1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học ở việt nam (tt)

24 462 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này đã đặt ra sự cần thiết phải có những nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về chất lượng đào tạo nhân lực nói chung và nhân lực trình độ ĐH nói riêng để tìm hiểu xem nhân lực trình độ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khi các nước đang chuyển dần từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào tài nguyên

và vốn, sang nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức, nguồn nhân lực (NNL) ngày càng đóng vai trò quan trọng Đây là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội ở mỗi quốc gia Trong đội ngũ này, NNL có trình

độ đại học (ĐH) trở lên luôn được coi là bộ phận tiên phong, kéo theo các bộ phận còn lại và đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia

Ở nước ta,theo chuẩn đánh giá kết quả đầu ra của các trường đại học (ĐH), đa số sinh viên tốt nghiệp (SVTN) đều đạt yêu cầu về kiến thức, kỹ năng để có thể tham gia vào thị trường lao động, góp phần hình thành đội ngũ nhân lực trình độ ĐH, phục vụ cho sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, kết quả các cuộc khảo sát doanh nghiệp (DN) sử dụng lao động trong giai đoạn từ năm 2002 đến nay, đã cho thấy sự thiếu hụt lớn về kiến thức, kỹ năng làm việc đối với hầu hết các SVTN Điều này gây khó khăn đáng kể cho các

DN trong việc tìm kiếm nhân lực có kỹ năng phù hợp và góp phần làm gia tăng số lao động thất nghiệp có trình độ ĐH

Điều này đã đặt ra sự cần thiết phải có những nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về chất lượng đào tạo nhân lực nói chung và nhân lực trình độ ĐH nói riêng để tìm hiểu xem nhân lực trình độ ĐH ở nước ta hiện còn chưa đáp ứng yêu cầu của các DN ở mức độ nào, ở những kỹ năng nào, có làm cho DN hài lòng khi sử dụng lao động hay không Từ đó đề ra các giải pháp để nâng cao chất lượng NNL đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Xuất phát từ cách nhìn nhận và tầm quan trọng của vấn đề này mà người nghiên cứu đã lựa chọn vấn đề đánh giá sự hài lòng của DN sử dụng lao động

về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam làm để tài nghiên cứu của luận án

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

2.1 Các nghiên cứu về chất lượng đào tạo đại học

Các nghiên cứu theo hướng này chủ yếu nhìn nhận vấn đề chất lượng dưới góc độ của các cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý và đánh giá cả đầu vào, đầu ra và quá trình đào tạo Một số các nghiên cứu khác quan tâm nhiều hơn đến chất lượng của quá trình đào tạo thông qua sự đánh giá của người học

2.2 Các nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực và các năng

lực, kỹ năng cần có của người lao động

Trang 2

Các nghiên cứu về chất lượng NNL và các năng lực cần có của người lao động nhìn nhận vấn đề chất lượng dưới góc độ của người sử dụng lao động, mà chủ yếu là các DN Họ đưa ra các đòi hỏi, yêu cầu về kiến thức, kỹ năng mà người lao động phải đạt được trong quá trình làm việc Mức độ đáp ứng các yêu cầu này sẽ quyết định mức độ hài lòng của DN và người sử dụng lao động

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu của luận án có mục đích làm rõ các vấn đề lý luận và thực

tế liên quan đến sự hài lòng về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam dưới góc độ của các DN sử dụng lao động, để từ đó đề xuất các kiến nghị giúp các cơ sở đào tạo, các nhà hoạch định chính sách đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam đáp ứng nhu cầu của các DN sử dụng lao động

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong luận án là sự hài lòng của DN về chất

lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam, hay nói cách khác, đây chính là chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH dưới góc độ của các DN sử dụng lao động

Phạm vi nghiên cứu của luận án là đánh giá tổng thể chất lượng đào

tạo đại học (ĐTĐH) thông qua đội ngũ nhân lực đang làm việc ở khu vực

DN Nghiên cứu tập trung vào đánh giá chất lượng của đội ngũ này ở giai đoạn đầu sau khi đào tạo từ các trường ĐH và vào làm việc trong các DN Hai khối ngành được lựa chọn để đánh giá là Kỹ thuật-Công nghệ và Kinh tế-Quản lý

