1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ

177 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần chủ yếu của cuốn sách tập trung phân tích chất lượng của sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, theo ba chiều cạnh chính yếu: chất lượng tăng trưởng kinh tế, chất lượng công bằng

Trang 1

PGS TS LÊ XUÂN BÁ, HOÀNG THU HÒA

(Đồng chủ biên)

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ- XÃ HỘI (Sách tham khảo)

Nhà xuất bản Tài chính

Hà Nội- Tháng 6/2010

Trang 2

Tập thể tác giả:

Hoàng Thu Hoà

Trần Hồng Minh

Ngô Văn Giang

Nguyễn Hải Linh

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế - xã hội từ nhiều năm nay

là một đòi hỏi bức thiết, là nguyện vọng của nhân dân, là một chủ trương lớn,

cơ bản của Đảng và Nhà nước ta Chủ trương đó đang từng bước đi vào cuộc sống, trở thành sức mạnh thúc đẩy công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế, cải cách nền hành chính, chuyển biến các chính sách và biện pháp đổi mới kinh tế - xã hội

Trên thế giới, nâng cao chất lượng của sự phát triển để đạt đến sự phát triển bền vững là một xu hướng lớn, có tính thời đại, được thể hiện ở hầu hết các quốc gia, nhất là trong các chính sách và biện pháp để khắc phục cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, chuyển sang thời kỳ phát triển hậu khủng hoảng

Cuốn sách “Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế - xã hội” được xuất bản góp phần khiêm tốn vào việc nhận thức và thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta

Cuốn sách chia làm ba phần Hai phần đầu trình bày về quan niệm chất lượng phát triển và giới thiệu kinh nghiệm đáng chú ý về nâng cao chất lượng phát triển của ba nước là: Trung Quốc, Hàn Quốc và Phần Lan

Phần chủ yếu của cuốn sách tập trung phân tích chất lượng của sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, theo ba chiều cạnh chính yếu: chất lượng tăng trưởng kinh tế, chất lượng công bằng xã hội, chất lượng gìn giữ môi trường

Các tác giả đã cố gắng sưu tầm, lựa chọn để cung cấp những số liệu, thông tin về thực trạng chất lượng phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, phấn đấu làm rõ thành tựu, yếu kém và những nguyên nhân của sự yếu kém

Trên cơ sở đó, các tác giả đã nêu ra một số kiến nghị về chính sách và biện pháp để nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta,

về từng chiều cạnh (kinh tế, xã hội, môi trường), đi đến kết luận ngắn gọn về tổng thể công cuộc đổi mới và phát triển đất nước

Trong khi biên soạn cuốn sách này, các tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu, tiếp nhận những ý kiến phân tích, nhận xét trong một số công trình nghiên cứu của các chuyên gia ở trong và ngoài nước (được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo của cuốn sách)

Chúng tôi xin chân thành cám ơn cơ quan phát triển quốc tế của Đan Mạch (Danida), trong khuôn khổ dự án “Nâng cao năng lực nghiên cứu và

Trang 4

phân tích chính sách cho Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương”, đã hỗ trợ về tài chính cho việc biên soạn và xuất bản cuốn sách này

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, HỘP, HÌNH 7

PHẦN I 9

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG 9

I QUAN NIỆM VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 9

1.1 Nhận thức chung về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng 9

1.2 Một số quan niệm đáng chú ý về chất lượng tăng trưởng kinh tế 12

II MỐI QUAN HỆ GIỮA TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG 15

2.1 Nhận thức chung về mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng 15

2.2 Sự thể hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng qua một số lĩnh vực 16

PHẦN II 28

KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI 28

I TRUNG QUỐC 28

1.1 Một số vấn đề tồn tại 29

1.2 Vượt qua thách thức để đảm bảo chất lượng tăng trưởng 33

II HÀN QUỐC 39

2.1 Những thành tựu nổi bật 40

2.2.Một số thách thức với chất lượng tăng trưởng 46

2.3 Bài học rút ra từ kinh nghiệm của Hàn Quốc 47

III PHẦN LAN 49

3.1.Tổng quan về phát triển kinh tế- xã hội của Phần Lan 49

3.2 Một số cải cách cơ bản nhằm mục tiêu đảm bảo chất lượng tăng trưởng 50

PHẦN III 56

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM 56

I CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 56

1.1 Huy động và sử dụng các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế 56

Trang 6

1.2 Thành tựu về chất lượng tăng trưởng kinh tế 62

1.3 Những yếu kém về chất lượng tăng trưởng 67

1.4 Nguyên nhân của những yếu kém nêu trên 77

1.5 Các giải pháp then chốt nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 81

II CHẤT LƯỢNG CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ TIẾN BỘ XÃ HỘI 94

2.1 Khái niệm về công bằng xã hội và tiến bộ xã hội 94

2.2 Các yếu tố và các chính sách để đạt được công bằng và tiến bộ xã hội 98

2.3 Chất lượng công bằng và tiến bộ xã hội ở Việt Nam 103

2.4 Những yếu kém trong thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội 110

2.5 Nguyên nhân của những yếu kém nêu trên 120

2.6 Quan điểm và giải pháp thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội trong những năm tới 122

III CHẤT LƯỢNG GÌN GIỮ MÔI TRƯỜNG 130

3.1 Môi trường và quá trình phát triển kinh tế xã hội 130

3.2 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế - xã hội 132

3.3 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững 135

3.4 Thực trạng hiện nay của chất lượng môi trường nước ta 136

3.5 Vấn đề cần giải quyết 161

3.6 Làm gì để nâng cao chất lượng môi trường 162

KẾT LUẬN 174

TÀI LIỆU THAM KHẢO 176

Trang 7

Danh mục bảng, hộp, hình

Bảng 1 : Chỉ số phát triển con người của Trung Quốc năm 2007 trang

Bảng 2: Các giai đoạn phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc

Bảng 3: Chỉ số phát triển con người của Hàn Quốc năm 2007

Bảng 4: Các nước đứng đầu về khoa học từ 2000 – 2006

Bảng 5 Lực lượng lao động tham gia các hoạt động kinh tế, 2000-2009

Bảng 6 Năng suất lao động xã hội, 2000-2009

Bảng 7 Cơ cấu lao động làm việc theo ngành kinh tế, 2000-2009

Bảng 8 Tình hình biến động các loại đất, 1990-2008

Bảng 9 Tổng vốn đầu tư xã hội, 2000-2009

Bảng 10 Tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc giai đoạn 1992-2009

Bảng 11 Tỷ trọng các ngành trong GDP

Bảng 12 Cơ cấu đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế

Bảng 13 Xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài, 1995-2009

Bảng 14 Chỉ số phát triển con người (HDI) qua các năm của Việt Nam

Bảng 15 So sánh ICOR của Việt Nam với các nước trong thời kỳ tăng trưởng nhanh

Bảng 16 Năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2007-2009

Bảng 17 Môi trường kinh doanh của Việt Nam năm 2009

Bảng 18 Chỉ số phát triển kinh tế tri thức của một số nước và nhóm nước,

2009

Bảng 19 Tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) của

nền kinh tế Việt Nam

Bảng 20 Số lượng các trường cao đẳng và đại học

Bảng 21 Thu nhập bình quân đầu người/tháng phân theo 5 nhóm thu nhập

Bảng 22 Hệ số GINI về bất bình đẳng thu nhập của một số nước châu Á

Bảng 23 Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng

Bảng 24 Chi tiêu bình quân đầu người 1 tháng

Bảng 25 Nhà ở của hộ gia đình chia theo thu nhập năm 2004

Trang 8

Hộp 1: Một số kết quả đáng chú ý của Đề tài nghiên cứu “Mức sống kết hợp với môi trường sống của các hộ gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh”

Hộp 2: Những biểu hiện của khủng hoảng môi trường

Hộp 3: Các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã tham gia

Hộp 4: Sự xâm hại môi trường của công ty Tung Kuang ở Việt Nam

Hộp 5: Các khu công nghiệp Cần Thơ đang “sát hại” môi trường

Hình 1: Chuyển đổi kinh tế tại Hàn Quốc từ năm 1945 – 2005

Hình 2: Các chỉ số phát triển R&D của Hàn Quốc

Hình 3: Trình độ của nghiên cứu viên theo loại hình tổ chức

Hình 4: Xu hướng HDI

Hình 5: Tốc độ tăng trưởng GDP, mức GDP bình quân đầu người của Việt Nam, giai đoạn 1990-2009

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEM Diễn đàn hợp tác Á - Âu

EU Liên minh châu Âu

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

GINI Hệ số đo lường bất bình đẳng thu nhập

GNP Tổng sản phẩm quốc dân

HDI Chỉ số phát triển con người

IPR Sở hữu trí tuệ

KEI Chỉ số kinh tế tri thức

NI Thu nhập quốc dân

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

PPP Sức mua tương đương

R&D Nghiên cứu và triển khai

TFP Tổng năng suất nhân tố

UNDP Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc

WB Ngân hàng Thế giới

WEF Diễn đàn Kinh tế Thế giới

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

PHẦN I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ

TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG

I QUAN NIỆM VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1.1 Nhận thức chung về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng

Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tăng trưởng, hầu hết các định nghĩa này đều rất “mở”, và đưa đến nhiều cách hiểu khác nhau Tuy nhiên, tất cả đều cho thấy tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô, sản lượng của nền kinh tế trong giai đoạn nhất định (thường là 1 năm) Đó là kết quả được tạo

ra bởi tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ trong nền kinh tế Tăng trưởng kinh tế được phản ánh ở nhiều chỉ tiêu như: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), thu nhập quốc dân (NI), tăng trưởng vốn, lao động, sự gia tăng dung lượng thị trường,… Có thể thấy, các lý thuyết về tăng trưởng đều nhằm mục đích xác định những yếu tố chủ yếu quyết định tăng trưởng và vai trò của chúng đối với quá trình tăng trưởng Theo đó, có bốn yếu

tố tăng trưởng được thừa nhận rộng rãi gồm: số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; số lượng và chất lượng nguồn tài nguyên; mức độ tích lũy vốn; và sự đổi mới công nghệ (bao gồm cả công nghệ quản lý) Song, tuỳ thuộc vào bối cảnh và giai đoạn phát triển nhất định của từng nước, mức độ tác động đến tăng trưởng của các yếu tố trên là khác nhau Nếu như đối với các nước đang trong quá trình công nghiệp hoá, nguồn vốn vật chất đóng một vai trò quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, thì đối với các nước công nghiệp, nguồn vốn nhân lực và công nghệ được thể hiện qua tổng năng suất nhân tố (TFP) cao, lại là những yếu tố cơ bản quyết định tốc độ tăng trưởng

Quá trình tăng trưởng bao gồm cả tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài hạn,… Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã lượng hoá tác động của các nguồn lực tăng trưởng đến chất lượng và động thái tăng trưởng thông qua các mô hình Quá trình tăng trưởng có thể có nhiều mô hình khác nhau như tăng trưởng hướng nội, tăng trưởng hướng ngoại hoặc sự kết hợp của cả hai mô hình này tuỳ điều kiện và sự lựa chọn chiến lược của từng quốc gia

Trang 10

Cho đến những năm 80 của thế kỷ trước, tăng trưởng được coi là mục tiêu hàng đầu của tất cả các quốc gia Trong một thời gian dài, hầu hết các nước theo đuổi mô hình tăng trưởng dựa vào tích lũy tài sản vốn vật chất, các chính sách thường chú trọng vào các dòng vốn đầu tư, kể cả nhập khẩu vốn Quan niệm tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với xóa đói nghèo và các nước nghèo có thể đuổi kịp các nước giàu đã dẫn đến những dự báo đầy lạc quan cho các nước thuộc thế giới thứ ba trong những năm 1990 Cũng trong thời kỳ này, thế giới

đã hình thành các nhóm nước có tốc độ tăng trưởng và thành quả phát triển trái ngược nhau Một loạt các nước châu Phi phải chịu thụt lùi về kinh tế với tốc độ tăng trưởng âm và tình trạng nghèo đói dai dẳng Trong khi đó ở châu Á, các nước công nghiệp mới nổi với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong một thời gian khá dài, có xu hướng bắt kịp các nước phát triển ở phương Tây và tỷ lệ nghèo đói tại các nước này đã giảm xuống đáng kể

Những diễn biến thực tế đó đã đặt dấu hỏi lớn cho các nhà kinh tế về chất lượng tăng trưởng trong khi nghiên cứu về sự bền vững của tăng trưởng

Từ cuối thế kỷ XX, trong Báo cáo phát triển con người, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau như tăng trưởng mất gốc, tăng trưởng không có tương lai,… nhằm cảnh báo về tăng trưởng không gắn với phân phối thành quả của tăng trưởng, đồng thời cũng đưa

ra khái niệm tăng trưởng công bằng Điểm chung của các khái niệm này chỉ xoay quanh một ý, đó là tăng trưởng cần gắn với chất lượng

