Nhiều khi quá trình soạn lập kế hoạch chỉ ñược hình thành trong ñầu óc, suy nghĩ của chủ thể ñó là các kế hoạch hoạt ñộng của cá nhân, cũng có thể là một cuộc trao ñổi tập thể nhanh gọn
Trang 1TRƯỜNG ðẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
BỘ MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Chủ biên: PGS TS Ngô Thắng Lợi
GIÁO TRÌNH GIÁO TRÌNH
K Ế HO HO ẠCH HÓA PHÁT TRI CH HÓA PHÁT TRI ỂN N
Trang 2Địa chỉ: 207 Đường Giải Phóng, Hà Nội
Sửa bản in và đọc sách mẫu: Ngọc lan - Trịnh Quyên
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Bộ KH&ðT Bộ Kế hoạch và ðầu tư
Bộ Lð-TBXH Bộ Lao ñộng, Thương binh và xã hội
Bộ NN-PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
DSHðKT Dân số hoạt ñộng kinh tế
SWOT Mạnh - yếu - cơ hội - thách thức
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Cho ñến nay, lý luận và thực tiễn ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, ñều ñã thừa nhận rằng: Nền kinh tế thị trường ñã không làm yếu mà ngược lại nó ñòi hỏi và tạo khả năng nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý của Nhà nước bằng kế hoạch Tất nhiên, kế hoạch ở ñây không phải là kế hoạch theo phương pháp hành chính mệnh lệnh bằng các chỉ tiêu hiện vật mang tính chất pháp lệnh phát ra từ Trung ương, mà
nó phải là một kế hoạch theo kiểu mới, kế hoạch mang tính ñịnh hướng trên tầm vĩ mô Việt Nam vốn là một nước có nền kinh tế kế hoạch hóa (KHH) tập trung, ñang thực hiện chuyển ñổi sang nền kinh tế thị trường có sự ñiều tiết của nhà nước và hội nhập quốc tế Phù hợp với những yêu cầu của cơ chế kinh tế mới, công tác KHH cũng cần ñược ñổi mới phù hợp nhằm bảo ñảm cho kế hoạch thực sự là công cụ tổ chức sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với nội dung và bản chất mới như vậy cần phải ñược hệ thống hoá một cách ñầy ñủ và xây dựng là một môn học chính cho sinh viên ngành kế hoạch và kinh tế phát triển, là một môn học bổ trợ quan trọng cho sinh viên thuộc các chuyên ngành kinh tế khác
ở trong các trường ñại học khối kinh tế
Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội do Bộ môn kinh tế phát triển biên soạn, xuất bản (nhà xuất bản Thống kê) năm 2002 và tái bản năm 2006 ñã ñáp ứng kịp thời những yêu cầu trang bị cho sinh viên những kiến thức mang tính hệ thống về bản chất, nguyên tắc của kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị trường, các nội dung và phương pháp xây dựng hệ thống kế hoạch
ñịnh hướng phát triển kinh tế - xã hội Tuy vậy, thời gian gần ñây, Chính phủ
Việt nam, Bộ Kế hoạch và ðầu tư cùng với các cơ quan có liên quan với sự tham gia tư vấn, hỗ trợ tài chính của nhiều nhà tài trợ, ñã tiến hành các hoạt
ñộng khá thiết thực liên quan ñến ñổi mới công tác KHH từ trung ương ñến ñịa
phương Kết quả là, công tác KHH trong ñiều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt
Trang 6lựa chọn kết quả của những dự án ñổi mới về công tác kế hoạch hiện nay ñang triển khai ở Việt Nam, phù hợp với thể chế tổ chức hiện hành về công tác kế hoạch từ trung ương ñến ñịa phương
Giáo trình ñược kết cấu theo ba phần với 15 chương:
Phần I: Gồm các chương I, II, III, IV,V trình bày các vấn ñề lý luận và phương pháp luận về kế hoạch hoá phát triển trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Phần II: Gồm các chương VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII,XIII trình bày nội dung và phương pháp lập các kế hoạch về kinh tế
Phần III - Gồm các chương XIV, XV, giới thiệu tổng quan về kế hoạch
xã hội và nội dung, phương pháp lập kế hoạch phát triển một số lĩnh vực xã hội chủ yếu
Giáo trình ñược biên soạn bởi các GS, Tiến sỹ, Thạc sỹ có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu lý luận, thực tiễn và giảng dạy các môn học có liên quan ñến Kế hoạch hóa phát triển kinh tế, xã hội: PGS,TS Ngô Thắng Lợi, là chủ biên và trực tiếp biên soạn các chương I, II, VI, VII,VIII, XIV, XV và tham gia biên soạn chương III, IX; GS,TS Vũ Thị Ngọc Phùng, biên soạn các chương IX, XI, XII, XIII; GS, TSKH Nguyễn Quang Thái, biên soạn chương III; TS Phan Thị Nhiệm, biên soạn chương X và tham gia biên soạn chương V; Th.s Bùi ðức Tuân biên soạn chương V; tham gia biên soạn chương III; Th.s
Vũ Cương tham gia biên soạn chương IV, XIII; Th.s Vũ Thành Hưởng biên soạn chương IV, tham gia biên soạn chương XIII và hiệu ñính các chương XII, XIV, XV; Th.s Phạm Thanh Hưng, tham gia biên soạn chương VI, và hiệu ñính các chương X, XI Phần bài tập ứng dụng do PGS.TS Ngô Thắng Lợi, Th.s Vũ Thành Hưởng và Th.s Phạm Thanh Hưng biên soạn
Mặc dù ñã có nhiều cố gắng, nhưng công tác KHH ở Việt Nam hiện nay
ñang trong quá trình ñổi mới và hoàn thiện thường xuyên, các vấn ñề ñặt ra khá
phức tạp và có liên quan nhiều ñến ñổi mới thể chế chính sách quản lý kinh tế trong quá trình thực hiện nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế, nên chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Tập thể tác giả và Bộ môn Kinh tế phát triển mong muốn nhận ñược những ý kiến ñóp góp quý báu của các ñồng nghiệp, sinh viên và tất cả bạn ñọc
Hà Nội, ngày 5 tháng 01 năm 2009
Trang 7Phần 1:
Lý luận và phương pháp luận về kế hoạch hoá phát triển trong nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG I NHẬP MÔN KẾ HOẠCH HOÁ PHÁT TRIỂN
"Cần có kế hoạch thật tốt ñể phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao ñời sống của nhân dân"
(Hồ Chí Minh)
1 Quản lý và các chức năng quản lý
Tất cả các hoạt ñộng có ý thức của cá nhân hay tập thể (với các quy
mô khác nhau) ñều cần có hoạt ñộng mang tính chất ñiều khiển Nếu là các hoạt ñộng mang quy mô tập thể, chúng ta thường gọi ñó là các hoạt ñộng quản lý Các môn học về khoa học quản lý ñã ñịnh nghĩa (ñứng trên góc ñộ bản chất): Quản lý là sự tác ñộng của chủ thể quản lý ñến ñối tượng quản lý nhằm hướng ñối tượng quản lý ñi theo một mục tiêu ñịnh sẵn
Theo khái niệm trên, nếu mô tả theo quy trình, có thể hình dung các chức năng chủ yếu của quản lý bao gồm:
Xác ñịnh
mục tiêu
Tổ chức thực hiện Kiểm tra
ðiều
chỉnh
Hạch toán
Trang 10liên quan đến khả năng thực hiện mục tiêu đặt ra ðiều chỉnh (4) cĩ nhiệm
vụ xử lý những phát sinh do bước 3 phát hiện được ðể thực hiện được mục tiêu, chúng ta cần phải thực hiện sự điều chỉnh nội dung xác định ở bước hai, tức là thay đổi tổ chức Tuy vậy trong trường hợp cần thiết, cũng cĩ thể hướng tới sự điều chỉnh mục tiêu Bước cuối cùng của quy trình quản lý là
đánh giá (5) Cĩ hai nội dung liên quan đến đánh giá, đĩ là: đánh giá kết quả
và hiệu quả kinh tế của một quá trình hoạt động quản lý (gọi là hạch tốn), bao gồm cĩ việc xác định xem, mục tiêu đặt ra cĩ đựợc triển khai thực hiện khơng? Kết quả thực hiện như thế nào? Chi phí cho việc thực hiện? Hiệu quả kinh tế tài chính; nội dung đánh giá thứ hai là đánh giá tác động, tức là xem xét việc thực hiện mục tiêu đặt ra cĩ ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của tổ chức
2 Kế hoạch
Hiểu theo cách chung nhất, kế hoạch là sự thể hiện mục đích, kết quả cũng như cách thức, giải pháp thực hiện cho một hoạt động tương lai Cách
hiểu tổng quát này đúng cho các loại kế hoạch, cĩ thể là kế hoạch cho một
hoạt động, một cơng việc, một dự án cụ thể sắp sửa làm, gọi là kế hoạch
hoạt động (ví dụ như: kế hoạch cho buổi khai giảng năm học, kế hoạch cho
buổi đi thực tế ở cơng ty, kế hoạch xây dựng một con đường v.v ); cĩ thể
là kế hoạch cho sự phát triển tương lai của một cá nhân, gia đình; hay của một tổ chức kinh tế, xã hội (gọi là kế hoạch phát triển một đơn vị, một địa phương hay cả quốc gia) Các kế hoạch phát triển với các mức độ quy mơ
khác nhau đều mang tính chất và nội dung đầy đủ hơn so với kế hoạch hoạt
động Theo khía cạnh kế hoạch phát triển, gắn với nội dung của quy trình
quản lý, thì kế hoạch thuộc chức năng đầu tiên và quan trọng nhất của quy
trình quản lý, đĩ là sự thể hiện ý đồ của chủ thể về sự phát triển trong tương lai của đối tượng quản lý và các giải pháp để thực thi
Dù kế hoạch hoạt động, một cơng việc cụ thể hay kế hoạch phát triển
thì bản chất của cơng tác này chính là sự hướng tới tương lai, được xem
như là nhịp cầu nối từ hiện tại đến chỗ mà chúng ta muốn đến trong tương lai Tính chất hướng tới tương lai trong KH thể hiện ở hai nội dung: một là,