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận án là:

- Phân tích hệ thống, nghiên cứu tổng quan dựa trên các số liệu thống kê

đã được cập nhật

- Phương pháp mô hình hóa và phương pháp chuyên gia

- Phương pháp điều tra xã hội học và khảo sát thực tế cùng với việc xử lý

số liệu thu được bằng phần mềm SPSS

6 Những đóng góp mới của luận án

 Về mặt lý luận:

- Hệ thống hóa được các vấn đề lý luận ở trong và ngoài nước về chất lượng ĐTĐH, chất lượng NNL, từ đó xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam dưới góc độ của các DN

sử dụng lao động

Trang 3

- Tập hợp được kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về đánh giá chất lượng ĐTĐH, chất lượng NNL và sự hài lòng của người sử dụng lao động,

để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- Định lượng vấn đề chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam dưới góc độ của các DN sử dụng lao động bằng các chỉ số chất lượng

- Đề xuất ra mô hình đánh giá sự hài lòng của DN về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam

 Về mặt thực tiễn:

- Luận án đã đánh giá được toàn cảnh về chất lượng ĐTĐH và chất lượng NNL ở Việt Nam hiện nay

- Dựa trên bộ tiêu chí và các chỉ số phản ánh chất lượng đề xuất, luận án

đã lượng hóa được cụ thể chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam hiện đang được các DN đánh giá ở mức độ nào so với mong đợi

- Dựa trên mô hình nghiên cứu đề xuất, luận án đã kiểm định được các giả thuyết về mối quan hệ giữa chất lượng, thời gian đáp ứng công việc với

sự hài lòng, và các giả thuyết về sự khác biệt trong đánh giá chất lượng

và sự hài lòng trong lĩnh vực đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam

- Luận án đã đề xuất những khuyến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam đáp ứng nhu cầu của DN sử dụng lao động và làm cho họ hài lòng

7 Kết cấu của luận án:

Luận án có 150 trang (không kể phụ lục), gồm phần Mở đầu và 5 chương Ngoài ra, còn có 26 phụ lục (59 trang) và 155 tài liệu tham khảo

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC

TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC 1.1 Nguồn nhân lực trình độ đại học

1.1.1 Khái niệm “nhân lực” và “nguồn nhân lực”

“Nhân lực” là tổng số lực lượng lao động của một một quốc gia, một tổ chức hay một DN

“Nguồn nhân lực” là một khái niệm chung, rộng hơn và bao quát hơn khái niệm “nhân lực”, chỉ nguồn lực con người, bao gồm cả những nhân tố còn ở dưới dạng tiềm năng

1.1.2 Các thành tố của nguồn nhân lực

NNL thường được đánh giá trên 3 phương diện: số lượng, cơ cấu và chất lượng, trong đó, chất lượng NNL được coi là thành tố quan trọng nhất

Trang 4

Nó thường được phản ánh qua 3 chỉ tiêu: (1) Thể lực (sức khỏe, tầm vóc, độ dẻo dai), (2) Trí lực (trình độ học vấn, kiến thức, kỹ năng chuyên môn, thái

độ với công việc), (3) Phẩm chất đạo đức, lối sống, quan niệm thẩm mỹ Trong chất lượng NNL, yếu tố quan trọng nhất, là trình độ học vấn, trình

độ chuyên môn nghiệp vụ, cũng như các kỹ năng của đội ngũ lao động

1.1.3 Khái niệm và các thành tố của nguồn nhân lực trình độ ĐH

NNL trình độ ĐH là một bộ phận của NNL trình độ cao, được đào tạo trong các cơ sở ĐTĐH, ở trình độ ĐH, có năng lực chuyên môn cao, có thể đảm đương được các công việc phức tạp, yêu cầu cao về trình độ chuyên môn, có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất, có khả năng vận dụng sáng tạo các kiến thức, kỹ năng được đào tạo nhằm đem lại năng suất, hiệu quả cao trong công việc