Cho đến nay, có khá nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng tăng trưởng Theo nghĩa rộng thì chất lượng tăng trưởng gần với quan niệm về phát triển bền vững, chú trọng tới tất cả ba thành tố kinh tế, xã hội và môi trường Theo nghĩa hẹp, khái niệm chất lượng tăng trưởng có thể chỉ được giới hạn ở một khía cạnh nào đó, ví dụ như chất lượng đầu tư (ICOR), chất lượng giáo dục, chất lượng dịch vụ công, quản lý xã hội, GDP, TFP, cơ cấu kinh tế, sức cạnh tranh của từng sản phẩm, từng doanh nghiệp từng ngành và cả nền kinh tế…

Dù hiểu theo cách nào thì các khái niệm và nghiên cứu cho đến nay đều toát lên một ý chung mang tính cảnh báo, đó là không chỉ có mức độ và tốc độ tăng trưởng là quan trọng, mà làm cách nào để đạt và giữ được tăng trưởng cao cũng không kém phần quan trọng Nói chung, tăng trưởng nhanh cần phải gắn với chất lượng tăng trưởng

Như vậy, dù chưa có một khái niệm chính thức về chất lượng tăng trưởng, song trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, một số nhà kinh tế đã nhất trí đưa

ra hai khía cạnh của chất lượng tăng trưởng là: (i) Tốc độ tăng trưởng cao cần

Trang 11

được duy trì trong dài hạn (ii) Tăng trưởng cần phải đóng góp trực tiếp vào cải thiện một cách bền vững phúc lợi xã hội, cụ thể là phân phối thành quả của phát triển và xóa đói giảm nghèo Nhìn chung, theo nghĩa hẹp, chất lượng tăng trưởng là thuộc tính bên trong của quá trình tăng trưởng kinh tế, thể hiện qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đạt được mặt số lượng của tăng trưởng và khả năng duy trì nó trong dài hạn; trong khi đó, hiểu theo nghĩa rộng, chất lượng tăng trưởng thể hiện năng lực sử dụng các yếu tố đầu vào, tạo nên tính chất, sự vận động của các chỉ tiêu tăng trưởng và ảnh hưởng lan tỏa của nó đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội - môi trường Với cách hiểu này, tăng trưởng trở nên toàn diện hơn và được nâng cao một bước so với trước Nói đến tăng trưởng giờ đây không chỉ đơn thuần là tăng thu nhập bình quân đầu người, mà hai mục tiêu khác không kém phần quan trọng là duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và tăng thu nhập phải gắn với tăng chất lượng cuộc sống hay tăng phúc lợi và xóa đói giảm nghèo Cũng theo cách hiểu này thì tăng trưởng không nhất thiết phải đạt tốc độ tăng trưởng quá cao mà chỉ cần cao ở mức độ hợp lý nhưng bền vững Bởi vì, nếu chỉ xem xét tăng trưởng kinh tế trên giác

độ số lượng thu nhập tăng thêm thì chưa đủ Thực tế cho thấy nhiều “loại” tăng trưởng không những không đem đến cho con người cuộc sống tốt đẹp hơn mà trái lại còn để lại những hậu quả không tốt mà các thế hệ tương lai phải gánh chịu Năm 1996, UNDP đã chỉ ra 5 loại tăng trưởng xấu để các quốc gia tham khảo, gồm:

(1) Tăng trưởng không việc làm, là tăng trưởng kinh tế nhưng không mở rộng cơ hội tạo thêm việc làm hoặc phải làm việc nhiều giờ và có thu nhập thấp

(2) Tăng trưởng không lương tâm, là tăng trưởng mà thành quả của nó chủ yếu đem lại lợi ích cho người giàu, còn người nghèo được hưởng ít, thậm chí người nghèo còn tăng thêm, khoảng cách giàu nghèo gia tăng

(3)Tăng trưởng không có tiếng nói, tức là tăng trưởng kinh tế không kèm theo mở rộng nền dân chủ hay là việc trao thêm quyền lực, chặn đứng tiếng nói khác và dập tắt những đòi hỏi được tham dự nhiều hơn về xã hội và kinh tế

(4) Tăng trưởng không gốc rễ, là sự tăng trưởng đã khiến cho nền văn hoá của con người trở nên khô héo

(5) Tăng trưởng không tương lai, là tăng trưởng qua đó thế hệ hiện nay phung phí những nguồn lực mà các thế hệ trong tương lai cần đến

Chính vì lẽ đó, nghiên cứu tăng trưởng kinh tế bên cạnh sự gia tăng về số lượng, còn cần và nhất thiết phải quan tâm đến khía cạnh chất lượng Đã có sự

Trang 12

thừa nhận rộng khắp rằng, điều cốt lõi của quá trình phát triển không chỉ là tốc

độ tăng trưởng kinh tế mà chất lượng tăng trưởng kinh tế mới là vấn đề có ý nghĩa quyết định

1.2 Một số quan niệm đáng chú ý về chất lượng tăng trưởng kinh tế

(1) Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là phát triển bền vững: Tăng trưởng kinh tế có chất lượng là đặc trưng biểu hiện thành phát triển bền vững Theo Ngân hàng Thế giới (WB), phát triển bền vững là phát triển theo nguyên tắc “sự thoả mãn nhu cầu của thế hệ hôm nay không làm ảnh hưởng tới sự thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau” Cụ thể hơn, phát triển bền vững là bảo toàn và phát triển ba nguồn vốn: tài nguyên môi trường, nhân lực và cơ sở vật chất Trong đó, tài nguyên môi trường hiện nay được quan tâm đặc biệt, vì công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các quốc gia thời gian qua thường dẫn tới huỷ hoại về môi trường

Các nghiên cứu của WB về chất lượng tăng trưởng cho thấy trên thế giới

đã hình thành những chiến lược phát triển như sau:

- Các nước công nghiệp đặt mục tiêu nâng cao thu nhập bình quân đầu người cùng với mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái Các quốc gia Tây Âu và Nhật Bản đã đạt được khá hơn cả hai mục tiêu, tuy nhiên Mỹ lại chưa thành công trong mục tiêu bảo vệ môi trường

- Các nước đang phát triển ở khu vực Đông Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Inđônêsia, Thái Lan đã và đang kinh qua thời kỳ công nghiệp hoá tăng trưởng cao nhưng phải trả giá đắt cho môi trường bị huỷ hoại

- Các quốc gia Nam Á và châu Phi tuy tăng trưởng kinh tế chậm, thậm chí tăng trưởng âm (thập kỷ 80 của thể kỷ 20 - thập kỷ mất mát của châu Phi) nhưng môi trường vẫn bị tổn thất lớn do khai thác nguồn tài nguyên vô tổ chức

và quản lý lỏng lẻo

Như vậy, quan điểm tăng trưởng kinh tế trước, khắc phục hậu quả môi trường sau là không hợp lý Phải tạo ra sự cân bằng giữa tăng trưởng và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng kinh tế được quan niệm là phát triển bền vững không chỉ là chất lượng môi trường tự nhiên, mà còn là môi trường xã hội (tình trạng tội phạm, tham nhũng), chất lượng của người lao động (vốn nhân lực) và chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế (vốn vật chất), trong đó quan trọng nhất là hệ thống giao thông vận tải, viễn thông liên lạc, điện, nước…

Trang 13

(2) Chất lượng tăng trưởng theo quan niệm hiệu quả:

Nguồn gốc của tăng trưởng được chia thành hai loại Tăng trưởng theo chiều rộng, tức là tăng trưởng vốn, tăng lao động và tăng cường khai thác tài nguyên Tăng trưởng theo chiều sâu, thể hiện ở tăng năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn sản xuất nâng cao với tổng năng suất nhân tố (TFP) tăng lên

Do có nhiều phương pháp tính TFP khác nhau nên tính chất so sánh được giữa các thời kỳ, giữa các địa phương trong một quốc gia và so sánh quốc

tế của chỉ tiêu này chưa được đảm bảo, vì vậy sử dụng TFP để phản ánh chất lượng tăng trưởng là rất khó khăn Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có công cụ đo lường “hiệu quả tổng hợp các nhân tố” theo chiều sâu tốt hơn TFP

Chất lượng tăng trưởng kinh tế theo quan niệm về nguồn gốc và phương thức tăng trưởng tạo thuận lợi cho mục tiêu tìm kiếm các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng Có sự đồng thuận rộng rãi rằng để tăng trưởng có hiệu quả kinh tế cao, cần đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, nghiên cứu và triển khai

(3) Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là nâng cao phúc lợi của công dân và gắn liền tăng trưởng với công bằng xã hội:

Theo quan điểm này, tăng trưởng kinh tế đáp ứng như thế nào phúc lợi cho nhân dân là thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là nguồn gốc tạo thêm của cải cho xã hội và gắn liền với việc sử dụng của cải cho phúc lợi xã hội Phúc lợi không chỉ thể hiện ở thu nhập bình quân đầu người

mà còn là chất lượng cuộc sống, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, cơ hội học tập và chăm lo sức khoẻ,… Công bằng xã hội thể hiện ở nhiều chỉ tiêu như

hệ số GINI về thu nhập, hệ số Gini về giáo dục và tỷ lệ người nghèo trong xã hội

Quan niệm chất lượng tăng trưởng theo phúc lợi và công bằng xã hội được các nhà kinh tế học của tổ chức OXFAM đề cao Họ thấy rằng, nếu quá quan tâm đến tăng trưởng mà ít chú ý đến công bằng xã hội sẽ dẫn đến bất ổn

xã hội và tăng trưởng không thể bền vững, ngược lại, nếu quá đề cao công bằng

xã hội thì sẽ không có động lực để thúc đẩy tăng trưởng Sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội sẽ tạo ra chất lượng của tăng trưởng kinh tế

(4) Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là cơ cấu và chuyển dịch

cơ cấu của tăng trưởng kinh tế:

Trang 14

Đây là quan điểm của các giáo sư kinh tế thuộc nhiều trường đại học ở

Mỹ Cơ cấu tăng trưởng thể hiện ở chỉ tiêu điểm phần trăm đóng góp của các ngành vào tăng trưởng và chỉ tiêu tỷ trọng đóng góp của mỗi bộ phận trong 100% mức tăng trưởng Cơ cấu tăng trưởng có thể xét theo khu vực thể chế, thành phần kinh tế, vùng, miền và theo yếu tố sản xuất (vốn, lao động, TFP)

Tính hợp lý của quan niệm này là coi chất lượng sự vật là sự biến đổi cơ cấu bên trong của sự vật, không gắn chất lượng sự vật với mục đích tồn tại, bối cảnh, môi trường, điều kiện mà sự vật tồn tại hoặc các sự vật có mối liên hệ tác động mật thiết với nhau

(5) Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, ngành hoặc doanh nghiệp được xem xét:

Tăng trưởng đi liền với việc nâng cao năng lực cạnh tranh là tăng trưởng

có chất lượng cao và ngược lại Thực ra, tăng trưởng kinh tế là chỉ tiêu chủ yếu của năng lực cạnh tranh Vì vậy, sự gắn bó chặt chẽ hầu như hoà nhập làm một như vậy cho thấy tính phi lôgíc của quan niệm này

(6) Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là thể chế dân chủ trong môi trường chính trị xã hội của nền kinh tế:

Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với quá trình đổi mới hệ thống chính trị từ lâu đã được nhìn nhận là vừa có tính tích cực lại vừa trực tiếp Các công trình nghiên cứu của Samuel Huntington (Đại học Oklahoma), Evelyne Stephens (Đại học Chicago)… cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa thu nhập đầu người và mức độ dân chủ hoá của thể chế chính trị xã hội

Tính minh bạch, ít tham nhũng, sự tham gia của người dân vào quản lý kinh tế - xã hội tác động mạnh tới tăng trưởng kinh tế và ngược lại Như vậy, theo cách diễn giải của trường phái này, dân chủ biểu hiện mặt chất của tăng trưởng kinh tế

Với những quan niệm trên, khi nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế, một loạt câu hỏi đã được đặt ra Câu hỏi liên quan đến chất lượng theo nghĩa hẹp: Tăng trưởng được bao nhiêu? Nhiều hay ít? Nhanh hay chậm? Khả năng duy trì các chỉ tiêu tăng trưởng như thế nào? Cái giá phải trả ra sao? Các yếu tố cấu thành tăng trưởng hay cấu trúc tăng trưởng như thế nào? Câu hỏi về chất lượng tăng trưởng theo nghĩa rộng: Tác động lan toả của tăng trưởng đến các đối tượng chịu ảnh hưởng như thế nào? Đặc biệt là về: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện tình trạng nghèo đói, bình đẳng và công bằng, tài nguyên và môi trường…?

