Trang

5 7

Trang 4

~

-8- Mi;lngInternet la m(>tc6ng Cl,ltang cuong van xa h9i.

Somkiat Tangkitvanich, Dew/den Nikomboriak

161

9- Sl! tang tfUbng kinh t€ dl!a tren tri thuc va cac lac d9ng

chinh tri - xa h9i b Indonesia.

173

Nasir Tamara

Phan II

10- Chinh quy~n di~n ttr: kh6ng Wong, kh6ng khoa,

kh6ng ctra ra vao ngan cacho

177

William Perter Charlene Porter

11- Mi;lng Internet la m9t n~n mong dang mb n~)figchua tung thay

cho nghien CUllloan duo

182

Lori A Perine

12- N~n kinh t€ tri thuc loan du va nhil'ng lac dc)ng cua no

doi v&ikinh doanh.

188

13- Cac c6ng ty nen ap dl,lng ky thu~t so nhu the n~lO?(t6ng thu~t).

Adrian J Slywotzky D£II,id Morrison Karl Weber

193

Trang 5

Qua nhiIng lu6ng ykie'n va nhiIng 10<,1i hanh d9ng ra't phong phti va soi n6i tren day, hi~n ra ngay dng 1'0r~t nhiIng nh~n thue khae nhau, th~m

chi trai nguqe nhau, v~ kinh te' tri thue (con duQ'e gQi la kinh te' dl!a tren tri

thue, kinh te ky thu~t sO',kinh te sO'boa, kinh te thong tin , song ph6 c~p nha't la deh gQi: kinh te'tri thue) Co nhiIng nh~n thue khae nhau v~ ban eha't, ngu6n g6e, ph<,1mvi, d~e di~m, d9ng Il;l"c,tri~n vQng, va h~ qua kinh te', chinh tri, van boa, xii h9i cua kinh te' tri thuc 51! khac nhau v~ nh~n thuc nhu v~y Ia ea ban va roan di~n.

Tuy nhien, co m9t di~u d~ tha'y, Ia: nh~n thuc v~ thl!c te kinh te m6i duQ'c gQi m9t dch ph6 c~p Ia kinh te tri thuc thl khac bi~t nhau nhi~u,

co khi de'n d6i ngh!ch nhau, song v~ sl! t6n t<,1ith~t sl! cua cai thl!c te kinh

te m6i a'ythl hciunhu thong con ai tranh dii.

Tie'p rhea cu6n sun t~p chuyen d~: "N~n kinh te'tri thuc- nh~n thuc

va hanh d9ng", xuat ban thang 5 nam 2000, vao dati nam 2001 nay, chung

Wi xin gi6i thi~u tier cu6n suu t~p chuyen d~: "Kinh te tri thuc- va'n d~ va giai phap", g6m 13 tai li~u, chia lam 2 rhein nhu san:

Phan thu nha't, g6m 9 tai li~u, chu yen chQl1 tu de bai thalli lu~n trinh bay t<,1ieuge h9i thao qu6e te 6 Tokyo eu6i thang 10 nam 2000, rhea

ehu d~: "Cae xu huang va van d~ 6 DongAnarD2001- 51!tang truang kinh

Trang 6

sotai li~u nay co 5 tai li~u v~ 4 nuac Dong BaeA(Nh~t Ban, Trung Quae,

Han Quoc, Dai Loan) va 4 tai 1i~u v~ 4 nuae Dong Nam A(Singapore, Malaysia, Thai Lan, Indonesia).

Ph<in thu hai, g6m 4 tai li~u v~ cac chu d~:

-Tac d<,;mgcua kinh te tri thuc doi vai chfnh quy~n

-Tac d9ng cua kinh te tri thuc doi vai ho~ltd9ng nghien CUllkhoa h9C

- 2 tai li~u v~ tar d9ng cua kinh te tri thuc doi vai kinh doanh,

trong do co bai t6ng thu~t m9t coon sach rat dang chu y mai du<;1cxuat ban thang 11/2000 co d<iud~ "Cac rang ty Den ap d~ng ky thu~t so nhl1 the na07".

Nhu ket diu cua coon SUo t~p ehuyen d~ nay rho thay ro, m9t m~t chung toi muon cling cap m9t so tai li~u xung quanh m9t so van d~ va giai

phap v~ kinh te tri thuc a nhi~u nl1ac va ngay trong khu vl!c cua chung ta,

m~t khac, chung t6i muon cling cap them tai li~u v~ m9t so lac d9ng chung cua kinh te tri thuc (khong chI trong ph£.lm vi khu vl!c cua chung ta), co chu y catar d9ng a t<imVImo va lac d9ng a tam vi mo Chung toi da co

gang ll;la ch9n nhfrng tai 1i~u c~p nh~t va dang thalli khao.

Mong rang coon suu t~p chuyen d~ nay, b6 sung rho coon tnrac, se

co ph<innao dong gap vao vi~c nghien eCruv~ kinh te tri thuc anuac ta.

TRUNG TAM THONG TIN- TU LI~U

VI~N NGHIEN CUU QUAN LV KINH TE TW

Trang 7

Cố vấn Kinh tế, Ngân hàng Shinsei, Tôkyô, Nhật Bản

Gần như là đột nhiên trong mùa hè này, cuộc cách mạng công nghệ

thông tin (IT) trở thành chủ đề tranh luận sôi nổi nhất trong cộng đồng hoạch

định chính sách kinh tế của đất nước Dường như Thủ tướng Chính phủ

Yoshiro Mori đã đạt được thành công to lớn trong việc đặt vấn đề cuộc cách

mạng IT lên hàng đầu trong chiến lược kinh tế dài hạn của quốc gia, kể từ

khi ông ta bắt đầu đề cập đến chủ đề này ngay sau cuộc tổng tuyển cử vào

tháng bẩy

Không có gì nghi ngờ rằng cuộc tranh luận đã bị chi phối bởi sự phát

triển ngoạn mục của một cuộc cách mạng kỹ thuật số ở Mỹ và sự thành công

của nó trong việc giữ cho nền kinh tế vượt qua mọi sự dự đoán Một câu hỏi

tự nhiên được đặt ra là tại sao Nhật Bản lại quá chậm trễ trong việc nhận thấy

tầm quan trọng của cuộc cách mạng công nghệ thông tin, trong khi các nhà

chế tác điện tử Nhật Bản luôn luôn là những người đi đầu về các loại công

nghệ thông tin khác nhau Một số nhà chỉ trích người Nhật Bản chỉ ra rằng

chính sách công nghệ thông tin của quốc gia trong quá khứ là hết sức bất hợp

Để trả lời câu hỏi này, người ta phải tìm ra những gì ở đằng sau Sáng

kiến IT mới mẻ này của Thủ tướng Chính phủ Nếu không trả lời được câu

hỏi đó thì sẽ không thể tìm được câu trả lời cho một loạt các câu hỏi khác:

Liệu trước đây Chính phủ Nhật Bản có sự nỗ lực nào không nhằm thúc đẩy

sự phát triển của công nghệ thông tin? Nếu có, tại sao Chính phủ lại thất bại?

Đó có phải là sự thất bại của một chính sách hay thất bại của điều gì khác?

Sau đó, đâu là cơ hội thành công của Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ

tướng Chính phủ? Ông ta có dự định tăng cường sự sẵn sàng chuẩn bị của

nền kinh tế cũng như xã hội như thế nào cho cuộc cách mạng kỹ thuật số?

* Tài liệu chuẩn bị cho Hội thảo "Các xu hướng và các vấn đề ở Đông á năm

Trang 8

Các nhà lãnh đạo Nhật Bản nhận thức như thế nào về sự thống trị của người

Mỹ trong nền kinh tế mới và thời đại phân cách kỹ thuật số?

Tài liệu này cố gắng làm rõ các vấn đề này, bằng việc đưa Sáng kiến

IT của Thủ tướng Chính phủ Mori vào khung cảnh lịch sử, nghiên cứu kỹ lưỡng mối quan hệ của nó với các nỗ lực tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế Nhật Bản Tuy nhiên, chúng ta phải luôn nhớ rằng một điều cực kỳ khó là phản

ánh một cách xúc tích các cuộc tranh cãi thường mâu thuẫn với nhau đang dấy lên mạnh mẽ, bởi vì sự phát triển phức tạp và nhanh chóng của công nghệ làm bối rối nhiều nhà quan sát Vì vậy, một số điều quan sát được thể hiện trong tài liệu này có tính chất suy đoán cao độ

Khởi xướng Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tướng Chính phủ Mori

Thủ tướng Chính phủ Mori đã thực sự nhanh chóng lựa chọn công nghệ thông tin là một tâm điểm quan trọng nhất duy nhất trong sáng kiến chính sách của mình khi cuộc tổng tuyển cử kết thúc vào tháng bẩy Điều này làm nhiều nhà quan sát ngạc nhiên, bởi vì từ lâu ông Mori đã được biết

đến như một nhà hoạch định chính sách giáo dục có kinh nghiệm nhưng lại thiếu kiến thức sâu rộng về công nghệ thông tin

Tuy nhiên, ngay từ đầu tháng bẩy, ông ta đã nhanh chóng ban hành một loạt các biện pháp nhằm chứng minh cho sáng kiến chính sách của mình Thứ nhất, ông ta chỉ định người trợ lý chính trị lâu dài của mình, Hidenao Nakagawa, Tổng thư ký Nội các mới, làm Bộ trưởng phụ trách chính sách Công nghệ thông tin Thủ tướng Chính phủ Mori đã lập ra Ban Chiến lược Công nghệ thông tin trực thuộc Văn phòng Thủ tướng, tự mình

đứng ra làm Trưởng ban và Phó ban là Tổng thư ký Nội các Các thành viên của Ban là các Bộ trưởng có quyền hạn liên quan đến các khía cạnh phát triển công nghệ thông tin, chẳng hạn như Bộ trưởng Viễn thông, Bộ trưởng Công nghiệp

Thủ tướng Chính phủ cũng thành lập Hội đồng Chiến lược Công nghệ thông tin dưới sự bảo trợ của Ban Chiến lược và mời các nhà lãnh đạo kinh doanh và các nhà khoa học chủ chốt tham gia vào Hội đồng nhằm bàn bạc kỹ lưỡng về các phương pháp tạo ra xã hội công nghệ thông tin phù hợp nhất với

đất nước Ông Nobuyuki Idei, Chủ tịch Công ty Sony đã được mời làm Chủ tịch Hội đồng Cụ thể hơn, Thủ tướng Chính phủ Mori đã yêu cầu Hội đồng phải xem xét các lĩnh vực sau đây

Trang 9

Thứ nhất là tiến hành các hoạt động giải điều tiết cần thiết nhằm thúc

đẩy sự phát triển của thương mại điện tử Thứ hai là tạo ra một chính phủ

điện tử có thể phục vụ trực tiếp giới kinh doanh và người tiêu dùng thông qua mạng Internet Thứ ba là tăng cường áp dụng công nghệ thông tin vào giáo dục Thứ tư là phát triển lĩnh vực viễn thông và các kết cấu hạ tầng cần thiết khác cho xã hội công nghệ thông tin trong tương lai Thứ năm là ban hành các quy định mới đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ thương mại điện tử trong các lĩnh vực như quyền sở hữu trí tuệ, bảo mật, các biện pháp an toàn

Hội đồng đã nhóm họp ba lần và đang được chờ đợi đưa ra một số đề nghị quan trọng vào cuối năm nay Hiện tại, có nguồn tin cho rằng Hội đồng

có thể vạch ra bốn nội dung chính dưới đây mà Nhật Bản cần phải đạt được

để đuổi kịp Mỹ trong vòng 5 năm

Thứ nhất là tạo ra một mạng bưu chính viễn thông tốc độ cao Thứ hai

là bãi bỏ các quy định lỗi thời có thể cản trở sự phát triển của thương mại

điện tử và ban hành các quy định điều tiết hợp lý quyền sở hữu trí tuệ Thứ

ba là tạo ra một chính phủ điện tử Thứ tư là tăng cường phát triển nguồn lực con người để đáp ứng các nhu cầu lớn hơn về chuyên gia công nghệ thông tin Thủ tướng Chính phủ Mori đã công khai hoá Sáng kiến để gắn toàn bộ những thay đổi cần thiết vào khuôn khổ luật pháp và đề nghị Sáng kiến như một Đạo luật Công nghệ thông tin cơ bản trước phiên họp thường kỳ đầu tiên của Quốc hội và đầu năm tới

Đồng thời, có vẻ như Thủ tướng Chính phủ Mori đã chớp mọi cơ hội nhằm đẩy mạnh chiến dịch công nghệ thông tin của mình Một thí dụ là chuyến thăm gần đây của ông ta tới ấn Độ, tại đó ông ta đã đi thăm Bangalore, thủ đô công nghệ thông tin của ấn Độ, và bàn bạc về khả năng hợp tác với Chính phủ ấn Độ trong lĩnh vực phát triển công nghệ thông tin Khả năng Nhật Bản nhập khẩu chuyên gia công nghệ thông tin từ ấn Độ

đang dồi dào nguồn cung là hoàn toàn có thật Thủ tướng Mori cũng tất bật

đến thăm một số doanh nghiệp công nghệ thông tin trong nước nhằm thể hiện quyết tâm của mình hướng tới cuộc cách mạng công nghệ thông tin Bằng các hoạt động đó, Thủ tướng Mori dường như đang thành công trong việc làm dấy lên sự quan tâm chưa từng thấy của giới kinh doanh cũng như những người tiêu dùng