Do trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ được hình thành chủ yếu trong nhà trường, thông qua giáo dục-đào tạo, nên khi đánh giá về chất lượng NNL nói chung và chất lượng NNL trình độ ĐH nói riêng, người

ta thường quay về đánh giá chất lượng đào tạo ra NNL đó Việc nâng cao chất lượng NNL bao giờ cũng bắt đầu từ nâng cao chất lượng đào tạo

1.2 Chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học

1.2.1 Khái niệm “chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học”

Đào tạo đại học là một loại hình dịch vụ đặc biệt mà ở đó có sự tương tác rất lớn giữa cơ sở đào tạo, người dạy, người học và người sử dụng lao động Sản phẩm đầu ra của các cơ sở đào tạo là nguồn cung cho thị trường lao động Cầu về lao động được hình thành từ các cơ quan, tổ chức, DN hoặc nhu cầu nhập khẩu lao động của thị trường lao động quốc tế

Về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH, có các quan niệm sau:

- Khái niệm truyền thống: chất lượng là sự hoàn hảo

- Chất lượng là sự phù hợp với tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật)

- Chất lượng là sự phù hợp với mục đích

- Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng: chất lượng phải được đánh giá thông qua việc người học có được trang bị đầy đủ các kiến thức, kỹ năng cần thiết để đáp ứng các yêu cầu của người sử dụng lao động hay không Đào tạo chỉ có ý nghĩa khi sản phẩm của nó được thị trường lao động chấp nhận và người sử dụng lao động hài lòng

1.2.2 Các quan điểm đánh giá chất lượng đào tạo NL trình độ ĐH 1.2.2.1 Quan điểm và các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nhìn từ

phía các cơ sở đào tạo

Các cơ sở đào tạo đánh giá chất lượng bằng cả 3 yếu tố đầu vào, quá trình và đầu ra Mặc dù các tiêu chuẩn để đánh giá này là khá toàn diện,

Trang 5

nhưng chỉ cho biết là trường đó có đảm bảo các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng hay không Vì vậy, các tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá theo quan điểm này chủ yếu tập trung vào các điều kiện đảm bảo chất lượng hơn là tiêu chí

cụ thể đánh giá chất lượng, đặc biệt là đánh giá đầu ra (SVTN ra trường làm việc thế nào)

1.2.2.2 Quan điểm và các tiêu chí đánh giá chất lượng nhìn từ phía

độ chuyên môn nghiệp vụ

Theo quan điểm truyền thống, chất lượng đào tạo dưới góc độ người sử dụng lao động thường được đánh giá thông qua các “năng lực” mà SVTN cần phải có để có thể đảm đương được công việc Năng lực có thể được đánh giá qua 3 nhóm tiêu chí là: (1) Kiến thức, (2) Kỹ năng và (3) Thái độ Tuy nhiên, theo quan niệm mới hiện nay, không cần thiết phải phân biệt

rõ ràng kiến thức, kỹ năng và thái độ mà có thể chỉ sử dụng chung một thuật ngữ là “kỹ năng”

Ngân hàng Thế giới (2013) đã đưa ra bộ kỹ năng của người lao động trong xã hội hiện đại bao gồm 3 nhóm: (1) Kỹ năng nhận thức, (2) Kỹ năng

kỹ thuật và (3) Kỹ năng xã hội và hành vi

Trong những năm gần đây, người ta nói nhiều đến các kỹ năng cứng và

kỹ năng “mềm” Kỹ năng “cứng” được hiểu là kỹ năng chuyên môn, kỹ thuật Các kỹ năng “mềm” vừa là đặc trưng cá nhân, vừa mang tính phổ quát, cần thiết cho tất cả mọi người, không phụ thuộc vào công việc, ngành nghề như

kỹ năng cứng

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo trình độ ĐH

Luận án không đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp như môi trường xã hội, chính sách học bổng, tiền lương, …, mà chỉ tập trung vào các nhân tố có tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH, bao gồm 6 nhóm: (1) Mục tiêu-chương trình-phương pháp đào tạo, (2) Đội ngũ giảng viên, (3) Cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính, (4) Chất lượng đầu vào của sinh viên, (5) Các yếu tố quản lý, (6) Sự tham gia của người sử dụng lao động