Trang 15

II MỐI QUAN HỆ GIỮA TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG

2.1 Nhận thức chung về mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng

Từ những phân tích trên có thể thấy, nâng cao chất lượng tăng trưởng có

ý nghĩa quan trọng đối với mỗi nước, nhất là các nước đang phát triển Để đạt được điều đó, việc xem xét các khía cạnh của quá trình tạo tăng trưởng trở nên cấp thiết hơn Chính sách tăng trưởng và một chiến lược phát triển không nên dừng ở đặt mục tiêu gia tăng tốc độ tăng trưởng mà bất chấp hậu quả Trái lại, tăng thu nhập một cách bền vững, cải thiện đời sống vật chất cho các nhóm người nghèo cũng phải được quan tâm trực tiếp ngay từ trong quá trình tạo tăng trưởng Có thể thấy, chất lượng tăng trưởng không trùng lặp với các quan điểm

về “phát triển”, “phát triển bền vững”, “tăng trưởng” và “tăng trưởng tăng trưởng hay tăng trưởng bền vững” Tuy nhiên, giữa chúng tồn tại mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó vẫn đảm bảo kinh tế là một yếu tố quan trọng của phát triển Cơ sở để xem xét mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng thường dựa vào các nội dung bổ sung cho nhau, đó là: Đầu tư hình thành các loại tài sản vốn tham gia vào quá trình tăng trưởng; Mô hình tăng trưởng của một nước; Khía cạnh phân phối (cả thu nhập và cơ hội), cũng như các vấn đề về môi trường và phát triển con người trong quá trình tăng trưởng

Việc đánh giá chất lượng tăng trưởng bằng cách xem xét các nội dung trên đây cho thấy có sự thống nhất về nguyên tắc giữa “phát triển” và “tăng trưởng” Theo cách hiểu đơn giản nhất, phát triển là nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng cơ hội cho mọi người để có thể tự quyết định tương lai của chính mình Trong khi đó, tăng trưởng hay tăng thu nhập trên đầu người là một chỉ số quan trọng bậc nhất của phát triển Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế về lượng không có nghĩa là các chỉ số khác của phát triển tự động được cải thiện Điều này đã được chứng minh cả về lý thuyết lẫn thực tế ở nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển trong nhiều thập kỷ vừa qua

Vì vậy, tăng trưởng về lượng nếu không được duy trì và không đi đôi với cải thiện về phúc lợi hay các nội dung khác của phát triển thì mục tiêu của phát triển không đạt được Phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế không chỉ dừng

ở việc chỉ xem xét các yếu tố tạo ra tăng trưởng, mà quan trọng không kém là cần xem xét kết quả phân phối thành quả của tăng trưởng cũng như tác động ngược lại tới tăng trưởng của khía cạnh phân phối đó

Trang 16

2.2 Sự thể hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng qua một số lĩnh vực

(1) Mối quan hệ giữa tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng qua việc đầu tư hình thành các loại tài sản vốn

Trên thực tế, việc đầu tư hình thành các loại tài sản vốn là vấn đề cần thiết để có tăng trưởng Tuy nhiên, để mang lại chất lượng tăng trưởng thì mức đầu tư và cách thức đầu tư đều quan trọng như nhau Vì vậy, sự đầu tư mất cân đối, chẳng hạn đầu tư thiên lệch hay các chính sách làm méo mó sự hình thành các loại tài sản vốn, sẽ không hứa hẹn duy trì được tăng trưởng trong dài hạn và nâng cao phúc lợi xã hội Lập luận này trái với nhiều quan niệm trước đây cho rằng chỉ cần đầu tư, nhất là vốn vật chất ở mức cao sẽ đạt tăng trưởng như mong đợi Có thể nói các loại tài sản vốn là kết quả của quá trình đầu tư và tích lũy, do đó nếu chỉ tập trung đầu tư vào một loại tài sản sẽ dẫn đến đầu tư ít vào các loại tài sản khác

Thực tế ở nhiều nước công nghiệp và các nước đang phát triển trong những năm cuối thế kỷ XX là bằng chứng khá rõ cho sự tập trung đầu tư vào tài sản vốn vật chất Các nước này đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để làm tăng lợi suất của nguồn vốn này, như trợ cấp, ưu đãi lãi suất, bảo lãnh cho vay, bảo hộ sản xuất trong nước, miễn giảm thuế,… Hệ quả của chính sách này là khuyến khích hành vi chấp nhận rủi ro của các nhà đầu tư, ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp, gây bùng nổ về đầu tư tài sản vật chất Mặt trái của các chính sách này là thiếu nguồn lực đầu tư và hạ thấp lợi suất thu được từ đầu tư vào các tài sản vốn khác và vì vậy không hấp dẫn các nhà đầu tư Đầu

tư thiên lệch là một nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng không bền vững Hệ quả này càng trở nên trầm trọng hơn nếu đầu tư, nhất là đầu tư công, kém hiệu quả Những năm gần đây, để đạt tốc độ tăng trưởng cao cũng như thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhiều nước đang phát triển còn cho phép khai thác tài nguyên và môi trường quá mức, thường thấy ở các nước có lợi thế so sánh

về phát triển các ngành tập trung tài nguyên Các chính sách này được coi là một trong những biện pháp khuyến khích đầu tư, nhưng tác động trái là làm giảm giá của vốn tài nguyên để thu hút đầu tư trong và ngoài nước Khai thác quá mức tài nguyên và phát triển các ngành công nghiệp dựa vào tài nguyên cũng kéo theo đầu tư nhiều hơn vào tài sản vốn vật chất Do đó, làm giảm tài nguyên cả về lượng và chất, từ đó có thể làm giảm năng suất của vốn vật chất Bên cạnh đó còn gây ra nhiều tác động khác về môi trường, điều kiện sống, và

để lại gánh nặng cho các thế hệ sau Sự xuống cấp của nguồn vốn tài nguyên

Trang 17

mà không được thay thế bằng các loại tài sản vốn khác, như vốn vật chất, vốn con người thì tăng trưởng khó đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo một cách bền vững.

Ngoài ra, việc quá chú trọng sử dụng tài nguyên có thể gây ra những ảnh hưởng lớn tới sự tăng trưởng trong dài hạn Tuy nhiên, tác động của sự xuống cấp vốn tài nguyên tới tăng trưởng kinh tế có thể giảm nếu vốn tài nguyên được thay thế bằng các loại tài sản vốn khác, nhất là vốn con người Một nền kinh tế chú trọng đầu tư vào vốn con người sẽ có cơ hội để phát triển các ngành kinh tế dựa vào tri thức, qua đó làm giảm sự phụ thuộc của tăng trưởng vào các ngành khai thác tài nguyên, cũng có nghĩa làm giảm ảnh hưởng của việc xuống cấp tài nguyên tới tăng trưởng về lâu dài

(2) Mối quan hệ giữa chất lượng tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng thể

hiện qua mô hình tăng trưởng

Dựa vào thực tế và một số chỉ tiêu phát triển chủ yếu của các nền kinh tế,

có thể nhận thấy rõ những cách tiếp cận khác nhau trong chiến lược tăng trưởng của các nước Đối với các nước đang phát triển ở trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa, việc đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng được đặt hàng đầu Tuy nhiên, phần lớn các nước này do quá chú trọng đạt được mục tiêu tăng trưởng nên đã trả giá bằng những tổn thất lớn về môi trường, và những méo mó về mặt

xã hội, đẩy lùi quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mình Cũng vậy, do không chú ý tới chất lượng tăng trưởng, nên một số nền kinh tế mặt dù đã đạt được những thành quả kỳ diệu vẫn bị cuốn vào vòng xoáy của khủng hoảng kinh tế, phải đối mặt với những hiểm họa môi trường, và hệ thống an sinh xã hội bị tổn thương Có thể thấy chất lượng tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào mô hình tăng trưởng mà các nước đã lựa chọn

- Mô hình 1 (Mô hình tăng trưởng trì trệ): Tăng trưởng không bền vững, quy mô của nền kinh tế được mở rộng trong thời kỳ tăng trưởng nhanh, nhưng tại những thời kỳ khác, tăng trưởng kinh tế lại thấp và nền kinh tế suy giảm, trì trệ Theo mô hình này, nền kinh tế có thể đạt tăng trưởng trong một giai đoạn ngắn nhưng tốc độ tăng có xu hướng giảm dần, dẫn đến trì trệ và khó duy trì tăng trưởng được lâu dài Mô hình tăng trưởng này thường không bền vững Lý

do chính là đầu tư quá thấp vào hình thành các loại tài sản và hiệu quả đầu tư công thấp Nền kinh tế có thể rơi vào vòng luẩn quẩn do tăng trưởng thấp dẫn đến thiếu nguồn lực để đầu tư, nhất là vào vốn con người, không tăng phúc lợi

và không thực hiện được mục tiêu xóa đói giảm nghèo Mô hình này thường thấy ở những nước đang phát triển mà trong nhiều năm các chỉ số phát triển

Trang 18

không được cải thiện, nhất là tình trạng nghèo đói vẫn dai dẳng và thu nhập đầu người không được cải thiện

- Mô hình 2 (Mô hình tăng trưởng bị bóp méo): Tăng trưởng nhanh, mất cân đối và phải trả giá bằng những tổn thất lớn về tài nguyên, môi trường Đánh giá thấp các loại tài sản, các nguồn vốn cho nên chậm trễ trong đầu tư, hoặc đầu tư không đúng mức cho các loại tài sản vốn, đặc biệt là vốn nhân lực, do đó không nâng cao hiệu năng của vốn hoặc không sản sinh ra vốn mới Ở mô hình này, tăng trưởng có được chủ yếu dựa vào khai thác quá mức tài nguyên, trợ cấp vốn vật chất một cách rộng rãi bằng nhiều biện pháp như miễn thuế, cho nợ thuế, cấp vốn ưu đãi đầu tư và trợ cấp tín dụng đầu tư,… Trong khi đó, đầu tư vào vốn con người và đổi mới công nghệ chậm So với loại thứ nhất, mô hình tăng trưởng này có tốt hơn cho người nghèo và cải thiệu phúc lợi xã hội nói chung

Đặc điểm nổi bật của mô hình này là đầu tư thiên lệch, quá chú trọng ưu tiên đầu tư vốn vật chất thông qua các chính sách ưu đãi vốn và tăng đầu tư công Với mô hình này, tăng trưởng còn có thể đạt được chừng nào mà Nhà nước vẫn có có khả năng duy trì các khoản trợ cấp vật chất Tuy nhiên, trong dài hạn nền kinh tế phải đối mặt với những méo mó về cơ cấu, hệ quả là tăng trưởng không bền vững, đặc biệt là đối với các nước nghèo có quy mô ngân sách nhỏ và quản lý đầu tư không hiệu quả Do nguồn lực dành cho các ưu đãi này chiếm một tỷ trọng lớn của ngân sách nên có thể làm giảm nguồn lực để đầu tư cho các loại tài sản khác Tác động của các ưu đãi này thường là nhỏ, mang tính ngắn hạn và không đóng góp nhiều vào tăng năng suất Trong nhiều trường hợp, ưu đãi đầu tư vốn vật chất còn làm giảm năng lực cạnh tranh của ngành và của cả nền kinh tế

- Mô hình 3 (Mô hình tăng trưởng bền vững): Các loại tài sản được hình thành và đầu tư không bị bóp méo Tăng trưởng bền vững nhờ nguồn tích lũy

từ các loại vốn tăng lên theo thời gian một cách cân đối Chính phủ tập trung đầu tư nhiều hơn cho các lĩnh vực tạo tác động lan tỏa, tích cực tới cả nền kinh

tế như giáo dục, y tế và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường, Nguồn vốn của tư nhân cũng không bị giảm sút kể cả vốn vật chất và vốn nhân lực Vốn nhân lực được tiếp sức, có giá trị gia tăng cao hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đổi mới công nghệ và tăng TFP

Theo mô hình này, con người là một trọng tâm của chính sách đầu tư nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình phổ biến, tiếp thu và đổi mới công nghệ

So với hai loại mô hình nêu trên, tăng trưởng theo mô hình này đạt được mục

Trang 19

tiêu tăng trưởng phúc lợi và xóa đói giảm nghèo Tốc độ tăng trưởng không nhất thiết là quá cao nhưng có thể duy trì trong dài hạn nhờ vào sự đầu tư và hình thành hài hòa, cân đối không méo mó các loại tài sản vốn Các nên kinh tế tiến tới mô hình tăng trưởng này thường có một chính phủ khá trọng sạch và quản lý hiệu quả

Đi sâu phân tích mối quan hệ giữa “tăng trưởng” và “chất lượng”, Francois Peroux1, đã cảnh báo rằng cần chú ý đến sự nguy hiểm của tăng trưởng mà không có chất lượng Hiểm họa này tồn tại một cách khá rõ rệt khi các chính phủ coi tăng trưởng kinh tế nhanh là yếu tố quyết định mà bỏ qua hoặc không chú ý một cách thích đáng đến các vấn đề xã hội và môi trường Chính vì vậy, mô hình tăng trưởng dựa vào các tiêu chí về chất lượng tăng trưởng đã được phát triển trong những năm vừa qua và ngày càng được nhiều quốc gia theo đuổi Đó là mô hình chú trọng cả khía cạnh lượng và chất của quá trình tăng trưởng