Quả thực, Sáng kiến công nghệ thông tin của Thủ tướng Chính phủ

Trang 10

người ta có thể kết luận rằng lịch sử sẽ nhớ đến Thủ tướng Mori như một nhà lãnh đạo đã tạo ra một bước ngoặt trong lịch sử kinh tế của đất nước từ kỷ nguyên cách mạng công nghiệp sang kỷ nguyên cách mạng kỹ thuật số Sự thành công này đã được đảm bảo chưa? Chưa ai có câu trả lời Để đưa Sáng kiến của Thủ tướng Mori vào một triển vọng thích hợp, chúng ta cần phải nhìn lại quá khứ một chút

Các chính sách trước đây về công nghệ thông tin và những hạn chế của chúng

Thực tế trong một, hai thập kỷ qua, Chính phủ đã có một số nỗ lực nhằm nhận thức về một xã hội thông tin đang tới và thúc đẩy sự phát triển của các công nghệ thông tin phục vụ tốt hơn cho nền kinh tế và xã hội Động lực cấp bách đằng sau những nỗ lực này là tìm ra cách thức giành được một thị phần thích hợp trên thị trường toàn cầu cho xuất khẩu hoặc cho khu vực chế tác trước thực tế tiền lương đang tăng chưa từng thấy bắt đầu làm xói mòn tàn nhẫn khả năng cạnh tranh

Để đối phó với vấn đề này, hai sự lựa chọn đã được chấp nhận Một là hợp lý hoá các quá trình sản xuất và làm cho chúng có hiệu quả hơn về mặt chi phí Và một nữa là né tránh sự cạnh tranh đâm đầu vào nhau về giá cả với các nhà sản xuất có chi phí thấp ở nước ngoài bằng cách tạo ra đặc trưng riêng biệt cho các sản phẩm với chất lượng cao hơn Người ta sợ rằng sự loại trừ các ngành công nghiệp cứ như sắp xảy ra đến nơi Đã có sự thừa nhận rộng rãi rằng công nghệ thông tin sẽ là phương tiện để thực hiện quá trình hợp lý hoá cũng như làm cho sản phẩm trở nên tinh xảo

Chúng ta cần phải nhớ lại một trong những cuộc tranh luận nổi bật trong những năm 1980 Cái mà ngày nay chúng ta gọi là công nghệ thông tin thời đó được quan niệm là những tiến bộ trong kỹ thuật tự động Người ta tiên đoán rằng kỹ thuật tự động sẽ mở rộng phạm vi áp dụng máy tính vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế đang tăng nhanh chưa từng thấy Kỹ thuật tự

động hoá theo từng quá trình bắt đầu được áp dụng trong các nhà máy hoá chất và sau đó là trong các nhà máy chế tác khác như sắt thép, xi măng và các nhà máy vật liệu cơ bản khác

Sau đó là tiến đến tự động hoá cả nhà máy Nó đã làm thay đổi một cách triệt để hình thái của các nhà máy lắp ráp, chẳng hạn như các nhà máy lắp ráp ô tô và lắp ráp điện tử Đặc biệt, việc sử dụng rộng rãi các dụng cụ cơ khí NC đã được coi như yếu tố quyết định làm thay đổi bản chất của các ngành công nghiệp này từ sự phụ thuộc cao độ vào một đội ngũ đông đảo các

Trang 11

công nhân có kỹ năng sang dựa vào các máy tính đã được tiêu chuẩn hoá trên cơ sở từng công đoạn sản xuất Người máy đã thay thế hầu hết các công đoạn sản xuất bằng tay trong xưởng Đồng thời, kỹ thuật tự động cũng đã bắt đầu nhận chìm một số bộ phận các hoạt động hậu cần, chẳng hạn như kho hàng

và các hệ thống phân phối

Giai đoạn thứ ba của tự động hoá là các thiết bị điện tử thông minh và

tự động hoá văn phòng Cả hai đã tiến bộ đáng kể vào cuối những năm 1980 Một số thiết bị điện tử đã bắt đầu tự trang bị các bộ vi xử lý có tác dụng điều khiển cách thức hoạt động của chúng Nhiều thiết bị điện tử dễ sử dụng và dễ

điều khiển bằng tay như máy giặt thông minh, máy ảnh tiêu điểm tự động, tủ lạnh không đọng nước đã được sản xuất ra Hơn nữa, hệ thống điều khiển microchip đã bắt đầu được lắp đặt chủ yếu trên các ô tô, nó đã trở nên dễ vận hành hơn trước rất nhiều

Bên cạnh đó, các thiết bị điện thông minh đã làm tăng nhanh chóng khả năng làm được nhiều công việc đến mức thường xuyên làm bối rối người tiêu dùng, chẳng hạn như các thiết bị ngoại vi điều khiển từ xa kèm theo đầu máy video, tivi, rađiô

Kết quả là việc sử dụng rộng rãi máy tính đã bắt đầu làm thay đổi bài trí của các văn phòng và cách thức làm việc của chúng Mọi văn phòng bắt

đầu được trang bị nhiều dàn máy tính hơn và các bộ xử lý từ ngữ tiếng Nhật Bản Người ta tin rằng những thiết bị mới này thực sự sẽ cách mạng hoá phương thức hoạt động trong các ngành dịch vụ Đồng thời, trong một công

ty cũng như trong một nhóm các công ty, một mạng máy tính kết nối với nhau đã bắt đầu lan rộng thông qua các đường dây thuê bao phục vụ cho các công việc nội bộ Một số ngành dịch vụ như dịch vụ tài chính, giao thông vận tải, bán lẻ, v.v đã bắt đầu đầu tư ồ ạt vào các hệ thống xử lý thông tin

Có một sự đồng thuận giữa các chuyên gia rằng công nghệ thông tin

sẽ phát triển mạnh mẽ và đưa nền kinh tế vào một giai đoạn phát triển công nghệ và công nghiệp mới cơ bản trong những năm tới Cùng với quá trình này, thí dụ, các chuyên gia đã bắt đầu bàn đến sự xuất hiện của kỹ thuật tự

động tại nhà như là giai đoạn cuối cùng của việc áp dụng máy tính vào đời sống xã hội Giai đoạn đó bắt đầu với hệ thống an toàn tại nhà và được dự

đoán sớm muộn cũng bao gồm việc mua bán tại nhà cũng như một hệ thống

điều khiển trung tâm cho các thiết bị điện tại nhà Để hoàn thành giai đoạn

đó, ngay từ cuối những năm 1980, xã hội thông tin đã tự thiết lập như một khái niệm then chốt để mô tả hình hài của nền kinh tế trong tương lai

Trang 12

Các nhà hoạch định chính sách đã dành sự chú ý đến tiềm năng to lớn của công nghệ máy tính Năm 1994, tức là chỉ một năm sau khi Chính phủ

Mỹ ban hành chương trình nghị sự xây dựng Kết cấu hạ tầng Thông tin Quốc gia, Chính phủ Nhật Bản đã thành lập Ban Xúc tiến Xã hội Thông tin và Viễn thông tiên tiến trực thuộc Văn phòng Thủ tướng Chính phủ Năm 1995, sau một vài tháng cơ quan cố vấn bàn bạc kỹ lưỡng, Ban Xúc tiến đã thông qua

Bộ Hướng dẫn cơ bản

Bộ Hướng dẫn cơ bản đã liệt kê các mục tiêu cần phát triển các chính sách chủ động dưới đây Thứ nhất là tăng cường áp dụng công nghệ thông tin vào các dịch vụ công Thứ hai là sửa đổi các quy định để điều tiết các hoạt

động trao đổi văn bản thông qua truyền dữ liệu điện tử Thứ ba là phát triển kết cấu hạ tầng mạng Thứ tư là sửa đổi các luật về bản quyền để phù hợp với môi trường công nghệ thông tin Thứ năm là thiết lập các hệ thống an toàn cần thiết và các biện pháp bảo mật Thứ sáu là đảm bảo một sự vận hành liên thông giữa các cách thức khác nhau của các hệ thống công nghệ thông tin Thứ bẩy là khuyến khích sự phát triển phần mềm Thứ tám là thúc đẩy các chương trình nghiên cứu và triển khai cơ bản liên quan đến công nghệ thông tin Thứ chín là đào tạo thêm nhân lực công nghệ thông tin

Dựa vào Bộ Hướng dẫn này, các bộ phụ trách các lĩnh vực tương ứng

và một số cơ quan cố vấn hữu quan đã có những cuộc bàn bạc kỹ lưỡng hơn

Điều đó dẫn đến việc xem xét lại Bộ Hướng dẫn vào năm 1998 và hình thành một Kế hoạch hành động được Chính phủ ban hành vào năm 1999 Kế hoạch hành động này nhấn mạnh vào các lĩnh vực đòi hỏi các hành động chính sách tập trung sau đây Thứ nhất là ban hành một hệ thống các quy định nhằm

điều tiết hợp lý thương mại điện tử Thứ hai là tăng cường mạnh hơn nữa việc

áp dụng công nghệ thông tin vào các dịch vụ công Thứ ba là tăng cường giáo dục về công nghệ thông tin Cuối cùng là củng cố một hệ thống các quy

định nhằm khuyến khích các hoạt động mạng lưới công nghệ thông tin

Người ta không thể tránh khỏi có đôi chút ấn tượng khi xem xét kỹ lưỡng công việc này của Chính phủ nhằm khuyến khích sự phát triển công nghệ thông tin Thứ nhất, những nỗ lực do Ban Xúc tiến Xã hội Thông tin và Viễn thông tiên tiến thực hiện là rất bao quát và công phu bao gồm hầu hết các lĩnh vực mà hiện nay chúng ta thừa nhận là mang tính quyết định đối với

sự phát triển công nghệ thông tin và mạng lưới của nó

Thứ hai, tuy nhiên, dường như Chính phủ đã bỏ ra nhiều năm để hợp nhất những cân nhắc kỹ lưỡng vào các kế hoạch hành động cụ thể, thực tế nó

Trang 13

diễn ra chậm chạp Đương nhiên, cho tới gần đây, sự thực hiện các kế hoạch hành động là khó được bắt đầu Người ta nghi ngờ rằng sự trì hoãn này có thể giải thích một phần các lý do tại sao Nhật Bản lại bị gạt ra ngoài trong cuộc cạnh tranh nhằm khuyến khích phát triển công nghệ thông tin

Trong mọi trường hợp, Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tướng Mori, không lẫn vào đâu được, vẫn là một loại mở rộng cố gắng trước đây, và không phải là một nỗ lực tình cờ do ngẫu hứng Thực tế, Ban Xúc tiến Xã hội Thông tin và Viễn thông tiên tiến đã tiếp tục tồn tại cho đến khi nó bị thay thế bởi Ban Công nghệ thông tin của Thủ tướng Chính phủ Mori Hơn nữa, thực tế là cựu Thủ tướng Chính phủ Keizo Obuchi lần đầu tiên đã cố gắng tái tập trung vào phát triển công nghệ thông tin

Trong Dự án Thiên niên kỷ mà Thủ tướng Obuchi đưa ra với một sự phô trương ầm ỹ vào cuối năm 1999, ông ta đã chọn phát triển công nghệ thông tin là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế dài hạn, cùng với hai lĩnh vực khác, đó là chuẩn bị cho một xã hội lớn tuổi và bảo vệ môi trường Thủ tướng Obuchi giải thích mục tiêu của phát triển công nghệ thông tin là đến năm 2005 tạo ra một xã hội trong đó mọi người có thể

sử dụng các dịch vụ Internet và thu thập, xử lý và gửi thông tin một cách tự

do tuỳ ý Mục tiêu này tương tự với mục tiêu mà Thủ tướng Mori đã đưa ra trong Sáng kiến Công nghệ thông tin hiện hành của mình

Sáng kiến Công nghệ thông tin và những tranh luận về chính sách tài khoá

Một loạt các câu hỏi phát sinh một cách tự nhiên Trong khi Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tướng Mori đã có những tiền bối trong quá khứ, vậy thì Sáng kiến của ông ta có gì mới? Nó khác biệt như thế nào so với sáng kiến của Obuchi và các sáng kiến khác trong những năm 1990? Chúng

ta phải làm sáng tỏ như thế nào tầm quan trọng của Sáng kiến của Thủ tướng Mori trong bối cảnh lịch sử hiện nay?