1.2.4 Mô hình đánh giá chất lượng

Trang 6

Để đánh giá chất lượng dịch vụ thường có là một số mô hình nổi bật như mô hình của Grönroos, mô hình SERVQUAL, mô hình SERVPERF Tuy nhiên, 2 mô hình SERVQUAL và SERVPERF chủ yếu được sử dụng

để đánh giá quá trình cung cấp dịch vụ chứ không phải sản phẩm đầu ra của dịch vụ Trong lĩnh vực ĐTĐH, khách hàng thụ hưởng trực tiếp dịch vụ chính

là các sinh viên và họ (cùng với các cơ sở đào tạo) mới có đầy đủ thông tin

để có thể đánh giá về chất lượng quá trình đào tạo Còn DN chỉ là người sử dụng các sản phẩm đầu ra của ĐTĐH, chứ không phải quá trình đào tạo, nên xét dưới góc độ này, mô hình của Grönroos là phù hợp nhất Nó được hình thành từ việc so sánh giữa cái mà khách hàng kỳ vọng, mong đợi với cảm nhận thực tế của họ sau khi sử dụng dịch vụ

1.3 Sự hài lòng của khách hàng về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH

1.3.1 Khách hàng trong lĩnh vực đào tạo đại học

Trong lĩnh vực ĐTĐH, thường khách hàng được chia thành 2 nhóm: khách hàng bên ngoài và khách hàng bên trong Nhóm khách hàng bên ngoài

là những đối tượng thụ hưởng dịch vụ đào tạo hoặc sử dụng sản phẩm của quá trình đào tạo, gồm người học, phụ huynh và người sử dụng lao động (thị trường lao động, xã hội) Còn khách hàng bên trong là giáo viên, cán bộ phục

vụ trong các cơ sở đào tạo Như vậy, người sử dụng lao động, trong đó có các DN, là nhóm khách hàng bên ngoài, sử dụng sản phẩm đầu ra của ĐTĐH

Sự hài lòng của họ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm của ĐTĐH

1.3.2 Sự hài lòng của doanh nghiệp sử dụng lao động về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học

Sự hài lòng là mức độ trạng thái của một người, bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm, dịch vụ và những kỳ vọng của người đó (Kotler & Keller, 2006) Chất lượng và sự hài lòng có mối quan hệ thuận chiều Chất lượng là tiền đề cho sự hài lòng và là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng Nói cách khác, một sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao thì cũng đồng nghĩa với sự hài lòng của khách hàng càng cao

Sự hài lòng của DN sử dụng lao động về chất lượng đào tạo nhân lực chính là sự đánh giá của họ về năng lực của SVTN có đáp ứng được yêu cầu của công việc hay không Sự đánh giá này dựa trên việc so sánh giữa những cái mà DN kỳ vọng (mong đợi) với những kiến thức, kỹ năng thực tế mà các SVTN thể hiện trong thực tế công việc Nếu năng lực mà SVTN thể hiện tốt hơn kỳ vọng của DN, tức là chất lượng đào tạo tốt, khi đó DN sẽ hài lòng

Trang 7

Ngược lại sẽ dẫn đến sự không hài lòng Đánh giá chất lượng theo quan điểm của khách hàng cũng chính là đánh giá sự hài lòng

1.3.3 Các nhân tố ảnh hướng đến việc đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học

Các DN có thể đưa ra các nhận định, đánh giá khác nhau về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH và sự hài lòng của họ, tùy thuộc vào các nhân

tố ảnh hưởng đến việc đánh giá Có thể chia thành 2 nhóm:

(1) Nhóm nhân tố liên quan đến DN đưa ra đánh giá, bao gồm: địa bàn hoạt động, loại hình DN, lĩnh vực hoạt động, quy mô nhân lực, tỷ lệ cán bộ

có trình độ ĐH

(2) Nhóm nhân tố liên quan đến đối tượng được đánh giá, bao gồm khối ngành đào tạo của SVTN, loại hình đào tạo, loại hình trường và uy tín của cơ sở đào tạo