Về mối quan hệ giữa hai khía cạnh này, có thể thấy rằng chúng kết hợp với nhau rất chặt chẽ, và việc cùng một lúc đạt được hai mục tiêu này là điều khả thi Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là cơ sở để các chính phủ đề ra và thực hiện các chính sách xã hội và môi trường, qua đó góp phần làm thay đổi cơ cấu

xã hội theo hướng mang lại lợi ích cho tất cả mọi người Điều đó có nghĩa là tăng trưởng không được thực hiện vì bản thân sự tăng trưởng với mục tiêu lớn nhất và cuối cùng là lợi nhuận tối đa Trái lại, tăng trưởng nhanh góp phần quan trọng nhằm tăng cường các lợi ích xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống, phát triển giáo dục, cải thiện chất lượng sống Đến lượt mình những yếu tố đó trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng cao hơn nữa Rõ ràng, đi đôi với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, thì chất lượng tăng trưởng có vai trò cực

kỳ quan trọng, làm nền tảng cho quá trình phát triển bền vững của mỗi dân tộc

Với quan điểm như trên về chất lượng tăng trưởng, chúng ta có thể thấy rằng tăng trưởng bền vững nhờ vào các yếu tố như: xác định đúng giá trị của các loại vốn vật chất, vốn tài nguyên và vốn con người nhằm có được các chính sách nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào phục vụ tăng trưởng; chính phủ đầu tư hợp lý cho khu vực công như giáo dục, y tế và phải có các chính sách thích đáng để người nghèo có thể tham gia vào quá trình phát triển nhằm xóa bỏ nghèo đói và thực hiện công bằng xã hội; tăng cường thực hiện các chính sách bảo về tài nguyên thiên nhiên và môi trường; cuối cùng tăng trưởng phải đi kèm

1

Trang 20

với sự đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới các thể chế kinh tế phù hợp với nền kinh

tế thị trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Đây là mô hình tăng trưởng khá toàn diện, đề cập tương đối bao quát các khía cạnh cần thiết của sự phát triển Trên thực tế việc đạt được tất cả các tiêu chuẩn về chất lượng tăng trưởng là một vấn đề khó khăn đối với các nước đang phát triển Song hiện nay nhiều quốc gia đang phát triển đã thay thế ưu tiên cho tốc độ tăng trưởng bằng mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng Đây chính

là cơ sở vững chắc để giúp các nước đạt được các mục tiêu về kinh tế - xã hội

và rút ngắn khoảng cách phát triển, giúp các nước nghèo hơn thoát khỏi nguy

cơ tụt hậu quá xa trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới đang toàn cầu hóa

(3) Quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng từ góc

độ phân phối các thành tựu tăng trưởng – thực hiện công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo

Ở đây công bằng không có nghĩa là đem chia đều các thành quả của tăng trưởng kinh tế - xã hội cho mọi người Vì nếu vậy không có ai đem hết sức lực, trí tuệ, vốn vật chất ra để đầu tư, và không ai dám chịu rủi ro để đầu tư phát triển sản xuất Công bằng cần được hiểu là sự bình đẳng trước các cơ hội về việc làm, về đầu tư, bình đẳng trước các cơ hội để nâng cao nguồn vốn nhân lực và có mức sống cao hơn Hay nói cách khác, mọi người đều có cơ hội tham gia vào quá trình tăng trưởng và được hưởng các thành quả do mình đóng góp tương xứng với năng lực của mình Nhiều nước, mặc dù GDP tính theo đầu người cao nhưng mức sống của đa số dân cư vẫn không được cải thiện tương ứng, phúc lợi do tăng trưởng đem lại rơi vào tay một nhóm nhỏ trong xã hội Như vậy, khó có thể nói họ đã đạt được mục tiêu phát triển Theo đánh giá, một xã hội càng công bằng thì càng có mức tăng trưởng kinh tế nhanh Khi tài sản tập trung trong một nhóm nhỏ những người giàu thì lực lượng xã hội không thể phát triển được Tuy nhiên, nếu đem chia đều phúc lợi hoặc đầu tư quá nhiều cho phúc lợi xã hội thì mục tiêu tăng trưởng nhanh có thể bị đe dọa

và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình phát triển

Trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nhà kinh tế Simon Kuznetz đã đưa ra giả thuyết “đường cong hình chữ U ngược” để minh họa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập Theo giả thuyết này, phân phối thu nhập

có xu hướng tăng thêm khoảng cách giàu nghèo trong thời kỳ đầu tăng trưởng, nhưng khi tăng trưởng đến một mức độ nào đó, thì phân phối thu nhập có xu hướng được cải thiện, làm giảm bất bình đẳng Xu hướng này được cải thiện ở

Trang 21

một số nước phát triển nhanh và bền vững, nhưng chưa mang tính phổ biến trên thế giới GDP tính theo đầu người ở nhiều nước là như nhau nhưng chênh lệch

về phân phối thu nhập lại khác nhau Nếu như khoảng cách giữa 20% người nghèo nhất và 20% người giàu nhất của thế giới là 1-30 trong năm 1960, thì đến nay tỷ lệ này lên tới mức 1-80 Do vậy có thể thấy rằng công bằng xã hội thông qua phân phối thu nhập không hoàn toàn do GDP hay mức tăng trưởng kinh tế quyết định, mà được quyết định phần lớn bằng các chính sách kinh tế -

xã hội của chính phủ

Đối với các nước đang phát triển, lớp dân nghèo vẫn chiếm đa số, thì các chính sách nhằm giải quyết tình trạng đói nghèo có vai trò rất quan trọng Các chính sách đó liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị và môi trường nhằm tác động trực tiếp và gián tiếp đến các nguyên nhân cơ bản dẫn tới đói nghèo, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người Đó là các chính sách hỗ trợ về giáo dục, y tế, xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu, ưu đãi về vốn đầu tư

và phát huy quyền làm chủ cho người nghèo để giúp họ tự vươn lên thoát khỏi khó khăn, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển Xóa đói giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng kinh tế đối với các đối tượng có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan trọng tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tăng thêm một lực lượng sản xuất dồi dào và bảo đảm sự ổn định của xã hội

Thông qua các chính sách xóa đói giảm nghèo, chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo – nhóm người dễ bị tổn thương nhất trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế thế giới - có khả năng thoát nghèo một cách bền vững Ở một mức độ nhất định, xét về ngắn hạn, khi phân phối một phần đáng

kể thu nhập xã hội cho chương trình xóa đói giảm nghèo thì nguồn lực dành cho tăng trưởng kinh tế có thể bị ảnh hưởng, song xét một cách toàn diện về dài hạn thì kết quả xóa đói giảm nghèo lại tạo điều kiện cho tăng trưởng nhanh và bền vững, đóng góp chung vào quá trình phát triển Vì vậy để đảm bảo cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội tiến triển với tốc độ nhanh và bền vững, các chính phủ cần đề ra các mô hình phát triển phù hợp nhằm làm giảm khoảng cách về thu nhập và giúp người nghèo nâng cao mức sống

Đến lượt mình, phân phối thu nhập công bằng hơn lại được coi là có lợi cho tăng trưởng trong dài hạn bởi các lý do sau đây:

- Một là, nhiều nghiên cứu gần đây cho rằng người giàu ở các nước đang phát triển chưa thực sự muốn tiết kiệm để đầu tư Xu thế dễ nhận thấy là các nguời giàu muốn tiêu dùng hàng xa xỉ, mua những ngôi nhà đắt tiền hay tích

Trang 22

trữ vàng bạc, đồ trang sức,… Loại tiết kiệm và đầu tư đó không đóng góp nhiều vào tiềm lực sản xuất của quốc gia, thậm chí là một sự lãng phí nguồn lực Với hành vi đó, chiến lược phát triển dẫn đến gia tăng nhanh bất bình đẳng về phân phối thu nhập sẽ tạo cơ hội để duy trì vị thế của nhóm người giàu, đồng thời gây tổn thất cho cả nền kinh tế Trong dài hạn, một chiến lược như vậy thưởng

có tác dụng “phản tăng trưởng”

- Hai là, về phía người nghèo, do thu nhập và mức sống thấp nên tình trạng sức khỏe và giáo dục kém Điều này làm giảm cơ hội tham gia hoạt động kinh tế và năng suất lao động của họ, và vì thế trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng

- Ba là, thu nhập của người nghèo tăng sẽ kích thích tăng nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước Qua đó kích thích đầu tư, sản xuất và tạo thêm nhiều việc làm trong nước, đồng thời tạo điều kiện cho người nghèo

có cơ hội tham gia và hưởng lợi nhiều hơn từ tăng trưởng kinh tế

- Bốn là, chênh lệch thu nhập lớn và nghèo đói tuyệt đối phổ biến có thể dẫn đến bất ổn về xã hội Hầu hết các lập luận cho rằng bất bình đẳng là nguyên nhân của các xung đột trong xã hội, có thể dẫn đến bất ổn định xã hội

và chính trị và rốt cuộc là có hại cho tăng trưởng kinh tế

Như vậy có thể thấy, các chính sách tăng trưởng mà không tính đến khía cạnh phân phối công bằng cũng như không gắn với xóa đói nghèo bền vững sẽ khó duy trì được tăng trưởng trong dài hạn

(4) Mối quan hệ giữa chất lượng tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng qua cách nhìn nhận về môi trường

Trong tíến trình phát triển, các nước đều cố vươn lên để đạt tỷ lệ tăng trưởng cao, song nhiều nước lại lâm vào tình thế “phản tăng trưởng” Điều đó

có nghĩa là tốc độ tăng trưởng nhìn bề ngoài thể hiện sự tăng trưởng kinh tế -

xã hội, song nhìn vào chiều sâu và về lâu dài nếu bỏ qua các yếu tố chất lượng thì lại dẫn đến những hậu quả nặng nề về phương diện xã hội và đặc biệt là môi trường sinh thái

Đối với các quốc gia, nhất là các quốc gia ở trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò rất lớn, đóng góp đáng kể vào tỷ lệ tăng trưởng Tuy nhiên, nhiều nước đã khai thác quá mức nguồn vốn thiên nhiên quý báu này, dẫn tới tình trạng hệ sinh thái bị mất cân đối nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường gia tăng, gây ảnh hưởng xấu về mặt môi trường và kinh tế không chỉ cho hiện tại mà còn cho cả thế hệ mai sau

Trang 23

Hiện nay, ô nhiễm môi trường là một vấn đề rất nghiêm trọng gắn liền với quá trình tăng trưởng khi mà chất lượng tăng trưởng chưa được chú ý đúng mức Theo một nghiên cứu của UNDP, ô nhiễm không khí và hiện tượng hiệu ứng nhà kính do khí thải hóa chất từ các nhà máy công nghiệp đã lên tới mức báo động ở nhiều nơi trên thế giới, dẫn đến cái chết của hàng triệu người, trong

đó chủ yếu là người nghèo

Không thực hiện các biện pháp quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, thì hiểm họa về biến đổi khí hậu tất yếu sẽ xảy ra Những trận lụt, bão lớn và nước dâng cao ở những vùng đất thấp xảy ra thường xuyên hơn, mức độ tàn phá khủng khiếp hơn Biến đổi khí hậu không chỉ gây tổn thất về của cải, sinh mạng mà còn làm căng thẳng mối quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới và từng khu vực Theo ước tính, thay đổi khí hậu đã làm cho kinh tế toàn cầu thiệt hại hàng trăm tỷ USD mỗi năm, thiệt hại nặng nhất là các nước đang phát triển

vì ở đây môi trường sinh thái đang bị hủy hoại nhanh chóng

Ngoài những sai lầm như không quan tâm bảo vệ môi trường, yếu kém trong công tác quản lý các nguồn tài nguyên, rất nhiều yếu tố khác về chính sách phát triển đã góp phần làm cho môi trường sinh thái bị suy thoái Quan điểm sai lầm bị nhiều nhà kinh tế chỉ trích mà nhiều nước đang áp dụng là

“tăng trưởng trước, khắc phục hậu quả sau” Lý do để nhiều nước đang phát triển theo đuổi quan điểm này là:

- Một là, các nước công nghiệp trước đây khi tiến hành công nghiệp hóa rất ít chú ý đến vấn đề suy thoái môi trường ở thời kỳ đầu tăng trưởng

- Hai là, tăng trưởng là con đường duy nhất để giảm nghèo đói và rút ngắn khoảng cách phát triển

- Ba là, mặc dầu biết những hiểm họa môi trường có thể xảy ra, tuy nhiên các nước này cho rằng có thể cứu vãn được khi nền kinh tế bước vào thời kỳ hưng thịnh