kế hoạch dự đốn những gì sẽ xảy ra, đặt ra kết quả đạt được trong tương lai; hai là, kế hoạch thực hiện việc sắp đặt các hoạt động của tương lai, các cơng việc cần làm và thứ tự thực hiện các cơng việc để đạt được kết quả đã
Trang 11xã trường 50 km nhân dịp nghỉ lễ quốc khánh 2/9, ñiều ñó chính là họ ñang làm kế hoạch (nội dung thứ nhất của kế hoạch); Họ phải lựa chọn giữa các
ñường ñi và phương tiện giao thông, thời gian ñi, ñịa ñiểm xuất phát, sắp
xếp một loạt các vấn ñề cho chuyến ñi phù hợp với nguồn lực hiện có của cả nhóm (nội dung thứ hai của KH) Người nông dân quyết ñịnh chuyển ñổi giống cây trồng ñể tăng thu nhập của gia ñình, anh ta sẽ phải nghĩ tới việc trồng cây gì hàng năm, gieo trồng bao nhiều mỗi vụ, khi nào thì gieo trồng, khi ñưa ra các quyết ñịnh này anh nông dân cũng phải dựa trên sự sẵn có của các nguồn lực như ñất ñai, giống, lao ñộng, tài chính, công cụ kỹ thuật,
kể cả thời tiết, khí hậu ñiều ñó có nghĩa là người nông dân này ñang làm kế hoạch Bộ tài chính là những người chịu trách nhiệm tư vấn cho chính phủ hàng năm về cân ñối thu chi ngân sách, cũng phải có kế hoạch Với mục tiêu tăng thuế và giảm chi tiêu chẳng hạn, họ phải ñưa ra các dự kiến về các loại thuế cần thu, các khoản chi tiêu nào cần cắt giảm, làm thế nào ñể mở rộng sản xuất cho xuất khẩu, giảm nhập khẩu mặt hàng gì ðể ñưa ra các lựa chọn ñó họ phải xem xét ñến không chỉ vài loại nguồn lực có thể nhận biết
dễ dàng mà toàn bộ sự phức tạp của nền kinh tế
ðể có kế hoạch, cần phải tiến hành quá trình soạn lập Tùy theo quy
mô, mức ñộ và tính chất của hoạt ñộng ñể tổ chức quá trình soạn lập với các mức ñộ khác nhau Nhiều khi quá trình soạn lập kế hoạch chỉ ñược hình thành trong ñầu óc, suy nghĩ của chủ thể (ñó là các kế hoạch hoạt
ñộng của cá nhân), cũng có thể là một cuộc trao ñổi tập thể nhanh gọn và
người ñứng ñầu quyết ñịnh xem như là sự thỏa thuận bằng miệng hoặc văn bản (một hoạt ñộng tập thể nhỏ duy trì trong một thời gian ngắn, như là kế hoạch cho một cuộc ñi chơi dã ngoại, một buổi liên hoan, một buổi thảo luận v.v ), các kế hoạch kinh tế, xã hội có liên quan ñến cộng ñồng, kế hoạch của một doanh nghiệp, một ñịa phương, một ngành hay rộng hơn là tầm quốc gia thì thông thường quá trình soạn lập phải ñược thể chế hóa bao gồm các bước khác nhau với tiến ñộ thời gian quy ñịnh khá chính xác
Trang 12nhiều bên tham gia (kể cả kế hoạch hành ñộng cá nhân) và ñược quyết
ñịnh trên cơ sở lựa chọn từ nhiều phương án, quá trình soạn lập KH ñược
xem như là công nghệ của sự lựa chọn tối ưu
Như vậy, ñối tượng lập KH có thể là hoạt ñộng của một cá nhân, một gia ñình, một tập thể, hay hoạt ñộng kinh tế, xã hội với các mức ñộ quy mô khác nhau như một một doanh nghiệp, ngành kinh tế - kỹ thuật, ñịa phương, vùng và phạm vi lớn nhất là toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tất cả các hoạt
ñộng trên, muốn thực hiện một cách tốt ñẹp ñều cần phải có kế hoạch
Trong khung khổ giáo trình này, chúng ta chỉ ñề cập ñến kế hoạch ở tầm vĩ
mô, tức là kế hoạch trên phạm vi nền kinh tế quốc dân, có thể vận dụng ở phạm vi một ñịa phương (gọi là kế hoạch phát triển) Kế hoạch phát triển thể hiện các mục tiêu tổng thể về phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia (hay một ñịa phương) cần ñạt tới trong một thời kỳ kế hoạch nhất ñịnh và các giải pháp, chính sách, cách ñi phù hợp nhằm thực hiện mục tiêu ñặt ra một cách linh hoạt và hiệu quả cao nhất
3 Kế hoạch hóa vĩ mô nền kinh tế quốc dân
Trên thực tế thường hay có sự nhầm lẫn giữa KH và KHH, thậm chí
có người còn ñồng nhất hai khái niệm này và cho rằng KHH là quá trình soạn lập kế hoạch, kết quả của quá trình KHH là tạo ra các văn bản dự thảo
về những dự ñịnh và giải pháp thực hiện trong tương lai Chính vì sự nhầm lẫn ấy mà công tác KH thường ñược kết thúc bằng sự ra ñời của bản KH Kết quả là một hoạt ñộng mặc dù có KH nhưng lại không ñược triển khai thực hiện theo KH và rút cuộc là KH vẫn chỉ là trên giấy, còn các mục tiêu của KH thì không thực hiện ñược Thực chất, KH và KHH là hai khái niệm khác nhau KH hàm chứa những dự ñịnh về kết quả và giải pháp thực hiện trong tương lai, nhưng việc xây dựng KH không thể ñược coi là mục ñích của KHH, nó chỉ là bước ñầu tiên của quy trình KHH Mục ñích của KHH phải là làm thế nào ñể thực hiện ñược các mục tiêu ñặt ra trong kế hoạch, biến những giải pháp, chương trình hành ñộng ñặt ra trong KH thành thực
tế ðiều ñó có nghĩa là, KHH còn nhấn mạnh ñến các quá trình khác nữa, ñó
là quá trình tổ chức, triển khai các hoạt ñộng trên thực tế theo KH
Với ý nghĩa tổng quát nhất và cho mọi hoạt ñộng, Diana Conyers (ðại học Nottingham) và Peter Hills (ðại học Hồng Kông) trong cuốn “Giới
Trang 13sử dụng hiệu quả nguồn lực sẵn có nhằm hướng tới việc thực hiện mục tiêu
ñặt ra cho tương lai Hay theo quan ñiểm của OECD thì: “KHH ñược hiểu là
các hoạt ñộng nhằm tạo ra và thực thi kế hoạch, bao gồm thiết kế ra, vạch
ra từ trước một kế hoạch ñể xây dựng và thực thi” (OECD, 1971) PGS,TS Ngô Doãn Vịnh, viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ KH&ðT) cho rằng: “nói một cách ñơn giản, KHH chính là làm cho công việc diễn ra một cách có KH Cụ thể hơn, nói KHH tức là nói ñến lập KH và biến KH thành thực tế cuộc sống ñối với một công việc cụ thể hay ñối với một hệ thống nhất ñịnh Tất cả các quan ñiểm nói trên ñều ñã nhấn mạnh ñến KHH là một phương thức quản lý dựa trên mục tiêu, ñó là quá trình thực hiện sự can thiệp có ý thức, có chủ ñịnh của chủ thể vào ñối tượng quản lý dựa trên cơ
sở kế hoạch (mục tiêu) ñược xác ñịnh trước
Trên phạm vi nền kinh tế quốc dân, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, khái niệm về kế hoạch hóa kinh tế quốc dân ñược nêu ra trong Từ
ñiển bách khoa toàn thư của Liên Xô như sau: Kế hoạch hóa nền kinh tế
quốc dân là một hoạt ñộng tự giác của Nhà nước chuyên chính vô sản ñể quản lý nền kinh tế xã hội chủ nghĩa theo mục tiêu kinh tế, xã hội thống nhất xác ñịnh trước, nhằm xác ñịnh quy mô, cơ cấu và các quan hệ cân ñối hợp lý, tạo ra bước ñi và cơ cấu có lợi nhất với hiệu quả kinh tế cao bằng cách khai thác mọi tiềm năng ñể không ngừng mở rộng sản xuất và nâng cao
ñời sống nhân dân Giáo trình Kế hoạch hóa kinh tế quốc dân của khoa Kế
hoạch kinh tế quốc dân, xuất bản năm 1972 ñã ñưa ra ñịnh nghĩa: “ KHH kinh tế quốc dân về bản chất là một phương pháp quản lý kinh tế quốc dân của nhà nước chuyên chính vô sản, theo phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, nhằm xác ñịnh những tốc ñộ và quan hệ cân ñối hợp lý nhất, tạo ra những bước ñi và cơ cấu có lợi nhất, dự kiến từ trước với hiệu quả kinh tế cao nhất trong thời kỳ kế hoạch” Các khái niệm này phản ánh: (1) KHH chính là một phương thức quản lý nền kinh tế quốc dân bằng mục tiêu; (2) KHH kinh tế quốc dân bao gồm bao gồm ba mặt công tác: công tác xây
Trang 14cách có chủ ñịnh của nhà nước vào nền kinh tế vĩ mô ñể ñạt ñược những mục tiêu ñã ñược ñề ra”; theo quan ñiểm của Thứ trường Bộ KH&ðT Việt Nam- TS Cao Viết Sinh thì “Kế hoạch hóa là sự thiết lập mối quan hệ giữa khả năng và mục ñích nhằm ñạt ñược mục tiêu sử dụng có hiệu quả nhất tiềm năng hiện có” TS ðặng ðức ðạm cho rằng “ Kế hoạch hóa vĩ mô là hoạt ñộng của Chính phủ nhằm lựa chọn phương án sử dụng hợp lý các nguồn lực và quyết ñịnh các giải pháp tác ñộng ñến biến số kinh tế vĩ mô chủ yếu theo hướng các mục tiêu ñã xác ñịnh trước.”v.v
Tất cả những quan niệm về KHH nói trên, cơ bản vẫn thống nhất với bản chất của công tác này ñược xác ñịnh trong cơ chế trước, sự khác biệt chỉ
là nhấn mạnh tính “mềm”, tính “linh hoạt” hơn của việc sử dụng công cụ kế hoạch với tư cách là một trong những công cụ khác nhau ñược Chính phủ sử dụng ñiều tiết nền kinh tế thị trường Chúng ta thống nhất sử dụng khái niệm về kế hoạch hóa ñược xác ñịnh trong Từ ñiển bách khoa Việt Nam như
sau: “Kế hoạch hóa là phương thức quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân của
nhà nước theo mục tiêu, là hoạt ñộng của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật xã hội và tự nhiên, ñặc biệt là quy luật kinh tế ñể tổ chức quản lý các ñơn vị kinh tế, các ngành, các lĩnh vực và toàn bộ nền kinh
tế Quốc dân theo những mục tiêu thống nhất; dự kiến trước phương hướng,
cơ cấu, tốc ñộ phát triển và có những biện pháp tương ứng bào ñảm thực hiện, nhằm ñạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao” (tr.469, Từ ñiểm Bách khoa