Tôi tin rằng Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tướng Chính phủ Mori là quan trọng ở một đôi khía cạnh Thứ nhất, nó được chờ đợi đóng một vai trò quan trọng trong giai đoạn tranh luận về chính sách kinh tế hiện nay Như được biết tới một cách rộng rãi, chính sách kinh tế vẫn là lĩnh vực chính sách số một của quốc gia vượt xa các lĩnh vực khác, khi nền kinh tế Nhật Bản đang ở thời điểm quan trọng để cho thấy nó có thể tạo ra một sự hồi phục vững chắc hay không

Trang 14

Một mặt, Đảng LPD lập luận rằng vẫn là quá sớm để kết thúc đột ngột

sự kích thích tài khoá kiểu Keynes Họ không muốn làm bất cứ việc gì có thể phá vỡ điều mà họ cho là một quá trình hồi phục mỏng manh dễ vỡ Mặc khác, các Đảng viên Đảng Dân chủ quả quyết rằng đã đến lúc Chính phải giải quyết trực tiếp các vấn đề thâm hụt tài khoá đang gia tăng Nếu không

có kế hoạch giảm thâm hụt tài khoá có sức thuyết phục trong những năm tới,

họ quả quyết rằng sự hồi phục sẽ không vững chắc

Nhìn lại một vài năm trước đây, sự tranh luận giữa các nhà hoạch định chính sách kinh tế quốc gia luôn luôn là tranh luận giữa những người nhấn mạnh quản lý khủng hoảng và những người ủng hộ cải cách cơ cấu Một tình thế lưỡng nan là cải cách cơ cấu lại thường có tác động tiêu cực ngắn hạn tới

sự hồi phục kinh tế Hãy xem xét đến sự giải điều tiết, giải điều tiết được thực hiện với mục đích bãi bỏ một số sự bảo hộ trong nước của Chính phủ

đối với một ngành dịch vụ không hiệu quả cụ thể Giải điều tiết sẽ giúp cho việc từng bước hợp lý hoá ngành đó và làm cho nó có hiệu quả thông qua cạnh tranh gay gắt

Tuy nhiên, quá trình hợp lý hoá có thể dẫn đến sa thải hàng loạt công nhân dôi dư Điều này có thể làm yếu đà hồi phục cho đến khi những công nhân này được tuyển dụng lại trong ngành nào đó và trở lại sản xuất

Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách có lý do để trước tiên ưa thích một sự ổn định nhanh chóng hơn, sau đó mới giải quyết các vấn đề dài hạn, khi nguy cơ trực tiếp đã không còn Điều này đặc biệt đúng khi sự suy thoái diễn ra hết sức trầm trọng Đồng thời, tuy nhiên, một điều cũng đúng là nền kinh tế sớm hay muộn sẽ mất đi tính năng động nếu không tiến hành cải cách cơ cấu Một sự hồi phục kinh tế theo chu kỳ là hoàn toàn khác so với một sự gia tăng tiềm năng tăng trưởng dài hạn, nó chỉ có thể được thúc đẩy bởi cải cách cơ cấu thích hợp Mặt khác, một loạt các chính sách theo Keynes quá mức có xu hướng kết thúc với sự lạm phát đình đốn tại cuối mỗi chu kỳ kinh tế

Chúng ta phải nhớ rằng cựu Thủ tướng Chính phủ Ryutaro Hashimoto

đã hoàn toàn thất bại trên mặt trận này Trước dấu hiệu hồi phục đang tăng lên năm 1995, Thủ tướng Hashimoto đã đưa ra một sáng kiến củng cố tài khoá táo bạo và tăng thuế tiêu dùng từ 3% lên 5% và bãi bỏ sự miễn thuế thu nhập đặc biệt khi chỉ mới bắt đầu được áp dụng từ một hai năm trước đó

Rõ ràng, ý định của cựu Thủ tướng Hashimoto là tiếp tục giải quyết một trong những vấn đề cơ cấu không thể tránh khỏi, đó là vấn đề thâm hụt

Trang 15

tài khoá lớn gây đe doạ cho nền kinh tế ngay sau khi thoát khỏi suy thoái Như được biết đến một cách rộng rãi, quyết định của ông ta thật khờ dại và

đã đưa Nhật Bản đến bờ của một sự sụp đổ kinh tế tổng thể cũng như sự đổ

vỡ của thị trường tài chính năm 1997

Vì lý do này, không có gì ngạc nhiên khi cựu Thủ tướng Obuchi đã chú tâm dồn những nỗ lực của mình vào quản lý khủng hoảng Người ta cho rằng ông ta nghĩ là không thể nào vừa quản lý khủng hoảng vừa tiến hành cải cách cơ cấu trong cùng một lúc Ông ta đã làm hai việc Thứ nhất là một chương trình tái vốn hoá ồ ạt trong khu vực ngân hàng Thứ hai là tăng đáng

kể chi tiêu của chính phủ, đặc biệt là trong khu vực các dự án công trình công cộng, cho dù có những chỉ trích dữ dội

Người ta có thể chỉ ra rằng một số trong những hoạt động chính sách của ông ta là nhằm vào cải cách cơ cấu Không ai phủ nhận điều này Tuy nhiên, theo tôi, dường như Thủ tướng Obuchi đã bắt tay vào từng phần của cải cách cơ cấu khi ông ta tin rằng chúng có thể được thực hiện nhanh chóng

và hứa hẹn có một sự tác động ngay tức khắc và tích cực đến sự hồi phục Mặt khác, ông ta hầu như làm ngơ trước nhiều đề nghị về cải cách cơ cấu

được đưa ra

Trớ trêu thay, khi ông ta đã thành công trong việc cứu vãn nền kinh tế,

nó bắt đầu tỏ ra khoẻ lên vào năm 1999, thì sự thiếu tập trung vào cải cách cơ cấu đã dần dần trở thành một vấn đề tiềm tàng Dấu hiệu đầu tiên của tình trạng rối loại nổi lên tại thị trường trái phiếu Năm 1999, số lượng trái phiếu dài hạn theo chuẩn JGB đã tăng lên gấp đôi do có sự lo ngại rằng mức thâm hụt tài khoá không thể chịu đựng nổi Những phản ứng của thị trường trái phiếu này đã làm cho Đảng LDP lo sợ Họ từng bước nhận thấy rõ ràng rằng việc thiếu vắng cải cách cơ cấu có thể phá huỷ tiến trình hồi phục

Thủ tướng Chính phủ Obuchi đã hiểu được tình thế lưỡng nan giữa quản lý khủng hoảng và cải cách cơ cấu, ông ta cho rằng điều đó là không thể tránh khỏi Ông ta đã cho thành lập một số hội đồng cố vấn nhằm thảo luận về các lựa chọn chiến lược kinh tế dài hạn và các đề nghị đáng tin cậy Một số nhà chỉ trích tỏ ý hoài nghi khi cho rằng các đề nghị đã bị quên ngay lập tức sau khi chúng được đưa ra Tuy nhiên, cũng có một dấu hiệu chắc chắn chỉ rõ rằng Thủ tướng Obuchi đã xem xét một loạt các ý kiến mong muốn cải cách cơ cấu và lựa chọn thời điểm dịch chuyển chính sách từ quản

lý khủng hoảng đến cải cách cơ cấu

Trang 16

Về các đề nghị khác, Hội đồng Kinh tế Chiến lược, một trong các cơ quan cố vấn của Thủ tướng Obuchi, đã đề nghị thiết lập 5 mục tiêu sau đây Thứ nhất là xây dựng lại một chính phủ nhỏ gọn và hiệu quả và đề ra một kế hoạch giảm thâm hụt tài khoá đáng tin cậy Thứ hai là tạo ra một môi trường lành mạnh và cạnh tranh thông qua giải điều tiết, do đó vực dậy sự năng

động của khu vực tư nhân, và xây dựng một mạng lưới an toàn xã hội thích hợp Thứ ba là khôi phục thị trường tài chính đáp ứng tiêu chuẩn toàn cầu Thứ tư là kích thích các khu vực công nghiệp chiến lược Thứ năm là thiết lập kết cấu hạ tầng mới Đề nghị này là tương đối toàn diện nhưng Thủ tướng Obuchi đã không coi nó là các đường lối chính sách chính thức của mình

Sau đó, vào khoảng cuối năm 1999, Thủ tướng Chính phủ Obuchi đã bàn đến Dự án Thiên niên kỷ, coi đó là sáng kiến của chính mình Dự án đã

đề cập đến ba lĩnh vực đòi hỏi phải có sự tập trung về chính sách nhằm chuẩn bị nền kinh tế và xã hội cho thế kỷ 21 Thứ nhất là khuyến khích phát triển công nghệ thông tin Thứ hai là làm cho xã hội sẵn sàng trước tình trạng dân số già Công nghệ sinh học và cải cách phúc lợi xã hội đã được đề cập

đến Thứ ba là tìm kiếm sự phát triển bền vững, giải quyết thoả đáng mối quan ngại về môi trường Việc phát triển của các pin nhiên liệu và một hệ thống phát điện phân tán đã được đề cập đến

Có thể là công bằng khi nói rằng Thủ tướng Obuchi đã dự định làm cho sáng kiến của mình về cải cách cơ cấu tập trung rõ ràng hơn so với báo cáo của Hội đồng Kinh tế Chiến lược, và ông ta đã hướng sự chú ý của quốc gia vào các triển vọng sáng sủa trong tương lai hơn là triển vọng ảm đạm và công việc khó khăn là giải quyết các vấn đề cũ

Nhân dịp ủng hộ cho cuộc tổng tuyển cử vào tháng 7 năm nay, Thủ tướng Obuchi đã ban hành "Gói hồi sinh kinh tế," về bản chất gần giống với

Dự án Thiên niên kỷ Gói hồi sinh kinh tế có 5 cột trụ: 1/ Cải cách kinh tế với sự tập trung mạnh mẽ vào chính sách tài khoá có trách nhiệm, phát triển công nghệ thông tin và giải điều tiết; 2/ Cải cách phúc lợi xã hội và thị trường lao động phục vụ tốt nhất xã hội cao tuổi; 3/ Cải cách giáo dục; 4/ Cải cách chính phủ; và 5/ Đổi mới, nâng cấp đô thị Tuy nhiên, ngay sau đó, ông

ta đã xác định Sáng kiến Công nghệ thông tin là khu vực ưu tiên quan trọng nhất duy nhất

Hàng loạt các sự kiện này cho thấy rằng đó là thời điểm chín muồi cho việc ban hành Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tướng Mori Thứ nhất, dân chúng đã có thời gian để suy nghĩ về tầm quan trọng của cuộc cách

Trang 17

mạng công nghệ thông tin Thứ hai, tâm điểm của sự tranh luận về chính sách kinh tế đã chuyển một cách tinh tế từ quản lý khủng hoảng sang cải cách cơ cấu khi đà hồi phục tiến triển Thứ ba, các nhà lãnh đạo chính trị đã

có lúc tìm kiếm một sự kỳ diệu có thể dẫn đến thành công của quốc gia, nhất

là khi tiến trình hồi phục vẫn thiếu cái đà nào đó

Nói cách khác, Đảng LDP muốn làm cho thị trường tin rằng Chính phủ có một định hướng rõ ràng mong muốn cải cách cơ cấu cũng như tái phân bổ nguồn lực tài khoá Điều ngụ ý ở đây là tiền đóng thuế sẽ được sử dụng một cách sáng suốt nhằm cải thiện môi trường đầu tư của quốc gia cùng với phát triển công nghệ thông tin Nếu không thì sớm muộn họ sẽ phải

đối mặt với khủng hoảng thị trường trái phiếu

Do vậy, người ta có thể nói rằng Thủ tướng Chính phủ Mori là một

"người hưởng khống" sự đồng thuận về chính sách mà cựu Thủ tướng Obuchi

đã xây dựng một cách cẩn thận Chắc chắn sẽ không có gì mâu thuẫn khi gọi Thủ tướng Mori là một nhà lãnh đạo của đồng thuận Dường như ông ta hành

động một cách tỉnh táo như vậy trong chừng mực Sáng kiến Công nghệ thông tin được quan tâm đến

Nhân dịp này, người ta nghi ngờ rằng công nghệ sinh học và sự phát triển năng lượng mới đã không được đưa vào các phương cách thực thi chính sách, bởi vì những tác động ngay tức thì của những phát triển đó vẫn ở mức hạn chế Hơn nữa, đáng phải chú ý rằng công nghệ thông tin là một thứ khuôn sáo hấp dẫn đối với những người thành thị, họ tin rằng chính họ là nạn nhân của các biện pháp bảo hộ trước đây của chính phủ trong khu vực dịch

vụ không hiệu quả Trong thực tế, người Tôkyô đã bỏ phiếu cho hầu hết các ứng cử viên Đảng LDP không ở Tôkyô vào Thượng viện trước đây cũng như trong các cuộc tổng tuyển cử gần đây

Một cuộc sát hạch về sự lãnh đạo chính trị vững mạnh

Có một khía cạnh quan trọng khác trong Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tướng Chính phủ Mori Người ta phải thực hiện một công việc cấp bách là xác định lại mối quan hệ giữa khả năng lãnh đạo chính trị và bộ máy chính quyền Những người ủng hộ cải cách cơ cấu đã nhiều năm tranh luận rằng Nhật Bản phải có một chính phủ trong sạch và một sự lãnh đạo chính trị vững mạnh Họ lập luận rằng sự thất bại lớn của hệ thống Nhật Bản

có nguồn gốc sâu xa từ bộ máy công quyền quan liêu quá cồng kềnh không

có khả năng tạo ra bất kỳ sự thay đổi chính sách táo bạo nào, bởi vì họ tự

Trang 18

Một số nhà chỉ trích cũng cho rằng nội các nghị viện là một công thức

tự nhiên dẫn đến khả năng lãnh đạo yếu kém của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là so với hệ thống Tổng thống của Mỹ Có sự đồng thuận nổi lên cho rằng công việc cấp bách là các nhà lãnh đạo chính trị phải thuần hoá cái bộ máy quan liêu để có thể bắt tay vào cải cách cơ cấu một cách táo bạo

Các nhà chính trị không bị đui trước sự chỉ trích này Đặc biệt, rõ ràng

là các nhà chính trị sẽ phải đánh giá lại sự lãnh đạo của mình khi cuộc khủng hoảng tài chính đã tàn phá đất nước trong năm 1997 và 1998 Một điều hiển nhiên là các quan chức chính phủ đã không thể kiểm soát được cuộc khủng hoảng đó một cách hợp lý Sắc lệnh về tái xuất vốn tài chính năm 1998 là trường hợp đầu tiên trong nhiều năm các nhà làm luật đã tự viết ra một sắc lệnh

Kể từ thời gian đó, cải cách chính phủ đã trở thành một bộ phận quan trọng của tất cả các đề nghị cải cách cơ cấu Chính cựu Thủ tướng Hashimoto đã tiến hành một bước quyết định năm 1996 tổ chức lại các bộ và các cơ quan chính phủ khác và ban hành một kế hoạch nhằm tăng cường các chức năng phối hợp của Văn phòng Thủ tướng

Chúng ta nên nhớ rằng việc tổ chức lại chính phủ chuẩn bị được thực hiện vào tháng 1/2001 Số bộ sẽ được giảm từ 22 xuống còn 12 bộ Thí dụ,