Quá trình tăng trưởng trước khắc phục hậu quả môi trường sau dẫn đến

sự bất công Người nghèo phải gánh chịu hậu quả nặng nề hơn về ô nhiễm môi trường và các nguồn tài nguyên cạn kiệt Khí thải và chất thải công nghiệp sẽ làm cho nguồn nước và không khí bị ô nhiễm Bất bình đẳng về thu nhập, về

cơ hội tiếp cận tới các dịch vụ giáo dục và chăm sóc sức khỏe, dẫn đến xung đột xã hội

Có thể nói, những tổn thất về môi trường, về đa dạng sinh học là không thể khắc phục Điều này khiến cho nhiều nhà hoạch định chính sách phát triển

Trang 24

đề xuất ý kiến cần phải loại bỏ mô hình phát triển trước và khắc phục hậu quả môi trường sau Môi trường gắn liền với phúc lợi xã hội, không những hệ thống phúc lợi hiện tại bị tổn hại mà thiệt hại còn có thể kéo dài tới những thế hệ sau Kinh nghiệm của nhiều nước có thu nhập cao chỉ ra rằng những chi phí chữa bệnh do ô nhiễm môi trường gây ra còn cao hơn cả chi phí phòng bệnh Điều

đó chứng tỏ mô hình tăng trưởng trước khắc phục hậu quả môi trường sau là khó chấp nhận

Việc bảo vệ môi trường sinh thái và sức khởe của mọi người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội là một yêu cầu hết sức cấp bách đối với tất cả các nước Nhận thức được điều này, nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế đã cam kết thực hiện những chính sách bảo vệ môi trướng song song với việc triển khai các chính sách cải cách kinh tế nhằm thúc đẩy hơn nữa chất lượng của quá trình tăng trưởng kinh tế - xã hội Toàn thế giới và mọi quốc gia đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề môi trường Nhận thức rõ hơn vai trò của môi trường trong quá trình phát triển và những hậu quả từ các hoạt động của con người đối với môi trường, đã có nhiều nỗ lực nhằm làm giảm mức độ ô nhiễm không khí, bảo vệ bầu khí quyển Tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng gió, mặt trời trong tổng sản lượng về năng lượng ngày càng tăng Các công nghệ sạch và thân thiện với môi trường đang được nghiên cứu và ứng dụng ngày càng nhiều Bên cạnh đó, nhiều nước đã chú trọng nhiều hơn đến việc bảo tồn

đa dạng sinh học, kiểm soát sự gia tăng dân số, cải thiện điều kiện vệ sinh môi

và tư duy về vai trò của giáo dục trong việc thúc đẩy kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng ngày càng được đề cao Trong quá trình tăng trưởng, quốc gia nào thực hiện thành công các chính sách giáo dục, thì con đường đến thành công được rút ngắn rất nhiều Thực tiễn cũng cho thấy ở những nước mà giáo dục kém phát triển thì những người nghèo phải gánh chịu những thiệt thòi lớn

Họ không có điều kiện tiếp cận các cơ hội giáo dục, hoặc chỉ có thể được học trong những trường học có chất lượng thấp Vì vậy, một vấn đề nữa được đặt ra

là phải có được một nền giáo dục công bằng thông qua các chính sách đầu tư

Trang 25

hợp lý, giúp cho mọi người dân, cả giàu và nghèo, đều có cơ hội đón nhận những kiến thức khoa học tiên tiến nhất

Tóm lại, tăng trưởng kinh tế là một mục tiêu quan trọng đối với hầu hết các nước Những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, nhưng hầu hết chỉ tập trung phân tích và đánh giá các động lực của tăng trưởng

Do không chú ý đầy đủ tới chất lượng tăng trưởng, nên một số nền kinh tế mặc dầu đã đạt được các thành quả kỳ diệu vẫn bị cuốn vào vòng xoáy của các cuộc khủng hoảng kinh tế Một số thành quả kinh tế xã hội đã không được duy trì, hiểm họa môi trường, mất cân đối về mức độ phát triển giữa các vùng, hệ thống

an sinh xã hội bị tổn thương đang đe dọa các mục tiêu phát triển bền vững của các quốc gia Như vậy, có thể nói tăng trưởng nhanh và bền vững phải đảm bảo được chất lượng tăng trưởng kinh tế, biểu hiện tập trung ở các tiêu chuẩn chính sau đây:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn và tránh được những biến động từ bên ngoài;

- Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, được thể hiện ở sự đóng góp của TFP cao và không ngừng gia tăng;

- Tăng trưởng phải bảo đảm nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế;

- Tăng trưởng đi kèm với phát triển môi trường bền vững;

- Tăng trưởng hỗ trợ cho thể chế dân chủ luôn đổi mới Đến lượt mình, dân chủ được đổi mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao hơn;

- Tăng trưởng phải đạt được các mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và giảm được nghèo đói

Nhiều học giả cho rằng, quan niệm tăng trưởng cao là một chỉ số quan trọng hàng đầu của phát triển đã không còn phù hợp và chính xác nữa Tăng trưởng số lượng phải đi cùng với chất lượng mới là mục tiêu quan trọng trong bối cảnh hiện nay Như vậy có thể rút ra một số kết luận đáng chú ý sau đây:

- Một là, tăng trưởng chủ yếu dựa vào nguồn vật chất thì không thể bền vững Hầu hết các nước đang phát triển đã áp dụng mô hình 1 và 2, đầu tư cho vốn nhân lực và vốn tài nguyên ở mức thấp, từ đó dẫn đến tăng trưởng chưa cao và thiếu ổn định Nếu như các nước đang phát triển chỉ đầu tư vào khu vực kinh tế công cộng với tỷ lệ thấp, thì chỉ có tác dụng đối với tăng trưởng ở mức

độ vừa phải hoặc trong thời gian ngắn

Trang 26

- Hai là, những nước tiến hành cải cách kinh tế thì đạt được tỷ lệ tích lũy vốn vật chất cao hơn, tốc độ tăng trưởng cao hơn, GDP đầu người tăng nhanh,… Song việc tích lũy vốn vật chất cần gắn liền với quá trình mở rộng, nâng cao hiệu quả của vốn nhân lực mới có thể duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định

- Ba là, tỷ lệ tăng trưởng cao có thể đạt được trong thời kỳ cải cách nếu như vốn nhân lực tăng nhanh để bù đắp sự giảm dần do vốn vật chất tạo ra Giáo dục ảnh hưởng mạnh đến năng suất cận biên của vốn vật chất trong điều kiện chính phủ thường xuyên cải cách thể chế kinh tế thị trường, thực hiện dân chủ hóa các hoạt động kinh tế Điều này sẽ nâng cao được tỷ lệ tăng trưởng và huy động được nguồn vốn xã hội ở mức cao hơn

- Bốn là, nhiều đánh giá trước đây đã loại bỏ ảnh hưởng của yếu tố môi trường, vốn thiên nhiên đối với tăng trưởng Thực tế cho thấy, người nghèo ở các nước nghèo và các nước có thu nhập trung bình phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, bằng cách nào để nó phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng mà vẫn bảo vệ môi trường là một bài toán khó khăn hiện nay không chỉ trên phạm

vi của một quốc gia, mà còn là vấn đề nan giải có tính toàn cầu Hiện tại, các quốc gia trong cộng đồng quốc tế đã thực hiện những chính sách bảo vệ môi trường và cam kết thực hiện các thỏa thuận chung tại các cuộc họp của Liên hợp quốc về môi trường được tổ chức những năm gần đây Tuy nhiên, các cam kết đó vẫn còn rất mong manh và phụ thuộc vào lợi ích của nhiều nước Để có các biện pháp bảo vệ môi trường hiệu quả hơn, các nhà kinh tế cho rằng cần phải mở rộng ảnh hưởng của vốn nhân lực Ở những nước có nguồn vốn nhân lực trình độ cao thì mức độ phụ thuộc vào vốn thiên nhiên thấp, do đó thiệt hại

về môi trường thấp Còn những nước có trình độ vốn nhân lực thấp, tỷ lệ dân số phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên ở mức cao thì thiệt hại về môi trường sẽ cao hơn

- Năm là, thực hiện mô hình tăng trưởng đạt được các tiêu chuẩn về chất lượng tăng trưởng là vấn đề khó khăn đối với các nước đang phát triển Một số nước đã phải chịu những tổn thất môi trường, thể chế chính trị mất dân chủ,…

do những ưu tiên cho mục tiêu đạt tỷ lệ tăng trưởng cao Lịch sử kinh tế thế giới đã chỉ ra rằng ít thấy quốc gia nào đạt được các mục tiêu tăng trưởng trọn vẹn theo những tiêu chuẩn nêu trên Sự thần kỳ Đông Á cũng chỉ tồn tại trong khoảng 2-3 thập kỷ, thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh, tỷ lệ nghèo đói giảm, đầu tư vào vốn nhân lực ở mức cao, nhưng sự quản lý của các chính phủ

Trang 27

yếu kém, mất dân chủ trong hoạt động kinh tế, vốn vật chất tăng nhưng TFP tăng không đáng kể Hậu quả là nền kinh tế rơi vào khủng hoảng

- Sáu là, từ sự nhận thức về chất lượng tăng trưởng, nhiều quốc gia đang phát triển đã thay đổi thứ tự ưu tiên các mục tiêu phát triển trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước Ưu tiên cho tốc độ tăng trưởng cao được thay thế bằng mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng Chuyển hướng ưu tiên có thể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nếu mục tiêu ưu tiên đó là đúng

Trang 28

PHẦN II KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI

I TRUNG QUỐC

Trong 30 năm qua, nền kinh tế Trung Quốc đã chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung, hầu như không tham gia hoạt động thương mại quốc tế, sang một nền kinh tế hướng tới thị trường hơn, khu vực tư nhân tăng trưởng nhanh

và ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu Trung Quốc bắt đầu cải cách vào năm 1978 bằng cách xóa bỏ dần nền nông nghiệp hợp tác xã,

và chuyển sang cơ chế giá tự do, phân cấp tài khóa, tăng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp nhà nước, thành lập hệ thống ngân hàng đa dạng, phát triển thị trường cổ phiếu, nhanh chóng phát triển khu vực ngoài quốc doanh, đồng thời

mở cửa cho thương mại và đầu tư Từ năm 1978 đến năm 2005, Trung Quốc luôn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 9,5%/ năm Các dòng vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào Trung Quốc lên đến xấp xỉ 108 tỷ USD vào năm 2008 Trung Quốc đã và đang thực hiện cải cách từng bước và từng phần Trong những năm gần đây, Trung Quốc tăng cường hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhà nước đi đầu trong những ngành được coi là quan trọng đối với “an ninh kinh tế”, không ngần ngại thể hiện tham vọng xây dựng những công ty

“vô địch” quốc gia cạnh tranh trên toàn cầu Sau nhiều năm neo giá đồng nhân dân tệ so với đô la Mỹ, tháng 7 năm 2005, Trung Quốc đã định giá tăng nội tệ lên 2,1% so với Đô la Mỹ và tiến tới hệ thống tỷ giá tham chiếu giỏ tiền tệ Tính đến cuối năm 2008, tổng cộng mức tăng giá đồng nhân dân tệ so với đô la

Mỹ tính từ khi từ bỏ việc ghìm giá nội tệ đã lên đến trên 20%, tuy nhiên hối suất vẫn bị kiềm chế sau khi bùng nổ khủng hoảng tài chính toàn cầu

Nhờ tái cơ cấu nền kinh tế cộng với những thành tựu cải thiện hiệu suất

đã đạt được, GDP của Trung Quốc đã tăng gấp hơn 10 lần so với năm 1978 Năm 2009, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới (sau Mỹ) tính theo GDP ngang giá sức mua (PPP), song, theo GDP thu nhập bình quân đầu người nước này vẫn thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp Đến nay, thành tựu tăng trưởng và phát triển kinh tế của Trung Quốc đang nổi lên như một hiện tượng và Trung Quốc đang chứng minh vị thế là một cường quốc trên thế giới

Tuy nhiên, từ góc độ chất lượng tăng trưởng, Trung Quốc đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức và có thể nói là mặt trái của phát triển, bao gồm bốn vấn đề lớn: tiết kiệm nội địa đang ở mức cao cũng như cầu nội địa tương

Trang 29

ứng khá thấp, cần khắc phục bằng cách tăng cường giao dịch của doanh nghiệp

và củng cố mạng lưới an sinh xã hội; duy trì đủ việc làm cho nhiều triệu dân di

cư và những người mới gia nhập lực lượng lao động hàng năm; kiểm soát tham nhũng và những loại tội phạm kinh tế khác; kiềm chế hủy hoại môi trường và xung đột xã hội nảy sinh từ tốc độ chuyển biến kinh tế quá nhanh