việt Nam 2 – NXB Từ ñiển Bách khoa, Hà Nội 2002)
Với khái niệm mang tính bản chất trên, KHH nền kinh tế quốc dân nếu hiểu theo góc ñộ quy trình thực hiện, bao gồm các hoạt ñộng: (1) soạn lập kế hoạch (mở rộng hơn là soạn lập các văn bản mang tính kế hoạch), nhiệm vụ chính của bước này là soạn lập kế hoạch, trong ñó nội dung chính là xác ñịnh mục tiêu, chỉ tiêu phát triển và hệ thống giải pháp chính sách áp dụng trong thời kỳ kế hoạch; (2) Tổ chức thực hiện kế hoạch, bao gồm quá trình tổ chức phối hợp haọt ñộng của các bên, sự dụng các chính sách, giải pháp nhằm khai thác, huy ñộng và sử dụng nguồn lực trong quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch; (3) Theo dõi, kiểm tra, ñánh giá và ñiều chỉnh kế hoạch với những yếu tố mới phát sinh trong môi trường kinh tế, bao gồm quá trình theo dõi thường xuyên hoạt ñộng của hệ thống kinh tế quốc dân; ñánh giá tình hình thực hiện mục tiêu kế hoạch và tác ñộng của
Trang 15thống ñầy ñủ các văn bản hoạch ñịnh của Chính phủ Tùy theo từng nước,
hệ thống các văn bản hoạch ñịnh có thể khác nhau Ở Việt Nam, hệ thống này bao gồm: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển, kế hoạch phát triển và các chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội Tất cả các văn bản trên có mối quan hệ với nhau, nhằm hướng và tổ chức hoạt
ñộng của nền kinh tế theo mục tiêu tổng thể, dài hạn của ñất nước (ñịa
phương, ngành) Như vậy, quy trình kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội, nếu hiểu theo nội dung bao gồm: (1) xây dựng chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội; (2) Xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, nhằm cụ thể hóa quan ñiểm và nội dung chiến lược; (3) Xây dựng kế hoạch trung hạn, các chương trình dự án và kế hoạch ngắn hạn nhằm ñưa chiến lược và quy hoạch vào thực hiện từng bước
1 Các nước áp dụng cơ chế kế hoạch hoá tập trung
1.2 Kế hoạch hoá ở Liên Xô cũ
Cuộc cách mạng của những người cộng sản năm 1917 ở nước Nga ñã
ñưa ra một con ñường lựa chọn cho sự phát triển kinh tế Sau khi thực hiện
một số chính sách như: chính sách cộng sản thời chiến, chính sách kinh tế mới, từ năm 1928, Liên xô bắt ñầu áp dụng hình thức kế hoạch tập trung nền kinh tế quốc dân bằng kế hoạch 5 năm ñầu tiên 1928 - 1932 ðặc trưng
cơ bản của cơ chế này là sự thống trị của hoạt ñộng kế hoạch trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội của ñất nước Kế hoạch hoá tập trung ở ñây thể hiện ñó
là sự áp ñặt trực tiếp của chính phủ ñối với các ngành, các ñịa phương, các
ñơn vị kinh tế thông qua các quyết ñịnh phát ra từ trung ương Nhà nước
trực tiếp kiểm soát về vốn, ñất ñai, sự hợp tác hoá nông nghiệp, sự loại bỏ thực sự thương mại tư nhân, sự ñộc quyền hoạt ñộng của hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước Các chỉ tiêu kế hoạch ñược xây dựng và quản
lý một cách chi tiết, cụ thể, toàn diện
Trang 16hay Nhật Bản cần ñến 50 - 70 năm Tuy vậy, sự kỳ diệu của 50 năm ñầu tiên của CNXH Xô Viết ñã bắt ñầu có những dấu hiệu hoài nghi về sự khủng hoảng Mô hình kế hoạch hoá tập trung ở Liên Xô ñã bắt ñầu ñưa ñến những biểu hiện kém hiệu quả về kinh tế với mức tiêu dùng và năng suất lao ñộng ngày càng thấp so với các nước phương Tây và Nhật Bản Cơ chế này ñã huỷ diệt dần các ñộng lực cạnh tranh, ñộng lực phát triển tự giác và ñộc lập
70 năm chủ nghĩa xã hội với cơ chế kế hoạch hoá tập trung ñã tạo ra cho nền kinh tế 1 chiếc kim tự tháp khổng lồ bị sơ cứng lại bởi tệ nạn quan liêu
và sức ỳ ñáng sợ của cơ chế
1.3 Kế hoạch hoá ở Trung Quốc
Trung Quốc là một nước có ñường lối phát triển kinh tế - xã hội theo
mô hình chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Quốc Từ ngày thành lập nước cộng hào nhân dân Trung Hoa, kể cả trong thời kỳ cải cách kinh tế từ
1980 ñến nay, Trung Quốc luôn luôn ñề cao vai trò cảu công tác kế hoạch hoá
Uỷ ban Kế hoạch nhà nước Trung Quốc thành lập năm 1950 và từ năm 1953 - 1980, Trung Quốc áp dụng cơ chế kế hoạch hoá trực tiếp, bao trùm mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân theo mô hình của Liên Xô Cơ chế kế hoạch hoá tập trung ở Trung Quốc kéo dài tới 9 kế hoạch 5 năm Kế hoạch 5 năm 1976 - 1980 với nội dung bao trùm "kế hoạch bốn hiện ñại hoá" ñã kết thúc giai ñoạn kế hoạch hoá tập trung
Từ năm 1980 ñến nay, Trung Quốc tiến hành cải cách kinh tế theo hướng mở rộng nhân tố thị trường, Khi các thành phần kinh tế phát triển, cơ cấu hoạt ñộng kinh tế thay ñổi Những thay ñổi trong nền kinh tế gồm:
• Thứ nhất, ñã xuất hiện ngày càng nhiều các hình thức sở hữu khác ngoài nhà nước
• Thứ hai, các nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước ñược trao nhiều quyền tự chủ hơn,
• Thứ ba, cơ chế thị trường có tác ñộng rất mạnh mẽ ñến các hoạt
ñộng kinh tế
Cùng với qúa trình chuyển ñổi kinh tế, công tác kế hoạch hoá của Trung Quốc có những hoàn thiện ñáng kể Nó ñược chuyển từ cơ chế kế
Trang 17• Thứ nhất, phạm vi của kế hoạch pháp lệnh ñược thu hẹp, kế hoạch hoá mang tính ñịnh hướng và hướng dẫn nhiều hơn
• Thứ hai, trong công tác kế hoạch, các chỉ tiêu giá trị ngày càng
ñược sử dụng rộng rãi thay thế cho các chỉ tiêu hiện vật trước ñây
• Thứ ba, phương pháp xây dựng kế hoạch thay ñổi: việc giao chỉ tiêu cho các ñơn vị giảm dần, các cơ sở sản xuất kinh doanh của nhà nước và tư nhân ñược tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh, công tác kế hoạch hoá chuyển dần sang cân ñối các chỉ tiêu kinh tế
vĩ mô bằng việc áp dụng ngày càng phổ biến các mô hình kinh tế
tư vấn các chính sách kinh tế và nghiên cứu dự toán dài hạn Cho ñến nay, nước Pháp ñã trải qua 12 kế hoạch 5 năm Các nhà nghiên cứu của Pháp ñã chia ra 2 thời kỳ lớn của kế hoạch hoá ở Pháp là:
• Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ vàng son của kế hoạch hoá Pháp, kéo dài trong 30 năm từ 1945 - 1975
• Thời kỳ thứ hai thời kỳ khủng hoảng của kế hoạch hoá, ñặc biệt là cuộc cải cách kế hoạch hoá năm 1982 và cuộc ñổi mới kế hoạch hoá năm 1994
Thời kỳ khủng hoảng kế hoạch hoá ở Pháp xuất phát từ những nhân tố
Trang 18rộng phạm vi cho sự vận hành của thị trường
- Kế hoạch 5 năm (hình thức duy nhất ở Pháp) giảm phần định lượng, tăng phần định tính, giảm đến mức gần như xố bỏ các tính tốn và chỉ tiêu hướng dẫn về sản lượng, nâng chất lượng các tính tốn và hướng dẫn vĩ mơ
về kinh tế xã hội, giảm các tính tốn về chiều dọc theo ngành, tăng các tính tốn chiều ngang cĩ tính liên quan và tổng hợp
- Tiếp tục mở rộng hình thức kế hoạch hố phi tập trung, mở rộng thêm quyền cho vùng lãnh thổ và cho các doanh nghiệp
b Kế hoạch hố ở Nhật Bản
Mặc dù Nhật Bản cĩ chính sách xây dựng một nền kinh tế thị trường
tư bản từ những cải cách thời kỳ Minh Trị duy tân (năm 1868) và cho tới nay Nhật đã cĩ những tiến bộ nổi bật về phát triển kinh tế, nhưng điều đĩi khơng cĩ nghĩa là chính phủ Nhật Bản đã khơng sử dụng kế hoạch hĩa trong quản lý phát triển kinh tế Thực tế chính phủ Nhật Bản đĩng vai trị quan trọng trong nhiều lĩnh vực
Hoạt động của cơng tác kế hoạch hố ở Nhật Bản từ năm 1945 tới nay
cĩ thể chia làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn kế hoạch hố kinh tế thứ nhất là thời kỳ ổn định kinh tế sau chiến tranh từ năm 1945 đến 1955 Trong thời kỳ này chính phủ Nhật Bản đã xây dựng Uỷ ban ổn định kinh tế, kế hoạch hố lúc này cĩ tính tập trung cao độ gần giống như hệ thống kế hoạch của các nước XHCN, trong
đĩ bao gồm cả việc tính tốn các cân đối cung cầu cho từng quý và giao kế
hoạch phân bổ nguyên vật liệu, hàng hố tới từng khu vực
- Giai đoạn thứ hai là từ năm 1955 đến nay, sau khi ổn định và phục hồi kinh tế, chính phủ Nhật Bản đã bãi bỏ dần kiểm sốt trực tiếp đối với kinh tế và thay bằng yếu tố thị trường Kế hoạch vẫn được duy trì nhưng đĩ
là kế hoạch hướng dẫn cung cấp các thơng tin định hướng cho nền kinh tế
Từ năm 1955 Nhật Bản thành lập cục kế hoạch hố chịu trách nhiệm xây dựng và thực hiện các kế hoạch dài hạn Cơng tác kế hoạch hố vẫn luơn
được coi trọng và chính phủ Nhật Bản nhẫn mạnh tới vai trị của kế hoạch
hố trong nền kinh tế thị trường ở các khía cạnh:
+ Thứ nhất, vai trị giáo dục, thơng tin và dự đốn kinh tế Dựa trên đĩ
Trang 19là các tuyê n bố về mục tiêu dài hạn của chắnh phủ và các chương trình chi tiêu do chắnh phủ thực hiện