Bộ Viễn thông, Bộ Nội vụ và Cơ quan Quản lý và Phối hợp sẽ sáp nhập với nhau Bộ Giáo dục sẽ hợp nhất với Cơ quan Khoa học và Công nghệ, Bộ Phúc lợi hợp nhất với Bộ Lao động Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây dựng và hai cơ quan khác sẽ hợp thành một bộ Hơn nữa, Văn phòng Thủ tướng Chính phủ gần như sẽ được xây dựng lại thành Văn phòng Nội các với các cơ quan phối hợp có quyền lực lớn, như Hội đồng các Chính sách Kinh tế và Tài chính, Hội đồng Nghệ thuật- Khoa học và Công nghệ và những cơ quan khác nữa Nhân dịp này, Bộ Tài chính sẽ được đổi tên thành Bộ Ngân khố với quyền hạn hẹp hơn nhiều so với trước đây

Mục tiêu nói trên về cải cách chính phủ có 4 phần: 1/ Thiết lập một sự lãnh đạo chính trị vững mạnh thông qua các quá trình hoạch định và thực hiện chính sách; 2/ Giảm thiểu những thất bại trong việc phối hợp giữa các

bộ mà các quyền pháp lý còn quá chắp vá; 3/ Tăng cường tính giải trình trách nhiệm của các bộ, các cơ quan và các thể chế công khác; và 4/ Gia công một chính phủ gọn nhẹ thông qua việc tạo nguồn từ bên ngoài và các biện pháp khác

Trang 19

Tất cả các mục tiêu này hàm ý rằng năm 2001 sẽ là năm đầu tiên dưới khung khổ chính phủ mới Đương nhiên, Đảng LDP có mọi động cơ để chứng minh rằng năm đầu tiên này sẽ là một năm thành công về lãnh đạo chính trị Đặc biệt là trong năm LDP phải đối mặt với một cuộc bầu cử Nghị viện Nhân dịp này, LDP sẽ không phải lo đối phó với cuộc tổng tuyển cử trong 3 năm tiếp theo nếu LDP và các liên minh của mình đảm bảo được một chiến thắng trong năm 2001

Nói cách khác, LDP bắt tay vào thực hiện Sáng kiến Công nghệ thông tin như một cuộc xét nghiệm nhằm thể hiện một sự lãnh đạo có hiệu quả của Văn phòng Nội các mới Sự thành công chưa được bảo đảm và người ta vẫn phải xem xét xem Thủ tướng Chính phủ Mori có thể đáp ứng được niềm mong đợi như thế nào Một tỷ lệ dân chúng rất thấp ưa thích Nội các Mori hiện nay đủ gây ra sự lo ngại Tuy nhiên, có một cơ hội thành công Trong quá trình tái tổ chức, mỗi bộ bị mất đi phần nào sự thống nhất của mình và không chắc chắn về mảnh đất riêng mà mình muốn giữ lại Do vậy, có thể là

sự chống lại những thay đổi của các công chức sẽ yếu hơn nhiều so với trước

đây nếu các nhà chính trị có thể giải thích được những giải pháp của mình

Người ta có thể nói rằng Luật cơ bản về Công nghệ thông tin là một gói thông minh Bất kỳ bộ nào cũng không thích sự chỉ trích phản đối các thay đổi cụ thể về luật lệ sẽ phá vỡ toàn bộ cả gói Hơn nữa, việc thực hiện quan hệ với công chúng của Thủ tướng Mori về Sáng kiến Công nghệ thông tin có vẻ dần đi đến thành công trong việc sắp đặt những ý kiến của công chúng, khiến cho nếu ai đó phản đối Sáng kiến Công nghệ thông tin thì có thể bị lên án Nói tóm tắt, sự tái tổ chức chính phủ dường như đang tạo ra một cơ hội vàng cho các nhà lãnh đạo chính trị cố gắng luật hoá một cuộc cải cách táo bạo

Sự hồ hởi của các doanh nghiệp trước công nghệ thông tin

Một ưu điểm khác của Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tướng Mori là nó khớp với quan điểm của các nhà kinh doanh khu vực tư nhân Cho tới gần đây, công việc quản lý quan trọng nhất duy nhất của giới kinh doanh Nhật Bản là tiến hành hợp lý hoá và tái cơ cấu để đảm bảo sự sống còn Sự

mở rộng và xuất hiện mới của các hoạt động kinh doanh hiện nay là hoàn toàn không có gì phải nghi ngờ, miễn là chúng có thể đảm bảo thu lại lợi nhuận nhanh chóng

Thời kỳ khủng hoảng này dường như đang ở đằng sau hầu hết các

Trang 20

năm trước đó đã bắt đầu góp phần rõ rệt làm tăng lợi nhuận trên vốn và lợi nhuận cận biên, ngoại trừ một số ngành có vấn đề Không ai phủ nhận rằng

nỗ lực đó có một tác động tiêu cực Thu nhập của công nhân tăng thấp dẫn

đến sự thiếu hụt đột ngột trong tiên dùng làm hạn chế tiến trình hồi phục hiện nay Tuy nhiên, triển vọng thu được lợi nhuận sáng sủa hơn là một nhân

tố chính nhằm khôi phục lòng tin của giới kinh doanh Sự tăng lên của luồng tiền mặt tự do đang cung cấp cho các nhà kinh doanh những nguồn vốn đầu tư mới

Điều luôn luôn đúng là đầu tư vốn là một dấu hiệu cho thấy sự cam kết của giới kinh doanh trước tiềm năng lâu dài Bất kỳ nhà kinh doanh nào đều cần có triển vọng tốt đẹp trong tương lai trước khi đưa ra những cam kết Nói cách khác, các nhà kinh doanh đã bắt đầu quan tâm bàn bạc đến các cơ hội trong tương lai Sự kỳ vọng của họ vào Chính phủ cũng bắt đầu thay đổi một cách nhạy cảm từ ổn định hoá nền kinh tế rối loạn đến việc thực hiện các bước tiến lên phía trước nhằm chuẩn bị cho tương lai Không có gì là ngạc nhiên khi Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tướng Mori được hoan nghênh hồ hởi

Đồng thời, các nhà kinh doanh cũng biết rõ rằng sự phát triển chậm chạp của công nghệ thông tin trong khu vực tư nhân trong những năm 1980

và 1990 chẳng qua là một sản phẩm của một bộ máy chính phủ quan liêu và bất ổn định không phối hợp được các lợi ích xung đột của các tập đoàn công nghiệp cạnh tranh với nhau, và không tạo ra được một môi trường pháp lý mới Vì lý do này, các tập đoàn công nghiệp này dường như đã hiểu rõ giá trị của một khả năng lãnh đạo nhằm phá vỡ tảng băng

Hơn nữa, các doanh nghiệp lớn liên quan đến công nghệ thông tin

đang thu lợi nhiều hơn từ sự khôi phục kinh tế hiện nay Thứ nhất, xuất khẩu các sản phẩm liên quan đến công nghệ thông tin sang Mỹ đang tiếp tục tăng Thứ hai, sự tăng trưởng nhanh rõ rệt của các nền kinh tế châu á khác cũng

được dẫn dắt bởi xuất khẩu công nghệ thông tin sang Mỹ Chúng ta nên nhớ rằng các nhà máy mới mà các công ty đa quốc gia Nhật Bản xây dựng ngay trước khi cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra đang thu lợi nhiều từ sự bùng

nổ xuất khẩu hiện nay

Tất cả những thay đổi thuận lợi đó trên thị trường quốc tế đã hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn liên quan đến công nghệ thông tin của Nhật Bản và làm cho họ có một tư tưởng hướng lên phía trước May mắn nhờ vào sự tăng lên của luồng tiền mặt tự do, hiện họ đang quyết tâm làm mọi việc để đuổi

Trang 21

kịp các đối tác Hoa Kỳ bất cứ khi nào có thể Một điều có thực là vào một thời điểm nào đó năm 1999, một cái bong bóng Internet đã xuất hiện ở Nhật Bản, nó đã làm đổ bể và phá sản một số doanh nghiệp Nhật Bản yếu kém trong năm 2000 Nhưng sự cố này dường như đã không cản trở được các doanh nghiệp liên quan đến công nghệ thông tin thử thách với các cơ hội mới

Xem xét lại những tính toán sai lạc trong những năm 1990

Tựu trung lại, sẽ là phi thực tế nếu đổ lỗi rằng sự đình trệ của nền kinh

tế trong những năm 1990 cũng như sức ỳ của Chính phủ là nguyên nhân duy nhất làm cho Nhật Bản bị tụt lại xa phía sau Mỹ trong phát triển công nghệ thông tin Chắc chắn, dường như có một số tính toán sai lạc về phía các nhà lãnh đạo Chính phủ Nhật Bản cũng như các nhà lãnh đạo kinh doanh Rõ ràng là họ đã không nhận thấy những tiềm năng của Internet và máy tính cá nhân đang được sử dụng mạnh mẽ tại Mỹ trong cuối những năm 1990

Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã không biết trước được rằng máy vi tính

sẽ trở thành một nền tảng chung cho những ai sử dụng công nghệ thông tin

Họ nghĩ rằng việc sử dụng máy tính tiếp tục bó hẹp trong các doanh nghiệp

và chỉ một phần nhỏ được các cá nhân sử dụng Vì sự tính toán này, các nhà kinh doanh Nhật Bản đã không dành nhiều nguồn lực cho phát triển các hệ

điều hành (OS) cũng như máy tính cá nhân Một số cuộc thí nghiệm ngập ngừng về giao diện liên lạc kiểu cả gói đã được thực hiện đối với những người sử dụng máy tính, nhưng đã không tiến triển được xa

Vậy, sai lầm hiển nhiên mang tính thiển cận này của các nhà lãnh đạo Nhật Bản bắt nguồn từ đâu? Không có một câu trả lời đồng nhất nào Nhưng một câu trả lời có tính chất tư biện có thể là khả năng phán đoán ban đầu của

họ phần lớn bị tác động bởi các điều kiện thị trường khác thường của Nhật Bản Tôi xin đề cập đến một cuộc tranh luận điển hình trong thời gian đó để làm rõ thêm vấn đề này

Người ta cho rằng cần phải có thời gian để vượt qua những rào cản do ngôn ngữ tiếng Nhật gây ra ảnh hưởng đến việc sử dụng rộng rãi máy vi tính trong đời sống thường nhật Các bàn phím chỉ được một bộ phận nhỏ dân số

sử dụng, họ tự coi mình như các cán bộ kỹ thuật đã qua đào tạo Để chứng minh điều này, các máy xử lý từ ngữ tiếng Nhật chuyên dụng đã được phát triển và đã thống trị thị trường trong một thời gian Mặt khác, các máy tính cá nhân thông dụng đã chậm được phổ biến tới các văn phòng và từng gia

Trang 22

Do đó, các công ty công nghệ thông tin Nhật Bản đã tập trung nhiều hơn vào việc khám phá các công dụng tiên tiến của máy tính được sử dụng chuyên dụng trong công nghiệp Những máy tính này có xu hướng có cấu hình lớn hoặc ít nhất cũng bằng máy tính văn phòng, trong khi các thiết bị ngoại vi nối mạng của chúng được nối qua các văn phòng trước của nhiều ngành công nghiệp Văn phòng sau của mọi chi nhánh ngân hàng đã bắt đầu

được sử dụng như một phòng thiết bị ngoại vi trực tuyến trên mạng Tuy nhiên, nhiều văn bản và tài liệu vẫn tiếp tục được thực hiện bằng tay hoặc bằng các máy xử lý tiếng Nhật riêng rẽ và ít khi được nối với máy tính

Các mạng viễn thông nối giữa các máy tính đã phát triển một cách khá tách biệt với sự phát triển của mạng Internet Nó đã phát triển dưới các hình thức lắp đặt nhiều đường dây thuê bao, trước tiên là giữa các máy tính trong một cơ quan và sau đó là giữa các máy tính của nhiều cơ quan, còn gọi là người cung ứng và người sử dụng, nhằm thực hiện quản lý có hiệu quả đường dây cung ứng Các đường dây điện thoại công cộng là khu vực dành riêng cho sử dụng điện thoại và không được nối rộng rãi với các máy tính, do cơ cấu giá cả còn cao Không có gì ngạc nhiên khi thấy rằng Internet đã không

có được một vai trò thích hợp trong việc thiết lập này

Cách thức này của hệ thống đã dẫn tới một sự phân chia ranh giới rõ rệt giữa những người chuyên về máy tính và phần dân cư còn lại bao gồm không chỉ những người tiêu dùng mà cả những nhân viên trong các văn phòng bình thường Trên thực tế, đầu tư cho công nghệ thông tin tăng đáng

kể trong những năm 1990 là một phần của tổng đầu tư và đã dẫn tới sự mở rộng không ngừng của các trung tâm xử lý thông tin Những người bình thường bị khiến cho cảm thấy rằng họ không cần bất kỳ kỹ năng nào về công nghệ thông tin và họ có thể được các chuyên gia công nghệ thông tin giúp đỡ hoàn toàn mà không cần có sự nỗ lực nào cả Nhân đây, có thể nói rằng một vài hệ thống phát triển theo cách đó ngay đến nay vẫn là tiên tiến Thí dụ, hệ thống thanh toán chuyển séc của Nhật Bản giữa ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại vẫn là một trong những hệ thống tốt nhất trên thế giới

về khía cạnh tốc độ, độ tin cậy và sự tinh vi trong vận hành

Một sự thiếu hồ hởi trong việc hướng tới máy tính cá nhân và mạng Internet có thể quy cho niềm tin cho rằng có sự dư dật các cơ hội kinh doanh

ở những nơi khác Đó là cái được gọi là một cuộc cách mạng vi điện tử Các nhà kinh doanh bị làm mê hoặc bởi tiềm năng của việc trang bị các bộ vi xử

lý cho TV, ô tô và hầu hết các vật dụng sử dụng hàng ngày khác và làm cho các thiết bị này có những chức năng tinh vi Một thí dụ về sự phát triển khác