1.3.4 Các mô hình đánh giá sự hài lòng về chất lượng

Các mô hình đánh giá sự hài lòng không chỉ dừng lại ở việc đánh giá chất lượng mà còn tiến xa hơn nữa trong việc đánh giá mối quan hệ giữa chất lượng với sự hài lòng Các mô hình này nghiên cứu khái niệm sự hài lòng của khách hàng trong mối liên kết, tác động với một số khái niệm khác có liên quan như chất lượng, giá trị, sự phàn nàn, sự trung thành, điển hình là

mô hình “Kỳ vọng – Cảm nhận” của Oliver, mô hình chỉ số hài lòng của khách hàng – CSI

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng nguồn nhân lực trình độ đại học ở Việt Nam

2.1.1 Quy mô và cơ cấu nhân lực trình độ ĐH những năm gần đây

Ở nước ta, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn rất thấp, chưa đến 20% trong lực lượng lao động và có xu hướng giảm dần qua giai đoạn từ 2007 (đạt 17,7%) đến 2012 (đạt 16,8%) Trong các trình độ đào tạo, chỉ có trình

độ từ ĐH trở lên là tăng liên tục qua các năm, từ 4,9% năm 2007 lên đến 6,4% năm 2012 Các trình độ khác đều giảm, đặc biệt là đào tạo nghề và trung cấp chuyên nghiệp

Tỷ trọng lao động được đào tạo từ ĐH trở lên trong những ngành dịch

vụ cao hơn hẳn so với các ngành khác, kể cả ngành sản xuất Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là 2 địa phương có tỷ lệ lao động có trình độ ĐH lớn nhất cả nước, đều là 17% Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ này thấp nhất cả nước, khoảng 4,6%

Trang 8

Mặc dù những năm qua, số lượng và tỷ trọng lao động trình độ ĐH trong

cơ cấu nhân lực của cả nước có tăng lên, nhưng so với nhiều nước trong khu vực, tỷ lệ này vẫn còn rất thấp

2.1.2 Quy mô và cơ cấu nhân lực trình độ đại học ở khu vực DN

Khoảng 50% số lao động có trình độ ĐH đang làm việc trong các DN

Cơ cấu nhân lực trình độ ĐH có mức chênh lệch rất lớn giữa các ngành nghề

và với tỷ lệ trung bình trong các DN nói chung (15,2%) Các ngành có tỷ lệ

ĐH cao nhất là tài chính, ngân hàng, bảo hiểm (70,8%), thông tin, truyền thông (50,5%), ngành có tỷ lệ lao động ĐH thấp nhất là nông lâm thủy sản (7%) Ở trong cùng một lĩnh vực hoạt động, nhìn chung, các DN lớn, DNNN,

DN FDI có tỷ lệ lao động trình độ ĐH-CĐ cao hơn các DN tư nhân, đặc biệt

là các DN vừa và nhỏ

Như vậy có thể thấy, khu vực DN vốn là khu vực có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra GDP, tạo ra công ăn việc làm và an sinh xã hội, nhưng tỷ lệ nhân lực có trình độ ĐH-CĐ trở lên vẫn còn rất thấp

2.1.3 Chất lượng nguồn nhân lực trình độ đại học

Mặc dù sự thiếu hụt về số lượng lao động có trình độ ĐH trong khu vực

DN và các khu vực khác của nền kinh tế là đáng lo ngại, nhưng vấn đề mà các DN và người sử dụng lao động quan tâm hơn cả chính là chất lượng của NNL ĐH Các số liệu thống kê và các đánh giá sơ bộ đưa ra trong luận án đã khẳng định kết luận này

Gần đây, trong Báo cáo phát triển Việt Nam 2014, Ngân hàng Thế giới

đã đưa ra nhận định rằng các DN và người sử dụng lao động ở Việt Nam vẫn đang phải vất vả tìm những người lao động phù hợp với mình vì các ứng viên không có kỹ năng phù hợp (“thiếu hụt kỹ năng”) hoặc vì sự khan hiếm người lao động trong một số ngành nghề (“thiếu hụt người lao động có tay nghề”)

2.1.4 Mối quan hệ giữa chất lượng nguồn nhân lực trình độ đại học

với năng suất lao động và năng lực cạnh tranh

Chất lượng NNL, đặc biệt là chất lượng NNL trình độ ĐH, là một trong những yếu tố tác động lớn nhất tới năng suất lao động và năng lực cạnh tranh