+ Thứ ba, hoạch ựịnh các chắnh sách phát triển, tạo ra ựiều kiện, mô
trường lành mạnh trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng hàng hóa
c Kế hoạch hoá ở Mỹ
Những năm 1930 nền kinh tế Mỹ có những dấu hiệu tiêu cực do hậu quả của cơ chế thị trường tự do và tư nhân hoá: Sự ựổ vỡ của thị trường chứng khoán năm 1939, tỷ lệ thất nghiệp tới mức kỷ lục là 25%, hàng hoá
và dịch vụ tụt xuống bằng 1/2 trước ựây đó là môi trường kinh tế, tâm lý và tinh thần thúc ựẩy hình thành yêu cầu phải kế hoạch hoá sự phát triển kinh
tế ựất nước
- Các cơ quan kế hoạch các cấp ra ựời vào năm 1936: Mỗi Bang hình thành hội ựồng kế hoạch nhà nước Bang và toàn liên bang có hội ựồng kế hoạch nguyên liệu quốc gia (National resources planning Board) tức là cơ quan kế hoạch trung ương ựể hỗ trợ chỉ ựạo cơ quan kế hoạch nhà nước cấp Bang Sau này (từ năm 1943) cơ quan này ựược giải thể Nhưng chức năng này vẫn tồn tại và thuộc quốc hội giải quyết và quyết ựịnh dưới dạng luật Như vậy hiện nay quốc hội Mỹ trực tiếp nắm việc xây dựng các hạng mục lớn của kế hoạch nhà nước đảng chắnh trị nào chi phối Quốc hội sẽ chi phối toàn bộ kế hoạch nhà nước cấp toàn Liên bang Ở cấp Bang, thành phố, thị trấn v.v ựều có bộ phận kế hoạch chuyên trách
- Về nội dung: Các kế hoạch ựược xây dựng tập trung giải quyết những mảng công việc trọng ựiểm của từng thời kỳ và ở mỗi Bang khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp, phát triển ựô thị, giao thông, tài chắnh, v.v Hiện nay nội dung kế hoạch tập trung chủ yếu vào các mục tiêu xã hội như kế hoạch chống ô nhiễm môi trường, kế hoạch nhà ở và công trình công cộng, kế hoạch phát triển cộng ựồng, kế hoạch dân số, giáo dục, v.v
Trang 20kinh tế cũng như các tổ chức kinh tế.Với tư cách là một “chuyên nghiệp”, yêu cầu nhà kế hoạch ñặt ra rất cao ở Mỹ Theo họ, nhà kế hoạch phải hội tụ
ñược tư chất của các “nhà”: chính trị, kinh tế, kinh doanh, và phải là những
người ñi ñầu trong ñổi mới
d Kế hoạch hoá ở các nước ñang phát triển (trường hợp các nước NICS và ASEAN)
Sau ñại chiến thế giới lần thứ II, hệ thống các nước thế giới thứ ba (nay gọi là các nước ñang phát triển) ra ñời Trong những thập niên ñầu tiên của quá trình phát triển, hầu hết các nước này ñã coi kế hoạch hoá quốc gia trực tiếp là cơ chế tổ chức duy nhất giúp họ vượt qua những trở ngại to lớn
ñối với sự phát triển và duy trì tăng trưởng kinh tế cao Sự thừa nhận này
dựa trên nhiều lập luận cơ bản về kinh tế và thể chế, ñặc biệt là về sự thất bại của thị trường, vấn ñề huy ñộng và phân bổ nguồn lực khan hiếm, phân phối thu nhập và ñiều chỉnh cơ cấu Mặt khác sự thành công của mô hình kế hoạch hoá tập trung của Liên Xô ñã hướng và củng cố sự lựa chọn của tất cả các nước này Kế hoạch hoá ở ñây ñược xây dựng một cách khá chi tiết, với
sự ñóng góp tích cực của khu vực nhà nước Các cơ quan lập kế hoạch ở các nước này ñều ñóng vị trí rất quan trọng trong bộ máy chính phủ Ví dụ như
ở Hàn Quốc, Uỷ ban kế hoạch kinh tế (EPB) thuộc chính phủ và người ñứng ñầu có vị trí cao hơn các bộ trưởng khác và ñồng thời là Phó thủ tướng Ở
Malaysia, Hội ñồng kế hoạch quốc gia (NPC) là cơ quan thuộc chính phủ
mà Chủ tịch là Thủ tướng, ñây là cơ quan cấp cao nhất quyết ñịnh các vấn
ñề kinh tế - xã hội của ñất nước Còn ở Thái Lan, cơ quan kế hoạch có tên
gọi là Uỷ ban phát triển kinh tế xã hội quốc gia (NESDB) thuộc văn phòng Thủ tướng,
Vào những năm 1960, bắt ñầu là thời kỳ khủng hoảng của kế hoạch hoá các nước NICs và ASEAN, phần lớn các kế hoạch trên thực tế là không thực hiện ñược Nguyên nhân chủ yếu dẫn ñến sự thất bại của kế hoạch chính là ở bản thân quy trình lập kế hoạch, cụ thể là sự yếu kém cảu kế hoạch và thực hiện kế hoạch, số liệu không ñầy ñủ và không chính xác, sự yếu kém về tổ chức lập kế hoạch, tác ñộng của các nhân tố bất thường trong
và ngoài nước
Sự khủng hoảng của kế hoạch ñã dẫn ñến những thay ñổi lớn, căn bản
Trang 21về kinh tế mà còn cả xã hội, môi trường, chuyển từ hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế sang hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế - xã hôị ðặc biệt là nhấn mạnh vấn ñề phân phối và công bằng xã hội
- Bảo ñảm tính chất thực tế hơn của hệ thống kế hoạch ðiều ñó thể hiện ở kế hoạch ngày càng mang tính chất ñịnh hướng hơn Tất cả các yếu
tố kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường ñều ñược tính ñến trong xây dựng
kế hoạch
-Quy trình lập kế hoạch cũng ñược thay ñổi theo hướng tăng cường chất lượng của hệ thống số liệu, thông tin, tăng cường mối quan hệ giữa các nhà kế hoạch với các nhà quản lý và các nhà chính trị
Với những thay ñổi trên, hệ thống kế hoạch hoá ở các nước NICs và ASEAN ngày càng có vị trí quan trọng trong qúa trình phát triển kinh tế ñất nước
CỦA MÔN HỌC KẾ HOẠCH HOÁ PHÁT TRIỂN
1.1 Tổ chức cơ quan kế hoạch
Công tác kế hoạch hoá ở Việt Nam ñược Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm coi trọng ngày từ những ngày ñầu giành ñược ñộc lập Ngày 31/12/1945 Người ñã ký Sắc lệnh 78/SL thành lập Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch Kiến thiết ñất nước Ngày 14 tháng 5 năm 1950, Ban Kinh tế Chính phủ ra ñời theo Sắc lệnh số 68/SL của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có nhiệm vụ nghiên cứu khởi thảo ñể ñệ trình Chính phủ những ñề án về chính sách, chương trình, kế hoạch kinh tế hoặc những vấn ñề quan trọng về kinh
tế Bước vào thời kỳ quá ñộ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, ñể ñáp
ứng ñòi hỏi của thời kỳ mới, Hội ñồng Chính phủ ra Nghị quyết thành lập
Uỷ ban kế hoạch quốc gia vào 8/10/1955, với nhiệm vụ ñể kế hoạch hóa các
Trang 22và kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế quocó dân và văn hóa theo ñường lối chính sách của ðảng và nhà nước Ngày 21 tháng 10 năm 1995, Quốc hội nước Cộng hào XHCN Việt Nam khóa IX ñã quyết ñịnh thành lập Bộ Kế hoạch và ðầu tư trên cơ sở hợp nhất UBKHNN và Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và ðầu tư
1.2 Những chặng ñường kế hoạch ở Việt Nam
Ngành Kế hoạch và ñầu tư với chức năng là cơ quan tham mưu tổng hợp về kinh tế của ðảng và Nhà nước ñã tổ chức xây dựng, tổng hợp và triển khai thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân trong mọi thời
kỳ Những chặng ñường kế hoạch của Việt Nam gắn liền với những giai
ñoạn lịch sử cũng như quá trình ñổi mới cơ chế kinh tế của cả nước
Giai ñoạn 1955 -1960
Giai ñoạn này, các cơ quan kế hoạch ở miền Bắc ñược thành lập ñã tập trung xây dựng các kế hoạch khôi phục kinh tế sau chiến tranh (1955-1957) và kế hoạch cải tạo phát triển kinh tế (1958 – 1960) nhằm khôi phục
và phát triển các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội; thực hiện cải cách ruộng
ñất, thực hiện “người cày có ruộng”, hợp tác hóa nông nghiệp, thiết lập quan
hệ sản xuất mới ở nông thôn, cải tạo công thương, phục hồi và xây dựng mới các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, phát triển sự nghiepẹ văn hóa , giáo dục, y tế
ñiều hành nền kinh tế
Các KH năm 1961, 1962, 1963 ñã ñi ñúng mục tiêu của KH 5 năm, góp phần xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững mạnh, chi viện ñắc lực cho sự nghiệp ñấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất ñất nước Tuy
Trang 23Kế hoạch thời chiến (1965 Ờ 1975)
Trong ựiều kiện chiến tranh lan rộng ra phạm vi cả nước, KH kinh tế thời chiến với các chủ trương ựề ra là: tạm thời ựình hoãn các công trình phục vụ chiến ựấu như cầu, ựường, hầm, kho tàng, sơ tán cơ sở kinh tế, trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu v.v về nơi an toàn Miền Bắc chhi viện cho miền nam, thực hiện các KH tuyển quân, hậu cần theo khẩu hiệu
Ộthóc không thiếu một cân, quân không thiếu một ngườiỢ
Kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1976 Ờ 1980)
đây là kế hoạch 5 năm ựầu tiên của nước Việt Nam thống nhất, trên
phạm vi cả nước, ựược tổ chức với quy mô lớn nhất thời ấy Trong ựiều kiện vừa có thời bình, vừa có chiến tranh trong thời gian cuối kỳ KH, nhìn chung thời kỳ KH 1976-1980 cũng ựạt ựược một số thành quả nhất ựịnh như khắc phục một bước hậu quả vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh
tế Tuy vậy, có thể ựánh giá KH 5 năm 1976-1980 là không thành công, những ngày cuối cùng của năm 1980 qua ựi, nền kinh tế Việt Nam bước qua một KH 5 năm nhưng sự lạc quan ban ựầu ựã bị thay thế bởi những day dứt