Trang 23

thường ở Nhật Bản là hệ thống điều khiển xe hơi, nó vẫn đứng hàng đầu thế giới về mặt công nghệ cũng như thương mại

Các cơ hội ứng dụng các bộ vi xử lý vào công nghiệp cũng dường như dồi dào vô hạn Người ta biết rằng các hệ thống bán hàng tự động (POS) tại các cửa hàng tiện lợi của Nhật Bản là một trong những hệ thống tốt nhất trên thế giới Các cơ hội phong phú này đã khiến các công ty công nghệ thông tin của Nhật Bản sao lãng không chú ý đến các tiềm năng của máy tính và mạng Internet

Sự bi quan trầm trọng về công nghệ thông tin vào cuối những năm 1990

Mỉa mai thay, sự tiến bộ thần kỳ của các công nghệ chế tạo mạch tích hợp (IC) của Nhật Bản đã làm thay đổi hoàn toàn những công việc mà các công ty công nghệ thông tin của Nhật Bản đã thực hiện trước đó Mặc dù các công ty sản xuất IC Nhật Bản đứng trên tuyến đầu về công nghệ, nhưng chính hãng Intel và các công ty Mỹ khác mới liên tục cải tiến công nghệ bằng cách phát triển các bộ vi xử lý cho máy tính

Sự tăng đột ngột về tốc độ xử lý cũng như sự giảm nhanh chóng chi phí xử lý cuối cùng đã khiến mọi người chấp nhận máy tính Một bộ nhớ lớn của máy tính cá nhân đã cho phép cài đặt thành công các hệ điều hành dễ sử dụng như Mac và Windows khiến cho máy tính có thể đến với những người dân bình thường Sau đó, các phần mềm ứng dụng mang tính đột phá như Word và Excel đã đưa máy tính cá nhân lên một vị trí mới mà mọi văn phòng và mọi gia đình đều phải cần đến

Nói cách khác, một hệ thống xử lý phân tán bằng các máy tính cá nhân đã trở hành hiện thực Việc thiết lập một máy tính chủ lớn để chia sẻ các tiện ích trực tuyến và không trực tuyến tại các cơ quan đã nhanh chóng trở nên thiết thực về mặt kinh tế Cuối cùng, người ta nhận thấy rằng một cấu trúc mạng mở như Internet thông qua đường dây điện thoại công cộng là thích hợp hơn cả để kiểm soát lưu chuyển dữ liệu với lưu lượng nhỏ giữa các máy tính cách xa nhau

Rõ ràng, Nhật Bản đã bị bất ngờ thiếu đề phòng Một thế hệ máy tính mới đã đạt được công suất đủ lớn để có thêm chức năng xử lý từ ngữ tiếng Nhật trong các tệp chương trình trước khi cài đặt Ngày nay, các máy xử lý

từ tiếng Nhật chuyên dụng đang dần mai một đi NTT đã bắt đầu cố gắng để

đáp ứng các nhu cầu lớn hơn của những người sử dụng Internet, bởi vì cấu

Trang 24

trúc tính giá trước đây phân biệt các đường thuê bao đáp ứng nhu cầu sử dụng của khu vực kinh doanh với đường điện thoại công cộng dường như đã trở nên lỗi thời

Đứng trước khoảng cách ngày càng tăng giữa Nhật Bản và Mỹ về phát triển công nghệ thông tin vào cuối những năm 1990, sự bi quan vẫn tiếp diễn Về cơ bản, những người bi quan chỉ ra rằng Nhật Bản có thể là một địa

điểm phù phiếm để có thể tiến hành một cuộc cách mạng công nghệ thông tin Có những lý do khác nhau, nhiều trong số đó không nhất thiết cần được chứng minh bởi các công trình nghiên cứu khoa học khắt khe Tuy nhiên, cũng đáng phải đề cập đến những sự bi quan này

Thí dụ, một số nhà chỉ trích đã chỉ ra rằng hệ thống Nhật Bản không cho phép diễn ra sự đổi mới và các dự án kinh doanh mới Nền kinh tế bị thống trị bởi các công ty lớn mà các bộ máy cồng kềnh của chúng luôn luôn chống lại các dự án mới cần tập trung các nguồn lực quan trọng theo một cách thức linh hoạt Các bộ máy đó có xu hướng lựa chọn một quyết định

"nửa vời" là công thức tự nhiên dẫn tới sự thất bại trong ngành công nghệ thông tin, đáng ra họ phải có các quyết định nhanh chóng và táo bạo Các nhà chỉ trích còn thêm rằng các trường đại học cũng như các doanh nghiệp Nhật Bản rất giỏi trong việc sản sinh ra những người sử dụng theo nhóm nhưng lại kém cỏi trong việc đào tạo ra những người đổi mới độc lập

Hơn nữa, người ra dẫn ra rằng các thị trường tài chính dựa trên quan

hệ với các ngân hàng không phải là nơi mà vốn rủi ro có thể được huy động

dễ dàng Một số người phàn nàn rằng các ngành công nghiệp của Nhật Bản không thể vốn hoá dựa trên một cái bể dồi dào các thành tựu khoa học và kỹ thuật như được tạo ra ở Mỹ bởi các dự án nghiên cứu và triển khai do quân

đội tài trợ

Một số nhà lãnh đạo kinh doanh đổ lỗi cho Chính phủ vì đã có những

điều tiết cứng nhắc trói chặt tay các nhà kinh doanh khi họ muốn bắt tay vào các dự án kinh doanh mới về công nghệ thông tin Đặc biệt, những sự độc quyền được phép như NTT và NHK đã thường xuyên bị chỉ trích là chống lại giải điều tiết, điều có thể làm xói mòn các dịch vụ viễn thông và phát thanh Một quan điểm đồng thuận là quá muộn và quá nhỏ bé và cái kiểu giải điều tiết từng phần mà Chính phủ đã tiến hành không giúp được gì cho những người thực hiện các dự án kinh doanh mới- những người mong muốn được bảo đảm có một môi trường đầu tư tốt hơn càng sớm càng tốt

Trang 25

Một nhóm các nhà chỉ trích khác đã chỉ ra rằng hệ thống Nhật Bản thiếu một hệ thống dữ liệu thích hợp để có thể được chuyển một cách dễ dàng sang hệ thống dữ liệu điện tử Nói cách khác, dữ liệu thường được lưu trữ trong các máy tính cá nhân và không được đưa ra để những người khác có thể sử dụng tự do Đồng thời, việc truyền dữ liệu có xu hướng được thực hiện bằng miệng thông qua sự gặp gỡ trực tiếp giữa các cá nhân Quá trình này sẽ hoạt động một cách trôi chảy khi nó diễn ra trong một nhóm nhỏ những người sử dụng tập thể gắn bó, bởi vì dữ liệu có thể được thay đổi nhằm đáp ứng một cách tốt nhất ngay lập tức nhu cầu của người điều tra

Tuy nhiên, đây là một kế hoạch chia sẻ thông tin rất hẹp và dường như không thể tiến triển tốt trong một mạng lưới mở và lớn được thiết lập để kết nối với mạng Internet Không phải là sự trùng khớp ngẫu nhiên rằng các chỉ dẫn, chỉ số, danh mục và các dụng cụ về thư mục khác hiện vẫn chưa phát triển ở Nhật Bản Cùng với một vấn đề cố hữu là ngôn ngữ Nhật Bản, cuộc cách mạng công nghệ thông tin dường như cần phải có một nỗ lực để tạo ra một hệ thống lưu trữ dữ liệu mới hoàn toàn, chứ không phải chỉ gia cố một

hệ thống dữ liệu cho tròn phận sự hoàn thành một yêu cầu bổ sung nào đó Một số nhà quan sát lập luận rằng người Nhật đang làm tốt hơn trong việc sản xuất các trò chơi trên TV- là lĩnh vực mà họ không cần một quá trình cung cấp tài liệu

Tất cả những sự bi quan này là thú vị và cần phải có những xem xét kỹ lưỡng hơn Một số có vẻ được hoan nghênh nhưng một số khác lại dường như

có sự phóng đại Có thể sự đình trệ kinh tế trong những năm 1990 giải thích

được một phần của sự bi quan đã đeo bám suốt thời kỳ Các nhà kinh doanh

đã không thể có đủ điều kiện để cảm thấy lạc quan

Một số dấu hiệu gần đây cho thấy lòng tin đang hồi phục

Cũng thú vị không kém, dường như Sáng kiến Công nghệ thông tin

được đưa ra đúng lúc có một số dấu hiệu cho thấy sự hồi phục lòng tin đã bắt

đầu xuất hiện từ phía các công ty Nhật Bản Không nghi ngờ gì, sự hồi phục

và sự cải thiện hiệu suất lợi nhuận là những nhân tố đóng góp quan trọng Tuy nhiên, có một số tiến triển cho thấy rằng sự cạnh tranh trong các ngành công nghệ thông tin có thể đang tiến vào một giai đoạn mới một cách nhạy cảm

Có hai thí dụ thường được trích dẫn để biểu thị sự thành công của các công ty Nhật Bản trong những năm gần đây Thứ nhất là sự tăng lên nhanh

Trang 26

dữ dội của loại điện thoại di động kiểu i-mode do NTT DoCoMo cung cấp Thứ hai là doanh số bán rất gây ấn tượng những trò chơi PlayStation 2 của Công ty Sony Cả hai thí dụ có thể là một điềm báo trước cho sự kết thúc của một kỷ nguyên trong đó máy tính cá nhân là một nền móng thống trị duy nhất đối với những người sử dụng công nghệ thông tin

Trong thực tế, một chiếc điện thoại di động i-mode là một thiết bị ngoại vi thu nhỏ có kết nối với mạng Internet Nó là một dụng cụ cực kỳ tiện lợi và có thể mang theo Tuy nó không có một bàn phím đủ kích cỡ, một màn hình lớn và bộ nhớ với đĩa cứng có dung lượng cao, nhưng nó nhỏ và nhẹ và

dễ dàng sử dụng ở mọi nơi, mọi lúc Cuối cùng, hầu như tất cả mọi người dường như đã sẵn sàng sắm cho mình điện thoại di động Bổ sung vào đó khả năng truy cập Internet không làm tăng thêm gánh nặng cho người sử dụng, chỉ có điều giá cả cao hơn đôi chút

Loại điện thoại di động i-mode này được đưa ra bán trên thị trường vào năm 1999 và số người thuê bao đã lên tới vài triệu Người ta đang chờ

đợi nhanh chóng có một nền móng đầy đủ nhờ đó mà các dịch vụ Internet có thể phát triển Một số doanh nghiệp đang tiến hành thử nghiệm các trang chủ phù hợp nhất với màn hình nhỏ của một điện thoại di động i-mode

PlayStation 2 là một sự mở rộng các thiết bị ngoại vi (còn gọi là thiết

bị đầu cuối) cho chương trình trò chơi trên TV mà các công ty Nhật Bản là những người đi tiên phong một cách thành công Tuy nhiên, PlayStation 2 là một dòng sản phẩm mới về nhiều khía cạnh Nó có thể hoạt động gần như một máy DVD xách tay hoàn hảo Tự nó có thể kết nối với Internet Nó được bán ra với một mức giá thấp ấn tượng là 40.000 Yên (xấp xỉ 400 USD) Có

vẻ như Công ty Sony mong muốn bán nó với khối lượng lớn và bán rất nhanh

Có tin cho rằng tham vọng của Sony là làm thay đổi thiết bị đầu cuối trò chơi trên TV thành một thiết bị đầu cuối thông dụng khác dành cho những người sử dụng công nghệ thông tin Trong thực tế, số lượng bán cao của PlayStation 2 được thực hiện thông qua Internet đã dẫn đến sự đặt hàng ồ

ạt và tổng số lượng bán hiện được chờ đợt đạt 15 triệu ở trong nước và 60 triệu trên toàn cầu Danh sách lớn những người thuê bao này có thể mang

đến cho Sony một danh sách khách hàng lý tưởng, khi Công ty lựa chọn bất

cứ dịch vụ Internet nào Sức hấp dẫn của ứng dụng này được chứng minh hùng hồn khi Microsoft tuyên bố dự định phát triển Xbox trong vòng một hai năm để có thể cạnh tranh trực tiếp với PlayStation 2

Trang 27

Bức tranh lớn là ở đây Về mặt lý thuyết, việc sử dụng máy tính thông qua mạng viễn thông có thể được thực hiện bằng nhiều cách Cách thứ nhất

là sử dụng thiết bị đầu cuối có công suất lớn (tức là các máy tính cá nhân có công suất lớn), bao gồm một màn hình rộng, một bàn phím đủ kích cỡ, và bộ nhớ lớn thích hợp với nhiều phần mềm cũng như các kho dữ liệu Cách này không cần nhiều đến việc chuyển dữ liệu vào máy từ các máy tính khác

Một cách khác là sử dụng thiết bị đầu cuối càng thuận tiện càng tốt với khả năng thao tác tối thiểu, có thể hoạt động linh hoạt hơn nhờ kết nối với các máy tính thông qua việc truyền dữ liệu mở rộng Trong thực tế, có nhiều

điểm tiếp cận ở giữa hai đầu cực Thiết bị đầu cuối có thể là điện thoại di

động kết nối với Internet, PDA, TV, máy tính khoẻ hoặc toàn bộ các loại nền tảng giao diện khác

Sự lựa chọn các thiết bị đầu cuối này chủ yếu dựa vào mục đích của người sử dụng Tất nhiên, có thể máy tính cá nhân khoẻ không nhất thiết là tốt nhất cho mọi mục đích và sự cạnh tranh trên thị trường sẽ khiến cho nhiều loại thiết bị đầu cuối khác nhau cuối cùng sẽ tự thiết lập các công cụ giao diện phổ biến toàn cầu