Do chất lượng đào tạo thấp, do thiếu hụt lao động có kỹ năng, nên năng suất lao động của Việt Nam thấp so với hầu hết các nước trong khu vực Theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2013-2014 của Diễn đàn kinh tế thế giới, chỉ số về ĐTĐH nước ta mới chỉ đạt 3,69/7 điểm, xếp hạng 95/148 quốc gia, còn chỉ số về năng lực cạnh tranh toàn cầu thì ở mức 4,18/7 điểm và xếp hạng 70/148

2.2 Thực trạng đào tạo đại học ở Việt Nam

Trang 9

2.2.1 Quy mô và cơ cấu đào tạo

Trong hơn một thập niên vừa qua, quy mô ĐTĐH đã tăng lên một cách đáng kể, cả về số trường ĐH-CĐ lẫn số sinh viên Tuy nhiên, mạng lưới các trường ĐH-CĐ lại phân bổ chưa hợp lý, tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Hồng và miền Đông Nam Bộ Riêng tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh,

có tới 40% trường ĐH-CĐ với gần 70% sinh viên của cả nước theo học

Về cơ cấu ngành nghề đào tạo, ít có sự thay đổi rõ rệt theo những yêu cầu đặt ra trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đòi hỏi của thị trường lao động Có khoảng 50% số sinh viên các trường theo học nhóm ngành kinh tế-thương mại-pháp lý và ngành sư phạm Số sinh viên theo học các ngành

có liên quan trực tiếp đến sản xuất (kỹ thuật, công nghệ, xây dựng, giao thông, …) chỉ chiếm khoảng 20%-25%

2.2.2 Chất lượng đào tạo và các điều kiện đảm bảo chất lượng 2.2.2.1 Kết quả đầu ra của sinh viên đại học

Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), kết quả khảo sát của

Dự án Giáo dục đại học 2 (2012), kết quả học tập và tốt nghiệp của sinh viên các trường ĐH-CĐ đa phần nằm trong phổ điểm khá giỏi Tuy nhiên, nhiều chuyên gia đã cho rằng kết quả đầu ra của sinh viên chưa phản ánh đúng chất lượng đào tạo của hệ thống GDĐH Việt Nam

Đối với ĐTĐH, sản phẩm đầu ra là NNL cung cấp cho thị trường lao động, nên nếu đánh giá chỉ dựa vào kết quả đầu ra không thôi mà chưa tính đến nhu cầu, yêu cầu của thị trường lao động thì sẽ là một thiếu sót lớn vì không phải những SVTN khá, giỏi hoặc có kết quả học tập tương đối tốt thì tất cả sẽ đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động và làm họ hài lòng Như vậy, cách đánh giá đầu ra của các trường chưa phù hợp với những mong muốn của người sử dụng lao động và chưa phản ánh đúng chất lượng nhân lực trình độ ĐH hiện nay

2.2.2.2 Các điều kiện đảm bảo chất lượng

a) Đội ngũ giảng viên đại học

Số lượng giảng viên còn thiếu về số lượng, tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sỹ tăng nhưng các trình độ cao hơn (tiến sỹ, phó giáo sư, giáo sư) lại

giảm Về năng lực nghiên cứu, nếu chỉ tính riêng số công bố quốc tế thì vẫn

còn quá ít so với các nước trong khu vực Việc giảng viên ít tham gia nghiên cứu sẽ khiến nên họ bị hạn chế trong việc tiếp cận với hệ thống kiến thức quốc tế và các kỹ thuật tiên tiến, trong cập nhật kiến thức chuyên môn

b) Nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo

Trong những năm gần đây, việc triển khai các chương trình liên kết với các trường ĐH nước ngoài, áp dụng một số chương trình đào tạo của các