về thực trạng kinh tế tồi tệ, các mục tiêu ựặt ra quá cao, vượt khỏi tầm tay, nên tất cả các chỉ tiêu KH (15 chỉ tiêu) ựều không hoàn thành, hơn thế nữa
tỷ lệ thực hiện rất thấp đánh giá về công tác KHH nền kinh tế quốc dân thời gian này, chúng ta ựã nêu rõ: việc xây dựng KH kinh tế vẫn tập trung, quan liêu, thiếu căn cứ thực tiến và cơ sở khoa học, chưa sử dụng thị trường, chưa chú trọng ựầy ựủ và sử dụng ựúng ựắn các thành phần kinh tế
Kế hoạch 5 năm lần thức ba (1981 -1985)
KH năm năm 1981-1985 ựược trình ra đại hội đảng lần thứ V (tháng 3/1982) Nhiệm vụ ựặt ra trong giai ựoạn này vẫn tiếp tục củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN nhưng thận trọng hơn và việc triển khai xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật có trọng ựiểm hơn, số lượng chỉ tiêu xây dưngj
có ắt hơn và mức ựộ thận trọng hơn, thấp hơn đáng chú ý là trong thời kỳ
Trang 24Kết quả của KH 5 năm lần thứ ba có thể nói ñược ñánh giá như một bước “tiền cải tổ” chuẩn bị cho sự ñổi mới toàn diện nền kinh tế ñất nước, nhiều chỉ tiêu ñã ñạt ñược mức KH ñặt ra Tuy vậy thực chất nền kinh tế của nước ta vẫn vận hành theo một cơ chế cũ, cơ chế kinh tế vẫn mang nặng tính chất tập trung quan liệu, bao cấp Do vậy về cơ bản vẫn chưa tạo ñược ñộng lực mới thúc ñẩy sản xuất phát triển, kết thúc KH nhiều chỉ tiêu không ñạt ñược mức ñặt ra ban ñầu và vẫn bị ñanh giá là thất bại Nền kinh tế Việt Nam trải qua hai thời kỳ KH thất bại liên tiếp ñã rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Một số giải pháp mới trong cơ chế quản lý
vĩ mô thời kỳ này mới chỉ là những liều thuốc giảm sốt chứ chưa phải là phác ñồ chữa trị cản bệnh khủng hoảng kinh tế và siêu lạm phát của nước
ta giai ñoạn này
Kế hoạch 5 năm lần thứ 4 (1986 – 1990)
KH 5 năm 1986-1990 ñã ñược ðại hội ðảng lần thứ VI (tháng 12/1986) thông qua KH này ñược tổ chứuc nghiên cứu và xây dựng trong
ñiều kiện nền kinh tế có nhiều khó khăn Kế hoạch ñã ñược xây dựng sát
thực hơn, các cân ñối vĩ mô ñược dự báo và tính toán có căn cứ hơn Một
ñiểm mới trong KH 5 năm lần này là các nội dung của KH ñược cụ thể bằng
3 chương trình kinh tế lớn là: chương trình sản xuất lương thực, thực phẩm; chương trình sản xuất hàng tiêu dùng và chương trình sản xuất hàng xuất khẩu Với các chương trình ấy, nhiều giải pháp mang tính ñòn bảy, khuyến khích và thúc ñẩy cao hơn ñược ban hành trong thời kỳ KH, tạo ra khả năng
và ñiều kiện huy ñộng nguồn lực của tất cả các thành phần kinh tế cùng hướng vào thực hiện mục tiêu kế hoạch, ví dụ như: Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (5/4/1988) về ñổi mới quản lý trong nông nghiệp; Nghị quyết 217/HðBT trao quyền chủ ñộng sản xuất – kinh doanh cho các doanh nghiệp, chủ ñộng lấy thu bù chi, thực hiện kinh doanh có lãi; Tháng 12/1987 Luật ñầu tư nước ngoài ban hành; chính sách thả nổi gải cả hàng hóa, vật tư
và xóa bỏ hình thức phân phối hàng hóa ñịnh lượng theo tem phiếu; thực hiện cơ cơ cấp phát tín dụng thay cho chính sách cấp phát vốn ñối với các doanh nghiệp nhà nước v.v Những ca phẫu thuật chữa trị căn bệnh khủng hoảng kinh tế trên diễn ra liên tục ñã góp phần phục hồi sức sản xuất, thúc
ñẩy tăng trưởng kinh tế, kiềm chế và ñẩy lùi siêu lạm phát Cao hơn nữa, nó
là sự thể hiện quyết tâm của chúng ta về sự ñoạn tuyệt với cơ chế quản lý
Trang 25lớn ñược thực hiện vào những năm cuối thời kỳ KH nên tác dụng của nó ñối với thực hiện mục tiêu KH ñặt ra từ năm 1986 bị hạn chế, vì vậy phần lớn các chỉ tiêu (trừ chỉ tiêu giá ttrị xuất khẩu) ñều không thực hiện ñược
Chiến lược 10 năm 1991-2000 và KH 5 năm lần thứ 5 (1991-1995)
Dưới sự chỉ ñạo của Bộ chính trị, UBKHNN kết hợp vói các bộ, ngành, và ñịa phương ñã tổ chức và triển khai nghiên cứu, soạn thảo Chiến lược ổn ñịnh và phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (1991-2000) ðây là văn kiện chiến lược ñầu tiên của Việt Nam ñược nghiên cứu kỹ lưỡng, huy ñộng
ñông ñảo cán bộ trong ngành KH và ñầu tư, các viện nghiên cứu, các trường ñại học trong cả nước tham gia Chiến lược lấy ổn ñịnh làm trọng tâm tong
5 năm ñầu ; ñồng thời tạo ñiều kiện cho sự phát triển nhanh hơn trong giai
ñoạn sau Chiến lược ñã ñược ðại hội ðảng lần thứ VII (tháng 6/1991)
thông qua với mục tiêu tổng quát là: ra khỏi khủng hoảng, ổn ñịnh tình hình kinh tế - xã hội, phấn ñấu vượt qua khỏi tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện ñời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo
ñiều kiện cho ñất nước phát triển nhanh hơn vào ñầu thế kỷ 21
ðại hội ðảng lần thứ VII cũng ñồng thời thông qua KH 5 năm
(1991-1995), xác ñịnh mục tiêu chặng ñường ñầu của chiến lược phát triển là: vượt qua khó khăn, thử thách, ổn ñịnh và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường
ổn ñịnh chính trị, ñẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, ñưa ñất nước về cơ
bản thoát khỏi tình trạng khủng hoảng
Kết thúc giai ñoạn KH, những thành tựu kinh tế, xã hội ñạt ñược trong
5 năm 1991-1995 là tương ñối toàn diện và rõ nét hơn bất kỳ thời kỳ nào trước ñây, nhiều chỉ tiêu chủ yếu trong các ngành, các lĩnh vực của ñời sống kinh tế - xã hội ñạt ñược những mức tăng trưởng cao, ổn ñịnh và liên tục Sự phát triển chung của nền kinh tế ñã ñưa ñất nước từ chỗ sản xuất không ñủ tiêu dùng sang bảo ñảm ñược tiêu dùng, tiêu dùng ñược cải thiện và bắt ñầu
có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Vấn ñề lương thực ñược giải quyết vững
Trang 26chỉn lại một số mục tiêu của chiến lược ñể làm cơ sơ cho hoạch ñịnh KH 5 năm 1996-2000 Trên tinh thần ñó, Bộ KH &ðT ñã chủ trì cùng phối hợp với các cơ quan nghiên cứu KH từ trung ương ñến ñịa phương tổ chức triển khai nghiên cứu xây dựng kế hoạch 5 năm lần thứ 6 (1996-2000) Tháng 7/1996, ðại hội ðảng lần thứ VIII ñã thông qua ðại hội với mục tiêu tổng quát: tập trung mọi lực lượng, ttranh thủ thời cơ, vượt qua mọi thử thách,
ñẩy mạnh công cuộc ñổi mới một cách toàn diện và ñồng bộ, tiếp tục phát
triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của nhà nước theo ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa, phấn ñấu ñạt và vượt mục tiêu ñề ra trong chiến lược ổn ñịnh và phát triển kinh tế - xã hội ñến năm 2000: tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững, ñi ñôi với giải quyết những vấn ñề bức xúc về xã hội, bảo ñảm an ninh, quốc phòng, cải thiện ñời sống của nhân dân, nâng cao tích lũy nội bộ tạo tiền ñề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào ñầu thế kỷ sau
Kết thúc thời kỳ chiến lược 10 năm ñược cụ thể hóa trong 2 kế hoạch
5 năm làn thứ 5 và 6, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức gay gắt, nhưng nhìn chung mục tieu của chiến lược ñã có bản thực hiện ñược ðất nước ra khỏi khủng hoảng, tưng bước vượt qua tình trạng nứoc nghèo và kém phát triển
Chiến lược 10 năm 2001-2010 và Kế hoạch 5 năm lần thứ 7 (2001-2005)
Chiến lược ñẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện ñại hóa ñất nước theo
ñịnh hướng XHCN (2001-2010) ñã ñược ðại hội ðảng lần thứ IX (tháng
4/2001) thông qua, với mục tiêu chủ yếu là: ðưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt ñời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân Tạo nền tảng ñể ñến 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện ñại Nguồn lực con người , năng lực khoa học
và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh ñược tăng cường; thể chế kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN ñược hình thành
về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế ñược nâng cao
KH năm năm lần thứ 7 (2001-2005) với mục tiêu tổng quát là; tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao ñộng theo hướng ñẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện ñại hóa Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Mở rộng kinh tế ñối ngoại Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và ñào tạo, khoa hhọc và công nghệ,
Trang 27XHCN Giữ vũng, ổn ñịnh chính trị và an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia
Kết thúc giai ñoạn kế hoạch 2001-2005, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu
ñều ñạt và vượt kế hoạch, thực hiện ñược một bước quan trọng chiến lược
10 năm 2001-2010
Kế hoạch 5 năm lần thứ 8 (2006-2010)