Tóm lại, những thành công của hệ thống điện thoại di động i-mode và PlayStation 2 đã chỉ ra hai điều Thứ nhất, sự thống trị của liên minh Wintel

có thể đang đi đến bờ kết thúc và một kỷ nguyên phát triển của các loại thiết

bị đầu cuối có thể đang bùng nổ Thứ hai, các doanh nghiệp công nghệ thông tin Nhật Bản có thể có cơ hội đưa ra những nguyên mẫu thành công được chấp nhận trên thị trường thế giới

Nhìn lại trước đây, một điều thường diễn ra là chiến trường cạnh tranh thay đổi phạm vi một cách đột ngột trong các ngành có sự tiến bộ nhanh chóng về công nghệ Thí dụ các hệ điều hành cho máy vi tính chẳng hạn, Mac đã bị Windows gạt ra gần như hoàn toàn, nhưng hiện nay Linux đang nhanh chóng nhảy vào lãnh thổ của Windows Một điều thực sự khó cho bất

kỳ ai muốn thống trị thị trường lâu dài trong một môi trường cạnh tranh thay

đổi liên tục Một thực tế là nền kinh tế mạng hoạt động đã làm lợi đáng kể cho người đi tiên phong trên thị trường, đây chính là người đã thành công trong việc tạo ra cái gọi là tiêu chuẩn thực tế mà những người đến sau không

có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải tuân theo Tuy nhiên, một điều cũng

đúng rằng những tiêu chuẩn thực tế đó đôi khi có thể bị các công nghệ mới khác bỏ qua

Trang 28

Được khuyến khích bởi một số ít trường hợp thành công, các nhà chỉ trích và các nhà lãnh đạo kinh doanh đã tỏ ra có một số cái nhìn lạc quan về tiềm năng của các công ty Nhật Bản trong cuộc cách mạng kỹ thuật số Cũng giống như sự bi quan đã đề cập ở trên, sự lạc quan này mang nặng tính tư biện Tuy nhiên, nó đã cho thấy sự nhận thức đang thay đổi trong giới lãnh

đạo kinh doanh Nhật Bản

Một sự lạc quan như vậy được coi là thành công đầu tiên của Thủ tướng Chính phủ Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tướng Mori nhằm trang bị cho Nhật Bản kết cấu hạ tầng viễn thông có tốc độ nhanh nhất trên thế giới trong vòng 5 năm thực sự là có thể đạt được Một số nhà khoa học tuyên bố rằng giải pháp lâu dài để tháo cái cổ chai về tốc độ truyền dữ liệu là thiết lập các mạng sợi quang, nhờ đó khách hàng có thể tải các hình ảnh một cách đủ nhanh

Đến lượt mình, các nhà khoa học nói rằng cái gọi là công nghệ dải rộng mà Mỹ đang theo đuổi cuối cùng là một công nghệ quá độ, nó có thể làm rộng đáng kể cái cổ chai nhưng không thể xoá bỏ được NTT của Nhật Bản đã hoàn thành phần lớn các mạng sợi quang và dường như công việc còn lại chỉ là hoàn thành nốt 10 mét nối với các hộ gia đình, trong khi ở Mỹ phần lớn các đường truyền vẫn chưa được trang bị sợi quang học

Một ý kiến lạc quan khác nhắc nhở chúng ta rằng Nhật Bản vẫn khá mạnh trong một số công nghệ mà sự phát triển công nghệ thông tin trong tương lai có thể giúp ích Thí dụ, cùng với các quốc gia Bắc Âu, Nhật Bản dường như vẫn là người đi đầu thế giới về công nghệ không dây Có tin cho rằng một thế hệ điện thoại di động mới của Nhật Bản (IMT-2000) có thể tải

được các tệp ảnh với tốc độ không kém các đường sợi quang Một thí dụ khác về sự vượt trội của Nhật Bản là công nghệ xử lý ảnh trực tuyến tuyệt vời

từ lâu đã được trau chuốt để cho tương thích với các trò chơi TV càng nhanh càng tốt Có một số công nghệ khác mà Nhật Bản vượt trội, chẳng hạn như trong lĩnh vực số hoá, kỹ thuật siêu nhỏ

Hơn nữa, một số người khác cho rằng kỷ nguyên phát triển các phần mềm thông dụng như Word, Excel có thể đang đi đến hồi kết thúc và kỷ nguyên phát triển các phầm mềm ứng dụng chuyên dụng đang bắt đầu Nếu

đúng là như vậy thì Nhật Bản, vốn được biết đến như là một nhà cải biến lão luyện các công nghệ nhập khẩu, có nhiều cơ hội hơn để tạo ra các phần mềm

đáp ứng tốt nhất nhu cầu của các bộ phận khách hàng cụ thể Thị trường phong phú và đòi hỏi cao của Nhật Bản được chờ đợi tạo ra một mảnh đất lý

Trang 29

tưởng để đào tạo các nhà phát triển phần mềm Điều đó có vẻ hợp lý ở chừng mực nào đó khi ai đó đến thăm Akihabara và nhận thấy một sự bùng nổ các phần mềm ứng dụng

Cuối cùng, các doanh nghiệp công nghệ thông tin lớn của Nhật Bản dường như có một hy vọng lớn về sự kết hợp giữa các thiết bị điện tử gia

đình và các phương tiện truyền và xử lý dữ liệu Như đã nói ở trên, một mơ

ước cuối cùng là hoàn thành tự động hoá tại mỗi gia đình Về thiết bị đầu cuối điều khiển TV từ xa, nó không chỉ có thể điều khiển TV mà còn điều khiển được nhiều thiết bị gia đình khác Những công việc đơn giản có thể

được làm trực tiếp bởi thiết bị đầu cuối này, trong khi các công việc phức tạp

được thực hiện bởi các máy tính kết nối gần và thậm chí bởi các máy tính lớn

ở xa thông qua mạng Internet

Tất cả những cái nhìn lạc quan này không nhất thiết gợi ra rằng một ngày nào đó Nhật Bản sẽ thay thế vị trí dẫn đầu của Mỹ và cuối cùng là thống trị thị trường công nghệ thông tin Người ta cho rằng Mỹ vẫn sẽ tiếp tục là một tác nhân chính quan trọng nhất trong tương lai có thể thấy trước

Điều ngụ ý ở đây là Nhật Bản có nhiều khả năng hơn trước đây trong việc tìm cho mình một vị trí thích hợp trong cuộc cách mạng công nghệ thông tin toàn cầu Đó là tiền đề sớm muộn dẫn đến thành công củaThủ tướng Chính phủ Mori trong việc đề nghị đạo luật cơ bản mới về công nghệ thông tin lên Nghị viện

Mối quan ngại về sự thống trị của Mỹ

Như đã thấy rõ ràng, các cuộc tranh luận tại Nhật Bản về cuộc cách mạng công nghệ thông tin được thúc đẩy mạnh mẽ bởi sự nghiên cứu nghiêm túc về một chiến lược tăng trưởng mới cho nền kinh tế quốc dân Về mặt này, các cuộc tranh luận về các loại quan tâm khác nhau sinh ra bởi cuộc cách mạng công nghệ thông tin vẫn đang ở giai đoạn phôi thai Nhiều ý kiến khác nhau đã được đưa ra nhưng chưa có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy có sự hội tụ của các ý kiến này Còn lâu các vấn đề quan trọng mới được thảo luận một cách đầy đủ

Trong tình hình ấy, cách duy nhất để mô tả chúng có ý nghĩa là làm sáng tỏ một đôi vấn đề và trình bày các quan điểm tranh luận có vẻ bề ngoài

là hỗn độn Một trong vài vấn đề đó chính là mối quan ngại về sự thống trị của Mỹ

Trang 30

Đương nhiên, tình cảm dân tộc có xu hướng đổ một cái bóng dài lên các cuộc tranh luận về sự thống trị của Mỹ và che mờ sự phân biệt giữa một quan điểm mang tính ý thức hệ và một sự quan sát cặn kẽ ở một thái cực, một quan điểm dân tộc điển hình cho rằng Mỹ đang cố gắng chiếm thị trường bằng cách áp dụng các luật lệ không công bằng nhằm đảm bảo sự bá chủ của mình về công nghệ thông tin

Người ta nhắc đến rằng Chính phủ và các doanh nghiệp công nghệ thông tin Mỹ từ chối cung cấp các công nghệ của mình cho các thể chế Nhật Bản, cho dù các thể chế đó đã chuẩn bị trả tiền Chúng ta có thể nhớ lại rằng vấn đề tiếp cận với NTT đã trở thành một trong những tranh chấp rắc rối nhất giữa Nhật Bản và Mỹ ngay trước Hội nghị thượng đỉnh Okinawa Một số người theo chủ nghĩa dân tộc cho rằng đó là một sự nỗ lực được che đậy của

Mỹ nhằm làm suy yếu NTT, bởi vì NTT là một thể chế duy nhất có nguồn lực quan trọng là các nhà khoa học và các kỹ sư trong lĩnh vực viễn thông- lĩnh vực mang tính sống còn đối với sự phát triển cao hơn công nghệ thông tin ở Nhật Bản Thỉnh thoảng, người ta cũng cho rằng Dự án Tron, nỗ lực của một nhà nghiên cứu nổi tiếng Nhật Bản nhằm phát triển một hệ điều hành

độc lập cho máy tính, đã không được hưởng cơ hội công bằng để khám phá

do áp lực chính trị nặng nề từ phía Mỹ

ở một thái cực khác, một số người Mỹ thường như thuyết giáo Nhật Bản rằng Mỹ có một môi trường thể chế tốt nhất cho phát triển công nghệ thông tin, và một điều tốt đẹp là không có gì ngăn cản các quốc gia khác sử dụng công nghệ thông tin do Mỹ sản xuất thông qua các nhà quản lý tốt nhất, đó chính là các doanh nghiệp Mỹ Chắc chắn, hầu hết các nhà chỉ trích người Nhật Bản không cho rằng điều này hoàn toàn sai

Tuy nhiên, theo tôi, một số mối quan ngại không thể bị xoá bỏ một cách ngẫu nhiên Thí dụ, người ta có thể nghi ngờ giá trị của hệ thống bản quyền và các hệ thống sở hữu trí tuệ khác hiện hành Không ai chống lại quan điểm cho rằng xã hội cần phải có một hệ thống bảo vệ các nhà đầu tư

và do đó khuyến khích sự đổi mới Nhật Bản có những nỗ lực đáng kể nhằm thi hành các quy định về quyền sở hữu trí tuệ

Tuy nhiên, việc hệ thống đó trở nên bảo hộ quá mức và do đó gây ra một sự ràng buộc quá mức đối với những người đi sau trong việc phát triển công nghệ có phải là một nguy cơ hay không, nếu một phần ngày càng tăng các công nghệ đều được bảo hộ như vậy? 17 năm có phải là một thời gian bảo hộ quá dài đối với các phần mềm mới hay không, khi các phiên bản mới

Trang 31

và các phiên bản cạnh tranh của chúng đang được tạo ra đều đặn? Một sự nghi ngờ không dễ dàng tan biến là chính sách ủng hộ bằng sáng chế của Mỹ không thể phục vụ tốt nhất cho thế giới nếu nó có tác dụng theo liều lượng như vậy với nước Mỹ

Mặt khác, một số nhà chỉ trích Nhật Bản cho rằng chúng ra không nên quá lo lắng Khi các cơ quan cấp bằng sáng chế của các quốc gia công nghiệp hoá trở nên hiểu biết sâu hơn về bản chất của các công nghệ thông tin, họ sẽ có thể lựa chọn một cách thích hợp sự đổi mới nào xứng đáng được bảo vệ Điều này cũng đúng đối với các bằng sáng chế về phương pháp kinh doanh

Hơn nữa, bất kỳ công ty công nghệ thông tin nào đều biết rõ rằng mình không thể bắt tay vào một vụ kinh doanh mới chỉ với những bằng sáng chế của mình, và nó phải liên kết với các công ty khác có những bằng sáng chế trong các lĩnh vực liên quan Điều này cuối cùng có thể dẫn đến một loại cân bằng nào đó trong đó không ai có thể khai thác quá mức những người khác Chắc chắn, các doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn trong việc duy trì lâu dài một tiêu chuẩn tồn tại thực tế Có một xu hướng cho thấy rằng các công

ty Mỹ đã lựa chọn việc hình thành các tập đoàn quốc tế để chia sẻ lợi ích của công nghệ mới, đồng thời giảm nguy cơ bị gạt ra bên ngoài

Theo đó, một sự đồng thuận đang nổi lên giữa các nhà lãnh đạo chính kiến Nhật Bản dường như cho thấy điều này: đó là một quan điểm cho rằng chiến lược tốt nhất cho quốc gia để tìm thấy sự công bằng trên thị trường quốc tế là tạo ra cho mình khả năng cốt lõi trong một số lĩnh vực công nghệ thông tin và tham gia tích cực vào việc hình thành các tập đoàn và các diễn

đàn quốc tế để phối hợp các luật lệ về công nghệ thông tin giữa các quốc gia

Về khía cạnh này, cần phải tính đến khả năng tạo ra một hệ thống các diễn

đàn của khu vực châu á, tại đó các quốc gia cùng có những nỗ lực chung nhằm tạo ra sự phát triển công nghệ thông tin tương thích, mở và dựa trên một nguyên tắc công bằng Một điều chắc chắn đúng là phải xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực như các mạng lưới không dây