Trang 10

trường ĐH tiên tiến trên thế giới bước đầu đã đem lại những kết quả tích cực Một số chương trình đào tạo đã được thiết kế theo yêu cầu của DN và thực hiện tại DN, được các DN và người sử dụng lao động đánh giá tích cực Tuy nhiên, những thay đổi này mới chỉ là bước đầu và chưa mang tính phổ biến, cơ bản Theo ý kiến của chuyên gia và phản hồi từ DN, chương trình đào tạo ở các trường ĐH-CĐ ở nước ta nhìn chung còn cứng nhắc, thiếu tính liên thông, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành và rèn luyện kỹ năng Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy ở các trường ĐH nhìn chung còn lạc hậu, kém hiệu quả, vẫn thiên về truyền đạt kiến thức, chưa coi trọng đúng mức việc dạy phương pháp tư duy Ít có sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho đào tạo và nghiên cứu còn nghèo nàn, lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu mà việc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo đặt ra

c) Quản lý giáo dục đại học

Trong thời gian vừa qua, cũng đã có một số chuyển biến theo hướng tích cực trong quản lý GDĐH Điểm nổi bật là nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường trước xã hội và Nhà nước Tuy nhiên, những đổi mới này vẫn chưa nhiều, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và sự phát triển của toàn hệ thống Việc kiểm định chất lượng đào tạo, một trong những giải pháp cơ bản để đảm bảo và nâng cao chất lượng, vẫn chưa được quan tâm đúng mức

2.2.3 Thực trạng liên kết đại học-doanh nghiệp ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các trường ĐH đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về tăng cường liên kết ĐH-DN và đã đạt được các kết quả đáng ghi nhận trong thời gian qua

Mặc dù vậy, xét về tổng thể, liên kết ĐH-DN ở nước ta hiện nay vẫn còn ở trình độ khá thấp, chưa đáp ứng được mong đợi của cả 2 bên và yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Sự yếu kém trong liên kết ĐH-DN

ở Việt Nam đã được Ngân hàng Thế giới đánh giá qua chỉ số phản ánh cường

độ liên kết ĐH-DN, theo đó, nước ta mới chỉ đạt 3,2/7 điểm và được xếp vào nhóm các nước có liên kết yếu ở khu vực Đông Á

2.3 Tình hình việc làm của sinh viên tốt nghiệp và dự báo cung

cầu nhân lực trình độ đại học đến năm 2020

2.3.1 Tình hình việc làm của sinh viên tốt nghiệp

Ở nước ta, tỷ lệ nhân lực trình độ ĐH vẫn còn thấp Mặc dù vậy, tỷ lệ SVTN ĐH tìm được việc làm có xu hướng ngày càng giảm và tỷ lệ lao động thất nghiệp có trình độ ĐH lại có xu hướng tăng và cao hơn tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước

Trang 11

Trong giai đoạn suy thoái kinh tế, trong bối cảnh cung đã vượt cầu ở một số ngành, lĩnh vực, chất lượng đào tạo nhân lực lại càng nổi lên như một vấn đề cấp thiết cần giải quyết Tốc độ SVTN tham gia vào thị trường lao động ngày càng lớn nhưng tỷ lệ thất nghiệp ĐH tăng cao đã gióng lên hồi chuông báo động về chất lượng đào tạo Trong khi đó, các DN vẫn phản ánh

về tình trạng thiếu hụt các lao động trình độ cao, có các kỹ năng phù hợp với yêu cầu của DN

Điều này đã chứng tỏ chất lượng đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu thực tế Các cơ sở đào tạo cần có những đổi mới căn bản và toàn diện để có thể cung cấp NNL có trình độ và chất lượng cao, phục vụ cho yêu cầu đổi mới của đất nước

2.3.2 Dự báo cung cầu nhân lực trình độ đại học đến năm 2020

Kết quả của một số nghiên cứu đều dự báo tổng cầu thấp hơn tổng cung Điều đó có nghĩa là đến năm 2015 và 2020, khả năng mất cân đối cung-cầu

về nhân lực trình độ cao sẽ trở nên nghiêm trong hơn hiện nay và tỷ lệ thất nghiệp ĐH có thể sẽ ở mức cao hơn Điều này càng làm cho vấn đề chất lượng càng trở nên quan trọng Việc đào tạo ra những người lao động có trình

độ và chất lượng, đúng như những gì mà thị trường lao động cần sẽ có vai trò đặc biệt quan trọng cho sự phát triển của đất nước, đặc biệt trong thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập quốc tế

Chương 3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA DOANH NGHIỆP VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC

TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

3.1.1 Căn cứ xây dựng mô hình

Luận án xây dựng mô hình đánh giá tổng hợp dựa trên việc áp dụng mô hình “Kỳ vọng-Cảm nhận” của Oliver, mô hình chỉ số hài lòng của khách hàng CSI trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm đầu ra của ĐTĐH Theo mô hình đề xuất, DN sử dụng lao động sẽ so sánh giữa những kỳ vọng, mong đợi của họ với các kiến thức, kỹ năng thực tế mà SVTN thể hiện

ra trong công việc, để từ đó có được đánh giá về chất lượng đào tạo Nếu cảm nhận thực tế trùng hoặc lớn hơn kỳ vọng thì DN sẽ hài lòng Nếu cảm nhận thực tế mà nhỏ hơn kỳ vọng thì DN sẽ không hài lòng

Bên cạnh đó, thông qua các cuộc trao đổi với các cán bộ làm công tác nhân sự tại các DN, trong luận án có đưa thêm một nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến sự hài lòng của DN khi sử dụng lao động vào mô hình nghiên

Trang 12

(-) (+)

cứu Đó chính là thời gian đáp ứng yêu cầu công việc Kết quả luận án đã đề xuất mô hình đánh giá sự hài lòng của DN như sau:

Hình 3.1: Khung mô hình nghiên cứu đề xuất

3.1.2 Mối quan hệ giữa các thành phần của mô hình

a) Mối quan hệ giữa chất lượng cảm nhận với sự hài lòng

Chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH có mối quan hệ cùng chiều với

sự hài lòng của DN sử dụng lao động

b) Mối quan hệ giữa thời gian đáp ứng công việc với sự hài lòng

Thời gian đáp ứng công việc có mối quan hệ không cùng chiều với sự hài lòng của DN sử dụng lao động

3.1.3 Các nội dung của mô hình

(1) Xây dựng bộ tiêu chí phản ánh các kỹ năng cần có của SVTN ĐH (2) Xác định các chỉ số phản ánh chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH (3) Thiết lập các giả thuyết về mối quan hệ giữa chất lượng và sự hài lòng (4) Thiết lập các giả thuyết về sự khác biệt trong đánh giá chất lượng và sự hài lòng của các đối tượng DN khác nhau

3.2 Xây dựng bộ tiêu chí phản ánh các kỹ năng cần có của sinh viên tốt nghiệp đại học ở Việt Nam

3.2.1 Căn cứ đề xuất bộ tiêu chí

 Tham khảo kinh nghiệm của các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp, các trường ĐH trên thế giới (như ở Úc, Mỹ, Nhật Bản, Sin-ga-po);

 Kế thừa các kết quả nghiên cứu khảo sát trước đây của các tác giả trong nước và các tổ chức quốc tế về chất lượng ĐTĐH ở Việt Nam dưới góc nhìn của người sử dụng lao động

Sự mong

đợi

Cảm nhận thực tế

Sự hài lòng

Chất lượng cảm nhận

Thời gian đáp ứng công việc

Ngày đăng: 30/12/2014, 20:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Khung mô hình nghiên cứu đề xuất - Nghiên cứu đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học ở việt nam (tt)
Hình 3.1 Khung mô hình nghiên cứu đề xuất (Trang 12)
Hình  4.6a:  Mức  độ  đáp  ứng  chất  lượng  so  với - Nghiên cứu đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học ở việt nam (tt)
nh 4.6a: Mức độ đáp ứng chất lượng so với (Trang 17)
Bảng 4.6: Các chỉ sô chất lượng có điều chỉnh sau phân tích EFA - Nghiên cứu đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học ở việt nam (tt)
Bảng 4.6 Các chỉ sô chất lượng có điều chỉnh sau phân tích EFA (Trang 18)
Bảng 4.7: 3 tiêu chí kỹ năng bị đánh giá thấp nhất trong mỗi nhóm - Nghiên cứu đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học ở việt nam (tt)
Bảng 4.7 3 tiêu chí kỹ năng bị đánh giá thấp nhất trong mỗi nhóm (Trang 19)
Hình DN - Nghiên cứu đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học ở việt nam (tt)
nh DN (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w