Tiếp tục cụ thể hóa các nội dung của Chiến lược 10 năm 2001-2010,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 ñược ðại hội ðảng lần thứ X thông qua, không chỉ dừng lại ở mức ñạt ñược mục tiêu chiến lược 10 năm mà còn phải phấn ñấu cao hơn, tạo bước phát triển ñột phá mới, duy trì tốc ñộ phát triển kinh tế cao và bền vững, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng phát triển, sớm ñưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, cải thiện rõ rệt ñời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân Tạo ñược nền tảng ñể ñảy nhanh công nghiẹp hóa, hiện ñại hóa và phát triển kinhtế tri thức Giữ vững ổn ñịnh chính trị và trật tự, an toàn xã hội Bảo vệ vưng chắc
ñộc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia
NGHIÊN CỨU MÔN HỌC
1 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trải qua thực tiễn những năm ñổi mới vừa qua, chúng ta ñã nhận ra ngày càng ra những vấn ñề rất cơ bản về KHH trong nền kinh tế thị trường Vấn ñề là ở chỗ: hiểu và sử dụng thế nào KH trong kinh tế thị trường ðây
là một vấn ñề cần phải ñược ñi sâu nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn nhằm thúc ñẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của ñất nước
Môn kế hoạch hoá phát triển là một môn lý luận quản lý ứng dụng Nó nghiên cứu các vấn ñề lý luận, phương pháp luận và phương pháp cụ thể về xây dựng, thực hiện, theo dõi ñánh giá hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế -
Trang 28theo ñúng hướng ñi ñã ñịnh trước Hệ thống kế hoạch phát triển ñược xây dựng kết hợp với thị trường, lấy thị trường làm cơ sở mà dự tính xu thế phát triển trong ñiều kiện ña thành phần kinh tế và cùng với cac công cụ thị trường ñiều tiết các haọt ñộng của kinh tế thị trường
- Thứ hai, môn học không phải chỉ ñề cập ñến KH phát triển kinh tế
mà còn cả hệ thống KH phát triển xã hội Quá trình phát triển xã hội phải
ñược KH từ các chỉ tiêu phúc lợi xã hội ñến các lĩnh vực phát triển xã hội
chủ yếu như y tế, giáo dục, dân số, v.v Tất cả các vấn ñề ñó phải ñược gắn
bó chặt chẽ với KH phát triển kinh tế ñể tạo nên một hệ thống KH phát triển kinh tế - xã hội của ñất nước Theo xu thế chung của hệ thống KHH này thì các mục tiêu về phát triển xã hội sẽ ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn so với các mục tiêu về kinh tế
Về phạm vi nghiên cứu: môn học ñặt phạm vi nghiên cứu chính là KH phát triển kinh tế - xã hội ở phạm vi quốc gia Tuy vậy, những nội dung phân tích có thể nghiên cứu, sử dụng trong công tác KHH trong phạm vi các
ñịa phương (cấp tỉnh, huyện) hay KHH các ngành, lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật
với ý nghĩa tạo ra phông lý thuyết chung, cũng như mối quan hệ giữa các cấp, các khâu tong công tác KHH
2 Nội dung nghiên cứu
Môn học ñược trình bày và nghiên cứu theo các nội dung sau:
- Cơ sở lý luận và phương pháp luận của KHH phát triển Nội dung này bao gồm các lập luận về cơ sở tồn tại của kế hoạch trong nền kinh tế thị trường, các quan ñiểm, nguyên tắc và các phương pháp KHH phát triển, các
bộ phận cấu thành hệ thống KHH phát triển ở Việt Nam, nội dung và phương pháp thực hiện các bước trong quá trình soạn lập, tổ chức thực hiện, theo dõi và ñánh giá KH Các chương I, II, III, IV và V thể hiện các nội dung này
- Nội dung và phương pháp lập các KH phát triển kinh tế Giáo trình
ñề cập ñến trước hết là các KH mang tính mục tiêu phát triển lĩnh vực kinh
tế, ñó là KH tăng trưởng kinh tế, KH chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế,
KH phát triển công nghiệp và nông nghiệp Hệ thống các KH mang tính biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế ñược trình bày dựa trên những cân ñối vĩ mô chủ yếu trong các bản kế hoạch của Việt Nam, ñó là: KH
Trang 29- Nội dung và phương pháp lập các KH phát triển xã hội Nó bao gồm
kế hoạch về nâng cao phúc lợi xã hội của tăng trưởng kinh tế và các kế hoạch phát triển các lĩnh vực xã hội chủ yếu như: Phát triển y tế, phát triển giáo dục Các nội dung trên ñược viết ở các chưng XIV và XV
ðể thực hiện yêu cầu của ñối tượng và nội dung nghiên cứu, môn học
dựa trên sự kết hợp của 3 hệ thống lý luận quan trọng: Các nguyên lý cơ bản của hệ thống lý luận Mác - Lênin; hệ thống lý thuyết của nền kinh tế thị trường và lý luận về kinh tế học phát triển (kinh tế học các nước ñang phát triển) Sự kết hợp trên là cơ sở hình thành một cách khoa học các vấn ñề lý luận và phương pháp luận của kế hoạch hoá phát triển áp dụng cho Việt Nam hiện nay ðồng thời môn học sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như phương pháp duy vật biện chứng,phương pháp hệ thống, phân tích - tổng hợp, so sánh, thống kê, phương pháp toán v.v Môn học quán triệt ñầy ñủ yêu cầu của phương pháp thực chứng và chuẩn tắc ñể kết luận và giải quyết các vấn ñề Nhiều nội dung của môn học ñược phân tích
và trình bày theo phương pháp tổng hợp dựa trên những dự án ñổi mới KHH
ñang ñược triển khai áp dụng ở Việt Nam, kinh nghiệm về tổ chức công tác
kế hoạch của các nước trên thế giới
ðể nghiên cứu môn học kế hoạch hoá phát triển kinh tế - xã hội, ñòi
hỏi người học phải ñược trang bị trước kiến thức của các môn học; Kinh tế chính trị Mác - Lê nin, triết học, kinh tế vĩ mô, vi mô, kinh tế phát triển, khoa học quản lý, dự báo, kinh tế công cộng ðặc biệt khi học phải biết tận dụng, so sánh với các môn học có liên quan trực tiếp như: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội; SNA; chiến lược và kế hoạch kinh doanh
Trang 30TÓM TẮT CHƯƠNG
1 KH nằm trong chức năng ñầu tiên trong quy trình quản lý Kế hoạch chính là sự thể hiện ý ñồ phát triển của chủ thể ñến ñối tượng quản lý và các giải pháp thực thi KHH là phương thức quản lý bằng mục tiêu, là quá trình xây dựng kế hoạch và biến KH thành thực tế cuộc sống
2 ðứng trên góc ñộ quy trình thực hiện, KHH bao gồm 3 giai ñoạn: soạn
lập kế hoạch; tổ chức triển khai thựuc hiện KH; là giám sát, ñánh giá và
ñiều chỉnh kế hoạch ñứng trên góc ñộ nội dung, KHH bao gồm chiến
lược phát triển; quy hoạch phát triển; kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm và cuối cùng là các chương trình, dự án phát triển
3 Các nước có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh và các nước ñang phát triển ñều có lịch sử KHH khá lâu ñời Trong giai ñoạn ñầu họ thường áp dụng một cơ chế KHH theo kiểu tập trung Tính chất tập trung trong KHH ở các nước này giảm dần theo sự phát triển của kinh tế thị trường và hiện nay mô hình chủ yếu áp dụng ở ñây là mô hình KHH mang tính chất ñịnh hướng gián tiếp
4 Các nước thuộc hệ thống kinh tế XHCN trước kia ñã áp dụng cơ chế KHH tập trung trong khoảng thời gian dài và họ ñã dành ñược những thành công ñáng kể trong phát triển kinh tế Tuy vậy, hiện nay nền kinh
tế của các nước này ñều có sự biến ñổi theo mô hình kinh tế thị trường
có sự ñiều tiết của Nhà nước, công tác KHH vì thế cũng có sự chuyển
ñổi sang KHH phát triển mang tính chất ñịnh hướng là chủ yếu
5 Việt Nam có lịch sử áp dụng cơ chế KHH tập trung ngay từ sau khi hòa bình lập lại (1955) cho ñến thập niên 80 Quá trình sau ñó chúng ta liên tục có những bước ñổi mới vận dụng linh hoạt cơ chế KHH tập trung phù hợp với các ñiều kiện mới Hiện nay nước ta ñang trong giai ñoạn chuyển ñổi từ KHH tập trung sang KHH ñịnh hướng phát triển
6 Môn học KHH phát triển kinh tế - xã hội ñặt ñối tượng và nội dung nghiên cứu là hệ thống KHH phát triển, KHH ñịnh hướng ở tầm vĩ mô
và vận dụng vào ñiều kiện cụ thể Việt Nam Phương pháp nghiên cứu
Trang 31CÂU HỎI ÔN TẬP
1 KH hay KHH là những phạm trù chỉ dành riêng cho lĩnh vực quản lý kinh tế vĩ mô, ñúng hay sai? Giải thích tại sao?
2 So sánh bản chất của hai khái niệm: kế hoạch và kế hoạch hóa
3 Quy trình KHH phát triển? mối quan hệ giữa các bước trong quy trình này
4 Những bài học kinh nghiệm từ lịch sử phát triển KHH ở các nước Mỹ, Nhật, Pháp?
5 Hãy rút ra các bài học kinh nghiệm tử mô hình KHH tập trung của các nước XHCN trước ñây (lấy dẫn chứng từ các nước Liên Xô cũ, Trung Quốc và Việt Nam)?
6 Cơ chế kinh tế áp dụng cho Việt Nam hiện nay là gì? Nêu những xu hướng ñổi mới công tác KHH phù hợp với cơ chế mới ở nước ta hiện nay?
7 Nêu sự giống và khác nhau về ñối tượng và nội dung nghiên cứu của môn học KHH phát triển kinh tế - xã hội với môn học KHH kinh tế quốc dân trước ñây?