Sự phân cách số hoá và các vấn đề khác

Một lĩnh vực gây xáo trộn của cuộc cách mạng công nghệ thông tin là cái được gọi là sự phân cách số hoá Người ta thường sợ rằng một sự phân cách giữa người giàu và người nghèo sẽ trầm trọng thêm khi những người giàu được trang bị tốt hơn về công nghệ thông tin và người nghèo thì được

Trang 32

Chính phủ dự định thực hiện một số việc để xoá bỏ vấn đề này Thứ nhất là xây dựng quy định mới liên quan đến bảo vệ khách hàng và bảo mật Thứ hai

là tăng cường giáo dục về công nghệ thông tin và tăng cường sự hiểu biết về công nghệ thông tin trong quảng đại dân chúng tới một mức tối thiểu nhất

định

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng vẫn còn những phân cách số hoá không dễ

được giải quyết Thứ nhất là sự phân cách số hoá giữa các thế hệ Thí dụ, thị trường lao động hiện tại cho thấy một cách sinh động vấn đề này Việc tái cơ cấu công ty diễn ra trong quá trình hồi phục vừa phải khiến cho thất nghiệp ở mức cao lịch sử là 5% trong hơn 3 năm

Điều mà ai cũng biết là các doanh nghiệp vẫn có tên của hơn một triệu lao động thất nghiệp trong bảng lương của mình Và nhiều trong số họ là những người trung niên hoặc đã cao tuổi, rõ ràng là họ bị gạt ra khỏi cuộc cách mạng công nghệ thông tin Mặt khác, khu vực công nghệ thông tin

đang gặp phải khó khăn về tuyển dụng một đội ngũ cần thiết cán bộ công nghệ thông tin có trình độ Thất nghiệp cao là một trường hợp không cân xứng nghiêm trọng về kỹ năng công nghệ thông tin của công nhân, những người cao tuổi thì không có kỹ năng còn những người trẻ tuổi thì đang trong quá trình học tập gấp gáp Điều thú vị không kém là thế hệ trẻ dường như

đang học kỹ năng sử dụng bàn phím một cách dễ dàng Người ta cho rằng thế hệ sinh ra cùng với các trò chơi TV có một kỹ năng tự nhiên để vận dụng giao diện giữa người và máy một cách dễ dàng hơn so với những người nhiều tuổi

Sự phân cách số hoá giữa các thế hệ cũng làm nảy sinh một vấn đề trong giáo dục về công nghệ thông tin mà Chính phủ đã có kế hoạch tăng cường Vấn đề này là không lớn đối với các học sinh Đó là sự khó khăn đối với các giáo viên trong việc học tập các kỹ năng về công nghệ thông tin, từ

đó họ có thể giảng dạy cho học sinh Vì lý do này, chiến lược hiện hành là để cho mỗi trường tiểu học và trung học có một số chuyên gia về công nghệ thông tin có nhiệm vụ giảng dạy học sinh Tuy nhiên, người ta nghi ngờ rằng

điều này có thể không thực hiện số hoá được tất cả các quá trình giáo dục Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tướng Mori đang dẫn đến số máy tính tăng đột ngột được trang bị ở các trường, học nhưng câu hỏi đặt ra là những máy tính này sẽ được sử dụng một cách rộng rãi như thế nào, khi các trường học không có đủ chuyên gia về công nghệ thông tin

Trang 33

ở hệ thống giáo dục trình độ cao hơn, các trường đại học cũng chậm chạp, đặc biệt trong các khoa về nhân văn, trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình giảng dạy, với một số ít ngoại trừ về các thí dụ tiên phong Các sinh viên dường như lựa chọn cách học kép, có nghĩa là các sinh viên đại học đến các trường đào tạo về máy tính của khu vực tư nhân trong khi vẫn có tên trong các trường đại học

Một chiều kích khác của sự phân cách số hoá, nó đánh thức một sự quan ngại nào đó đối với Nhật Bản, là sự phân cách khu vực Hiện tại, về căn bản, Nhật Bản thật rất rõ rệt là một nền kinh tế hoặc một xã hội chỉ có một trung tâm Nói cách khác, Tôkyô là trung tâm của mọi thứ Công nghệ thông tin không là một ngoại lệ Vùng tây nam của Tôkyô được gọi là Thung lũng Bit, ở đó người ta có thể nhận thấy một mức độ tập trung cao của các doanh nghiệp công nghệ thông tin của Nhật Bản Hơn nữa, người ra nghi ngờ rằng việc xây dựng kết cấu hạ tầng truyền dữ liệu với tốc độ cao có thể không hiệu quả về mặt kinh tế để tiến đến các khu vực nông thôn dân cư thưa thớt

Mặt khác, Chính phủ đã cam kết tạo ra sự tiếp cận phổ biến kết cấu hạ tầng đó cho tất cả mọi người như là một điều tất yếu trong Sáng kiến Công nghệ thông tin Có nghĩa là Chính phủ sẽ hỗ trợ cho khu vực nông thôn tới mức có thể Đây có vẻ như một nguồn gốc khác của các cuộc tranh luận chính trị Người ta thường cho rằng công nghệ thông tin là một công cụ có phép thần diệu, nó sẽ giải thoát con người khỏi sự ràng buộc về thời gian và

địa điểm và đảm bảo cho mọi công dân có sự tiếp cận như nhau đối với các thông tin chuyên nghiệp mới nhất Đây vẫn là một câu hỏi mở nếu nó có thể

là sự thật, và một sự phát triển cân bằng hơn giữa các vùng của đất nước sẽ diễn ra, do đó xoá bỏ các vấn đề tắc nghẽn ở các khu vực trung tâm đô thị lớn

Không ai có thể bàn cãi về tất cả những khía cạnh của việc công nghệ thông tin sẽ mang đến những gì cho nền kinh tế và xã hội chúng ta Tôi xin kết thúc bằng việc nêu ra quan điểm của mình về cách thức thay đổi của hệ thống Nhật Bản Hệ thống Nhật Bản trong các thập kỷ trước đã nhấn mạnh vào tầm quan trọng của các thể chế vững mạnh như một lực lượng dẫn dắt việc áp dụng sâu rộng các công nghệ mới vào nền kinh tế

Điều này không thể bị bác bỏ như một ý kiến lỗi thời, bởi vì một số sự

đột phá về công nghệ vẫn là sản phẩm của các nỗ lực nghiên cứu và triển khai (R&D) chuyên cần trong nhiều năm của các thể chế năng động và vững mạnh Nhưng người ta biết rằng các thể chế lớn rất kém cỏi trong việc thực

Trang 34

hiện các dự án có mục đích đặc biệt Một cách tiếp cận từ trên xuống dưới,

nó cho phép tập trung các nguồn lực đầu vào cho một nhóm nhỏ các chuyên gia, là thích hợp hơn cho việc thực hiện các dự án mũi nhọn trong các công

ty công nghệ thông tin Theo tôi, các doanh nghiệp Nhật Bản đang bắt đầu thử nghiệm theo cách tiếp cận này bằng cách tạo ra các hình thức liên minh chiến lược mới giữa các doanh nghiệp lớn năng động và các dự án, như là những người bảo vệ trước sự mạo hiểm Chúng ta vẫn phải chờ xem nền kinh

tế Nhật Bản có thể đạt được sự năng động đến mức nào bằng cách làm như vậy Sự thành công của Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tướng Chính phủ Mori cuối cùng là xoay quanh điều này

Trang 35

Chương 2

Nền kinh tế dựa trên tri thức ở Trung Quốc:

Nhận thức và thực tiễn*

Tian zhongqing

Thấu hiểu và tiếp cận nền kinh tế dựa trên tri thức

Trong hai năm gần đây, nền kinh tế dựa trên tri thức thường xuyên

được nói đến trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung Quốc Nhưng trong giới khoa học Trung Quốc, nền kinh tế tri thức có ý nghĩa thực sự là gì

và nền kinh tế dựa trên tri thức có phải là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thế giới hay không đang được tranh luận một cách sôi nổi Một số người khẳng định nhất quyết rằng chúng ta phải cẩn trọng trong việc sử dụng

từ ngữ "nền kinh tế dựa trên tri thức" bởi vì định nghĩa của nó là không rõ ràng Và một số người khác lại cho rằng nền kinh tế dựa trên tri thức ngày nay không chỉ là một nhận thức mà là một thực tế trong đời sống kinh tế của các nước tiên tiến cũng như ở Trung Quốc

Hiện tại, sự tranh luận dường như đã đến hồi kết thúc Trong thực tế, hầu hết mọi người dân Trung Quốc đã cảm nhận được sự tác động to lớn của nền kinh tế dựa trên tri thức đến công việc và thậm chí là cuộc sống hàng ngày của mình Một báo cáo do Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc ban hành

đã đưa ra một định nghĩa về nền kinh tế dựa trên tri thức: "Nền kinh tế dựa trên tri thức là một loại nền kinh tế được hình thành trên cơ sở sản xuất, phân phối, áp dụng và sử dụng tri thức và thông tin."

Sự xuất hiện và tăng trưởng của nền kinh tế dựa trên tri thức có nền tảng xã hội, khoa học và công nghệ sâu sắc của nó Theo một ý nghĩa nào

đó, nền kinh tế dựa trên tri thức có thể được coi như một hình thức cụ thể

được thực hiện bởi cuộc cách mạng công nghệ mới trong một kỷ nguyên mới Nền kinh tế này có ba lớp ý nghĩa Thứ nhất, các nhân tố sản xuất mà sự tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào đã thay đổi về cơ bản Sự đổi mới và tích luỹ tri thức khoa học đã làm cho tri thức trở thành nhân tố sản xuất chủ yếu Thứ hai, thiết bị sản xuất, cũng có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế, thay đổi về cơ bản Các "thiết bị thông minh," chẳng hạn như máy tính, các loại phần mềm, mạng, đặc biệt là mạng Internet, đã cho thấy tầm quan trọng

* Tài liệu trình bày tại Hội thảo "Các xu hướng và các vấn đề diễn ra ở Đông á

Trang 36

của chúng trong các hoạt động chế tác và quản lý Thứ ba, các ngành dẫn

đầu, có ảnh hưởng chủ yếu đến tăng trưởng kinh tế, đã có sự thay đổi về chất Người ta hy vọng rằng ngành công nghệ thông tin sẽ thay thế ngành dầu lửa như là ngành công nghiệp số 1 Thứ tư, những thay đổi to lớn đang diễn ra trong các khu vực tiêu dùng, chúng cũng ảnh hưởng rất quan trọng đến tăng trưởng kinh tế Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm dựa trên tri thức đang tăng lên nhanh chóng và hoạt động buôn bán bằng sáng chế và công nghệ đang trở thành một trong những hoạt động thương mại có sự tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới

Sự nổi lên của nền kinh tế dựa trên tri thức sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trên nhiều khía cạnh Các cách thức của tăng trưởng kinh tế sẽ thay đổi lớn Sự mở rộng về lượng của nền kinh tế quốc dân sẽ chậm lại nhưng sự cải thiện về chất sẽ được thúc đẩy Cơ cấu kinh tế cũng sẽ thay đổi cơ bản Các ngành công nghiệp như máy tính, phần mềm, công nghiệp nguyên tử, kỹ nghệ sinh học sẽ ngày càng có vị trí cao trong nền kinh tế quốc dân Tri thức và công nghệ sẽ là những nhân tố quyết định trong phân công quốc tế, và cạnh tranh quốc tế sẽ gay gắt hơn Các đường biên giới của cạnh tranh sẽ mở rộng tới các hoạt động nghiên cứu và triển khai sản phẩm,

và thậm chí tới cả giai đoạn nghiên cứu cơ bản

Sự nổi lên của nền kinh tế dựa trên tri thức sẽ mang đến những cơ hội mới cho công cuộc hiện đại hoá và phát triển kinh tế của Trung Quốc trong thế kỷ mới Quá trình công nghiệp hoá công nghệ dựa trên tri thức sẽ làm giảm đáng kể giá cả của các sản phẩm và dịch vụ truyền thống Do vậy, Trung Quốc sẽ có thể thu hẹp khoảng cách trong các lĩnh vực áp dụng công nghệ cao với các quốc gia tiên tiến Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh trong công nghiệp nhẹ, ngành dệt và một số ngành công nghiệp sử dụng nhiều vốn Với sự kết hợp của công nghệ dựa trên tri thức như công nghệ thông tin, Trung Quốc sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của mình trong các ngành đó Là một thị trường có tiềm năng lớn, chi phí dành cho phát triển khoa học và công nghệ và chi phí dành cho đổi mới sẽ tương đối thấp

Sau hai thập kỷ cải cách và mở cửa nền kinh tế, sức mạnh quốc gia tổng thể của Trung Quốc đã tăng lên đáng kể Khoa học và công nghệ, giáo dục, văn hoá và thông tin đã thay da đổi thịt Trong vòng 10 đến 20 năm đầu tiên của thế kỷ 21, Trung Quốc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ nền kinh tế dựa trên tri thức (1) Chính phủ trung ương đã ban hành chiến lược "thúc đẩy nền kinh tế dựa trên khoa học và giáo dục." (2) Trung Quốc cũng đã thiết lập một cơ sở nghiên cứu khá vững chắc về khoa học cơ