Phần này không tập trung nhắc lại những thành tựu kinh tế Trung Quốc

đã đạt được mà xem xét, phân tích những thách thức Trung Quốc gặp phải để đảm bảo chất lượng tăng trưởng trong nước trên con đường “hòa bình đi lên”,

và kinh nghiệm vượt qua thách thức đó của Trung Quốc

1.1 Một số vấn đề tồn tại

Có thể thấy, con đường trước mặt Trung Quốc còn có nhiều rào cản, có nhiều chênh lệch trên những cán cân cần ổn định Cụ thể như sau:

- Tổng sản lượng quốc gia lên cao và tiến bộ xã hội còn thấp:

Bên cạnh những đô thị tầm cỡ trên thế giới như Bắc Kinh và Thượng Hải, Trung Quốc vẫn phải nỗ lực vượt qua thử thách lớn nhất trong tương lai là làm sao đưa đất nước ra khỏi tình trạng nghèo khó Trung Quốc xưa nay vẫn bị ám ảnh bởi 3 cái nghèo: Nghèo về tài nguyên, Nghèo về năng lượng, và Nghèo về nước Mặc dù năm 2004, Trung Quốc đã sản xuất được 176 triệu tấn dầu mỏ, nhưng Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu 100 triệu tấn Trung Quốc đã là nước nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ hai, sau Mỹ Dự kiến năm 2010, lượng nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc mỗi ngày sẽ tăng gấp đôi, đạt 4 triệu thùng/ngày và đến năm 2030 vào khoảng 10 triệu thùng/ngày

Nguồn tài nguyên nước của Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 6% thế giới, bình quân đầu người chỉ bằng 1/4 trung bình thế giới Dự tính vào khoảng năm

2030, Trung Quốc sẽ đạt đến đỉnh cao về sử dụng nước, và lượng nước dùng lúc đó đã đến cực hạn của nguồn nước có thể tận dụng

Suy thoái môi trường – đáng chú ý là ô nhiễm không khí, xói mòn đất,

và mực nước đang cạn dần, nhất là ở phía bắc – là vấn đề dài hạn Trung Quốc phải đối mặt Diện tích đất trồng bị thu hẹp do xói mòn và tốc độ xây dựng các công trình phát triển kinh tế Mấy năm gần đây, trung bình mỗi năm Trung Quốc mất khoảng 300.000 ha đất canh tác, trong khi dân số mỗi năm tăng khoảng 10 triệu người, người tăng đất giảm, nên việc cung cầu lương thực ở Trung Quốc đã và sẽ luôn ở trạng thái cân bằng căng thẳng

Trang 30

Năm 2006, Trung Quốc tuyên bố đến năm 2010 sẽ giảm 20% cường độ tiêu thụ năng lượng so với năm 2005 Năm 2009, Trung Quốc tuyên bố đến năm 2020 sẽ giảm 40% lượng khí thải carbon so với mức của năm 2005 Để phần nào đáp ứng được nhu cầu năng lượng trong tương lai, Chính phủ đang nỗ lực tìm cách sản xuất thêm năng lượng từ các nguồn khác ngoài than đá và dầu

mỏ, như tập trung phát triển năng lượng hạt nhân và những loại năng lượng thay thế khác

Những thành tựu phát triển được coi là thần kỳ của Trung Quốc cũng đồng thời kéo theo phân hóa xã hội ngày càng doãng rộng Chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp trong xã hội ngày càng mở rộng Hiện tại xã hội Trung Quốc tồn tại hai hạng dân: Giàu

và Nghèo, thể hiện sự phân cấp vô cùng rõ rệt Một số nhà nghiên cứu nhận thấy cải cách càng nhanh và nhiều thì sự vững chắc của xã hội càng bị lung lay

Một bộ phận quần chúng, chủ yếu là nông dân nghèo, công nhân viên chức bị mất việc trong quá trình cải cách có tâm lý bất mãn (năm 2004 đã xảy

ra nhiều vụ biểu tình, tuần hành của dân ở Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Hồ Nam

và mới đây nhất là những vụ biểu tình đẫm máu xảy ra tại Tân Cương) với hàng chục vạn người tham gia, gây mất ổn định cục bộ Trong thời gian 2000-

2004, Chỉ số phát triển con người (HDI) của Trung Quốc là 0,755 (đứng thứ 94 trên 146 nước) Năm 2007, HDI của Trung Quốc là 0,772 (đứng thứ 92 trên

186 nước) So sánh xếp hạng chỉ số phát triển con người của Trung Quốc được thể hiện trong Bảng 1 cho thấy kết quả các tiêu chí đánh giá phát triển con người ở Trung Quốc là chưa cao, nhất là trong tương quan với những thành tựu phát triển kinh tế đã đạt được Tỷ lệ người nghèo cùng cực (thu nhập dưới 1 USD một ngày) ở Trung Quốc năm 2004 là 16,6% dân số, đến năm 2009 ước tính vẫn còn khoảng 200 triệu dân Trung Quốc sống dưới mức đói nghèo Một vấn đề nữa đó là chính sách “một con” kéo theo hệ quả biến Trung Quốc thành nước có dân số già nhanh nhất thế giới

Bảng 1 Chỉ số phát triển con người của Trung Quốc năm 2007

Giá trị HDI

Tuổi thọ trung bình khi sinh (tuổi)

Tỷ lệ biết chữ của người lớn (% trong số người

từ 15 tuổi trở lên)

GDP bình quân đầu người (đô la Mỹ - theo

PPP)

1 Na Uy (0.971) 1 Nhật Bản (82.7) 1 Georgia (100.0) 1 Liechtenstein (85,382)

90 Cộng Hòa 70 Peru (73.0) 54 Philippines 100 Hoa Kỳ (5,693)

Trang 31

56 Trung Quốc (93.3) 102 Trung Quốc (5,383)

93 Belize (0.772) 73 Colombia (72.7) 57 Qatar (93.1) 103 Ai Cập (5,349)

Nguồn: Liên hợp quốc, 2008

- Tăng trưởng về chuyên môn và kỹ thuật cao trong khi các cơ hội việc làm còn thấp:

Chênh lệch cung và cầu lao động ngày càng lớn Theo ông Yin Weimin,

Bộ trưởng Bộ Nhân lực và An ninh Xã hội, nếu Trung Quốc đạt mục tiêu tăng trưởng 9% vào năm nay, chỉ một nửa trong số 24 triệu người kiếm việc tại nước này có được việc làm

Theo Báo cáo chính thức của Thời báo Toàn cầu, tỷ lệ thất nghiệp khu vực đô thị của Trung Quốc đang ở mức 4,3% trong quý I và quý II năm 2010 Song, con số đó mới chỉ bao gồm công nhân đô thị được đăng ký chính thức,

mà không bao gồm công nhân di cư, sinh viên tốt nghiệp, và lao động dư thừa tại các vùng nông thôn Những nguồn khác cho thấy tỷ lệ thất nghiệp lên tới 9% Thất nghiệp tăng cao là sự đánh đổi Trung Quốc phải trả cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế Nhằm đối phó với tình trạng suy thoái kinh tế, Trung Quốc đã

sử dụng gói kích cầu kinh tế gần 585 tỷ USD cuối năm 2008 Sau đó, Ủy ban Cải cách và Phát triển quốc gia Trung Quốc công bố thêm gói kích cầu thứ hai, trị giá 19 tỷ USD Các học giả cho rằng gói kích thích kinh tế nhằm tập trung vào sự phục hồi GDP trong ngắn hạn; tuy nhiên, nó sẽ không thể xóa bỏ nghèo đói hay thực sự giải quyết được vấn nạn thất nghiệp

Thêm vào đó, sự phát triển bất bình đẳng giữa các tỉnh thành và vùng miền trên cả nước, các thành phố và các tỉnh vùng ven biển phía đông và đông bắc phát triển nhanh hơn và cao hơn cũng như giàu có hơn vùng nông thôn và các tỉnh nằm sâu trong lục địa hoặc phía tây đất nước, khiến người lao động

Trang 32

thất nghiệp ở những khu vực kém phát triển kéo ra các đô thị phát triển, càng làm cho các vấn đề xã hội thêm trầm trọng Do đó, đẩy mạnh nền kinh tế định hướng thị trường nhưng đồng thời phải quan tâm đến thành phần quần chúng không có cơ hội gia nhập trào lưu mới về kinh tế

- Nhập khẩu hàng hóa nước ngoài nhiều, nhưng đồng thời Trung Quốc cũng không muốn lệ thuộc nước ngoài về hàng tiêu dùng Mặt khác, đợt suy

giảm kinh tế toàn cầu năm 2009 khiến lần đầu tiên trong nhiều năm cầu nước ngoài đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc sụt giảm Chính phủ cam kết sẽ tiếp tục cải cách nền kinh tế đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng tiêu dùng nội địa nhằm đưa Trung Quốc thoát dần sự phụ thuộc vào xuất khẩu nước ngoài trong tăng trưởng GDP

- Tiết kiệm trong dân chúng ở mức cao nhưng hiệu quả đầu tư còn kém:

Ở Trung Quốc, trong quá trình cải cách thành nền kinh tế thị trường, hệ thống an sinh xã hội theo kiểu bao cấp cũ đã bãi bỏ, nhưng hệ thống mới đang bắt đầu hình thành, còn rất sơ khai và thiếu sót Để dự phòng đối phó với những bất trắc trong tương lai, dân chúng đã tiết kiệm rất nhiều – suất tiết kiệm

ở Trung Quốc lên đến trên 51% GDP, thuộc mức cao nhất thế giới Tuy nhiên, hình thức tiết kiệm rất nghèo nàn, chủ yếu là ký gửi vào ngân hàng với lãi suất thấp Hệ thống ngân hàng tuy đã được cải cách thành ngân hàng thương mại, nhưng chủ yếu vẫn là quốc doanh – tiếp tục phân phối phần lớn vốn tiết kiệm cho các doanh nghiệp nhà nước theo các tiêu chuẩn chính trị, chứ không nhất thiết theo các tiêu chuẩn kinh doanh tín dụng Việc đầu tư vốn tiết kiệm của xã hội vì vậy có hiệu năng thấp Khu vực doanh nghiệp nhà nước thu hút 35% lượng tín dụng ngân hàng, nhưng chỉ tạo ra 23% GDP Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp tư hay có vốn FDI chỉ sử dụng 27% lượng tín dụng ngân hàng, nhưng đóng góp 52% GDP

- Tăng trưởng tín dụng cũng là một mối lo ngại khác:

Giống như các ngân hàng trung ương trên khắp thế giới, Ngân hàng Nhà nước Trung Quốc đã nới lỏng chính sách tiền tệ sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng ở Trung Quốc đã tăng lên 7 nghìn tỷ nhân dân tệ (1.283 tỷ USD) trong vòng 6 tháng quý II và III năm 2009, hơn cả số lượng tiền mà các ngân hàng của Trung Quốc cho vay trong hai năm trở lại đây Hiện vẫn còn thiếu các chi tiết về việc khoản tín dụng nói trên được sử dụng như thế nào, nhưng các ước tính cho thấy chỉ có một nửa đang được sử dụng để xây dựng cầu đường, nhà máy hoặc đường sắt Số còn

Trang 33

lại, theo ước tính của một nhà kinh tế có liên hệ với Hội đồng Nhà nước, đang được sử dụng để mua cổ phiếu và bất động sản Cũng có những câu chuyện nói rằng các nhà đầu tư bất động sản đang được bơm tiền và mua đống tồn kho với giả định là gói kích thích kinh tế đang đẩy giá tiêu dùng lên cao Do đó, không

có gì ngạc nhiên khi báo chí địa phương lo lắng về những nguy cơ của một tình trạng bong bóng tín dụng khác

Trong khi đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại đang khát vốn Nhiều doanh nghiệp trong số này không đủ tài sản để thế chấp vay tiền ngân hàng Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thường bị bỏ qua vì thiếu số liệu Nhưng khu vực này chiếm tới 60% nền kinh tế và thậm chí tỷ lệ tuyển dụng lao động ở những doanh nghiệp nhỏ và vừa còn lớn hơn vì xu hướng sản xuất dùng nhiều lao động Chính phủ Trung quốc đang trợ cấp tiêu dùng các sản phẩm chế tạo, song người tiêu dùng trong nước không thể thay thể cho người tiêu dùng nước ngoài vốn đang giảm mua Do đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Trung Quốc cần cải cách lại một cách cơ bản nếu muốn tồn tại

1.2 Vượt qua thách thức để đảm bảo chất lượng tăng trưởng

Vài năm trở lại đây, vấn đề chất lượng tăng trưởng đã được các cấp lãnh đạo Trung Quốc đặc biệt quan tâm Kỳ họp Quốc hội lần thứ 14 của Trung Quốc đã thông qua Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội (KT-XH) 5 năm lần thứ 11 Theo đó, Trung Quốc sẽ thay đổi các phương thức tăng trưởng để bảo đảm phát triển ổn định, hài hoà trong thời gian tới Đồng thời, khắc phục những hạn chế như nền kinh tế quá “nóng”, gia tăng hố sâu ngăn cách giàu nghèo, tình trạng lãng phí tài nguyên, ô nhiễm môi trường đã từng xảy ra trong giai đoạn thực hiện Kế hoạch Phát triển KT - XH 5 năm lần thứ 10 (2001 - 2005) Theo nhận định chung, Trung Quốc cần 40 năm nữa, tức là vào năm 2050, Trung Quốc mới có thể gọi là nước phát triển công nghiệp hóa trung bình Để khắc phục những chênh lệch trên đòi hỏi một chính sách khéo léo để có thể đẩy mạnh cả nước tiến lên trên con đường kinh tế thị trường Trong 50 năm tới kể

từ năm 2000, chính phủ Trung Quốc chia ra làm 3 thời kỳ với những qui hoạch

như sau:

(1) Từ 2000-2010: Tổng sản lưọng của Quốc gia sẽ tăng lên gấp đôi (2) Từ 2011-2020: Tổng sản lưọng của Quốc gia lại tăng gấp đôi một lần nữa Thu nhập bình quân đầu người sẽ đạt 3.000 USD mỗi năm

(3) Từ 2021-2050: Xã hội Trung Quốc tiếp tục phát triển cao về mọi mặt: kinh tế, xã hội Sự đổi mới khoa học, kỹ thuật và văn hóa của Trung Quốc

Trang 34

vào thời kỳ này, một lần nữa sẽ đưa Trung Quốc tiến lên như một quốc gia phồn vinh, dân chủ và tiến bộ xã hội xã hội chủ nghĩa

Trong một bài viết đăng trên tạp chí Thời đại, ông Trần Quốc Hùng đã nêu ra một số yếu tố trong quá trình cải cách kinh tế của Trung Quốc2 và được Trung Quốc đặc biệt chú trọng để có được những thành tựu cải thiện chất lượng tăng trưởng ban đầu

- Tăng trưởng kinh tế

Không tăng trưởng, hoặc tăng trưởng chậm so với gia tăng dân số, thì không thể phát triển, không thể xóa đói giảm nghèo, và không thể thực hiện các mục tiêu xã hội khác Kinh nghiệm cho thấy kinh tế tăng trưởng nhanh sau khi

có cải cách để thay đổi cơ chế bất hợp lý Tuy nhiên, sau một thời gian thì cuộc cải cách ban đầu dần dần bớt hiệu nghiệm Muốn duy trì mức tăng trưởng thì phải tiếp tục cải cách để làm cho nền kinh tế trở nên hữu hiệu hơn Hiện nay, thách thức lớn đối với Trung Quốc là cải cách doanh nghiệp nhà nước có tính chất độc quyền – thành phần kinh tế này rất lãng phí và kém hiệu quả, thu hút tín dụng nhiều nhất nhưng tạo ra giá trị gia tăng ít hơn các thành phần kinh tế khác

Vấn đề giảm lãng phí và nâng cao chất lượng của tăng trưởng nói chung

có thể được giải quyết khi kinh tế tiếp tục phát triển và cơ chế kinh tế thị trường ngày càng hoàn chỉnh Có tăng trưởng thì nhà nước mới có ngân sách để giải quyết các tiêu cực xã hội Vấn đề là nhà nước có đề ra và thực hiện các chính sách xã hội thích hợp hay không – điều này tùy thuộc vào khả năng của

bộ máy nhà nước

- Muốn có hiệu quả, cải cách kinh tế phải được áp dụng một cách rốt ráo, rộng rãi và có tính liên tục, không bị thay đổi bất chợt:

Cải cách đợt II (từ sau năm 1988) đã được thực hiện một cách nhất quán

từ đó đến nay và đã trải qua ba đời lãnh đạo là Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào Chủ trương này đã thúc đẩy Trung Quốc năng nổ trong việc thương lượng để sớm gia nhập và thực hiện các cam kết với WTO Sự liên tục trong chủ trương cải cách đã tăng sự tin tưởng của giới kinh doanh và đầu

tư thế giới cũng như trong nước vào tiến trình cải cách và hội nhập của Trung Quốc (“không thể đảo ngược”) Sự tin tưởng này cộng với tính cạnh tranh ngày

2

Trang 35

càng tăng do các biện pháp cải cách và mở cửa đã trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc

- Chính sách kinh tế đúng đắn là hết sức quan trọng:

Từ khi ý thức được là cần phải đổi mới, Trung Quốc chủ trương mạnh dạn mở cửa và hội nhập vào kinh tế thế giới, thu hút vốn FDI để xây dựng các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu Nói chung chính sách này đã thành công Trung Quốc đã thu hút được khối đầu tư FDI khổng lồ (khoảng gần 600 tỷ USD – tương đương với 14,9% GDP), hàm chứa sự chuyển giao công nghệ lớn Thêm vào đó, tính đến tháng 4 năm 2010, Trung Quốc đã tích lũy dự trữ ngoại

tệ khoảng 2.450 tỷ USD – đây là số dự trữ lớn nhất thế giới Ngành xuất khẩu của Trung Quốc đã phát triển mạnh mẽ, tiến dần từ chỗ trị giá gia tăng ít, chủ yếu lắp ráp hàng tiêu dùng thô sơ, đến chỗ trị giá gia tăng cao hơn, với hàng hóa phong phú, tiên tiến hơn – thậm chí bắt đầu xuất hiện các thương hiệu của Trung Quốc trên thị trường thế giới Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu hàng năm

đã lên tới hơn 1 nghìn tỷ USD, và năm 2009 Trung Quốc soán ngôi cường quốc xuất khẩu đứng đầu thế giới Xuất khẩu đã là đầu máy thúc đẩy sự tăng trưởng

và hiện đại hóa kinh tế Trung Quốc trong hơn ¼ thế kỷ vừa qua Nó không những làm thay đổi bộ mặt của Trung Quốc, mà góp phần quan trọng thay đổi

cả nền kinh tế toàn cầu – chủ yếu qua việc toàn cầu hóa dây chuyền sản xuất và cung cấp rất nhiều mặt hàng chế biến

- Cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng không kém:

Nền kinh tế không có hoặc kém tính cạnh tranh sẽ không hữu hiệu và năng động để đáp ứng nhu cầu thay đổi của xã hội Trung Quốc tăng trưởng nhanh nhưng cũng vì kém tính cạnh tranh nên bị nhiều lãng phí và kém chất lượng trong quá trình tăng trưởng Lĩnh vực mà Trung Quốc đã phát triển thành công – xuất khẩu hàng chế biến ở Trung Quốc – đòi hỏi phải có tính cạnh tranh rất cao để đáp ứng đòi hỏi khắt khe của thị trường thế giới Nhưng cạnh tranh ở đây không có nghĩa là cạnh tranh mạnh được yếu thua Cạnh tranh phải diễn ra trên cơ sở sân chơi bình đẳng và có luật lệ minh bạch, ít có tình trạng độc quyền

- Phát triển cơ sở hạ tầng và công nghiệp chế tạo:

Một bài học quan trọng khác là cần phải tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, bến cảng, hệ thống điện, điện thoại v.v vì chúng tăng cường khả năng sản xuất và phân phối của nền kinh tế Thị trường trong nước cho các dịch vụ tin học và viễn thông ở Trung Quốc là rất lớn: trong năm 2006,

Trang 36

số người đăng ký dùng Internet ở Trung Quốc ước tính có 140 triệu, và số người đăng ký sử dụng điện thoại di động ở Trung Quốc lên tới 450 triệu Trong lĩnh vực hạ tầng, Trung Quốc cũng tiến khá xa Thí dụ, Trung Quốc đã xây dựng hệ thống đường cho xe ôtô, tổng cộng dài gấp 6 lần so với Ấn Độ (ước tính có khoảng 150.000 dặm) Hệ thống điện thoại dây cố định và di động của Trung Quốc nhiều hơn của Ấn Độ cũng gấp 6 lần

Cơ sở hạ tầng ở Trung Quốc đã góp phần quan trọng trong việc phát triển công nghiệp chế biến phục vụ cho xuất khẩu và thị trường trong nước Trong lĩnh vực công nghiệp chế biến thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân chiếm phần quan trọng – các doanh nghiệp này sản xuất 52% GDP, và đã là động cơ phát triển ở Trung Quốc Mặt trái của việc đầu tư một cách đại trà vào các chương trình cơ sở hạ tầng là sự lãng phí và kém hiệu năng của vốn đầu tư Điều này được thể hiện rõ qua tỷ số ICOR ở Trung Quốc lên tới 4,5-5 (tỷ số trung bình ở các nước OECD là 3)

- Vai trò quan trọng của môi trường pháp lý, luật lệ và hiệu năng của bộ máy hành chính:

Kinh nghiệm của Trung Quốc đã chứng minh tầm quan trọng của yếu tố này trong tăng trưởng kinh tế, nhất là về huy động vốn đầu tư trong nước cũng như vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

Xuất phát điểm của cải cách Trung Quốc là chế độ kinh tế kế hoạch hóa,

có tính chỉ huy và bao cấp Vì thế, Trung Quốc không có truyền thống và kinh nghiệm hoạt động trong môi trường pháp lý và luật lệ minh bạch của một nền kinh tế thị trường, trong đó mọi thành viên được đối xử bình đẳng trước pháp luật Tuy chính phủ đã ban hành nhiều luật lệ, nhưng không có sự bảo đảm là việc xin giấy phép kinh doanh hay các tranh chấp thương mại sẽ được đối xử một cách công bằng, minh bạch, dựa theo luật mà không chịu sự chi phối có tính tùy tiện của những người có quyền thế Tình trạng này cũng tạo điều kiện thuận lợi để các tệ nạn tham nhũng có thể phát triển mạnh Nói chung, tình trạng này đã cản trở sự phát triển của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp tư nhân trong nước – vì các doanh nghiệp lớn nước ngoài có thể dùng

áp lực ngoại giao để giải quyết các tranh chấp quan trọng

Tuy nhiên, môi trường pháp lý ở Trung Quốc đã được cải thiện một phần trong những năm gần đây Nhiều văn bản pháp luật về tài chính và kinh tế được xây dựng mới từ đầu và ngày càng tiếp cận với thông lệ quốc tế qua việc Trung Quốc phải thực hiện các cam kết trong các hiệp định thương mại tự do song

Trang 37

phương (chủ yếu là với Mỹ và EU) và khi vào WTO Đặc biệt là cam kết thực hiện đối xử quốc gia (tức là bình đẳng) với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài và cải cách doanh nghiệp nhà nước để được chứng nhận là nước có nền kinh tế thị trường (theo thỏa thuận song phương với Mỹ, Mỹ có thể công nhận trong năm 2010) Nếu Trung Quốc có thể dần dà xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng và có tính cạnh tranh, thì sẽ củng cố đà tăng trưởng kinh tế nhanh trong tương lai

- Vấn đề tham nhũng:

Trung Quốc có hệ thống luật lệ nặng nề và phức tạp, đòi hỏi nhiều giấy phép, nhưng việc áp dụng và chế tài lại lỏng lẻo và không nghiêm khắc, tạo nhiều chỗ hở cho viên chức có thể quyết định một cách tùy tiện Đây là mảnh đất rất béo bở cho hối lộ, tham nhũng phát triển mạnh mẽ Xếp hạng của Trung Quốc trong các cuộc thăm dò ý kiến của tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) về tệ nạn hối lộ và tham nhũng ở mức thấp Năm

1995, Trung Quốc được điểm 2,16 (dưới điểm 3,0 có nghĩa là ở nước đó tình trạng tham nhũng lan tràn) Đến năm 2004, Trung Quốc đã cải thiện lên tới điểm 3,4 (xếp hạng 71 trong số 146 nước được khảo sát) Tệ nạn tham nhũng

đã gây khó khăn, tăng chi phí cho các hoạt động kinh doanh, và đã kìm hãm sức tăng trưởng của đất nước

Thời kỳ quá độ thực chất là tiến trình tư hữu hóa tài sản công cho các đơn vị kinh tế để họ giao lưu với nhau trong nền kinh tế thị trường Vấn đề là

tư hữu hóa như thế nào, ai quyết đinh sự phân phối, theo tiêu chuẩn gì, và ai được hưởng lợi Quan trọng hơn cả là quá trình tư hữu hóa đó có được diễn ra một cách công bằng và minh bạch hay không Theo nhận định của nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế, ở Trung Quốc, và các nước tương tự như Trung Quốc, vấn đề tư hữu hóa không được đặt ra và giải quyết một cách nghiêm túc Vì thế, song song với việc hình thành nền kinh tế hàng hóa thị trường, thực tế đã diễn ra quá trình tư hữu hóa một cách tự phát và vô tổ chức

Ở Trung Quốc tham nhũng đã vượt quá phạm trù đạo đức để trở thành vấn đề chính trị – tham nhũng đang dần dà thay đổi bản chất của chế độ và chỉ được giải quyết trong tiến trình cải cách chính trị của Trung Quốc

- Hệ thống tài chính ngân hàng:

Hệ thống tài chính ngân hàng có chức năng huy động vốn tiết kiệm trong dân chúng và phân phối cho các doanh nghiệp để đầu tư phát triển sản xuất Hệ thống tài chính càng hữu hiệu khi nó tạo ra nhiều dịch vụ và sản phẩm tài chính

Trang 38

để huy động vốn tiết kiệm và phân phối cho những dự án đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế cao cho xã hội Xét theo tiêu chuẩn này, hệ thống tài chính ngân hàng ở Trung Quốc có hiệu năng thấp Hiện nay, Trung Quốc đang cố gắng cải cách hệ thống ngân hàng bằng cách mời gọi các ngân hàng lớn trên thế giới đầu

tư chiến lược vào 4 ngân hàng thương mại nhà nước, đồng thời tư nhân hóa các ngân hàng này qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng Đến cuối năm 2007, theo lộ trình thực hiện cam kết WTO, lĩnh vực dịch vụ tài chính ngân hàng đã được mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài Lãnh đạo Trung Quốc xem áp lực cạnh tranh của quá trình hội nhập này là biện pháp hữu hiệu để hiện đại hóa

hệ thống ngân hàng Trung Quốc

- Hệ thống giáo dục:

Hệ thống giáo dục có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển kinh tế Trung Quốc chủ trương xây dựng giáo dục đồng đều hơn Hàng năm Trung Quốc chi tiêu khoảng 56 tỷ USD hay 3,2% GDP cho giáo dục, cho khoảng 218 triệu học sinh và 10,6 triệu thầy, cô giáo Giáo dục phổ thông bắt buộc từ nhà trẻ đến lớp

9 – trong năm 2004, có hơn 93% trẻ em học hết lớp 9 Nhưng sau lớp 9 chỉ có 40% trẻ em tiếp tục học Ngoài ra, có sự mất cân bằng trầm trọng trong tình trạng và chất lượng giáo dục ở vùng duyên hải và các đô thị so với nông thôn Trung Quốc cũng gặp vấn đề chương trình học quá thiên về từ chương và học thuộc lòng nên khó đáp ứng nhu cầu nền kinh tế ngày càng công nghiệp hóa và hiện đại hóa

Với đà phát triển như hiện nay, đến năm 2050 nền kinh tế Trung Quốc sẽ lớn nhất thế giới, chiếm 28% GDP toàn cầu (Mỹ đứng thứ hai với 26% và Ấn

Độ thứ ba với 17%) Trung Quốc có rất nhiều khả năng trở thành siêu cường,

về cả kinh tế, chính trị và quân sự Tuy nhiên, trước mắt Trung Quốc phải vượt qua một thử thách lớn, đó là cải thiện chất lượng tăng trưởng kinh tế để đảm bảo phát triển bền vững Kinh nghiệm phát triển của Trung Quốc cho thấy chính sách kinh tế đúng đắn và bộ máy nhà nước hữu hiệu là các yếu tố quan trọng hơn yếu tố thể chế chính trị trong việc kích thích tăng trưởng, nhất là trong thời kỳ mới phát triển Nhưng đến một trình độ phát triển kinh tế khá hơn,

và điều này thường đi đôi với việc hội nhập nhiều hơn với kinh tế thế giới, thì nhu cầu phải có hệ thống và cơ chế pháp luật rõ ràng minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế, ngày càng trở nên bức xúc hơn – và có khả năng kìm hãm sức tăng trưởng nếu không được giải quyết thỏa đáng và kịp thời

Trang 39

II HÀN QUỐC

Từ những năm 1960, Hàn Quốc đã đạt thành tích tăng trưởng và hội nhập toàn cầu đáng nể để trở thành một nền kinh tế công nghiệp hóa với nền tảng công nghệ cao tiên tiến trên thế giới Từ một nước có GDP bình quân đầu người chỉ xấp xỉ các nước nghèo ở châu Phi và châu Á vào thập niên 1950, đến năm 1996 Hàn Quốc đã là thành viên của khối OECD, và gia nhập câu lạc bộ nghìn tỷ USD trên thế giới năm 2004 Hiện Hàn Quốc là một trong 20 nền kinh

tế lớn nhất thế giới Cho đến nay, chất lượng tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc được đánh giá khá tốt, nhất là so với các nước có cùng giai đoạn và hoàn cảnh phát triển Ban đầu, hệ thống các mối quan hệ chính phủ và doanh nghiệp khép kín, cấp tín dụng trực tiếp và hạn chế nhập khẩu là những yếu tố, trong chừng mực nhất định, phù hợp để tạo nên thành công đã được Hàn Quốc áp dụng triệt

để Chính phủ xúc tiến nhập khẩu nguyên liệu thô và công nghệ để xuất khẩu hàng tiêu dùng, đồng thời khuyến khích tiết kiệm và đầu tư hơn là tiêu dùng Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 – 98 bùng nổ đã làm bộc lộ những yếu kém có từ lâu của mô hình phát triển Hàn Quốc, cụ thể là tỷ lệ nợ/ tài sản cao và vay nước ngoài ngắn hạn ồ ạt Năm 1998, tăng trưởng GDP chỉ đạt 6,9% nhưng sau đó đã tăng lên 9% trong giai đoạn 1999-2000

Sau khủng hoảng, Hàn Quốc đã triển khai rất nhiều cải cách kinh tế, trong đó có mở cửa rộng hơn cho đầu tư nước ngoài và nhập khẩu Từ năm

2003 – 2007, tăng trưởng dao động trong khoảng 4-5% Trước tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008, tăng trưởng GDP của Hàn Quốc duy trì ở mức 2,2% năm 2008 và giảm xuống còn 0,8% năm 2009 Nền kinh tế bắt đầu hồi phục từ quý III năm 2009, chủ yếu là nhờ tăng trưởng xuất khẩu, lãi suất thấp,

và chính sách tài khóa mở rộng Tuy nhiên, theo đánh giá chung của các chuyên gia và nhà nghiên cứu, kết quả phục hồi kinh tế của Hàn Quốc đến tương đối sớm và chủ động hơn so với một số nước phát triển khác Những thách thức dài hạn nền kinh tế Hàn Quốc phải đối mặt bao gồm dân số đang già nhanh chóng, thị trường lao động kém linh hoạt, và quá lệ thuộc vào xuất khẩu làm động lực tăng trưởng kinh tế Tuy vậy, kinh nghiệm thành công trong quá trình phát triển liên tục, chuyển từ giai đọan tăng trưởng ban đầu sang giai đọan phát triển bền vững, đảm bảo chất lượng tăng trưởng trong bối cảnh khởi đầu khó khăn, nguồn tài nguyên thiên nhiên rất hạn chế để đi lên gia nhập đội ngũ những nước giàu trên thế giới như của Hàn Quốc vẫn rất đáng để các nước đi sau tham khảo

Trang 40

2.1 Những thành tựu nổi bật

Hàn Quốc có dân số là 48,38 triệu người, bằng 56,2% so với dân số nước

ta, song diện tích chỉ có 98.480 km2, bằng 27,4% diện tích nước ta Trong lãnh thổ có tới 70% đất đai là đồi núi, diện tích gieo trồng hoa màu chỉ chiếm có 2,01% (%) Tài nguyên chỉ có một trữ lượng nhỏ khoáng sản như than, graphit, chì, tungsten, mô-lip-đen, không có dầu mỏ, khí đốt… Theo những gì người Hàn Quốc nói, nguồn tài nguyên họ có dồi dào nhất chỉ là tài nguyên nước và tài nguyên con người Thế nhưng đất nước này đã nhanh chóng làm nên một Hàn Quốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa với những thành tựu khó hình dung trong thời kỳ đầu tái thiết GDP đứng thứ 10 trên thế giới, GDP/PPP bình quân đầu người cao tới 29.000 USD Tuổi thọ bình quân là 78,64 năm (nam-75,34 năm, nữ- 82,17 năm) Đóng góp vào GDP chỉ có 3% do nông nghiệp, trong khi

có tới 39,4% do công nghiệp và 57,6% do dịch vụ Cả nước có 24,22 triệu lao động nhưng chỉ có 3% làm nông nghiệp, 17,3% làm công nghiệp và 75,2% làm dịch vụ

Có thể tổng hợp các giai đoạn phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc trong Bảng 2 dưới đây

Bảng 2 Các giai đoạn phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc

Công nghiệp năng Đồng hóa những sáng tạo nhỏ

Nghiên cứu &

phát triển Phát triển sản phẩm mới

Tăng cường nghiên cứu và phát triển gfong khoa học Sáng tạo sản phẩm mới

Tiên phong sáng tạo

Nền kinh tế

nông nghiệp

Nền kinh tế đổi mới

“Tăng trưởng chuyên sâu”

Chuyển sang nền kinh tế

dựa vào các nhân tố đổi mới sang tạo Hướng ngoại

Truyền thống Bắt kịp bằng cách sao chép Bắt kịp bằng cách đổi mới

Giai đoạn phát triển

Ngày đăng: 31/12/2014, 02:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. CIA (2010), “The World Factbook”, tại địa chỉ website: https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World Factbook
Tác giả: CIA
Năm: 2010
2. Cù Chí Lợi (cb) (2009), Tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ă"ng tr"ưở"ng kinh t"ế" và ch"ấ"t l"ượ"ng t"ă"ng tr"ưở"ng kinh t"ế" t"ạ"i Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Cù Chí Lợi (cb)
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa
Năm: 2009
3. Đặng Hữu (2008), “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức”, Tài liệu nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
Tác giả: Đặng Hữu
Năm: 2008
4. Đào Trọng Thể (2010), “Mô hình và lộ trình phát triển kinh tế của Trung Quốc”, tại địa chỉ website http://niemtin.free.fr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình và lộ trình phát triển kinh tế của Trung Quốc
Tác giả: Đào Trọng Thể
Năm: 2010
5. Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (cb) (2009), Vượt thách thức, mở thời cơ phát triển bền vững, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ượ"t thách th"ứ"c, m"ở" th"ờ"i c"ơ" phát tri"ể"n b"ề"n v"ữ"ng
Tác giả: Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (cb)
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2009
7. Haider A. Khan (2010), “Lessons from the Experiences of South Korea, Malaysia, Thailand and Vietnam”, UNU-WIDER, Thông tin chuyên đề số 2010/10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lessons from the Experiences of South Korea, Malaysia, Thailand and Vietnam
Tác giả: Haider A. Khan
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Các giai đoạn phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Bảng 2. Các giai đoạn phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc (Trang 40)
Hình 1. Chuyển đổi kinh tế tại Hàn Quốc từ năm 1945 – 2005 - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Hình 1. Chuyển đổi kinh tế tại Hàn Quốc từ năm 1945 – 2005 (Trang 41)
Hình 2. Các chỉ số phát triển R&D của Hàn Quốc - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Hình 2. Các chỉ số phát triển R&D của Hàn Quốc (Trang 43)
Hình 3: Trình độ của nghiên cứu viên theo loại hình tổ chức - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Hình 3 Trình độ của nghiên cứu viên theo loại hình tổ chức (Trang 44)
Hình 4: Xu hướng HDI - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Hình 4 Xu hướng HDI (Trang 45)
Bảng 4: Các nước đứng đầu về khoa học từ 2000 – 2006 - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Bảng 4 Các nước đứng đầu về khoa học từ 2000 – 2006 (Trang 51)
Bảng 6. Năng suất lao động xã hội, 2000-2009  Năm  Năng suất LĐXH - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Bảng 6. Năng suất lao động xã hội, 2000-2009 Năm Năng suất LĐXH (Trang 57)
Bảng 7. Cơ cấu lao động làm việc theo ngành kinh tế, 2000-2009 - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Bảng 7. Cơ cấu lao động làm việc theo ngành kinh tế, 2000-2009 (Trang 57)
Bảng 8. Tình hình biến động các loại đất, 1990-2008 - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Bảng 8. Tình hình biến động các loại đất, 1990-2008 (Trang 58)
Bảng 9. Tổng vốn đầu tư xã hội, 2000-2009 - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Bảng 9. Tổng vốn đầu tư xã hội, 2000-2009 (Trang 59)
Hình 5. Tốc độ tăng trưởng GDP 7 , mức GDP bình quân đầu người                   của Việt Nam, giai đoạn 1990-2009 - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Hình 5. Tốc độ tăng trưởng GDP 7 , mức GDP bình quân đầu người của Việt Nam, giai đoạn 1990-2009 (Trang 63)
Bảng 10. Tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc giai đoạn 1992-2009 8 - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Bảng 10. Tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc giai đoạn 1992-2009 8 (Trang 64)
Bảng 12. Cơ cấu đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Bảng 12. Cơ cấu đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế (Trang 65)
Bảng 13. Xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài, 1995-2009 - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Bảng 13. Xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài, 1995-2009 (Trang 66)
Bảng 16. Năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2007-2009 - Nâng cao chất lượng của sự phát triển kinh tế, xã hội PGS. TS. LÊ XUÂN BÁ
Bảng 16. Năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2007-2009 (Trang 72)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w