8 Trình bày cơ sở phương pháp nghiên cứu của môn học?
Trang 32(GS Trần đình Bút Ờ Việt Nam)
I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KẾ HOẠCH HOÁ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Sự chấp nhận rộng rãi về kế hoạch như là một trong những công cụ
ựiều tiết sự phát triển trong nền kinh tế thị trường ựược dựa trên một số lập
luận cơ bản sau ựây:
1 KH là một công cụ can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường
1.1 Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường có nhiều ưu thế, nhưng nó cũng không phải là
lý tưởng như nhiều người mong muốn, rất nhiều hạn chế từ cơ chế ựiều tiết của thị trường gây ra và những hạn chế ựó ựã ựem ựến hậu quả không nhỏ
ựối với nền kinh tế đó là những cơ sở rất quan trọng ựể nghiên cứu một vấn
ựề không kém phần quan trọng trong lý luận và thực tiễn ở phần lớn các
quốc gia trên thế giới hiện nay: vấn ựề vai trò và nội dung can thiệp của chắnh phủ trong nền kinh tế thị trường Nhà nước là một tổ chức ựược thiết lập ựể thực thi những quyền lực nhất ựịnh, ựiều tiết hành vi của các cá nhân sống trong xã hội nhằm phục vụ cho lợi ắch chung của xã hội ựó và tài trợ cho việc cung cấp những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu mà xã hội ựó có nhu cầu Vấn ựề là ở chỗ cần biết rõ Chắnh phủ làm những gì và chức năng quyền hạn của Chắnh phủ ựến ựâu? Câu trả lời ựúng ựược dựa trên nhiều
Trang 33kinh tế của chính phủ nhiều nước, trong ñó có ở Việt Nam, cho thấy có ít nhất ba lý do chính lập luận cho sự can thiệp của Chính phủ:
a Nhà nước can thiệp nhằm khắc phục các khuyết tật thị trường, hướng hoạt ñộng của thị trường vào hiệu quả xã hội
Bản thân thị trường có thể ñem ñến những kết cục phi hiệu quả Chính phủ can thiệp sẽ hy vọng hướng thị trường hoạt ñộng theo hướng có hiệu quả hơn Trong trường hợp thị trường ñộc quyền, Chính phủ can thiệp nhằm kiểm soát chặt chẽ thị trường, ñể ñảm bảo rằng các rào cản ñối với sự gia nhập thị trường không trở thành những phương tiện khuyến khích quyền lực
ñộc quyền ðối với các ngoại ứng, Chính phủ can thiệp ñể buộc các bên
tham gia giao dịch thị trường phải tính ñến tác ñộng của mình gây ra cho ñối tượng thứ ba, nhờ ñó có thể ñiều chỉnh các hoạt ñộng của thị trường ñạt tới mức tối ưu xã hội Chẳng hạn, ñối với ngoại ứng tích cực, chính phủ có thể khuyến khích việc gia tăng sản xuất bằng cách trợ cấp cho người tạo ra ngoại ứng tích cực (trợ giá cho việc tiêm chủng là một thí dụ) Ngược lại, với ngoại ứng tiêu cực, chính phủ có thể ñánh thuế ñể “phạt” những người gây thiệt hại cho xã hội Chính phủ cần ñứng ra ñể thực hiện việc cung cấp hàng hóa công cộng (chẳng hạn như ñường sá, cầu cống và hệ thống kết cấu
hạ tầng KTXH) vì những loại hàng hoá này rất cần cho sự vận hành của nền kinh tế nhưng khu vực tư nhân lại từ chối cung cấp Sự can thiệp của Chính phủ trong các thị trường sẽ bổ sung thông tin cho thị trường, hoặc kiểm soát hành vi của những bên có lợi thế về thông tin ñể ñảm bảo thị trường hoạt
ñộng có hiệu quả hơn Vai trò này ngày càng ñược nhận thức là vô cùng
quan trọng, nhất là trong thời ñại công nghệ thông tin Việc chính phủ ra các qui ñịnh nghiêm ngặt về thông tin hướng dẫn sử dụng thực phẩm dược phẩm là một thí dụ rõ ràng cho sự ñiều tiết của chính phủ trong trường hợp này Cuối cùng, khuyết tật về sự bất ổn ñịnh do nền kinh tế do thị trường gây ra (giá cả bất ổn ñịnh, lạm phát, thất nghiệp ) có khả năng ñược khắc
Trang 34ñể Chính phủ cần phải can thiệp, ñó là phân phối lại thu nhập nhằm thực
hiện công bằng xã hội và hàng hóa khuyến dụng
(i) Vấn ñề phân phối lại thu nhập và tạo cơ hội kinh tế cho mọi người:
Sự không hoàn hảo của thị trường thường dẫn ñến kết cục là sự thiếu công bằng Chính phủ phải có trách nhiệm thực hiện việc phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, ñồng thời trợ giúp cho các ñối tượng dễ tổn thương như người già, người nghèo, trẻ em, người tàn tật Thông thường, Chính phủ có thể tiến hành các chương trình trợ cấp trực tiếp cho từng cá nhân ñể giúp họ thoát khỏi cảnh nghèo ñói Nhiều khi các chương trình phân phối lại còn ñược thực hiện dưới dạng cung cấp các phương tiện, dịch
vụ cho cả cộng ñồng như chương trình 135 (xây dựng ñiện, ñường, trường, trạm ở nông thôn); chương trình nước sạch nông thôn; chương trình xóa ñói giảm nghèo v.v
Mặt khác, việc sử dụng quyền lực của Chính phủ ñể tạo ra sự bình
ñẳng về cơ hội cho mọi công dân, không phân biệt tình trạng cá nhân, có thể
làm lợi cho xã hội nói chung vì nó sẽ giúp các cá nhân có nhiều cơ hội hơn
ñể ñặt năng lực của mình vào công việc phù hợp nhất, có năng suất cao
nhất
(ii) Vấn ñề hàng hóa khuyến dụng
Những hàng hóa hay dịch vụ mà việc tiêu dùng chúng có lợi cho cá nhân và xã hội, nhưng cá nhân không tự nguyện tiêu dùng, khiến chính phủ phải bắt buộc họ sử dụng gọi là hàng hóa khuyến dụng
Nhiều nhà kinh tế học cho rằng, cá nhân nói chung nhiều khi không nhận thức hết ñược lợi ích hoặc tác hại của việc tiêu dùng một loại hàng hóa hay dịch vụ nào ñó, ngay cả khi họ có ñầy ñủ thông tin Chẳng hạn, ai cũng biết hút thuốc là có hại cho sức khỏe, nhưng rất nhiều người vẫn tiếp tục hút Nhiều gia ñình tham gia tiêm chủng sẽ giúp trẻ em phòng chống nhiều căn bệnh nguy hiểm nhưng họ vẫn không hướng dẫn con em mình thực hiện công việc này, bất kể việc tiêm chủng là miễn phí hay phải trả tiền
Như vậy, sự can thiệp của Chính phủ trong trường hợp hàng hóa khuyến dụng bắt nguồn từ một chức năng gọi là chức năng "phụ quyền" của Chính phủ Vai trò của Chính phủ ở ñây giống như vai trò của người cha
Trang 35dục, giải thích thuyết phục, nhưng nếu cần thì có thể biến thành mệnh lệnh bắt buộc
c Nhà nước can thiệp nhằm hướng hoạt ñộng KTXH của ñất nước theo những mục tiêu mà Chính phủ cần ñạt tới
Nếu hai lý do trên liên quan ñến những khuyết tật của thị trường trong vấn ñề phân bổ nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu ngay trước mắt thì
lý do thứ ba này lại ñề cập ñến một hạn chế khác của thị trường, ñó là sự thiển cận không có tầm nhìn xa chiến lược cho các vấn ñề dài hạn Nguyên nhân của nó là vì thị trường tự do ñược hình thành từ sự tương tác giữa vô
số người mua và người bán trên thị trường Những người này ñều chỉ có
ñộng cơ tối ña hoá lợi ích ngắn hạn của mình, còn họ không có ñộng lực và
phương tiện ñể chăm lo cho những lợi ích dài hạn của cả cộng ñồng Do ñó, Chính phủ, với tư cách là người ñại diện cho quyền lợi của cả cộng ñồng dân cư, phải hướng nền kinh tế phát triển theo ñịnh hướng chiến lược dài hạn mà Chính phủ cho rằng có lợi cho cả xã hội nói chung
Với tư cách là một tổ chức ra ñời nhằm thực thi những quyền hành nhất ñịnh ñối với xã hội, chính phủ thường ñặt ra những mục tiêu mà xã hội cần ñạt tới trong một thời gian nhất ñịnh hay một số lĩnh vực cụ thể, ví dụ như: Chính phủ muốn hướng trình ñộ dân trí của ñất nước sẽ ñạt ñược ở một mức ñộ nào ñó trong một khoảng thời gian nhất ñịnh, muốn thể lực tầm vóc của người dân phải tăng lên một mức ñộ tương xứng so với thế giới, hay muốn kìm hãm tốc ñộ tăng trưởng dân số tự nhiên ở một tỉ lệ thấp v.v ðể
ñạt ñược những ý muốn của mình, Chính phủ phải can thiệp trực tiếp vào
các lĩnh vực ñó bằng việc hoạch ñịnh những mục tiêu cụ thể thông qua các chiến lựơc, KH, chương trình phát triển như: chương trình cải cách giáo dục, chiến lược phát triển giáo dục, chương trình chăm sóc sức khỏe, chương trình kế hoạch hóa gia ñình v.v Cùng với việc ñưa ra các chương trình, Chính phủ sử dụng nguồn lực, khả năng tài chính của mình ñể tổ chức
Trang 36Như vậy, việc tăng cường sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế không chỉ xuất phát từ những khuyết tật vốn có của thị trường mà nó còn mang một ý nghĩa cao hơn nhằm hướng xã hội tới một ñời sống tốt ñẹp hơn
mà thị trường dù có hoạt ñộng tốt cũng không làm ñược
1.2 Những công cụ thực hiện sự can thiệp
Theo những phân tích ở trên, phải khẳng ñịnh rằng sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế là hết sức cần thiết Tuy nhiên, Chính phủ không phải lúc nào cũng thành công (chúng ta gọi là các thất bại của Chính phủ)
Vì vậy, ñể làm cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế thành công, Chính phủ cần phải tổ chức tốt sự can thiệp của mình, thông qua việc sử dụng nhiều công cụ khác nhau:
a Hệ thống pháp luật và những quy ñịnh dưới luật
Chính phủ xây dựng và thực hiện ñúng ñắn, ñồng bộ hệ thống pháp luật và những văn bản dưới luật ñể tiến tới quản lý bằng pháp luật Việc sử dụng công cụ pháp luật, giúp Chính phủ quản lý, ñiều tiết hành vi kinh doanh của các doanh nhân, ñiều tiết ñược hoạt ñộng kinh tế thị trường Việc thiếu luật hoặc luật thiếu ñồng bộ, không phù hợp sẽ làm tổn thương ñến nền kinh tế và xã hội trở nên rối rắm hơn Vì vậy, phải xây dựng và thực hiện ñúng ñắn, ñồng bộ hệ thống pháp luật và các quy ñịnh dưới luật như Pháp lệnh, Nghị ñịnh Theo ñó, mọi công dân có quyền tự do, chủ ñộng sáng tạo trong giới hạn cho phép của pháp luật
b Hoạch ñịnh phát triển