Trang 37

bản và công nghệ với một hệ thống làm việc có sự tính toán kỹ lưỡng đến nhu cầu hiện tại và sự phát triển trong tương lai (3) Việc cải cách hệ thống quản lý trong nghiên cứu khoa học và công nghệ đã đạt được nhiều tiến bộ (4) Trung Quốc đang đẩy nhanh việc hình thành cơ chế đổi mới của mình với mục tiêu làm cho sức mạnh của đổi mới đạt đến mức độ của các quốc gia tiên tiến trung bình vào năm 2010 (5) Sự phát triển nhanh của các ngành công nghệ cao Thí dụ, các ngành điện tử và thông tin đã nằm trong 10 ngành công nghiệp chủ yếu ở Trung Quốc (6) Sự hình thành các công viên công nghệ cao Trung Quốc đã có 53 công viên công nghiệp công nghệ cao ở cấp Nhà nước, đến nay chúng đang đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút công nghệ, xây dựng cơ chế đổi mới, và thúc đẩy sự tăng trưởng của các tập đoàn doanh nghiệp công nghệ cao (7) Sự lớn mạnh của các doanh nghiệp tư nhân ở Trung Quốc đã xuất hiện nhiều tập đoàn công ty tư nhân, tổng thu nhập của mỗi công ty là hơn một trăm triệu nhân dân tệ

Mặt khác, Trung Quốc cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiến tới nền kinh tế dựa trên tri thức Sự yếu kém trong đổi mới công nghệ cao sẽ trở thành một trong những nhân tố chủ yếu làm hạn chế sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc Việc thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc trong tương lai

sẽ gặp nhiều khó khăn hơn do Trung Quốc mới chỉ bắt chước công nghệ của các quốc gia tiên tiến Sự phát triển của nền kinh tế dựa trên tri thức cần phải

có nền tảng kinh tế và xã hội thích hợp, nhưng nhìn chung, Trung Quốc vẫn chưa có những điều kiện cơ bản đó Sự phát triển của nền kinh tế dựa trên tri thức cần phải có các hệ thống thích hợp để thích nghi Trung Quốc vẫn phải thực hiện một khối lượng công việc nặng nề để hoàn thành cải cách các hệ thống kinh tế

ở Trung Quốc, sự phát triển của nền kinh tế dựa trên tri thức phải phục vụ cho chiến lược chung phát triển nền kinh tế quốc dân Nền kinh tế quốc dân của Trung Quốc hiện đang tiến vào một kỷ nguyên tăng trưởng mới Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, điều không thể tránh khỏi là Trung Quốc phải điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế bằng cách cải tiến các ngành công nghiệp Sự cải tiến công nghệ của các ngành công nghiệp đòi hỏi phải hình thành và hoàn thiện hệ thống đổi mới, tăng cường năng lực đổi mới và phát triển tự lực về công nghệ và thoát khỏi tình trạng phụ thuộc quá lớn vào công nghệ nhập khẩu, và do vậy đẩy mạnh phát triển nền kinh tế dựa trên tri thức sẽ trở thành một nhiệm vụ cấp bách trong những năm tới Hiện nay, Chính phủ Trung Quốc quyết tâm có những nỗ lực lớn trong việc nghiên cứu

Trang 38

các công viên công nghệ cao, do đó có thể thu được các sáng kiến trong môi trường cạnh tranh quốc tế gay gắt, và mở ra một không gian mới cho phát triển nền kinh tế quốc dân Chính phủ Trung Quốc sẽ làm hết sức mình để hỗ trợ phát triển trong các lĩnh vực mà Trung Quốc có lợi thế và trong các vùng

có những điều kiện tốt

Chính phủ Trung Quốc hy vọng rằng thông qua nền kinh tế dựa trên tri thức sẽ đạt được các mục đích sau đây: (1) Củng cố hệ thống đổi mới quốc gia, tăng cường năng lực đổi mới của quốc gia; (2) Đẩy mạnh cải cách các ngành công nghiệp truyền thống bằng cách áp dụng các công nghệ cao, do vậy nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của các ngành công nghiệp xương sống và các ngành chế tác chủ yếu của Trung Quốc; (3) Đẩy mạnh quá trình

áp dụng công nghệ cao vào sản xuất; (4) Xây dựng và phát triển các phương tiện thông tin cơ bản của quốc gia, và hoàn thành quá trình thông tin hoá

Những sự việc và thành tựu tương ứng

Sự bùng nổ các khu phát triển công nghệ cao

Các khu công nghệ cao đang đóng một vai trò ngày càng tăng ở một

số thành phố, năm 1998 giá trị sản lượng công nghiệp của các khu công nghệ cao ở các thành phố Suzho, Qingdao, Xi'an, Harbin, và Mianyang chiếm tương ứng 33%, 16,6%, 14%, 14% và 44% tổng sản lượng công nghiệp của các thành phố đó

Các khu công nghệ cao của Trung Quốc, có mầm mống từ giữa những năm 1980, được thành lập chính thức vào cuối những năm 1980 Chúng đã

đánh dấu sự khởi đầu những nỗ lực của Trung Quốc nhằm bắt kịp cuộc cách mạng công nghệ mới toàn cầu mà Trung Quốc đang bị tụt lại rất xa ở phía sau

Đến năm 1999, Trung Quốc đã thành lập 53 khu công nghệ cao ở cấp Nhà nước, lan trải đến các thành phố có tiềm lực về trí tuệ như Beijing, Wuhan, Shenyang, Nanjing, Guangzhou, Chongqing, Xi'an, Shanghai và Shenzhen Năm khu công nghệ cao ở Beijing, Suzhou, Hefei, Xi'an và Yantai

đã được biểu dương là các công viên công nghiệp khoa học và công nghệ của APEC Bên cạnh đó, các tỉnh, các khu vực và các thành phố tự trị trực thuộc Trung ương khác cũng đã thành lập một số lớn các khu phát triển công nghệ cao ở cấp địa phương

Qua 10 năm nỗ lực, các khu công nghệ cao của Trung Quốc đã cơ bản hoàn thành giai đoạn phát triển đầu tiên, tạo ra một môi trường đầu tư lành

Trang 39

mạnh, tích luỹ nguồn vốn và bước đầu tích tụ các nguồn lực công nghiệp Hiện tại, những khu công nghệ cao này được ghi nhận là đạt sự tăng trưởng cao nhất tại các địa phương tương ứng

Vào cuối năm 1999, 53 khu công nghệ cao cấp Nhà nước đã đăng ký hơn 18.000 doanh nghiệp công nghệ cao với 1,8 triệu nhân viên Trong số đó

có 600 doanh nghiệp có doanh thu từ hoạt động công nghệ- công nghiệp- thương mại vượt quá 100 triệu nhân dân tệ, đóng góp 420 tỷ nhân dân tệ vào tổng doanh thu hoạt động công nghệ- công nghiệp- thương mại

Sau hơn một thập kỷ nỗ lực, sự hình thành và phát triển của các khu công nghệ cao đã từng bước hoà nhập được với các thông lệ chung quốc tế Hiện tại trong các khu công nghệ cao, các trung tâm dịch vụ phát triển công nghệ cao (còn gọi là các vườn ươm doanh nghiệp hoặc các trung tâm đổi mới) đang phát triển một cách lành mạnh

Quá trình chuyển những thành tựu khoa học và công nghệ vào các lực lượng sản xuất trong giai đoạn đầu sau khi thành lập các doanh nghiệp công nghệ cao là một giai đoạn yếu kém nhất Các doanh nghiệp mới có xu hướng

bị chết yểu nếu không có sự quan tâm thoả đáng Các vườn ươm doanh nghiệp có mục đích chăm sóc và bảo vệ các doanh nghiệp mới thành lập trong các khu công nghệ cao

Các vườm ươm doanh nghiệp ở các khu công nghệ cao của Trung Quốc đã phát triển khá thành công Chúng đã tạo ra những điểm giao dịch, cung cấp các phương tiện, các dịch vụ có liên quan, hướng dẫn đào tạo và tư vấn cho các hoạt động đổi mới công nghệ và cho các doanh nghiệp mới thành lập Chúng cũng tổ chức hoạt động đầu tư rủi ro và thúc đẩy sự kết hợp

có hiệu quả giữa công nghệ, vốn và hàng hoá với các viện nghiên cứu khoa học, các doanh nghiệp và thị trường

Theo các số liệu thống kê có sẵn, năm 1998, gần 100 trung tâm đổi mới trên toàn quốc bao gồm không chỉ các vườn ươm doanh nghiệp tổng hợp, mà cả các vườn ươm công nghệ chuyên môn hoá, các vườn ươm doanh nghiệp quốc tế và các mạng lưới vườn ươm Bao phủ tổng diện tích 800.000 mét vuông, những vườn ươm này đã đăng ký các quỹ lên tới 200 triệu nhân dân tệ Hiện tại, chúng đang "nuôi dưỡng" 3.700 doanh nghiệp nhỏ kiểu mới Hơn nữa, chúng đã áp dụng hơn 5.700 thành tựu khoa học và công nghệ, chăm sóc 1.200 doanh nghiệp công nghệ cao, tạo ra 120.000 việc làm và

đóng góp 6 tỷ nhân dân tệ vào doanh thu hoạt động công nghệ- công nghiệp-

Trang 40

thương mại Và môi trường trở nên đẹp hơn, với một khu nhà mở, các bồn hoa đủ sắc màu, các vòi phun nước và một sân chơi gôn rộng mênh mông

TETDZ, một trong những khu phát triển đầu tiên ở các thành phố duyên hải được Hội đồng Nhà nước thông qua, được thành lập năm 1984 Trong những năm 1994- 1996, TETDZ đã dẫn đầu các khu phát triển của cả nước về hầu hết các chỉ số kinh tế Hiện nay, theo các số liệu thống kê của Hội đồng Nhà nước, trong quý I/1999, Khu phát triển Tianjin vẫn đứng đầu

về 14 chỉ số kinh tế chủ yếu, chẳng hạn như thu hút đầu tư nước ngoài, tổng giá trị sản lượng công nghiệp, doanh thu và kim ngạch xuất khẩu

Các nhà đầu tư, khi thành lập doanh nghiệp vốn rủi ro, tuyển dụng các nhà quản lý chuyên môn để thực hiện đánh giá cơ hội kinh doanh và trợ giúp các doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư trong hoạt động và quản lý của chúng với một nỗ lực nhanh chóng tạo ra lợi nhuận và giảm thiểu toàn bộ rủi ro trong

đầu tư Vốn rủi ro, một sự kết hợp của tài trợ và đầu tư, gắn liền với chiến lược phát triển công nghiệp công nghệ cao của Nhà nước

ở Trung Quốc, vốn rủi ro đã bước vào giai đoạn phát triển ban đầu, hơn 100 công ty vốn rủi ro đã được thành lập trên toàn quốc, kiểm soát hơn 8

tỷ nhân dân tệ trong các quỹ

Xu hướng chung như sau:

Thứ nhất, các tổ chức đầu tư đã bắt đầu tiến vào các lĩnh vực vốn rủi ro

ở quy mô lớn Nhiều công ty tín thác và công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại và tập đoàn doanh nghiệp lớn đang có kế hoạch thành lập các cơ quan vốn rủi ro Thí dụ, Công ty Chứng khoán Huaxia đã thành lập một phòng nghiên cứu vốn rủi ro để tìm ra cách tốt nhất kết hợp các công ty chứng khoán với vốn rủi ro

Thứ hai, dòng vốn nước ngoài đổ vào vốn rủi ro cũng tăng lên Các nước như Cộng hoà Hàn Quốc và Thuỵ Sĩ đã bắt đầu tiến vào các doanh

Ngày đăng: 31/12/2014, 03:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành nền kinh tế  hợp tác, toàn cầu - Kinh tế tri thức  Vấn đề và giải pháp : kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển
Hình th ành nền kinh tế hợp tác, toàn cầu (Trang 85)
Bảng 1. Sự tăng tr−ởng của ngành công nghiệp dựa trên tri thức ở Đài Loan - Kinh tế tri thức  Vấn đề và giải pháp : kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển
Bảng 1. Sự tăng tr−ởng của ngành công nghiệp dựa trên tri thức ở Đài Loan (Trang 108)
Bảng 3. Tỷ trọng và tăng tr−ởng của các ngành chế  tạo phân theo cường độ công nghệ (một số nước), - Kinh tế tri thức  Vấn đề và giải pháp : kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển
Bảng 3. Tỷ trọng và tăng tr−ởng của các ngành chế tạo phân theo cường độ công nghệ (một số nước), (Trang 110)
Hình 1: Thị phần thế giới của các hãng Đài Loan về các sản phẩm liên  quan tíi PC - Kinh tế tri thức  Vấn đề và giải pháp : kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển
Hình 1 Thị phần thế giới của các hãng Đài Loan về các sản phẩm liên quan tíi PC (Trang 119)
Hình 2: Sự phân bổ sản xuất IT của các hãng Đài Loan tại các - Kinh tế tri thức  Vấn đề và giải pháp : kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển
Hình 2 Sự phân bổ sản xuất IT của các hãng Đài Loan tại các (Trang 119)
Hình 3: Quá trình phát triển của ngành công nghiệp PC Đài Loan - Kinh tế tri thức  Vấn đề và giải pháp : kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển
Hình 3 Quá trình phát triển của ngành công nghiệp PC Đài Loan (Trang 124)
Bảng 5. Mức độ đầu t− R&amp;D 1  và mức độ chi tiêu vốn 2  trong ngành công  nghiệp IC của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan - Kinh tế tri thức  Vấn đề và giải pháp : kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển
Bảng 5. Mức độ đầu t− R&amp;D 1 và mức độ chi tiêu vốn 2 trong ngành công nghiệp IC của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trang 128)
Bảng 2: Các thí dụ về việc sử dụng Internet nhằm tăng c−ờng vốn xã hội  ở Thái Lan - Kinh tế tri thức  Vấn đề và giải pháp : kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển
Bảng 2 Các thí dụ về việc sử dụng Internet nhằm tăng c−ờng vốn xã hội ở Thái Lan (Trang 174)
Sơ đồ 1: Internet có thể tăng cường vốn xã hội như thế nào - Kinh tế tri thức  Vấn đề và giải pháp : kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển
Sơ đồ 1 Internet có thể tăng cường vốn xã hội như thế nào (Trang 175)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w