Các công cụ hoạch ñịnh phát triển bao gồm: Chiến lược, quy hoạch,
KH, chương trình phát triển KTXH trực tiếp giúp Chính phủ thực hiện chức năng ổn ñịnh vĩ mô và ñịnh hướng tương lai trong ñiều kiện kinh tế thị trường Chính phủ, thông qua công cụ hoạch ñịnh, sẽ ñánh giá ñược tình hình kinh tế hiện tại và mức ñộ, khả năng giải quyết các vấn ñề KTXH tại một thời ñiểm nhất ñịnh; xây dựng các mục tiêu chiến lược ñịnh hướng sự phát triển KTXH của các nước, từng vùng, từng ngành trong tương lai; liên kết mục tiêu ñặt ra với với cơ cấu nguồn lực, thực hiện các ưu tiên ñầu tư cần thiết ñể thực hiện có hiệu quả các mục tiêu; liên kết các ngành, vùng kinh tế thành một tổng thể thống nhất theo các chương trình phát triển
Trang 37c Các chính sách kinh tế vĩ mô
ðể thực hiện ñược các chức năng của mình, chính phủ thường sử dụng
một hệ thống chính sách, bao gồm hai loại:
Chính sách ñịnh hướng phát triển Các chính sách này có chức năng
ñịnh hướng, hướng dẫn các hoạt ñộng KTXH, chỉ ra cách thức vận ñộng của
nền kinh tế ñể hướng tới các mục tiêu phát triển ñặt ra Hệ thống chính sách
ñịnh hướng phát triển bao gồm: chính sách phát triển các ngành kinh tế:
nông nghiệp, công nghiêp, dịch vụ; chính sách phát triển các vùng kinh tế; chính sách phát triển các lĩnh vực KTXH như: dân số - lao ñộng và giải quyết việc làm, khoa học công nghệ, ñất ñai, chính sách ñầu tư, chính sácch
mở cửa, hội nhập v.v
Chính sách ñiều tiết vĩ mô, bao gồm chính sách tài khoá, tiền tệ Chính phủ thông qua các công cụ chủ yếu của chính sách tài khoá như: thuế, chi tiêu và công cụ của chính sách tiền tệ như: lãi suất, tỷ giá, quy ñịnh tỷ tệ
dự trữ bắt buộc trong các ngân hàng, lãi suất chiết khấu v.v nhằm ñiều tiết nền kinh tế theo hướng thúc ñẩy tăng trưởng, ổn ñịnh kinh tế vĩ mô, và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Các chính sách ñiều tiết còn nhằm tập trung vào thực hiện tốt quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các ñơn vị kinh tế và các thành viên trong xã hội, cũng như bảo ñảm phúc lợi xã hội cho con người
d Lực lượng kinh tế nhà nước
Hiểu theo nghĩa chung nhất, kinh tế nhà nước bao gồm tổng thể các nguồn lực do Nhà nước sở hữu ñã, ñang và chưa huy ñộng vào sử dụng Hệ thống kinh tế Nhà nước ñược chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất là các doanh nghiệp nhà nước bao gồm doanh nghiệp nhà nước thuộc lĩnh vực sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp; các ngân hàng thương mại nhà nước; công ty bảo hiểm nhà nước Nhóm thứ hai là hệ thống phi doanh nghiệp nhà
Trang 38ñã tham gia vào vòng luân chuyển kinh tế, sử dụng lực lượng tài chính tiền
tệ nhà nước như một công cụ mạnh mẽ trong việc phân phối các nguồn lực, hướng nền kinh tế theo các mục tiêu vĩ mô ñã ñịnh
Hai là, các lực lượng dự trữ quốc gia thể hiện cả bằng hiện vật và giá trị là công cụ giúp Chính phủ ổn ñịnh thị trường, cân bằng cung - cầu; bảo
ñảm ổn ñịnh kinh tế, công bằng xã hội, an ninh quốc gia; thực hiện các ñịnh
hướng phát triển
Cuối cùng, hệ thống doanh nghiệp nhà nước thực hiện những chức năng: cung cấp hàng hoá dịch vụ, giải quyết việc làm, thu nhập, kích thích tiêu dùng, chống ñỡ khủng hoảng kinh tế Với tư cách là công cụ ñể nhà nước ñiều tiết các hoạt ñộng của nền kinh tế quốc dân, thông qua ñó hướng dẫn các khu vực kinh tế khác phát triển, các doanh nghiệp nhà nước còn có tác dụng thúc ñẩy và tạo môi trường cho kinh tế tư nhân phát triển, tham gia vào chống ñộc quyền tự nhiên, tối ña hoá phúc lợi xã hội
Như vậy, kế hoạch phát triển là một trong những công cụ tổ chức sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường (công cụ b) Nó giúp cho
sự can thiệp của nhà nước chắc chắn khắc phục ñược thất bại của thị trường, hướng hoạt ñộng thị trường vào những mục tiêu mà xã hội cần có ðặc trưng của công cụ này khác với các nhóm khác là ở chỗ ñây là phương pháp quản lý nền kinh tế của nhà nước theo mục tiêu Nó thể hiện bằng việc trước hết là Chính phủ cần nhận biết ñược sự vận ñộng của kinh tế thị trường, chủ
ñộng xác ñịnh mục tiêu ñịnh hướng phát triển KTXH phải ñạt ñược trong
một khoảng thời gian nhất ñịnh của một quốc gia, một vùng, một ngành hay một ñịa phương, và những giải pháp chính sách cần thiết ñể ñạt mục tiêu với hiệu quả và hiệu lực cao nhất
2 KH là công cụ huy ñộng và phân bổ nguồn lực khan hiếm nhằm thực hiện các mục tiêu ưu tiên
Chúng ta luôn nằm trong tình trạng khan hiếm nguồn lực, nhất là: vốn, lao ñộng có tay nghề và công nghệ kỹ thuật tiên tiến Nếu cứ ñể thị trường
ñiều tiết, các nguồn lực này sẽ hướng vào việc sản xuất các hàng hoá nhiều
lợi nhuận và mang tính trước mắt, ngắn hạn, phục vụ chủ yếu cho nhu cầu của những người giầu trong xã hội, ñó là những hàng hoá xa xỉ Các nguồn lực không thể huy ñộng ñược vào những vùng sâu, vùng xa hoặc hoạt ñộng
Trang 39lớp yếu thế trong xã hội; các nguồn lực khan hiếm ñược phân bổ phù hợp với nhu cầu trong dài hạn của ñất nước và ñịa phương
3 KH là một công cụ ñể thu hút ñược các nguồn tài trợ từ nước ngoài
Nếu chúng ta có những KHPT cụ thể với những mục tiêu ñặt ra cụ thể
và những dự án ñược thiết kế cẩn thận, ñó thường là một ñiều kiện cần thiết
ñể nhận ñược sự ủng hộ của các nhà ñầu tư trong nước và ngoài nước
Trong một chừng mực nhất ñịnh việc mô tả dự án tỷ mỷ và cụ thể trong khuôn khổ một KHPT toàn diện càng nhiều bao nhiêu thì mong muốn của các ñịa phương về việc tìm kiến nguồn vốn từ bên ngoài càng nhiều bấy nhiêu Thực tế qua Hội nghị các nhà tài trợ vừa qua ñã cho thấy, nhờ Chính phủ Việt Nam ñã có một lộ trình rõ ràng và thể hiện rõ quyết tâm trong cải cách bộ máy hành chính nên Việt Nam ñã nhận ñược sự cam kết tài trợ lớn nhất từ trước ñến nay từ cộng ñồng các nhà tài trợ quốc tế
4 KH là công cụ ñể Chính phủ công bố các mục tiêu phát triển của mình và huy ñộng nguồn lực xã hội cùng hướng tới mục tiêu
Sự công bố cụ thể về những mục tiêu xã hội và kinh tế quốc gia hoặc của một ñịa phương dưới dạng một KHPT cụ thể có những ảnh hưởng quan trọng về thái ñộ hay tâm lý ñối với dân cư Nó có thể thành công trong việc tập hợp dân chúng ñằng sau chính phủ trong một chiến lược quốc gia ñể xoá bỏ nghèo ñói Bằng việc huy ñộng sự ủng hộ của quần chúng và ñi sâu vào các tầng lớp xã hội, các ñảng phái, tôn giáo ñể yêu cầu mọi công dân
ñều cùng nhau là việc ñể xây dựng ñất nước Nhà nước (các cấp) khi có một
KH kinh tế ñược coi là ñược trang bị tốt nhất ñể ñảm bảo những ñộng lực cần thiết ñể vượt qua những lực cản và thường hay chia rẽ của chủ nghĩa bè phái và chủ nghĩa truyền thống trong một yêu cầu chung ñòi hỏi tiến bộ xã hội và cuộc sống ấm no cho mọi người
II BẢN CHẤT CỦA KẾ HOẠCH HOÁ VÀ SỰ THỂ HIỆN TRONG
Trang 40Một kế hoạch toàn diện ựặt ra những mục tiêu bao hàm tất cả mọi mặt trong kinh tế quốc dân Một kế hoạch từng phần sẽ ựề cập ựến một phần
của nền kinh tế Kế tiếp, bản chất của kế hoạch hoá ựược thể hiện ở cách
thức thực hiện sự can thiệp của chắnh phủ vào nền kinh tế ựể thực hiện những mục tiêu ựặt ra
Bản chất là giống nhau nhưng sự biểu hiện của bản chất này ựược thể hiện không giống nhau trong các phương thức kế hoạch hóa khác nhau
2 Bản chất của kế hoạch hoá tập trung mệnh lệnh
Thể hiện rõ nhất của cơ chế này là nền kinh tế Liên Xô cũ, những nền kinh tế kiểu Xô Viết ở đông Âu, kể cả của Việt Nam trước các cuộc cải cách kinh tế năm 1990 Ở các nước này cơ sở kinh tế ựược xây dựng và hoàn thiện là chế ựộ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nhà nước chuyên chắnh vô sản không những ựóng vai trò ựiều hành chắnh trị mà còn
có khả năng ựiều tiết và quản lý toàn diện, trực tiếp các vấn ựề về kinh tế
Kế hoạch hóa tập trung thực chất là sự khống chế trực tiếp những hoạt
ựộng kinh tế bằng cách tập trung phân bổ nguồn lực thông qua các quyết ựịnh mang tắnh mệnh lệnh phát ra từ Trung ương Các mục tiêu cụ thể ựược
ựịnh trước bởi các nhà kế hoạch ở trung ương ựã tạo nên cơ sở cho một kế
hoạch kinh tế quốc dân toàn diện, ựầy ựủ và ựược chuyển xuống cấp dưới theo tuyến dọc Quá trình triển khai thực hiện kế hoạch ựược tiến hành trên
cơ sở hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh cấp trên giao cho cấp dưới, phương thực cấp phát Ờ giao nộp vốn, vật tư, lao ựộng, sản phẩm hàng hóa và các chỉ thị mệnh lệnh mang tắnh hành chắnh
3 Bản chất của kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị trường
Trước tiên, phải nhận thức rằng, kể cả các nước có nền kinh tế thị trường mạnh như Mỹ, Nhật, Anh , KHH vẫn ựóng một vai trò sống còn, mặc dù tương ựối gián tiếp trong nền kinh tế đặc trưng cơ bản của các nước có nền kinh tế thị trường là tắnh chất ựa thành phần kinh tế, sở hữu tư nhân dưới nhiều hình thức khác nhau thống trị trong toàn bộ hệ thống kinh
tế Ở ựây, thị trường tồn tại như một sức mạnh thần bắ chi phối các mặt hoạt
ựộng của ựời sống kinh tế - xã hội kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị
trường là thể hiện sự nỗ lực có ý thức của chắnh phủ trong việc chủ ựộng thiết lập các mối quan hệ giữa nhu cầu tiêu dùng của xã hội với khả năng